Nội dung1.Vai trò của không quân trong một số cuộc chiến tranh Không quân KQ là một thành phần trong biên chế tổ chức của quân đội của bất kỳ quốc gia nào , là lực lơng giữ vai trò qu
Trang 1Mở đầu
Lịch sử phát triển của ngành hàng không và
không quân thế giới
Nói đến không quân ngời ta nghĩ ngay đến máy bay ( MB ) Sự ra đời và phát triển của ngành hàng không ( HK ) và không quân ( KQ ) trên thế giới gắn liền với
sự ra đời và phát triển của MB - đó là đỉnh cao của trí tuệ loài ngời
MB là loại phơng tiện bay nặng hơn không khí, có động lực ( động cơ ) và có khả năng bay trong khí quyển nhờ các lực nâng khí động học
Nói về sự phát triển của MB thì từ xa xa, cụ thể vào thế kỷ XV, theo những ghi chép chắc chắn của nhà danh họa, hình họa, toán học Leonardo De Vinci con ngời
đã có ớc mơ bay bay lên khoảng không bằng phơng tiện có cánh đập nh cánh chim
- điều mà cho tới nay con ngời vẫn cha làm đợc
Năm 1783 khí cầu bơm bằng khí nóng ra đời, cho phép con ngời lần đầu tiên bay vào không trung
Năm 1797 Cayley đã thiết kế ra mẫu MB diều ( thực chất là một tàu lợn không ngời lái ), cho phép tách biệt hoàn toàn lực nâng và lực đẩy của MB
Năm 1891 chính thức ra đời tàu lợn có ngời điều khiển đầu tiên trong lịch sử, bằng sự thiết kế và thử nghiệm thành công của Golilitwtal ( ngời Đức ) Tuy nhiên ngày đánh dấu sự ra đời của ngành HK và KQ thế giới là ngày 17/12/1903 khi anh
em Wright chế tao đợc MB trên không, đợc điều khiển bởi ngời ngồi bên ngoài qua
hệ thống ròng rọc, dây cáp, cần lái và bàn đạp Sau phát kiến của anh em Wright các nớc phát triển đua nhau chế tạo MB Đến năm 1910 MB quân sự đã đợc sản xuất và đa lên hạm tàu khởi đầu cho sự xuất hiện tàu sân bay
Trong cuộc chạy đua chế tạo MB có vận tốc lớn đã xuất hiện chuyến bay xuyên
Đại Tây Dơng của Lindberg Thời gian này (1913-1931) vận tốc cực đại của MB đã tăng lên gấp hơn 5 lần ( từ 74km/h lên 386km/h ), ra đời nhiều loại MB chiến đấu
Trang 2chuyên dụng Chiến tranh thế giới I đã đánh dấu một bớc phát triển trong việc thiết
kế MB hợp lý hơn, tăng độ cao và vận tốc MB
Đến chiến tranh thế giới II đã xuất hiện các tập đoàn KQ tập trung cho các trận
đánh lớn Tiếp đó bắt đầu từ tháng 8/1939 các MB phản lực nh He-178 ( do Đức chế tạo ) đợc sản xuất Tháng 10/1939 ngời ta đã thử nghiệm thành công MB
BellX-1 có ngời lái bay nhanh hơn tiếng động Từ những năm BellX-1950 các MB chiến đấu phản lực quân sự đã bay nhanh gấp 2-3 lần tốc độ âm thanh
Đỉnh cao của ngành HK là từ sau đại chiến thế giới II, mở ra một kỉ nguyên vàng trong việc thiết kế và chế tạo MB Ngời ta đã thử nghiệm các dạng vật liệu và hệ thống động lực mới, xuất hiện MB trực thăng ( MB tạo lực nâng bằng cánh quay ), cho phép chuyển hớng luồng phụt của động cơ ( MB Harrier của Anh )
Trong tơng lai không xa sẽ xuất hiện những MB siêu âm cao có khả năng bay với vậnt tốc 25 M, và cũng rất có thể xuất hiện MB vũ trụ có khả năng hoạt động trong khí quyển lẫn trên khoảng không vũ trụ
Tóm lại lịch sử phát triển của ngành HK và KQ thế giới là một thời kỳ rất dài Những thành tích đạt đợc đã đợc thực tiễn lịch sử khẳng định, cho thấy vai trò của
MB trong đời sống hàng ngày cũng nh trong lĩnh vực quân sự là vô cùng quan trọng
Trang 3Nội dung
1.Vai trò của không quân trong một số cuộc chiến tranh
Không quân ( KQ ) là một thành phần trong biên chế tổ chức của quân đội (của bất kỳ quốc gia nào ), là lực lơng giữ vai trò quan trọng , đợc tồ chức tác chiến ở trên không, có hỏa lực mạnh, tầm hoạt động xa và là lực lợng cơ động nhất của quân đội
Nh vậy KQ là một lực lợng có vai trò vô cùng quan trọng Cụ thể vai trò đó đợc thể hiện qua một số cuộc chiến tranh sau đây
1.1.Chiến tranh thế giới II (1939-1945 )
Thời kỳ đầu của cuộc chiến với sự chi viện của KQ, bộ binh Đức đã bức lui Hồng quân Liên Xô, nhanh chóng tiến sâu vào lãnh thổ Liên Xô gần trăm km Sau đó đến giai đoạn phản công trên toàn lãnh thổ, cũng với sự chi viện của KQ, đặc biệt KQ Liên Xô đã tiêu diệt khoảng 95% tổng số máy bay ( MB ) chiến đấu của Đức, Hồng quân đã đẩy lui đợc phát xít Đức đến tận chân tờng Berlin, buộc Hitle phải tự sát
1.2.Chiến tranh Việt Nam
Bằng KQ Mĩ đã 2 lần đem MB ném bom chiến lợc B-52 phá hoại miền Bắc, gây không ít thiệt hạI cho Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp khác Ngày 13/5/1972 với một tốp MB ném bom điều khiển bằng laze, cầu Hàm Rồng ( Thanh Hoá ) lần đầu tiên bị Mĩ đánh gẫy, làm gián đoạn con đờng chi viện cho miền Nam trong một thời gian
1.3.Chiến tranh vùng vịnh ( 1991 )
Chiến tranh vùng vịnh bắt đầu từ ngày 17/1/1991 và kéo dài trong 6 tuần thì trong
5 tuần đầu Mĩ và liên quân dùng KQ để không kích I Rắc Trong chiến dịch Bão“ táp sa mạc này Mĩ và liên quân đã tập trung một lực l” ợng lớn bao gồm :
Trang 4 Các MB trinh sát báo động sớm : E-2C, E-3C, E-8A, E-8C
Huy động tổng số 2600 MB ( 1800 MB của Mĩ ), gồm các MB chiến đấu và trực thăng hiện đại :
- MB ném bom chiến lợc B-52
- MB tiêm kích đa năng tàng hình F-117A
- MB tiêm kích đa năng F-14, F-15, F-16
- MB trực thăng vũ trang AH-64 APACHE
- MB tiêm kích đánh chặn đa năng MIRAGE-2000 ( của Pháp )
- Máy bay cờng kích MIRAGE-1 ( của Pháp )
- MB tiêm, cờng kích TORNADO ( của Anh )
Với lực lợng vũ trang rất mạnh và nhờ có hệ thống quản lý vùng trời làm việc rất tốt, KQ Mĩ và liên quân đã phá hủy làm tê liệt hệ thống chỉ huy quân đội của I Rắc, chế áp và tiêu diệt hệ thống phòng không, chế áp và phá hủy các sân bay, phá sập các cầu cống, đờng giao thông, các trạm rađa, các trận địa pháo và gây khó khăn cho lực lợng vũ trang vận động trên chiến trờng Nhờ KQ đã tiến hành oanh kích 5 tuần liền, chi viện lực lợng cho lục quân và hải quân đánh bộ mở các cuộc tiến công trên bộ nên chiến tranh trên bộ đã giành thắng lợi chỉ trong 4 ngày
Năm 1997 cơ quan tổng kiểm toán của Mĩ ( GAO ) đã tổng kết, đánh giá hiệu quả của chiến dịch Bão táp sa mạc 1991 của KQ Mĩ và liên quân nh“ ” sau :
Trớc khi cuộc tiến công trên bộ : 43% trong tổng số 2665 xe tăng, 32% trong tổng số 2624 xe thiết giáp chở quân của I Rắc bị tiêu diệt
Có 290 MB của I Rắc bị diệt, 121 chiếc chạy thoát sang I Ran, 313 chiếc sống sót
Trong 3 ngày cuối cùng của cuộc chiến tranh hệ thống phòng không của I Rắc bắn rơI 11 MB của Mĩ và liên quân
Trong cuộc chiến tranh vùng vịnh, các cuộc tiến công của KQ Mĩ và liên quân đã làm cho I Rắc không thể phòng ngự hiệu quả Các đợt oanh kích vào các đơn vị, mục tiêu của I Rắc đã tạo một đòn tâm lý choáng váng, trong khi đó tổn thất của Mĩ
là không đáng kể Mặc dù còn có một vài nhân tố khác nữa ghóp phần vào sự sụp
đổ của quân đội I Rắc song chiến tranh vùng vịnh đã khẳng định khả năng của KQ trong việc tiêu diệt sinh lực và các phơng tiện chiến tranh
Trang 51.4.Chiến tranh Bancăng 1999
Cuộc chiến tranh Nam T với tên gọi Sức mạnh đồng minh bắt đầu từ 24/3/1999,“ ” kéo dàI trong 78 ngày đêm là một bớc phát triển mới so với cuộc chiến tranh vùng vịnh năm 1991
Trong cuộc chiến này Mĩ và NATO đã sử dụng một số lợng lớn cha từng có về vũ khí và phơng tiện kỹ thuật quân sự với vai trò nổi bật của KQ Quan điểm của Mĩ và NATO là sử dụng KQ mang vũ khí chính xác cao, tiến hành tiến công các mục tiêu quan trọng nhất
Các phơng tiện mà Mĩ và NATO đã sử dụng để không kích Nam T :
- MB tiêm kích đa năng tàng hình F-117A
- MB ném bom chiến lợc tàng hình B-2
- MB ném bom chiến lợc B-52
- MB ném bom chiến lợc đa năng tầm xa dạng cánh thay đổi B-1B
- MB tiêm kích đa năng F-14, F-15, F-16, F/A-18
- MB cờng kích MIRAGE-1
- MB tiêm kích đánh chặn đa năng MIRAGE-2000
- MB tiêm, cờng kích TORNADO
- MB tiếp dầu đa năng KC-135
- MB trực thăng vũ trang AH-64 APACHE
- MB trực thăng vận tải hạng trung CH-47 CHINOOK
Trong cuộc chiến tranh Nam T các vũ khí, phơng tiện tiến công đờng không đợc tích hợp trong một hệ thống nhất gồm : trinh sát, chỉ thị mục tiêu, đặc biệt có sự hỗ trợ của hệ định vị toàn cầu GPS, Nhờ đó cho phép KQ Mĩ và NATO tiến công… các mục tiêu của Nam T rất chính xác, theo một kế hoạch thống nhất
Trong cuộc chiến tranh Nam T bằng sức mạnh KQ, Mĩ và NATO đã tàn phá các cơ
sở kinh tế, hủy hoại tiềm lực quân sự, làm mất khả năng và ý chí chiến đấu của Nam T Kết quả, bằng tiến công đờng không Mĩ NATO sau hơn một tháng đã phá– hủy hơn 200 mục tiêu, làm Nam T thiệt hại hơn 200 tỉ USD trong khi Mĩ NATO chỉ– tiêu tốn khoảng 3 tỉ USD
Trang 6Kết luận :
Khái quát qua các cuộc chiến tranh trên để đi đến kết luận về vai trò quan trọng của KQ, có tính chất quyết định đến thắng lợi của cuộc chiến tranh Không kích đối phơng bằng vũ khí công nghệ cao, có độ chính xác cao là phơng thức của chiến tranh hiện đại
2.Nhiệm vụ và thành phần của KQ
2.1.Nhiệm vụ của KQ
Nhiệm vụ của KQ là cùng với các lực lợng vũ trang khác bảo vệ vững chắc và toàn vẹn lãnh thổ đông thời hoàn thành các nhiệm vụ bay khác Cụ thể :
Tiêu diệt các mục tiêu trên không, trên mặt đất, trên mặt nớc
Làm nhiệm vụ trinh sát, vận tải đờng không và các nhiệm vụ khác nh chỉ huy trên không, tiếp dầu, tác chiến điện tử,…
2.2.Thành phần của KQ
Đối với các nớc có tiềm lực quân sự mạnh nh Nga, Mĩ thì lực lợng KQ đợc chia ra cho các quân binh chủng
Tuy nhiên đa số các nớc trên thế giới trong đó có Việt Nam chỉ có lực lợng KQ của quân chủng không quân Thành phần của quân chủng KQ hiện nay bao gồm :
Trang 7Để điều hành lực lợng KQ cần phải có các đơn vị chỉ huy, hậu cần, kỹ thuật Các
đơn vị chuyên môn kỹ thuật này bao gồm : thông tin, dẫn đờng, tác chiến, sở chỉ huy, đấu tranh điện tử, xăng dầu, hoả lực, vũ khí hàng không, các trạm sửa chữa, kho tàng, binh khí kỹ thuật, các sở y tế và một số đơn vị chuyên môn khác đảm bảo
về kỹ thuật hàng không
3.Không quân nhân dân VN trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc
3.1.Sự hình thành và phát triển
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, đến tháng 10/1954 lực lợng KQ nớc ta đợc bắt đầu xây dựng khi ta tiếp quản các sân bay của Pháp ở Miền Bắc Sự hình thành và phát triển của không quân nhân dân Việt Nam ( KQNDVN ) đợc tóm gọn qua những sự kiện sau :
Ngày 3-3-1955 : thành lập ban nghiên cứu sân bay.Đến cuối năm 1958 phát triển thành cục KQ
Ngày 1-5 1959 : đội bay vận tải đầu tiên đ– ợc thành lập, trở thành trung đoàn
KQ đầu tiên của nớc ta sau này ( trung đoàn 919 )
Ngày 30-5-1963 : thành lập trung đoàn KQ tiêm kích mang phiên hiệu 921
Ngày 3-2-1964 : trung đoàn KQ tiêm kích đầu tiên của KQNDVN ra mắt chính thức công khai, đánh dấu sự hình thành và phát triển của KQ chiến đấu Việt Nam
Trang 8 Ngày 10-3-1977 : quân chủng KQ đợc thành lập.
Ngày nay quân chủng phòng không và KQ đợc hợp nhất lại thành quân chủng phòng không không quân Nh– vậy từ một đội bay vận tải đến một trung đoànKQ tiêm kích, hiện nay KQNDVN đã trở thành một lực lợng hoàn chỉnh trong quân chủng phòng không không quân, bao gồm :–
- Các s đoàn KQ tiêm kích, tiêm kích bom
- Các trung đoàn MB vận tải, trực thăng, trực thăng vũ trang
- Hệ thống sân bay nằm trên các địa bàn quan trọng trên phạm vi cả nớc, đảm bảo cho tất cả các loại MB hiện đại hạ/cất cánh
- Hệ thống các nhà máy, kho tàng hiện đại, có thể sửa chữa lớn các loại MB và sản xuất phụ tùng thay thế
- Hệ thống các nhà trờng đào tạo phi công, cán bộ tham mu, cán bộ kỹ thuật có trình độ đại học và sau đại học
3.2.Truyền thống của KQNDVN
Mặc dù còn non trẻ nhng từ năm 1959-1964 KQ ta đã hoàn thành nhiều nhiệm vụ quan trọng :
- Bay chuyên cơ vận chuyển trong nớc và quốc tế
- Những năm 1960-1962 hoàn thành nhiệm vụ bay tiếp tế, thả dù, phục vụ có hiệu quả nhiệm vụ chiến đấu trên chiến trờng Đông Dơng
- Chống chiến tranh phá hoại Miền Bắc của KQ đế quốc Mĩ
Ngày 3-4-1965 biên đội 4MIG-17 xuất kích bắn rơi 2F-8U của KQ Mĩ trên bầu trời Hàm Rồng, mở màn mặt trận trên không thắng lợi Ngày đó trở thành ngày truyền“ ” thống của bộ đội KQ
Ngày 4-4-1965 biên đội 4MIG-17 của ta bắn rơi 2 máy bay F-105 của Mĩ, đánh dấu một bớc phát triển của KQNDVN
Những trận đầu giành thắng lợi có ý nghĩa hết sức to lớn về mặt chính trị, quân sự,
mở đầu truyền thống chiến thắng vẻ vang của KQNDVN Tính từ tháng 4-1965 đến tháng 6-1966 KQ ta đã xuất kích 24 trận, bắn rơi 26 MB của Mĩ
Trang 9Năm 1967-1968 đế quốc Mĩ mở rộng chiến tranh phá hoại Miền Bắc một cách toàn diện với quy mô lớn, liên tục và ác liệt KQ ta đã cùng với các lực lợng phòng không khác từng bớc đánh bại các cuộc leo thang chiến tranh của đế quốc Mĩ,
bảo vệ Hà Nội, Hải Phòng đồng thời không ngừng nỗ lực nhanh chóng nâng cao chất lợng bộ đội, đáp ứng sự phát triển về tổ chức và trang bị mới
Nhờ đợc trang bị MB tiêm kích MIG-21, ngày 23-8-1967 KQ ta đã hiệp đồng tác chiến 2 loại MB là 2MIG-17 và 4MIG-21 trên bầu trời Tuyên Quang, Thanh Sơn (Vĩnh Phú), bắn rơi 4 máy bay Mĩ
Ngày 18-11-1967 biên đội 2MIG-21 đợc trang bị tên lửa K-13 đã bắn rơi tại chỗ
2F-105 của địch tại ThanhSơn-Hạ Hoà (Vĩnh Phú)
Ngày 19-11-1967 biên đội 2MIG-21 đợc trang bị tên lửa K-13 đã bắn rơi 1 MB gây nhiễu EB-66 của Mĩ, tạo điều kiện cho bộ đội tên lửa và pháo cao xạ bắn rơi 8 MB
địch, bẻ gẫy một đợt tấn công quy mô lớn của chúng vào Hà Nội
Từ cuối năm 1969 KQ ta đã cơ động một lực lợng MIG-21, MIG-17 vào Thọ Xuân (Thanh Hoá) hoạt động chiến đấu trên chiến trờng Nam khu 4, chuẩn bị cho việc bắn MB B-52 và sau đó đã bắn bị thơng B-52 của Mĩ
Ngày 19-4-1972 hai máy bay MIG-17 của ta đánh bị thơng nặng 2 tàu khu trục của
Mĩ trên vùng biển Quảng Bình
Tháng 4-1972 đế quốc Mĩ tiến hành chiến tranh phá hoại Miền Bắc lần thứ 2 với mức độ ác liệt hơn, đánh phá liên tục và thơng xuyên khống chế, chế áp các sân bay quân sự của ta, song KQ ta vẫn quyết tâm đánh địch Điển hình là trận đánh ngày 10-5-1972 tại đỉnh sân bay Yên Bái, KQ ta đã dùng 2 biên đội bay MIG 19– bắn rơi 2F-4 của Mĩ
Trong thời gian này KQ ta liên tục hiệp đồng tác chiến giữa 2-3 loại MB, hiệp đồng tác chiến với lực lợng phòng không đạt hiệu suất chiến đấu cao : ngày 18-5-1972 ta
đã bắn rơi 3F-4, ngày 24-6-1972 bắn rơi 3F-4, ngày 27-6-1972 hai biên đội MIG –
21 ( 4 MB ) bắn rơi tại chỗ 4 máy bay F-4 của địch và về hạ cánh an toàn Đặc biệt
KQ ta đã hiệp đồng chiến đấu với các lực lợng phòng không đánh bại cuộc tập kích
đờng không chiến lợc bằng B-52 vào Hà Nội, HảI Phòng và một số thành phố xí
Trang 1013 Phạm Tuân đã bắn rơi B-52 tại Tây nam Hà Nội,chiến công đó đã đi vào lịch sử truyền thống vẻ vang của KQNDVN
Trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975, KQ ta đã tích cực hoạt
động trên nhiều lĩnh vực, vận chuyển chi viện cho chiến trờng Ngày 28-4-1975
KQ ta đã sử dụng MB A-37 của Ngụy ném bom sân bay Tân SơN Nhất, cùng với các lực lợng vũ trang nhân dân hoàn thành sứ mạng lịch sử giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nớc Sau đó KQNDVN liên tục chiến đấu giải phóng các hải đảo, bảo vệ biên giới Tây nam, chi viện cho chiến trờng Cămpuchia, truy quét tàn quân
địch
Sau năm 1975 đến nay KQNDVN ngày càng trởng thành và phát triển, có nhiều hoạt động đa dạng hơn : vừa làm nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, bay vận chuyển tiếp tế và thực hiện nhiều nhiệm vụ chính trị, quân sự và kinh tế khác
IV.Kết luận