HỒ CHÍ MINH Lê Ngọc Hiền VẬN DỤNG LÝ THUYẾT KIẾN TẠO VÀO DẠY HỌC TRUYỆN NGẮN “VỢ NHẶT” Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học môn Văn Mã số: 60 14
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Lê Ngọc Hiền
VẬN DỤNG LÝ THUYẾT KIẾN TẠO VÀO DẠY HỌC TRUYỆN NGẮN “VỢ NHẶT”
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học môn Văn
Mã số: 60 14 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS TRẦN THANH BÌNH
Thành phố Hồ Chí Minh - 2010
Trang 2LỜI CÁM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc TS Trần Thanh Bình, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình làm luận văn tốt nghiệp Với những tình cảm chân thành và trân trọng nhất, tôi xin cảm ơn:
Quý thầy, cô tham gia giảng dạy lớp Lý luận và phương pháp dạy học môn Văn K18
Phòng Khoa học công nghệ và Sau đại học trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh
Ban giám hiệu, giáo viên và học sinh các trường THPT tại Tây Ninh: THPT Lý Thường Kiệt, THPT Nguyễn Thái Bình
Gia đình, đồng nghiệp và bạn bè đã quan tâm, động viên, khích lệ
và giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu
Lê Ngọc Hiền
Trang 3DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
STT Viết tắt Viết đầy đủ
3 LTKT : Lý thuyết kiến tạo
4 PPDH : Phương pháp dạy học
5 TPVC : Tác phẩm văn chương
6 THPT : Trung học phổ thông
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Từ yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học ở nhà trường phổ thông
Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII (12 – 1996) của Đảng đã định hướng đổi mới nền giáo dục nước ta nói chung và đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) nói riêng: “Cuộc cách mạng về phương pháp giáo dục phải hướng vào người học, rèn luyện và phát triển khả năng suy nghĩ, khả năng giải quyết vấn đề một cách năng động, độc lập, sáng tạo ngay trong quá trình
học tập ở nhà trường phổ thông” Mục tiêu của việc đổi mới giáo dục và
PPDH lần này đã xuất phát từ yêu cầu thực tiễn của đất nước và những thành tựu của triết học, giáo dục học, tâm lí học hiện đại về con người và hoạt động nhận thức, học tập của con người
Tiếp tục khẳng định mục tiêu của việc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông và PPDH ở nước ta, Nghị quyết số 40/2000/QH10 của Quốc hội khóa X đã viết: “Xây dựng nội dung chương trình, phương pháp giáo dục, sách giáo khoa phổ thông mới nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện thế hệ trẻ, đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phù hợp với thực tiễn và truyền thống Việt Nam, tiếp cận trình độ giáo dục phổ thông ở các nước phát triển trong khu vực và trên thế giới”
Điều 28.2 Luật Giáo dục (2005) cũng nêu rõ: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”
Trang 5Bên cạnh đó, chương trình giáo dục phổ thông ban hành kèm theo Quyết định số 16/ 2006/ QĐ - BGDĐT ngày 05/06/2006 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và đào tạo đã đặt ra yêu cầu: “Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc trưng môn học, đặc điểm đối tượng học sinh, điều kiện của từng lớp học; bồi dưỡng cho học sinh phương pháp tự học, khả năng hợp tác; rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú và trách nhiệm học tập cho học sinh”
Nhằm tiếp tục đẩy mạnh những thành tựu đã đạt được về việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII) và nêu phương hướng phát triển giáo dục và đào tạo đến năm 2020, Thông báo Kết luận số 242-TB/TW ngày 15/04/2009, Bộ Chính trị đã đề ra 7 nhóm nhiệm vụ, giải pháp để đổi mới căn bản, toàn diện, mạnh mẽ sự nghiệp giáo dục và đào tạo, trong đó giải pháp thứ
tư nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới phương pháp dạy và học, khắc phục cơ bản lối truyền thụ một chiều Phát huy phương pháp dạy học tích cực, sáng tạo, hợp tác; giảm thời gian giảng lý thuyết, tăng thời gian tự học, tự tìm hiểu cho học sinh, sinh viên; gắn bó chặt chẽ giữa học lý thuyết và thực hành, đào tạo gắn với nghiên cứu khoa học, sản xuất và đời sống”
Dựa trên quan điểm chỉ đạo đó, kết hợp với những bước chuyển biến của dạy học hiện đại, chúng ta nhận thấy rằng đổi mới PPDH là một giải pháp
cơ bản để nâng cao chất lượng nền giáo dục nước ta trong giai đoạn hiện nay Người thầy từ chỗ là người truyền đạt tri thức chuyển sang người cung cấp cho người học phương pháp thu nhận, lĩnh hội tri thức một cách có hệ thống,
có tư duy và sáng tạo Và cốt lõi của việc đổi mới PPDH là hướng tới hoạt động học tập chủ động nhằm giúp các em phát huy tính tích cực, tự giác, sáng tạo, rèn luyện khả năng tự học, tinh thần hợp tác, kĩ năng vận dụng kiến thức vào những tình huống khác nhau trong học tập và trong thực tiễn Người học
Trang 6là đối tượng của hoạt động dạy, đồng thời là chủ thể của hoạt động học; tự tìm
tòi, khám phá, luyện tập, khai thác và xử lí thông tin, tự hình thành hiểu biết, năng lực và phẩm chất Do đó, trung tâm của quá trình dạy học đã chuyển từ
hoạt động dạy của thầy sang hoạt động học của trò
1.2 Từ việc vận dụng lý thuyết kiến tạo vào quá trình dạy học
Phương pháp thuyết trình, phương pháp vấn đáp, đàm thoại, phương pháp phát hiện và giải quyết vấn đề, dạy học với lý thuyết tình huống, dạy học với lý thuyết kiến tạo,… là những PPDH theo hướng giáo dục tích cực đã
được giới thiệu trong tài liệu Hướng dẫn thực hiện chương trình sách giáo
khoa lớp 12 môn Ngữ văn [35, tr.9 - 11] Nhìn chung, vận dụng các PPDH
này nhằm làm cho người học tích cực, chủ động tham gia vào quá trình học
Mỗi phương pháp có mặt mạnh, mặt yếu, phù hợp với một số lĩnh vực tri thức, có khả năng giải quyết một số nhiệm vụ dạy học cụ thể Vì vậy, giáo viên (GV) cần nghiên cứu, lựa chọn và phối hợp một cách linh hoạt các PPDH cho cả quá trình dạy học Trong đó, ứng dụng lý thuyết kiến tạo (LTKT) là một quan điểm dạy học hiện đại nhấn mạnh vai trò tích cực và chủ động của người học trong việc thu nhận tri thức mới cho bản thân Sự chủ động này thể hiện ở chỗ người học được đặt vào những tình huống học tập mà
ở đó họ thấy có khả năng và có nhu cầu giải quyết vấn đề đặt ra và thông qua việc giải quyết tình huống học tập đó, họ kiến tạo nên tri thức mới cho mình Theo LTKT, người học tiếp thu tri thức mới bằng cách đặt mình vào
một môi trường học tập tích cực, phát hiện ra vấn đề theo lối đồng hóa hay
điều ứng những kiến thức và kinh nghiệm đã có cho tương thích với những
tình huống mới, để xây dựng nên những hiểu biết Bởi quá trình nhận thức
không phải là quá trình cho - nhận khiên cưỡng, máy móc mà là quá trình mỗi chủ thể nhận thức biến đổi thế giới quan khoa học của bản thân sao cho phù hợp với mục tiêu đặt ra Mục đích của việc dạy học theo quan điểm kiến tạo
Trang 7không phải chỉ truyền thụ mà chủ yếu là biến đổi nhận thức, kiến tạo kiến
thức và thông qua đó học sinh (HS) phát triển trí tuệ và nhân cách Vì thế, dạy
học theo LTKT cho thấy có nhiều khả năng đáp ứng được yêu cầu đổi mới PPDH theo hướng nâng cao tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học
1.3 Từ yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học tác phẩm văn chương trong nhà trường phổ thông
Đối với môn Ngữ văn, yêu cầu đổi mới PPDH trong nhà trường phổ thông càng trở nên cấp thiết bởi đây là một môn học có tính đặc thù Định hướng đổi mới PPDH Ngữ văn cần phải lựa chọn và ứng dụng thích hợp những PPDH hiện đại có ích lợi cao nhất cho bộ môn, cho người học và cho
cả người dạy Trong đó, PPDH tác phẩm văn chương (đọc văn) rất quan trọng, rất cần đổi mới, rất cần được xem xét dưới nhiều góc độ, nhiều lý thuyết khác nhau
Trong bài Tiếp tục thực thi tư tưởng đổi mới phương pháp dạy học Ngữ
văn, GS Phan Trọng Luận cho rằng: “Lí thuyết đổi mới hiện đại hóa dạy học
Ngữ văn hiện nay trên thế giới cũng khá phong phú Có lí thuyết đáp ứng, có
lí thuyết kiến tạo trong đọc văn, lí thuyết về hành vi sáng tạo, thậm chí có lí thuyết về hành vi chính trị và bảo vệ dân chủ (Defense of democracy) … Nhưng nổi bật lên vẫn là tư tưởng đề cao sự năng động sáng tạo ở người học
Ở Việt Nam những thập kỉ gần đây đã đề xướng tư tưởng học sinh là trung tâm, sau đó đã có sự điều chỉnh cho thích hợp trong môn Văn là coi học sinh
là bạn đọc sáng tạo” [34 ,tr.100]
Chia sẻ quan điểm trên, GS Trần Đình Sử khẳng định: “Bài học tác phẩm văn học không phải là bài để giáo viên giảng và bình, mà để cho học sinh đọc” và “Dạy học đọc có nghĩa là dạy học sinh kiến tạo nội dung ý nghĩa bài văn Giáo án của giáo viên phải thể hiện yêu cầu này Để học sinh tự kiến tạo nội dung ý nghĩa văn bản được học thì phải tổ chức cho học sinh soạn bài,
Trang 8phát biểu, thảo luận, đối thoại trên lớp, trao đổi nhóm, sau đó giáo viên tổng kết, nâng cao, đưa ra kết luận cuối cùng trong tiết học” [35,tr.181]
Như vậy, dạy học tác phẩm văn chương (TPVC) trong nhà trường phổ thông hiện nay cũng cần được đổi mới theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của bạn đọc - học sinh Đây là điều tất yếu không những thích ứng với xu thế thời đại mà còn phù hợp với đặc trưng môn học
Từ những lí do trên, chúng tôi muốn bước đầu vận dụng LTKT vào dạy học truyện ngắn Việt Nam hiện đại ở trường trung học phổ thông (THPT) qua
đề tài luận văn: Vận dụng lý thuyết kiến tạo vào dạy học truyện ngắn “Vợ
nhặt” ở trường trung học phổ thông
2 Lịch sử vấn đề
2.1 Lý thuyết kiến tạo ra đời từ cuối thế kỉ XVIII, xuất phát từ tuyên bố
của nhà triết học Giam Battista Vico cho rằng: con người chỉ có thể hiểu một
cách rõ ràng những cái gì mà họ tự xây dựng nên cho mình [dẫn theo 18,
tr.17 ] Tuy nhiên, người đầu tiên nghiên cứu để phát triển tư tưởng kiến tạo
một cách rõ ràng và áp dụng vào việc dạy học đó là J Piaget Theo ông, nền
tảng của việc học là khám phá và các cấu trúc nhận thức phải có lịch sử phát
sinh và phát triển nằm trong một quá trình kép: đồng hóa và điều ứng
Một tác giả khác có nhiều đóng góp cho sự phát triển LTKT là L.X.Vygotsky Ông cho rằng: trẻ em học các khái niệm khoa học thông qua
sự mâu thuẫn giữa những quan niệm hằng ngày của chúng với những khái
niệm của người lớn Người lớn giới thiệu cho trẻ em những khái niệm chuẩn mực, nhưng đồng thời trẻ em phải tự kiến tạo sự hiểu biết riêng của mình với thế giới xung quanh chứ không chỉ chấp nhận và ghi nhớ một cách khiên cưỡng những gì mà người lớn truyền đạt
Trong những năm gần đây, LTKT đang là đối tượng nghiên cứu của nhiều nhà tâm lý học, giáo dục học trên thế giới Chúng ta có thể kể đến các
Trang 9công trình nghiên cứu như: Tâm lý học và giáo dục học của Jean Piaget (1997); Tâm lí học Vygotsky của Phạm Minh Hạc (1997); Patricia H Miler (2003) với Các thuyết về tâm lý học phát triển,…
2.2 Tiếp cận thành tựu của tâm lý học hiện đại, đặc biệt là tâm lý học phát triển, các nhà khoa học giáo dục Việt Nam cũng đã bước đầu nghiên cứu về LTKT Đầu năm 1995, tại Thành phố Hồ Chí Minh, Hội thảo quốc tế lần thứ nhất của các nước Đông Nam Á về dạy học kiến tạo và đào tạo GV các môn học đã được tổ chức với khoảng hơn 100 nhà khoa học Pháp, Việt Nam và các nước Đông Nam Á tham dự [dẫn theo 14] Tại hội thảo này, nhiều nhà giáo dục Việt Nam đã hết sức quan tâm và có nhiều ý kiến về dạy học theo quan điểm kiến tạo
Bên cạnh đó, những công trình nghiên cứu của các tác giả như: Những
vấn đề cơ bản về chương trình và quá trình dạy học của Nguyễn Hữu Châu
(2005); Dạy học và phương pháp dạy học trong nhà trường của Phan Trọng Ngọ (2005); Lý thuyết kiến tạo, một hướng phát triển mới của lí luận dạy học
hiện đại của Bùi Gia Thịnh (1995), Tiếp cận kiến tạo trong dạy học khoa học
theo mô hình tương tác của Nguyễn Phương Hồng (1997), Phương pháp dạy
học truyền thống và hiện đại của Thái Duy Tuyên (2008),… cũng đã giới
thiệu khá cụ thể về LTKT và khả năng ứng dụng của lý thuyết này trong các lĩnh vực khác nhau đặc biệt là lĩnh vực dạy học
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu ứng dụng LTKT vào dạy học đều cho rằng: đây là một quan điểm dạy học mới, có khả năng phát huy cao
độ tính tích cực, chủ động nhận thức của người học Và người học đóng vai trò chủ động, quyết định trong quá trình xây dựng tri thức cho bản thân Tuy vậy, vai trò xã hội của lớp học cũng không thể thiếu trong quá trình học tập; ở
đó, GV sẽ là người tổ chức, điều khiển HS trao đổi, thảo luận, để từ đó khuyến khích các em tự xây dựng tri thức theo cách riêng của mình Và điều
Trang 10này đã được GS Nguyễn Hữu Châu khẳng định: “Thuyết kiến tạo đã điều chỉnh vai trò của giáo viên và học sinh, giáo viên sẽ là người hướng dẫn học sinh xây dựng nên kiến thức thay vì chỉ tái tạo kiến thức Với quan điểm dạy học kiến tạo giáo viên sẽ lựa chọn các phương pháp dạy học tích cực, giúp học sinh phát hiện và giải quyết vấn đề, xây dựng và thử nghiệm các ý tưởng
và giải pháp, thực hiện suy diễn, tổng hợp, chia sẻ tri thức trong một môi trường học tập hợp tác” [10, tr.223]
Cho đến nay, ở Việt Nam, LTKT đã được vận dụng để tiến hành dạy học một số nội dung trong chương trình vật lý, toán học, hóa học và cũng đã
có một vài thực nghiệm sư phạm chứng minh khả năng của quan điểm mới này trong việc tích cực hóa vai trò của chủ thể người học Chúng ta có thể xem những công trình nghiên cứu của các tác giả như: Dương Bạch Dương
(2002), “Nghiên cứu phương pháp giảng dạy một số khái niệm định luật trong
chương trình Vật lý lớp 10 THPT theo quan điểm kiến tạo”; Cao Thị Hà
(2006), Dạy học một số chủ đề hình học không gian (hình học 11) theo quan
điểm kiến tạo; Lương Việt Thái (2006), Nghiên cứu tổ chức quá trình dạy học một số nội dung vật lí trong môn khoa học ở tiểu học và môn vật lí ở trung học cơ sở trên cơ sở vận dụng tư tưởng của lý thuyết kiến tạo,… Đó là những
công trình nghiên cứu ứng dụng LTKT bước đầu rất có giá trị Bên cạnh đó, chúng ta còn phải kể đến một số bài nghiên cứu đăng trên các tạp chí về giáo dục của các tác giả như: Đào Thị Việt Anh, Đỗ Văn Cường (2008), Đỗ Tiến Đạt (2005), Võ Văn Duyên Em (2007), Nguyễn Quang Lạc, Đào Tam,… 2.3 Đối với bộ môn Ngữ văn, có thể nhận thấy bóng dáng của quan điểm
kiến tạo qua một số công trình nghiên cứu về Phương pháp dạy học Ngữ văn
của GS Phan Trọng Luận Ông đã đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò của bạn đọc – học sinh trong quá trình tiếp nhận TPVC: “Giáo viên không phải là diễn viên mà chỉ là người hướng dẫn, tổ chức quá trình học sinh cảm nhận, thâm