1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quan hệ hoa kì – cộng hòa nhân dân trung hoa (1972 – 1991)

20 301 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 338,15 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong cuộc nội chiến ở Trung Quốc giữa Đảng cộng sản với Quốc Dân Đảng, Mĩ đã nổi lên với vai trò là nhân tố quan trọng, trong quá trình chống chủ nghĩa phát xít Nhật ở Châu Á, Mĩ đã có

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN THẾ HỒNG

QUAN HỆ HOA KÌ – CỘNG HÒA

NHÂN DÂN TRUNG HOA (1972 – 1991)

CHUYÊN NGÀNH LỊCH SỬ THẾ GIỚI

MÃ SỐ : 60 22 50

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS NGÔ MINH OANH

Thành phố Hồ Chí Minh – 2011

Trang 2

L ỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan:

Đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi,

Các số liệu, tài liệu trích dẫn, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, đảm bảo tính khách quan khoa học và nghiêm túc

Tác giả luận văn

Nguyễn Thế Hồng

Trang 3

L ỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian học tập và thực hiện luận văn, học viên đã nhận được sự hướng dẫn giúp đỡ tận tình của PGS.TS Ngô Minh Oanh Học viên xin gửi lời tri ân chân thành đến thầy

Gửi lời cảm ơn đến BGH trường ĐHSP TP.HCM, Khoa Lịch sử, thư viện trường, thư viện Tổng hợp TPHCM - nơi học viên học tập, tra cứu, tham khảo tài liệu phục vụ cho quá trình nghiên cứu

Học viên xin gửi lời cảm ơn đến BGH trường Đại Học Đồng Tháp, Ban chủ nhiệm khoa Giáo Dục Chính Trị, thầy, cô, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện tốt nhất giúp đỡ học viên học tập nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ

Xin chân thành cảm ơn

TPHCM, tháng 8 năm 2011

Học viên

Trang 4

M ỤC LỤC

6

LỜI CAM ĐOAN6 2

6

LỜI CẢM ƠN6 3

6

MỤC LỤC6 4

6

BẢNG CỤM TỪ VIẾT TẮT6 6

6

MỞ ĐẦU6 7

6

1 Lí do chọn đề tài6 7

6

2 Lịch sử vấn đề6 9

6

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu6 11

6

4 Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu, nguồn tài liệu nghiên cứu6 12

6

5 Đóng góp của luận văn6 12

6

6 Bố cục luận văn6 12

6

Chương 1 QUAN HỆ HOA KÌ – CHND TRUNG HOA TRƯỚC NĂM 19726 13

6

1.1.Bối cảnh quốc tế từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến đầu thập niên 706 13

6

1.2 Quan hệ Hoa Kì – CHND Trung Hoa (1949 – 1970)6 19

6

Tiểu kết chương 16 30

6

Chương 2 QUAN HỆ HOA KÌ – CHND TRUNG HOA TỪ 1972 ĐẾN KHI CNXH Ở LIÊN XÔ TAN RÃ6 32

6

2.1.Tình hình quốc tế giai đoạn 1972 – 19896 32

6

2.2 Bình thường hóa quan hệ Hoa Kì – CHND Trung Hoa6 34

6

2.2.1 Vận động ngoại giao của Hoa Kì thời tổng thống Richard Nixon6 34

6

2.2.2 Từ thông cáo Thượng Hải đến thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Hoa Kì và CHND Trung Hoa (1972

- 1979)6 43

6

2.3 Quan hệ Hoa Kì – CHND Trung Hoa những năm 80 của thế kỉ XX6 53

6

2.4 Quan hệ Hoa Kì – CHND Trung Hoa sau sự kiện Thiên An Môn đến 19916 58

6

2.4.1 Thế giới những năm 1989 – 19916 58

6

2.4.2 Quan hệ Hoa Kì – CHND Trung Hoa 1989 – 19916 59

6

Tiểu kết chương 26 66

6

Chương 3 NHẬN XÉT VỀ QUAN HỆ HOA KÌ – CHND TRUNG HOA (1972 – 1991)6 68

6

3.1 Những yếu tố ảnh hưởng đến quan hệ ngoại giao Hoa Kì – CHND Trung Hoa6 68

6

3.1.1 Yếu tố Liên Xô6 68

6

3.1.2 Yếu tố Việt Nam6 80

6

3.1.3 Yếu tố Đài Loan6 89

6

3.2 Tác động của quan hệ Hoa Kì – CHND Trung Hoa đến hai nước và các nước khác (1972 – 1991)6 103 3.2.1 Tác động đối với hai nước Hoa Kì và CHND Trung Hoa 103

Trang 5

3.2.2 Ảnh hưởng đến xu hướng hòa bình, dân chủ trong quan hệ quốc tế6 104

6

3.2.3 Đường lối ngoại giao của Liên Xô trước bình thường hoá quan hệ Hoa Kì – CHND Trung Hoa6 107

6

3.2.4 Sự độc lập, tự chủ trong đường lối ngoại giao của Việt Nam6 111

6

3.2.5 Cân bằng ngoại giao của Hoa Kì trước phản ứng của Đài Loan6 115

6

3.3 Đặc điểm mối quan hệ Hoa Kì – CHND Trung Hoa trong giai đoạn 1972 - 19916 119

6

3.4 Quan hệ Hoa Kì – CHND Trung Hoa: Mối quan hệ quan trọng trong thế kỉ XXI6 125

6

Tiểu kết chương 36 131

6

KẾT LUẬN6 132

6

TÀI LIỆU THAM KHẢO6 134

6

PHỤ LỤC TƯ LIỆU6 140

6

Phụ lục 1.6 140

6

Phụ lục 2.6 144

6

Phụ lục 3.6 145

6

Phụ lục 4 United States Code6 147

6

Phụ lục 5.6 157

Trang 6

B ẢNG CỤM TỪ VIẾT TẮT

Trang 7

M Ở ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Từ sau chiến tranh lạnh kết thúc, Hoa Kì (gọi tắt là Mĩ) là nước phát triển nhất thế giới, Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (CHNDTH – gọi tắt là Trung Quốc) là nước đang phát triển nhất thế giới, quan hệ Hoa Kì – CHNDTH (gọi tắt là quan hệ Mĩ – Trung) trở thành cặp quan hệ quan trọng nhất có ảnh hưởng rộng nhất không chỉ khu vực Châu Á – Thái Bình Dương mà cả trong toàn bộ hệ thống quan

hệ quốc tế Thật vậy, nếu chúng ta ví mối quan hệ này như một bản nhạc hòa tấu thì những cung bậc thăng trầm của bản nhạc đều tác động nhất định đến cảm xúc người nghe Nhiều nhà phân tích đã khái

quát mối quan hệ Mĩ – Trung bằng hai từ: Thăng trầm và đa diện Nhìn lại lịch sử trong quan hệ giữa

hai nước thì nhận định này là có cơ sở

Cuộc chiến tranh lạnh đã ra đời thay thế ngay sau khi một cuộc chiến tranh nóng trước đó vừa kết thúc Cuộc chiến thể hiện sự đối đầu của hai hệ tư tưởng tư bản chủ nghĩa (TBCN) và Xã hội chủ nghĩa (XHCN), nó đã chi phối cục diện quan hệ quốc tới đến tận năm 1991 Và quan hệ Mĩ – Trung cũng chịu sự tác động của cuộc chiến này Ngày 01.10.1949 nước CHNDTH ra đời, góp phần gia tăng lực lượng của Chủ nghĩa xã hội (CNXH) trong cuộc đối đầu với Chủ nghĩa tư bản (CNTB) Có thể thấy, qua sự kiện này đã tác động một cách mạnh mẽ vào lòng tự hào của chính quyền Washington với

sứ mệnh lãnh đạo “thế giới tự do”, ngăn chặn, chống lại sự “đe dọa của chủ nghĩa cộng sản” Trong

cuộc nội chiến ở Trung Quốc giữa Đảng cộng sản với Quốc Dân Đảng, Mĩ đã nổi lên với vai trò là nhân tố quan trọng, trong quá trình chống chủ nghĩa phát xít Nhật ở Châu Á, Mĩ đã có những chính sách giúp đỡ Trung Quốc giải phóng đất nước, nhưng khi Nhật đầu hàng, thái độ của Mĩ cũng dần thay đổi, Mĩ tiếp tục là lực lượng hậu thuẩn cho Quốc Dân Đảng trong cuộc tranh giành quyền lãnh đạo toàn Trung Quốc với Đảng cộng sản, ngay cả khi Cách mạng vô sản nước này thành công Sau khi

CHNDTH ra đời, nước này cũng xem Mĩ là một đế quốc cần phải đối phó, chính sách “nhất biên đảo”

là chiến lược ngoại giao mà nước này áp dụng, ngả hẳn về phía Liên Xô trong cùng một hệ thống XHCN, đối lập với hệ thống TBCN do Mĩ đứng đầu Cuộc chiến tranh ở Triều Tiên 1950 – 1953 là một biểu hiện cho những căng thẳng đi đến xung đột trong quan hệ giữa Mĩ với Trung Quốc trước

1970 Mĩ đã đặt Triều Tiên vào tuyến phòng thủ của mình ở Viễn Đông, áp đặt lệnh cấm vận đối với Trung Quốc, hơn nữa Mĩ lại đặt Đài Loan trong chiếc ô bảo hộ của nước này, điều này chẳng khác nào

“dầu đổ thêm vào lửa” trong quan hệ giữa hai nước vốn đã căng thẳng, vì Trung Quốc xem hòn đảo này là một bộ phận của quốc gia Trung Quốc lên án Mĩ can thiệp vào công việc nội bộ của họ, nước

Trang 8

này bắt đầu những hành động quân sự để thu hồi Đài Loan dưới quyền quản lí của Đại lục, điển hình từ đầu năm 1954, Mĩ và Chính quyền Tưởng Giới Thạch xúc tiến các cuộc đàm phán để đi đến việc kí kết

“Hiệp ước phòng thủ chung” Để cảnh cáo âm mưu của Mĩ và Đài Loan, và tỏ rõ lập trường kiên quyết giải phóng Đài Loan, Đại lục quyết định “đánh đòn trừng phạt” bằng cách bắn phá một số hòn đảo do Chính quyền Đài Loan kiểm soát (ngày 3 tháng 9 năm 1954) Cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan lần

thứ nhất bắt đầu Trước động thái đó, Mĩ đã có phản ứng “Bộ đội cộng sản chiếm lĩnh Đài Loan, sẽ uy

hiếp trực tiếp đến an ninh của khu vực Thái Bình Dương và quân đội Mĩ có trách nhiệm thi hành chức

vụ hợp pháp và cần thiết ở khu vực này” [56;44]

Trong giai đoạn trước khi đi đến bình thường hóa Mĩ, Trung Quốc cũng có duy trì đàm phán ở cấp đại sứ nhưng kết quả không được như mong đợi giữa các bên, giới phân tích đã đưa ra nhận xét đầy

ẩn dụ, đó chỉ là “cuộc đối thoại giữa những người điếc”

Đến những năm cuối thập niên 60, quan hệ quốc tế tiếp tục có những chuyển biến, tất cả đã tác động đến sự chuyển biến trong quan hệ Mĩ – Trung Điều này được thể hiện, khối XHCN với những bất đồng lan rộng, nó được biểu hiện bằng các cuộc chiến tranh biên giới Xô –Trung, học thuyết ba thế giới của Mao Trạch Đông, cuộc chiến tranh ở Việt Nam với nhiều quan điểm khác nhau giữa các nước lớn……đã làm cho Trung Quốc có cái nhìn, thái độ khác về người “anh cả” XHCN Liên Xô Mĩ đang

sa lầy ở cuộc chiến tranh Việt Nam, phong trào giải phóng dân tộc dâng cao trở thành nguy cơ đe dọa trực tiếp đến chủ nghĩa đế quốc, thêm vào đó đồng minh của Mĩ như Tây Âu, Nhật đang vươn lên mạnh mẽ với mong muốn chia sẽ vai trò lãnh đạo thế giới với nước này

Diễn biến của tình hình quốc tế giai đoạn cuối thập niên 60 đầu thập niên 70 đã đưa Mĩ, Trung

Quốc xích lại gần nhau Khi Nixon lên nhậm chức tổng thống 1969, ông đã “khám phá” việc bình

thường hóa quan hệ với Trung Quốc sẽ có lợi trong đối trọng với Liên Xô và cả những khó khăn trong quan hệ quốc tế mà nước này đang gặp phải Di chuyển theo hướng này các cuộc tiếp xúc giữa Mĩ và Trung Quốc đã được xúc tiến: ngoại giao bóng bàn, chuyến thăm Trung Quốc bí mật của Henry.A Kissinger năm 1971 đã mở đường cho chuyến thăm lịch sử năm 1972 của tổng thống Nixon đến Trung

quốc với kết quả “tuần lễ làm thay đổi thế giới”

Thật vậy, cú bắt tay hòa hoãn Mĩ – Trung đã tác động, ảnh hưởng lớn đến mối quan hệ quốc tế bấy giờ Liên Xô không duy trì được mối quan hệ theo tinh thần Hệp ước tương trợ lẫn nhau Xô – Trung như đã kí năm 1950 với Trung Quốc; cuộc kháng chiến thống nhất đất nước của nhân dân Việt Nam trở nên khó khăn hơn dưới sức ép của các nước trước đây đã từng có mối quan hệ, viện trợ, giúp

đỡ Việt Nam; Nhật Bản với “cú sốc Nixon”; chính quyền Đài Loan bị cô lập sau Thông cáo chung Thượng Hải giữa Washington và Bắc Kinh

Trang 9

Mối quan hệ Mĩ –Trung tiếp tục phát triển trong những năm 80 sau khi hai nước chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao 1979 Nhưng trong tiến trình đó, mối quan hệ này cũng bị cản trở bởi nhiều yếu

tố như sự kiện Thiên An Môn 1989 ở Trung Quốc, Mĩ lên án nước này vi phạm nhân quyền, dân chủ

đã ra sức vận động cộng đồng quốc tế “trừng phạt” Quan hệ Mĩ –Trung trở lại lạnh nhạt

Nhìn lại quan hệ Mĩ – Trung, đúng như nhiều nhà nghiên cứu nhận định: thăng trầm và đa diện Với mong muốn tái hiện lại bức tranh quan hệ Mĩ – Trung trong cuộc chiến tranh lạnh, đặc biệt là giai đoạn 1972 – 1991, một giai đoạn quan trọng trong lịch sử quan hệ giữa hai nước: chuyển từ đối đầu sang đối thoại, hợp tác Đâu là những nhân tố tác động đến chính sách đối ngoại giữa Mĩ và Trung Quốc; quá trình thực hiện chính sách đối ngoại giữa hai nước dành cho nhau diễn ra như thế nào và nó

có tác động gì đến bản thân hai nước cũng như những nhân tố góp phần chi phối mối quan hệ này Đây

là một vấn đề khó, bởi lịch sử ngoại giao luôn bao hàm nhiều yếu tố phức diện, song với niềm đam mê

nghiên cứu, học hỏi tôi mạnh dạn chọn vấn đề “ Quan hệ Mĩ – Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (1972

– 1991)” làm luận văn thạc sĩ, chuyên ngành lịch sử thế giới

2 Lịch sử vấn đề

Quan hệ Mĩ – Trung giai đoạn 1972 – 1991 đã được nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau Có thể kể đến một số công trình :

“ Một thiên sử sáu đời tổng thống Mĩ – Trung” của Patric Tyler (NXB CAND, năm 2008), ấn

phẩm trình bày “ Một bức tranh đầy bất ngờ và đáng lưu tâm hiện ra từ điều tra rất lí thú về diễn biến

quan hệ giữa Trung quốc và Hoa Kì qua 6 đới tổng thống Mĩ Với sự qua chạm ở mức độ cao giữa hai cường quốc, đây là một giai đoạn lịch sử với nhiều diễn biến không thể đoán định”, tất yếu chính sách

đối ngoại Mĩ – Trung dành cho nhau luôn nổi bật, tâm điểm là vấn đề Đài Loan; nhân tố Liên Xô cũng được đề trong quá trình bình thường hóa quan hệ hai nước với những nhận định cơ bản

Hoàng Gia Thụ (Trung Quốc) với tác phẩm “Đài Loan – Tiến trình hóa rồng” (NXB VH Thông

tin, năm 2004) tác phẩm trình bày bước phát triển đầy thăng trầm của hòn đảo Đài Loan dưới mối quan

hệ cũng đầy thăng trầm Trung – Mĩ, Đài Loan được xem là một nhân tố chủ chốt ảnh hưởng rõ nét đến quan hệ Mĩ – Trung từ khi vấn đề này nảy sinh đến hiện nay

“Ngoại giao CHNDTH 30 năm cải cách (1978 -2008)” Lê Văn Mĩ (NXB KHXN, năm 2009)

Trình bày chính sách ngoại giao của Trung Quốc từ công cuộc cải cách 1978 – 2008 với những điều chỉnh để thích ứng với tình hình trong nước và thế giới nhằm chấn hưng đất nước, đưa Trung Quốc từng bước có vị trí, vai trò ngày càng quan trọng trên trường quốc tế Tác phẩm cung cấp cho độc giả

Trang 10

cái nhìn tổng quát về chính sách đối ngoại của quốc gia này với từng nước, từng khu vực trên thế giới

Mĩ được xem là nước lớn, có vai trò quan trọng để Trung Quốc vạch ra đường lối đối ngoại phù hợp

Thomas J.Mc Conmick “America’s Half – century United states Foreign Policy in the cold War

and after” (Nước Mĩ nữa thế kỉ, chính sách đối ngoại của Hoa kì trong và sau chiến tranh lạnh – NXB

CTQG, năm 2004), tác giả phân tích sâu sắc, có hệ thống nhiều khía cạnh trong chính sách đối ngoại

của Mĩ trong nữa thế kỉ qua… “kiềm chế Liên bang Xô Viết……kiềm chế Đức và Nhật Bản, hai đối thủ thời chiến của Mĩ và Anh – một đồng minh trong chiến tranh của Mĩ – cũng như thế giới thứ ba và bản thân các công dân Mĩ” Đó là tư tưởng trong chính sách bá quyền của Mĩ mà tác giả muốn gửi đến độc giải khi nghiên cứu về chính sách đối ngoại của cường quốc này trong và sau chiến tranh lạnh Trung Quốc cũng nằm trong chính sách đối ngoại chung của Mĩ

Lê Vinh Danh “Chính sách công của Hoa kì giai đoạn 1935 – 2001” (NXB Thống kê, năm

2001) tác giả cho chúng ta cái nhìn toàn diện về các chính sách phát triển kinh tế – xã hội của Mĩ từ

1935 đến 2001: giáo dục, an sinh xã hội, ngân sách kinh tế, quốc phòng….và quan trọng cung cấp một cách có hệ thống chính sách đối ngoại của Mĩ từ trước 1935 đến đầu thế kỉ 21 Chính sách đối ngoại với Trung Quốc cũng được đề cập ở một mảng trong toàn bộ tác phẩm nhưng chỉ mang tính khái quát

Phi Bằng với “Những sự kiện quan trọng trong quan hệ Mĩ –Trung Quốc”, (NXB Trẻ, năm

2001) trình bày, phân tích mối quan hệ Trung – Mĩ trong khoảng 10 năm cuối thế kỉ XX Nhưng tác phẩm vẫn cho chúng ta cái nhìn về mối quan hệ lịch sử giữa hai nước và vấn đề Đài Loan trở thành điểm nhấn, “con át chủ bài” trong lịch sử quan hệ hai nước đến hiện nay

“Bảy cuộc đàm phán siêu cấp” của tác giả người Trung Quốc Mô Kiệt (NXB VHTT, năm

2006), ấn phẩm tường thuật về cuộc tiếp xúc ngoại giao bóng bàn giữa Mĩ và Trung Quốc năm 1971 đến chuyến thăm của Nixon 1972, sau đó là các cuộc tiếp xúc để đi đến bình thường hóa quan hệ năm

1979

Lý Kiện (Trung Quốc) với tác phẩm “ Xô Trung Mĩ cuộc đối đầu lịch sử” (NXB Thanh niên,

năm 2008), tác giả cho người đọc một cái nhìn tổng thể mối quan hệ chiến lược Trung – Xô – Mĩ Hàng loạt sự kiện được dẫn chứng để làm sáng toả sự chuyển biến trong mối quan hệ tay ba cùng những vấn đề có liên quan Nhưng nhận định cho mối quan hệ này còn bỏ ngõ

“ Nixon và vụ Watergate” của George Sandra (NXB Lao động, năm 2003) “phát hoạ chân dung

một con người của một thời đại lịch sử đã qua còn hằn những dấu ấn khó phai mờ, từ thưở thiếu thời đến khi “thành đạt” tời đỉnh cao quyền lực với biết bao sự kiện trong hoạt động đối ngoại cùng nghững thăng trầm….” Đó chính là Nixon, nhân vật có vai trò quan trọng trong cuộc chiến tranh Việt

Nam cũng như tiến trình bình thường hoá quan hệ giữa Mĩ với Trung Quốc

Ngày đăng: 19/08/2016, 10:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w