1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Câu bị động và nghĩa bị động trong tiếng việt

20 2K 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 285,19 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số khác cho rằng mặc dù tiếng Việt không có dạng bị động với tư cách là một phạm trù ngữ pháp của động từ, nhưng vẫn có thể nói đến kết cấu câu bị động trong tiếng Việt, căn cứ vào s

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN HOÀNG TUẤN

“CÂU BỊ ĐỘNG” VÀ “NGHĨA BỊ ĐỘNG”

TRONG TIẾNG VIỆT

Chuyên ngành: NGÔN NGỮ HỌC Mã số: 60 22 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS NGUYỄN THỊ HAI

Thành phố Hồ Chí Minh – 2006

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Luận văn được hoàn thành tại trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh theo chương trình đào tạo Thạc sĩ hệ chính qui tập trung, từ 2003 đến 2006

Bằng tất cả tình cảm chân thành của mình, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến Ban giám hiệu trường Đại học, Ban chủ nhiệm khoa Ngữ văn và Phòng KHCN sau Đại học của nhà trường đã tận tình giúp đỡ dìu dắt tôi trong suốt quá trình học tập

Trong quá trình làm luận văn tốt nghiệp, tôi nhận được sự hướng dẫn tận tình của Phó Giáo sư – Tiến sĩ Nguyễn Thị Hai, người giúp đỡ tôi trong thời gian làm đề tài Tôi xin bày tỏ lòng tri ân chân thành cùng với tất cả sự kính trọng sâu sắc nhất

Nhân dịp này, tôi xin tỏ lòng biết ơn đến PGS Cao Xuân Hạo và các thầy cô, đồng nghiệp đã quan tâm, động viên, giúp đỡ tôi khi thực hiện đề tài này

Cuối cùng với tình cảm nồng thắm, xin gửi đến những người thân yêu nhất đã hết lòng động viên và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn

TP Hồ Chí Minh, ngày 19 tháng 8 năm 2006

Người thực hiện đề tài NGUYỄN HOÀNG TUẤN

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI VÀ MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Trong tiếng Việt, thái bị động (passive voice) và cùng với nó là khái niệm câu bị động (passive sentence) hay “nghĩa bị động” (“passive meaning”) được giới Việt ngữ học

rất quan tâm Vấn đề này đã được bàn đến khá nhiều nhưng cho đến nay các ý kiến vẫn

còn phân tán, thậm chí ngay cả đối với việc câu bị động có tồn tại trong tiếng Việt hay

không vẫn chưa có được sự nhất trí

Một số nhà Việt ngữ học cho rằng tiếng Việt không có thái bị động hay câu bị động vì tiếng Việt, vốn thuộc loại hình Đề-Thuyết, không có Chủ ngữ ngữ pháp chỉ người hành động hay chủ thể mang trạng thái Một số khác cho rằng mặc dù tiếng Việt không có dạng bị động với tư cách là một phạm trù ngữ pháp của động từ, nhưng vẫn có thể nói đến kết cấu câu bị động trong tiếng Việt, căn cứ vào sự tồn tại của các cấu trúc

có vị ngữ gồm được, bị kết hợp với một động từ ngoại động

Đứng trước vấn đề này, một người bình thường, có thể chẳng quan tâm là mấy Nhưng chính họ khi biết rằng vấn đề chưa được nhất quán ấy lại được nhà trường phổ thông đưa vào bộ sách giáo khoa để giảng dạy cho con em mình thì chắc họ sẽ không mấy hài lòng! Còn với một số người khác, những người đã có ít nhiều kiến thức về Ngôn ngữ học, khi cầm trên tay cuốn sách giáo khoa Ngữ văn 7 tập II được Bộ Giáo Dục và Đào Tạo cho phép thực hiện chính thức trong phạm vi toàn quốc từ năm học 2002 – 2003

đến nay – và ở đấy đã dành trọn hai tiết học cho nội dung “Chuyển đổi câu chủ động

thành câu bị động” [37, tr 57-58; 64-65] thì sẽ nghĩ sao? Có phải chăng đây là thông

điệp từ bộ sách giáo khoa đã chính thức công nhận rằng trong ngữ pháp tiếng Việt có một quy tắc bắt buộc phải phân biệt câu bị động và câu chủ động như trong tiếng Pháp,

đồng thời qua đó mà khẳng định rằng phạm trù thái là một phạm trù ngữ pháp của tiếng

Việt?

Một vấn đề chưa được thống nhất triệt để, một vấn đề gây nhiều sự tranh cãi nhất trong giới Việt ngữ học, vẫn đang tồn tại hai quan điểm trái ngược nhau về nó như đã

Trang 4

nêu trên, nhưng lại được chương trình phổ thông đưa vào giảng dạy Nếu vậy học sinh sẽ

không bao giờ dám viết câu: Cơm đã dọn lên - mà sẽ viết Cơm đã được dọn lên Cũng tương tự như vậy, họ sẽ sửa các câu Tiền đã cất chưa; Báo mới đọc chưa…thành Tiền đã

được cất chưa, Báo mới được đọc chưa Vậy thử hỏi cách nói nào tự nhiên hơn, cách nói

nào thông dụng hơn đối với người dạy cũng như người học tiếng Việt? Chính vì thế, chúng tôi, trong phạm vi của một luận văn cao học, theo hướng Ngữ pháp chức năng, sẽ cố gắng giải quyết triệt để, mong rọi một ánh sáng có sức thuyết minh vào một vấn đề đang chưa có được sự nhất trí hoàn toàn, có liên quan đến cách hiểu ngữ pháp tiếng Việt, cũng như đến vị trí của tiếng Việt trong các loại hình ngôn ngữ của nhân loại, của châu Á và của vùng Đông Dương Trên cơ sở đó, chúng tôi muốn chứng minh rằng nội dung bài

giảng Chuyển đổi câu chủ động thành câu bị động hiện nay được triển khai trong sách

giáo khoa bậc Trung học cơ sở (lớp 7 tập II) là một vấn đề cần phải được xem xét lại

2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ

Như đã nêu, vấn đề dạng bị động nói chung và câu bị động trong tiếng Việt nói riêng được nhiều tác giả đề cập đến Đó cũng là mặt thuận lợi đối với chúng tôi khi bắt tay thực hiện luận văn này Quan điểm của những người đi trước (xem từ [1] đến [22]) có thể khác nhau, thậm chí đối lập với nhau, song dù có thế nào nó cũng giúp cho chúng tôi phát hiện ra vấn đề và có một cái nhìn khách quan hơn đối với đối tượng đang khảo sát Sau đây chúng tôi xin được tổng lược nội dung các công trình của các nhà ngữ pháp tiếng Việt

Nhìn chung có thể xem xét hai quan điểm sau:

- Quan điểm thứ nhất cho rằng tiếng Việt không có dạng bị động hay câu bị động

- Quan điểm thứ hai cho rằng tiếng Việt không có dạng bị động với tư cách là một

phạm trù ngữ pháp của động từ, nhưng vẫn có thể nói đến kết cấu câu bị động trong tiếng Việt

2.1 Quan điểm cho rằng tiếng Việt không có dạng bị động hay câu bị động

Trang 5

1 Bên cạnh tiêu chí hình thái học khi nhận định tiếng Việt không tồn tại câu bị động1, một số tác giả còn dựa vào đặc điểm tiếng Việt là một ngôn ngữ thiên chủ đề chứ không thiên chủ ngữ, các ngôn ngữ thiên chủ đề thì không thể xuất hiện bị động bởi bị động là đặc trưng của các ngôn ngữ thiên chủ ngữ Ý kiến này xuất phát từ luận điểm của Ch.N Li và S.A.Thompson (1976) về sự đối lập giữa hai loại hình ngôn ngữ “Thiên chủ đề” và “Thiên chủ ngữ” Dựa vào ý kiến của Ch.N Li và S.A.Thompson, Cao Xuân Hạo (1991, 2001) khẳng định dứt khoát rằng tiếng Việt không có thái bị động, do đó không có câu bị động Theo ông, tiếng Anh và các thứ tiếng Châu Âu khác là những ngôn ngữ ''Thiên chủ ngữ'' (Subject-prominent Languages), thì tiếng Việt có đủ những

thuộc tính của một ngôn ngữ ''Thiên chủ đề'' (Topic-prominent Languages) Kết cấu bị

động là một trong những đặc trưng của các ngôn ngữ ''Thiên chủ ngữ'', còn trong các

ngôn ngữ ''Thiên chủ đề'', Thái bị động được coi là một hiện tượng ngoại biên - hạn hữu, không mấy khi thấy có Cao Xuân Hạo khẳng định:

Câu bị động là loại câu trong đó chủ ngữ không đảm đương vai người hành động, người mang tính chất hay người có cảm xúc, mà là một vai nghĩa khác, thường là vai đối tượng của hành động, của tình cảm, hay là vai người nhận, trong khi các vai thường do chủ ngữ đảm đương có thể được chỉ rõ ra một cách hiển ngôn hay không Nghĩa bị động chính là nghĩa của loại câu vừa nói trên.

Còn Nguyễn Thị Ảnh [1, tr 36-47], dựa trên quan niệm của Ngữ pháp chức năng, và tiếp thu quan điểm của Cao Xuân Hạo, cũng có kết luận tương tự Khi chứng minh trong tiếng Việt không có “thái bị động” hai tác giả nêu trên đã đề cập đến các vấn đề như sau:

- Thực ra, bất kỳ ngôn ngữ nào cũng có khả năng diễn tả ý nghĩa bị động Song,

với một ngôn ngữ ''Thiên chủ ngữ'', Thái bị động được ngữ pháp hóa thành một phạm

trù với một hình thức biểu đạt riêng có tính bắt buộc tuyệt đối, trong khi tiếng Việt,

1

Tiếng Việt là một ngôn ngữ thuộc loại hình đơn lập, phân tích tính, vị từ tiếng Việt không có các chỉ tố đánh dấu về ngôi, thời, thức, dạng…, nên không tồn tại câu bị động như các ngôn ngữ biến hình (tiếng Anh, tiếng Pháp,v.v.) Để chuyển được một câu từ dạng chủ động sang dạng bị động thì các ngôn ngữ biến hình phải dùng đến sự biến đổi hình thái của vị từ Tiếng Việt vốn là một ngôn ngữ không có hiện tượng biến hình từ nên tiếng Việt không có dạng bị động với tư cách là một phạm trù ngữ pháp

Trang 6

một ngôn ngữ ''Thiên chủ đề'' thì ý nghĩa bị động không hề có một hình thức biểu đạt

nào như thế Những tác giả đã công nhận kết cấu được, bị thường được dùng để dịch

các kết cấu bị động của tiếng Âu Châu là những kết cấu bị động, không nhận thấy rằng hai vị từ này là những vị từ ngoại động chính danh trong ngôn ngữ nào cũng có, và ngôn ngữ nào cũng dùng chúng ở hình thái chủ động để biểu đạt những ý nghĩa mà các tác giả ấy gọi là bị động

- Trong tiếng Việt không có một vai nghĩa nào có thể do nghĩa của vị từ phân cho các thành phần câu như trong các thứ tiếng Châu Âu Vậy chỉ một ai muốn áp đặt các phạm trù ngữ pháp của các thứ tiếng Châu Âu vào tiếng Việt, một ngôn ngữ khác

hẵn loại hình, mới có thể nói rằng tiếng Việt có Thái bị động

- Về nội dung, ý nghĩa tình thái của bị là bình luận về cái sự tình do vị từ bổ ngữ

biểu thị như một sự tình ''bất lợi'' cho chủ thể hay cho cái đối tượng được chọn làm

chủ đề Ngược lại, ý nghĩa tình thái của được là bình luận về sự tình ấy như một sự

tình ''có lợi'' cho chủ thể hay cho sở chỉ của chủ đề

- Hơn nữa, được và bị trong tiếng Việt chưa bao giờ mất chút ý nghĩa từ vựng nào

để ta có thể nói rằng nó đã ''hư hóa'' (tức ngữ pháp hóa) và biến thành những ''trợ từ'',

dù khi bổ ngữ của nó là ngữ danh từ hay ngữ vị từ Nghĩa tình thái của được (''có lợi, đáng mừng'') và của bị (''bất 1ợi, đáng tiếc'') không bao giờ suy suyển

Những điều nêu trên càng cho thấy bị, được không thể được coi là một tiêu chí ngữ pháp để nhận diện Câu bị động, và sự phân biệt ý nghĩa bị động và ý nghĩa chủ động

trong tiếng Việt là vấn đề ngôn cảnh (dụng pháp), chứ không phải là vấn đề ngữ pháp

Chính vì thế, có thể khẳng định tiếng Việt không có Thái bị động như là một phạm trù

ngữ pháp

Đồng tình với quan điểm thứ nhất này còn có hai tác giả Hoàng Dũng và Bùi Mạnh

Hùng Trong Những tri thức và kỹ năng về tiếng Việt cần được dạy và học ở nhà trường

phổ thông [8, tr 66-67], khi bàn về vị từ, hai tác giả đã nhận định: bị và được thường

được coi là "chỉ tố của thái bị động" Nhưng tiếng Việt không có "thái bị động", vì vai

Trang 7

nghĩa của Đề không bị giới hạn như chủ ngữ trong các thứ tiếng Châu Âu Hai vị từ này đều giữ nguyên nghĩa từ vựng, nên không thể xếp vào loại hư từ ("chỉ tố") Bổ ngữ của

nó có thể là danh ngữ hay là vị ngữ Khi bổ ngữ của bị hay được là vị ngữ, hai vị từ này

có thể được coi là một thứ vị từ tình thái, dù chủ thể của nó không trùng với chủ thể của

vị ngữ làm bổ ngữ trực tiếp cho nó

2 Những tác giả ủng hộ quan niệm tiếng Việt không có dạng bị động và câu bị

động còn dựa trên quan niệm rằng các động từ bị và được là những động từ ngoại động

chính danh, nên không thể coi chúng là dấu hiệu ngữ pháp biểu hiện quan hệ bị động

Nguyễn Kim Thản (1977) cho rằng động từ bị, được là những động từ độc lập đóng vai

trò chính trong bộ phận vị ngữ của câu chứ không phải là hư từ biểu thị dạng bị động của

động từ Dạng chủ động và dạng bị động là phạm trù ngữ pháp của tiểu loại động từ

ngoại động Động từ tiếng Việt không có phạm trù dạng theo khái niệm truyền thống Ý nghĩa bị động của câu nói được biểu thị bằng hai cách

a) Cách thứ nhất là đảo trật tự của động từ ngoại động và danh từ biểu thị đối tượng chi phối của động từ ấy

Ví dụ: Song những vết thương đang hàn gắn dần dần (TDT, 58)

b) Cách biểu thị thứ hai của ý nghĩa bị động là dùng những động từ chịu đựng may

rủi phải, chịu, mắc, bị và được đặt liền động từ ngoại động

Ví dụ: Chồng vẫn bị đánh bị trói suốt đêm (NTT, 95)

Cách biểu thị bằng phương tiện từ vựng này còn có sắc thái may rủi Được biểu thị sự may mắn cho chủ thể Được có nghĩa là ''tiếp nhận một cách may mắn'' ''có dịp tốt để làm

cái gì'', ''được phép (may mắn) làm cái gì'', ví dụ:

- Tôi sung sướng được lãnh cái trách nhiệm kết thúc lễ khai mạc (HCT, II,78)

bị biểu thị sự rủi ro cho chủ thể Có khi nó có nghĩa là “không may mắn '', ví dụ:

- Tôi bị gãy chân

Trang 8

Không thể coi đây là những từ tố biểu thị dạng bị động, bởi vì dạng bị động của động từ chỉ có thể do động từ ngoại động được hình thức hóa tạo thành, khách thể phải chi phối

lại chủ thể và ta có thể giải biến câu theo dạng chủ động

Tóm lại, bị, được vẫn được dùng như động từ độc lập; bổ ngữ của nó có thể là: danh

từ, động từ, tính từ hay một từ tổ [16, tr 237-241]

Quan điểm của Nguyễn Kim Thản được Nguyễn Minh Thuyết (1986, 1998) ủng hộ làm sáng tỏ thêm Tuy nhiên, dù không thừa nhận tiếng Việt có dạng bị động như các ngôn ngữ Châu Âu, nhưng cả hai tác giả đều cho rằng tiếng Việt có cách biểu hiện ý nghĩa bị động riêng của mình, đó là cách biểu hiện bằng cấu trúc cú pháp (Nguyễn Kim Thản) hay phương tiện từ vựng (Nguyễn Minh Thuyết)

3 Đinh Văn Đức [6, tr 139-141] thì cho rằng hai từ bị và được chưa được xem là hư

từ thực sự, tác giả xếp vào nhóm các động từ tình thái ngữ pháp, là những động từ trống nghĩa Ở chúng các ý nghĩa từ vựng là rất ít, chúng đã được ngữ pháp hoá nhưng lại chưa trở thành những hư từ thực sự, những động từ này có nội hàm rất hẹp nên ngoại diên phải rộng- chúng luôn luôn có thành tố phụ, ví dụ:

- Không cần giải quyết tiếp

- Chưa có thể làm xong

- Đang muốn gặp thầy giáo

- Cũng định đến thăm anh

- Đã toan ghi chép lại

- Chẳng dám làm phiền bạn

- Còn được thưởng nữa

- Đã bị chê trách nhiều

Theo ông, xét trên phương diện ngữ nghĩa, các động từ này có hai mặt, một mặt chúng mang ý nghĩa ngữ pháp với tính cách là một trung tâm ngữ pháp trong tổ hợp với thành tố khác, có thể đóng vai trò của tiêu chí ngữ pháp, trong quan hệ với ý nghĩa tiếp thụ- bị

Trang 9

động Nhưng một mặt khác, chúng còn mang ý nghĩa tình thái tham gia diễn đạt các nhận xét đánh giá chủ quan của người nói, tính mục đích của phát ngôn

Khi diễn đạt các ý nghĩa các từ được, bị một mặt là phương tiện diễn đạt ý nghĩa ngữ pháp tiếp thụ nhưng tiếp thụ ở đây có thể được hiểu theo sắc thái “may” hay “rủi”, mà “may” hay “rủi” là theo nhận thức và đánh giá của người nói- do đó bị và được cũng

lâm thời trở thành những từ tình thái Tình hình đối với các động từ khác trong nhóm này, trên nguyên tắc cũng như vậy, điều đó khiến chúng trở thành những động từ tình thái- ngữ pháp

4 Thông qua việc so sánh ngữ nghĩa, ngữ pháp của được, bị, phải trong tiếng Việt với ban, t’rân trong tiếng Khmer, Vũ Đức Nghiệu [11, tr 13-24] cũng có cách nhìn nhận

như sau:

- Ý nghĩa bị động của các từ được, bị là do nghĩa “tự nó” chứ không phải là ý nghĩa

bị động do sự cấu tạo dạng bị động (passive voice) đem đến Vì vậy, đó là những từ có ý

nghĩa thụ động chứ không phải là những từ ở dạng bị động hay yếu tố tạo dạng bị động cho động từ khác

- Trong tiếng Việt, các cấu trúc cú pháp bị động có thể được tạo lập nhờ những từ có ý nghĩa thụ động hoặc với cấu trúc có từ mang nghĩa thụ động.Và những từ này lại hoàn toàn không phải là những từ được biến hình để thể hiện dạng bị động (được hiểu với tư cách là một phạm trù ngữ pháp), cho nên có thể nói cách khác rằng: để thể hiện cái ý nghĩa tương đương với ý nghĩa của dạng bị động trong các ngôn ngữ biến hình Châu Âu, tiếng Việt (ngôn ngữ đơn lập, không biến hình) đã sử dụng các phương thức từ vựng chứ không phải là những phương thức thuộc về ngữ pháp

2.2 Quan điểm cho rằng tiếng Việt không có dạng bị động với tư cách là một phạm

trù ngữ pháp của động từ, nhưng vẫn có thể nói đến kết cấu câu bị động trong tiếng Việt

Ngược với quan niệm trên, một số nhà nghiên cứu khác lại cho rằng trong tiếng Việt mặc dù không có phạm trù bị động với tư cách là một phạm trù hình thái học nhưng vẫn có cấu trúc bị động hay câu bị động

Trang 10

1 Nguyễn Phú Phong (1976) thừa nhận “bị động” như một phạm trù ngữ pháp tách biệt trong tiếng Việt Ông biện luận rằng có thể xác lập một cặp câu chủ động - bị động tiếng Việt tương ứng về mặt chuyển dịch với cặp câu chủ động - bị động trong tiếng Pháp, và chỉ rõ mối quan hệ hình thức giữa các thành phần của mỗi cặp câu trong những

thuật ngữ chung Ông cũng cho được, bị, do là những trợ từ bị động

2 Hoàng Trọng Phiến (1980) quan niệm “trong tiếng Việt phương thức đối lập bị động và chủ động không phải bằng con đường ngữ pháp thuần tuý mà bằng con đường từ vựng - ngữ pháp” Theo tác giả, quan hệ cú pháp trong câu bị động tiếng Việt được biểu hiện như sau:

- Bổ ngữ đối tượng trong câu chủ động trở thành chủ ngữ trong câu bị động tương ứng

- Vị ngữ bao gồm các từ bị, được, do kèm theo động từ ngoại động

- Chủ thể ở câu chủ động không bắt buộc phải xuất hiện trong câu bị động tương ứng

3 Còn N.V Stankevich (1982) khi đối chiếu tiếng Việt với ba loại hình tiếng Hán, tác giả đã nhận định về kết cấu bị động và ý nghĩa bị động trong tiếng Việt như sau:

Ở tiếng Việt hiện đại có 6 kiểu câu bị động:

V1: Đ + V: Thư viết xong

V2: Đ + Tt + V: Chữ Hán khó viết

V3: V + Đ: (Trên tường) treo một bức tranh

V4: Đ + thụ động + C + V: Tôi bị thầy phạt

V5: Đ + là do + C + V: Tranh này là do An vẽ

V6: Đ + V + C: Áo thắm nước

Theo tác giả kiểu câu bị động được dùng rộng rãi nhất trong tiếng Việt là V4 có động từ thụ động làm vị ngữ Bà nhận định tiếng Việt có mấy đặc điểm như sau về cách diễn đạt

ý nghĩa bị động:

- Kiểu câu có động từ thụ động là kiểu phổ biến khá rộng;

Ngày đăng: 19/08/2016, 10:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w