1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

So sánh một số kiểu truyện cổ tích của các tộc người sử dụng ngữ hệ nam đảo ở việt nam và indonesia

20 441 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 328,52 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HỒ CHÍ MINH Nguyễn Thị Bích Thủy SO SÁNH MỘT SỐ KIỂU TRUYỆN CỔ TÍCH CỦA CÁC TỘC NGƯỜI SỬ DỤNG NGỮ HỆ NAM ĐẢO Ở VIỆT NAM VÀ INDONESIA LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC Thành phố Hồ Chí M

Trang 1

B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TR ƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Thị Bích Thủy

SO SÁNH MỘT SỐ KIỂU TRUYỆN

CỔ TÍCH CỦA CÁC TỘC NGƯỜI SỬ DỤNG NGỮ HỆ NAM ĐẢO Ở VIỆT NAM

VÀ INDONESIA

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh - 2011

Trang 2

B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TR ƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Thị Bích Thủy

SO SÁNH MỘT SỐ KIỂU

TRUYỆN CỔ TÍCH CỦA CÁC TỘC NGƯỜI SỬ DỤNG NGỮ

HỆ NAM ĐẢO Ở VIỆT NAM

VÀ INDONESIA

Chuyên ngành: Văn Học Việt Nam

Mã số: 60 22 34

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS HỒ QUỐC HÙNG

Thành phố Hồ Chí Minh - 2011

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian học tập và hoàn thành luận văn này, người viết đã nhận được sự hướng dẫn tận tình và sự động viên, giúp đỡ của TS.Hồ Quốc Hùng Tôi xin kính gửi lời tri ân chân thành nhất đến Thầy!

Xin gửi lời cảm ơn đến Ban Giám Hiệu trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, các Thầy Cô giáo khoa Ngữ Văn, các Thầy Cô phòng Sau đại học, Thư viện trường đã luôn tạo điều kiện cho Tôi học tập, tra cứu, tham khảo tài liệu phục vụ cho quá trình nghiên cứu

Kính gửi lời cảm ơn đến những người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn quan tâm, động viên, giúp đỡ để Tôi hoàn thành quá trình học tập và nghiên cứu đề tài luận văn này!

Xin chân thành cảm ơn!

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 9 năm 2011

Học viên

Nguyễn Thị Bích Thủy

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan:

Đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, tài liệu trích dẫn, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, đảm bảo tính khách quan khoa học và nghiêm túc

Tác giả luận văn

Trang 5

MỤC LỤC

Trang 6

MỞ ĐẦU

Văn học dân gian nói chung và truyện cổ tích nói riêng là nơi lưu giữ mối quan hệ văn hóa tộc người và các dân tộc có chung quá trình lịch sử văn hóa Mối quan hệ giữa Việt Nam và Đông Nam Á trên bình diện chung rất được quan tâm nhưng ở những khía cạnh văn học dân gian chưa thực sự có sự đầu tư nghiên cứu đúng mức Nhất là những ảnh hưởng qua lại giữa các quốc gia những giai đoạn khởi nguyên Sự đối sánh nền văn học dân gian các dân tộc giữa các quốc gia là con đường đã và đang được thực hiện cho thấy nhiều hứa hẹn Nhiều nhà nghiên cứu đã khẳng định đây là con đường khả dĩ cho sự tiếp cận vấn đề này

Việt Nam là một nền văn hóa đa tộc người Nhưng chủ yếu trước nay, các nhà nghiên cứu vẫn chú trọng đến văn học dân gian người Việt nhiều hơn Riêng việc tìm hiểu mối tương đồng, dị biệt giữa văn học dân gian các dân tộc ở Việt Nam với các nước trong khu vực còn hạn chế

Các tộc người Nam Đảo ở Việt Nam tuy số lượng người không nhiều nhưng đã có những dấu

ấn văn hóa riêng tạo nên một bức tranh văn hóa, ngôn ngữ và văn học phong phú, đa sắc của Việt Nam Khi so sánh với “xứ sở vạn đảo” khác ở Đông Nam Á, chúng tôi bắt gặp những điểm tương

đồng thú vị… Ở đây, chúng tôi muốn đề cập đến Indonesia, một quốc gia đa dân tộc nhưng hầu hết đều sử dụng ngữ hệ Nam Đảo

Từ đó, người viết chọn đề tài “So sánh một số kiểu truyện cổ tích của các tộc người sử

dụng ngữ hệ Nam Đảo ở Việt Nam và Indonesia” để nghiên cứu trong luận văn này Chúng tôi kỳ

vọng cho việc đặt một hướng đi mới để nhìn nhận hai nền văn hóa ở buổi sơ khai với những điểm tương đồng và khác biệt, được biểu hiện qua bộ phận văn học dân gian dưới góc độ tộc người

Trong quá trình thực hiện luận văn, chúng tôi đặt ra mục đích giải quyết những vấn đề sau:

- Tìm hiểu các hệ ngôn ngữ Đông Nam Á và vai trò của ngôn ngữ như là một yếu tố tham chiếu có ảnh hưởng đến văn hóa nói chung và văn học dân gian nói riêng Trong đó, định hướng vai trò nối kết của ngữ hệ Nam Đảo đối với các tộc người ở Việt Nam và Indonesia là kim chỉ nam cho quá trình tìm hiểu văn học dân gian

- Khảo sát các kiểu truyện cổ tích của các dân tộc cùng sử dụng ngữ hệ Nam Đảo ở Việt Nam và Indonesia

- Chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt của thể loại này ở hai dân tộc

Trang 7

3 Lịch sử vấn đề

Đề tài hầu như chưa được nghiên cứu, hiện chúng tôi chưa có thông tin nào ngoài một số công trình có liên quan trực tiếp đến đề tài đã được công bố như sau:

- Luận văn Thạc sĩ của Phan Xuân Viện do Giáo sư Chu Xuân Diên hướng dẫn về “Truyện

dân gian các tộc người Nam Đảo ở Việt Nam”, do NXB Đại Học Quốc gia TP.HCM xuất bản

thành sách 2007

Phạm vi nghiên cứu của đề tài này khá rộng, tác giả đi vào tất cả các mảng của truyện dân gian các tộc người Nam Đảo ở Việt Nam gồm Thần thoại, Truyền Thuyết, Truyện cổ tích, Truyện cười và truyện ngụ ngôn Phần truyện cổ tích của các tộc người sử dụng ngữ hệ Nam Đảo chỉ là một phần nghiên cứu trong luận văn Khi đi vào nghiên cứu cụ thể, tác giả chia truyện cổ tích thành các tiểu loại nhỏ theo truyền thống: Truyện cổ tích loài vật, truyện cổ tích thần kì, truyện cổ tích thế tục

Ở luận văn này, tác giả Phan Xuân Viện đã công phu khảo sát khá nhiều truyện để đưa ra những tương đồng và khác biệt trong truyện cổ tích giữa các tộc người sử dụng ngữ hệ Nam Đảo ở Việt Nam Công trình này tác giả đã có nhiều cố gắng định hướng nghiên cứu theo type và motif Từ đó, theo từng tiểu loại truyện cổ tích, đã có rất nhiều nhóm truyện và motif được đề cập đến

Tuy nhiên, công trình này lại chưa nhất quán trong tiêu chí phân loại truyện cổ tích, cách triển khai của tác giả không rõ ràng về tiêu chí Nhất là tác giả tiếp cận các cấp độ không rõ ràng, có lúc đi vào kiểu truyện (type), có lúc lại đi theo đề tài - cốt truyện, có lúc sử dụng motif như một đề mục ngang hàng với hai cấp kia dẫn đến tính hệ thống bị phá vỡ

- Bài nghiên cứu: “Truyện cổ tích Indonesia và Malayixia” của GS.TS Đức Ninh đăng trong

sách “Một số vấn đề văn hóa dân gian (Folklore) Đông Nam Á”, NXB Khoa học xã hội Hà Nội,

2008

Trong bài nghiên cứu này, Đức Ninh đã đưa ra một sự đúc kết khá khái quát về truyện cổ tích của Indonesia và Malaisia và xác định những nền tảng dân tộc và văn hóa cho sự ra đời truyện cổ tích ở hai quốc gia này Hai quốc gia hình thành trên lãnh thổ Nusantara, có cơ tầng văn hóa chung gọi là Mã Lai – Indonesia Ông phân loại truyện cổ tích Indonesia thành: TCT Thần kỳ; TCT Sinh

hoạt; TCT động vật Theo đó, tác giả cho rằng: “Việc phân loại thành 3 kiểu loại truyện cổ tích theo

nội dung và các yếu tố hình thức như trên là cách thức tối ưu để trình bày khái quát về truyện cổ tích Mã Lai – Indo” P

1

Đi sâu vào từng tiểu loại, Đức Ninh chứng minh rằng: Truyện cổ tích thần kì ở đây đã có những thay đổi căn bản so với thần thần thoại, một thể loại mà nó trực tiếp có mối quan hệ họ hàng Chẳng hạn như một loạt truyện cổ tích thần kì đã kể về hôn nhân người và vật, mang ý nghĩa tô tem

- 1trang 84, Một số vấn đề văn hóa dân gian (Folklore) Đông Nam Á, NXB Khoa học xã hội Hà Nội, 2008

Trang 8

giáo; cách xây dựng nhân vật chính diện và quan niệm thiện thắng ác; thể hiện những xung đột gia

đình sau khi chế độ thị tộc-bộ lạc hay “đại gia đình” tan vỡ Sau đó, tác giả này khẳng định rằng

nhân vật truyện cổ tích thần kỳ của Indo - Malai cũng không đi ngoài nhận định của Melechinski (Nhân vật truyện cổ tích thần kỳ, Matxcova): “hình tượng con người dần thay thế đường nét màu

nhiệm, con người đạt được mục đích bằng chính sức lực của mình, chiến thắng và điều khiển được con vật”

Truyện cổ tích sinh hoạt và động vật phản ánh đầy đủ hơn, toàn diện hơn những mối quan hệ giữa con người với con người và với con vật so với truyện cổ tích thần kì Thế giới động vật mang sắc thái của con người và qua đó để phê phán những thói hư tật xấu, đề cao luân lý Hình tượng con can chi ( Cerita Kancil - con hươu, đối với Mã Lai là con Pelanduk) phổ biến thành chuỗi truyện;

đây là con vật đại diện cho trí thông minh của con người, đây là cách quy chụp “phiên bản” xã hội

con người

Những đánh giá này của Đức Ninh mở ra những nền tảng cho việc nghiên cứu truyện cổ tích Indonesia, dù ở những góc độ nhất định không phải là đầy đủ nhưng giúp cho người viết trong quá trình lý giải từng kiểu truyện cổ tích cụ thể được khảo sát trong luận văn này

Có thể thấy, lịch sử việc nghiên cứu về vấn đề rất hạn chế Thời gian gần đây đã có những nghiên cứu về sơ khởi về truyện cổ tích của các tộc người sử dụng ngữ hệ Nam Đảo ở Việt Nam, bắt đầu từ những tổng hợp về văn bản truyện đến những công trình nghiên cứu theo các góc độ khác nhau như dân tộc học, loại hình học Đối với truyện cổ tích Indonesia, những nghiên cứu ở Việt Nam càng hiếm hoi Những bất đồng về ngôn ngữ cũng là một chướng ngại lớn dẫn đến những hạn chế khi có thể tham khảo những nghiên cứu của Indonesia về truyện cổ tích Nhưng đó được xem là những viên gạch nền để mở ra nhiều hướng nghiên cứu khác nhau và tri nhận những lớp ẩn tàng về văn hóa, con người thông qua truyện cổ tích

- Đề tài được giới hạn trong phạm vi truyện cổ tích của các tộc người cùng sử dụng ngữ hệ Nam Đảo ở Việt Nam và Indonesia

- Quá trình nghiên cứu chỉ so sánh một số (không phải toàn bộ) kiểu truyện cổ tích dựa trên nguồn tư liệu hiện có

ngữ hệ Nam Đảo ở Việt Nam và Indonesia Quá trình thống kê này gắn liền với việc thu thập dữ

liệu để tạo nên một “mẫu” đủ làm nền tảng cho quá trình khảo sát Trong quá trình nghiên cứu,

Trang 9

phương pháp thống kê được áp dụng ở các cấp độ khác để mô hình hóa kiểu truyện và làm nền tảng cho những phân tích lý giải

của đề tài mang tính chất của văn học so sánh Quá trình đi vào cấu tạo truyện sẽ được đánh giá trên

cơ sở so sánh các kiểu truyện của các dân tộc sử dụng ngữ hệ Nam Đảo ở Việt Nam và Indonesia, từ

đó giúp hiểu rõ được bản chất, vị trí của các truyện cổ của các tộc người Nam Đảo trong cái nhìn đối sánh với truyện cổ Indonesia Những sự so sánh này dựa trên nguyên tắc khách quan phi định kiến, không lấy nền văn học nào làm điểm quy chiếu cho nền văn học khác với cái nhìn thiên lệch Tất nhiên, khi so sánh dựa trên sự tương quan cùng thứ bậc của các truyện cổ, không có sự phân hạng cao thấp Nguyên tắc so sánh liên ngành được sử dụng trong quá trình khảo sát mang lại cái nhìn toàn diện và đánh giá vấn đề chính xác hơn

Quá trình so sánh các kiểu truyện của các tộc người sử dụng ngữ hệ Nam Đảo ở Việt Nam và Indonesia được nghiên cứu từ sự so sánh ở nhiều cấp độ nên nguyên tắc so sánh tổng hợp được áp dụng trong suốt quá trình nghiên cứu với sự so sánh từ kiểu truyện (type) và motif đồng thời với quá trình so sánh trong nhiều hệ thống sẽ giúp nhìn nhận ý nghĩa tiềm ẩn và đánh giá tương quan giá trị của nó

cấu trúc của truyện Cấu trúc nội tại của mỗi truyện là nền tảng cho những khái quát và mô hình hóa thành những kiểu truyện; cũng như sự đối sánh các thành tố cấu thành nên tác phẩm là cơ sở khoa học cho những kết luận chi tiết

sinh quyển văn hóa của nó để nghiên cứu với các dân tộc sử dụng ngữ hệ Nam Đảo ở Việt Nam và Indonesia có sự ảnh hưởng từ văn hóa ngôn ngữ Nam Đảo đã dẫn đến những tương đồng như thế nào Quá trình biến đổi theo sinh quyển văn hóa đã tạo nên những nét riêng ghi dấu trong truyện cổ tích các tộc người

làm nền tảng định hình cho những cấu trúc truyện theo loại hình truyện cổ tích và phân chia thành các yếu tố, cũng như tìm hiểu mối quan hệ giữa chúng Sự xác định từ loại hình sẽ giải quyết vấn đề

từ sự giới thuyết ở loại hình truyện cổ tích và áp dụng các lý thuyết thi pháp để phân loại nhỏ hơn, quá trình di chuyển, biến dạng của thể loại theo thời gian, không gian để phân thành truyện cổ tích loài vật, truyện cổ tích thần kỳ, truyện cổ tích sinh hoạt

học dân gian trong sự tác động không ngừng của các ngành khác trong folklore Các tác động của

Trang 10

văn hóa học, lịch sử và đặc biệt dân tộc học sẽ đặt cơ sở cho những kiến giải về các vấn đề về nội dung truyện cổ tích của các tộc người sử dụng ngữ hệ Nam Đảo ở hai quốc gia

Những kết quả đạt đến của đề tài hy vọng giúp ích cho các vấn đề sau:

- Tìm ra mối liên hệ và sự khác biệt giữa truyện cổ các tộc người sử dụng ngữ hệ Nam Đảo

ở Việt Nam và Indonesia để thấy được mối liên hệ cội nguồn văn hóa, ngôn ngữ và những ảnh hưởng đến truyện cổ dân gian cũng như ứng xử văn hóa tộc người hiện đại;

- Góp một cách nhìn so sánh về mối liên hệ của truyện cổ tích giữa Việt Nam và Indonesia,

hy vọng từ đó mở ra hướng nghiên cứu có ý nghĩa hơn không chỉ đối với ngữ hệ Nam Đảo ở Việt Nam, Indonesia mà ở các bộ phận khác;

- Những kết quả của đề tài góp phần mở rộng cách nhìn nhận, công tác giảng dạy Văn học dân gian Việt Nam nói chung và truyện cổ tích nói riêng trong sự đối sánh với Indonesia cũng như các nước Đông Nam Á khác

Trang 11

C hương 1: SỰ PHÂN BỐ CỦA CÁC TỘC NGƯỜI SỬ DỤNG NGỮ HỆ NAM ĐẢO Ở

VIỆT NAM VÀ ĐÔNG NAM Á 1.1 Ngôn ngữ - văn hóa Đông Nam Á: bức tranh đa sắc diện

Việc tiến hành so sánh truyện cổ tích giữa hai dân tộc trên cùng khu vực sẽ bắt đầu từ cội nguồn văn hóa – lịch sử mà ngôn ngữ là nhân tố quan trọng Theo nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học, Đông Nam Á là khu vực có chữ viết muộn, chủ yếu là mượn từ nguồn chữ Hán và các văn tự

Ấn Độ Việc nghiên cứu các ngôn ngữ ở Đông Nam Á chỉ thực sự bắt đầu từ khi có sự xâm nhập của chủ nghĩa tư bản phương Tây Các học giả phương Tây khi nghiên cứu các ngôn ngữ ở Đông Nam Á thường tập trung vào hai nội dung chính là miêu tả các ngôn ngữ cụ thể và biên soạn các sách công cụ Họ cũng đã sử dụng phương pháp so sánh ngôn ngữ học lịch sử để tìm ra mối quan hệ thân thuộc giữa các ngôn ngữ

Nhìn chung, sự phân loại các ngôn ngữ ở Đông Nam Á là công việc khó khăn nhất Trước đây, các học giả thường xếp các ngôn ngữ của khu vực này vào ba ngữ hệ: ngữ hệ Nam Á, ngữ hệ Nam Đảo và Ngữ hệ Hán – Tạng

Sau nhiều tranh cãi cuối cùng, Tiếng Việt được xếp hẳn vào ngữ hệ Nam Á; còn tiếng Thái thì tách thành một ngữ hệ riêng Như vậy, hiện nay ở Đông Nam Á có 4 ngữ hệ:

1 Ngữ hệ Nam Á

2 Ngữ hệ Nam Đảo

3 Ngữ hệ Hán – Tạng

4 Ngữ hệ Thái

Riêng ngữ hệ Nam Đảo (Malayo – Polinêdia) được phân bố ở các nước như: Ngữ hệ Nam Đảo tập trung đông nhất ở các nước Philippin, Indonesia, Malaixia Ngoài ra, ngữ hệ này còn được

sử dụng ở một số nước: Campuchia, Việt Nam và Xingapo Nhóm Pôlinêdia chủ yếu ở đại lục Úc

và các đảo Nam Thái Bình Dương

Có thể thấy, bức tranh ngôn ngữ Đông Nam Á vô cùng đa sắc đã gần như là một thế giới thu nhỏ với nhiều tộc người sử dụng các hệ ngôn ngữ khác nhau Điều đặc biệt là địa bàn phân bố ngôn ngữ không mang tính tập trung theo một địa vực, tính chất phân tán của tộc người đã làm nên sự phân tán của ngôn ngữ Nhưng chính điều này đã làm nên nền văn hóa và văn học đa dạng phong phú của từng vùng lãnh thổ, đồng thời quá trình thiên di của tộc người với ngôn ngữ đã mang theo những nét truyền thống và những đặc điểm thích nghi mới Văn hóa của các tộc người Nam Đảo (sử dụng ngữ hệ Nam Đảo), với sự khỏi phát từ vùng biển đảo đã để lại dấu ấn trong văn hóa đa đảo rõ nét đến ngày nay như ở Indonesia, Malaysia, Mianma, Philippin; Singapor… Riêng các tộc người

sử dụng ngữ hệ Nam Đảo ở Việt Nam, quá trình phát triển văn hóa không chỉ dừng lại ở đó khi đến

Trang 12

Việt Nam Do điều kiện sống, nền văn hóa hải đảo của họ không tiếp tục phát triển mạnh Sự thích nghi của một nền văn hóa rừng núi đã tạo thêm nét văn hóa đặc thù cho những tộc người này khi di chuyển địa bàn sinh tụ đến miền rừng núi dọc Trường Sơn – Tây Nguyên Vì vậy sự hòa trộn, chồng lắp các chồng văn hóa trong truyện dân gian trở thành thách đố cho công việc khảo cứu

Ngôn ngữ không chỉ là phương tiện vật chất để biểu đạt tư duy mà còn là công cụ hoạt động

tư duy, tham gia trực tiếp vào quá trình hình thành và phát triển của tư duy con người Ngôn ngữ là một trong những đặc trưng quan trọng nhất để phân biệt dân tộc này với dân tộc khác Một ngôn ngữ cụ thể bao giờ cũng gắn liền với một tộc người nhất định Ngôn ngữ là một biểu hiện của văn hóa dân tộc

Cho nên, mối quan hệ giữa lịch sử ngôn ngữ và lịch sử dân tộc là mối quan hệ tương hỗ, có thể đi từ lịch sử ngôn ngữ đến lịch sử dân tộc và ngược lại Cũng có thể đi từ lịch sử dân tộc để làm sáng tỏ những hiện tượng quá trình và các biến hóa của ngôn ngữ…

Những sử liệu về ngôn ngữ sẽ giúp chúng ta trả lời một số câu hỏi về các vấn đề:

1 Môi trường sinh thái mà dân tộc đó đã tồn tại và phát triển;

2 Quan hệ về mặt nguồn gốc giữa các dân tộc anh em (trong một ngữ hệ);

3 Lịch sử phát triển của nền văn hóa dân tộc về các mặt: phạm vi, mức độ phát triển, tính chất và phương hướng chủ yếu của nền văn hóa ấy nh thế nào, đặc trưng cơ bản của nền văn hóa ấy

là gì?

4 Mối quan hệ giữa các dân tộc về mặt ngôn ngữ và sự giao tiếp giữa các ngôn ngữ đó như thế nào?

Bởi vì, mọi hiện tượng xã hội đều có nghĩa thông tin, truyền đạt, trao đổi … mà ngôn ngữ lại

là công cụ để chuyển tải và biểu đạt tất cả những lượng thông tin đó của đời sống con người một cách hiệu quả và hoàn hảo nhất Do đó, ngành dân tộc học nói riêng và các khoa học nhân văn nói chung có thể sử dụng nguồn tài liệu của ngôn ngữ để nghiên cứu xã hội của các dân tộc Mặt khác, ngôn ngữ không chỉ là công cụ biểu đạt của những hiện tượng và hoạt động xã hội mà ngôn ngữ còn

là một hiện tượng xã hội đòi hỏi được cắt nghĩa bởi những yếu tố xã hội khác

Qua đó, chúng ta thấy rằng giữa lịch sử ngôn ngữ và lịch sử tộc người là mối quan hệ nội sinh, ngôn ngữ là của một dân tộc nhất định, không có ngôn ngữ chung chung Từ ngôn ngữ, ta có điểm nhìn tham chiếu cho các lĩnh vực khoa học xã hội nhân văn và tất nhiên, văn học dân gian không phải là ngoại lệ

Ngày đăng: 19/08/2016, 09:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w