LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Trong các thời kỳ của tiến trình lịch sử, có thể nói thời trung đại thế kỷ X đến thế kỷ XIX việc thực hiện nghĩa tu hiếu sửa việc giao hiếu và đạo giao lân việc giao th
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
-
Nguyễn Thị Kim Anh
NHỮNG THÀNH TỰU CỦA THƠ BANG GIAO THỜI TRUNG ĐẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành : Văn học Việt nam
Mã số : 60 22 34
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC : PGS.TS Lê Thu Yến
Thành phố Hồ Chí Minh - 2006
Trang 2Lời cảm ơn
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn khoa học tận tình, chu đáo của PGS.TS Lê Thu Yến - người đã trực tiếp hướng dẫn chúng tôi hoàn thành luận văn khoa học này
Nhân đây, chúng tôi muốn gởi lời cảm ơn sâu sắc đến Ban Giám hiệu, tập thể các thầy cô giáo khoa Ngữ văn và Phòng khoa học công nghệ Sau đại học Trường Đ.H.S.P Thành phố Hồ Chí Minh, đã tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ chúng tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Chúng tôi cũng xin trân trọng bày tỏ sự thâm tạ về những đóng góp quý báu của tất cả quý thầy cô trong Hội đồng thẩm định luận văn khoá 2003 – 2006
Cuối cùng, xin thêm vài chữ để ghi lại nơi đây lòng biết ơn và gắn bó đến với đồng nghiệp, bạn bè cùng gia đình – những người đã nhiệt tình động viên, khích lệ chúng tôi rất nhiều để luận văn này được sớm hoàn thành
Ninh Thuận, nửa đầu tháng 6 năm 2006 Nguyễn Thị Kim Anh
Trang 3MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong các thời kỳ của tiến trình lịch sử, có thể nói thời trung đại (thế kỷ X đến thế kỷ XIX) việc thực hiện nghĩa tu hiếu (sửa việc giao hiếu) và đạo giao lân (việc giao thiệp với các nước
láng giềng) đã trở thành phép trị nước của các vương triều Việt Nam Điều này đã được nhà bác
học Phan Huy Chú khẳng định: “Trong việc trị nước, hoà hiếu với các nước làng giềng là việc
lớn, mà những khi ứng thù lại rất quan hệ, không thể xem thường, cho nên nghĩa tu hiếu chép ở kinh Xuân thu, đạo giao lân chép ở hiền truyện, chính là đem lòng tin thực mà kết giao, người có quyền trị nước phải nên cẩn thận.” [11, tr 185] Lời nhận định trên đã giúp ta hiểu được vì sao
trong văn học trung đại có nhiều người làm thơ trên đường đi sứ và tiếp sứ như vậy
Thơ bang giao có một vị trí đáng kể trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước Ngay từ buổi đầu của các triều đại Việt Nam, lĩnh vực bang giao nói chung thơ bang giao nói riêng đã gánh vác những nhiệm vụ hết sức nặng nề Trong những trận phá cường địch đem lại chiến công hiển hách ngoài công đầu của mặt trận quân sự thì lĩnh vực ngoại giao cũng đóng góp không
nhỏ: “Nước ta đời nhà Trần ứng tiếp với sứ nhà Nguyên, khi cương khi nhu, đều là đắc thế cả, cho
nên từ năm Trùng hưng về sau mới có thể hết việc binh đao, mà Bắc sứ thường thường phải khuất phục Trong khoảng hơn trăm năm, ngăn được sự dòm ngó của Trung quốc mà tăng thêm thanh danh cho văn hiến nước nhà, đó là nhờ sự giao tiếp đắc nghi giúp sức vậy.” [11, tr 255] Cùng
với bước đi của lịch sử, thơ bang giao cũng đã sớm hình thành, kịp thời ghi lại những nét son cả những gian nan, nguy hiểm của cha ông trên lộ trình vạn dặm đến Yên Kinh Vì thế, dựng lại vóc dáng tiến trình văn học nước nhà không thể không nói đến dòng văn học bang giao này Thơ bang giao còn là một bộ phận quý giá trong di sản văn học dân tộc Sứ giả nước Việt thời cổ, đặt chân lên Bắc quốc kể có hàng trăm Thơ văn bang giao, đi sứ kể có hàng vạn bài Thời xưa, người đi sứ luôn có dũng khí bảo vệ lợi ích và uy tín dân tộc; có nhân cách và học vấn Họ xứng đáng đại diện cho nền văn hiến dân tộc Thơ đi sứ của Nguyễn Tông Khuê được
nhân sĩ Triều Tiên – Lý Bán Thôn khen: “Cách luật nghiêm chỉnh, âm điệu cao siêu, nắn nót
từng câu từng chữ, thảy đều theo đúng khuôn phép thịnh Đường Dẫu Trung Hoa có tiếng hay thơ cũng không hơn được” [64, tr 42] Thơ đi sứ của cụ Bảng Đôn cũng lừng danh ở cõi Bắc, trời
Nam Phan Huy Chú (1782 – 1840) khen thơ của Đoàn Nguyễn Thục thì “phong nhã, điêu luyện,
thanh tao, phóng khoáng” Những nhà thơ nổi tiếng thời Lê trung hưng như Phùng Khắc Khoan,
Trang 4Nguyễn Tông Khuê, Nguyễn Kiều, Nguyễn Huy Oánh, Hồ Sĩ Đống, Lê Quí Đôn… đều là những đại gia trong làng văn Thời Tây Sơn, thơ đi sứ của Đoàn Nguyễn Tuấn, Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích, Võ Huy Tấn… thường thấm đẫm khí thế chiến thắng giặc thù, tự tin tự hào… Bấy lâu, chất ngọc ấy bị lớp bụi vô hình của thời gian phủ mờ Rọi lại trong văn học dân tộc, dòng văn học bang giao, đi sứ dường như đã bị lãng quên trong các bộ sách lịch sử văn học Việt Nam Thực tế cũng có một số học giả đề cập đến Song các bài viết ấy dường như chưa có một phác thảo chung về diện mạo mà chỉ mới hướng tới một mặt, một vấn đề nào đó Để nền văn học dân tộc được toàn bích, thiển nghĩ việc tìm hiểu dòng thơ bang giao trung đại rất cần thiết đối với thế hệ hôm nay
Mặt khác, bang giao từ xưa đến nay luôn là một phương diện quan trọng đối với sự an nguy, tồn vong, phát triển của một quốc gia Thời đại hôm nay là thời đại của giao lưu, hoà nhập khu vực và thế giới Ngoài học vấn uyên bác, có văn tài, các vị sứ thần Đại Việt còn là những người giỏi về ứng xử, có cốt cách và dũng khí Việc tìm hiểu thơ bang giao chính là sự tích luỹ cho mình những bài học ngoại giao khéo léo, tài tình cũng như tâm huyết và khí phách hào hùng từ cha ông
2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Thơ bang giao không kém về chất lượng, số lượng tác giả, thi tập, tác phẩm so với các bộ
phận thơ khác Theo bước đầu tìm hiểu của nhóm biên soạn tập Thơ đi sứ thuộc Viện Hán Nôm
thì số lượng thơ bang giao có đến sáu mươi người đi sứ làm thơ với hàng trăm thi tập, ngót vạn bài thơ từ thời Trần đến thời Nguyễn Thế nhưng, các nhà nghiên cứu ít mặn mà với dòng thơ này Gần đây giới nghiên cứu có sự quan tâm hơn nhưng số lượng bài viết chưa nhiều
Sớm nhất là bài viết của GS Trần Thị Băng Thanh và Phạm Tú Châu: “Vài nét về văn thơ
bang giao đi sứ đời Trần trong giai đoạn giao thiệp với nhà Nguyên” in trong Tạp chí Văn học,
số 6-1974 Bài viết có hai phần: Phần đầu nói về các biểu chương thư từ của vua Trần gởi nhà Nguyên Phần sau tác giả đề cập đến thơ bang giao trong phạm vi đời Trần giao thiệp với nhà Nguyên Bài viết có nêu lên một số nội dung chính: trách nhiệm của sứ thần đối với tổ quốc, lòng tự hào được gánh vác, làm tròn sứ mệnh của một sứ giả và lòng yêu chuộng hoà bình Bài viết cũng nói về nghệ thuật bằng một nhận xét rất chung: Nghệ thuật thơ ở cả hai đề tài không ngoài những đặc điểm của thơ chữ Hán đời Trần nói chung
Trang 5Đến 1981, bài viết này được bổ sung và cụ thể hoá với đề mục “Văn học bang giao từ thế
kỷ X đến thế kỷ XIV” in trong cuốn “Văn học Việt Nam trên những chặng đường chống phong kiến Trung Quốc xâm lược”, Nxb Khoa học xã hội, 1981 Cũng trong cuốn sách vừa dẫn trên có
bài viết “Văn học bang giao nửa đầu thế kỷ XIX.”, tác giả chọn một giai đoạn – thơ bang giao
đời Nguyễn và cũng nhấn mạnh về mặt nội dung của thơ bang giao thời này
GS Bùi Duy Tân với bài “Thơ vịnh sử, thơ đi sứ và chủ nghĩa yêu nước” in trong tập Văn
học Việt Nam thế kỷ X – nửa đầu thế kỷ XVIII, Nxb Giáo dục, 2000 Thực ra bài viết này được
ông viết vào tháng 12-1980 in trong bộ sách Lịch sử văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến nửa đầu thế kỷ XVIII, tập II, Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, 1998 Về sau, lại được in trong
“Khảo và luận một số tác gia, tác phẩm văn học trung đại Việt Nam”, Nxb Giáo dục, Hà Nội,
1999 với đề tựa “Tình cảm yêu nước thương nhà trong thơ đi sứ thời Lê trung hưng” Cũng như
các bài viết trên, tác giả khai thác phương diện nội dung của thơ đi sứ trong một giai đoạn – Lê trung hưng
Một bài nghiên cứu có tính khái quát, hệ thống bao quát được toàn bộ dòng thơ bang giao từ thời Trần đến thời Nguyễn trên cả hai mặt nội dung và nghệ thuật là bài của GS Mai Quốc
Liên “Thơ đi sứ, khúc ca của lòng yêu nước và ý chí chiến đấu” in trong Tạp chí Văn học, số
3-1979 Đến 1993, bài viết được bổ sung làm Lời giới thiệu của tập Thơ đi sứ do Phạm Thiều và
Đào Phương Bình chủ biên Đáng chú ý hơn những bài nghiên cứu khác, bài này đi sâu vào nhiều mặt của thơ bang giao: khái quát những đặc điểm chủ yếu của các giai đoạn thơ bang
giao; điểm qua những nội dung của thơ bang giao; vài nhận xét rất tinh tế về nghệ thuật: “Thơ đi
sứ nhiều bài có tứ thơ cao lời thơ lạ, cảm hứng thanh thoát đẹp đẽ thoát ra khỏi khuôn sáo”, “đi sâu vào dòng thơ ấy, chúng ta sẽ thấy cái phong phú của hình thức nghệ thuật, tính nhiều vẻ của phong cách, tính sáng tạo qua những đề tài cổ điển.” Tuy vậy, với tính chất là một Lời giới thiệu
cho tập thơ nên bài viết chỉ dừng ở mức độ khái quát, gợi mở chưa phải là một công trình nghiên cứu lớn hoàn chỉnh
Ngoài ra, còn có một số bài nghiên cứu mà nội dung liên quan ít nhiều đến thơ bang giao như:
Văn chương Bùi Văn Dị của Nguyễn Đình Chú đăng trong Tạp chí Văn học, số 8-1996
Trang 6Sứ thần Việt Nam Cao Bá Quát và nhận thức của ông qua chuyến đi công cán vùng Hạ Châu của Claudine và Tạ Trọng Hiệp đăng trong Tạp chí Nghiên cứu lịch sư,û số 5-1996 và số
1-1997
Góp thêm vài điểm về Nguyễn Trung Ngạn và cuốn Giới hiên thi tập của Hoàng Hiệu đăng trong Tạp chí Văn học, số 4-1975
Thơ Phạm Sư Mạnh của Hoàng Lê đăng trong Tạp chí Văn học, số 2-1973
Một vài nét về Đoàn Nguyễn Tuấn qua Hải ông thi tập của Nguyễn Tuấn Lương đăng trong Tạp chí Văn học, số 2-1978
Nguyễn Tông Quai, sứ giả nhà thơ nổi tiếng thế kỷ XVIII của Bùi Duy Tân đăng trong Tạp chí Văn học, số 6-1993
Lạng Sơn trong hành trình thơ đi sứ của Trần Thị Băng Thanh đăng trong Tạp chí Văn học, số 11-1996
…
Nhìn chung, các bài nghiên cứu về thơ bang giao chưa nhiều lắm và dường như còn đang
bỏ ngõ Bài giới thiệu của tập Thơ đi sứ là đáng chú ý hơn cả vì tính chất bao quát và toàn diện
của nó Còn lại các bài viết khác tuy chưa hoàn chỉnh nhưng vẫn là những bài viết có giá trị Những bài này đã gợi mở nhiều hướng đi, luận điểm, nội dung, có ý nghĩa khoa học đối với mục đích nghiên cứu của luận văn, là điểm tựa cho người viết luận văn đi đến đích Vì thế, người
viết luận văn nghĩ rằng việc nghiên cứu đề tài Những thành tựu chủ yếu của thơ bang giao trung
đại Việt Nam là hữu ích, cần thiết cho nền thơ nói riêng và văn học Việt Nam nói chung Không
có nhiều tham vọng nhưng người viết luận văn cho rằng nếu đề tài thành công thì bài viết như góp thêm một bông hoa đẹp vào vườn văn học rực rỡ của dân tộc
3 ĐÓNG GÓP CHÍNH CỦA LUẬN VĂN
Luận văn tổng hợp kết quả nghiên cứu và ghi nhận những nét khái quát của những người
đi trước về thơ bang giao
Luận văn tập trung tìm hiểu diện mạo của thơ bang giao để đưa ra cái nhìn tương đối toàn diện và hệ thống:
- Hành trình lịch sử của thơ bang giao
- Thơ bang giao - những thành tựu chủ yếu về mặt nội dung
- Thơ bang giao - những thành tựu chủ yếu về mặt nghệ thuật
Trang 7Từ đó, góp thêm vào nền văn học tiếng nói tích cực, lòng yêu nước, niềm tự hào với tinh thần chiến đấu, nhân ái của người Việt Và đây cũng là dịp giúp cho người viết và người đọc có điền kiện đi sâu khám phá, tiếp cận, lĩnh hội được cái hay cái đẹp của mảng thơ cổ quý giá này
4 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Luận văn khảo sát chủ yếu các thi phẩm trong tập Thơ đi sứ do Phạm Thiều và Đào
Phương Bình chủ biên, Nxb KHXH, Hà Nội, 1993 Ngoài ra, để nội dung bài viết được đầy đủ, luận văn còn sử dụng thêm một số thi phẩm bang giao nằm trong các tập thơ khác:
Nguyễn Du toàn tập, tập 1, Nxb Văn học, Trung tâm nghiên cứu Quốc học, 1996
Thơ chữ Hán Cao Bá Quát, in lần 2, Nxb Văn học, 1976
Thơ văn Đoàn Nguyễn Tuấn (Đào Phương Bình dịch), Nxb KHXH, Hà Nội, 1982
Hợp tuyển văn học trung đại Việt Nam (thế kỷ X – XIX), tập 1, Nxb Giáo dục
Ngô Thì Nhậm tác phẩm, tập 3, Nxb Văn học, Trung tâm nghiên cứu Quốc học, 2001
Tổng tập văn học Việt Nam, tập 9A, Nxb KHXH, Hà Nội, 1993
Tuyển tập Trần Nhân Tông (Lê Mạnh Thát dịch), Tp Hồ Chí Minh, 2000
…
Tên gọi là Thơ bang giao tức là những bài thơ được các sứ thần sáng tác trong khi đi sứ nhưng khi thực hiện luận văn, người viết mở rộng thêm đối tượng tìm hiểu: bộ phận thơ tặng tiễn sứ thần hoặc thơ đối đáp giữa các sứ thần nước ngoài với sứ thần nước ta và bộ phận thơ của một số sứ thần đi công cán, hiệu lực nước ngoài Hướng khảo sát này cũng phù hợp với
quan điểm của nhóm biên soạn tập Thơ đi sứ
4.2 Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi nghiên cứu giới hạn trong những vấn đề có liên quan đến thơ bang giao trung đại Việt Nam, cụ thể gồm ba nội dung chính:
Hành trình lịch sử của thơ bang giao
Những thành tựu chủ yếu về mặt nội dung
Những thành tựu chủ yếu về mặt nghệ thuật
4.3 Phương pháp nghiên cứu:
4.3.1 Phương pháp xã hội học:
Trang 8Thơ bang giao là một bộ phận trong văn học trung đại Việt Nam và mang tính đặc trưng
của văn học trung đại: văn – sử bất phân Hay nói cách khác, văn học quấn quít chặt chẽ với
điều kiện lịch sử và không ở đâu mối quan hệ văn học – lịch sử lại thể hiện rõ rệt hơn ở dòng thơ bang giao Nhờ phương pháp này, ta có thể nhận ra được các giai đoạn thơ bang giao: thời Trần, thời Lê – Tây Sơn, thời Nguyễn tuy có những điểm chung nhưng giữa chúng vẫn có những điểm dị biệt Điều này chủ yếu do hoàn cảnh lịch sử, thời đại quy định
4.3.2 Phương pháp loại hình:
Thơ bang giao nói riêng và thơ ca trong văn học trung đại nói chung, phần lớn các tác giả dùng chữ Hán hay chữ Nôm làm phương tiện sáng tác và đều sử dụng thể thơ Đường luật Vì thế, phương pháp khảo sát, phân tích thơ bang giao không giống cách phân tích tìm hiểu thơ hiện đại Người viết sử dụng phương pháp loại hình để thấy được đặc trưng của thơ bang giao là sử dụng thể thơ Đường luật cổ kính trang nghiêm
4.3.3 Phương pháp cấu trúc – hệ thống:
Ngoài những quan hệ hướng ngoại, tác phẩm văn học luôn tồn tại quan hệ hướng nội: quan hệ giữa các yếu tố trong một chỉnh thể nghệ thuật Mặt khác, thơ bang giao là một bộ phận của thơ ca trung đại, rộng hơn thơ ca Việt Nam, có nghĩa là nó tồn tại trong một hệ thống nhỏ trong
nhiều hệ thống tương quan: thơ trung đại, thơ hiện đại Vì vậy, người viết luận văn dùng phương
pháp cấu trúc – hệ thống để thấy rõ mối quan hệ giữa các yếu tố trong cấu trúc bài thơ; giữa thơ bang giao, thơ cổ điển và thơ hiện đại Việt Nam
Các phương pháp trên được sử dụng thường xuyên trong luận văn kết hợp với các thao tác: tổng hợp, phân tích, thống kê và so sánh đối chiếu
5 KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
2 Lịch sử vấn đề
3 Đóng góp chính của luận văn
4 Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu
5 Kết cấu của luận văn
Trang 9NỘI DUNG
Chương 1: Hành trình lịch sử của thơ bang giao
Chương 2: Thơ bang giao - những thành tựu chủ yếu về mặt nội dung:
2.1 Thơ bang giao – tiếng nói của lòng yêu nước
2.2 Thơ bang giao – khúc hát nhớ nước thương nhà của người xa xứ
2.3 Thơ bang giao – cảm quan mới về lịch sử
2.4 Thơ bang giao – không gian của những nỗi buồn u ẩn
Chương 3: Thơ bang giao - những thành tựu chủ yếu về mặt nghệ thuật
3.1 Thể loại thơ Đường luật nghiêm trang, cổ kính
3.2 Ngôn ngữ nghệ thuật
3.3 Giọng điệu nghệ thuật
KẾT LUẬN
NỘI DUNG CHƯƠNG 1: HÀNH TRÌNH CỦA THƠ BANG GIAO
1.1 Khái niệm thơ bang giao:
Văn học viết từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX chiếm một số lượng lớn là các thi tập lấy đề tài
từ lĩnh vực ngoại giao với các tên bắt đầu bằng Hoa trình 華程 như Hoa trình khiển hứng
Trang 10華程遣興 của Hồ Sĩ Đống 胡士棟 (1739 – 1785), Hoa trình ngẫu bút lục 華程偶筆錄 của Lê Quang Viện, Hoa trình thi tập 華程詩集 của Nguyễn Gia Cát, Hoa trình tiêu khiển tập 華程消遣 của Nguyễn Đề, Hoa trình tục ngâm 華程俗吟 của Phan Huy Chú (1782 – 1840) hoặc Sứ trình 使程 như Sứ trình chỉ lược thảo, Sứ trình đồ bản của Lý Văn Phức李文馥 (1785 –
1849), Sứ trình tân truyện của Nguyễn Tông Khuê, Sứ trình thi tập 使程詩集 của Phan Thanh
Giản 潘清簡 (1796 – 1867), Sứ trình vạn lý tập 使程萬里集 của Nguyễn Văn Siêu, Sứ trình yếu
thoại khúc của Bùi Quỹ… Đó là loại thơ do các sứ thần sáng tác trong khi đi sứ, phản ánh hoạt
động quan trọng trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta
Bên cạnh đó, thơ bang giao còn bao gồm cả bộ phận thơ tặng tiễn sứ thần nước ngoài của
vua quan và sứ thần đời Trần như: Tống Bắc sứ Trương Hiển Khanh của Trần Thái Tông, Tống
Bắc sứ Lý Trọng Tân của Trần Nhân Tông, Tống Bắc sứ Ngưu Lượng của Trần Nghệ Tông, Tống Sài Nghiêm Khanh của Trần Quang Khải… hoặc thơ đối đáp với các sứ thần nước ngoài như Đáp Kiều Nguyên Lãng vận của Trần Nhân Tông, Hoạ Minh quốc sứ Dư Quý, Hoạ Minh sứ Nhị Hà dịch của Phạm Sư Mạnh… và cả những bài thơ của một số nhân vật đi công cán, hiệu lực nước
ngoài chứ không phải làm trên đường đi sứ dưới triều Nguyễn như Cao Bá Quát đi Indonésia, Hà Tông Quyền 何宗權 (1798 – 1839) đi Nam Dương
Đề tài thơ bang giao rất phong phú: tình yêu đất nước, tả cảnh, vịnh sử, hoài cảm về quê hương, nỗi buồn u ẩn… Đề tài không mới nhưng đi sâu vào nội dung của từng đề tài thì thơ bang giao vẫn có nét đặc thù Chẳng hạn, nói về niềm tự hào dân tộc thì loại thơ nào cũng có nhưng trong thơ bang giao vì được nảy sinh trong hoàn cảnh đặc biệt nên nội dung cũng khác biệt Đi sứ là dịp để các sứ thần thực hiện một cuộc đấu tranh về văn hoá hay một cuộc biểu dương văn hoá Việc ứng đối và thù tạc trong bang giao đã trở thành vấn đề hết sức hệ trọng, không thể xem thường Khi đứng trước sân rồng Bắc quốc uy nghi cũng là lúc mà trí tuệ và bản lĩnh của người đi sứ được thăng hoa cao nhất và vì thế, niềm tự hào dân tộc được biểu hiện trên nhiều bình diện khác nhau, sáng tạo và linh hoạt
Về nội dung hoài cảm quê hương, thơ bang giao cũng có sắc thái riêng Ngày xưa đi sứ, đường xa vạn dặm, một lần đi là mấy năm xa tổ quốc, xa quê hương, nỗi nhớ nhà lúc nào cũng canh cánh trong lòng và được đẩy lên ở độ cao nhất Vì thế, nỗi nhớ càng được ý thức sâu hơn