Qua thực tế nhiều năm giảng dạy khối Ba, tôi nhận thấy trong các kiến thức toán ở chương trình thì mạch kiến thức “Giải toán có lời văn” là mạch kiến thức khó khăn nhất đối với học sinh bởi vì đối với một số học sinh vốn từ, vốn hiểu biết, khả năng đọc hiểu, khả năng tư duy lôgic của các em còn rất hạn chế. Các em chưa biết cách tự học, chưa học tập một cách tích cực. Học sinh khi giải toán có lời văn thường rất chậm so với các dạng bài tập khác. Nhiều khi với một bài toán có lời văn các em có thể đặt và tính đúng phép tính của bài nhưng không thể trả lời hoặc lý giải là tại sao các em lại có được phép tính như vậy? Thực tế hiện nay cho thấy, các em thực sự lúng túng khi giải bài toán có lời văn. Một số em chưa biết tóm tắt bài toán, chưa biết phân tich đề toán để tìm ra đường lối giải, chưa biết tổng hợp để trình bày bài giải, diễn đạt chưa rõ ràng, thiếu lôgic. Chính vì thế nhiều khi dạy học sinh đặt c u lời giải vất vả hơn so với dạy các em thực hiện các phép t nh để tìm ra đáp số của bài toán. Việc đặt lời giải là một khó khăn với các em học sinh vì các em mới chỉ đọc được đề toán chứ chưa hiểu được đề, chưa trả lời các câu hỏi của giáo viên nêu: Bài toán cho biết gì?... Đến khi giải toán thì đặt câu lời giải chưa đúng, chưa hay hoặc không có câu lời giải... Vậy làm thế nào để học sinh hiểu đề bài, biết cách giải và tìm ra đáp số đúng của bài toán, đó là điều khiến tôi rất trăn trở. Đây là lý do mà tôi chọn đề tài
Trang 1I TÊN ĐỀ TÀI: MỘT SỐ KINH NGHIỆM GIÚP HỌC SINH LỚP 3 GIẢI TOÁN
CÓ LỜI VĂN
II ĐẶT VẤN ĐỀ:
1 Tầm quan trọng.
Song song với việc dạy và học môn Tiếng Việt, việc dạy và học Toán ở trường Tiểu học có vai trò vô cùng quan trọng trong việc hình thành và phát triển khả năng toán học cho học sinh Bởi từ đây, những bài học đơn giản đầu tiên sẽ là nền móng đưa các em đi vào thế giới toán học bao la sau này Để phát triển tốt khả năng toán học cho học sinh, hơn đâu hết, việc học toán ở trường Tiểu học phải đặc biệt được chú trọng Chúng ta đã và đang thực hiện tốt nội dung này
Trong môn toán ở bậc Tiểu học, các bài giải toán có lời văn có một vị trí hết sức quan trọng, chiếm phần lớn lượng thời gian trong học toán của học sinh Việc giải thành thạo các bài toán là một trong những tiêu chuẩn để đánh giá khả năng học toán của mỗi học sinh Việc giải toán được chú trọng như thế có lẽ vì những tác dụng thiết thực mà
nó đạt được trên cả 2 mặt lý thuyết và thực tế với học sinh tiểu học:
- Trước hết giải toán tốt là một bước củng cố tốt trong việc khắc sâu kiến thức số học, đo lường, các yếu tố đại số, hình học ở học sinh
- Bên cạnh đó thông qua nội dung thực tế nhiều hình, nhiều vẻ của các đề toán, học sinh sẽ tiếp nhận được những kiến thức phong phú về cuộc sống và có điều kiện để rèn luyện khả năng áp dụng các kiến thức toán học vào đời sống Thực hiện tốt lời dạy
“Học đi đôi với hành” của Bác Hồ
- Ngoài ra việc giái toán sẽ giúp phát triển trí thông minh, óc sáng tạo, thói quen làm việc một cách khoa học cho các em, bởi giải toán là quá trình đòi hỏi nhiều nhất sự tư duy, suy luận khả năng phân tích chọn lựa của học sinh
- Cuối cùng, giải toán là cách tốt nhất để rèn luyện tính kiên trì, tự lực vượt khó, cẩn thận chu đáo, yêu thích sự chặt chẽ, chính xác cho học sinh, bởi khi giải toán bắt buộc các em phải tự mình xem xét vấn đề, tự mình giải quyết vấn đề, tự mình kiểm tra
Trang 2lại kết quả.
2 Thực trạng ban đầu :
1 Về tình hình học sinh lớp 3B:
Năm học 2014-2015 tôi tiếp tục được phân công dạy lớp 3 Đa số các em là con lao động, điều kiện kinh tế gia đình còn gặp nhiều khó khăn nên các em chưa thực sự được
bố mẹ quan tâm đúng mức Một số phụ huynh không quan tâm đến con cái, tất cả mọi việc học của con đều phó mặc cho nhà trường Điều đó ảnh hưởng rất lớn đến việc học tập của các em Nhất là với môn toán số lượng học sinh yếu còn nhiều, chất lượng học tập chưa cao, có những học sinh không hiểu được đề bài toán nên làm cho có, dẫn đến kết quả của bài toán sai khá nhiều
Để thực hiện được vấn đề này, tôi đã tìm hiểu và nắm rõ tình hình học sinh ngay khi được phân công Trước tiên tôi xem sổ chủ nhiệm năm học trước đồng thời tôi trao đổi với giáo viên chủ nhiệm năm học trước để năm rõ hơn Sau đó tôi cho học sinh kiểm tra lại để phân loại từng đối tượng học sinh
* Nguyên nhân:
+ Do các em chưa đọc kĩ đề bài, chưa biết tập trung vào những dữ kiện trọng tâm của đề toán không chịu phân tích đề toán khi đọc đề
+ Đa số học sinh bỏ qua một bước cơ bản trong giải toán là tóm tắt đề toán học sinh chưa xác định các kiểu tóm tắt đề toán khác nhau phụ thuộc vào từng dạng bài cụ thể + Một số em biết tìm ra phép tính đúng nhưng khi đặt lời giải cho bài toán chưa hợp lý
3 Lí do chọn đề tài
Qua thực tế nhiều năm giảng dạy khối Ba, tôi nhận thấy trong các kiến thức toán ở chương trình thì mạch kiến thức “Giải toán có lời văn” là mạch kiến thức khó khăn nhất đối với học sinh bởi vì đối với một số học sinh vốn từ, vốn hiểu biết, khả năng đọc hiểu, khả năng tư duy lôgic của các em còn rất hạn chế Các em chưa biết cách tự học, chưa học tập một cách tích cực Học sinh khi giải toán có lời văn thường rất chậm so với các dạng bài tập khác Nhiều khi với một bài toán có lời văn các em có thể đặt và tính đúng
Trang 3phép tính của bài nhưng không thể trả lời hoặc lý giải là tại sao các em lại có được phép tính như vậy? Thực tế hiện nay cho thấy, các em thực sự lúng túng khi giải bài toán có lời văn Một số em chưa biết tóm tắt bài toán, chưa biết phân tich đề toán để tìm ra đường lối giải, chưa biết tổng hợp để trình bày bài giải, diễn đạt chưa rõ ràng, thiếu lôgic
Chính vì thế nhiều khi dạy học sinh đặt c u lời giải vất vả hơn so với dạy các em thực hiện các phép t nh để tìm ra đáp số của bài toán Việc đặt lời giải là một khó khăn với các em học sinh vì các em mới chỉ đọc được đề toán chứ chưa hiểu được đề, chưa trả lời các câu hỏi của giáo viên nêu: Bài toán cho biết gì? Đến khi giải toán thì đặt câu lời giải chưa đúng, chưa hay hoặc không có câu lời giải
Vậy làm thế nào để học sinh hiểu đề bài, biết cách giải và tìm ra đáp số đúng của bài toán, đó là điều khiến tôi rất trăn trở Đ y là l do mà tôi chọn đề tài
“Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 3 giải các bài toán có lời văn” , mong tìm ra những giải pháp nhằm góp phần nâng cao kỹ năng giải toán có
lời văn cho học sinh tiểu học nói chung và học sinh lớp 3/3 nói riêng Để các em có thể giải thành thạo hơn với những bài toán có lời văn khó ở các lớp trên
4 Giới hạn của đề tài
Do đặc thù về nhiệm vụ nên tôi chỉ giới hạn đề tài trong 30 học sinh lớp 3B của trường TH Lê Thị Hồng Gấm
III CƠ SỞ LÝ LUẬN
Như chúng ta đã biết giáo dục tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học lên
Môn toán là một môn học chiếm một vị trí rất quan trọng và then chốt trong nội dung chương trình các môn học bậc tiểu học Các kiến thức kĩ năng của môn toán ở tiểu học có nhiều ứng dụng trong đời sống, chúng rất cần cho người lao động, rất cần thiết
để học các môn học khác ở tiểu học và các lớp trên Môn toán giúp học sinh nhận biết các mối quan hệ về số lượng và hính dạng không gian của thế giới hiện thực Nhờ đó
Trang 4mà học sinh cĩ phương pháp nhận thức một số mặt của thế giới xung quanh và biết cách hoạt động cĩ hiệu quả trong đời sống Mơn tốn gĩp phần rất quan trọng trong việc rèn luyện phương pháp suy nghĩ, phương pháp suy luận, phương pháp giải quyết vấn đề Nĩ gĩp phần phát triển trí thơng minh, cách suy nghĩ độc lập, linh hoạt, sáng tạo, nĩ đĩng gĩp vào việc hình thành các phẩm chất cần thiết và quan trọng của người lao động như: cần cù, cẩn thận , cĩ ý chí vượt khĩ khăn, làm việc cĩ kế hoạch, cĩ nề nếp và tác phong khoa học
IV CƠ SỞ THỰC TIỄN
Chương trình toán học ở lớp Ba bao gồm các nội dung : số học, đại lượng và đo đại lượng, các yếu tố hình học, các yếu tố thống kê, giải toán có lời văn Trong 5 mạch kiến thức đó, giải toán có lời văn là nội dung rất quan trọng đối với HS tiểu học Nó giúp HS phát triển năng lực tư duy, óc sáng tạo, biết suy luận lôgich, phân tích vấn đề, giải quyết vấn đề một cách thấu đáo; làm cơ sở cho sự phát triển năng lực trí tuệ ở các lớp học trên tiếp theo Nó giúp HS củng cố lí thuyết, vận dụng lí thuyết vào thực tế cuộc sống, vận dụng công thức toán vào bài tập thực hành Nó cũng giúp cho HS học tập các môn học khác tốt hơn Với đề tài nghiên cứu này sẽ giúp tôi nắm được toàn bộ nội dung cấu trúc cũng như phương pháp giải toán có lời văn ở lớp Ba Qua đó, tôi sẽ có thêm nhiều kinh nghiệm trong việc dạy học về giải toán có lời văn, nhằm giúp HS tiếp thu tốt về phương pháp giải toán có lời văn để các em học tốt hơn, đạt hiệu quả cao hơn trong học tập GV sẽ tìm ra những khó khăn, vướng mắc khi các em giải toán và biện pháp khắc phục để giúp HS có những kinh nghiệm quí báu để giải toán có lời văn ở lớp Ba được tốt hơn
Trang 5V NỘI DUNG NGHIÊN CỨU.
V.I HỆ THỐNG VÀ PHÂN LOẠI CÁC KIỂU DẠNG BÀI TOÁN CÓ LỜI VĂN TRONG CHƯƠNG TRÌNH SGK LỚP 3 :
1) CHƯƠNG TRÌNH LỚP BA :
a) Số học :
a.1) Phép nhân và phép chia trong phạm vi 1000.
- Củng cố các bảng nhân với 2, 3, 4, 5 (tích không quá 50) và các bảng chia cho 2, 3, 4, 5 (số bị chia không quá 50) Bổ sung cộng, trừ các số có 3 chữ số có nhớ không quá 1 lần
- Lập các bảng nhân và các bảng chia
- Nhân chia ngoài bảng trong phạm vi 1000 : nhân số có hai, ba chữ số với số có 1 chữ số có nhớ không quá 1 lần; chia số có hai, ba chữ số cho số có 1 chữ số Chia hết và chia có dư
- Thực hành tính : tính nhẩm trong phạm vi các bảng tính; nhân nhẩm số có hai chữ số với số có 1 chữ số, không nhớ; chia nhẩm số có hai chữ số cho số có 1 chữ số, không có dư ở từng bước chia, … Củng cố về cộng, trừ, nhân, chia trong phạm vi 1000 theo các mức độ đã xác định
- Làm quen với biểu thức số và giá trị của biểu thức Giới thiệu thứ tự thực hiện các phép tính trong biểu thức số có đến 2 dấu phép tính, có hoặc không có dấu ngoặc
- Giải các bài tập dạng :
“Tìm x, biết a : x = b (với a, b là các số trong phạm vi đã học)
a.2) Giới thiệu các số trong phạm vi 10000.
a.3) Giới thiệu các số trong phạm vi 100000.
Trang 6b) Đại lượng và đo đại lượng.
c) Yếu tố hình học.
d) Yếu tố thống kê.
e) Giải bài toán.
2) NỘI DUNG KIẾN THỨC VỀ BÀI TOÁN CÓ LỜI VĂN LỚP 3 : 2.1) Nội dung :
2.1.1) Các bài toán về nhiều hơn, ít hơn – so sánh hai số hơn kém nhau bao nhiêu đơn vị
2.1.2) Các bài toán về tích của hai số – chia thành các phần bằng nhau – chia thành nhóm – chia có dư
2.1.3) Các bài toán về quan hệ giữa thành phần và kết quả phép tính
2.1.4) Các bài toán về gấp 1 số lên nhiều lần – giảm đi một số lần – so sánh số lớn gấp mấy lần số bé
2.1.5) Các bài toán tìm một phần mấy của 1 số
2.1.6) Các bài toán liên quan đến rút về đơn vị
2.1.7) Các bài toán hình học
2.1.8) Các bài toán về đại lượng và đo đại lượng
V.II CÁC PHƯƠNG PHÁP GIẢI TỐN CĨ LỜI VĂN
1/ Phương pháp trực quan:
Nhận thức của trẻ từ 6 đến 11 tuổi cịn mang tính cụ thể , gắn với
các hình ảnh và hiện tượng cụ thể, trong khi đú kiến thức của mơn tốn lại
cĩ tính trìu tượng và khái quát cao Sử dụng phương pháp này giúp học
sinh cĩ chỗ dựa cho hoạt động tư duy, bổ xung vốn hiểu biết, phát triển tư
duy trìu tượng và vốn hiểu biết Ví dụ: khi dạy giải tốn ở lớp ba, giáo
viên cĩ thể cho học sinh quan sát mơ hình hoặc hình vẽ, sau đĩ lập tĩm tắt
Trang 7đề bài qua, rồi mới đến bước chọn phép tính
2/ Phương pháp thực hành luyện tập:
Sử dụng phương pháp này để thực hành luyện tập kiến thức, kỹ năng
giải toán từ đơn giản đến phức tạp ( Chủ yếu ở các tiết luyện tập ) Trong quá trình học sinh luyện tập, giáo viên có thể phối hợp các phương pháp như: gợi mở - vấn đáp
và cả giảng giải - minh hoạ
3/ Phương pháp gợi mở - vấn đáp:
Đây là phương pháp rất cần thiết và thích hợp với học sinh tiểu học,
rèn cho học sinh cách suy nghĩ, cách diễn đạt bằng lời, tạo niềm tin và khả
năng học tập của từng học sinh
4/ Phương pháp giảng giải - minh hoạ:
Giáo viên hạn chế dùng phương pháp này Khi cần giảng giải - minh
hoạ thì giỏo viên nói gọn, từ và kết hợp với gợi mở - vấn đáp Giáo viên
nên phối hợp giảng giải với hoạt động thực hành của học sinh ( Ví dụ:
Bằng hình vẽ, mô hình, vật thật ) để học sinh phối hợp nghe, nhìn và
làm
5/ Phương pháp sơ đồ đoạn thẳng:
Giáo viên sử dụng sơ đồ đoạn thẳng để biểu diễn các đại lượng đã
cho ở trong bài và mối liên hệ phụ thuộc giữa các đại lượng đó Giáo viên
phải chọn độ dài cỏc đoạn thẳng một cỏch thớch hợp để học sinh dễ dàng
thấy được mối liên hệ phụ thuộc giữa các đại lượng tạo ra hình ảnh cụ thể
để giúp học sinh suy nghĩ tìm tòi giải toán
V.III MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN KĨ NĂNG GIẢI TOÁN CÓ LỜI VĂN CHO HỌC SINH LỚP 3
Muốn phân tích được tình huống, lựa chọn phép tính thích hợp, các em cần nhận thức được: cái gì đã cho, cái gì cần tìm, mối quan hệ giữa cái đã cho và cái phải tìm Trong bước đầu giải toán, việc nhận thức này, việc lựa chọn phép tính thích hợp đối với các em là một việc khó Để giúp các em khắc phục khó khăn này, cần dựa vào các hoạt
Trang 8động cụ thể của các em với vật thật, với mô hình, dựa vào hình vẽ , các sơ đồ toán học nhằm làm cho các em hiểu khái niệm " gấp " với phép nhân, khái niệm " một phần " với phép chia” trong tương quan giữa các mối quan hệ trong bài toán
Trong một bài toán, câu hỏi có một chức năng quan trọng vì việc lựa chọn phép tính thích hợp được quy định không chỉ bởi các dữ kiện mà còn bởi các câu hỏi Với cùng các dữ kiện như nhau có thể đặt các câu hỏi khác nhau do đó việc lựa chọn phép tính cũng khác nhau, việc thấu hiểu câu hỏi của bài toán là điều kiện căn bản để giải đúng bài toán đó Nhưng trẻ em ở giai đoạn đầu khi mới giải toán chưa nhận thức được đầy
đủ chức năng của câu hỏi trong bài toán Để rèn luyện cho các em suy luận đúng, cần giúp các em nhận thức được chức năng quan trọng của câu hỏi trong bài toán Muốn vậy có thể dùng biện pháp: thường xuyên gợi cho các em phân tích đề toán để xác định cái đã cho, cái phải tìm, các dữ kiệm của bài toán , câu hỏi của bài toán, đôi khi nêu cho các em bài toán vui không giải được, chẳng hạn: " trên cành âõy có 10 con chim, người thợ săn bắn rơi 2 con Hỏi trong lồng còn mấy con chim?" có em sẽ nhẩm và trả lời là
8 con, lúc đú giáo viên sẽ giải thích để học sinh nhận ra cái sai trong câu hỏi của bài toán
Đối với toán có lời văn ở lớp 3,chủ yếu là các bài toán liên quan đến rút về đơn vị
và các bài toán có hai phép tính,bài toán cũng có nghĩa là giải quyết các bài toán đơn Mặt khác các dạng toán đều đó được học ở các lớp trước,
Từ các dạng khác nhau của bài toán, các phép tính cộng , trừ, nhân, chia, khi sử dụng tính toán cho đến các dạng phức tạp hơn như sử dụng hai hay nhiều phép tính Hoặc vận dụng mối liên hệ giữa yếu tố hình học, mối quan hệ giữa các đại lượng và các đơn vị đo khác nhau về số đo thích hợp Vận dụng mối quan hệ giữa các số tự nhiên, số
tự nhiên liên tiếp, số chẵn , số lẻ Từ đó các em giải các bài toán có liên quan đến số
để vận dụng đặc điểmcủa mỗi loại toán điển hình, tìm ra cách giải phù hợp riêng biệt cho loại toán đó Sau đây là những biện pháp thực hiện
* Biện pháp 1 : Nắm vững các bài toán cơ bản ở dạng cơ bản:
Trang 9Ở trong những dạng này thường lựa chọn các bài tập điển hình, bài giải phù hợp từ
rễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp ở lớp 3 toán có lời văn có hai dạng chủ yếu là toán đơn và toán hợp
A - Các dạng toán đơn:
Học sinh phải nắm được các bài tập đơn giản sau:
1 Loại toán tìm "tích"
Ví dụ: Một người đi bộ cứ mỗi giờ đi được 4 km Hỏi trong 3 giờ người đó đi được bao nhiêu km?
Tóm tắt:
Giải
Quãng đường người đó đi được là :
4 x 3 = 12 ( km )
Đáp số : 12 km
2 Loại toán gấp một số lên nhiều lần
Ví dụ : An hái được 5 bông hoa.Hà hái đươc số bông hoa gấp hai lần của An Hỏi
Hà hái được bao nhiêu bông hoa ?
- Học sinh nhận xét - Tóm tắt và nắm vững cách giải và kĩ năng tính toán ( gấp số lần ta làm tính nhân)
3 Loại toán: " Chia thành số phần bằng nhau"
Ví dụ: Có 12 quả cam, chia đều cho 6 em Hỏi mỗi em được bao nhiêu quả?
Nhận xét: Đây là loại toán được sử dụng trong thực tế hàng ngày nên
học sinh dễ dàng làm được
4 Loại toán: " Chia thành phần từng nhóm"
Ví dụ: Có 12 bông hoa, chia cho mỗi em 3 bông Hỏi có bao nhiêu em được chia?
5 Loại toán: " Giảm một số đi nhiều lần"
Trang 10Ví dụ: Hà có 15 bông hoa Số hoa của Hà gấp 5 lần số hoa của An Hỏi An có bao nhiêu bông hoa?
6 Loại toán: " So sánh hai số gấp, kém nhau mấy đơn vị"
Ví dụ: Anh có 10 que tính Em có 5 que tính Hỏi số que của anh gấp mấy lần số que tính của em?
7 Loại toán : " Tìm một phần mấy của một số"
Ví dụ: Ngăn thứ nhất có 18 quyển sách Số sách có ngăn thứ hai bằng 1/3 số sách ngăn thứ nhất Hỏi ngăn thứ hai có bao nhiêu quyển sách?
Trên đây là 7 loại toán thuộc dạng đơn Mặc dù chỉ là những bài toán đơn giản nhưng trong thưc tế các em vẫn nhầm Vậy muốn giải đúng tôi yêu cầu các em đọc kỹ đầu bài, tóm tắt được đề toán , xác định bài toán thuộc dạng toán nào Thực hiên đúng phép tính
B Các loại toán hợp :
Các loại toán hợp ở lớp 3 là các bài toán giải bằng hai, ba phép tính trở lên Trong đó
có đủ 4 phép tính, phép tính cộng, trừ, nhân, chia, ở lớp ba, chú trọng nhất là hai loại toán khá quan trọng sau:
1 Toán hợp giải bằng hai phép tính nhân, chia có liên quan đến rút về đơn vị
Ví dụ : Có 3 chồng sách như nhau xếp được 18 quyển Hỏi 5 chồng như vậy xếp được bao nhiêu quyển?
Ở loại toán này giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh hiểu rõ mối liên quan mật thiết giữa các đơn vị đã cho và phải tìm Và giải thích "Rút về đơn vị"
2 Toán hợp giải bằng 2 phép tính chia có liên quan đến rút về đơn vị
Ví dụ : Có 3 thùng như nhau đựng 18 lít dầu Hỏi có 30 lít dầu phải đựng trong mấy thùng?
Ta thấy rằng qua hai ví dụ trên cách giải loại toán này cũng có 2 bước
- 1 rút về đơn vị