Trong buổi “Trình diễn đa thoại về tiểu thuyết 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần] của Đặng Thân” diễn ra tại Viện Goethe, nhà phê bình Lã Nguyên La Khắc Hòa khẳng định: "Nhìn lại lịch sử văn
Trang 1ĐÀO NHỊ HÀ
TIỂU THUYẾT 3.3.3.9 [NHỮNG MẢNH HỒN TRẦN] CỦA ĐẶNG THÂN NHÌN TỪ GÓC ĐỘ THỂ LOẠI
Chuyên ngành: LÍ LUẬN VĂN HỌC
Mã số: 60 22 01 20
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HOÁ VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: TS Phùng Gia Thế
HÀ NỘI, 2015
Trang 2Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới thầy giáo TS Phùng Gia Thế - người đã hướng dẫn tận tình để tôi hoàn thành luận văn này
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới Ban giám hiệu trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, phòng Sau đại học, quý thầy cô đã trực tiếp giảng dạy tôi trong suốt khóa học
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến các thầy, cô trong Hội đồng chấm luận văn
đã dành thời gian đọc và đóng góp ý kiến
Mặc dù đã có những cố gắng, tìm tòi nhất định, song chắc chắn luận văn không tránh khỏi hạn chế Vì vậy, tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của thầy cô và các bạn để luận văn được hoàn thiện hơn
Hà Nội, ngày 10 tháng 07 năm 2015
Học viên
Đào Nhị Hà
Trang 3Luận văn được hoàn thành dưới sự hướng dẫn trực tiếp của thầy giáo,
TS Phùng Gia Thế Tôi xin cam đoan:
- Luận văn là kết quả nghiên cứu tìm tòi của riêng tôi
- Những tư liệu được trích dẫn trong luận văn là trung thực
- Những gì được triển khai trong luận văn không trùng khít với bất kì công trình nghiên cứu của các tác giả nào đã được công bố trước đó
Hà Nội, ngày 10 tháng 07 năm 2015
Học viên
Đào Nhị Hà
Trang 4MỞ ĐẦU 6
1 Lí do chọn đề tài 6
2 Mục đích nghiên cứu 10
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 10
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 10
5 Phương pháp nghiên cứu 10
6 Đóng góp của luận văn 11
7 Cấu trúc của luận văn 11
NỘI DUNG 12
Chương 1 KẾT CẤU – CỐT TRUYỆN TIỂU THUYẾT 3.3.3.9 [NHỮNG MẢNH HỒN TRẦN] CỦA ĐẶNG THÂN 12
1.1 Khái niệm kết cấu 12
1.2 Kết cấu mê lộ 14
1.3 Kết cấu lồng ghép 17
1.4 Kết cấu phân mảnh 22
Chương 2 NGÔN NGỮ VÀ GIỌNG ĐIỆU TIỂU THUYẾT 3.3.3.9 [NHỮNG MẢNH HỒN TRẦN] CỦA ĐẶNG THÂN 31
2.1 Ngôn ngữ tiểu thuyết Đặng Thân 31
2.1.1 Khái niệm ngôn ngữ 31
2.1.2 Ngôn ngữ mạng 33
2.1.3 Ngôn ngữ thông tục, suồng sã 37
2.1.4 Ngôn ngữ giễu nhại 40
2.1.5 Ngôn ngữ pha tạp 45
2.2 Giọng điệu tiểu thuyết Đặng Thân 51
2.2.1 Khái niệm giọng điệu 51
Trang 52.2.4 Giọng điệu hoài nghi, chất vấn 57
Chương 3 KHÔNG GIAN VÀ THỜI GIAN NGHỆ THUẬTTIỂU THUYẾT3.3.3.9 [NHỮNG MẢNH HỒN TRẦN] CỦA ĐẶNG THÂN 63
3.1 Không gian nghệ thuật 63
3.1.1 Khái niệm không gian nghệ thuật 63 3.1.2 Không gian nghệ thuật trong 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần] của Đặng Thân 65
3.2 Thời gian nghệ thuật 68
3.2.1 Khái niệm thời gian nghệ thuật 68 3.2.2.Thời gian nghệ thuật trong 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần] của Đặng Thân 70
KẾT LUẬN 75 TÀI LIỆU THAM KHẢO 79
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Ở Việt Nam, từ sau 1986, sự đổi mới của đời sống văn hóa – xã hội
đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự đổi mới văn học, trong đó có tiểu thuyết Trên văn đàn, tiểu thuyết ngày càng khẳng định vai trò là “xương sống”, là
“cột trụ” của nền văn học Tiểu thuyết ngày càng có nhiều tín hiệu đổi mới Trên văn đàn, xuất hiện nhiều khuynh hướng tìm tòi thể nghiệm nhằm “khơi thông dòng chảy” (Nguyên Ngọc) Những hiện tượng mới lạ, những cách tân táo bạo gây dư luận ồn ào và kéo dài, những diễn biến phức tạp và bất ngờ của quá trình tiếp nhận văn học… hầu như diễn ra trong lĩnh vực tiểu thuyết
Nằm trong dòng chảy đổi mới văn học kể từ 1986, tiếp tục là thời kì mở cửa, hội nhập từ cuối những năm 90 của thế kỉ trước, nhiều tác phẩm, tác giả
đã lần lượt xuất hiện, tạo được dấu ấn trên văn đàn Đầu những năm 2000, văn học mạng xuất hiện mạnh mẽ, mở ra không gian mới, cách viết và cách tiếp cận mới, trong đó, sự góp mặt Đặng Thân được xem là một sự kiện đặc biệt, khẳng định một phong cách riêng, độc đáo trong dòng chảy văn chương giai đoạn này
1.2 Đặng Thân là nhà thơ song ngữ, nhà văn nổi tiếng ở Việt Nam về
tiểu thuyết hư cấu, truyện ngắn và tiểu luận Giới phê bình Việt Nam đánh giá ông là “điển hình của văn học Việt Nam hậu đổi mới” Những tác phẩm của ông
đã tạo ra bước ngoặt quan trọng bậc nhất về lối viết trong văn học Việt Nam Báo chí Mỹ nhận định: “Trong những dòng văn chương ông theo đuổi, Đặng Thân được ca ngợi nhờ có giọng văn rất độc đáo và phong cách nổi loạn”
xuất bản trong nước ngay lập tức gây tiếng vang Có nhà phê bình khẳng
định, với 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần] sẽ chỉ có những ý kiến “cực khen
hoặc cực chê” và cho rằng “tiểu thuyết của Đặng Thân đáng có một số phận
Trang 7như vậy” Đặng Thân được coi là “đã tạo ra một thế giới nghệ thuật đi xa hơn những gì nhiều nhà văn hàng đầu khác đã làm” Với tiểu thuyết này, giới phê bình còn đề nghị đưa ra khái niệm “Tiểu-Thuyết-Đặng-Thân” cho những đóng góp về thi pháp tiểu thuyết của ông, bởi nó đã trình bày những quan niệm khác, những ý niệm lạ trong thể loại tiểu thuyết ở Việt Nam Điều quan trọng là từ đây ông được đánh giá là nhà văn tạo ra những “bước ngoặt quyết đoán” cho văn học Việt Nam
Người đọc có thể tìm thấy ở 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần] vô số điều
“khác biệt” với tư duy tiểu thuyết Việt Nam đương thời và trước đó Có thể nói, với lối tư duy độc đáo của mình, Đặng Thân tạo ra một diện mạo mới cho
thể loại tiểu thuyết với sáng tác đặc biệt này Nhìn từ góc độ thể loại, 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần] của Đặng Thân có những đóng góp mới mẻ, quan
trọng đối với tiến trình tư duy tiểu thuyết Việt Nam đương đại
Xuất phát từ thực tiễn trên, chúng tôi quyết định lấy việc nghiên cứu
tiểu thuyết 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần] của Đặng Thân dưới góc nhìn thể
loại làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình
1.4 Đặng Thân là nhà văn thuộc khuynh hướng hậu hiện đại Độc giả
biết đến ông qua tập thơ Thơ phụ âm, TỪ ĐIỂN THI X/X LOẠI [chúng
sinh] gần đây là tập truyện ngắn Ma net đã “gây hoang mang trong lòng độc giả” và đặc biệt là sự ra đời của cuốn tiểu thuyết 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần] Tác phẩm này của Đặng Thân đã gây được sự quan tâm, chú ý của độc
giả và giới phê bình bởi một phong cách mới lạ và giọng văn độc đáo Luôn
có ý thức cách tân văn học, nghiêm túc với công việc của mình, bạo dạn và thậm chí khiêu khích với thẩm mĩ truyền thống, Đặng Thân đã nhận được không ít sự ủng hộ cũng như chê bai của giới cầm bút
Qua khảo sát, chúng tôi tập hợp được một số bài viết về Đặng Thân và các tác phẩm của ông ở những mức độ khác nhau:
Trang 8Trong buổi “Trình diễn đa thoại về tiểu thuyết 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần] của Đặng Thân” diễn ra tại Viện Goethe, nhà phê bình Lã Nguyên (La Khắc Hòa) khẳng định: "Nhìn lại lịch sử văn học Việt Nam chúng ta thấy giai đoạn nào cũng có những tác giả, tác phẩm xuất sắc, thế nhưng không phải giai đoạn nào cũng có tác giả tạo ra được một bước ngoặt trong lịch sử văn học dân tộc… Văn chương sau Vũ Trọng Phụng, Nam Cao và Nguyễn Tuân dường như một thời gian rất dài không có gì thay đổi, mãi đến khi Nguyễn Huy Thiệp xuất hiện, theo tôi, nó đã tạo ra một cái sự khác, và đến khi Đặng
Thân xuất hiện với những tác phẩm như Ma Net, 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần] thì lại bắt gặp một bước ngoặt khác Bước ngoặt mà Đặng Thân tạo ra
chính là bước ngoặt của văn học hậu hiện đại bằng cách tạo ra những không gian trò diễn kiểu khác, những chủ thể với những cấu trúc khác Đặng Thân thực sự đã tạo ra một tác phẩm đa thanh phức điệu, xây dựng được một khung truyện kể giản đơn để tạo ra ở bên trên một cấu trúc ngữ nghĩa vô cùng phong
phú, phức tạp Với ý nghĩa ấy thì tác phẩm 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần] là
một sự kiện văn học cực kỳ quan trọng trong đời sống văn học của chúng ta"
Trong bài viết: “Đặng Thân: điển hình của văn học hậu - Đổi mới” trên
tạp chí Da Màu, nhà phê bình Đỗ Lai Thúy viết: “Với tiểu thuyết 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần], tác giả không phải chỉ là kẻ dẫn chuyện, mà là một
nhân vật trong truyện, như các nhân vật khác Có thể, vị thế “chân trong chân ngoài”, hoặc hoàn toàn là “người trong cuộc” này làm cho tính diễu nhại Đặng Thân trở thành tự diễu nhại… Tiểu thuyết Đặng Thân, tuy là một cuốn sách in để đọc, nhưng lại có kết cấu như thể của một tiểu thuyết mạng Câu chuyện trôi chảy tự nhiên, nhiều khi phụ thuộc vào những nhân vật chen ngang Đó là một tác phẩm mở”
Tác giả Phùng Gia Thế trong bài viết “Siêu thị chữ của Đặng Thân” (phebinhvanhoc.com.vn) cũng khẳng định: “Đặng Thân là kiểu nghệ sĩ nổi
Trang 9loạn Anh viết nhiều nhưng sung sức và vạm vỡ nhất ở các sáng tác mang phong cách hậu hiện đại Ở thời điểm hiện nay, Đặng Thân là chất liệu phong phú bậc nhất cho những người quan tâm nghiên cứu văn xuôi hậu Đổi mới ở nước ta Người nghiên cứu có thể tìm thấy trong sáng tác của Đặng Thân nhiều vấn đề có ý nghĩa lịch sử và lí thuyết liên quan tới việc vẽ bản đồ văn học, nguồn gốc của một hiện tượng văn học, cách viết và cách đọc một tác phẩm văn học”
Phan Tuấn Anh với các bài viết “Ngôn ngữ nhị phân - đặc điểm kiến tạo văn hóa nghệ thuật hậu hiện đại” (www.vietvan.vn) và “Văn bản hậu hiện đại -
sự khiêu khích với những ranh giới (Qua trường hợp “Anh chàng xe điện của Hitoni Nakano)” (www.vanvn.net) đã khái quát những nét nổi bật của ngôn
ngữ trong tiểu thuyết 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần] Đặc biệt, với bài viết
“Đặc trưng ngoại biên hóa trong văn học hậu hiện đại – nhìn từ trường hợp Đặng Thân” (Yume.vn), Phan Tuấn Anh đã khai thác cấu trúc và văn phong hậu hiện đại kiểu mạng/máy tính dựa trên nguyên tắc thẩm mĩ Facebook và lối
đọc status – entry trong tiểu thuyết 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần]
Nhà văn - dịch giả Nguyễn Hồng Nhung trong bài viết “Ghi sau khi đọc Đặng Thân” cũng cảm nhận: "Đặng Thân tìm lối diễn đạt cực kỳ riêng trong lối
kể chuyện lê thê, có vẻ sặc mùi báo chí (trong tiểu thuyết) Nếu không nhận ra sắc diện thiên tài thông minh khủng khiếp của Đặng Thân từ các nhận định đôi khi rất có vẻ tình cờ giữa các đoạn văn, người ta cứ tưởng Đặng Thân đang viết báo, hoặc cao hơn một chút, đang tổng hợp tư liệu kiến thức "
Qua các bài nghiên cứu, phê bình trên, các nhà tác giả đã chỉ ra những
giá trị trong tác phẩm 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần] của Đặng Thân, đặc biệt
là những cách tân của ông trong lối tư duy và kĩ thuật viết Tuy nhiên, cho đến
nay những ý kiến xoay quanh tác phẩm 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần] của
Đặng Thân mới chỉ là những bài báo, phỏng vấn, điểm sách, những bài phê
Trang 10bình nhỏ lẻ, chưa có công trình nào đề cập đến tiểu thuyết 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần] của Đặng Thân dưới góc nhìn thể loại một cách toàn diện
Chính vì vậy, trên cơ sở những gợi ý của những người đi trước, chúng tôi đặt
vấn đề tập trung tìm hiểu “Tiểu thuyết 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần] của Đặng Thân nhìn từ góc độ thể loại” với mục đích hiểu sâu và bổ sung thêm
những vấn đề còn bỏ ngỏ, từ đó đề xuất một hướng tiếp cận tác phẩm từ phương diện cấu trúc và tiềm năng của thể loại
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi mong muốn khảo sát một cách đầy đủ,
toàn diện về tiểu thuyết 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần] của Đặng Thân trên
phương diện thể loại; nhìn nhận đánh giá một cách khách quan, khoa học về những khả năng và giới hạn của tiểu thuyết này Từ đó làm rõ thêm nét độc đáo trong lối viết của Đặng Thân và khẳng định vai trò của nhà văn trên con đường cách tân tiểu thuyết Việt Nam đương đại
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn có nhiệm vụ chỉ ra những nét độc đáo, sáng tạo, đóng góp và
những giới hạn của Đặng Thân qua 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần] nhìn từ
góc độ thể loại
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Tiểu thuyết 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần] của Đặng Thân nhìn từ góc
độ thể loại
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Tiểu thuyết 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần] của Đặng Thân do Nhà xuất
bản Hội nhà văn ấn hành năm 2011
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, tác giả luận văn sử dụng những phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:
Trang 11- Phương pháp phân tích đối tượng theo quan điểm hệ thống;
- Phương pháp xác định lịch sử - phát sinh;
- Phương pháp thống kê, so sánh, tổng hợp;
- Phương pháp so sánh hệ thống
6 Đóng góp của luận văn
Đề tài nghiên cứu đi sâu khám phá tiểu thuyết từ phương diện thể loại nhằm hệ thống hóa kiến thức về thể loại với tư cách một khái niệm khoa học;
nêu bật đặc điểm tiểu thuyết 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần] của Đặng Thân
dưới góc nhìn thể loại; từ đó thấy được cá tính sáng tạo, khả năng và giới hạn của nhà văn trong tiểu thuyết này
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và tài liệu tham khảo, phần nội dung chính của đề tài được triển khai cụ thể thành ba chương Cụ thể bao gồm:
Chương 1 Kết cấu – cốt truyện tiểu thuyết 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần] của Đặng Thân
Chương 2 Ngôn ngữ và giọng điệu tiểu thuyết 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần] của Đặng Thân
Chương 3 Không gian nghệ thuật và thời gian nghệ thuật tiểu thuyết 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần] của Đặng Thân
Trang 12NỘI DUNG Chương 1 KẾT CẤU – CỐT TRUYỆN TIỂU THUYẾT
3.3.3.9 [NHỮNG MẢNH HỒN TRẦN] CỦA ĐẶNG THÂN
1.1 Khái niệm kết cấu
Kết cấu là một phương tiện cơ bản của sáng tác nghệ thuật Trên một ý nghĩa nào đó có thể nói sáng tác là kết cấu Khi nói xây dựng tác phẩm, xây dựng cốt truyện, xây dựng nhân vật, xây dựng cấu tứ thơ, thì cũng là lúc ta hiểu tác phẩm như một công trình kiến trúc Bản thân thuật ngữ kết cấu cũng mượn từ kiến trúc, hội họa Từ những vật liệu khác nhau, trên một không gian nhất định, người ta có thể xây dựng nên những công trình hợp mục đích và hợp lý tối đa
Platon đã khẳng định vai trò quan trọng của kết cấu trong sáng tác văn học: “Kết cấu của mỗi bài văn phải là một tất yếu có sức sống, có cái thân thể
vốn có của nó, có đầu, có đuôi, có phần thân, có tứ chi, có bộ phận này và bộ phận khác, có quan hệ bộ phận và toàn thể, tất cả đều phải có vị trí của nó”
[40, tr.153]
Quan tâm đến kết cấu tác phẩm văn học, Nhữ Bá Sĩ (cuối thế kỷ XVIII
đầu thế kỷ XIX) viết: “Loại văn chương tột bậc của thiên hạ đúng là không ở trong cái giới hạn đóng, mở, kết cấu, nhưng mà không đóng, mở, kết cấu thì cũng không thành văn chương” [40 , tr.154]
Giáo trình Lý luận văn học (Hà Minh Đức chủ biên) nêu định nghĩa: “ các tác phẩm văn học không chỉ khác nhau về chất liệu hiện thực (với thơ, đó
là hệ thống cảm xúc và suy nghĩ, là hình ảnh, hình tượng thơ; với văn xuôi và kịch, đó là hệ thống sự kiện, hệ thống tính cách ) mà còn khác nhau về cách
bố trí, sắp xếp, tổ chức sự xuất hiện của các chất liệu hiện thực đó trong tác
Trang 13phẩm; khác nhau về cách bố cục tác phẩm (với thơ, đó là cách cấu tạo các câu thơ, khổ thơ, đoạn thơ ; với văn xuôi và kịch, đó là cách dựng các lớp, cảnh,chương, phần, tập) ( ) Tóm lại, kết cấu là sự tạo thành và liên kết các
bộ phận trong bố cục của tác phẩm, là sự tổ chức, sắp xếp các yếu tố, các chất liệu tạo thành nội dung của tác phẩm trên cơ sở đời sống khách quan và theo một chiều hướng tư tưởng nhất định” [16, tr.142]
Theo cuốn 150 thuật ngữ văn học của Lại Nguyên Ân, “Kết cấu là sự sắp xếp, phân bố các hình thức của nghệ thuật; tức là sự cấu tạo tác phẩm,tùy theo nội dung và thể tài Kết cấu gắn kết các yếu tố của hình thức và phối thuộc chúng với tư tưởng Các quy luật của kết cấu - là kết quả của nhận thức thẩm mỹ, phản ánh những liên hệ bề sâu của thực tại Kết cấu có tính nội dung độc lập; các phương thức và thủ pháp kết cấu sẽ cải biến và đào sâu hàm nghĩa của cái được mô tả”
Từ điển thuật ngữ văn học do Lê Bá Hán - Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên) coi kết cấu (composition) là “toàn bộ tổ chức phức tạp và sinh động của tác phẩm Thuật ngữ kết cấu thể hiện một nội dung rộng rãi, phức tạp hơn bố cục Tổ chức tác phẩm không chỉ giới hạn ở sự tiếp nối bề mặt, ở những tương quan bên ngoài giữa các bộ phận,chương đoạn mà còn bao hàm sự liên kết bên trong, nghệ thuật kiến trúc nội dung cụ thể của tác phẩm Kết cấu bao gồm bố cục, tổ chức tính cách, tổ chức thời gian và không gian nghệ thuật của tác phẩm; nghệ thuật tổ chức những liên kết cụ thể của các thành phần cốt truyện, nghệ thuật trình bày, bố trí các yếu
tố ngoài cốt truyện sao cho toàn bộ tác phẩm thực sự trở thành một chỉnh thể nghệ thuật”
Như vậy, có thể nói kết cấu là cách tổ chức hệ thống tính cách, tổ chức không gian và thời gian nghệ thuật của tác phẩm, tổ chức những liên kết cụ thể của các thành phần cốt truyện, cách trình bày, bố trí các yếu tố ngoài cốt
Trang 14truyện sao cho tác phẩm trở thành một công trình nghệ thuật có tính thẩm mĩ
Nhờ kết cấu, tác phẩm văn học trở nên mạch lạc, có“vẻ duyên dáng của trật tự”(Horacius) Với ý nghĩa đó, việc nghiên cứu kết cấu trong quá trình sáng
tạo nghệ thuật của bất cứ nhà văn nào luôn là một điều cần thiết
Nếu đi tìm một tiểu thuyết thách thức người đọc theo nghĩa họ phải va
chạm một cấu trúc pha trộn, giễu nhại, liên văn bản thì 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần] của Đặng Thân là một tác phẩm như thế Trong tiểu thuyết 658
trang này, độc giả sẽ gặp nhiều dạng thức văn bản khác nhau từ văn xuôi, báo chí, thơ, thư từ, chát, câu đối, lịch sử, tướng số, tiếng Anh cho tới khảo cứu Với hơn 60 chương, tiểu thuyết kết cấu theo lối phân mảnh trong văn học hiện đại, lối chương hồi kiểu kiếm hiệp cổ điển, cuối mỗi chương là mấy câu thơ khép lại và dẫn nhiều câu rất cà rỡn, kiểu như: “Cạn chén buồn nôn vô cạn cớ/ Càn khôn cản ngại cán anh [k]hùng” (Kết chương 39) Thông thường trong văn học Việt Nam, thơ luôn đóng vai trò tiên phong trong các cuộc cách tân, còn văn xuôi thường giữ thế “nghiêm trang” hơn nên có thể gọi tiểu thuyết của Đặng Thân là một thể nghiệm táo bạo
Khi nghiên cứu tiểu thuyết 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần] của Đặng
Thân dưới góc nhìn thể loại về phương diện kết cấu - cốt truyện đề tài luận
văn của chúng tôi mạnh dạn đưa ra 3 đặc điểm cơ bản đó là: Kết cấu mê lộ, kết cấu lồng ghép và kết cấu phân mảnh
1.2 Kết cấu mê lộ
Kết cấu mê lộ là một kết cấu đặc sắc trong văn học hậu hiện đại Nếu như các nhà văn truyền thống, hiện đại xây dựng kết cấu cho một tác phẩm mang tính thống nhất, nhằm tạo cái nhìn xuyên suốt cho bạn đọc thì đối với các nhà văn hậu hiện đại là xây dựng văn bản mang nhiều đường nét, gấp khúc Kết cấu mê lộ chính là sự xóa nhòa ranh giới giữa hiện tại - tương lai, quá khứ - thực tại, mờ hóa các sự vật, hiện tượng, nhân vật Thực tế đã có rất
Trang 15nhiều nhà văn thành công với kết cấu này, tiêu biểu là F Kafka với các sáng
tác lừng danh như Vụ án, Lâu đài Sự tiếp thu, giao lưu của văn học Việt
Nam với văn học phương Tây cũng tạo ra những ảnh hưởng tích cực đến văn học Việt Nam hiện đại Gần đây, trên văn đàn thấy xuất hiện ngày càng nhiều cây bút hậu hiện đại với phong cách độc đáo, thể hiện cá tính mạnh mẽ, trong
đó 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần] của Đặng Thân là một trong những tác
phẩm thể hiện đậm nét yếu tố hậu hiện đại, trước hết là trên phương diện kết cấu, mà cụ thể là qua kiểu kết cấu “mê lộ”
Mở đầu tác phẩm là lễ ra mắt, làm quen của các nhân vật tại Quán GIÓ
và kết thúc là mối tình đẹp của cô gái người Việt – Mộng Hường và chàng trai người Đức – Schditt ở thời điểm hiện tại nhưng tác phẩm lại không dừng lại ở
đó để nói chuyện hiện tại Đây chỉ cuộc gặp gỡ được nhà văn sử dụng như một cái cớ để nhân vật của mình xuất hiện và dẫn dắt sự phát triển của câu chuyện Trên cái nền hiện tại ấy, câu chuyện về cuộc đời của mỗi nhân vật dần hiện ra như một dòng chảy tự nhiên, song kì thực thì nó vẫn nằm trong dụng ý nghệ thuật của nhà văn Từ đây ranh giới giữa hiện tại - quá khứ, thực tại - tương lai về cuộc đời của các nhân vật đã bị xóa nhòa
Bắt đầu từ trong câu chuyện về Mộng Hường, điểm nhìn nghệ thuật trở
về quá khứ với cuộc sống êm đềm ở vùng quê hương Tiên Lãng Hải Phòng
“em lớn lên với đồng lúa xanh mơn mởn và những vườn thuốc lào lúc nào cũng vàng ươm đằm thắm mùi phân bắc” cùng những mối tình thơ ngây của
cô dưới mái trường cấp ba Đầu tiên là mối tình với Trần Huy Bớp – “tên ngổ
ngáo rạch trời rơi xuống”, có thâm niên trong việc “Trộm cướp, trấn lột, đâm chém người, phá hoại trường học, hút hít cần sa, ma túy, rượu chè say sỉn, hãm hiếp con gái, bỏ nhà cả tháng, trốn học thường xuyên ” [48, tr.169]
Tình yêu ấy chấm dứt khi Bớp phải vào tù vì ghen Và Hường có mối tình mới, đó là thầy Sơn - người thầy năm xưa của Trần Huy Bớp Sau đó, trở về
Trang 16thời điểm hiện tại viết tiếp những thăng trầm tình yêu của Mộng Hường trong những ngày tháng sinh viên của cô dưới mái trường sư phạm, đó là mối tình chớp nhoáng với một anh sinh viên trường sân khấu điện ảnh hay chuyện tình
cặp kè với một anh cán bộ phường bị đánh ghen rồi “sugar ai nấy go”… Nhằm có “đồng ra đồng vào”, Hường trở thành gái gọi bán chuyên nghiệp với “chiến lược săn đại gia” Hường đầu tư tốn kém, chen vào các cuộc gặp
gỡ của các doanh nhân đầu sỏ, làm quen với Nguyên “sân”, đại gia trẻ ngành gạch Nhưng sự nghiệp của cô chỉ thực sự bắt đầu khi cô gặp Dương Đại Nghiệp Đây có lẽ là khoảng thời gian “vinh quang” nhất của cô Vì sau khi rời xa Nguyên “sân”, con đường làm ăn của Hường gặp nhiều sóng gió, bị tên
“lảo bản” thâu tóm và bao nhiêu tiền bạc về tay họ Dương hết Và tất cả thực
sự hồi sinh khi Hường nhận được sự nâng đỡ của Junkim Cannon và Schditt Kết duyên với Schditt chính là một kết thúc có hậu cho Mộng Hường
Đan xen với câu chuyện về Mộng Hường là câu chuyện về cuộc đời Schditt Anh liên tục lùi điểm nhìn về quá khứ với những mảng hồi ức về gia đình, tình yêu, lịch sử Đó là câu chuyện về ông nội Schditt, một người lính dọc ngang khắp nước Pháp suốt ba năm , câu chuyện về Hitler, câu chuyện về
mẹ Schditt với những tháng ngày hạnh phúc bên bên chồng con Đặc biệt là những kí ức êm đẹp về mối tình giữa anh và một cô gái đạo Hồi tên là Saraji Umm al – Hibri, người Liban Hai người yêu nhau nhưng có cái kết không mấy hạnh phúc vì gặp phải sự ngăn cản của gia đình Anh đã vượt qua nỗi buồn bằng cách lao vào công việc và rồi tình duyên cũng mỉm cười với anh khi anh gặp được người con gái mang tên Mộng Hường Cuộc sống của anh tươi đẹp trở lại với những chuyến đi, những kỉ niệm hạnh phúc
Khi đẩy điểm nhìn về quá khứ, nhà văn đã mở ra một thời gian, một không gian đã qua nhưng vẫn có sức ám ảnh đối với mỗi nhân vật Ở nhân vật Mộng Hường thì đó là những dấu mốc, kỉ niệm đánh dấu sự “trưởng thành”,
Trang 17đổi đời của một cô gái tỉnh lẻ Còn với Schditt thì đó là tình yêu, niềm tự hào
về dân tộc, về gia đình Bởi vậy, sự dịch chuyển kết cấu mê lộ từ hiện tại về quá khứ không chỉ có tác dụng mở rộng biên độ phản ánh hiện thực đời sống
mà còn có điều kiện trải nghiệm, sống cùng với cuộc đời mỗi nhân vật
Như vậy, bằng sự linh hoạt trong việc khai thác điểm nhìn nghệ thuật, lựa chọn điểm nhìn gắn với ngôi kể cũng như dịch chuyển điểm nhìn trong không gian, thời gian, điểm nhìn nhân vật – nhân vật, Đặng Thân đã tạo ra
điểm nhấn (và sức hấp dẫn riêng) cho tiểu thuyết 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần] Ở đây, mỗi nhân vật đều tham gia phát ngôn và đều có quyền phán xét,
bình giá về cuộc sống theo cách riêng của mình, trên một mặt sân giá trị bình đẳng Bởi vậy, tác phẩm có điều kiện soi chiếu cuộc sống từ nhiều chiều để thấy được sự phức tạp cũng như những góc khuất của nó
Có thể nói, kiểu kết cấu độc đáo này khiến câu chuyện của từng nhân vật được triển khai ở các đơn vị thời gian rất đa dạng Thời gian có thể lui về quá khứ theo dòng hồi tưởng của họ, cũng có thể vươn tới tương lai cùng những dự định, ước mơ, hay đơn giản chỉ là ở thực tại với những biến cố cụ thể trong cuộc đời của họ
1.3 Kết cấu lồng ghép
Kết cấu lồng ghép như một thủ pháp văn chương đã xuất hiện rất sớm trong lịch sử văn học thế giới Nói một cách đơn giản, đây là thủ pháp để lồng ghép một câu chuyện độc lập (có liên quan hoặc không về mặt nội dung) vào tác phẩm chính trong quá trình diễn tiến của tác phẩm Có thể thấy biểu hiện
xa xưa của sử thi Odyssey của Hy Lạp (thế kỷ VIII trước công nguyên), khi
người anh hùng Ulysses tự kể lại những câu chuyện phiêu lưu của mình trong bữa tiệc
Kết cấu lồng truyện còn đạt được đến những thành tựu cao hơn về nghệ thuật kể chuyện khi cho ra đời nhiều tác phẩm có giá trị với hình thức kiểu
Trang 18truyện khung (frame story hay frame narrative, frame tale) Kiểu truyện khung
là kiểu truyện mà tác phẩm là một câu truyện dài có khả năng hàm chứa trong bản thân nhiều truyện kể khác được liên kết lại Một câu chuyện có mở đầu và kết thúc đóng vai trò là truyện trung tâm (main story), hay còn gọi là truyện nền (basic story) để tạo nên một khung truyện làm cơ sở cho những truyện kể khác
có thể kết nối, tập hợp lại với nhau theo cấu trúc lồng truyện, để từ đó tạo nên một tác phẩm có dung lượng lớn và nội dung phong phú
Trong 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần], xuyên suốt tác phẩm là hai câu
chuyện về cuộc đời của Mộng Hường và Judah - Schditt Ngoài hai câu chuyện được lồng ghép, xen cài xoắn vặn còn có sự xuất hiện của nhiều nhân vật khác với những câu chuyện riêng về cuộc đời họ Đây cũng là một điểm
đặc sắc trong 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần]
Trước hết, đó là chuyện về cuộc đời Mộng Hường từ một cô sinh viên
tỉnh lẻ thành một cô gái thị thành sành đời Mối tình “ngây thơ” với Trần Huy
Bớp học cùng trường cấp II, “một thằng giặc”, như định liệu trước một tương
lai không mấy sáng sủa về chuyện tình duyên “Bớp si mê Hường như con nhang sùng kính đình chùa Khắp nơi đều kinh nó nhưng đứng trước Hường
nó như con thỏ non” [48, tr.69] Một tên ma cà bông không hơn Xuân Tóc Đỏ
của Vũ Trọng Phụng là mấy và nếu “đọ tài” Trần Huy Bớp sẽ giữ vị trí quán
quân: “Trộm cướp, trấn lột, đâm chém người, phá hoại trường học, hút hít cần sa, ma túy, rượu chè say sỉn, hãm hiếp con gái, bỏ nhà cả tháng, trốn học thường xuyên ” [48, tr.169], nhưng trước Mộng Hường, Bớp luôn “si mê và tôn thờ nàng” “một cách ngây dại” [48, tr.71]chiều chuộng và “lúc nào cũng mua quà cho Hường” [48, tr.71] Nhưng tình yêu đó cũng chẳng thể kéo dài
được lâu, hai người xa nhau vì Bớp phải vào tù Và Hường có một mối tình mới, không ai khác ngoài thầy Sơn – người thầy năm xưa của Trần Huy Bớp Hai người làm thơ đưa đẩy nhau và nói lên nỗi lòng của mình với bạn tình
Trang 19Vốn là một người mê mẩn văn thơ ca nhạc, Hường như “diều gặp gió”, tình
lên phơi phới: “Thầy nè thầy hỡi thầy ơi Đừng thương iem quá! Leo đeo cuộc đời ” [48, tr.142] Và Sơn cũng không kém phần tình tứ khi nói về Mộng Hường: “Vừa xinh, vừa duyên, lại vừa “tình”, Sao vừa vặn cả thế em ơi? ”[48, tr.142] Để rồi hai người quấn rít lấy nhau: “ Sơn ôm lấy Hường Hường đẩy ra Sơn hôn vào má Sơn hôn vào tai Sơn hôn vào tay Sơn hôn vào tai Sơn hôn vào vai ” và trong một chiều hoàng hôn của năm học lớp 11
thì Mộng Hường đã chính thức trở thành đàn bà đúng nghĩa Bớp mất Hường
là bởi y cứ “tẩn” gái khắp nơi trong khi tôn thờ và “để dành” Hường; còn Hường cứ thấy thầy Sơn hói than thở mà ả thì thèm Ả, như mọi nữ sinh cuối cấp 3 khác, không được giáo dục giới, càng không được khuyên nhủ sử dụng năng lượng dục tính thăng hoa vào các công việc khác Vậy là, như một chân
lý nghệ thuật, Hường ngã vào tay thầy Sơn hói Đây là một ngã rẽ rồi, với cái suýt án mạng do Bớp ghen gây ra làm cú huých, bắn số phận cô ta sang bến
bờ gái bao Những ngày tháng sinh viên là khoảng thời gian đạt “phong độ” trong lĩnh vực tình yêu Đó là mối tình chớp nhoáng với một sinh viên học ngành đạo diễn của Đại học Sân khấu Điện ảnh, một anh chàng đẹp trai lai Pháp Rồi Mộng Hường cũng cặp kè với một anh cán bộ phường song tình yêu ấy không thể “kham” đủ cho điều kiện kinh tế bong bóng được Vậy là Hường trở thành gái gọi bán chuyên nghiệp nhằm có “đồng ra đồng vào” và đặc biệt là “chiến lược” săn đại gia của Hường Con mồi đầu tiên cũng đã cắn câu, Hường làm quen với Nguyên “sân”, đại gia trẻ ngành gạch Trở thành một nô lệ tình dục nên Hường mắc phải căn bệnh khô kiệt sinh thực khí và ả sang Thâm Quyến tìm thần dược canh hài nhi, mạt cưa gặp mướp đắng, ả gặp Dương Đại Nghiệp “lảo bản” Từ đây, sự nghiệp Hường mới thực sự bắt đầu
“Rồi em quyết định đi buôn quần áo, cuộc đời rộng thênh thang Vừa có công việc to lớn, có nhiều tiền lại được sang Trung Quốc thường xuyên .” “đã
Trang 20qua rồi những năm gian khổ, cùng vùng lên ta phá xiềng gông”, Hường hát
[48, tr.306] Đây có lẽ là khoảng thời gian “vinh quang” nhất của Hường Mộng Hường Tài Nhân trở thành gái bao kiêm giám đốc công ty Và cứ hồn nhiên sắm vai mỹ nhân đại gia như thế, cho đến khi phát hiện ra mình bị lừa,
rõ ràng đang phụ thuộc nó cả về đường lối, chiến lược, chiến thuật, kinh tế, văn hóa, tinh thần và nhất là lệ thuộc nó về mặt tình dục Con đường của Hường gặp nhiều gập ghềnh, sóng gió trong chuyện làm ăn Và tất cả chỉ thực
sự hồi sinh khi Hường được sự nâng đỡ của Junkim Cannon và Judah-Schditt,
đó được ví như một sự vận may Đặng Thân “nhà văn blogger” đã phải chịu khổ nhục kế là tán tỉnh cô kế toán trưởng vừa xấu vừa hôi nách rất “khủng” vốn là người của Dương Đại Nghiệp để moi sự thật gian dối rồi lật lại thế cờ Khi đã có lại cơ nghiệp, Mộng Hường ra dáng một doanh nhân
Việc lồng vào các tình tiết về cuộc đời nhân vật Mộng Hường tạo nên
sự sinh động cho câu chuyện Và cũng từ đó giúp cho người đọc hình dung toàn diện về con người Mộng Hường và chắc chắn sẽ thiếu sót nếu ta bỏ qua những tình tiết ấy Sự đan cài, lồng khung giữa các câu chuyện về Mộng Hường như một sự tiếp nối, cũng từ đây những bình luận của các comment về Hường trở nên “sôi động” hơn Câu chuyện về Mộng Hường không chỉ dừng lại ở cuộc sống đời thường của cô, mà trong đó còn có nhiều tình tiết đề cập
tới quê hương Hường - Tiên Lãng với thuốc lào đặc trưng “em lớn lên với đồng lúa xanh mơn mởn và những vườn thuốc lào lúc nào cũng vàng ươm đằm thắm mùi phân bắc ” Theo tác giả thì đó được xem là một tin vui qua
thông tin một bài báo: “Thuốc lào “Tiên Lãng” được cấp Giấy chứng nhận đăng ký chỉ dẫn địa lý” [48.tr.650]
Song song với câu chuyện về Mộng Hường là câu chuyện về cuộc đời Schditt Schditt sang Việt Nam với tư cách là một “world citizen” (công dân toàn cầu” Gã sang thăm mẹ, bà Arschkriecher Levinsky nay là Arschkriecher
Trang 21Nguyễn Sanh, nhân thích xứ sở quê chồng của mẹ mà ở lại làm sếp cho tập đoàn Siemens Việt Nam Tên đầy đủ của gã là Judah - Schditt von deBalle- Kant, dòng dõi quý tộc đã lâu đời ở Đức thì chớ, lại còn thêm có nửa dòng
máu Do Thái,“sinh ra ở bang Bavaria cực nam nước Đức” [48, tr.31], và câu
chuyện liên quan tới gia đình Schditt, về nguồn gốc xuất thân, những người thân (bà/ông ngoại, mẹ, ), tôn giáo, câu chuyện lịch sử về nước Đức, về Hitler Tất cả dường như được liệt kê nếu có liên quan tới Đức, liên quan tới Schditt, tạo nên câu chuyện với nhiều tuyến truyện Sẽ là lộn xộn nếu chúng
ta để các câu chuyện tự trôi đi, nhưng nếu sắp xếp một cách có trật tự thì đó là nhiều câu chuyện nhỏ và vô cùng thú vị Đó là câu chuyện về ông nội Schditt, lão Arsche - Ngoại giáo quê ở Munich có đội bóng đá oanh liệt, nhưng cái đó chưa oách bằng lão là đồng hương của Adolf Hitler, từng là một người lính, dọc ngang khắp nước Pháp suốt ba năm, từng tham gia Đảng quốc xã của Adolf Hitler đúng lúc Đức thua Thế Chiến II, lão lấy vợ Pháp là chiên lành của đạo Cơ Đốc, lão cải đạo và cố nhiên lờ gốc gác phát xít - Ngoại giáo Nhưng câu chuyện ấy không xuyên suốt mà xen vào đó là lượng thông tin về biểu tượng (chữ vạn của Phật gần với biểu tượng của chủ nghĩa phát xít), mà
theo lời của Schditt thì “chữ “vạn” là một trong 32 tướng tốt của Phật Theo kinh Trường A Hàm thì đó là tướng tốt thứ 16 nằm trước ngực của Phật”
[48,tr.59], về tôn giáo: Phật giáo, Thiên Chúa giáo, Hinđu, Hồi giáo Và hãy
nghe một lời nhận định của Hitler về Thiên Chúa giáo: “Thiên Chúa giáo là một cuộc nổi loạn chống lại quy luật tự nhiên, sự phản đối tự nhiên Xét đến cực đoan logic của nó Thiên Chúa giáo đã thâm canh có tính hệ thống trên
sự thất bại của con người” [48, tr.57] Câu chuyện về mẹ của Hitler là một
người Do Thái, ham mê đọc sách và những tháng ngày hạnh phúc bên người chồng trước của bà, những tháng ngày bên Nga và người chồng thứ hai là ông
Nguyễn Sanh Danh quê ở Nam Đàn - Nghệ An, người mà “mẹ tôi gọi là
Trang 22“siêu Nga ngố” vì ông thông minh, siêu tốt bụng và siêu gàn dở” [48, tr.254]
Câu chuyện về Schditt đặc biệt lôi cuốn khi nói về chuyện tình của anh Schditt còn định có những công dân thế giới nối tiếp,bằng cách anh yêu nàng Saraji Umm al-Hibri- một cô gái đạo Hồi tuyệt đẹp, và để có thể cưới nàng, anh ta dấn thân tìm hiểu đạo Hồi, cái tên Judah - Schditt như một kỉ niệm về tình yêu và có gắn với đạo Hồi Hai người làm lễ cưới ở Mỹ, nhưng gặp sự phản đối của gia đình cô gái và cái kết không mấy hạnh phúc dành cho anh khi người yêu bị bắt cóc mang về nhà Và sau này là những giây phút hạnh phúc bên Mộng Hường – MW (My Woman)
Nếu văn học truyền thống thường tái hiện một câu chuyện về chính nhân vật trên văn bản thì văn học hậu hiện đại lại là sự “thêm” (khá tùy ý) vào câu chuyện, tạo nên “truyện trong truyện” Ở đây, gần như không có một sự hạn định nào ở đây về mặt câu chữ và văn bản Điều đặc biệt là, việc “sáng tạo” câu chuyện về cuộc đời nhân vật không phải là sự định đoạt của tác giả,
mà có khi là độc giả hay nhân vật Tuyến truyện tác giả - người sáng tạo chỉ là một “mắt xích” trong chuỗi “mắt xích” câu chuyện về nhân vật Đồng thời đan cài giữa các câu chuyện là lượng lớn thông tin được đưa vào (về tôn giáo, lịch sử, văn hóa, âm nhạc ) làm cho câu chuyện trở nên hấp dẫn, và cũng qua
đó thấy được khả năng xâu chuỗi các sự kiện, tầm hiểu biết của người viết
Có thể nói, sự lồng ghép, đôi khi là sắp xếp chồng chéo giữa các sự
kiện, thông tin qua bàn tay đạo diễn của Đặng Thân đã tạo nên 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần] đa tuyến truyện, mang nhiều ý nghĩa và để lại ấn tượng đặc
biệt trong lòng độc giả
1.4 Kết cấu phân mảnh
Kết cấu phân mảnh là một yếu tố gắn liền với văn chương hậu hiện đại Kết cấu phân mảnh hay còn gọi là kết cấu mảnh vỡ, đó là kiểu kết cấu mà nhân vật, cốt truyện, diễn ngôn, không gian và thời gian nghệ thuật đều bị chia cắt
Trang 23thành mảnh vụn rời rạc, lỏng lẻo Nhìn vào tưởng chừng như không hề có một
sợi dây liên kết nào, nhưng đó chính là thủ pháp nghệ thuật đặc sắc 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần] khi tác giả khai thác triệt để kết cấu phân mảnh
Tôi xin chia sẻ ý kiến của Lưu Văn Khuê, tác giả của bài viết “Đôi điều
về một cuốn tiểu thuyết hậu hiện đại”: Tác phẩm gồm bốn mảnh rời rạc
nhưng vẫn liên kết với nhau: Mảnh Đặng Thân đóng vai trò dẫn chuyện; mảnh Schditt cũng tương tự mà phần nhiều là kiến thức về nước Đức vì anh này người Đức; mảnh Mộng Hường là chuyện đời của cô gái đất thuốc lào
Tiên Lãng Hải Phòng, nói năng õng ẹo, ngọng líu ngọng lô: “Iem thì hok biết
Do Thái ở đâu dưng mờ hồi bé cuộc đời iem lúc lào cũng lẫn với phân do và thái rau lợn suốt à” [48, tr.27]; mảnh Ông Bà/ A Bồng là nhận định và bình luận liên quan đến câu chuyện hoặc vấn đề vừa đề cập đến “Hải Phòng là một nơi đặc sắc của Việt Nam Vừa là đô thị vừa là nông thôn; vừa có bán khí của đồng bằng Bắc Bộ vừa là nơi địa đầu “Hải tần phòng thủ”; vừa là nơi có nhiều ngành nghề vừa là thương cảng quốc tế; vừa trọng văn hóa vừa dung tục; vừa nồng nàn vừa dữ tợn; vừa cam chịu vừa bán giời không văn tự ”
[48, tr.344] Các mảnh truyện, các nhân vật luôn chen ngang nhau, đang là chuyện người này thì người khác chen vào nói Điều đáng kể là những người nói lại không cùng một cuộc đối thoại vì thường xa nhau về địa lý, thậm chí
còn chẳng hề biết nhau! Kết thúc mỗi chương là Lời bàn [phím] của một lô
một lốc mấy chục Netizen: ben t, Khánh Lam, loinho, Trần X, nhan, Hậu khảo cổ, phamngoctien, nguyen lieu, Quasimodo và cả Đặng Thân (!) (ví
dụ, một Netizen nói: nhìn bề ngoài thì cô Mộng Hường là một cô gái rất đoan trang, đúng mực nhưng thực ra là một con điếm Giải quyết thằng “Nghiệp chướng” và con “nặc nô” sao đây là một bài toán khó khăn và lan giải ”); Netizen bàn bằng tiếng Việt, tiếng Anh và một số ngôn ngữ khác; bằng cả lối chữ không dấu thường gặp ở tin nhắn trên điện thoại di động như “Ke ra thi doc rat hay, vi no tai hien lich su nhung ma hoi pham tuc anh a!)
Trang 24Tiểu thuyết truyền thống thường chỉ dùng 2 font chữ đứng và ngả
3.3.3.9 [những mảnh hồn trần] được phân chia thành nhiều mảnh Để người
đọc dễ nhận ra các mảnh, tác giả dùng nhiều font chữ “Máy tính giúp thực hiện được nhiều font chứ ngày trước có muốn giở “chiêu” nọ “trò” kia về kiểu chữ thì cũng chịu Có lẽ đến 10 font, đại thể thế vì muốn thống kê chính xác phải khá nhọc công- chả tội gì nhọc công với “chiêu” này cho dù sự tồn tại của nó cùng với các mảnh là có lí chứ không như “trò” Netizen” Cự li cách lề của các mảnh cũng khác nhau Vào đầu tác giả để các nhân vật tự nói điều đó:
“Xin hãy nhớ, tôi là Schditt các bạn nhé Tôi yêu các bạn! Cầu xin các bạn nhớ cho đây là chỗ để phát biểu của tôi: font chữ Times New Roman cỡ 12.5, cách lề trái ½ inch.”.[48,tr.11] “9,25! Còn iem là Mộng Hường nhé Cái fong chữ Tham-liu dooman kiểu Titalic cách lề lửa inh lày là lời của iem đấy nhá, ke ke.”.[48,tr.11] “Ông Bà /A Bồng: phát ngôn ở chỗ font chữ Palatino Linotype in đậm (Bold) Mộng Hường phát ngôn ở chỗ font chữ Times New Roman in nghiêng (Italic) Schditt von deBalle-Kant: phát ngôn chỗ font chữ Times New Roman in thẳng đứng.” “Kính thưa quý vị! Vậy là từ Chương 1
đã có thêm nhân vật thứ tư là Đặng Thân “nhà văn”, phát ngôn ở font chữ Tahoma.”
Trước hết đó là hệ thống nhân vật, các nhân vật trong 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần] có sự lắp ghép các “mảnh” từ chính cuộc đời họ - một cuộc
đời hỗn độn với những mối quan hệ hỗn độn Đó chính là hình ảnh A Bồng hoài nghi, bất tín, bất tin, một Trần Huy Bớp láu cá, trộm cướp, chẳng khác gì
xã hội đen, một Mộng Hường bốc lửa yêu đương, tình dục như là thú vui để sống, một Cannon nghiện sex Tất cả những con người ấy như những gam màu nhỏ tạo nên một mảng màu lớn
Trong 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần], thấy xuất hiện những mảnh vỡ
về con người cô đơn ngay chính trong thế giới của mình Ông nội Schditt là
Trang 25một trong những hình ảnh như vậy Tham gia chiến tranh, lang thang ở Pháp 3 năm, Arschbacke von Kant vẫn không có gì hơn ngoài những vết thương và hai khẩu súng (một để sống, một để diệt) Tìm kiếm một cái gì cho cuộc sống nhưng cái ông nhận được là chẳng có gì hết Hình ảnh mẹ Schditt đi tìm lẽ sống
trên đời là cái chết “mẹ tôi chính là một tấm gương điển hình của người không những biết “tự sát” mà còn đi sâu vào cõi chết để tìm lẽ sống” Và “để có hôm nay trọn vẹn và ngày mai “tươi sáng” ta cần phải biết rũ bỏ, giã từ, “tự sát” đi nhiều thứ Càng “tự sát” nhiều lại càng sống khỏe hơn” [48, tr.638] Nhưng
“tự sát” đây là gì? Phải chăng là khấu trừ đi sự sống? Đó chính là cái chết của
“những gì cổ lỗ, không phù hợp, không còn sinh khí nữa ” [48, tr.638]
Không dừng lại ở đó, tác phẩm với mảnh vỡ Trần Huy Bớp như một điểm nhấn của con người đương đại Hình ảnh của Bớp như một sự khúc xạ từ Chí Phèo của Nam Cao Bớp sẽ ra tù, đó là điều chắc chắn, nhưng liệu Bớp sẽ không phạm tội nữa? Khi pháp luật chỉ là vỏ bọc và con người có đủ khả năng
để “bóc” cái vỏ bọc kia Trong 3.3.3.9[những mảnh hồn trần], nhân vật
mảnh vỡ như là sự khởi đầu cho kiểu con người đa trị Đa trị ở đây có nghĩa
là nhiều giá trị và mỗi giá trị đều có mối quan hệ đồng đẳng với nhau Đây có thể xem là nền tảng trong kết cấu phân mảnh
Kết cấu phân mảnh còn được thể hiện qua cốt truyện, chuỗi hệ thống sự kiện cụ thể, được tổ chức theo yêu cầu tư tưởng và nghệ thuật Tuyến truyện
về nhân vật Mộng Hường với những biến cố trong cuộc sống và những mối tình của cô, tuyến truyện của Schditt - công dân toàn cầu hòa trong mình dòng máu quí tộc ở Đức, thêm một nửa dòng máu Do Thái với những câu chuyện liên quan đến gia đình, tôn giáo, nước Đức, Hitler Những mảnh ghép từ những mối quan hệ, những sự kiện rời rạc tạo nên một số phận riêng cho nhân vật Không gian và thời gian trong tiểu thuyết cũng là một phần trong kết cấu phân mảnh Không gian – thời gian có sự đan cài, lắp ghép, di chuyển, gần
Trang 26với điện ảnh Đó là dòng thời gian của Schditt với những kỉ niệm về nước
Đức, về người yêu, về mẹ Không gian trong 3.3.3.9[những mảnh hồn trần]
là không gian rộng, đó là sự tái hiện về thế chiến thứ I, về biển, về núi, không gian ngôi chùa Đặc biệt không gian ở đây có sự gắn kết với các sự kiện Chẳng hạn, sự kiện chuyến đi du lịch của em Schditt - Yên Hà Đó là không gian về Biển Chết - nơi có độ mặn nhất nhì thế giới Hay không gian địa lý
Trung Quốc qua những chuyến đi của Mộng Hường Đặc biệt trong 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần] kết cấu phân mảnh còn được thể hiện qua ngôn ngữ
Đó là ngôn ngữ Anh, Đức, ngôn ngữ thời @ Lời nói của Schditt cho chúng
ta thấy rõ điều này: “Ấy, xin lỗi Tôi hãy để nàng sau Guten allerseits!”
(Xin chào tất cả mọi người) hay như một đoạn nói chuyện qua điện thoại:
“Chiều nay phải có mặt ạ? OK Danke jur die gute Zusammenarbeit (cảm ơn
về sự hợp tác tốt đẹp) Ha ha Thanh kiu Vinamiu! Thanh kiu pho jo biu”
[48,tr.66] Ngay trong tiêu đề của tác phẩm cũng gợi cho chúng ta một cái gì
đó có sự lắp ghép ở đây Tại sao lại là “những mảnh” Từ “những mảnh’ gợi
ra một cái gì nhỏ bé, lượm nhặt và đặc biệt là con số “3.3.3.9” gây tò mò cho
độc giả Ban đầu tác giả có ý định đặt nó là “Những linh hồn khốn nịn”, rồi ý kiến của Mộng Hường là “Những mảnh hồn lưu vong” Nhưng sau một thời gian lấy ý kiến thì quyết định cuối cùng là “Những mảnh hồn trần” Cụm từ
này gợi lên sự hồn nhiên, trong sáng theo như lời tác giả, còn con số “3.3.3.9”
là do “trên màn hình computer báo đúng vào ngày thứ Ba mồng 3 tháng 3 năm 2009 Vì thế thật linh ứng, thông tin xuất hiện cuối cùng đã trở thành nhan đề chính cho tác phẩm, với những ý nghĩa cụ thể và trừu tượng nhất của
nó Giờ đây tên tác phẩm là 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần]” [LỜI BÀN
[PHÍM] CỦA CÁC NETIZEN] [48,tr.657]
Với kết cấu phân mảnh như một cách thể độc đáo để khai triển tác
phẩm,Lưu Văn Khuê nhận định: Đặng Thân đã đưa vào 3.3.3.9[những mảnh
Trang 27hồn trần] một kho tri thức phong phú, đa dạng với đủ mọi chuyện đông tây
kim cổ mà không gợi cảm giác khiên cưỡng, điều mà các nhà tiểu thuyết truyền thống nếu có nghĩ tới cũng khó có thể làm được Trong cái kho ấy có Hitler, Quỷ Satan, biểu tượng chữ thập ngoặc của Nazi, các nhân vật nổi tiếng chôn ở nghĩa trang Pere-lachaise, người Do Thái và các vĩ nhân người Do Thái, bang Bayer Bavaria ở Đức, Thâm Quyến ở Trung Quốc, núi Mont Blanc ở biên giới Pháp-Ý (Người Ý gọi là Monte Bianco), nền văn minh Inca
và đất nước Pêru, diện tích và dân số nhiều nơi trên thế giới Rồi Nguyễn Bỉnh Khiêm, tài tiên tri của Nostradamus, Lê Chân, Nguyên Hồng, Văn Cao, thuốc lào Tiên Lãng, Hải đồ cổ ở Hải Phòng, Tập đoàn Siemens, các tôn giáo,
tử vi tướng số, nhạc giao hưởng, nhân vật hoạt hình tí hon Xìtrum (Schtroumpt), điểm thấp nhất của thế giới dưới mực nước biển, làng trượt tuyết ở Úc Rồi Mỹ, rồi Châu Phi Vấn đề tình dục, nạo phá thai, bao cao su, chuyện “anh hùng khí đoản/ nhi nữ tình trường” Rồi cả kỷ lục bê bia của cô Anita Schwars 48 tuổi với 19 vại bia loại 1 pint (*) qua quãng đường 40m Và thơ mà phần nhiều là thơ vui, kể cả thơ vần “ồn” Rồi tên các website, nguyên văn thông tin từ báo chí, cắt dán tin ảnh download và copy từ internet Nhiều chỗ để nguyên tiếng Anh, tiếng Đức, tiếng Pháp, đây đó chua chữ Nga, chữ Hán, chữ Mãn Châu, chữ Ả-rập và cả thứ chữ chả biết của nước nào Nghĩa là Đặng Thân đưa vào sách, hay nói cách khác là “nhét” vào sách
đủ mọi thứ thượng vàng hạ cám, rất tạp nham, “tạp pí lù” và “hẩu lốn” Ở Lời
bàn tác giả gài vào lời Netizen: “Truyện đầy ắp kiến thức”; “Tiểu thuyết của bác sâu, rộng làm thằng em cóng còm Em đọc nó trân trọng và kỉ luật Mong bác post đều tay”
Sự phân mảnh và kiến thức bề bộn ngay ở những trang đầu tiên của
khiến bạn đọc phổ thông cảm thấy 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần] khá rối
rắm, khó đọc Tuy nhiên, bạn đọc, nhất là bạn đọc “tinh tuyển”, khi đã quen
Trang 28với phong cách Đặng Thân lại có thể tìm thấy trong tác phẩm của nhà văn niềm khoái thú bất tận của sự hiểu biết Nhìn từ lịch sử văn học, có thể nhân
ra, việc đưa kiến thức vào tác phẩm văn học không phải điều gì hoàn toàn mới
mẻ Độc giả từng biết đến hình thức “trữ tình ngoại đề” trong văn học;
Honore de Balzac (1799 - 1850) từng “lan man” kể về đồ cổ trong Miếng da lừa, Victor Hugo (1802 - 1885) cũng từng nói về cống ngầm Paris trong Những người khốn khổ sa đà đến mức nhiều bản dịch đã cắt bỏ đoạn này!
Trong 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần], sự phân mảnh làm cho cái Một, cái Duy nhất trở thành cái nhiều, chứ không phải cái-không-có-gì “ Một câu chuyện thường là câu “chuyện lớn”, trở thành nhiều câu chuyện, một trung tâm trở thành nhiều trung tâm, một tư tưởng trở thành nhiều tư tưởng ” (Đỗ Lai Thúy) [49] Đó chính là nét đặc sắc của 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần]
qua kết cấu phân mảnh
Nếu đối sánh với những dạng thức kết cấu trong văn chương truyền
thống sẽ thấy ngay 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần] là cuốn tiểu thuyết có
những đột phá mới trong kết cấu Đôi khi sự vượt phá này khiến người đọc mang những vết hằn truyền thống khó chịu và hoài nghi rằng một kiểu kết cấu
bị vỡ vụn như thế liệu có bao hàm hay chuyển tải một ý nghĩa nào đó hay không Tính chất đa trị, xu hướng giải nhân cách hóa, giải thiêng xem thế giới
như là một hỗn trạng đã đưa 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần] của Đặng Thân
tiến tới xô ngã và làm đổ vỡ, gẫy vụn kiểu kết cấu theo dòng logic, sự kiện và
sự trôi lăn theo quy luật nhân quả của các chi tiết có trong kết cấu văn chương
cũ Dạng thức kết cấu chúng tôi muốn nói tới trong tiểu thuyết 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần] của Đặng Thân đó là dạng kết cấu mê lộ, lồng ghép, phân
mảnh và đa thanh - một món ăn khoái khẩu của văn chương hậu hiện đại Đứng trước một không gian thế tục hỗn độn, nội tại văn bản nếu như muốn chuyển tải cả một quái trạng khổng lồ theo màu sắc nguyên y như ngoại giới
Trang 29chắc chắn sẽ trở nên chật chội và khát khao xác tín hiện thực là bất khả Kết cấu lắp dựng trở thành phương thức nghệ thuật đắc dụng của Đặng Thân
Tính chất lắp ghép đó trước hết hiển lộ ngay trên nhan đề tác phẩm 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần], ở cấu trúc dạng chương hồi cũ, ở những mảnh đời
khác nhau: từ cô sinh viên tỉnh lẻ Mộng Hường đến anh chàng người Đức Schidtt Và những nhân vật khác xoay quanh mạch truyện của hai nhân vật này cùng với 60 chương truyện và hai phần mở - khép Mỗi chương lại có dung lượng khác nhau và nội dung mỗi chương cũng chuyển tải những ý tưởng khác nhau Không có một sự kết nối nào giữa các chương Tất cả sự hỗn mang đó tạo thành một chỉnh thể Lẽ nào tác giả muốn nhìn những khuôn mặt cau có của người đọc vì khó chịu trước trò chơi ngôn ngữ tưởng chừng
như vô trách nhiệm của người sáng tạo? Thế giới của những “Ý niệm” vẫn
mãi là những sợi dây ngầm ẩn bên dưới trò chơi và luật chơi Ở đây chúng ta
có quyền đọc một cách lộn xộn không theo thứ tự của từng phân đoạn, có thể xáo trộn chúng tùy theo hứng thú của chúng ta Không có một luật chơi nào
cố định cả Và cũng không ai có đủ thẩm quyền để tạo ra một luật chơi cố định khi thế giới đã trở nên ngụy tạo Luật chơi hoàn toàn tùy thuộc vào chủ quan của những ai can dự vào trò chơi Phải chăng thế giới ngoại tại đã bị bóp méo xáo trộn? Sự thức nhận ngoại giới hoàn toàn tùy thuộc vào chủ quan của chủ thể nhận thức Kiểu kết cấu lồng ghép này được Đặng Thân đã sử dụng
trong nhiều tác phẩm khác như tập truyện ngắn Ma net Nó tương đương như
một trò chơi xếp hình Toàn thể bức tranh cần tìm được tạo nên bởi những mảnh vỡ nhỏ đặt xa nhau Khi người đọc, kẻ can dự vào trò chơi tìm được tổng thể bức tranh thì đó cũng là lúc anh ta chiến thắng trong trò chơi Người đọc chính là người khoác ý niệm lên cho mỗi cuộc chơi Sau mỗi cuộc chơi sự sản sinh ý niệm sẽ xảy ra và thậm chí sự sản sinh ý niệm về tác phẩm là vô cùng vô tận Khả năng tri nhận, kiến thức liên văn bản của người đọc càng
Trang 30rộng thì ý niệm sản sinh trong mỗi lần đọc càng lớn Trong chiều sâu của nó
có thể diễn giải rằng kiểu kết cấu này là một nỗ lực biểu đạt đầy đủ, chủ động của văn nhân, một sự tìm tòi sáng tạo và thể nghiệm của những người đang dò tìm đường đi cho một sự đổi thay khẩn thiết trong văn chương Sự đổ vỡ trật
tự thời gian và không gian, sự rỉ mòn của nhận thức, sự khước từ của túi khôn
lí tính, việc bỏ ngỏ các sự kiện một cách tràn lan vô cớ, việc rải chữ lên bề mặt văn bản như những kí hiệu vỡ vụn, sự kết dính một cách lỏng lẻo giữa các ý tưởng trong truyền thống đã thống trị hầu như toàn bộ các sáng tác của Đặng Thân Tất cả làm lên một sự ngạc nhiên, thậm chí là sự khó chịu và cảm giác xa lạ từ phía người đọc Vậy, thật ra có phải đây là trò chơi vô nghĩa lý, một sự chơi khăm của kẻ cuồng tưởng muốn đả phá nghệ thuật chân chính? Không phải là vô nghĩa lý thì ý niệm nào được giấu dưới lớp hành ngôn phức tạp trong một màn quảng diễn bề bộn thủ pháp, một lối chơi khó ưa như thế? Vạn vật và con người đang hiện hữu trong một quái trạng bị xé nhỏ, hiện thực hiểu như cái truyền thống đã bị làm sai lệch đến tận gốc rễ Không còn một cách thức gì để xác định chúng xuất phát trong những điều kiện cụ thể nào của thế giới hiện thực Hay chính chúng ta đã khước từ hiện thực để đi vào một thế giới ngụy tạo xuất phát từ sự nhận thức và dắt đường đưa lối của chính chúng ta? Con người của thời mới, của những cuộc chơi mới đã cáo biệt hiện thực trần trụi để truy tìm những giấc mơ hoang tưởng có trong tiềm thức của tộc loại Và đó chính là một chiều kích mới của một dạng thực tại mới Phế truất sự ngự trị của tính logic, Đặng Thân đang tìm đến một thế giới khác để cấp ý nghĩa cho nó Ý nghĩa nhà văn muốn cấp đôi khi lại nằm ngoài
sự tri nhận của lí tính, vì anh ta thuộc về giấc mơ và những cơn hoang tưởng
Trang 31Chương 2 NGÔN NGỮ VÀ GIỌNG ĐIỆU TIỂU THUYẾT
3.3.3.9 [NHỮNG MẢNH HỒN TRẦN] CỦA ĐẶNG THÂN
2.1 Ngôn ngữ tiểu thuyết Đặng Thân
2.1.1 Khái niệm ngôn ngữ
Nhận thức, phản ánh cuộc sống của con người không chỉ là chức năng riêng của văn học mà còn là nhiệm vụ quan trọng của nhiều loại hình nghệ thuật thuộc hình thái ý thức kiến trúc thượng tầng như âm nhạc, hội họa, điêu khắc, kiến trúc, âm nhạc, điện ảnh Tuy nhiên, mỗi bộ môn nghệ thuật lại phản ánh cuộc sống theo một cách riêng bằng một “ngôn ngữ” riêng Ngôn ngữ của nghệ thuật hội họa là đường nét, màu sắc; ngôn ngữ của nghệ thuật điêu khắc là các hình khối mang tính biểu tượng; ngôn ngữ của nghệ thuật âm nhạc là những giai điệu, những nốt nhạc; ngôn ngữ của nghệ thuật điện ảnh là những thước phim sống động; ngôn ngữ của nhiếp ảnh là hình ảnh về cuộc sống, con người, thế giới tự nhiên, được lưu giữ lại qua ống kính của người nghệ sĩ Còn ngôn ngữ của văn học là các con chữ, hệ thống các kí tự nhằm ghi lại suy nghĩ, nhận thức, kiến thức, kinh nghiệm phong phú và sự sáng tạo của con người qua trường kì lịch sử
Ngôn ngữ là công cụ, là chất liệu cơ bản của văn học, vì vậy văn học
được gọi là loại hình nghệ thuật ngôn từ M Go-rơ-ki khẳng định: ngôn ngữ
là yếu tố thứ nhất của văn học
Trong tất cả tính chất thẩm mỹ của nó, “ngôn ngữ, đó chính là chất liệu, là phương tiện biểu hiện mang tính đặc trưng của văn học Không có ngôn ngữ thì không có tác phẩm văn học (phi ngôn ngữ bất thành văn), bởi vì ngôn ngữ chứ không phải là gì khác đã cụ thể hóa và vật chất hóa sự biểu hiện của chủ đề và tư tưởng của tác phẩm, tính cách nhân vật và cốt truyện
Trang 32Ngôn ngữ là yếu tố đầu tiên mà nhà văn sử dụng trong quá trình chuẩn bị và sáng tạo tác phẩm; nó cũng là yếu tố xuất hiện đầu tiên trong sự tiếp xúc của người đọc với tác phẩm Về nguồn gốc tạo thành, ngôn ngữ của tác phẩm văn học cũng là ngôn ngữ của đời sống, ngôn ngữ của toàn dân, nhưng đã được nâng lên đến trình độ nghệ thuật”
Định nghĩa trên đã hoàn toàn làm sáng tỏ được chức năng, nhiệm vụ và tầm quan trọng của ngôn ngữ đối với một tác phẩm văn học Như vậy, ngôn ngữ là chất liệu đầu tiên, thiết yếu để hình thành nên một tác phẩm văn học, cũng đồng thời là chiếc cầu nối giữa nhà văn với độc giả qua tác phẩm Với khả năng tái hiện đời sống một cách sinh động, phong phú và đầy tính nghệ thuật, ngôn ngữ xóa đi rào cản trong quá trình tiếp nhận tác phẩm văn học của độc giả Nhờ có ngôn ngữ mà người đọc có thể đi vào tìm hiểu, khám phá thế giới nghệ thuật phong phú trong tác phẩm, đồng thời nắm bắt được bức thông điệp mà nhà văn gửi gắm, qua đó tác động mạnh mẽ đến tâm hồn, tình cảm, nhận thức của người đọc Ở góc độ phát triển của văn học trong tiến trình lịch
sử, ngôn ngữ (nói và viết) là phương tiện lưu giữ văn bản văn học qua bao biến cố thăng trầm của lịch sử dân tộc và nhân loại
Nhà văn dùng ngôn ngữ để biểu đạt ý niệm, khai triển quan niệm, tư tưởng, tình cảm và nhận thức của mình đồng thời tạo nên sự rung động trong tâm hồn mỗi người đọc Tuy nhiên, không phải nhà văn nào cũng có khả năng dùng con chữ để tạo nên sự rung cảm ấy Để có được khả năng thức tỉnh, lay động hồn người, ngoài vốn sống, tài năng nhà văn cần có ý thức nghiêm túc trong việc sử dụng, lựa chọn câu chữ, tạo nên sự độc đáo, riêng biệt trong văn phong của mình
Việc sử dụng ngôn ngữ như thế nào sẽ tạo nên phong cách của nhà văn như thế ấy Có nhà văn thiên về sử dụng ngôn ngữ quen thuộc, gần với lời ăn tiếng nói hàng ngày và mang đậm dấu ấn tâm hồn,tình cảm dân gian; lại có
Trang 33nhà văn thiên về sáng tạo ngôn ngữ mới mẻ, độc đáo khác lạ, không lặp lại người khác và không lặp lại chính mình Tuy nhiên, dù phong cách của nhà văn như thế nào, cách sử dụng ngôn ngữ ra sao thì điều cốt yếu nhất làm nên giá trị thực sự của ngôn ngữ và tác phẩm văn học vẫn là tài năng, tâm huyết thực sự và tấm lòng của nhà văn đối với con người, cuộc đời
Trong tác phẩm tự sự có hai loại ngôn ngữ: ngôn ngữ người kể chuyện
và ngôn ngữ nhân vật Ngôn ngữ người kể chuyện là ngôn ngữ tác giả, người trần thuật ở ngôi thứ ba tự giấu mình Đây là nhân vật “toàn tri”, “biết tuốt”
và dùng ngôn ngữ của mình dẫn dắt người đọc, người nghe tìm hiểu, khám phá những biết cố, sự kiện, số phận, cuộc đời diễn ra trong tác phẩm đó Đồng thời, người kể chuyện có thể tham gia vào câu chuyện, đưa ra những lời bình luận trữ tình ngoại đề, giúp người đọc hiểu sâu sắc hơn chủ đề tác phẩm,tư tưởng của người nghệ sĩ Trong thực tế văn học, ngôn ngữ người kể chuyện
có thể đồng nhất với ngôn ngữ của nhà văn ở ngoài đời, nhưng có nhiều trường hợp, ngôn ngữ người kể chuyện không đồng nhất với ngôn ngữ nhà văn, vì nghệ thuật bao giờ cũng có tính hư cấu sáng tạo Ngôn ngữ nhân vật là ngôn ngữ các nhân vật đối thoại với nhau hoặc ngôn ngữ đối thoại, nhân vật
tự suy nghĩ hoặc nói với chính mình Hai loại ngôn ngữ này đan xen vào nhau, thậm chí, ở một số nhà văn, nó hòa vào nhau đến mức khó tách bạch
Phân tích vấn đề ngôn ngữ trong 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần] của
Đặng Thân chúng tôi nhận thấy, ngôn ngữ mạng, sự thông tục, suồng sã, tính chất giễu nhại, pha tạp là những đặc điểm cơ bản
2.1.2 Ngôn ngữ mạng
Sự bùng nổ của công nghệ thông tin đã tác động đến ngôn ngữ và để lại dấu ấn khá rõ ở ngôn ngữ trần thuật Ngôn ngữ mạng gắn liền với sự phát triển của thời đại máy tính, mạng internet, nó đang xa rời những yếu tố làm nên văn học truyền thống
Trang 34Tiểu thuyết 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần] được bổ sung thêm ngôn
ngữ mạng, góp phần hoàn chỉnh bức tranh đầy sắc màu của tiếng Việt Điều này cũng nằm trong quỹ đạo chung của thời đại công nghệ thông tin Đến với
3.3.3.9 [những mảnh hồn trần] này, người đọc cần phải có ít nhiều sự trải
nghiệm trong “thế giới ảo”, mạng internet thì mới có thể chiếm lĩnh được văn bản bởi sự lên ngôi của ngôn ngữ mạng trong đó
Ở 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần], Đặng Thân đã trình diễn một cách
viết và lối cấu trúc tác phẩm mang đậm dấu ấn văn học computer Tiểu thuyết Đặng Thân gây “hoang mang” từ cái tên “khó hiểu” đến cách sắp đặt lộn xộn các chương mục đúng theo kiểu bài trí của một trang Facebook hiện nay Không chỉ thế, sự xuất hiện chồng chéo của các tuyến nhân vật, cùng lối diễn đạt kì quái với một thứ ngôn ngữ hổ lốn “tạp pí lù” giữa tiếng Việt và các thứ tiếng nước ngoài, thậm chí lồng ghép cả ngôn ngữ online và ngôn ngữ chế của
tuổi teen gây nhiều khó khăn cho người đọc khi tiếp nhận tác phẩm Nhưng
phải thừa nhận rằng, chính cách viết đầy phức điệu và có phần rối rắm này là một tấm phản quang chân thực cho thời đại hội nhập khi những giá trị cuộc sống đang bị lật xới và xáo trộn không theo một quy chuẩn có sẵn Đặng Thân
đã giúp văn học mạng tiệm cận gần hơn với văn học hậu hiện đại như một xu thế tất yếu của thế kỷ XXI
Ngôn ngữ mạng trong 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần] rất phong phú
Điều này được thể hiện ở những đường dẫn (link), những bình luận (comment), trích dẫn những bài phỏng vấn Chính ngôn ngữ mạng đã tạo cho người đọc cảm giác như đang đọc “online” (trực tuyến) chứ không phải là đang đọc cuốn sách in trên giấy Đường link trả lời phỏng vấn của nhà văn
Đặng Thân với báo Văn nghệ Trẻ là một trong những minh chứng tiêu biểu:
den/” [48, tr 495]
Trang 35“http://vietvan.vn/vi/bvct/id446/Dang-Than Hau-hien-dai -Can-no-thi-no-Các đường “link web” là một trong các loại kí tự truyền thông đa phương tiện, đây là một hình thức đặc thù của ngôn ngữ mạng mà chúng ta không thể tái tạo được bằng ngôn ngữ truyền thống Trên trang giấy in, một đường link chỉ là những con chữ, những kí hiệu bình thường, nhưng trên màn hình máy tính đó là chuỗi kí tự mở ra một thế giới khác - thế giới ảo Đó là những đường dẫn để con người có thể khám phá những thông tin, truy tìm những tài liệu…
Ngôn ngữ mạng trong 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần] còn là những
dòng tin nhắn (sms), “nick chat”, “nick blog”, những văn bản “email” Nhà văn đã tạo ra loại văn bản email nhằm xác lập mối giao tiếp thông qua mạng giữa các nhân vật:
“From: Judah-Schditt…
To: Mong Huong…
Subject: …
Date: Sun, 25 May 10:40:35 – 0700 (PDT)” [48, tr.584]
Những biểu tượng và kí tự mạng cũng làm phong phú thêm diện mạo ngôn ngữ mạng Các biểu tượng khuôn mặt bộc lộ những trạng thái cảm xúc khác nhau: J, :), :)), ;-)), :D, ^-^, ^^… mở ra một không gian trò chuyện online sinh động
Ngôn ngữ thời @ cũng được tác giả tận dụng, khai thác hiệu quả Thứ ngôn ngữ này tạo nên tính đa tạp trong mỗi chương của tiểu thuyết Ngôn ngữ
@, ngôn ngữ teen hay còn gọi là “chat ngữ” bắt nguồn từ những tin nhắn, những mẩu đối thoại với mục đích tiết kiệm kí tự như một thể tốc kí Những
ai chưa bắt kịp với ngôn ngữ của thế hệ này sẽ phải rất vất vả phân tích từng
kí tự để hiểu được nhân vật đang nói điều gì
Trước tiên phải kể đến ngôn ngữ không dấu: “MSM, em cam on A nhiu!
E dang nho nguoi dich cai bai cam tuong cua A ra tieng Viet vi em thay cung kho ma hieu cho het ngĩa dc A a.!” [48, tr.601]
Trang 36Cùng với việc sử dụng những ngôn ngữ không dấu, Đặng Thân còn viện tới sự hỗ trợ đắc lực của tiếng lóng do giới trẻ tạo ra Một trong những phương thức sử dụng tiếng lóng hiện nay là việc dùng các từ loại như: danh
từ, động từ, tính từ… để nhấn mạnh hoặc gây sự chú ý đối với sự việc được nói tới Ta có thể bắt gặp những khái niệm: “giờ cao su”, “chim cú”,
“chuối”… Nhiều câu nói, cách nói được hình thành từ một công thức và trở thành dạng thức ngôn ngữ giống như thành ngữ, có khả năng diễn đạt cảm xúc ở nhiều trạng thái khác nhau, có thể là vui buồn hay mỉa mai, giễu cợt Trong khi trần thuật, tác giả đã kết hợp sử dụng những câu văn có vần điệu để
tăng khả năng miêu tả và gây ấn tượng mạnh: “Ông Bà/A Bồng đến Quán GIÓ chậm 55 phút Có thể nói đây là một đại diện lớn của nền “văn minh cao su” cỡ “cao thủ đầu có mủ” [48, tr.23] Ta có thể bắt gặp trong tiểu thuyết rất
nhiều những câu văn “tự chế” dùng để liên hệ tới một vấn đề nào đó, điển
hình như: “nhầm nhọt sang trồng trọt”, “ngây ngây như Tây giẫm phải cứt”,
“đẹp giai lai Pháp”, “ăn chơi xả láng sáng về sớm”, “hiếm có khó tìm”, “bất
hủ trên nóc tủ”… Đây là những lối nói, lối ví von mới của thời đại
Đọc 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần], còn thấy xuất hiện thứ ngôn ngữ
biến âm, sai chính tả, pha giọng địa phương đang được giới trẻ sử dụng phổ biến như một cách để khẳng định mình Ở đậy sự quy chuẩn về ngôn ngữ đã
bị xóa bỏ, chỉ còn sự quy ước, mặc định về chữ cái Có thể kiểm chứng điều
này qua một câu nói của Mộng Hường: “Iem có mún ló thần thánh hóa iem đâu zì khi iem iu ló iem cũng rất kần cái mãnh thú của ló thía mừ ló chỉ được cái mãnh thú với ai ai chứ iem cần ló mãnh thú với iem thì nó lại ko mãnh thú…” [48, tr.93] Đó còn là cách nói ngược, nói lái đầy hài hước: “Ui jời iem Mộng Hường đây chả hiểu gì iem đếk kần hỉu mà hỉu để làm jì iem đến thăm Thích chân thâm (sorry, Tâm Chân) đây” [48, tr.103] Không dừng lại ở đó, nhà văn còn đưa vào tác phẩm của mình những mật mã @, kiểu như: “Ka^’p
Trang 37độ Dễ đọk (cấp độ dễ đọc); K4^p’ +) 0^ k0^’ g4 (nG’ +hì +)0.k
-!)ư0+k (cấp độ cố gắng thì đọc được)…” [48, tr.632]
Trong 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần], thấy xuất hiện kiểu ngôn ngữ
pha tạp kết hợp “bất quy tắc” các ngôn ngữ trên thế giới, ở đó ngôn ngữ Ta –
Tàu – Tây được liên kết lại với nhau theo cái “lý” riêng: “Cho đến khi chàng đạo diễn cặp với một chị già có tiền thì “sugar you you go, sugar me me go” (đường anh anh đi, đường tôi tôi đi), hay Việt – Anh phối kết hợp: “sugar ai nấy go” (đường ai nấy đi) [48, tr.227] Có những dạng ngôn ngữ phiên âm dễ hiểu, dễ đọc: Cách phiên âm Anh – Việt: “Ấu kề, ơ phlái lai phò mì, plì.” [48, tr.266], “Thanh kiu Vinamiụ Thanh kiu pho jo biu” [48, tr.66]; phiên âm Trung – Việt: “Hẩu hớn Lon Son Pạt Hẩu hớn Yí Nàm Công phu sư phọ” [48, tr.268]
Nếu như Ma net là sự khởi nguồn cho ngôn ngữ mạng thì đến 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần], ngôn ngữ mạng đã thật sự lên ngôị Giống như một màn hình máy tính được mở ra, 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần] chứa đựng
trong đó tất cả sự da dạng của thứ ngôn ngữ đặc biệt Chỉ những người cùng ở trong không gian ấy mới hiểu được nhaụ Đưa vào tác phẩm những thứ ngôn ngữ lệch chuẩn, phi chính thống để sáng tạo là một bước đi táo bạo của Đặng Thân Chính sự biến âm, quy ước và tái tạo nghĩa mới cho ngôn ngữ do một
bộ phận giới trẻ quy định khiến cho việc tiếp cận và giải mã tác phẩm không còn là điều đơn giản
2.1.3 Ngôn ngữ thông tục, suồng sã
Trong điều kiện ý thức cá nhân được khơi dậy mạnh mẽ, tư duy tiểu thuyết cho phép những chất liệu đời thường ùa vào văn học Không còn những thứ ngôn ngữ kiểu cách, lễ nghi mà thay vào đó, ngôn ngữ thông tục, suồng sã được hiện diện với đầy đủ góc cạnh, được ý thức bằng tư thế dân chủ, bình đẳng giữa người với ngườị
Trang 38Trong văn xuôi đương đại, trước đó, ta bắt gặp thứ ngôn ngữ thông tục, khẩu ngữ Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp là một thí dụ điển hình Trong các sáng tác của mình, Nguyễn Huy Thiệp thường sử dụng nhiều những câu nói câu hát giân gian khiến ngôn ngữ trần thuật mang hơi thở của tự nhiên Bên cạnh đó, Nguyễn Huy Thiệp còn sử dụng lớp ngôn từ thô nhám, không gọt giũa, ngôn ngữ tục xuất hiện với tần suất dày Ngôn ngữ thông tục, suồng sã
ấy cũng xuất hiện dày đặc trong văn xuôi Đặng Thân
Nếu như trong Ma net, Đặng Thân bổ sung những đoạn thoại thông tục
không hề liên quan đến tình tiết truyện, giữa những người có mặt trong lúc tác giả viết truyện, nghe tác giả thuật truyện, tạo thành một trục phản giá trị, bình
phẩm truyện thì đến tiểu thuyết 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần], độc giả nghẹn
ứ vì bởi sự xuất hiện dày đặc của những câu chửi thề, nói tục và sự dung nạp tràn lan các thành phần khẩu ngữ Trong thời đại ngày nay, chúng giống như
sự phá vỡ các chuẩn mực đã định hình của giao tiếp ngôn ngữ
Ngôn ngữ đường phố xuất hiện dày đặc trong tiểu thuyết: “Con này nó
“chăn giai” cực kỳ tanh tưởi, điện thoại của em nó lúc nào cũng nóng rực lên như lò than tổ ong” [48, tr.20] Đọc 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần], thấy xuất hiện nhiều câu văn miêu tả rất trần trụi, kiểu như: “nhìn cái vẻ đĩ đượi của Hường thì em cũng chịu không nổi” [48, tr.534] Sự miêu tả trần trụi ấy
giống như một phương thức để lột tả bản chất nhân vật
Trong tiểu thuyết, những vấn đề liên quan đến thân thể, giới tính, tình
dục đã bị dung tục hóa Đôi khi được miêu tả khá tục tĩu: “Khi nào “ngứa” lên thì hoặc là “bóc bánh giả tiền” hoặc tới bến thì “tình cho không biếu không” chứ việc quái gì phải lăn tăn” [48, tr.40] Có chương, động từ “hiếp” xuất hiện trở đi trở lại với tần xuất chóng mặt như một ám ảnh: “Bản năng của những ngày “chinh chiến” lại nổi lên ông lôi xềnh xệch bà vào bụi cây
mà hiếp (…)Thấy bà như chẳng nghe lời đường mật nào của mình, phẫn uất,
Trang 39ông lại đè bà ra mà hiếp ” [48, tr.151] Ngôn ngữ được dùng để miêu tả
những cuộc “mây mưa” của trai gái cứ hồn nhiên “trần như nhộng” đi lại
trong tiểu thuyết: “Sơn hôn vào tai Sơn hôn vào vai Sơn hôn vào ti… Rồi Sơn sờ, xoa, nắn, bóp như làm vật lí trị liệu… đôi mông em làm Sơn phải vật lộn chống chèo vật vã…” [48, tr.145]
Ngôn ngữ thông tục – chửi mắng, thề tục, nguyền rủa cũng góp mặt trong trận đồ bát quái ngôn ngữ Ngay từ những trang đầu tiên của tiểu thuyết,
người đọc đã bắt gặp câu chửi: “Biến đi Lúc nào cần tao gọi” [48, tr.15]
Trước sự nổi loạn của nhân vật Mộng Hường, nhân vật nhà văn nổi đóa và
văng ngay ra câu chửi tục: “Chó chết… mày! Cô không được như thế chứ… Bọn hôi thối khốn nạn Bọn cướp biển lận bẩn thỉu…” [48, tr.284] Nối tiếp sau đó là những tràng dài nguyền rủa tục tĩu: “Tỉu nà ma thằng chó chết kia
Ai cho phép mày tẩn con Mộng Hường của tao?” [48, tr.285] Từ tục còn là
nguồn cảm hứng để Junkim và những người bạn đặt tên cho nhóm nhạc jazz
“JAZZ DEL JAZZY” của mình, đưa tới sự liên tưởng độc đáo giữa tiếng Anh
và tiếng Việt: “Vừa lúc ấy ông chủ quán mắng một em tiếp thị thuốc lá: “Đã bảo là biến đi cơ mà Mày là đồ đéo ra gì!”; “Vâng, tôi đéo ra gì Còn ông muốn đéo mà chẳng được” [48, tr.542] Có thể nói, văn hóa đường phố, tiếng
chửi đường phố ngang nhiên bước thẳng từ đời thực vào trang sách Nhiều
câu chửi được trá hình, giảm thanh: “Nó lại chửi “đ… mẹ đời” như hồi chưa vào tù, nhưng lần “đ… mẹ đời” này đích thị là một thiên khải” [48, tr.157]
Trang 40Không hề gọt giũa từ ngữ, tác giả để cho mọi thứ ngôn ngữ trong đời sống tràn lên trang sách Chính điều này đã đem lại hiệu ứng thẩm mĩ mới mẻ cho cuốn tiểu thuyết này
Như vậy thông qua ngôn ngữ thông tục, suồng sã trong tập truyện Ma net và tiểu thuyết 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần], ta nhận thấy ngôn ngữ trần
thuật không còn là những lời nói quyền uy hay lối văn đạo mạo của người rao giảng đạo đức mà dung hợp trong đó là thứ ngôn ngữ vỉa hè, chợ búa sống sượng, phi chuẩn, thậm chí là bất nhã, dung tục Những lối nói trần trụi, bụi bặm ấy có xu hướng xoá nhoà khoảng cách giữa nghệ thuật và cuộc sống thường ngày
2.1.4 Ngôn ngữ giễu nhại
Từ sau 1975, cảm hứng sử thi trong văn học nhường chỗ cho vấn đề thế
sự bé mọn, vấn đề mỗi cái tôi băn khoăn lạc lõng Theo đó, lớp ngôn từ của mạch sống tự nhiên ùa tràn vào văn học Về sau, văn học tiệm cận với chủ nghĩa hậu hiện đại, lớp ngôn từ trở nên phức tạp, xuất hiện dưới nhiều vỏ bọc khác nhau, đánh mất dần bản chất thông tin thẩm mĩ vốn có Nhại trở thành một khuynh hướng biểu hiện của ngôn ngữ
Tập truyện ngắn Ma net của Đặng Thân cũng nằm trong mạch vận động
này Yếu tố nhại xuất hiện đậm đặc và hầu như ở mọi phương diện sáng tạo tác phẩm Người viết chú ý trước hết đến nhại biểu hiện ở cấp độ ngôn ngữ,
bởi ngôn ngữ “là yếu tố thứ nhất của văn học” (M Gorki), là mặt tiếp xúc và
phương tiện nhà văn giao tiếp với độc giả Sự biểu hiện đầu tiên của yếu tố nhại trong tác phẩm đầu tiên cũng chính ở bình diện ngôn ngữ
Văn học truyền thống, mỗi chữ nặng tựa ngàn vàng, chứa đựng cái tâm
và hoài bão của người nghệ sĩ, dù ở thời đại nào và đổi mới đến đâu cũng vậy
Một chữ “đế” trong bài Nam quốc sơn hà tương truyền của Lí Thường Kiệt
đủ để phân định ranh giới bờ cõi, khẳng định chủ quyền ngàn đời của dân tộc