Trong số những nhà văn hiện đại Việt Nam, Nguyễn Quang Sáng 1932 - 2014 là nhà văn đã sớm xác định cho mình một giọng điệu nghệ thuật đặc trung với một phong cách rất riêng của một "nhà
Trang 1VƯƠNG THỊ QUỲNH VÂN
GIỌNG ĐIỆU TRUYỆN NGẮN
NGUYỄN QUANG SÁNG
Chuyên ngành: Lý luận văn học
Mã số: 60 22 01 20
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Hà Công Tài
HÀ NỘI, 2015
Trang 2Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Ngữ văn, đặc biệt là các thầy cô giáo Phòng sau Đại học – Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
2 đã quan tâm giúp đỡ em trong quá trình học tập và thực hiện đề tài
Em xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đối vơi PGS TS Hà Công Tài - người thầy đã tận tâm hướng dẫn em hoàn thành luận văn này
Xin gửi tới người thân – gia đình, bè bạn – những người đã luôn động viên giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu lời cảm ơn sâu sắc
Hà Nội, ngày… tháng … năm……
Người thực hiện
Vương Thị Quỳnh Vân
Trang 3Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này
là trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác Tôi cũng xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được ghi rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 7
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
5 Phương pháp nghiên cứu 9
6 Đóng góp của luận văn 10
7 Cấu trúc luận văn 10
PHẦN NỘI DUNG 11
Chương 1 GIỚI THUYẾT CHUNG VỀ GIỌNG ĐIỆU 11
1.1 Các quan niệm về giọng điệu 11
1.2 Định nghĩa về giọng điệu 13
1.3 Cơ sở hình thành giọng điệu 15
1.3.1 Đề tài và cảm hứng chủ đạo của nhà văn trong sáng tác 15
1.3.2 Cái nhìn nghệ thuật của tác giả 18
1.3.3 Cá tính sáng tạo của nhà văn 19
1.4 Giọng điệu như một yếu tố tích cực thể hiện phong cách nghệ thuật của nhà văn 21
Chương 2 GIỌNG ĐIỆU TRUYỆN NGẮN NGUYỄN QUANG SÁNG TRƯỚC NĂM 1975 24
2.1 Cơ sở hình thành 24
2.1.1 Đề tài chiến tranh 24
2.1.2 Cảm hứng chủ đạo 27
2.1.2.1 Cảm hứng sử thi 27
2.1.2.2 Cảm hứng lãng mạn 28
Trang 52.2.1 Giọng điệu sử thi, hào hùng 31
2.2.2 Giọng trữ tình, tha thiết 40
2.2.3 Giọng xót thương 44
2.2.4 Giọng cà kê, chậm rãi 45
Chương 3 GIỌNG ĐIỆU TRUYỆN NGẮN NGUYỄN QUANG SÁNG SAU 1975 49
3.1 Cơ sở hình thành 49
3.1.1 Đề tài thế sự 49
3.1.2 Cảm hứng chủ đạo 53
3.1.2.1 Cảm hứng thế sự 53
3.1.2.2 Cảm hứng đạo lí 55
3.2.Giọng điệu chủ yếu trong truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng sau năm 1975 58
3.2.1 Giọng cảm thông, chia sẻ 58
3.2.2 Giọng triết lý 63
3.2.3 Giọng dí dỏm, châm biếm nhẹ nhàng 65
KẾT LUẬN 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO 73
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Giọng điệu nghệ thuật là một trong những yếu tố quan trọng trong tác phẩm văn học, đồng thời giọng điệu cũng góp phần không nhỏ trong việc tạo nên phong cách nghệ thuật của nhà văn Có lẽ vì thế mà từ lâu, vấn đề giọng điệu đã trở thành vấn đề được giới nghiên cứu, phê bình văn học quan tâm
Đã có rất nhiều bài viết, công trình coi giọng điệu như một đối tượng nghiên cứu và với một nền văn học giàu có như văn học Việt Nam nói chung và văn học hiện đại Việt Nam nói riêng thì tìm hiều về giọng điệu nghệ thuật vẫn là một vấn đề quan trọng và cần thiết
Trong số những nhà văn hiện đại Việt Nam, Nguyễn Quang Sáng (1932
- 2014) là nhà văn đã sớm xác định cho mình một giọng điệu nghệ thuật đặc trung với một phong cách rất riêng của một "nhà văn Nam Bộ" Không chỉ bởi tác phẩm của ông lấy bối cảnh Nam Bộ, mà ở giọng điệu Nam Bộ "không
có cái nhàn nhạt chữ nghĩa dùng cho miền nào cũng được" (Tô Hoài) Tính cách Nam Bộ, đã yêu thích cái gì, tin tưởng cái gì thì tin yêu đến tận cùng Tất
cả những đóng góp ấy của Nguyễn Quang Sáng được minh chứng qua hàng chục truyện ngắn và tiểu thuyết cùng hàng chục kịch bản điện ảnh đạt nhiều
giải thưởng: 2 giải truyện ngắn "Ông Năm Hạng" của báo Thống Nhất và "Tư
Quắn" của Tạp chí Văn nghệ Quân đội (1959); Giải thưởng Hội đồng Văn
học thiếu nhi Hội nhà văn (1985) với tiểu thuyết "Dòng sông thơ ấu"; Giải thưởng Hội nhà văn Việt Nam (1994) với truyện ngắn "Con mèo của
Foujita"; cùng các kịch bản phim: Cánh đồng hoang - Bộ phim được huy
chương vàng liên hoan phim toàn quốc 1980, Mùa gió chướng - huy chương bạc liên hoan phim toàn quốc 1990 Đặc biệt là giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật đợt 2 năm 2001
Trang 7Sự nghiệp sáng tác văn học của Nguyễn Quang Sáng đạt nhiều thành tựu phong phú, ở cả hai giai đoạn trước và sau 1975 Sáng tác của ông dù ở thể loại nào cũng mang tính nhân dân sâu sắc, mang đậm hơi thở của kháng chiến, của người Nam Bộ Ông xứng đáng là một trong những nhà văn nam
bộ tiêu biểu, có đóng góp xuất sắc cho nền văn học Việt Nam hiện đại
Giờ đây sau khi hưởng trọn cái tết lần thứ 82 của mình,ông đã chọn đêm trước hôm rằm – Rằm tháng giêng Giáp Ngọ để nhẹ bước êm ru vào
miền tịch diệt Ông đã để lại "Một gánh sách cho đời" (Ngô Thảo) "Gánh
sách" của nhà văn Nam Bộ, mang hơi thở giọng điệu phong cách khẩu khí
riêng của người dân Nam Bộ Do vậy khi chọn đề tài "Giọng điệu truyện ngắn
Nguyễn Quang Sáng" chúng tôi mong muốn giúp bạn đọc nắm bắt được, cảm
nhận được chất giọng riêng của nhà văn trong sáng tác Từ đó chúng ta có được chìa khóa để đi sâu vào thế giới nghệ thuật của Nguyễn Quang Sáng, đồng thời có thêm cơ sở để hiểu một cách khái quát về phong cách độc đáo cũng như những đóng góp có giá trị của nhà văn đối với nền văn học hiện đại Việt Nam
2 Lịch sử vấn đề
Nguyễn Quang Sáng bắt đầu cầm bút từ 1952 hồi ở U Minh, thời đánh Pháp Kể từ đó đến khi ngừng thở ở tuổi 82, Nguyễn Quang Sáng vẫn giữ được sức sáng tạo dồi dào và luôn không ngừng đổi mới Sáng tác của ông bởi thế, cũng thu hút được sự chú ý của không ít nhà phê bình, nghiên cứu Các bài viết thường được triển khai theo hai hướng: hoặc khái quát đặc trưng truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng qua tổng kết hàng loạt các tác phẩm, hoặc đi sâu vào tìm hiểu một truyện ngắn tiêu biểu của ông Ở hướng tiếp cận nào thì các công trình đi trước đều đưa ra những gợi ý thú vị cho người thực hiện luận văn này
Trang 8Năm 1969, tác giả Nguyễn Nghiệp đã có bài viết “Đất nước và con
người miền Nam trong Chiếc lược ngà của Nguyến Sáng” đăng trên Tạp chí
văn học số 1 Bài viết với những nhận xét khái quát nhất về tập truyện ngắn
Chiếc lược ngà Nguyễn Nghiệp chủ yếu thiên về tóm tắt nội dung các câu chuyện và bước đầu đưa ra một số phát hiện về đặc điểm truyện ngắn Nguyễn
Quang Sáng: “lối kể chuyện tưởng chừng như rất thoải mái, tùy hứng , nhưng
thực ra đã thông qua bàn tay rất chủ động của tác giả (…) Qúa khứ với hiện tại xen lẫn nhau, gắn bó với nhau theo logic bên trong của tính cách(…) Những chi tiết đều là chọn lọc và đã được khai thác đúng mức, hành động
bên ngoài nói lên được tâm trạng bên trong” [68;tr.26] Bài viết này có ý nghĩa như là một trong những bài phê bình đầu tiên về truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng
tổng kết “dày dặn” và toàn diện hơn về Truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng
Nhìn lại chặng đường sáng tác của Nguyễn Quang Sáng từ 1958-1975, Vân Thanh đã chỉ ra những đặc điểm nổi bật làm nên phong cách truyện ngắn của
ông: “Nói được một cái gì thật kì diệu trong những điều tưởng chừng rất bình
thường cuả cuộc sống, đó là đóng góp đáng chú ý của Nguyễn Sáng ( ) Nhưng làm quen với Nguyễn Sáng, người đọc được tiếp xúc nhiều hơn với những câu chuyện được xây dựng trên những tình tiết ngẫu nhiên, bất ngờ, lắm khi gay cấn, căng thẳng đầy tính kịch” [75; tr.17] Vân Thanh còn đưa ra
nhiều nhận định sắc sảo, chính xác về chi tiết, nhân vật, tính kịch trong truyện
ngắn Nguyễn Quang Sáng như: “Truyện Nguyễn Sáng giàu chi tiết sống
Nhưng chi tiết đối với anh không phải là một thứ trang sức để phô bày Chi tiết được anh dùng trước hết là nhằm khắc họa nhân vật Cùng miêu tả lớp trẻ, nhưng Nguyễn miêu tả mỗi người một nét khác nhau Cùng miêu tả cô giao liên nhưng qua ngòi bút Nguyễn Sáng mỗi người vẫn có một vẻ riêng”
Trang 9“Nhân vật trong truyện Nguyễn Sáng là những con người vươn lên trong ánh
sáng cách mạng Những nét u buồn không đọng lâu trong con người họ Khó khăn, mất mát, chết chóc là điều khó tránh khỏi trong chiến đấu ác liệt này, nhưng điều đó không làm giảm lòng tin của họ vào chiến thắng ngày mai”
Hay “lắm tình huống bất ngờ, truyện Nguyễn Sáng thường mang nhiều chất
kịch Đó là phong cách của anh Truyện của anh bao giờ cũng đột ngột, người đọc khó đoán được” [75; tr.24] Có thể nói bài viết của Vân Thanh đã
bước đầu đem đến cho bạn đọc một phong cách truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng: chứa đựng những yếu tố kì diệu, giàu chi tiết sống, lắm tình huống bất ngờ, đậm tính kịch những vẫn mang nhiều chất trữ tình
Những năm sau đó giới phê bình cũng rải rác có một số bài viết về Nguyễn Quang Sáng và truyện ngắn của ông Có thể kể đến bài viết của Trần
Hữu Tá về chân dung nhà văn trên Từ điển văn học với những nhận định ngắn gọn mà khái quát: “Nguyễn Quang Sáng có một phong cách viết truyện ngắn
độc đáo Truyện thường lắm tình huống bất ngờ, ngẫu nhiên nhưng tự nhiên, giàu chi tiết sống động và kì diệu nhưng hợp lý…,” [68; tr.114].
Đáng kể hơn nữa là các Lời giới thiệu Tuyển tập Nguyễn Quang Sáng
của Bùi Việt Thắng và Phan Đắc Lập Với những cảm nhận tinh tế của ngòi bút chuyên phê bình truyện ngắn, tác giả Bùi Việt Thắng đã “lẩy” ra một số đặc điểm quan trọng trong phong cách Nguyễn Quang Sáng: cốt truyện tiêu biểu hấp dẫn, chi tiết chọn lọc, tình huống đặc sắc và kịch tính cao, chất Nam
Bộ đậm nét trong lời văn, lối kể chuyện rất “hoạt” Đồng thời, Bùi Việt Thắng
cũng bước đầu phác vẽ nên chân dung một con người nhạy cảm “dựa hẳn vào
tình cảm để viết” nhưng cũng không kém phần hài hước, dí dỏm; lại có bản
lĩnh, “thấu thị nhiều điều trong cuộc sống” So với các bài viết trước đó thì
nghiên cứu của Bùi Việt Thắng có tầm bao quát rộng hơn; khái quát lại được
cả hai chặng đường truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng (trước và sau 1975),
Trang 10đồng thời tìm ra được mối tương quan phát triển giữa hai chặng đường này:
“Khi nghiên cứu bước đường sáng tác của một nhà văn ta thường thấy có
hiện tượng: ở thời điểm nào đó vơi những ảnh hưởng và biến đổi nào đó, nhà văn viết khác trước, và cái sự khác này tạo ra một bước ngoặt Nhưng có nhà văn, dù cố tình “rẽ ngoặt” thì vẫn không được, anh ta trở lại chính mình thì mới được công nhận Nguyễn Quang Sáng ở vào trường hợp thứ hai” Theo
Bùi Việt Thắng, truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng viết trước 1975 “ròng ròng
sự sống, một sự sống đa dạng cung bậc, màu sắc, có tiếng khóc và tiếng cười,
có khổ đau và hi vọng” nhưng sau 1975 “khi ông cố đổi giọng cho có vẻ hợp thời thì người đọc thấy chán - đó là khi đọc Tôi thích làm vua, Thế võ, Nhân vật ấy không được chết…” [79 tr.3] Chỉ đến khi loạt truyện Con mèo của Foujita, người đàn bà đức hạnh, Người dì tên Đợi…thì Nguyễn Quang Sáng
mới “phát sáng trở lại” Nhận định này cũng đáng để chúng ta suy nghĩ.
Tuy khiêm tốn tự nhận “những dòng tôi viết chỉ là những cảm nhận sơ
lược của một độc giả viết cho một nhà văn nổi tiếng” nhưng Phan Đắc Lập
cũng đã góp phần không nhỏ vào việc định hình rõ hơn phong cách Nguyễn Quang Sáng Một mặt, tác giả vẫn đồng tình với đa số các nhà phê bình khác khi thừa nhận lối kể chuyện có duyên, giọng văn dí dỏm, hồn cốt Nam Bộ, sức hấp dẫn của kịch tính và chi tiết đã tạo nên “chất văn” Nguyễn Sáng Mặt khác, Phan Đắc Lập như muốn “bàn luận” với các ý kiến cho rằng các tác phẩm sau 1975 của Nguyễn Quang Sáng khiến cho ông bớt “phát sáng” (như
ý kiến của Bùi Việt Thắng) Ông viết : “Có người đã cho hàng loạt các tác
phẩm này của anh là những thử nghiệm bất thành, vì nó là những chuyện luận đề, giống như văn của Nguyễn Bá Học, Phạm Duy Tốn đầu thế kỉ hai mươi Một số bạn bè độc giả, trong đó có tôi lại nghĩ khác Chúng tôi rất thích Tôi thích làm vua, Thế võ, Con khướu sổ lồng Tôi cho rằng, cùng với truyện ngắn xuất sắc của ông thời kháng chiến như Chị xã đội trưởng, Chiếc
Trang 11lược ngà , một số truyện ngắn có thể xếp vào hàng những truyện ngắn hay nhất của văn học Việt Nam từ 1945 trở lại đây” [82; tr.106] Bằng những dẫn
chứng, phân tích sinh động cả về khoa học lẫn thực tế đời sống, Phan Đắc Lập cho thấy nhận xét trên không hoàn toàn là cảm tính Bởi lẽ, dù trong những tác phẩm viết về chiến tranh hay những trang viết sau 1975, thì Nguyễn Quang Sáng vẫn giữ được giọng văn uy - mua, các chi tiết đắt giá cùng những tình
huống giàu kịch tính (Bài học tuổi thơ, Người bạn lính, ).Chính những đặc trưng ấy đã giúp tác phẩm của ông “có khả năng chịu đựng sự thử thách khắc
nghiệt của thời gian để còn gây được xúc cảm thẩm mĩ cho thế hệ mai sau”.
Trong bài viêt tổng hợp về truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng, đáng chú
ý nhất là bài nghiên cứu trong cuốn Truyện ngắn Việt Nam hiện đại – lịch sử - Thi pháp – Chân dung (Phan Cự Đệ chủ biên) Với dung lượng gần chục trang sách, tác giả Lý Hoài Thu đã triển khai súc tích hai nội dung quan trọng:
- Nguyễn Quang Sáng và những bước đi của truyện ngắn: tóm tắt lại đặc điểm hai chặng đường sáng tác truyện ngắn của ông (từ 1956 - 1975, từ
1975 – 2014)
- Vài nét về phong cách truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng: một nhà văn
ưa “chơi bố cục” và tình huống, nhà văn của những chi tiết “biết nói và ám
ảnh”, ngôn ngữ và văn phong mang đậm chất Nam Bộ.
Không dừng ở tính chất “đọc sách, điểm sách”, tác giả đưa ra cái nhìn
toàn diện và tổng quát hơn cả về truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng Thấu suốt
cả chặng đường dài sáng tác của nhà văn; chừng mực nhưng không kém phần chính xác, tinh tế khi đưa ra nhận định là nét nổi bật của bài phê bình Công trình cũng cho chúng ta thấy một văn phong phê bình mới khi bước đầu có hướng tiếp cận truyện ngắn từ góc độ thi pháp Có thể nói, đây chính là gợi ý rất quý báu cả về nội dung và phương pháp cho luận văn của tôi
Bên cạnh những công trình nghiên cứu tổng quát về các chặng đường truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng, chúng tôi còn bắt gặp những bài viết tập
Trang 12trung tìm hiểu sâu một truyện ngắn tiêu biểu của nhà văn Nam Bộ này Có thể
kể đến lời nhận xét của Tô Hoài khi đọc Vểnh râu, của Trần Đăng Khoa khi đọc Một chuyện vui hay của Vũ Tú Nam khi biểu dương Con mèo của
Foujita… Hay các bài viết về truyện Chiếc lược ngà của Nguyễn Lộc, Phạm
Văn Nam; về Quán rượu người câm của Trọng Khanh; về Bông cẩm thạch
của Liên Phương… Có thể nói, những bài viết trên đã đưa lại cho chúng ta cái nhìn cụ thể nhưng không kém phần đa dạng về đặc trưng truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng
Cuối cùng không thể không nhắc đến một số luận văn, khóa luận nghiên cứu truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng như: luận văn thạc sĩ của
Nguyễn Thị Thu Hiền với đề tài “Đặc điểm thi pháp truyên ngắn Nguyễn
Quang Sáng” 2010, Nguyễn Văn Lịch với đề tài “Xung đột nghệ thuật trong truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng” 2008,… cùng một số khóa luận, bài viết
trên những trang báo mạng uy tín …
Dựa vào những công trình nghiên cứu trên, có thể thấy giới phê bình, nghiên cứu tiếp cận truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng chủ yếu đi sâu vào xung đột nghệ thuật, thế giới nhân vật, đặc điểm thi pháp…Riêng giọng điệu nghệ thuật trong truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng cũng được chú ý đến nhưng chỉ dừng lại ở việc nêu ý kiến, đánh giá mà chưa có một công trình chuyên biệt nào đi sâu, tập trung nghiên cứu về giọng điệu trong truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng với cái nhìn khách quan, khoa học, hệ thống, đầy đủ hơn, nhằm góp phần làm sáng tỏ thêm những giá trị, những đóng góp riêng của nhà văn đậm chất Nam Bộ này
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Vận dụng lý thuyết về giọng điệu để tiếp cận truyện ngắn của Nguyễn Quang Sáng nhằm nắm bắt được những giọng điệu chủ đạo của nhà văn Trên
Trang 13cơ sở đó, góp phần khẳng định những đóng góp của nhà văn cho nền văn học nước nhà.
Thông qua việc tìm hiểu giọng điệu trong truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng, luận văn góp phần chỉ rõ khác biệt về giọng điệu của văn học đương đại
so với văn học những giai đoạn trước
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn trình bày những vấn đề lý thuyết về giọng điệu
Chỉ ra những đặc sắc trong giọng điệu của truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng nhằm làm nổi bật phong cách của ông
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tƣợng nghiên cứu
Luận văn hướng trọng tâm nghiên cứu và tìm hiểu giọng điệu truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng qua những phương diện sau: Các yếu tố chi phối sự hình thành giọng điệu Nguyễn Quang Sáng; Các giọng điệu chủ đạo trong truyện ngắn của ông Từ đó xác định phong cách sáng tác, vị trí và đóng góp của nhà văn
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn khảo sát toàn bộ truyện ngắn của Nguyễn Quang Sáng đã được in trong các tập:
xuất bản Hội nhà văn
Trang 14Nhiệm vụ của luận văn là tìm hiểu giọng điệu trong truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng, vì vậy những lý thuyết về giọng điệu cũng được chúng tôi quan tâm, khai thác.
Ngoài ra chúng tôi còn khảo sát thêm một vài tác phẩm của những nhà văn cùng thời để so sánh và đối chiếu như: Anh Đức, Sơn Nam
5 Phương pháp nghiên cứu
Căn cứ vào đối tượng nghiên cứu đã được xác định, đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu cơ bản sau:
5.1 Phương pháp nghiên cứu tác phẩm văn học
Tác phẩm văn học là một cấu trúc hoàn chỉnh, trong đó các yếu tố tạo nên cấu trúc có quan hệ hữu cơ, biện chứng Luận văn đặt yếu tố giọng điệu trong mối quan hệ biện chứng để xem xét sự hình thành và những đặc điểm đặc thù của giọng điệu truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng Đặc biệt trong sự thống nhất biện chứng giữa nội dung và hình thức của tác phẩm văn học Giọng điệu là yếu tố hình thức mang tính nội dung, thể hiện nội dung và tư tưởng của tác phẩm văn học
5.2 Phương pháp nghiên cứu hệ thống
Phương pháp nghiên cứu hệ thống cho phép xem xét giọng điệu trong
hệ thống các yếu tố không chỉ của tác phẩm, mà rộng hơn trong sự chi phối của các yếu tố khác thuộc quá trình sáng tạo và môi trường văn hóa – lịch sử Điều đó giúp cho việc cắt nghĩa các vấn đề giọng điệu truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng được đầy đủ hơn và thấu đáo hơn Nhất là khi nghiên cứu giọng điệu truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng trong giai đoạn sáng tác của thời kì chiến tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước trước 1975 và thời kì kinh
tế thị trường với những biến đổi phức tạp của con người và xã hội sau 1975
5.3 Phương pháp so sánh – lịch sử
Phương pháp so sánh - lịch sử cho phép tìm hiểu sự tiến triển của các yếu tố thi pháp Phương pháp này giúp chỉ ra sự chuyển giọng điệu trong
Trang 15truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng ở những thời điểm khác nhau cùng với những cung bậc khác nhau của cảm hứng chủ đạo trong sáng tác của nhà văn Trong những điều kiện có thể, phương pháp so sánh - lịch sử cũng giúp cho việc tìm hiểu sự độc đáo trong giọng điệu Nguyễn Quang Sáng so với các nhà văn khác.
6 Đóng góp của luận văn
6.1 Có được những kết luận khoa học về giọng điệu trong sáng tác của Nguyễn Quang Sáng, tiếp tục mở rộng con đường đi vào thế giới nghệ thuật của tác giả
6.2 Đóng góp một tài liệu học tập, nghiên cứu về Nguyễn Quang Sáng
và giọng điệu nghệ thuật trong văn học Việt Nam hiện đại
7 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, cấu trúc của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1 Giới thuyết chung về giọng điệu
Chương 2 Giọng điệu truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng trước 1975 Chương 3 Giọng điệu truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng sau 1975
Trang 16PHẦN NỘI DUNG Chương 1 GIỚI THUYẾT CHUNG VỀ GIỌNG ĐIỆU
1.1 Các quan niệm về giọng điệu
Từ trước tới nay trong văn học, chúng ta thường bắt gặp khái niệm “hơi văn”, “khí văn” hay “tone” Đó đều là những cách gọi khác nhau của giọng điệu Với tư cách là một phạm trù thẩm mĩ của tác phẩm văn học, giọng điệu
đã thu hút hút được sự quan tâm của giới phê bình nghiên cứu Các nhà nghiên cứu, phê bình văn học đã nhận ra vai trò quan trọng của của giọng điệu nghệ thuật trong việc khẳng đinh tài năng, phong cách của người nghệ sĩ
Trong “Những vấn đề thi pháp học hiện đại” Giáo sư Trần Đình Sử khẳng định “Phân tích tác phẩm văn học mà bỏ qua giọng điệu tức là tước đi cái
phần quan trọng tạo nên bản sắc độc đáo của nhà văn” Nhà nghiên cứu văn
học Hoàng Ngọc Hiến thì cho rằng: “Câu văn có hồn là câu văn có giọng,
ngữ điệu, bởi vì từ ngữ của bài văn được chọn có thông báo nhiều điều quan trọng nhưng bài văn không có giọng đọc nên vẫn nhạt nhẽo vô vị Sự phong phú, tính đa nghĩa, ý vị đậm đà của bài văn trước hết là ở giọng Năng khiếu văn ở phần tinh tế nhất là năng lực bắt được trúng cái giọng của văn bản mình đọc và tạo ra được giọng đích đáng cho tác phẩm mình viết” [2].
Tuy nhiên, cho đến nay, mặc dù đã xuất hiện trong không ít các công trình nghiên cứu, nhưng giọng điệu vẫn là một khái niệm cần tìm hiểu để được lập luận một cách chặt chẽ hơn Nói một cách khác, khái niệm này dường như đang trong quá trình hoàn thiện Vì vậy, chúng ta vẫn thấy một sự thật, đó là giữa các nhà nghiên cứu vẫn chưa có sự thống nhất cao về khái niệm này
Theo nhà nghiên cứu Lê Huy Bắc trong bách khoa toàn thư Mĩ định
nghĩa: “Tone là âm thanh được xét trong sự can thiệp của trường độ, cường
Trang 17độ, âm sắc và âm lượng của nó” Đây chính là cách quan niệm về giọng điệu
trên lập trường của ngôn ngữ học Nhà phê bình văn học K Danziger và
S.Jonh trong cuốn “Nhập môn phê bình văn học” năm 1961 đã đưa ra nhận
định về “tone” – “Là phạm trù có liên quan đến tất cả các yếu tố tạo nên văn phong (style) (…) bao gồm: cách diễn đạt, hình tượng, cú pháp, âm thanh và nhịp điệu (…) là một biểu hiện của một thái độ về phía đối tượng (object)
được nêu rõ hay ngụ ý Đến năm 1971, trong cuốn “Từ điển thuật ngữ văn
học”, M.H Abrams đã nêu một cách cụ thể hơn Theo ông, “tone” có nghĩa
“là thái độ của người phát ngôn văn học đối với người nghe (auditor) của anh
ta” Cùng hướng với các tác giả trên, năm 1989, Katie Wales trong “Từ điển phong cách học” quan niệm, “tone” “được dùng với nghĩa một phẩm chất âm
thanh đặc biệt nào đó có liên quan đến những xúc cảm hoặc tình cảm đặc biệt nào đó” [2]
Khrapchenko trong “Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự phát triển của
văn học”, khi bàn về giọng điệu nghệ thuật lại cắt nghĩa theo một phạm vi rất
rộng: “Giọng điệu, hiểu theo nghĩa rộng cuả từ đó không phải chỉ là màu sắc
xúc cảm của thiên truyện hay của hành động kịch mà là một cái gì hơn thế”.
Giáo sư Trần Đình Sử trong cuốn “Thi pháp truyện Kiều” đã cho rằng:
“Giọng điệu trong văn học là một hiện tượng nghệ thuật toát ra từ bản thân
tác phẩm và một nội hàm tư tưởng thẩm mĩ …Giọng điệu văn học là hiện tượng “siêu ngôn ngữ học”, phụ thuộc vào cấu trúc nghệ thuật của tác phẩm, khuynh hướng nghệ thuật của tác giả và của thời đại Giọng điệu là biểu hiện của thái độ, cảm xúc của chủ thể đối với đời sống” Hay trong một công trình
khác, ông khẳng định “Giọng điệu là một yếu tố của hình tượng tác giả…
Giọng điệu ở đây không đơn giản là một tín hiệu âm thanh có âm sắc đặc thù
để nhận ra người nói mà là một giọng điệu mang nội dung tình cảm, thái độ ứng xử trước các hiện tượng đời sống” [54,tr.142] Có thể thấy, trong quan
Trang 18niệm của Trần Đình Sử, giọng điệu là một hiện tượng đã vượt ngoài “tầm kiểm soát” của ngôn ngữ, và được tạo nên bởi mối quan hệ giữa thái độ, cảm xúc của nhà văn với hiện thực cuộc sống Như vậy, quan niệm này không chỉ chú ý tới thái độ cảm xúc, lập trường tư tưởng, tình cảm của tác giả, mà còn chú ý tới tính chi phối của phạm vi hiện thực (đề tài) tới giọng điệu.
Theo cách khác, Lê Huy Bắc trong bài viết “Giọng và giọng điệu
trong văn xuôi hiện đại”lại không thể hiện một cách trực tiếp quan niệm của
mình, mà thông qua việc phân biệt giọng và giọng điệu để giới hạn nội hàm
của khái niệm Theo ông: “Giọng điệu là âm thanh xét ở góc độ tâm lí, biểu
hiện cái thái độ: buồn, vui, hờ hững…” Với cách giới hạn này, có thể nói Lê
Huy Bắc đã phát hiện ra bản chất của giọng điệu Tuy nhiên nó chưa là một khái niệm đầy đủ
Trong chuyên luận “Giọng điệu trong thơ trữ tình”, tác giả Nguyễn Đăng Điệp đã có sự nghiên cứu khá kĩ càng về giọng điệu trong văn học Tác giả đã bày tỏ khá rõ nét quan niệm về vấn đề này Nguyễn Đăng Điệp cho
rằng: “Giọng điệu biểu thị thái độ, cảm xúc, tư thế của chủ thể phát ngôn qua
lời văn nghệ thuật Không thể có giọng điệu nếu không có những rung động sâu sắc, những nỗi đau, những xót xa trước thân phận con người, không sẻ chia với họ niềm vui và tình yêu cuộc sống”
Như vậy, tuy chưa hoàn toàn thống nhất với nhau, nhưng các nhà phê bình, nghiên cứu đều ít nhiều có sự gặp gỡ nhau ở khía cạnh này hay khía cạnh khác trong quan niệm về giọng điệu Từ các quan niệm, nhận thấy giọng điệu đã được nhìn nhận chủ yếu theo khuynh hướng: Giọng điệu là biểu hiện của lập trường, tư tưởng, thái độ của nhà văn với hiện thực cuộc sống
1.2 Định nghĩa về giọng điệu
Từ điển thuật ngữ văn học, mục từ "Giọng điệu": " Thái độ, tình
cảm, lập trường tư tưởng, đạo đức của nhà văn đối với đối tượng được miêu
Trang 19tả thể hiện trong lời văn qui định cách xưng hô, gọi tên, dùng từ, sắc điệu tình cảm, cách cảm thụ xa gần, thân sơ, thành kính hay suồng sã, ngợi ca hay châm biếm ( ) giọng điệu phản ánh lập trường xã hội, thái độ tình cảm và thị hiếu thẩm mỹ của tác giả, có vai trò rất lớn trong việc tạo nên phong cách nhà văn và tác dụng truyền cảm cho người đọc Thiếu một giọng điệu nhất định, nhà văn chưa thể viết ra một tác phẩm, mặc dù đã có đủ tài liệu và sắp xếp trong hệ thống nhân vật Không nên lẫn lộn giữa giọng điệu và ngữ điệu
là phương tiện biểu hiện của lời nói, thể hiện qua cách lên giọng, xuống giọng, nhấn mạnh, nhịp điệu Giọng điệu là một phạm trù thẩm mỹ của tác phẩm văn học Nó đòi hỏi người trần thuật, kể chuyện hay nhà thơ trữ tình phải có khẩu khí, có giọng điệu Giọng điệu trong tác phẩm gắn với cái giọng điệu " Trời phú" của một tác giả, nhưng mang nội dung khái quát nghệ thuật, phù hợp với đối tượng thể hiện Giọng điệu trong tác phẩm thường đa dạng
có nhiều sắc thái trên cơ sở một giọng điệu cơ bản, chủ đạo, chứ không đơn điệu [25, tr.134].
Như vậy, xét về mọi phương diện thì khái niệm trên đây là tương đối hoàn chỉnh, có thể bao quát mọi khía cạnh của giọng điệu Chúng tôi chấp nhận khái niệm này như một lý thuyết công cụ để soi sáng cho sự nghiên cứu của mình
Tuy nhiên, để tránh có thể có cách hiểu lệch lạc về giọng điệu, chúng tôi thấy cần có sự phân biệt khái niệm này với một số khái niệm gần gũi với nó
Trước hết cần thấy rằng, giọng điệu khác với giọng Giọng là âm thanh,
là “chất giọng” mang tính vật lý, là cái mà mỗi người đều được thừa hưởng một cách bẩm sinh Giọng mang đầy đủ những đặc tính của âm thanh như có cường độ, trường độ, cách phối âm… còn giọng điệu cũng có bản chất là âm thanh, nhưng được nhìn nhận từ góc độ tâm lý và thể hiện thái độ, tình cảm của con người
Trang 20Giọng điệu cũng khác với ngữ điệu Tuy cả hai khái niệm này cũng có cùng một phương diện biểu hiện là âm thanh, nhưng chúng lại thuộc hai lĩnh vực khác nhau Ngữ điệu thuộc phạm vi của ngôn ngữ học, là hiện tượng của
cơ và nó có các chức năng biểu cảm Còn giọng điệu lại là hiện tượng “siêu ngôn ngữ”, thuộc phạm vi của lý luận văn học, nó phụ thuộc vào cấu trúc nghệ thuật của tác phẩm, khuynh hướng nghệ thuật của tác giả và của thời đại
1.3 Cơ sở hình thành giọng điệu
Tìm hiểu giọng điệu trong văn chương, có một vấn đề khiến chúng ta không thể không quan tâm, đó chính là cơ sở tạo nên giọng điệu Đây chính là những cơ sở chủ quan và khách quan tác động đến sự sáng tạo của nhà văn khi hình thành giọng điệu
1.3.1 Đề tài và cảm hứng chủ đạo của nhà văn trong sáng tác
“Đề tài là một trong những phương diện của nội dung tác phẩm, nó chỉ phạm vi hiện thực cụ thể đã được nhà văn nhận thức, lựa chọn và phản ánh trong tác phẩm” [11, tr.116], hay nói như G.N Pospelov: “Đề tài là cơ sở của
sự nhận thức, nói cách khác là đối tượng của sự nhận thức” [53, tr.98]
Mỗi tác phẩm văn học bao giờ cũng có ít nhất một đề tài, thậm chí có những tác phẩm chứa nhiều đề tài Đề tài là một khái niệm về loại của hiện tượng đời sống được miêu tả Có bao nhiêu loại hiện tượng đời sống, có bấy nhiêu đề tài trong văn học Đề tài mang tính khách quan nhưng cũng thể hiện dấu ấn chủ quan của người cầm bút Việc nhà văn lựa chọn đề tài này, chứ không phải đề tài khác đã cho thấy khuynh hướng lập trường tư tưởng của nhà văn
Mỗi nền văn học, thậm chí mỗi giai đoạn văn học đều có những đề tài trung tâm Đó chính là mảng hiện thực tập hợp những sự kiện, những hiện tượng, những diễn biến quan trọng nhất của đời sống xã hội
Trang 21Đề tài là một trong những cơ sở quan trọng để hình thành nên giọng điệu của nhà văn trong tác phẩm Trước mỗi phạm vi hiện thực khác nhau, nhà văn cần có những giọng điệu tương ứng Khi tái hiện hiện thực, nhà văn phải căn cứ vào hiện thực đó để có những giọng điệu phù hợp Theo Nguyễn
Đăng Điệp: “Cảnh mùa thu khác cảnh mùa xuân, người Nông dân các người
Tri thức Miêu tả và tái hiện hiện thực nào, giọng điệu phải phù hợp với đối tượng ấy” [12,tr.57]
“Cảm hứng vốn là lớp nội dung đặc thù của tác phẩm văn học”
[46, tr.268] Trong tác phẩm văn học, cảm hứng là sự say mê khẳng định những chân lý, lý tưởng, là thái độ phủ định những gì xấu xa, giả dối, những cái tiêu cực, là thái độ ngợi ca, đồng tình với nhân vật chính diện, là sự phê phán những thế lực đen tối, các hiện tượng tầm thường Theo G.N Poxpelop
trong Dẫn luận nghiên cứu văn học: “Cảm hứng để chỉ trọng thái phấn hứng
cao độ của nhà văn do việc chiếm lĩnh bản chất cuộc sống mà họ miêu tả Sự chiếm lĩnh ấy bao giờ cũng bắt nguồn từ lý tưởng xã hội của nhà văn nhằm phát triển và cải tạo thực tại.”Cảm hứng không phải là những phút ngẫu
hứng nhất thời có tính bột phát mà nó là cả một trạng thái, một quá trình của
sự phát triển tình cảm, cảm xúc của nhà văn Và tình cảm, cảm xúc ấy phải gắn với một lý tưởng nhất định
Như thế, cảm hứng không phải là những tình cảm, cảm xúc, những lý tưởng tầm thường mà là những tình cảm mạnh mẽ mang tư tưởng, là một ham muốn tích cực đưa đến hành động Đó có thể là những tình cảm xã hội mang tính thời đại
Mỗi tác giả, thậm chí là mỗi tác phẩm lại có những cảm hứng chủ đạo
riêng Từ điển thuật ngữ văn học quan niệm, cảm hứng chủ đạo là: “Trạng
thái tình cảm mãnh liệt, say đắm, xuyên suốt tác phẩm nghệ thuật, gắn liền với một tư tưởng xác định, một sự đánh giá nhất định, gây tác động đến cảm
Trang 22xúc của người tiếp nhận tác phẩm”[25, tr.44] Trong dòng chảy tình cảm đa
dạng, phong phú có tính chất phức hợp của tác phẩm, cảm hứng chủ đạo như một chủ âm Cũng có khi, có cả một hệ thống những cảm hứng xuyên thấm, đan xen, nhưng bao giờ cũng có một cảm hứng giữ vai trò chủ đạo như “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt từ đầu đến cuối tác phẩm
Cảm hứng trong tác phẩm văn học được biểu hiện rất tinh vi Nó chủ yếu khơi gợi, gợi mở chứ không phải biểu hiện thẳng tuột, một chiều Nó quyện hòa, nhuần nhuyễn trong từng yếu tố của tác phẩm Nó toát ra từ lời văn nghệ thuật, từ tình huống, từ nhân vật… và cảm hứng phải thật sự mãnh liệt mới có đủ sức để chinh phục người đọc, mới trở thành một thứ “năng lượng” tinh thần được dồn nén chỉ chực bùng phát trước người đọc
Như trên đã nói, cảm hứng được thể hiện rất tinh vi trong từng tác phẩm, trong đó có giọng điệu Vì vậy, có thể khẳng định, cảm hứng và giọng điệu có một mối liên hệ mật thiết, mang tính chất biện chứng Mối liên hệ này đã được
Khrapchenko khẳng định: “Những đặc tính cơ bản của giọng điệu trong tác
phẩm nghệ thuật của nhà văn, sự ưu tiên của phong cách cũng có liên quan mật thiết với cảm hứng chủ đạo trong sáng tác của nhà văn” [26, tr.172].
Mối liên hệ giữa cảm hứng chủ đạo và giọng điệu có thể hiểu như là sự tương ứng giữa chúng Nhà nghiên cứu Hoàng Ngọc Hiến đã phát biểu trong
bài viết Giọng điệu văn chương: “Cảm hứng nào, giọng điệu ấy nhưng cũng
có thể ngược lại, giọng điệu định hướng hình thành cảm hứng” Vậy có thể
hiểu, cảm hứng chính là nguồn gốc, là nguyên do sinh ra giọng điệu Với cảm hứng này, tất có giọng điệu này, với cảm hứng kia, tất có giọng điệu kia Nói một cách khác, cảm hứng chủ đạo thường có tính quy định giọng điệu của tác phẩm Ví như cảm hứng yêu nước thường đi với giọng điệu ngợi ca, tự hào; cảm hứng hiện thực phê phán thường đi với giọng điệu châm biếm, trào lộng,
đả kích; cảm hứng lãng mạn thường có giọng điệu trữ tình Cảm hứng cao cả
Trang 23thì giọng điệu cao cả, theo đó nhà văn sẽ có cách sử dụng từ ngữ cho phù hợp Như thế giọng điệu chính là sự cụ thể hóa của cảm hứng giọng điệu mờ nhạt, rời rạc sẽ không thể hiện rõ tính chất cảm hứng của nhà văn Nếu nhà văn biết kết hợp hài hòa hai yếu tố này, có nghĩa là ông ta bước đầu tạo nên dấu ấn cho phong cách của mình.
Giọng điệu vốn được coi là yếu tố khó nắm bắt Song với sự phân tích trên đây chúng tôi cho rằng sẽ không quá khó khăn nếu chúng ta căn cứ vào cảm hứng chủ đạo trong sáng tác của nhà văn hay của tác phẩm để “bắt trúng” giọng điệu
1.3.2 Cái nhìn nghệ thuật của tác giả
Theo Giáo sư Trần Đình Sử: “Cái nhìn nghệ thuật là một năng lực tinh
thần đặc biệt của con người, nó có thể thâm nhập vào sự vật, bảo lưu sự toàn vẹn thẩm mỹ của sự vật Do đó cái nhìn được vận dụng muôn vẻ trong nghệ thuật” [54, tr.139] Mỗi nhà văn luôn có cái nhìn nghệ thuật độc đáo với hiện
thực cuộc sống Cái nhìn được thực hiện thông qua những tri giác, cảm giác
và sự quan sát của tác giả Đó có thể là cái nhìn bao quát hay bộ phận Nó luôn xuất phát từ một tác giả cụ thể mang đạm dấu ấn cá nhân, thị hiếu thẩm
mỹ và thái độ của tác giả ấy Do vậy cái nhìn nghệ thuật luôn cho thấy chiều sâu tư tưởng và sự sáng tạo của người nghệ sỹ
Cái nhìn nghệ thuật có hai phương diện, một là điểm nhìn của người trần thuật và nhân vật, hai là cái nhìn trong khách thể Nó được thể hiện trong chi tiết nghệ thuật của tác phẩm Tìm hiểu chi tiết nghệ thuật của tác phẩm ta
đã tiếp cận với cái nhìn nghệ thuật của nhà văn, tức là đã bước vào phạm vi ý
thức của họ “Cái nhìn của nhà văn càng tinh bao nhiêu thì anh ta càng thâm
nhập sâu vào thực chất của sự vật, những khái quát sự vật của anh ta, những khám phá sáng tạo của anh ta càng lớn” [26, tr.89] Mỗi nhà văn có sự tập
trung chú ý vào một khách thể khác nhau Có trường hợp, một khách thể có
Trang 24thể thu hút được sự chú ý của nhiều nhà văn, như cái nhìn của các nhà văn không bao giờ trùng lặp Ở cùng một khách thể ấy, mỗi người trong số họ lại chú ý đến một khía cạnh riêng biệt.
Cái nhìn nghệ thuật và giọng điệu có mối liên hệ mật thiết bởi cùng là
sự thể hiện của hình tượng tác giả Hình tượng tác giả được bộc lộ ở ba phương diện: cái nhìn nghệ thuật; giọng điệu và sự tự thể hiện của tác giả thành hình tượng Ba yếu tố này không tách rời mà luôn hòa quyện nhuần nhuyễn trong tác phẩm văn học
Hiện thực cuộc sống phong phú đa dạng, “nhà văn là người thư ký
trung thành của mọi thời đại” (H.Banzac) Nhưng không phải hiện thực nào
khi đi vào tác phẩm cũng được tái hiện giống nhau Theo Nguyễn Đăng Điệp:
“Ngay cả khi đứng trước một đề tài, nếu cái nhìn, thái độ của chủ thể khác nhau thì giọng điệu cũng khác nhau” [12, tr.50] Điều này giúp chúng ta lý giải hiện tượng, trên cùng một phạm vi hiện thực, với mỗi tác giả khác nhau lại có những tác phẩm khác nhau với những giọng điệu khác nhau, như vậy có thể kết luận, cái nhìn nghệ thuật nhiều chiều với cùng một phạm vi đề tài sẽ cho chúng ta những giọng điệu khác nhau
1.3.3 Cá tính sáng tạo của nhà văn
Một nền văn học, có thể ví như bầu trời sao Trên đó những ngôi sao lấp lánh có sức sống vượt thời gian chính là những nhà văn có cá tính sáng tạo
Theo Khrapchenko: “nhà văn là một cá tính sáng tạo độc lập và đi vào
quá trình văn học với đặc tính quyết định đó của mình” cũng theo ông “sự phát triểu của nghệ thuật, nhất là nghệ thuật hiện thực xã hội chủ nghĩa không tách khỏi sự thể hiện rõ nét của những cá tính sáng tạo” [26, tr.88].
Vậy thế nào là cá tính sáng tạo? Từ điển thuật ngữ văn học định
nghĩa: cá tính sáng tạo là “các đặc điểm phẩm chất toàn vẹn của một nghệ sỹ
bao gồm các mặt triết học, mỹ học, tâm lý xã hội, thị hiếu, phong cách ngôn ngữ nghệ thuật” [25, tr.25].
Trang 25Một nhà văn vĩ đại phải là người có tài năng, có những nét riêng độc đáo Cái riêng đó càng nổi bật bao nhiêu thì cá tính sáng tạo của người nghệ
sỹ càng mạnh mẽ bấy nhiêu, và theo đó đóng góp của họ càng có giá trị bấy nhiêu Tuy nhiên, độc đáo không phải chỉ là sự khác biệt so với cách thể hiện của những cá tính khác trong văn học, mà quan trọng hơn, nhà văn ấy phải góp phần làm phong phú thêm thế giới tinh thần của con người và nền văn
hóa chung của nhân loại Khrapchenko nhấn mạnh: “vai trò của cá tính sáng
tạo không chỉ được xác định bởi tính đặc thù xét trong thực chất nội tại, nó còn được xác định bởi tính đặc thù được thể hiện trong việc tạo ra những giá trị nghệ thuật có ý nghĩa chung” [26, tr.91].
Chúng ta cần loại trừ cách hiểu cho rằng, lặp lại cái tôi của nhà văn nhiều lần là sẽ có được cá tính sáng tạo Điều đó chỉ có thể tạo nên một cá
tính giả tạo, chứ không thể là một cá tính chân chính T.Sekhop cho rằng: “sự
độc đáo của tác giả không chỉ thể hiện trong phong cách, nó còn được thể hiện trong tư duy, trong quan niệm ” [26, tr.92]
Đề cao cá tính sáng tạo, không có nghĩa là chúng ta cực đoan hóa nó, biến nó trở thành chủ nghĩa cá nhân như ở một số nhà văn, họ coi sáng tác
chẳng qua là sự “khám phá ra bản thân mình, và chỉ bản thân mình mà thôi
Cái quan trọng và đáng chú ý không phải là thế giới hiện thực trong đó có con người đang sống, đáng chú ý là cái thế giới riêng biệt được tạo ra bởi người nghệ sỹ vốn không hề biết bất kỳ sự hạn chế nào trong sự du hý tụ do của trí tuệ và trí tưởng tượng” [26, tr.92] Việc nhà văn quá đề cao cái tôi,
chú trọng những tâm trạng và tình cảm cá nhân sẽ khiến họ đánh mất đi những mối liên hệ với thế giới bên ngoài Và như vậy nhà văn đã tự hủy hoại tài năng của mình
Cá tính sáng tạo không phải là một khái niệm trừu tượng biểu hiện một cách chung chung vô hình và ngược lại nó hết sức cụ thể Cá tính sáng tạo
Trang 26được biểu hiện “tập trung ở cái nhìn nghệ thuật độc đáo, ở cách cảm, cách
nghĩ của nhà văn có khả năng đề xuất những nguyên tắc, biện pháp nghệ thuật mới mẻ, tạo thành ngôn ngữ nghệ thuật trong việc biểu hiện những nội dung mới của đời sống và tư tưởng” [25, tr.25] Đánh giá một nền văn học có
thực sự lớn hay không, người ta thường làm một công việc thủ công, đó là tính đếm xem nền văn học ấy có được bao nhiêu cá tính sáng tạo vì vậy có
thể khẳng định, cá tính sáng tạo là “một hiện tượng lịch sử” [26, tr.106]
Giọng điệu là một trong những yếu tố quan trọng giúp khẳng định cá tính sáng tạo của nhà văn Một nhà văn có cá tính sáng tạo bao giờ cũng là nhà văn có một tâm hồn với những đặc điểm khá khu biệt Đó là một tâm hồn với những cá tính riêng, sở thích riêng và quan trọng hơn có những kinh nghiệm lịch sử riêng Những đặc điểm ấy tạo nên cho nhà văn những ưu thế riêng để xác định “vùng thẩm mỹ” riêng trong sáng tác Mỗi nhà văn lại có một “vùng thẩm mỹ” điều đó làm cho ta dễ hiểu mỗi nhà văn luôn có một giọng điệu chủ đạo xuyên suốt sáng tác của mình Nhiều khi trong văn học, đọc một tác phẩm, thông qua giọng điệu có thể nhận ra đó là tác phẩm của
nhà văn nào Đúng như Turghenev đã từng phát biểu: “cái quan trọng trong
tài năng văn học… và tôi nghĩ rằng trong bất kỳ một tài năng nào, cái mà tôi muốn gọi là tiếng nói của mình Đúng thế, cái quan trọng là tiếng nói của mình, là giọng điệu riêng biệt của chính mình, không thể tìm thấy trong cổ họng bất kỳ người nào khác… muốn nói được như vậy và muốn có được cái giọng ấy thì phải có cái cổ họng được cấu tạo một cách đặc biệt, giống như của loài chim vậy Đó chính là đặc điểm phân biệt chủ yếu của một tài năng sống độc đáo” [26, tr.90]
1.4 Giọng điệu nhƣ một yếu tố tích cực thể hiện phong cách nghệ thuật của nhà văn
Không phải là không có lý khi Khrapchenko cho rằng: “là một yếu tố
cấu thành của tác phẩm nghệ thuật, của sáng tác, của nhà văn nói chung,
Trang 27phong cách nghệ thuật là một hệ thống phức tạp Trong hệ thống đó trước hết cần phải chú ý đến sự tổng hợp của những phương tiện giọng điệu”
[26, tr.167] Như vậy, giọng điệu là yếu tố hang đầu thể hiện phong cách nghệ thuật của nhà văn
Phong cách, theo giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh là một “phạm trù thẩm
mỹ…nhà văn phải thực sự có tài năng, phải thật sự sáng tạo ra những tác phẩm có giá trị nghệ thuật cao mới được coi là nhà văn có phong cách… Mỗi nhà văn có phong cách tạo ra cho mình một thế giới nghệ thuật riêng Thế giới nghệ thuật ấy, dù phong phú đa dạng thế nào, vẫn có tính thống nhất… phong cách bao gồm những đặc điểm độc đáo của các tác phẩm của một nhà văn từ nội dung đến hình thức” [49, tr.8]
Dấu ấn phong cách trong giọng điệu chính là “chất riêng” độc đáo,
không thể lẫn của mỗi nhà văn, nói như Turghenev là “không thể tìm thấy
trong cổ họng của bất kỳ người nào khác” [26,tr.90] Cái chất riêng ấy quy tụ
lại ở giọng điệu đặc trưng thường thấy ở nhà văn, nó thường được biểu hiện ở giọng điệu chủ đạo xuyên suốt sáng tác của nhà văn ấy Tại sao giọng điệu là yếu tố hang đầu thể hiện phong cách nghệ thuật của nhà văn? Có thể lý giải
theo cách của Khrapchenko trong Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự phát
triển của văn học: “Do chỗ giọng điệu gắn liền với việc dùng hình tượng để
miêu tả đối tượng của sáng tác, cho nên nó có đặc điểm của cách nhìn nhận riêng của cá nhân đối với đời sống.
Tiểu kết:
Từ những phân tích có tính chất lí thuyết trên đây, chúng tôi có thể rút
ra những kết luận khái quát như sau:
Thứ nhất: Từ lâu, các nhà nghiên cứu, phê bình đã thấy được tầm quan
trọng của giọng điệu Nó được coi như một cơ sở quan trọng để nhận diên lập
Trang 28trường, tư tưởng… thái độ của nhà văn, một tiêu chí tin cậy để khảo sát mức
độ thành công của tác phẩm
Thứ hai: Khái niệm giọng điệu đã được nhiều nhà nghiên cứu phát
biểu, nhưng nó vẫn trong quá trình hoàn thiện Tuy nhiên, khái niệm được
đưa vào Từ điển văn học được coi là hoàn chỉnh hơn cả.
Thứ ba: Giọng điệu được hình thành trên cơ sở của nhiều yếu tố Song
có thể kể đến các yếu tố cơ bản sau: Cảm hứng chủ đạo của nhà văn trong sáng tác; cái nhìn nghệ thuật của tác giả và phạm vi hiện thực được phản ánh trong tác phẩm; cá tính sáng tạo của nhà văn
Thứ tư: Giọng điệu là một trong những yếu tố quan trọng góp phần tạo
nên phong cách nghệ thuật độc đáo của nhà văn trong sáng tác
Trang 29Chương 2 GIỌNG ĐIỆU TRUYỆN NGẮN NGUYỄN QUANG SÁNG
TRƯỚC NĂM 1975
2.1 Cơ sở hình thành
2.1.1 Đề tài chiến tranh
Lịch sử của Việt Nam là lịch sử của đấu tranh dựng nước và giữ nước
Từ trong quá khứ dân tộc Việt đã không ít lần làm nên những cuộc đấu tranh thần thánh để giữ vững non sông, gấm vóc của mình Chính chất hào hùng đó
đã làm nên chất sử thi, làm nên nguồn cảm hứng vô tận cho văn nghệ sỹ mọi thời đại Có thể nói văn học chiến tranh đã trở thành di sản của dân tộc
Đặc biệt qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, văn học Việt về đề tài chiến tranh là một mảng quan trọng của văn học cách mạng, làm nên diện mạo chủ yếu của Văn học Việt Nam hiện đại Đội ngũ sáng tác
về đề tài chiến tranh kể mãi không hết như: Thâm Tâm, Quang Dũng, Nguyễn Đình Thi, Chính Hữu, Vũ Cao, Nguyễn Khải, Hồ Phương, Nguyên Ngọc, Anh Đức… cùng những sáng tác xuất sắc về đề tài chiến tranh như: Tây Tiến, Màu tím hoa sim, Đất nước đứng lên, Hòn đất, Mẫn và tôi
Trong dòng chảy tưởng chừng như vô tận ấy sẽ thật thiếu sót nếu không
nhắc đến Nguyễn Quang Sáng với Chiếc lược ngà, Chị xã đội trưởng, Quán
rượu người câm… Nguyễn Quang Sáng đến với chiến tranh và viết về Chiến
tranh theo một cách riêng “trong hơi văn của Nguyễn Quang Sáng, nó sục lên
mùi vị của sông nước Tháp mười, kể cả chất đậm đặc không thể trộn lẫn”.
Đúng như vậy, Nguyễn Quang Sáng viết về chiến tranh không phải là cảm thức của người đứng bên lề, mà nhà văn viết với tâm thế của người đứng trong cuộc Tháng tư năm 1946, 14 tuổi đi bộ đội làm giao niên, suốt 9 năm đánh Pháp ông đi khắp chiến trường, sông rạch miền Tây Nam Bộ Nếu có
Trang 30chút năng khiếu văn chương ấn dấu kín đáo chưa hề được bộc lộ thì chính là cuộc sống trong kháng chiến đã khơi dậy cho ông Năm 1952, ông bắt đầu viết tiểu thuyết, viết về làng, về những con người yêu thương trong gia đình, hàng xóm và bạn bè 11 năm sau (1963) tác phẩm đầu tay ấy ra đời Tiểu
thuyết mang tên Đất lửa mở màn cho một loạt những tác phẩm về đề tài chiến tranh của nhà văn: Chiếc lược ngà, Câu chuyện bên trận địa pháo, Bông cẩm
lính…) Phân chia như vậy chỉ có ý nghĩa về hình thức vì thực chất những đề
tài này được Nguyễn Quang Sáng khéo léo lồng ghép đan cài, vì thế có thể trong cùng một tác phẩm chúng ta có thể thấy nhiều đề tài
Nhân vật chính trong tác phẩm viết về đề tài chiến tranh của Nguyễn Quang Sáng là những người dân Nam Bộ mộc mạc giản dị nhưng yêu nước nồng nàn, nhân vật của ông giống như “họ sống và chiến đấu, giản dị và bình
tâm” (Trường ca mặt đường khát vọng – Nguyễn Khoa Điềm) Viết về đề tài
chiến tranh tâm thế của Nguyễn Quang Sáng cũng như hầu hết các tác giải cùng thời, đó là luôn nhìn cuộc chiến tranh vệ quốc của dân tộc bằng cái nhìn
sử thi, ít nhiều thi vị hóa Vì vậy nhà văn luôn đặt nhân vật của mình vào những môi trường và hoàn cảnh có thể phát huy tối đa những phẩm chất tốt đẹp Dù ở hoàn cảnh nào thì ở họ, Nguyễn Quang Sáng cũng phát hiện được những điểm chung: lòng yêu quê hương thiết tha, lòng căm thù giặc mãnh liệt
Trang 31Điều dễ nhận thấy và tạo nên khác biệt là những điều lớn lao ấy được thể hiện một cách mộc mạc, dung dị, đời thường.
Đề tài chiến tranh trong truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng trước năm
1975 vừa lạ vừa quen Quen ở đề tài, ở hình ảnh con người Việt Nam trong kháng chiến, bởi đây là cuộc kháng chiến trường kỳ, kháng chiến toàn dân Lạ bởi kháng chiến trong tác phẩm của ông qua các nhân vật: Năm Hạng, Tư Quắn, Bảy Ngàn, qua các yếu tố kỳ diệu như Chiếc lược, như bông cẩm thạch trở thành cái vốn có giữa khói lửa chiến tranh Những yếu tố kỳ diệu đó như chất thơ, chất anh hùng tràn đầy trong cuộc sống Trên trang văn Nguyễn Quang Sáng không dụng công với kỹ thuật trên mỗi trang văn mà viết văn tự nhiên như lối ăn, lối nói hàng ngày Vì thế trong truyện ngắn của ông luôn lôi cuốn hấp dẫn kỳ lạ
Sau 1975, Nguyễn Quang Sáng có mảng tác phẩm tiếp tục triển khai đề tài chiến tranh, nhưng những tác phẩm sau này được viết theo bút pháp hoàn toàn khác Nếu như trước năm 1975 số phận con người được đặt hoàn toàn trong chiến tranh và được nhìn bằng cái nhìn sử thi thì sau chiến tranh số phận của họ được nhìn bằng con mắt hiện thực và được đặt cả trong thời chiến lẫn thời bình Họ không còn là những anh hùng dũng sĩ nữa mà là những con người bình thường với số phận cá nhân
Như vậy, hầu như những sáng tác của Nguyên Quang Sáng trước năm
1975 đều bám sát đề tài chiến tranh Giữa cái ác liệt của chiến tranh, của mất mát, hi sinh, mẹ đợi con, vợ đợi chồng trong biệt ly không hẹn ngày về Nguyễn Quang Sáng đã khắc họa lên những hình tượng nhân văn cao cả về tình cha con thiêng liêng, về sự sống bất diệt giữa bốn bề cái chết bủa vây Chính điều này đã giúp tác phẩm của nhà văn hòa vào dòng chảy chung của văn học dân tộc
Trang 322.1.2 Cảm hứng chủ đạo
Cách mạng tháng Tám thành công là “cuộc tái sinh mầu nhiệm” đã mở
ra bước ngoặt lớn cho quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân ta Đồng thời nó cũng là động lực để tạo nên một cuộc cách mạng trong văn hóa
Đó là sự thay đổi của một cách nhìn, một cách cảm, một quan niệm sống trong sáng tạo nghệ thuật Từ năm 1945 trở đi những người cầm bút trong đó
có Nguyễn Quang Sáng đã có ý thức sâu sắc về trách nhiệm trong những sáng tác của mình là phải phụng sự cho đất nước, các tác phẩm cần tập trung đến các vấn đề thời sự, liên quan đến vận mệnh dân tộc, tạo dựng và ca ngợi những con người của thời đại đã sống và phục vụ cho Tổ quốc Chính vì vậy
mà văn học giai đoạn 1945 - 1975 nói chung và tác phẩm của Nguyễn Quang Sáng trong giai đoạn này nói riêng, mang đậm khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn
Là một người lính cầm bút, Nguyễn Quang Sáng cũng không nằm ngoài quỹ đạo đó Các sáng tác của ông thời kì này thấm đẫm khuynh hướng
sử thi và cảm hứng lãng mạn
2.1.2.1 Cảm hứng sử thi
Cảm hứng sử thi được hiểu là những tình cảm, cảm xúc tự hào, ngợi ca của tác giả về những vấn đề lớn lao quyết định vận mệnh chung của cộng đồng Đây là cảm hứng chi phối mạnh mẽ đến các sáng tác của các nhà văn trong kháng chiến, đặc biệt là kháng chiến chống Mĩ Tác phẩm viết theo khuynh hướng sử thi là tác phẩm đề cập đến đề tài có ý nghĩa lịch sử và mang tính dân tộc Nhân vật chính là những người tiêu biểu cho lí tưởng và phẩm chất cộng đồng, chiến đấu vì cộng đồng
Cảm hứng sử thi trong sáng tác của Nguyễn Quang Sáng trước 1975 biểu hiện cụ thể như sau: Cảm hứng sử thi trong việc lựa chọn đề tài, chủ đề,
tư tưởng của tác phẩm Tác phẩm thường đề cập đến những vấn đề chung của
Trang 33cộng đồng, của xã hội, của đất nước, Vi như cuộc đấu tranh của nhân dân
Nam Bộ trong các tác phẩm: Quán rượu người câm, Chị xã đội trưởng,…;
Cảm hứng sử thi biểu hiện trong việc xây dựng hình tượng nhân vật: các nhân vật, hình tượng trong tác phẩm mang cảm hứng sử thi, dù là những con người bình dị, thuộc nhiều tấng lớp, lứa tuổi, thành phần dân tộc,… đều mang trong mình những phẩm chất anh hùng, thể hiện tầm vóc lớn lao, kết tụ sức mạnh, ý chí chung của cả cộng đồng Đó là anh Ba Hoành trong “Quán rượu người câm”, là Dung trong “Chị xã đội trưởng”, là Thu trong “Chiếc lược ngà”… Bắng cảm hứng ngợi ca, tự hào, nhà văn đặt nhân vật trong những hoàn cảnh ngặt nghèo để tôn lên tầm vóc của nhân vật
Cảm hứng sử thi trong truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng qua đề tài, qua nhân vật vừa mang tính cộng đồng, dân tộc lớn lao nhưng cũng rất đời thường như cuộc sống, như cái vốn có vậy
2.1.2.2 Cảm hứng lãng mạn
Cảm hứng sử thi là đặc điểm bao trùm trong sáng tác của Nguyễn Quang Sáng trước 1975, đi cùng với đó là cảm hứng lãng mạn, thấm nhuần tinh thần lạc quan chiến thắng
Cảm hứng lãng mạn đó là cách nhìn thế giới mang đậm dấu ấn chủ quan, đầy mơ ước Có khi đó là sự mơ ước bay bổng hướng tới cái chưa có trong thực tế bằng niềm lạc quan Có khi đó là sự rung động về lí tưởng cao đẹp, khát vọng lớn lao của những người con có chí hướng, hoài bão cao cả…Văn học 1945-1975 đã thể hiện được những cảm xúc lãng mạn tích cực
đó Hiện thực chiến tranh khốc liệt, phải đương đầu với hai kẻ thù hùng mạnh, phải “dọn tí phân rơi, nhặt từng ngọn lá” để “dựng cơ đồ” (Tố Hữu) Con người muốn đứng vững, vượt qua hiện thực ấy cần phải có niềm tin và tâm hồn lãng mạn
Trang 34Trước hết, cảm hứng lãng mạn thể hiện thông qua việc Nguyễn Quang Sáng xây dựng những hình tượng nhân vật lí tưởng Đó là những chàng trai,
cô gái tuổi đời còn rât trẻ, trong sáng hồn nhiên, nhưng ở họ có một lòng yêu nước tha thiết, một tinh thần chiến đấu anh dũng quả cảm Họ sẵn sàng hi sinh tính mạng, tuổi trẻ vì Tổ quốc Đó là Dung (Chị xã đội trưởng), là chị Bảy (Người đàn bà Tháp Mười), Dường như chưa bao giờ chúng ta thấy trong văn học một không khí sục sôi hêt mình vì tư cách công dân đến vậy
Viết bằng cảm hứng lãng mạn, ngợi ca, Nguyễn Sáng luôn để cho hướng vận động của cốt truyện, của mạch văn, của số phận nhân vật đi từ bóng tối ra ánh sáng, từ gian khổ đến niềm vui, từ hiện tại đến tương lai đầy
hứa hẹn trong Quán rượu người câm là sự vận động của số phận nhân vật đi
từ bóng tối của kìm kẹp, tù đày, lao khổ ra ánh sáng của niềm tin, của chiến
thắng; Bông cẩm thạch là sự đau khổ của mất niềm tin, nghi ngờ, thù hận đến
hạnh phúc, sung sướng khi tìm lại được niềm tin, hạnh phúc…
Cảm hứng lãng mạn cách mạng còn ở cách xây dựng tính cách của nhân vật Nhân vật trong truyện ngắn của Nguyễn Quang Sáng có đặc điểm chung là lạc quan, yêu đời tràn đầy hi vọng ở tương lai Nhà văn Nguyễn
Sáng từng nói: “Càng đến những nơi bom đạn ác liệt, thì con người ở những
nơi đó càng tươi trẻ, lạc quan” [43,759].Chính sự tươi trẻ lạc quan là sức
mạnh tinh thần to lớn nâng đỡ con người vượt qua mọi khổ đau của bản thân,
sự khắc nghiệt của khói lửa chiến tranh để hòa vào dòng thác cách mạng Như
cô giao liên Thu (Chiếc lược ngà) mang một vẻ đẹp giản dị, thanh khiết đối
lập với bối cảnh chiến tranh khói lửa, bom đạn và bóng đen thần chết luôn rình rập xung quanh Trong suốt chuyến đi với sự chứng kiến của người kể, nhân vật đã thể hiện được những phẩm chất, tính cách cao đẹp của mình Vẻ đẹp của Thu được tác giả tập trung miêu tả sau khi Thu chặn định, vừa bước
ra khỏi khói lửa chiến tranh hiểm nguy mà “mặt cứ phơi phới” Tác giả chỉ
Trang 35miêu tả một chi tiết ngoại hình qua khuôn mặt phơi phới để nói nên tính cách lạc quan của cô giao liên, bên cạnh tính cách thông minh, dũng cảm, bình tĩnh của cô.
Nhân vật Dung (Chị xã đội trưởng) dũng cảm và rắc rối nhưng khuôn
mặt luôn nở nụ cười Chị nhìn cây bá đỏ “mỉm cười một mình”; chị gặp gỡ mọi người “cười mỉm mỉm một mình”; trao lá thư cho người yêu “chị bỗng
cười một mình”; bắt gặp hoa ô môi đỏ thắm “chị reo lên mừng rỡ”
Như vậy, có thể nói cảm hứng bao trùm sáng tác của Nguyễn Quang Sáng trước 1975 là cảm hứng lãng mạn cách mạng Cảm hứng này đã chi phối nghệ thuật xây dựng hình tượng nhân vật, cách kết cấu tác phẩm khiến cho mỗi truyện của ông luôn gieo vào lòng độc giả niềm tin, sự hi vọng vào tương lai tất thắng của dân tộc Đó là biểu hiện của lòng yêu nước lớn lao và sâu sắc
Khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn làm cho tác phẩm của Nguyễn Quang Sáng thấm nhuần tinh thần lạc quan và đáp ứng được nhu cầu phẩn ánh hiện thực đời sống trong quá trình vận động và phát triển của cách mạng Suốt mấy chục năm văn học luôn là tiếng kèn xung trận, tiếng trống thúc quân góp phần làm nên chiến thắng vẻ vang của dân tộc trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ cứu nước
2.2 Những giọng điệu chính trong truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng trước năm 1975
Chúng ta không thể phủ nhận một điều rằng: giọng điệu vốn là một phạm trù thuộc lĩnh vực hình thức của tác phẩm của văn học Nhưng hình thức bao giờ cũng mang tính nội dung, là sự đồng hóa chất liệu bằng nội
dung Khrapchenko trong “Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự phát triển
văn học” cho rằng: “đề tài, tư tưởng, hình tượng chỉ được thể hiện trong một
môi trường giọng điệu nhất định, trong một phạm vi của một thái độ, cảm xúc nhất định Đối với đối tượng sáng tác đối với những mặt khác nhau của nó”.
Trang 36Như vậy, nghiên cứu về giọng điệu trong truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng không đơn thuần chúng ta chỉ tìm hiểu một phương diện của hình thức
mà thông qua hình thức đã bắt đầu khám phá phần nào những giá trị nội dụng
trong sáng tác của nhà văn Như trên đã nói Giọng điệu trong tác phẩm có giá
trị đa dạng, có nhiều sắc thái trên cơ sở một giọng điệu cơ bản, chủ đạo chứ không đơn điệu” Đồng thời trong sáng tạo nghệ thuật, “hiệu suất của lối kể chuyện, của hành động kịch, của lời lẽ trữ tình trước hết thể hiện ở giọng điệu chủ yếu” [34, tr.294] Đối với tác phẩm văn học giọng điệu nghệ thuật không
chỉ là yếu tố hàng đầu của phong cách nhà văn, là phương tiện biểu hiện quan trọng của tác phẩm mà còn là yếu tố có vai trò thống nhất mọi yếu tố khác của
hình thức tác phẩm vào một chính thể “thiếu một giọng điệu nhất định, nhà
văn chưa thể viết ra được một tác phẩm, mặc dù đã có đủ tài liệu và sắp xếp cho hệ thống nhân vật” [13, tr.91] Hơn nữa giọng điệu ở đây không phải là
một tín hiệu âm thanh có âm sắc đặc thù để nhận ra người nói mà là một hiện tượng “siêu ngôn ngữ, phụ thuộc vào cấu trúc nghệ thuật của tác phẩm, khuynh hướng của tác giả và thời đại
Vì vậy, trong sáng tác mỗi nhà văn thường có một giọng điệu riêng khiến ta khi đọc văn của họ dễ dàng nhận ra dáng vẻ và cốt cách riêng của mỗi người: Nguyễn Công Hoan thì dí dỏm trào phúng, Thạch Lam thì nhẹ nhàng, mượt mà, đằm thắm và sâu lắng… còn Nguyễn Quang Sáng, nhà văn xuất sắc của văn xuôi thời kỳ hiện đại, đặc biệt là thời kỳ kháng chiến chống
Mĩ Ông đã tạo ra cho mình một giọng điệu riêng đó là giọng điệu sử thi hào hùng, đan xen giọng chiêm nghiệm, triết lý hay cảm thông, thương xót khác với giọng điệu đằm thắm thiết tha trữ tình của Anh Đức; giọng tâm tình hòa lẫn dân gian của Nguyễn Thi
2.2.1 Giọng điệu sử thi, hào hùng
Trong giai đoạn 1954 - 1975, vận mệnh của Tổ quốc đang đứng trước những thử thách gay gắt, cả dân tộc muôn người như một sát cánh trong cuộc
Trang 37chiến đấu vì lí tưởng chung là độc lập tự do và thống nhất Tổ quốc Nền văn học của giai đoạn lịch sử ấy không thể là tiếng nói của những số phận cá nhân
mà phải là tiếng nói của cả cộng đồng dân tộc và nhân dân Những chủ đề bao trùm trong nền văn học giai đoạn ấy là những vấn đề về vận mệnh của cộng đồng, hiện thực mà văn học phản ánh là hiện thực lịch sử dân tộc, nhân vật tiêu biểu nhất là người anh hùng đại diện cho sức mạnh và phẩm chất của dân tộc, giai cấp, cho thời đại và nhà văn cũng là người phát ngôn cho tư tưởng, lập trường, tình cảm, quan niệm của cộng đồng, nhân danh cộng đồng mà ca ngợi và lên án, kêu gọi và cổ vũ Đó là một nền văn học theo khuynh hướng
sử thi, nó tiếp cận và phản ánh thực tại từ quan điểm sử thi Nền văn học ấy
đã sáng tạo một thế giới nghệ thuật, bao gồm cả bức tranh đời sống và những hình tượng con người - mang một vẻ đẹp riêng, đậm màu sắc sử thi và chất lãng mạn
Khuynh hướng sử thi đã chi phối hầu khắp các sáng tác thuộc đủ mọi thể loại Nó không chỉ thể hiện trong tiểu thuyết mà còn ở truyện ngắn và kí Khuynh hướng sử thi đã hình thành từ những bước khởi đầu của nền văn học mới sau Cách mạng tháng Tám, nhưng từ những năm cuối cuộc kháng chiến chống Pháp và nhất là trong thời kỳ chống Mỹ, khuynh hướng ấy càng phát triển mạnh mẽ và bao trùm cả nền văn học
Khuynh hướng sử thi chi phối từ việc lựa chọn đề tài, chủ đề đến việc xây dựng hình tượng nhân vật và chi phối cả đặc điểm kết cấu tác phẩm, nghệ thuật trần thuật trong văn xuôi Văn học theo khuynh hướng sử thi cũng tất yếu tìm đến những phương thức nghệ thuật phù hợp với nội dung sử thi, đồng thời cũng tạo nên giọng điệu đặc trưng là giọng ngợi ca, trang trọng
Và giọng điệu sử thi, hào hùng cũng là “giọng nền” chủ đạo ở những truyện ngắn sáng tác trước năm 1975 của nhà văn Nguyễn Quang Sáng Nguyễn Quang Sáng chủ yếu tập trung ngợi ca vẻ đẹp tinh thần của con người
Trang 38Nam Bộ bằng cái nhìn ngưỡng mộ, say mê Những con người kiên cường anh dũng trong đấu tranh, thủy chung nhân hậu trong cuộc sống đời thường và lạc quan tràn đầy niềm tin ở tương lai Hầu hết các truyện ngắn của ông trong thời kỳ này đều tập trung khai thác cuộc sống và chiến đấu của nhân dân, đồng bào vùng đồng bằng Sông Cửu Long, đó là vùng Đồng Tháp Mười và
An Giang Cũng khai thác đề tài chiến tranh cách mạng như nhiều nhà văn khác nhưng Nguyễn Quang Sáng lại đi sâu khai thác tình cảm ruột rà, máu mủ
của tình cha con (Chiếc lược ngà ), tình mẹ con (Bông cẩm thạch), hay tình yêu đôi lứa (Chị xã đội trưởng), tình cảm vợ chồng (Tên của đứa con), tình đồng chí, đồng đội (Bạn hàng xóm) Đó là tình cảm vốn rất thiêng liêng
nhưng chiến tranh đã làm cho họ bị chia cắt
Truyện ngắn của Nguyễn Quang Sáng cũng đồng thời tập trung khai thác cuộc sống và chiến đấu của những con người rất đỗi bình thường Đó là những con người bình thường nhưng vĩ đại vì mang trong mình lý tưởng cách mạng cao đẹp, sẵn sàng xả thân vì độc lập tự do cho Tổ quốc Tất cả đều
“sống chung” với bom đạn Mỹ nhưng họ dám coi thường để vượt lên tất cả mọi nguy hiểm
Chất giọng trữ tình ngợi ca trước hết thể hiện qua việc tái hiện cuộc kháng chiến của đồng bào miền Tây Nam Bộ, đó là những câu chuyện kể về cuộc chiến chống Mỹ hào hùng mà bi tráng của nhân dân miền Nam được
Nguyễn Quang Sáng kể lại bằng một giọng tự hào Một chuyện vui kể chuyện
anh Bảy Ngàn trên đồng nước bị trực thăng vây bố, sau hai lần hụt chết, ung dung đến ngồi bên cạnh cây tràm bị tên lửa bắn, còn nghi ngút khói, hút thuốc, thở khói phà phà Câu chuyện mấy lần hụt chết đó lại cứ như là “một chuyện vui”, chẳng mùi mẽ gì, thế nhưng cái điều kỳ diệu về tư thế ung dung, coi thường nguy hiểm, xem thường kẻ địch lại gây ra một ấn tượng sâu trong người đọc Đó là “một bức tranh được đồng bào trong ấy, nhất là anh chị em
Trang 39du kích rất hoan nghênh và đã phóng to trên các tường phòng thông tin “ Bức tranh có ba ô Ô thứ nhất: chiếc máy bay trực thăng sà xuống, mấy anh du kích lủi nấp vào bụi, rụt cổ, lè lưỡi nói với nhau: “Ôi, thứ này khiếp quá!” Ô thứ hai: một anh du kích thò cổ ra, chỉa chiếc “ hoành tầm sàu” về phía máy bay: “bắn một phát thử coi sau?” Ô thứ ba: chiếc trực thăng rơi nằm kềnh dưới đất Mấy anh du kích trèo lên thân máy bay cười hỉ hả: “ngó như vậy mà ngon xơi đa! ” Thì ra cái câu chuyện đánh dấu một giai đoạn của cuộc đọ sức giữa bà con ta trong đó với vũ khí hiện đại của quân thù…” Cảnh, người, cuộc chiến đấu của miền Nam giờ đây sao mà thân thiết thế! Nó đã sống và sống mãi trong lòng chúng ta, đi vào vốn liếng tinh thần của mỗi người chúng
ta, trở thành một sợi dây tình cảm nhạy bén nhất trong tâm hồn chúng ta Chỉ cần khêu nhẹ vào đó một chút là sợi dây đó rung lên trong tìềm thức của chúng ta Trong nội dung yêu nước của chúng ta, từ bao giờ rồi, đã bao hàm tình yêu đối với miền Nam
Quá trình Thu (Chiếc lược Ngà) nhận ra bố do ngoại khêu gợi cũng là
quá trình em bé học được bài học vỡ lòng đầu tiên về Cách mạng và kháng chiến, Thu đã hiểu ra vì sao bố con phải xa cách bảy, tám năm ròng ? Vì sao
bố Thu đã phải già đến nỗi không giống bức hình chụp trước kia nữa ? Thu đã nhận ra tội ác của thằng Tây ở cái sẹo trên mặt bố, cái sẹo làm cho Thu không nhận ra bố nữa và do đó cũng nhớ lại được tội ác của chúng ở ngay cái bót vàm
Đừng tưởng Thu là một cô bé khô khan Trái lại, Cái tiếng “Ba…a…
ba !” mà Thu thốt lên khi nhận ra bố, mới cảm động làm sao, tiếng “Ba” nhưng xé cả ruột gan mọi người, nghe thật xót xa Đó là tiếng “Ba” mà nó cố
đè nén trong bao nhiêu năm nay, tiếng “Ba” như vỡ tung ra từ đáy lòng nó, nó vừa kêu vừa chạy xô tới, nhanh như một con sóc, nó chạy thót lên và dang hai tay ôm chặt lấy cổ ba nó – Tôi thấy làn tóc tơ sau ót nó như dựng đứng lên
Trang 40Nhưng lúc này, trong cái sung sướng được nhận ra “ba” cũng như trước đây, trong cái gan lì không nhận ra “ba” Thu vẫn là một em bé cứng cỏi, biết làm chủ cảm xúc của mình Sau những cử chỉ rất tự nhiên như muốn níu “ba” ở lại khi biết “ba” phải ra đi, cuối cùng Thu đã ôm “ba” một lần nữa và mếu máo:
- Ba về ! Ba mua cho con một cây lược nghe ba – Nó nói trong tiếng nấc, vừa nói vừa từ từ tuột xuống
Vẫn rất trẻ thơ mà đã có cái gì thật là lớn Và ở đây, trong phút chia tay này, Thu lại học được bài học vỡ lòng thứ hai về Cách mạng qua lời dỗ dành của người mẹ:
- Thu! Con Để ba con đi Thống nhất rồi ba con về”
“Thống nhất rồi ba con về”, bài học đó hẳn sẽ soi rọi mãi cuộc đời chiến đấu anh hùng mà thằm lặng của cô gái giao liên Thu sau này Thù nhà,
nợ nước, truyền thống kháng chiến trước và sau nhiệm vụ cách mạng tương lai… hình như tất cả những gì cần thiết để tạo nên một phẩm chất anh hùng đã đến với Thu ngay từ ngày thơ ấu ấy và đã đến với Thu trong một hoàng cảnh độc đáo làm sao, với một cá tính độc đáo làm sao!
Chính mấy nét về bé Thu tám tuổi trên đây đã soi tỏ, đã giải thích khá đầy đủ những hành động anh hùng của cô giao liên Thu sau này: cái bình tĩnh đặc biệt của Thu dưới làn ánh sáng chói chang, ma quái của trực thăng địch khi chúng đi soi đêm trên cái dòng kênh để phát hiện xuồng ta; cái mưu trí dày dặn kinh nghiệm và lòng dũng cảm đầy tự tin của Thu khi phải đối phó bất ngờ với bọn biệt kích địch; cái xúc động đến bàng hoàng của Thu khi nhận được chiếc lược ngà, vật kỉ niệm của người cha suốt đời xa cách cũng như cái trấn tĩnh phi thường của Thu khi phải nhắc đến cái chết của người cha
mà chính người trao vật kỉ niệm này tìm cách giấu giếm; “Cháu chịu đựng được, bác đừng ngại, cháu nghe tin ba cháu chết đã hai năm rồi, sau đó thì cháu xin má cháu đi giao liên”