Niên luận gồm 25 trang. Phần mở đầu nói về mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn học viêt, yếu tố dân gian trong sự phát triển của nền văn học, yếu tố dân gian trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp. Phần nội dung: Khai thác yếu tố "nhại cổ tích" trong "Những ngọn gió Hua Tát"
Trang 1A MỞ ĐẦU
I Mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn học viết
1 Khái niệm
1.1 Văn học dân gian
Theo “Từ điển thuật ngữ văn học”: Văn học dân gian là sáng tác tập thể, truyền
miệng của nhân dân lao động, ra đời từ thời kỳ công xã nguyên thuỷ, trải qua các thời
kỳ phát triển lâu dài trong các chế độ xã hội có giai cấp, tiếp tục tồn tại trong thời đại hiện nay Văn học dân gian ở Việt Nam còn được gọi là văn chương bình dân (hoặc văn học truyền khẩu, văn chương hoặc văn học truyền miệng), văn nghệ dân gian, sáng tác dân gian…
Văn học dân gian là tất cả các hình thức, các thể loại khác nhau của sáng tác dân gian mà thuật ngữ quốc tế gọi là folklore Văn học dân gian là tất cả hình thức và thể loại sáng tác dân gian có thành phần nghệ thuật ngôn từ kết hợp với các thành phần nghệ thuật khác (nhạc, vũ,…), thường gọi chung là nghệ thuật biểu diễn dân gian mang tính chất tổng hợp Với nghĩa này thuật ngữ văn học dân gian đồng nghĩa với thuật ngữ folklore ngôn từ Folklore ngôn từ gồm những sáng tác sử dụng ngôn ngữ làm phương tiện để xây dựng hình tượng nghệ thuật nhằm biểu đạt, ghi lại những tri thức, kinh nghiệm về cuộc sống, tư tưởng và tình cảm của nhân dân về thiên nhiên, xã hội và con người
Từ cách hiểu về văn học dân gian như trên, chúng tôi tán thành định nghĩa về văn
học dân gian của PGS.TS Vũ Anh Tuấn : “Văn học dân gian cổ truyền là sáng tác nghệ thuật ngôn từ truyền miệng theo phương thức tập thể, nhiều đời chọn lọc và gọt giũa của người dân, là thành tố quan trọng hợp thành chỉnh thể văn hóa dân gian có tính nguyên hợp”
1.2 Văn học viết
Văn học viết ra đời muộn hơn văn học dân gian Văn học viết không còn là những sáng tác truyền miệng mà tồn tại dưới dạng văn bản cố định và mang dấu ấn của cá nhân - dấu ấn tác giả
Trang 22 Lịch sử nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn học viết
Vấn đề nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn học viết là mối quan tâm của tất cả các nền văn học trên thế giới trong đó có Việt Nam Nó có tính phổ biến nhưng cũng có tính quy luật riêng, tùy thuộc vào sự khác biệt văn hóa và nguồn gốc lịch sử của từng dân tộc
Khác với Trung Quốc, ở Việt Nam văn học dân gian có vị trí độc tôn cả hàng ngàn năm trước cả thời trung đại Khác với Hàn Quốc và Nhật Bản, Việt Nam cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX đã chuyển sang sử dụng chữ quốc ngữ và nền văn học Việt Nam hiện đại có sự cách tân, phát triển đột biến cả về ngôn ngữ và phương diện nghệ thuật Văn học dân gian Việt Nam từ thơi tiền sử và sơ sử đã có ảnh hưởng và gắn bó sâu sắc với lịch sử dân tộc Do đó, nghiên cứu mối quan hệ của văn học dân gia và văn học viết vừa có ý nghĩa phổ biến, vừa phải chú ý đến sự tác động đa văn hóa trong quá trình phát triển văn học dân gian và văn học viết
Nghiên cứu quan hệ của văn học dân gian và văn học viết nhận được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, đặc biệt từ thập kỉ 60 của thế kỉ XX đến nay Có thể
điểm qua một số bài viết của các nhà nghiên cứu: Chu Xuân Diên viết “Nhà văn và sáng tác dân gian” (Tạp chí văn học, số 1 /1960); Xuân Diện viết bài “Nhà thơ học tập những gì ở ca dao” (Tạp chí văn học, số 1/ 1967); Nguyễn Phú Trọng viết
“Phong vị ca dao, dân ca trong thơ Tố Hữu” (Tạp chí văn học, số 11/ 1968); Lê Kinh Khiên viết “Một số vấn đề lý thuyết chung về về mối quan hệ giữa văn học dân gian
và văn học viết”; Đặng Thanh Lê viết “Từ một kiệt tác văn học suy nghĩ về mối quan
hệ giữa văn học dân gian và văn học viết” (Tạp chí văn học, số 5/ 1983); Bùi Công Hùng vcó bài “Vài ý kiến sơ bộ về mối quan hệ giữa văn học với văn học dân gian”
Trang 3Dữ (Luận văn Thạc sĩ); Một số phương thức biểu đạt truyền thống của ca dao trữ tình trong thơ Nguyễn Bính (Luận văn Thạc sĩ)
3 Mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn học viết
Một nền văn học chỉ có tính chất hoàn chỉnh khi gồm hai dòng văn học: văn học dân gian và văn học viết Trong hai dòng này thì văn học dân gian là cội nguồn, là điểm xuất phát, là cơ sở vững chắc để dòng văn học viết tiếp thu và phát triển.Văn học dân gian và văn học viết tuy là hai loại khác nhau của nghệ thuật ngôn từ nhưng giữa chúng có mối quan hệ chặt chẽ, mật thiết Đó là mối quan hệ sáng tạo và có tính quy luật Văn học dân gian là ngọn nguồn của nghệ thuật ngôn từ nói chung, là cái nôi thơ ca của nền văn học sơ sinh mọi dân tộc
Nếu văn học dân gian ra đời do yêu cầu xã hội thì văn học viết ra đời bởi lí do nghệ thuật Văn học dân gian phản ánh hệ tâm lí xã hội thì văn học viết lại là kết quả của hệ tư tưởng Văn học dân gian là kết quả của vốn sống và sự nhạy cảm đời thường thì văn học viết là kết quả của vốn chữ và hiểu biết hàn lâm Văn học dân gian đặt cái ích dụng lên hàng đầu, lên trên cái đẹp, cái thẩm mĩ còn văn học viết thì các nhà nghệ
sĩ lại chủ tâm sáng tạo cái đẹp Vậy nên, văn học dân gian tạo ra văn hóa diễn xướng còn văn học viết lại tạo ra văn hóa đọc
Văn học dân gian và văn học viết là hai hệ thống thẩm mĩ độc lập nhưng không đối lập bởi lẽ: Thi pháp văn học dân gian cũng có những điểm tương đồng với thi pháp của văn học viết ở những đặc điểm của cấu trúc tác phẩm; hệ thống những phương tiện phản ánh; những chức năng tư tưởng - thẩm mỹ của cấu trúc tác phẩm và những chức năng tư tưởng - thẩm mỹ của các phương tiện thể hiện tác phẩm Nhưng bên cạnh những điểm tương đồng chung mà khi nghiên cứu bất cứ thi pháp một tác phẩm văn học nào ta cũng có thể vận dụng được thì có những điểm khác biệt làm nên đặc điểm riêng của thi pháp văn học dân gian
Điểm mấu chốt làm nên sự khác biệt giữa thi pháp văn học dân gian và thi pháp văn học viết là do nguyên tắc sáng tác có tính lặp lại của văn học dân gian, lặp lại nhưng không nhàm chán, quen thuộc mà vẫn hấp dẫn Văn học viết ngược lại được sáng tác ra bởi một cá nhân nên mang phong cách riêng, có sự mới mẻ và sáng tạo
Trang 4Bởi vậy nên khi nghiên cứu thi pháp văn học dân gian là nghiên cứu thi pháp thể loại văn học dân gian Văn học dân gian chỉ có thi pháp thể loại chứ không có thi pháp về tác giả, trào lưu, khuynh hướng văn học, tác phẩm cụ thể… như thi pháp văn học viết Khi tìm hiểu mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn học viết các nhà nghiên cứu đều khẳng định vai trò nền tảng của văn học dân gian Văn học dân gian không những ra đời trước văn học viết mà còn là cội nguồn tư tưởng, quan niệm thẩm mỹ, kinh nghiệm sáng tác của văn học viết
Do hoàn cảnh đặc biệt của văn học nước nhà, văn học viết ra đời, phát triển tiếp thu nền văn học dân gian và ảnh hưởng của văn học phương Bắc Văn học phương Bắc tác động tới văn học dân tộc từ ý thức hệ tư tưởng, quan niệm thẩm mỹ đến các yếu tố thể loại, ngôn ngữ… Song nguồn tiếp thu quan trọng của văn học viết vẫn là văn học dân gian Văn học dân gian là cơ sở của nền văn học viết dân tộc, là bộ phận cấu thành có giá trị đặc biệt của nền văn học Cốt lõi của giá trị ấy là tính nhân dân, tính dân tộc Ảnh hưởng của văn học dân gian đến văn học viết thể hiện ở hình thức ngôn ngữ, ở nội dung phản ánh, biểu hiện, ở thị hiếu nghệ thuật, quan điểm thẩm mỹ,
lý tưởng xã hội, nguyện vọng và ước mơ của nhân dân
Khi văn học Nôm ra đời thì mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn học viết càng trở nên chặt chẽ và có nhiều thuận lợi và cả hai dòng văn học này đều sử dụng ngôn ngữ của dân tộc Văn học dân gian đã cung cấp những tư liệu cho văn học Nôm
để dòng văn học này chiếm ưư thế trên văn đàn Những sáng tác chữ Nôm của Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du… đều chịu ảnh hưởng của văn học dân gian
Văn học dân gian cung cấp những kinh nghiệm quý giá cho văn học viết: Thứ
nhất là cách chọn đề tài Đề tài trong văn học dân gian rộng, đủ màu sắc, trên mọi
bình diện của cuộc sống, không bị giới hạn bởi những quan niệm đề tài sang, hèn, cao, thấp Trong văn học dân gian có những bài ca về tình yêu lứa đôi, bài ca lao động, bài ca về tình cảm gia đình… bài ca chống áp bức, bóc lột Văn học viết sinh
thành, phát triển, lĩnh hội và tiếp thu đề tài từ nguồn văn học dân gian Thứ hai là
nghệ thuật phản ánh của tác phẩm trước đời sống Nghệ thuật phản ánh của các tác
Trang 5phẩm văn học dân gian trước hiện thực đời sống phong phú, sinh động, nhiều khía
cạnh, giàu sức thuyết phục, bao hàm ý nghĩa giáo dục sâu sắc Thứ ba là cách dùng từ
cô đọng, hàm xúc, cách diễn đạt bình dị, trong sáng, lối tư duy khúc triết, rành mạch, các biện pháp tu từ… là kinh nghiệm nổi bật hơn cả mà văn học viết luôn lấy đó làm
“khuôn mẫu” cho mình trên bước đường phát triển và phản ánh cuộc sống.
Văn học dân gian ra đời từ lâu nhưng nó vẫn phát huy mạnh mẽ mọi giá trị quý giá của nó đối với mỗi con người Việt Nam, đóng góp không nhỏ cho nền văn học viết phát triển ngày càng phong phú, sinh động hơn Văn học dân gian đã cung cấp không chỉ đầy đủ những kinh nghiệm nghệ thuật cho văn học viết mà còn là cội nguồn, luôn bồi đắp cho văn học viết trên bước đường phát triển Sự xuất hiện của văn học viết không những góp phần làm cho diện mạo và tính chất của văn học dân tộc trở nên hoàn chỉnh mà còn thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của văn học gian dân Hai dòng văn học này trong cấu trúc của nền văn học dân tộc tác động qua lại, quan
hệ biện chứng với nhau, chúng bổ sung cho nhau để cùng tồn tại và phát triển, làm giàu đẹp thêm cho nền văn học nước nhà
II Yếu tố dân gian trong sự phát triển của nền văn học
Từ thế kỉ X đến nay, kho tàng văn học dân gian (đặc biệt là truyện cổ dân
gian) luôn đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển các thể loại tự
sự văn học Nó mở ra những chân trời hư cấu nghệ thuật mới, đáp ứng những mục đích sáng tạo mới trong việc giữ vai trò nền móng về tư tưởng thẩm mỹ cho các hình thức sáng tạo nghệ thuật
Các truyện cổ dân gian có vai trò nền tảng cho sự phát triển các thể loại tự sự trong văn học viết (những tác phẩm thành văn đầu tiên đều ghi chép các truyện cổ dân
gian như: “Ngoại sử ký” của Đỗ Thiện, “Việt điện u linh” của Lý Tế Xuyên, “Lĩnh nam chích quái”…) Tiếp đến là việc sử dụng các chất liệu nội dung các câu chuyện
cổ, sử dụng các phương pháp và hình thức của dân gian để bắt chước mô phỏng (thể
loại truyền kỳ : “Truyền kỳ mạn lục” của Nguyễn Dữ), nhuần nhuyễn hơn là sự thêm
Trang 6thắt, sáng tạo ở thể loại truyện thơ viết bằng chữ Nôm ( Thoại Khanh - Châu Tuấn, Tống Trân - Cúc Hoa…)
Ảnh hưởng của văn học dân gian và văn học viết giai đoạn 1930 - 1945 không có mới Điểm căn bản của văn học giai đoạn này là hồn dân gian thấm đẫm trong thơ ca Nổi bật là thơ ca của Nguyễn Bính với thể loại sáng tác chính là thể thơ lục bát cổ điển và chất dân gian đan quyện vào nhau Đó là sự vận dụng một cách linh hoạt khéo léo những chất liệu (“trầu”, “cau”, “bướm”, “trăng” ), những thủ pháp nghệ thuật (so sánh, ẩn dụ, hoán dụ ) của ca dao
Văn học 45 - 75 vận dụng yếu tố dân gian ở hai cấp độ: Thứ nhất, dựa vào cốt
truyện để viết lại trên sơ sở chế tạo, gia công thêm Ví dụ như “Trê Cóc”, “Chuyện
ông Gióng”…(Tô Hoài), “Con cóc là cậu ông giời” (Nguyễn Huy Tưởng)…Thứ hai,
không hoàn toàn dựa vào cốt truyện cổ mà chỉ sử dụng các yếu tố thi pháp dân gian
để sang tạo ra chuyện cổ tích thời nay Ví dụ như: “Đám cưới chuột”, “ Chú cuội ngồi gốc cây đa” (Tô Hoài)…
Sau 1975, văn học có xu hướng quay trở lại văn học dân gian một cách mạnh mẽ Giai đoạn này, quan hệ giữa văn học dân gian và văn học viết tồn tại chủ yếu qua ba
hình thức: “Nhại” văn học dân gian; truyện cổ viết lại; truyện lồng truyện Những tác
phẩm viết dưới hình thức “nhại” văn học dân gian (“nhại” huyền thoại, “nhại” cổ tích)
như: Con gái thủy thần, Những ngọn gió Hua Tát (Nguyễn Huy Thiệp); Thiên sứ (Phạm Thị Hoài); Đêm bướm ma, Hồn trinh nữ (Võ Thị Hảo) Các tác phẩm viết dưới hình thức truyện cổ viết lại: Trương Chi (Nguyễn Huy Thiệp); Sự tích những ngày đẹp trời (Hòa Vang); Lầu hạc vàng (Lê Đạt); Ngày xưa cô Tấm, An Dương Vương, Gióng (Lê Minh Hà) Tác phẩm được viết dưới hình thức truyện lồng truyện:
Đi tìm nhân vật (Tạ Duy Anh) Có những tác phẩm vừa viết dưới hình thức truyện cổ viết lại, vừa viết dưới hình thức truyện lồng truyện như “Mẫu thượng ngàn” của
Trang 7về với dân gian là hành động cần thiết để con người chống lại những “cú sốc” thời đại, đánh thức những bản chất nguyên sơ của con người Nó tạo ra “độ lùi” cần thiết,
tạo khoảng cách khách quan để người đọc suy ngẫm về những vấn đề thực tại
Sử dụng các nhân vật trong truyện cổ, các yếu tố thi pháp, phong cách dân gian của các nhà văn hiện đại không còn đơn thuần là việc bảo lưu, phát triển các đề tài, các hình thức nghệ thuật truyền thống mà đó là dụng ý nghệ thuật của nhà văn Nội dung của tác phẩm chứa đựng những tầng ý nghĩa sâu sắc của cuộc sống với tất cả sự hỗn tạp của nó, thậm chí chạm đến phần sâu sắc nhất trong tâm hồn con người
III Yếu tố dân gian trong sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp
Nguyễn Huy Thiệp là một hiện tượng văn học của những năm 90 cho đến tận hiện nay Những sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp thực sự mới lạ, lôi cuốn người đọc Ông đưa ra những kinh nghiệm viết mà chưa có một nhà văn nào trước đó đụng chạm đến Sáng tác của ông dường như phá huỷ những gì được gọi là truyền thống Điều đó gây sự chú ý của dư luận bạn đọc và giới phê bình Vấn đề tranh cãi nhiều nhất có lẽ
là ở những truyện giả lịch sử và truyện nhại cổ tích Ở đây chỉ xin bàn đến yếu tố nhại
cổ tích trong chùm truyện "Những ngọn gió Hua Tát"
Nguyễn Huy Thiệp từng nói: “Khi viết văn tôi luôn luôn tìm thấy lại những giá trị truyền thống” Điều đó thể hiện rõ trong sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp Nhà
nghiên cứu người Nga T.N.Philonova nhận định một cách tổng quát trong bài viết
"Những ngọn gió Hua Tát của Nguyễn Huy Thiệp như hình mẫu trong truyền
thuyết văn học”: “Yếu tố dân gian chiếm một vị trí to lớn trong sáng tác của Nguyễn
Huy Thiệp … anh rất hay sử dụng các tư liệu dân gian, truyền thuyết, ca dao, tuạc ngữ và đó không đơn giản là cách trích đoạn riêng rẽ hay mượn nhập các mô típ…
mà là sự ảnh hưởng, cách điệu hoá chúng” “Mượn nhập” là sự tiếp thu văn học dân gian còn “ cách điệu hoá” chính là sự sáng tạo của Nguyễn Huy Thiệp
Văn Tâm qua bài viết “ Đọc Nguyễn Huy Thiệp” khẳng định nhà văn tiếp thu các
hình thức thể loại dân gian một cách rõ rệt khi chia truyện ngắn của ông thành bốn
loại: cổ tích, huyền thoại, thế sự, lịch sử.
Trang 8Diệp Minh Tuyền thì cho rằng: “Sự kết hợp giữa hiện thực và huyền thoại cũng
là một nét mới trong cách dựng của anh… Anh có lối tư duy huyền thoại thuần thục trong "Những ngọn gió Hua Tát" Điều đó thể hiện qua những mô típ, cấu trúc yếu tố
ác, về số phận… đang dằn vặt con ngưòi hiện đại” ( T.N.Philonova)
Trong bài viết này, người viết xin được trình bày những suy nghĩ của mình về mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn học viết thông qua tìm hiểu tác giả Nguyễn
Huy Thiệp với chùm truyện ngắn "Những ngọn gió Hua Tát" Vấn đề nghiên cứu này
không phải là mới nhưng với sự nghiên cứu, thống kê chi tiết, cụ thể, người viết xin đóng góp một phần nhỏ bé trong việc nghiên cứu truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
thông qua đề tài: YẾU TỐ NHẠI CỔ TÍCH TRONG “NHỮNG NGỌN GIÓ HUA TÁT”.
Trang 9
B NỘI DUNG
I Các khái niệm
1 Truyện cổ tích
Theo “Từ điển thuật ngữ văn học: Truyện cổ tích là bộ phận quan trọng nhất
trong các thể loại tự sự dân gian Truyện cổ tích nảy sinh từ xã hội nguyên thuỷ nhưng chủ yếu phát triển trong xã hội có giai cấp với chức năng chủ yếu là phản ánh và lý giải những vấn đề xã hội, những số phận khác nhau của con người trong cuộc sống muôn màu, muôn vẻ khi đã có chế độ tư hữu, tư sản, có mâu thuẫn giai cấp và đấu tranh xã hội quyết liệt Truyện cổ tích có nội dung rất rộng, bao gồm nhiều loại truyện khác nhau về đặc trưng, đặc điểm nghệ thuật…
Truyện cổ tích được phân thành ba loại chính: Truyện cổ tích thần kỳ, truyện cổ tích sinh hoạt, truyện cổ tích loài vật Truyện cổ tích có những phần đồng nhất và dị biệt với những thể loại truyện dân gian khác, và trong khi phân loại thì không nên quên sự thâm nhập chuyển hoá giữa chúng với nhau
2 Truyện nhại cổ tích
Truyện nhại cổ tích (mô phỏng cổ tích) là truyện được sáng tác dựa vào đặc điểm, đặc trưng về nội dung và nghệ thuật của truyện cổ tích Nó sử dụng những yếu
tố, những mô típ của truyện cổ tích để phản ánh cuộc sống hiện tại theo lý tưởng thẩm
mỹ của nhà văn Truyện nhại cổ tích dùng nhiều yếu tố cổ tích nhưng thông điệp lại hướng về xã hội hiện đại, là sản phẩm hư cấu có chủ đích của nhà văn
II Yếu tố nhại cổ tích trong "Những ngọn gió Hua Tát"
* Khái quát: Những chi tiết kỳ ảo là yếu tố đặc trưng tạo nên sức hấp dẫn của
truyện cổ tích dân gian Kỳ ảo dân gian gắn với những yếu tố thần kỳ ( người thần, vật thần) và thường đem lại điều tốt lành, thể hiện ước mơ chính nghĩa, lý tưởng hạnh
phúc của nhân dân Chùm truyện ngắn “Những ngọn gió Hua Tát” (Mười truyện
trong bản nhỏ) của Nguyễn Huy Thiệp bên cạnh những yếu tố kỳ ảo, huyền diệu như
cổ tích còn phản ánh cuộc sống của xã hội hiện đại Kết thúc truyện cổ tích, đặc biệt
Trang 10là truyện cổ tích sinh hoạt thường là những cái kết có hậu, người hiền gặp lành, được hưởng hạnh phúc; làm điều ác sẽ bị trừng phạt nhưng mười truyện ngắn của Nguyễn
Huy Thiệp trong "Những ngọn gió Hua Tát" thì có tới 07 truyện kết thúc không có
hậu Không gian trong truyện là những địa danh cụ thể nhưng thời gian không xác
định nên không gian cũng chỉ là một thứ ảo ảnh không xác định "Những ngọn gió Hua Tát" có kết cấu sự kiện theo tuyến thẳng ( lối kết cấu truyện dân gian) Nhân vật
đi từ điểm xuất phát đến kết thúc tác phẩm một cách tuần tự Các sự kiện được sắp xếp theo trật tự có vẻ như định sẵn, sự kiện diễn ra từ nơi này đến nơi khác theo hướng tịnh tiến (hướng thẳng) Truyện còn sử dụng nhiều yếu tố hoang đường kỳ ảo
Đó là chuyện một cô gái nhờ nhấc được hòn đá thiêng mà trở nên sinh đẹp, lấy được
hoàng đế ( Nàng Sinh), là chuyện chiếc tù và bỏ quên chỉ cần thổi lên một tiếng là tiêu diệt được nạn dịch sâu đen (Chiếc tù và bị bỏ quên)…Nguyễn Huy Thiệp viết truyện
theo lối giả cổ tích không đơn giản để tạo không khí huyền thoại, hấp dẫn cho tác phẩm, cũng không phải để gửi gắm ước mơ mà là những tâm sự sâu xa nhằm nhắc nhớ, cảnh tỉnh con người
Trong cổ tích các nhân vật là những khối nguyên liệu nguyên chất, không có sự pha trộn Mỗi nhân vật là hiện thân của một nét tính cách nào đó không thay đổi trong suốt cuộc đời từ đầu đến cuối truyện Người tốt, kẻ xấu, người hiền lành, kẻ bạc ác, người thật thà, kẻ xảo trá, người thông minh, kẻ ngốc nghếch…tất cả đều phân minh, rạch ròi với nhau, chúng trung thành đến cùng với tính cách của mình Nhân vật văn
học không còn “nguyên chất” như nhân vật cổ tích nhưng bản chất của chúng cũng
bao gồm những nét tính cách gần gũi nhau
Thế giới cổ tích với nguyên tắc tồn tại của nó: “Người tốt được thưởng, kẻ xấu bị trừng phạt” Nó được tạo nên từ ước mơ của con người “Ảo tưởng cổ tích” xuất hiện
trong tâm lý người đọc không chỉ khi họ tiếp xúc với truyện cổ tích mà với cả các tác
phẩm văn học “Ảo tưởng cổ tích” trong người đọc bị phá vỡ với sự xuất hiện của các nhân vật “ phản cổ tích”, “giả cổ tích” hay “nhại cổ tích” của Nguyễn Huy Thiệp Số
phận của các nhân vật thiện ( Nàng Bua, chàng Khó…) có kết thúc bi đát, khác hẳn với số phận hạnh phúc, sung sướng của các nhân vật thiện (Cô Tấm, anh Khoai )
Trang 11trong truyện cổ tích Nguyễn Huy Thiệp không đưa ra một liều thuốc xoa dịu những nỗi bất hạnh làm người ta yên tâm ngồi chờ những điều tốt đẹp mà vị thuốc của Nguyễn Huy Thiệp có vị đắng chát làm cho người ta sực tỉnh khỏi những ảo tưởng đẹp đẽ, nhìn thấy những mặt trái của cuộc đời, thúc giục con người tìm ra những biện pháp để giải quyết các vấn đề của cuộc sống, không chờ cho phép màu từ trên trời rơi xuống.
Nguyễn Huy Thiệp đã đưa người đọc vào một thế giới tưởng như cổ tích: con hổ
có trái tim kỳ lạ, hòn đá thiêng, chiếc tù và thần kỳ… và khi bước vào thế giới ấy với
những “ảo tưởng cổ tích” thì đột ngột họ nhận ra mình đang đứng trước thế giới hiện
đại và những vấn đề của nó Tình huống mà tác giả đặt ra cho người đọc đòi hỏi những cách giải quyết thực tế chứ không phải trở lại với quá khứ, với một thế giới tưởng tượng và những cách giải quyết tốt đẹp như mơ ước chủ quan của con người
1 Kết thúc truyện trong "Những ngọn gió Hua Tát"
1.1 Kết thúc có hậu giống truyện cổ tích
Truyện cổ tích thường có kết thúc có hậu Những người hiền lành, ăn ở có trước
có sau bao giờ cũng được hưởng hạnh phúc còn ngược lại những kẻ ăn ở bạc ác, làm
nhiều điều thất đức sẽ gặp báo ứng Chàng Thạch Sanh (Thạch Sanh) , cô Tấm ( Tấm Cám), người em (Cây khế), anh Khoai (Cây tre trăm đốt) … ở hiền gặp lành Họ phải
vượt qua nhiều khó khăn thử thách để có được cuộc sống giàu có, hạnh phúc Còn
ngược lại, mẹ con nhà Cám (Tấm Cám), Lý Thông (Thạch Sanh), người anh (Cây khế), hai cô chị (Sọ Dừa)…đều bị trừng phạt thích đáng Lý Thông bị sét đánh chết
rồi phải hoá kiếp thành bọ hung, suốt đời sống trong nhơ bẩn Hai mẹ con nhà Cám đều phải nhận sự trừng phạt là cái chết Hai cô chị phải bỏ đi phiêu bạt vì việc làm xấu xa của mình đối với người em Đó là những kết thúc phản ánh ước mơ về công lý của nhân dân lao động
"Những ngọn gió Hua Tát" có 3 truyện có kết thúc có hậu là: “Tiệc xoè vui nhất”, “Chiếc tù và bị bỏ quên” và “Nàng Sinh” Ở “Tiệc xoè vui nhất”, chàng trai
tên Hặc, mồ côi cha mẹ, sống côi cút một mình đã chứng minh được lòng trung thực của mình bằng cách cầu Then cho mưa xuống bản Hua Tát nên được trưởng bản Hà
Trang 12Văn Nó gả con gái Đó là một kết thúc thật tốt đẹp: “Người ta xoè hết một tuần trăng
để mừng đám cưới của Hặc với con gái trưởng bản Đây là tiệc xoè vui nhất của bản Hua Tát” Truyện “ Chiếc tù và bị bỏ quên” kể về nạn dịch sâu đen hoành hành làm bản Hua Tát “tiêu điều như có dịch hạch” Cả bản đã làm mọi cách nhưng không sao
đuổi diệt được sâu Họ đã phải thu dọn đồ đạc, rời bỏ làng bản để ra đi Nhưng may mắn, nhờ chiếc tù và bỏ quên trên gác xép được con trai trưởng bản là Hà Văn Mao thổi lên, đẩy lùi nạn dịch, trả lại cuộc sống yên bình cho bản Hua Tát Cả bản mở tiệc
ăn mừng rộn rã Nàng Sinh trong truyện ngắn cùng tên, mồ côi cha mẹ từ nhỏ, lại gầy
gò, xấu xí nhưng nhờ nhấc được tảng đá trong miếu thờ chàng Khó nên trở nên xinh
đẹp, lấy đuợc người chồng giàu có mà “người ta đồn rằng ông ta là một vị hoàng đế cải trang vi hành”.
Các nhân vật được hưởng hạnh phúc đều là những người có thân phận tội nghiệp
đáng thương, ăn ở hiền lành (Tiệc xoè vui nhất, Nàng sinh) Chàng Hặc, nàng Sinh đều mồ côi, đều mang thân phận thấp bé Nàng Sinh “gầy gò, bé nhỏ trông rất đáng thương”, nàng mang thân phận “côn hươn” (đẳng cấp thấp nhất), “nàng không bao giờ được ăn miếng ngon, mặc váy áo đẹp”, “nàng sống thui thủi như con chim cút”
Hặc cũng mồ côi, sống thui thủi một mình nên khi đến cuộc thi kén rể làm mọi người
xôn xao, trưởng bản “thét lên”, “gầm lên” và cho câu trả lời của Hặc là “điên rồ”
Rốt cuộc, cả hai người được hưởng hạnh phúc
1.2 Kết thúc không giống truyện cổ tích
Bảy truyện ngắn còn lại trong chùm truyện ngắn "Những ngọn gió Hua Tát" đều
là những truyện ngắn có kết thúc không có hậu, đi ngược lại với kết thúc của truyện
cổ tích Các nhân vật dù hiền lành, tốt bụng (nàng Bua, chàng Khó), hay gây ra lỗi lầm (lão thợ săn già, Hà Văn Nhân), nhân vật ban đầu gặp may mắn nhưng kết cục đều bi kịch, đều đi đến cái chết Khó - chàng trai tuy xấu xí nhưng tốt bụng, tìm giết
hổ lấy trái tim không phải để chữa bệnh cho mình mà chữa bênh cho Pùa - người con gái đẹp nhất bản Vượt qua nhiều nguy hiểm, Khó giết được hổ nhưng lại bị người
khác cướp mất Trái tim hổ bị cướp mất đã làm “hai người nữa chết dần sau chuyện ấy” (hai người ấy là Khó và Pùa) Nàng Bua vất vả, cực nhọc, một mình phải nuôi