1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Luận văn thạc sĩ) Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng cho vay dự án đầu tư tại sở giao dịch 1 ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam

90 433 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 8,8 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

(Luận văn thạc sĩ) Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng cho vay dự án đầu tư tại sở giao dịch 1 ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam(Luận văn thạc sĩ) Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng cho vay dự án đầu tư tại sở giao dịch 1 ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam(Luận văn thạc sĩ) Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng cho vay dự án đầu tư tại sở giao dịch 1 ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam(Luận văn thạc sĩ) Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng cho vay dự án đầu tư tại sở giao dịch 1 ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam

Trang 1

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU

Chương1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ DỰ ÁN ĐẦU TƯ VÀ CHO VAY DỰ ÁN ĐẦU TƯ 1

1 Sự cần thiết phải tiến hành các hoạt động đầu tư theo dự án 1

2 §ặc điểm hoạt động đầu tư phát triển 2

3 Dự án đầu tư 3

3.1 Khái niệm 3

3.2 Phân loại dự án đầu tư 4

3.2.1 Theo cơ cấu tái sản xuất 4

3.2.2 Theo lĩnh vực hoạt động trong xã hội của dự án đầu tư 4

3.2.3 Theo giai đoạn hoạt động của các dự án đầu tư trong quá trình tái sản xuất xã hội 4

3.2.4 Theo thời gian thực hiện và phát huy tác dụng để thu hồi vốn 5

3.2.5 Theo phân cấp quản lý 5

3.2.6.Theo nguồn vốn 5

3.2.7 Theo vùng lãnh thổ (theo tỉnh, theo vùng kinh tế) 6

4 Cho vay dự án đầu tư 6

4.1 Dự án đầu tư xin vay 6

4.2 Quy trình cho vay dự án đầu tư 7

4.3 Sự cần thiết của việc cho vay các dự án đầu tư 8

4.4 Thẩm định dự án đầu tư xin vay 11

4.5.Hợp đồng tín dụng 13

5 Nguồn vốn cho vay dự án đầu tư của các ngân hàng thương mại 15

6 Chất lượng cho vay dự án đầu tư 16

6.1 Khái niệm: 16

6.2.Các chỉ tiêu đánh giá Chất lượng cho vay dự án đầu tư 16

6.2.1 Các chỉ tiêu định tính 16

6.2.2 Các chỉ tiêu định lượng 18

7 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng cho vay dự án đầu tư 24

Trang 2

7.1.Nhóm nhân tố thuộc ngân hàng 25

7.1.1 Quy mô và cơ cấu kỳ hạn nguồn vốn của các NHTM 25

7.1.2 Năng lực của ngân hàng trong việc thẩm định dự án, thẩm định khách hàng25 7.1.3 Năng lực giám sát và xử lý các tình huống cho vay của ngân hàng 26

7.1.4 Chính sách tín dụng ngân hàng 27

7.1.5.Thông tin tín dụng 27

7.1.6 Công nghệ ngân hàng 28

7.2 Nhóm nhân tố thuộc về khách hàng 28

7.2.1.Nhu cầu đầu tư 28

7.2.2 Khả năng của khách hàng trong việc đáp ứng yêu cầu, điều kiện, tiêu chuẩn tín dụng của ngân hàng 28

7.2.3 Khả năng của khách hàng trong việc quản lý, sử dụng vốn vay 30

7.3.Nhóm nhân tố thuộc môi trường 31

7.3.1 Môi trường tự nhiên 31

7.3.2 Môi trường kinh tế 31

7.3.3 Môi trường chính trị xã hội 32

7.3.4 Môi trường pháp lý 32

7.3.5 Sự quản lý vĩ mô của nhà nước và các cơ quan chức năng 32

Chương 2: THỰC TRẠNG CHO VAY DỰ ÁN ĐẦU TƯ TẠI SỞ GIAO DỊCH 1 NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM 34

1 Khái quát chung về Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam và Sở giao dịch 1 34

1.1 Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam ( BIDV) 34

1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 34

1.1.2.Chức năng nhiệm vụ và mô hình tổ chức 35

1.2 Sở giao dịch 1( SGD1) 37

2 Một số hoạt động chủ yếu của SGD 41

2.1 Hoạt động huy động vốn 42

2.2 Hoạt động tín dụng 42

2.3.Hoạt động dịch vụ 46

Trang 3

3 Thực trạng cho vay dự án tại SGD 47

3.1.Tình hình cho vay 47

3.1.1.Nền khách hàng tiền vay 48

3.1.2.Doanh số cho vay 51

3.1.3.Tình hình thu nợ 52

4 Một số chỉ tiêu đánh giá chất lượng cho vay dự án đầu tư tại SGD 52

5 Đánh giá về chất lượng cho vay dự án của SGD 53

5.1.Những kết quả đạt được 53

5.2.Những hạn chế và nguyên nhân 56

5.2.1 Hạn chế 56

5.2.2.Nguyên nhân 57

5.2.2.1.Những nguyên nhân phát sinh từ phía ngân hàng: 57

5.2.2.2.Nguyên nhân nảy sinh từ phía khách hàng 58

5.2.2.3.Những nguyên nhân khách quan 59

Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CHO VAY DỰ ÁN ĐẦU TƯ TẠI SỞ GIAO DỊCH 1 NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM 61

1 Định hướng chủ yếu về hoạt động kinh doanh tại SGD trong thời gian tới 61

1.1 Định hướng chung 61

1.1.1 Tăng cường năng lực về vốn để đáp ứng các nhu cầu sản xuất kinh doanh: 61 1.1.2 Nâng cao chất lượng tín dụng: 61

1.1.3 Bảo lãnh: 62

1.1.4 Lãi suất: 62

1.1.5 Dịch vụ và công nghệ ngân hàng: 62

1.1.6 Biện pháp tổ chức điều hành: 63

1.2 Định hướng cho vay dự án đầu tư 63

2 Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng cho vay dự án đầu tư tại SGD ngân hàng ĐT&PT Việt Nam 65

2.1 Thực hiện việc xây dựng chính sách tín dụng một cách hợp lý 66

2.2 Nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án 67

Trang 4

2.3 Chú trọng phân tích tài chính doanh nghiệp trước khi cho vay 69

2.3.1 Xem xét các chỉ tiêu về cơ cấu vốn của doanh nghiệp: 69

2.3.2 Xem xét khả năng trả nợ của doanh nghiệp 70

2.4 Đa dạng hoá các phương thức huy động vốn trung, dài hạn: 72

2.5 Tiêu chuẩn hoá cán bộ để nâng cao chất lượng tín dụng: 72

2.6 Phát triển hệ thống thông tin: 75

2.7.Nâng cao vai trò của công thanh tra kiểm soát 76

3.Kiến nghị 76

3.1 Đối với Nhà nước 76

3.2 Kiến nghị đối với Ngân hàng Nhà Nước 79

3.3 Đối với ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam 80

3.4 Đối với Sở giao dịch1 80

KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 5

LỜI MỞ ĐẦU

Thực tế chứng minh rằng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước là quá trìnhtất yếu nhằm đưa Việt Nam từ một nước nông nghiệp lạc hậu trở thành một nướccông nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, quan hệ sản xuất hợp lý phù hợpvới lực lượng sản xuất làm cơ sở để xây dựng một đất nước dân giàu, nước mạnh,xã hội công bằng, văn minh Thực hiện nhiệm vụ đó, những năm qua, nhất là sauhơn 10 năm Đổi mới chúng ta đã thu được nhiều thành công bước đầu Từ mộtnước có nền sản xuất nông nghiệp lạc hậu, phải nhập khẩu lương thực, đã trở thànhmột trong ba quốc gia xuất khẩu gạo đứng đầu thế giới Cùng với ngành nôngnghiệp các ngành, các lĩnh vực khác như công nghiệp, ngoại thương, du lịch, ngoạigiao cũng đạt được những thành công nhất định góp phần đưa Việt Nam từ mộtnước có tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm, tỷ lệ lạm phát cao thành một nước có tốc

độ tăng trưởng kinh tế khá và ổn định, tỷ lệ lạm phát ở mức thấp, ngày càng có vịthế trong khu vực và trên trường quốc tế Từ đó cho thấy hướng đi và bước đi củachúng ta là đúng đắn, tạo thế và lực mới cho một thời kỳ phát triển cao hơn

Xu hướng quốc tế hoá cùng điều kiện cụ thể riêng đã tạo cho Việt Namnhiều cơ hội tiếp cận trình độ khoa học công nghệ cả về mặt kỹ thuật và quản lý Tuy nhiên để đạt được mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đưa đất nước tiếnlên xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội thì vẫn còn rất nhiều thử thách cần phảivượt qua Trong giai đoạn đầu thực hiện CNH-HĐH nhiệm vụ chủ yếu được xác

định là tập trung các nguồn lực xây dựng và phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật, đổimới và nâng cao trình độ công nghệ, máy móc thiết bị, chuyển dịch cơ cấu kinh tế

từ nông nghiệp lạc hậu sang nền kinh tế hiện đại với cơ cấu công- nông nghiệp,dịch vụ hợp lý, phát triển sản xuất trong nước theo cả chiều rộng và chiều sâu Để

đáp ứng cho nhu cầu đầu tư đó chủ yếu vẫn phải dựa vào nguồn vốn tín dụng trung

và dài hạn từ hệ thống ngân hàng thương mại trong nước Vai trò tín dụng trung vàdài hạn sẽ được phát huy mạnh mẽ trong thời gian tới khi mà nguồn vốn tự tích luỹcủa hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay còn quá nhỏ bé, không thể đápứng nhu cầu đổi mới trang thiết bị, công nghệ, mở rộng sản xuất là những hoạt

động đòi hỏi khối lượng vốn lớn Nguồn vốn cấp phát từ ngân sách rất hạn hẹp,không thể đầu tư dàn trải cho nhiều lĩnh vực mà chủ yếu chỉ tập trung xây dựng cơ

Trang 6

sở hạ tầng và những công trình công nghiệp lớn Nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cưkhá dồi dào nhưng việc huy động chúng lại không dễ dàng Trong bối cảnh đó thìviệc các ngân hàng thương mại phải phát huy hết vai trò và thế mạnh của mình để

đáp ứng nhu cầu đầu tư phát triển, góp phần thực hiện thành công sự nghiệp côngnghiệp hoá hiện đại hoá đất nước

Là một trong bốn hệ thống ngân hàng thương mại lớn nhất của cả nước, ngânhàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam luôn tự xác định cho mình nhiệm vụ đóng gópvào công cuộc xây dựng và phát triển chung đó của đất nước, chính vì vậy mà trongthời gian qua BIDV và Sở giao dịch 1 đã có nhiều nỗ lực trong việc mở rộng hoạt

động tín dụng nói chung và tín dụng chung dài hạn nói riêng nhằm đáp ứng tốt nhấtnhu cầu vốn cho các doanh nghiệp qua đó góp phần thực hiện mục tiêu chung củanền kinh tế Tuy nhiên nếu nhìn nhận, đánh giá một cách khách quan rằng bêncạnh những kết quả tích cực đã đạt được thì hoạt động tín dụng chung dài hạn củaBIDV và SGD vẫn chưa thực sự tương xứng với tiềm năng thực sự của mình Trongkhi rất nhiều doanh nghiệp đang thực sự thiếu và cần vốn thì bản thân SGD lại đangthừa vốn không thể giải ngân đặc biệt là ngoại tệ Xuất phát từ thực tế đó em chọn

đề tài Một số giải pháp cao chất lượng cho vay dự án đầu tư tại Sở giao dịch1ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam

Bố cục đề tài gồm ba chương:

* Chương 1 Lý luận chung về dự án đầu tư và cho vay dự án đầu tư.

* Chương 2 Thực trạng cho vay dự án đàu tư tại SGD1 Ngân hàng

Đầu tư và Phát triển Việt Nam.

* Chương 3 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay dự án đầu tư tại SGD1.

Do kiến thức và kinh nghiệm thực tế còn nhiều hạn chế nên những khía cạnh

mà đề tài đề cập tới trong chuyên đề không thể tránh khỏi những sai sót Với tinhthần thực sự cầu thị, em mong rằng sẽ nhận được những góp ý, chỉ bảo của các thầycô, anh chị đang công tác trong ngành ngân hàng để em có thể nâng cao trình độ lýluận cũng như nhận thức của mình

Trang 7

Cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới TS Trần Thị Hàngười đã trực tiếp hướng dẫn em trong suốt quá trình thực hiện đề tài, cùng các anhchị cán bộ Phòng tín dụng1 sở giao dịch BIDV đã tận tình giúp đỡ trong thời gianthực tập tại đây.

Trang 8

Chư ơ ng1:

LÝ LUẬN CHUNG VỀ DỰ ÁN ĐẦU TƯ VÀ CHO VAY DỰ ÁN ĐẦU TƯ.

1 Sự cần thiết phải tiến hành các hoạt động đầu tư theo dự án

Hoạt động đầu tư (gọi tắt là đầu tư) là quá trình sử dụng các nguồn lực về tàichính, lao động, tài nguyên thiên nhiên và các tài sản vật chất khác nhằm trực tiếphoặc gián tiếp tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng các cơ sở vật chất kỹthuật của nền kinh tế nói chung, của địa phương, của ngành, của các cơ sở sản xuấtkinh doanh dịch vụ, các cơ quan quản lý nhà nước và xã hội nói riêng

Hoạt động đầu tư trực tiếp tái sản xuất cơ sở vật chất kỹ thuật nói trên đượcgọi là đầu tư phát triển Đó là một quá trình có thời gian kéo dài trong nhiều nămvới số lượng các nguồn lực được huy động cho từng công cuộc đầu tư khá lớn vànằm khê đọng trong suốt quá trình thực hiện đầu tư

Các thành quả của loại đầu tư này cần và có thể được sử dụng trong nhiềunăm đủ để các lợi ích thu được tương ứng và lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra Chỉ

có như vậy công cuộc đầu tư mới được coi là có hiệu quả Nhiều thành quả của đầu

tư có giá trị sử dụng rất lâu,hàng trăm năm, hàng nghìn năm như các công trìnhkiến trúc cổ ở nhiều nước trên thế giới

Khi các thành quả của đầu tư là các công trình xây dựng hoặc cấu trúc hạtầng như nhà máy, hầm mỏ, các công trình thuỷ điện, các công trình thuỷ lợi,đường xá, cầu cống, bến cảng thì các thành quả này sẽ tiến hành hoạt động củamình ngay tại nơi chúng được tạo ra Do đó, sự phát huy tác dụng của chúng chịunhiều ảnh hưởng của các điều kiện kinh tế, tự nhiên, xã hội nơi đây

Để đảm bảo cho mọi công cuộc đầu tư phát triển được tiến hành thuận lợi,đạt mục tiêu mong muốn, đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao thì trước khi bỏ vốnphải tiến hành và làm tốt công tác chuẩn bị Có nghĩa là phải xem xét, tính toántoàn diện các khía cạnh kinh tế - kỹ thuật, điều kiện tự nhiên, môi trường xã hội,pháp lý có liên quan đến quá trình đầu tư, đến sự phát huy tác dụng và hiệu quảđạt được của công cuộc đầu tư, phải dự đoán các yếu tố bất định (sẽ xảy ra trongsuốt quá trình kể từ khi thực hiện đầu tư cho đến khi các thành quả của hoạt động

Trang 9

đầu tư kết thúc sự phát huy tác dụng theo dự kiến trong dự án) có ảnh hưởng đến

sự thành bại của công cuộc đầu tư Mọi sự xem xét, tính toán và chuẩn bị này đượcthể hiện trong dự án đầu tư thực chất của sự xem xét, tính toán và chuẩn bị nàychính là lập dự án đầu tư Có thể nói, dự án đầu tư được soạn thảo tốt là kim chỉnam, là cơ sở vững chắc, tạo tiền đề cho công cuộc đầu tư đạt hiệu quả kinh tế - xãhội mong muốn

2 §ặc điểm hoạt động đầu tư phát triển

Đầu tư phát triển là hoạt động sử dụng các nguồn lực tài chính, nguồn lựcvật chất, nguồn lực lao động và trí tuệ để xây dựng, sửa chữa nhà cửa và cấu trúc

hạ tầng, mua sắm trang thiết bị và l¾p đặt chúng trên nền bệ, bồi dưỡng đào tạonguồn nhân lực, thực hiện chi phí thường xuyên gắn liền với sự hoạt động của cáctài sản này nhằm duy trì tiềm lực hoạt động của các cơ sở đang tồn tại và tạo tiềmlực mới cho nền kinh tế - xã hội, tạo việc làm và nâng cao đời sống mọi thành viêntrong xã hội

Hoạt động đầu tư phát triển có các đặc điểm khác biệt với các loại hình đầu

tư khác là :

- Hoạt động đầu tư phát triển đòi hỏi một số vốn lớn và để nằm khê đọngtrong suốt quá trình thực hiện đầu tư, đây là cái giá phải trả khá lớn của đầu

tư phát triển

- Thời gian để tiến hành một công cuộc đầu tư cho đến khi các thành quả của

nó phát huy tác dụng thường đòi hỏi nhiều năm tháng với nhiều khả năngxảy ra biến động

- Thời gian cần hoạt động để có thể thu hồi vốn đã bỏ ra đối với các cơ sử vậtchất kỹ thuật phục vụ sản xuất kinh doanh thường đòi hỏi nhiều năm tháng

và do đó không tránh khỏi sự tác động hai mặt tích cực và tiêu cực của cácyếu tố không ổn định về tự nhiên, xã hội, chính trị, kinh tế

- Các thành quả của hoạt động đầu tư phát triển có giá trị sử dụng lâu dàinhiều năm, có khi hàng trăm, hàng ngàn năm và thậm chí tồn tại vĩnh viễn

Trang 10

như các công trình kiến trúc nổi tiếng thế giới ( Kim tự tháp cổ Ai Cập, Nhàthờ La Mã, Vạn Lý Trường Thành, Ăngco vát ) Điều này nói lên giá trị lớnlao của các thành quả đầu tư phát triển.

- Các thành quả của hoạt động đầu tư là các công trình xây dựng sẽ hoạt động

ở ngay nơi mà nó được tạo dựng nên Do đó các điều kiện địa hình tại đó cóảnh hưởng lớn đến quá trình thực hiện đầu tư và cũng như tác dụng sau nàycủa các kết quả đầu tư

- Mọi thành quả và hậu quả của quá trình thực hiện đầu tư chịu nhiều ảnhhưởng của các yếu tố không ổn định theo thời gian và điều kiện địa lý củakhông gian

Dự án đầu tư có thể được xem xét từ nhiều góc độ Về mặt hình thức, dự ánđầu tư là một tập hồ sơ tài liệu trình bày một cách chi tiết và có hệ thống cấc hoạtđộng và chi phí theo một kế hoạch để đạt được những kết quả và thực hiện đượcnhững mục tiêu nhất định trong tương lai

Trên góc độ quản lý, dự án đầu tư là một công cụ quản lý việc sử dụng vốn,vật tư, lao động để tạo ra các kết quả tài chính, kinh tế - xã hội trong một thời giandài

Trên góc độ kế hoạch hoá, dự án đầu tư là một công cụ thể hiện kế hoạch chitiết của một công cụ đầu tư sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế xã hội, làm tiền

đề cho các quyết định đầu tư và tài trợ Dự án đầu tư là một hoạt động kinh tế riêngbiệt nhỏ nhất trong công tác kế hoạch hoá nền kinh tế nói chung

Trang 11

Xét về mặt nội dung, dự án đầu tư là một tập hợp các hoạt động có liên quanđến nhau được kế hoạch hoá nhằm đạt các mục tiêu đã định bằng việc tạo ra cáckết quả cụ thể trong một thời gian nhất định thông qua việc sử dụng các nguồn lựcnhất định.

3.2 Phân loại dự án đầu tư.

3.2.1 Theo cơ cấu tái sản xuất.

Dự án đầu tư được phân thành dự án ®ầu tư theo chiều rộng và dự án đầu tưtheo chiều sâu Trong đó đầu tư chiều rộng có vốn lớn để khê đọng lâu, thời gianthực hiện đầu tư và thời gian cần hoạt động để thu hồi đủ vốn lâu, tính chất kỹthuật phức tạp, độ mạo hiểm cao Còn đầu tư theo chiều sâu đòi hỏi khối lượng vốn

ít hơn, thời gian thực hiện đầu tư không lâu và độ mạo hiểm ít hơn so với đầu tưtheo chiều rộng

3.2.2 Theo lĩnh vực hoạt động trong xã hội của dự án đầu tư

Có thể chia thành dự án đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, dự án đầu tưphát triển khoa học kỹ thuật, dự án đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng ( kỹ thật và xãhội ) Hoạt động của các dự án đầu tư này có quan hệ tương hỗ lẫn nhau Chẳnghạn các dự án đầu tư phát triển khoa học và cơ sở hạ tầng tạo điều kiện cho các dự

án đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao, đến lượt mình các dự ánđầu tư phát triển sản xuất kinh doanh lại tạo tiềm lực cho các dự án đầu tư pháttriển khoa học kỹ thuật, cơ sở hạ tầng và các dự án đầu tư khác

3.2.3 Theo giai đoạn hoạt động của các dự án đầu tư trong quá trình tái sản xuất xã hội

Có thể phân loại các dự án đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh thành dự ánđầu tư thương mại và dự án đầu tư sản xuất :

- Dự án đầu tư thương mại là loại dự án có thời gian thực hiện đầu tư và hoạtđộng của các kết quả đầu tư để thu hồi vốn đầu tư ngắn, tính chất bất địnhkhông cao lại dễ dự đoán với độ chính xác cao

Trang 12

- Dự án đầu tư sản xuất là loại dự án có thời gian hoạt động dài hạn ( 5, 10, 20năm hoặc lâu hơn ) vốn đầu tư lớn, thu hồi chậm, độ mạo hiểm cao, tính chất

kỹ thật phức tạp, chịu tác động của nhiều yếu tố bất định trong tương laikhông thể dự đoán hết cũng như dự đoán chính xác ( về nhu cầu, giá cả đầuvào và đầu ra, cơ chế chính sách, tốc độ phát triển khoa học kỹ thuật )

Trên thực tế người có tiền thích đầu tư vào lĩnh vực kinh doanh thương mại.Tuy nhiên trên giác độ xã hội hoạt động của loại đầu tư này không tạo ra của cảivật chất cụ thể một cách trực tiếp, những giá trị tăng thêm do hoạt động của dự ánđầu tư thương mại chỉ là sự phân phối lại thu nhập giữa các ngành, các địa phương,các tầng lớp dân cư trong xã hội Do đó, trên giác độ điều tiết kinh tế vĩ mô, nhànước cần thông qua các cơ chế chính sách của mình nhằm hướng dẫn, khuyếnkhích các nhà đầu tư không chỉ đầu tư vào lĩnh vực thương mại mà còn đầu tư cảvào lĩnh vực sản xuất, theo các định hướng và mục tiêu đã dự kiến trong chiến lượcphát triển kinh tế - xã hội của đất nước

3.2.4 Theo thời gian thực hiện và phát huy tác dụng để thu hồi vốn

Ta có thể chia các dự án đầu tư thành dự án đầu tư ngắn hạn (các dự án đầu

tư thương mại) và dự án đầu tư dài hạn (các dự án đầu tư sản xuất, đầu tư phát triểnkhoa học kỹ thuật, xây dựng cơ sở hạ tầng )

3.2.5 Theo phân cấp quản lý

Điều lệ quản lý đầu tư và xây dựng được ban hành theo nghị định52/1999/NĐ-CP ngày 08/08/1999 của Thủ tướng Chính phủ phân chia các dự ánthành 3 nhóm A, B, C tuỳ theo tính chất và quy mô của dự án Trong đó nhóm A

do thủ tướng Chính phủ quyết định; nhóm B và C do Bộ trưởng, thủ trưởng cóquan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND cấp tỉnh và thành phố trực thuộc

TW quyết định

3.2.6.Theo nguồn vốn

Dựa vào nguồn vốn, dự án đầu tư được phân chia thành :

Trang 13

- Dự án đầu tư có vốn huy động trong nước (vốn tích luỹ của ngân sách, củadoanh nghiệp, từ tiền tiết kiệm của dân cư ).

- Dự án đầu tư có vốn huy động từ nước ngoài (vốn đầu tư trực tiếp, viện trợ,đầu tư gián tiếp )

Việc phân loại này cho thấy tình hình huy động vốn từ mỗi nguồn và vai tròcủa mỗi nguồn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của từng ngành, từng địaphương và toàn bộ nền kinh tế

3.2.7 Theo vùng lãnh thổ (theo tỉnh, theo vùng kinh tế)

Cách phân loại này cho thấy tình hình đầu tư của từng vùng kinh tế, từngtỉnh và ảnh hưởng của đầu tư đối với tình hình phát triển kinh tế xã hội ở từng địaphương

Ngoài ra, trong thực tế để đáp ứng yêu cầu quản lý và nghiên cứu kinh tế,người ta còn phân chia dự án đầu tư theo quan hệ sở hữu, theo quy mô và nhiềutiêu thức khác

4 Cho vay dự án đầu tư

Cho vay dự án đầu tư là một dạng cho vay trung và dài hạn chủ yếu nhất củacác ngân hàng thương mại Đó là việc các ngân hàng thương mại hỗ trợ các kháchhàng có đủ nguồn lực tài chính thực hiện các dự định đầu tư mà thời gian thu hôivốn đầu tư vượt quá 12 tháng

4.1 Dự án đầu tư xin vay

Dự án đầu tư của khách hàng là một bộ phận quan trọng trong tổng thể các

dự án đầu tư của nền kinh tế quốc dân Quy mô của chúng có thể lớn hay nhỏ tuỳthuộc vào mục tiêu đầu tư của chúng Tuy nhiên, mỗi dự án đầu tư của khách hàngphải là một công trình nghiên cứu khoa học có mục tiêu cụ thể và có tính khả thicao, đưa ra được những luận chứng kinh tế - kỹ thuật xác đáng, nêu lên một cách

cụ thể lượng vốn đầu tư cần có, các nguồn tài chính bù đắp thích hợp, đề xuất đượcnhững giải pháp thực hiện dự án tối ưu

Trang 14

Dự ỏn đầu tư xin vay của cỏc ngõn hàng thương mại ngoài những tố chấtchung trờn đõy cũn cần thờm đặc trưng sinh lời phự hợp với chớnh sỏch phỏt triểnkinh tế - xó hội và phỏp luật của Nhà nước.

4.2.Quy trình cho vay dự án đầu

t-Giống như cho vay ngắn hạn, chu kỳ cho vay dự án đầu tư đối với các kháchhàng được bắt đầu bằng việc xem xét và quyết định cho vay, sau đó là giả ngânvốn, theo dõi nợ vay và kết thúc bằng việc thu nợ gốc và lãi Chu kỳ cho vay dự án

đầu tư cũng có thể diễn đạt bằng sơ đồ:( T-T )

Dựa trên đề xuất vay dự án đầu tư của khách hàng vay, ngân hàng thươngmại phải xem xét trong một thời gian nhất định và đưa ra quyết định từ chối haychấp nhận cho vay

Đề xuất vay vốn dự án đầu tư của khách hàng được hợp thức hoá bằng các tàiliệu như: đơn xin vay; hồ sơ pháp lý chứng minh tư cách pháp nhân và vốn điều lệban đầu; hồ sơ tình hình tài chính 2 năm trước khi đề xuất vay và của 2 quý trongnăm đề xuất vay; các tài liệu liên quan đến dự án đầu tư xin vay (luận chứng kinh

tế kỹ thuật; bản phê duyệt luận chứng kinh tế kỹ thuật của cấp có thẩm quyền;các văn bản có liên quan đến cung ứng vật tư thiết bị, nguyên vật liệu, tiêu thụ sảnphẩm; các giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp hoặc cầm cố )

Việc chấp nhận hay từ chối cho vay một dự án đầu tư của khách hàng phảidựa vào thẩm tra các mặt như tư cách pháp nhân; mức vốn tham gia của đơn vị vayvốn; tình hình sản xuất kinh doanh; tình hình công nợ, đồng thời phải xem xétmụch đích kinh tế xã hội, khả năng thực thi, nguồn cung cấp nguyên liệu, nguồnnhân lực, hướng tiêu thụ sản phẩm, hiệu quả kinh tế, khả năng hoàn trả vốn vay của

dự án

Khi xem xét, thẩm định và đi đến quyết định chấp nhận hay từ chối cho vaymột dự án đầu tư của khách hàng phải quán triệt các nguyên tắc: Phù hợp vớinguồn vốn của ngân hàng cho vay, nghĩa là không vượt quá khả năng nguồn vốnhiện có và sẽ huy động được khả dĩ dùng vào cho vay trung và dài hạn của bản thânngân hàng cho vay; phù hợp với quyền phán quyết cho vay trung, dài hạn mà ngân

Trang 15

hàng cấp trên dành cho giám đốc ngân hàng đó trong lĩnh vực cho vay trung và dàihạn, phù hợp với chính sách ưu tiên trong đầu tư và cơ cấu đầu tư đã được quy định.Trường hợp chấp nhận cho vay do kết quả thẩm định dự án đầu tư xin vay, ngânhàng phải thông báo bằng văn bản trong thời hạn quy định để khách hàng vay kịpthời đến ngân hàng lập hồ sơ nhận nợ Trường hợp từ chối phải thông báo bằng vănbản và nêu rõ lý do để khách hàng biết.

Hồ sơ thụ lý cho vay dự án đầu tư của khách hàng chính là hợp đồng tíndụng được ký kết giữa ngân hàng cho vay và khách hàng Trong hợp đồng này phảixác định rõ đối tượng vay, mức vay, thời hạn vay, lãi xuất, kế hoách trả nợ, bảo

đảm tiền vay, quyền và nghĩa vụ của bên cho vay

Dựa vào mức cho vay ghi trên hợp đồng tín dụng ngân hàng cho vay tổ chứcviệc giải ngân, tức là phát tiền vay để khách hàng vay sử dụng tiền vay vào việcthực thi dự án đầu tư xin vay

Tiền cho vay được ngân hàng cho vay phát ra theo tiến độ thực hiện dự án

đầu tư xin vay, được phản ánh kịp thời và chính xác vào tài khoản cho vay, khế ướcvay nợ và các chứng từ hợp lệ khác

Ngân hàng cho vay theo dõi chặt chẽ tiến độ thực hiện dự án đầu tư xin vaycho đến khi dự án đầu tư kết thúc và các công trình của dự án được đưa vào thựchiện có hiệu quả, khách hàng vay trả xong nợ cho ngân hàng cho vay kể cả nợ gốc

và lãi

4.3 Sự cần thiết của việc cho vay cỏc dự ỏn đầu tư

Xét về mặt bản chất, việc cho vay dự án đầu tư đã làm nảy sinh một mốiquan hệ tín dụng giữa ngân hàng và khách hàng, mối quan hệ này chỉ được hìnhthành trên cơ sở sự thoả thuận giữa các bên dựa trên nguyên tắc cùng có lợi Nhưvậy có thể nói việc tham gia vào quan hệ tín dụng này là hoàn toàn tự nguyện và nó

đem lại lợi ích cho cả đôi bên Mặt khác, ngân hàng và các doanh nghiệp (nhữngkhách hàng thường xuyên và chủ yếu) là hai chủ thể quan trọng hàng đầu trong nềnkinh tế quốc dân, việc nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của hai chủ thể nàychắc chắn sẽ có những tác động tích cực đối với sự phát triển chung của toang bộnền kinh tế Như vậy có thể khẳng định rằng việc mở rộng quy mô và nâng cao

Trang 16

hiệu quả cho vay dự án đầu tư là cần thiết và khách quan, nó đem lại những lợi íchnhất định cho cả ba chủ thể : Ngân hàng (người cho vay); doanh nghiệp (người đivay) và nền kinh tế quốc dân.

Đối với ngân hàng, trong các tài sản của các ngân hàng thương mại thì khoảnmục cho vay bao giờ cũng chiếm tỷ trọng cao nhất và là khoản mục mang lại thunhập chủ yếu cho ngân hàng Thu nhập từ tiền cho vay thể hiện dưới dạng lãi tiềnvay và phụ thuộc chủ yếu vào thời hạn của khoản vay Thời hạn cho vay càng dàithì lãi suất càng cao và do đó thu nhập của ngân hàng càng lớn Chính vì vậy nếucác ngân hàng có thể mở rộng cho vay nhất là cho vay trung và dài hạn đối với các

dự án đầu tư thì sẽ có điều kiện kiếm lời nhiều hơn Tuy nhiên cũng phải nói thêmrằng các khoản cho vay có thời hạn càng dài thì càng tiềm ẩn một tỷ lệ rủi ro cao và

đó là lý do vì sao khi mở rộng quy mô các ngân hàng thường chú trọng đến việcnâng cao chất lượng tín dụng cũng như hiệu quả dự án

Không chỉ có vậy, việc đáp ứng tốt nhu cầu của các khách hàng cũng là mộtthứ vũ khí cãnh tranh lợi hại của các ngân hàng Khả năng mở rộng các khoản vaydài hạn còn thể hiện tiềm lực vốn của ngân hàng, chất lượng tín dụng cao phần nàothể hiện năng lực quản lý, năng lực chuyên môn của cán bộ và nhân viên ngânhàng đồng thời việc mở rộng tín dụng trung và dài hạn đặc biệt là với các dự án

đầu tư xin vay của các doanh nghiệp sẽ tạo điều kiện đẩy mạnh tín dụng ngắn hạncũng như các dịch vụ ngân hàng khác bởi khi được vay vốn các doanh nghiệp sẽ có

điều kiện đầu tư đổi mới công nghệ, máy móc thiết bị, tăng năng lực sản xuất điều

đó khiến cho nhu cầu vốn lưu động lại tăng cao và các dịch vụ ngân hàng như dịch

vụ thanh toán, bảo lãnh, tư vấn cũng sẽ tăng lên chắc chắn địa chỉ đầu tiên màkhách hàng tìm đến chính là ngân hàng và ngân hàng đã cho họ vay vẵn là sự lựachọn được ưu tiên nhất

Đối với doanh nghiệp: Trong mỗi nền kinh tế nhu cầu vay vốn của các doanh

nghiệp luôn là một đòi hỏi cấp bách Các doanh nghiệp mới được thành lập thì cầnvốn để xây dựng cơ sở vật chất; nhà xưởng; kho bãi , mua sắm tài sản cố định và

đáp ứng một phần vốn lưu động Các doanh nghiệp đang hoạt động thì luôn có nhucầu đổi mới trang thiết bị; nâng cao trình độ khoa học, công nghệ; tăng năng lực

Trang 17

cạnh tranh; mở rộng sản xuất khi gặp cơ hội thuận lợi Đặc biệt khi các cơ hội đầutư có khả năng mang lại hiệu quả kể cả trong thời điểm trước mắt cũng như lâu dàithì một nguồn vốn lớn và ổn định sẽ trở nên hết sức cần thiết Tín dụng ngân hàngluôn sẵn sàng đáp ứng nhu cầu cấp thiết ấy bởi nó có những uy điểm mà các nguồnvốn khác như phát hành cổ phiếu, trái phiếu không có được.

- Trước hết việc sử dụng nguồn vốn tín dụng ngân hàng cho phếp mở rộng quymô sản xuất trong khi vẫn đảm bảo quyền kiểm soát đối với doanh nghiệpcủa mình Điều này sẽ không thể có được nếu nhà kinh doanh thực hiện biệnpháp phát hành cổ phiếu để huy động vốn, khi đó quyền lực sẽ được san sẻcho các cổ đông mới Việc huy động bằng phát hành trái phiếu có thể khắcphục được nhược điểm này song lại vấp phải một vấn đề quan trọng khác đó

là sự kém linh hoạt, khi cơ hội kinh doanh xuất hiện đòi hỏi doanh nghiệpphải nhanh chóng chớp lấy song việc phát hành trái phiếu đòi hỏi nhiều thủtục và điều kiện khắt khe nên mất nhiều thời gian và có thể để lỡ mất cơ hộitốt Tất cả các vấn đề trên có thể được khắc phục nếu doanh nghiệp sử dụngnguồn vốn tín dụng ngân hàng

- Một ưu điểm nữa của nguồn vốn tín dụng ngân hàng so với việc phát hành cổphiếu và trái phiếu là khi sử dụng nguồn vốn này doanh nghiệp sẽ tránh đượccác chi phí phát sinh như : chi phí phát hành; chi phí bảo lãnh; đăng kýchứng khoán Hơn nữa, có những doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp cóquy mô vừa và nhỏ có thể sẽ không đủ điều kiện huy động vốn thông quaphát hành cổ phiếu, trái phiếu

Đối với nền kinh tế: Nền kinh tế của mỗi quốc gia trong thời kỳ nào cũng cần

có nguồn vốn phục vụ đầu tư phát triển Sự tham gia của vốn tín dụng ngân hàng sẽgóp phần giảm nhẹ gánh nặng cho ngân sách Nhà nước, hơn thế nữa hiệu quả đạt

được của các dự án đầu tư cũng sẽ cao hơn bởi lẽ khi cho vay một trong những yêucầu đầu tiên mà ngân hàng đặt ra là an toàn Chính vì vậy mà đối với mỗi dự án xinvay, ngân hàng phải xem xét rất kỹ tính khả thi của dự án để tránh những rủi ro cóthể xảy ra và đề ra những biện pháp điều chỉnh kịp thời Mặt khác không giống nhưnguồn vốn cấp phát từ ngân sách nhà nước, nguồn vốn tín dụng ngân hàng được

Trang 18

giải ngân dựa trên nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi, do đó người đi vay sẽ phảitính toán làm sao để có thể sử dụng vốn một cách có hiệu quả nhất Đây chính là

điểm ưu việt của nguồn vốn tín dụng ngân hàng so với nguồn vốn cấp phát từ ngânsách nhà nước

Trong điều kiện Việt Nam hiên nay, nhiệm vụ Công nghiệp hoá, Hiện đạihoá đất nước nhằm xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật XHCN được Đảng và Nhànước đặt lên hàng đầu Nội dung chính của công cuộc này là tập trung vốn xâydựng cơ sở vật chất kỹ thuật, đổi mới nâng cao trình độ khoa học công nghệ; máymóc, trang thiết bị tùng bước chuyển nền kinh tế từ nông nghiệp lạc hậu sang nềnkinh tế hiện đại với cơ cấu công nông nghiệp và dịch vụ hợp lý, phát triển sảnxuất trong nước theo cả chiều rộng và chiều sâu Nguồn vốn để đáp ứng nhu cầu

đầu tư đó bao gồm: Nguồn do ngân sách Nhà nước cấp, nguồn tự tích luỹ của cácdoanh nghiệp, nguồn huy động từ dân cư, tín dụng ngân hàng, huy động trên thịtrường chứng khoán và nguồn vốn viện trợ từ nước ngoài Trong đó tín dụng ngânhàng đang là nguồn cung cấp vốn chủ yếu cho các dự án phục vụ đầu tư phát triểnbởi lẽ nguồn vốn tự tích luỹ của hầu hết các doanh nghiệp nước ta hiện nay đều quánhỏ bé, không thể đáp ứng nhu cầu đổi mới trang thiết bị, công nghệ, mở rộng hoạt

động sản xuất kinh doanh; Trong khi đó nguồn vốn cấp phát từ ngân sách lại kháhạn hẹp và phải đầu tư dàn trải trên nhiều lĩnh vực; Các hình thức huy động vốn

đầu tư trực tiếp vào các doanh nghiệp lại vẫn còn mới lạ đối với đại bộ phận côngchúng

4.4 Thẩm định dự ỏn đầu tư xin vay

Thẩm định dự án đầu tư là một mắt xích quan trọng trong quy trình cho vay

dự án đầu tư Thực chất của nó là dùng một số kỹ thuật phân tích, đánh giá toàn bộcác vấn đề, các phương tiện trình bày trong dự án theo một số tiêu chuẩn kinh tế kỹthuật và theo một trình tự hợp lý chặt chẽ nhằm rút ra những kết luận chính xác vềgiá trị của dự án, từ đó quyết định cho vay đúng mức, chắc chắn mang lại hiệu quảkinh tế dự định

Đối với các ngân hàng thương mại việc thẩm định các dự án đầu tư xin vay

có thể dựa vào kết quả thẩm định của các tổ chức thẩm định chuyên nghiệp nhà

Trang 19

nước hay dân lập Trong trường hợp này, trách nhiệm của ngân hàng là phải có khảnăng đánh giá chất lượng thẩm định dự án được thực hiện bởi một tổ chức thẩm

định nào đó

Trong trường hợp dự án đầu tư xin vay cỡ vừa và nhỏ, thời hạn thu hồi vốnkhông quá 5 năm, ngân hàng phải tự thực hiện thẩm định dự án đầu tư xin vay Dùtái thẩm định hay tự thẩm định thì ngân hàng cũng đều cần đến đội ngũ cán bộ tíndụng đủ năng lực đánh giá dự án đầu tư xin vay và từ đó đưa ra kết luận chấp nhậnhay từ chối tài trợ đối với dự án đầu tư xin vay

Muốn thẩm định hay tái thẩm định một dự án đầu tư xin vay có kết quảmong muốn phải tuân thủ quy trình thẩm định, nghĩa là phải đi từ khâu thu thậpthông tin cần thiết cho việc đánh giá dự án đầu tư, xử lý thông tin bằng nhữngphương pháp thẩm định nhất định và đi đến những kết quả cụ thể và xác đáng đượcghi trong tờ trình thẩm định dự án đầu tư

Xét về nội dung thẩm định dự án, người ta thường thực hiện thẩm định bamặt cơ bản là các phương diện kỹ thuật, phương diện kinh tế và phương diện tàichính

Thẩm định dự án đầu tư về phương diện kỹ thuật là đi sâu nghiên cứu vàphân tích các yếu tố kỹ thuật và công nghệ, thiết bị chủ yếu của dự án đầu tư để

đảm bảo tính khả thi của dự án đầu tư khi thi công xây duẹng cũng như khi vậnhành công trình đã hoàn thành ở đây người ta chú ý đến sự phù hợp của quy mô dự

án đầu tư với khả năng tiêu thụ sản phẩm, nguồn cung cấp nguyên vật liệu, nănglực, năng lực quản lý của doanh nghiệp Sự lựa chọn thiết bị và công nghệ của dự

án đầu tư, sự cung ứng nguyên vật liệu và các yếu tố đầu vào, sự lựa chọn địa điểmxây dựng công trình, việc quản lý dự án từ khi thai nghén đến khi kết thúc đưa vào

sử dụng

Thẩm định về mặt kinh tế xã hội của dự án đầu tư là xét đến hiệu ích của dự

án trên quan điểm vĩ mô Nó thường được xem xét dựa trên một số chỉ số sinh lờixã hội như mức đóng góp của dự án đầu tư cho nền kinh tế do tiết kiệm chi phínhập khẩu của các sản phẩm nhập khẩu tuơng tự, chỉ số hoàn vốn, mức gia tăngviệc làm, mức đóng góp vào ngân sách nhà nước, mức tích luỹ Đồng thời ở đây

Trang 20

người ta còn xem xét ảnh hưởng của dự án đến môi trường, đến sinh hoạt văn hoá

và đến sự phát triển kinh tế của địa phương

Thẩm định phương diện tài chính của dự án đầu tư là phân tích, đánh giá, kếtluận việc sử dụng các nguồn lực tài chính trong tài trợ, khả năng sinh lời, khả nănghoàn trả nợ, khả năng ứng phó trước thử thách trong quá trình đưa dự án đầu tư vàothực hiện

Xét về phương pháp thẩm định dự án đầu tư người ta có thể áp dụng baphương pháp cơ bản:

- Phương pháp phân tích so sánh: Đây là phương pháp được sử dụng nhiềunhất Người ta so sánh các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật ghi trong dự án đầu tư vớicác tài liệu; các định mức kinh tế kỹ thuật hiện hành; các tiêu chuẩn củanganh, của cả nước; các chỉ tiêu trước khi mở rộng, cải tao; các chỉ tiêutương tự của các công trình cùng loại của nước ngoài; các văn bản pháp lý cóliên quan

- Phương pháp phân tích độ nhậy của dự án đầu tư: Dựa vào một số tình huốngbất trắc có thể xảy ra trong tương lai và những tác động của chúng đến cácchỉ tiêu hiệu quả, như sự vượt quá chi phí đầu tư ban đầu, sản lượng đạt thấp

so với dự kiến, giá đầu vào tăng, giá tiêu thụ sản phẩm giẩm mà xác định

độ sai lệch an toàn cho phép dự án đầu tư vẫn có hiệu quả, nếu không thìphải áp dụng những giải pháp khắc phục hay hạn chế

- Phương pháp hạn chế rủi ro: Lượng định một số rủi ro có thể xảy ra và nhữnggiải pháp hạn chế thích hợp thuộc giai đoạn thi công thực hiện và vận hành

dự án đầu tư

4.5.Hợp đồng tớn dụng

Hợp đồng tín dụng hay còn gọi là hợp đồng cho vay là một văn bản được kýkết giữa người ngân hàng cho vay và người đi vay- chủ dự án đầu tư Nó ghi nhậnnhững thoả thuận giữa bên cho vay và bên vay về đối tượng cho vay, mức cho vay

và thời gian vay, bảo đảm nợ vay Nó là một căn cứ pháp lý quan trọng để thực hiệnmột dịch vụ cho vay dự án đầu tư

Trang 21

Trước hết, trong hợp đồng phải thoả thuận một cách cụ thể đối tượng chovay Đó là các chi cấu thành tổng mức đầu tư của dự án như giá trị vật tư, máy mócthiết bị, giá trị công nghệ chuyển giao, giá trị sáng chế và phát minh, chi phí nhâncông giá thuê chuyển nhượng đất đai, giá thuê mua các tài sản khác, chi phí muabảo hiểm các tài sản thuộc dự án đầu tư xin vay và các chi phí khác Những chi phítrên đây có thể quy lại thành 3 nhóm là nhóm chi phí xây lắp, nhốm chi phí thiết bị

và nhóm những chi phí khác

Thứ hai: Trong hợp đồng tín dụng phải ghi rõ mức cho vay dự án đầu tư xinvay Nó được xác định một cách tổng quát là mức cho vay một dự án đầu tư thìbằng hiệu số giữa tổng mức đầu tư của dự án và phần vốn của bên vay tham giathực hiện dự án đầu tư không được nhỏ hơn 30% của tổng mức đầu tư

Tổng mức đầu tư của dự án là tổng chi phí xây lắp, chi phí máy móc thiết bị

và chi phí khác ghi trong tổng dự toán của dự án

Phần vốn tham gia thực hiện dự án của bên vay được tính bằng tổng của vốn

tự có thể hiện bằng tài sản hiện có của bên vay và vốn huy động do bên vay thựchiện

Nếu dự án đầu tư là dự án liên doanh thì phần tham gia của bên vay phải tínhcho các bên liên doanh

Trường hợp dự án đầu tư xin vay có điều kiện thế chấp tài sản thì mức chovay không thể lớn hơn 70% mức tài sản thế chấp

Mức cho vay dự án đầu tư không thể sử dụng một lần mà được sử dụng dầndần trong quá trình thực hiện thi công của dự án Từ đó tất yếu nảy sinh phạm trùmức cho vay còn lại Mức cho vay còn lại bằng mức cho vay trừ đi số dư nợ hiện

có Mỗi lần giải ngân ngân hàng phải chú ý đến mức cho vay còn lại này

Thứ ba: Trong hợp đồng tín dụng phải ghi rõ thời hạn nợ hay còn gọi là thời

hạn cho vay Nó bao gồm thời hạn rút vốn, thời hạn trả nợ và thời hạn ân hạn nếucó

Cuối cùng: Trong hợp đồng tín dụng phải xác định rõ quyền và nghĩa vụ của

ngân hàng cho vay và người vay Quyền và nghĩa vụ này nếu không có thoả thuận

Trang 22

gì khác giữa ngân hàng cho vay và khách hàng vay thì phải tuân thủ những quy

định về quyền và nghĩa vụ đó của quy chế cho vay hiện hành của Ngân hàng Nhànước Việt Nam

5 Nguồn vốn cho vay dự ỏn đầu tư của cỏc ngõn hàng thương mại.

Một trong những vấn đề sống còn đối với mỗi ngân hàng thương mại là phảibảo đẩm khả năng thanh toán của mình Để đảm bảo yêu cầu này thì hoạt động chovay của ngân hàng phải gắn bó chặt chẽ, dựa trên nền tảng nguồn vốn mà ngânhàng có được Nghĩa là cơ cấu cho vay phải phù hợp với cơ cấu nguồn vốn, cáckhoản cho vay dự án đầu tư cần phải được hình thành nên từ những nguồn vốn ổn

định và có thời gian dài tương ứng Theo nguyên tắc đó thì nguồn vốn cho vay dự

án đầu tư bao gồm: Vốn tự có của ngân hàng thương mại; vốn huy động dưới hìnhthức tiền gửi trung dài hạn kể cả một phần vốn huy động ngắn hạn; vốn uỷ thác củaChính phủ và các tổ chức trong và ngoài nước; vay nước ngoài; vay từ ngân hàngtrung ương Mỗi nguồn vốn trên lại có những ưu nhược điểm và tuỳ từng điều kiện

cụ thể mà các ngân hàng thương mại sẽ quyết định sử dụng nguồn vốn nào thíchhợp nhất đối với mình

Nguồn vốn tự có của ngân hàng là nguồn ổn định nhất tuy nhiên khối lượngcủa nó lại không lớn; nguồn tiền gửi trung và dài hạn cũng không đáng kể dokhông nhiều khách hàng sử dụng loại hình tiền gửi này của các ngân hàng thươngmại; phát hành trái phiếu lại có chi phí cao hơn so với tiền gửi cùng số lượng; vốnvay từ ngân hàng trung ương cũng bị hạn chế và phụ thuộc vào chính sách tiền tệquốc gia (thông thường NHTW chỉ cho các NHTM vay ngắn hạn, thậm chí trongtrường hợp NHTW đang có chủ trương thắt chặt tiền tệ thì các NHTM còn không

được vay); việc sử dụng một phần vốn huy động ngắn hạn để cho vay đối với các

dự án đầu tư là một trong những phương án khả thi song để tránh những rủi ro cóthể xảy ra những người làm công tác quản trị ngân hàng cũng cần phải tính toán tỷ

lệ trích chuyển Trong điều kiện hiện nay, hình thức vay nợ nước ngoài để cho vay

dự án được khá nhiều ngân hàng trên thế giới dặc biệt là ở các nước đang phát triển

sử dụng (ưu điểm của nguồn vốn này là khối lượng lớn, lãi suất lại thường được ưu

đãi, hơn nữa điều kiện cho vay lại không quá khó khăn) tuy nhiên nếu việc quản lý,

Trang 23

sử dụng nguồn vốn này không được thực hiện tốt dẫn đén không hoàn trả được vốnvay thì sẽ làm mất uy tín đồng thời tăng sự phụ thuộc của các ngân hàng trong nướcvào ngân hàng và các tổ chức tài chính tín dụng nước ngoài.

6 Chất lượng cho vay dự ỏn đầu tư.

Với tư cách là một trung gian tài chính trong nền kinh tế, hoạt động chủ yếu

và thường xuyên nhất là nhận tiền gửi và cho vay, để có thể bảo đảm sự tồn tại vàphát triển thì chất lượng của các khoản vay luôn là mối quan tâm hàng đầu của cácNHTM Việc đáp ứng nhanh chóng, thuận tiện, an toàn nhu cầu vốn của kháchhàng sẽ tạo điều kiện để ngân hàng nâng cao uy tín, thu hút thêm nhiều khách hàngmới, làm tăng thêm khả năng mở rộng hoạt động tín dụng Mặt khác, đáp ứng tốtnhu cầu của khách hàng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinhdoanh của họ, bảo đảm hiệu quả sử dụng vốn vay; đó cũng là tiền đề để họ có thểthực hiện đúng cam kết trả nợ đầy đủ đúng hạn

6.2.Cỏc chỉ tiờu đỏnh giỏ Chất lượng cho vay dự ỏn đầu tư.

6.2.1 Cỏc chỉ tiờu định tớnh

Chất lượng cho vay của một ngân hàng chắc chắn phụ thuộc trước hết vào uytín của ngân hàng đó trên thị trường Một ngân hàng có uy tín cao sẽ có khả năngthu hút được nhiều khách hàng hơn, ngược lại nếu một ngân hàng có đội ngũ kháchhàng đông đảo, làm ăn có uy tín thì đó là một trong những dấu hiệu chứng tỏ chấtlượng cho vay của ngân hàng đó Chất lượng cho vay của ngân hàng được thể hiện

ở khả năng đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng Đối với khách hàng thì điều này

Trang 24

trước hết biểu hiện ở thủ tục đơn giản thuận tiện, cung cấp vốn nhanh chóng, kịpthời, an toàn Nhờ vậy doanh nghiêp; khách hàng sẽ tiết kiệm được chi phí giaodịch, tiết kiệm thời gian và nhất là không bỏ lỡ cơ hội đầu tư tốt Tuy nhiên đâymới chỉ là yêu cầu ban đầu, trong nền kinh tế thị trường đầy biến động và có sựcạnh tranh gay gắt đòi hỏi các NHTM phải năng động sáng tạo thì mới có thểmong có chất lượng cho vay tốt, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng lên cả về chất vàlượng của khách hàng Để đạt được điều đó thì ngoài việc đáp ứng nhanh chóng,kịp thời nhu cầu vốn ngân hàng phải thực sự trở thành bạn của khách hàng, sẵnsàng giúp đỡ, chia sẻ khó khăn đối với khách hàng.Chẳng hạn, trong quá trình xétduyệt cho vay nếu thấy dự án vay vốn của doanh nghiệp có những điểm chưa hợp

lý, không khả thi thì thay vì từ chối cho vay ngân hàng có thể góp ý, tư vấn chokhách hàng để họ xem xét lại một cách hợp lý Ngoài ra ngân hàng cũng có thể làngười cung cấp thông tin bổ ích về thị trường, về tiến bộ khoa học công nghệ chokhách hàng Có làm được như vậy thì nguồn vốn của doanh nghiệp mới thực sựphát huy được vai trò đòn bẩy kinh tế cả đối với ngân hàng và khách hàng Như vậy

rõ ràng chỉ nguyên việc đáp ứng nhu cầu của khách hàng cũng không phải là mộtnhiệm vụ dễ dàng đối với các ngân hàng thương mại nhằm nâng cao chất lượng chovay của mình

Yêu cầu thứ hai để có thể có hiệu quả và chất lượng của các khoản vay làphải bảo đảm được sự tồn tại và phát triển của ngân hàng Nói cách khác, hoạt độngcho vay phải mang lại cho ngân hàng thu nhập đủ để trang trải cho các chi phí liênquan và có lãi, hạn chế thấp nhất nhu cơ rủi ro Điều này không chỉ phụ thuộc vàongân hàng mà còn phụ thuộc vào khách hàng (những người vay vốn để đầu tư) Mộtkhoản cho vay chỉ có thể coi là có hiệu quả khi các nguyên tắc cho vay được tuânthủ triệt để: sử dụng vốn vay đúng mục đích và có hiệu quả; hoàn trả nợ gốc và lãi

đúng hạn Việc tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc cho vay vừa là điều kiện cần thiếtvừa là sự biểu hiện của chất lượng một khoản vay Mục đích sử dụng vốn vay đã kýkết trong hợp đồng tín dụng được cả ngân hàng và khách hàng phân tích, đánh giá

kỹ lưỡng cả về hiệu quả, tính khả thi cũng như mức độ phù hợp với chính sách pháttriển kinh tế xã hội chung của ngành, của địa phương và của cả nước Do vậy việc

sử dụng vốn vay đúng mục đích là một trong những điều kiện đảm bảo đạt được

Trang 25

các mục tiêu đã đề ra ban đầu Sử dụng vốn vay đúng mục đích, cùng với sự năng

động, nhạy bén trong kinh doanh của khách hàng và sự giúp đỡ có hiệu quả củangân hàng từ việc cấp phát vốn sẽ tạo điều kiện để khách hàng đạt được hiệu quả

đầu tư cao nhất và đó chính là tiền đề để khách hàng thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả

nợ, bảo đảm được sự tồn tại và phát triển của ngân hàng

Một yêu cầu đối với hoạt động cho vay của ngân hàng là phải đóng góp vào

sự phát triển kinh tế xã hội của vùng của ngành, địa phương và của cả nước Đây là

hệ quả tất yếu đạt được khi cả nhà đầu tư và ngân hàng cùng đạt được hiệu quảtrong hoạt động kinh doanh của mình Nó được biểu hiện ở sự ổn định của nền tàichính tiền tệ quốc gia, giúp nâng cao năng lực sản xuất, năng lực công nghệ củakhách hàng, giải quyết công ăn việc làm, tăng thu nhập, nâng cao mức sống dân cư.Tuy nhiên khi đánh giá tiêu thức này cần căn cứ vào từng trường hợp cụ thể trongtừng thời kỳ chứ không có một tiêu chuẩn đánh giá cụ thể cho từng trường hợp.Chẳng hạn các dự án cải tạo nâng cấp trang thiết bị, đổi mới công nghệ giúp doanhnghiệp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh nhưng đồng thời lại thu hẹp công ănviệc làm của người lao động; hoặc những dự án hiệu quả hiện tại và cả trước mắtkhông cao nhưng lại có ý nghĩa về mặt xã hội thì để đánh giá chính xác hiệu quảcho vay của dự án cần phải cân nhắc kỹ lưỡng nhiều mặt liên quan

Tóm lại chất lượng cho vay dự án đầu tư là một chỉ tiêu rất tổng hợp được

đánh giá trên quan điểm của cả ba chủ thể: ngân hàng, khách hàng và nền kinh tế.Các chỉ tiêu định tính chỉ là những căn cứ để đánh giá chất lượng cho vay dự án

đầu tư một cách khái quát để có những kết luận chính xác hơn cần phải dựa vàomột hệ thống các chỉ tiêu định lượng cụ thể bao gồm các chỉ tiêu liên quan đếndoanh nghiệp Còn về vấn đề liên quan đến nền kinh tế thì rất khó có thể đo lườngtác động cụ thể của từng chủ thể riêng biệt đến sự phát triển chung nên trong thực

tế chủ yếu sử dụng các chỉ tiêu định tính như trên để xem xét

6.2.2 Cỏc chỉ tiờu định lượng

* Đối với ngân hàng:

+ Chỉ tiêu về doanh số và tốc độ tăng doanh số cho vay dự án đầu tư :

Trang 26

Doanh số cho vay thể hiện quy mô tuyệt đối của hoạt động cho vay dự án

đầu tư của các ngân hàng thương mại còn tốc độ tăng doanh số thể hiện khả năng

mở rộng quy mô cho vay qua các thời kỳ Doanh số cho vay lớn với tốc độ tăngnhanh cho thấy khả năng mở rộng hoạt động cho vay dự án đầu tư của ngân hàng

đang ở trong tình trạng tốt Tuy nhiên đó mới chỉ là điều kiện cần chứ chưa đủ đểkhẳng định chất lượng hoạt động cho vay dự án, muốn vậy cần phải kết hợp xemxét các chỉ tiêu khác

nợ ngắn hạn cũng như dư nợ trung dài hạn khác Tỷ lệ này cao và ngày càng tăng

sẽ cho thấy ngân hàng chú trọng đến việc mở rộng hoạt động cho vay dự án, nhìnchung ngân hàng thương mại nào cũng mong muốn tỷ lệ này cao do hoạt động chovay dự án mang lại thu nhập lớn hớn so với tín dụng ngắn hạn Hơn nữa, mở rộngcho vay dự án sẽ giúp ngân hàng nâng cao uy tín, mở rộng thị trường tín dụng ngắnhạn Tuy nhiên, do đặc tính rủi ro cao nên các ngân hàng sẽ căn cứ vào những đặc

điểm riêng về nguồn vốn, về khả năng quản lý, trình độ chuyên môn của mình đểxác định tỷ lệ này cho phù hợp Đối với ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Namthì trước mắt trong năm 2003 sẽ phấn đấu tỷ lệ này ở mức 35 40%

Chỉ tiêu thứ hai phản ánh tương quan so sánh về quy mô cho vay dự án sovới tổng tài sản của ngân hàng, đồng thời cho phép đánh giá tính hợp lý trong cơcấu sử dụng vốn ngân hàng Nếu tỷ lệ này cao chứng tỏ các khoản cho vay dự ánchiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản ngân hàng Điều này là tích cực nếu như ngân

Trang 27

hàng có tiềm lực và khả năng dồi dào về nguồn vốn, đồng thời các khoản vay phải

được quản lý tốt và đảm bảo an toàn Ngược lại nếu không có tiềm lực vốn trungdài hạn lớn và khả năng quản lý tốt trong khi tỷ lệ này cao thì có nghĩa là ngânhàng đang ở vào tình thế nguy hiểm có thể dẫn đến mất khả năng thanh toán.Thông thường các ngân hàng thường thích phân tảnủi ro bằng cách đa dạng hoá cáctài sản sinh lời của mình hơn là tập trung vào một tài sản có khả năng sinh lời caonhưng lại tiềm ẩn trong nó một nguy cơ rủi ro lớn

- Chỉ tiêu về cân đối

vốn:

Dư nợ cho vay dự án

Tổng NV trung dài hạn các khoản đầu tư

trung dài hạn- giá trị TSCĐ

Chỉ tiêu này cho phép đánh giá khả năng về nguồn vốn của ngân hàng để đápứng nhu cầu cho vay dự án Hầu hết các NHTM đều sử dụng nguồn vốn trung dàihạn để tài trợ cho ba loại tài sản: Tài sản cố định, cho vay và đầu tư Như vậy nếu

tỷ lệ trên càng gần 1 thì chứng tỏ hầu hết các khoản cho vay dự án được tài trợ bởinguồn vốn trung dài hạn, điều đó bảo đảm cho ngân hàng một cơ cấu vốn tối ưunếu xét về mặt phòng ngừa rủi ro Tuy nhiên do đặc điểm các nguồn vốn ngắn hạncủa ngân hàng có sự gối đầu nhất định nên ngân hàng có thể tận dụng nguồn nàymột cách hợp lý để cho vay dự án Do đó trong thực tế tỷ lệ cân đối vốn nói trênthường xấp xỉ hoặc bằng 1 còn cụ thể như thế nào thì mỗi ngân hàng sẽ có một mứcriêng phù hợp với điều kiện cụ thể của mình(theo quy định hiện nay, các NHTMquốc doanh Việt Nam được sử dụng tối đa 25% nguồn vốn huy động ngắn hạn đểcho vay trung và dài hạn) Ngoài ra, khi xem xét chỉ tiêu này cần kết hợp các chỉtiêu dư nợ ở trên để có kết luận chính xác hơn về khả năng nguồn vốn của ngânhàng, bởi lẽ tỷ lệ cân đối vốn gần 1 cũng có thể là hệ quả của đồng thời hai nguyênnhân: cả nguồn vốn trung dài hạn và quy mô cho vay đều nhỏ bé

- Chỉ tiêu về vòng quay vốn:

Doanh số cho vay dự án đầu tư

Dư nợ trung và dài hạn bình quân

Trang 28

Chỉ tiêu này phản ánh tỷ lệ giữa doanh số cho vay dự án đầu tư với dư nợtrung dài hạn bình quân, qua đó có thể thấy được khả năng mở rộng cho vay cũngnhư hiệu quả công tác thu nợ của ngân hàng Chỉ tiêu này thông thường nhỏ hơn 1

do thời hạnvay dài nên dư nợ bình quân trong một năm sẽ lớm hơn doanh số chovay trong cùng năm đó Chỉ tiêu này càng gần 1 càng chứng tỏ hoạt động cho vay

và công tác thu nợ của ngân hàng đối với các khoản cho vay dự án có chất lượngtốt, bởi lẽ điều đó chỉ đạt được khi quy mô cho vay được mở rộng và hầu hết cáckhoản cho vay đến hạn trong năm đó đều được thu hồi đầy đủ Ngược lại nếu tỷ lệnày thấp chứng tỏ hoạt động cho vay hay thu nợ hoặc cả hai đều gặp khó khăn

độ này thấp thì có thể là doanh số cho vay giảm sút hoặc công tác thu nợ gặp khókhăn, hoặc cả hai Điều đó cho thấy chất lượng cho vay của ngân hàng là không tốt

- Các chỉ tiêu đánh giá tình trạng nợ quá hạn :

Nợ quá hạn là những khoản nợ khi đến kỳ hạn trả nợ hoặc hết thời hạn vayvốn cộng với thời gian được gia hạn thêm ( nếu có) nhưng khách hàng vẫn chưa trả

được nợ Trong trường hợp này khách hàng sẽ phải chịu lãi suất nợ quá hạn cao hơnnhiều so với lãi suất đã được thoả thuận trong hợp đồng tín dụng, mặc dù vậy cóthể thấy rõ chẳng ngân hàng nào mong muốn nhận được khoản lãi cao này Nợ quáhạn là một trong những chỉ tiêu quan trọng nhất đánh giá chất lượng tín dụng ngânhàng, nó phản ánh những rủi ro mà ngân hàng đang phải đối mặt Ngoài ra, để đánhgiá một cách kỹ hơn người ta thường chia nợ quá hạn thành các loại: Nợ quá hạn cókhả năng thu hồi, nợ quá hạn khó đòi và nợ quá hạn không có khả năng thu hồi.Căn cứ để phân chia các loại nợ quá hạn chủ yếu dựa vào các tiêu thức như : thờigian nợ quá hạn, nguyên nhân gây ra nợ quá hạn, uy tín của doanh nghiệp vay vốn.Các chỉ tiêu thường dùng để đánh giá nợ quá hạn bao gồm :

Trang 29

+ Tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ:

DN cho vay dự án đầu tư quá hạn

DN cho vay dự án đầu tư

+ Tỷ lệ quá hạn khó đòi trên tổng dư nợ:

Tỷ lệ nợ quá hạn khó đòi trên tổng

dư nợ:

DN quá hạn khó đòi của tín dụng dài hạn

DN tín dụng trung dài hạn

+ Tỷ lệ nợ quá hạn không có khả năng thu hồi trên tổng dư nợ:

Dư nợ quá hạn trung dài hạn không có khả năng thu hồi

Dư nợ tín dụng trung dài hạn

Chỉ tiêu thứ nhất phản ánh khái quát về tình hình nợ quá hạn của ngân hàngtrong cho vay dự án đầu tư Rõ ràng các ngân hàng đều mong muốn hạ thấp tỷ lệnày xuống đến mức thấp nhất bởi lẽ nếu tỷ lệ này cao chứng tỏ khả năng ngân hàng

đang có khả năng gặp nhiều rủi ro Tuy nhiên trong thực tế do những rủi ro trongkinh doanh là không thể tránh khỏi nên các ngân hàng thường chấp nhận một tỷ lệ

nợ quá hạn nhất định trong giới hạn an toàn Theo một số chuyên gia thì nếu duy trì

tỷ lệ nợ quá hạn ở mức dưới 3% là có thể chấp nhận được còn nếu dưới 1,3% thì cóthể coi là lý tưởng

Chỉ tiêu này tuy chỉ phản ánh khái quát tình hình nợ quá hạn của ngân hàngnhưng không phải là căn cứ đáng tin cậy để đánh giá mức độ rủi ro mà ngân hàng

đang phải đối mặt Chẳng hạn có những dự án vay vốn hoạt động rất hiệu quảnhưng ro định kỳ trả nợ không hợp lý hay do một số nguyên nhân khách quan khácdẫn đến việc trả nợ không được thực hiên đúng tiến độ, làm phát sinh nợ quá hạn

Rõ ràng những khoản nợ quá hạn này không phản ánh chân thực chất lượng và hiệuquả cho vay của ngân hàng Chính vì vậy mà để đánh giá chính xác hơn người taphải dùng thêm hai chỉ tiêu tiếp theo, nợ khó đòi là những khoản nợ ít có khả năngthu hồi nhưng dù sao cũng còn có cơ hội còn nợ không có khả năng thu hồi cũng

đồng nghĩa với mất vốn Nếu cả hai chỉ tiêu này đều ở mức thấp thì dù chỉ tiêu thứ

Trang 30

nhất có đạt tỷ lệ cao thì điều đó cũng chưa phải là một cái gì đó quá tồi tệ đối vớingân hàng Ngược lại, nếu hai chỉ tiêu này ở mức cao nhất là chỉ tiêu 3 thì rõ ràng

là hoạt động của ngân hàng đang có khả năng gặp nhiều rủi ro, tuy có thể chưa đedoạ trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của ngân hàng song rõ ràng chất lượng,hiệu quả hoạt động cho vay dự án đầu tư trong trường hợp này là rất thấp

- Chỉ tiêu đánh giá lợi nhuận

Hầu hết các khách hàng khi tiến hành hoạt động đầu tư, kinh doanh đềuhướng đến mục tiêu quan trọng nhất là lợi nhuận và các NHTM cũng không phải làngoại lệ Cho dù với tư cách là một trung gian tài chính quan trọng trong nền kinh

tế, giữ vai trò là đòn bẩy thúc đẩy hoạt động kinh tế phát triển, các NHTM trongquá trình kinh doanh không những phải chú ý đến hiệu quả kinh tế mà còn phải chú

ý đến hiệu quả xã hội Tuy nhiên lợi nhuận vẫn là điều kiện cần thiết để đảm bảo sựtồn tại và phát triển của ngân hàng do vậy không thể bỏ qua tiêu chí này khi đánhgiá hiệu quả hoạt động cho vay dự án đầu tư của ngân hàng Hiệu quả hoạt cho vaycủa ngân hàng không thể nói là tốt nếu lợi nhuận do hoạt động này mang lại thấp

Cụ thể, người ta thường dùng các chỉ tiêu sau để đánh giá hiệu quả hoạt động chovay dự án xét về mặt lợi nhuận:

động cho vay dự án của ngân hàng

Chỉ tiêu thứ hai cho phép đánh giá tầm quan trọng của hoạt động cho vay dự

án trong mối quan hệ với toàn bộ hoạt động của ngân hàng Tỷ lệ này cao chứng tỏ

Trang 31

hầu hết lợi nhuận của ngân hàng đạt được từ hoạt động cho vay dự án của ngânhàng Điều đó chỉ có thể có được khi quy vô cho vay dự án của ngân hàng chiếm tỷtrọng lớn trong cơ cấu tài sản của ngân hàng đồng thời hiệu quả mang lại từ hoạt

động này ngày càng cao Nói cách khác, chất lượng cho vay dự án đầu tư của ngânhàng có thể được đánh giá là khả quan Tuy nhiên, điều đó cũng đồng nghĩa vớiviệc ngân hàng đang phải chấp nhận đối mặt với những nguy cơ rủi ro tiềm tàng

Do đó đòi hỏi hoạt động cho vay dự án phải được quản lý một cách khoa học vàchặt chẽ

có thể là chỉ tiêu định lượng cũng có thể là chỉ tiêu định tính, chúng có thể bổ sunghoặc mâu thuẫn với nhau trong một mối liên hệ phụ thuộc khi đánh giá chất lượngcho vay một dự án

7 Cỏc nhõn tố ảnh hưởng đến chất lượng cho vay dự ỏn đầu tư

Chất lượng cho vay dự án đầu tư là một khái niệm tổng hợp có liên quan đếnnhiều chủ thể, nhiều lĩnh vực khác nhau và được đánh giá theo quan đIúm của cảngân hàng, khách hàng và nền kinh tế Chính vì vậy, chất lượng cho vay dự án tốthay xấu phụ thuộc vào rất nhiều nhân tố Để thuận tiện cho việc nghiên cứu người

ta chia các nhân tố này thành ba nhóm: Nhóm nhân tố thuộc phía ngân hàng, nhómnhân tố thuộc phía khách hàng và nhóm nhân tố thuộc môi trường

Trang 32

7.1.Nhúm nhõn tố thuộc ngõn hàng.

7.1.1 Quy mụ và cơ cấu kỳ hạn nguồn vốn của cỏc NHTM

Bất kỳ ngân hàng nào muốn cho vay cũng phải có vốn đây là điều kiện trướctiên cần có nhưng chưa đủ, do yêu cầu phải bảo đảm khả năng thanh toán thườngxuyên nên các khoản vay dành cho đầu tư dự án của ngân hàng cần phải được tàitrợ chủ yếu bởi nguồn vốn trung và dài hạn( bao gồm nguồn vốn có thời hạn từ mộtnăm trở lên và các nguồn vốn có thời hạn dưới một năm nhưng có tính ổn định caotrong thời gian dài) Nếu một ngân hàng có nguồn vốn dồi dào nhưng lại chủ yếu làvốn ngắn hạn, thì không thể và cũng không nên tìm cách mở rộng cho vay dự án

đầu tư Các nguồn vốn mà ngân hàng có thể sử dụng để cho vay dự án đầu tư baogồm : Vốn tự có của ngân hàng ; vốn vay trung, dài hạn trong và ngoài nước; vốn

uỷ thác và một bộ phận nhất định vốn vay ngắn hạn Quy mô các nguồn vốn này làkhác nhau nhưng chúng là một trong những nhân tố quyết định tới chất lượng chovay dự án của ngân hàng

7.1.2 Năng lực của ngõn hàng trong việc thẩm định dự ỏn, thẩm định khỏch hàng

Một trong những tiêu chí đánh giá chất lượng hoạt động cho vay dự án đầutư của một ngân hàng là vốn và lãi vay được thanh toán đầy đủ và đúng hạn Điềunày sẽ không thể có được nếu như việc thực hiện dự án không đạt hiệu quả mongmuốn, hoặc doanh nghiệp không có thiện chí, cố tình lừa đảo ngân hàng Để hạnchế nguy cơ đó ngân hàng cần phải thực hiện tốt công tác thẩm định dự án, thẩm

định khách hàng Thông thường công tác thẩm định khách hàng được tiến hànhtrước và chủ yếu tập trung xem xét các mặt : khả năng quản lý, khả năng điều hành,năng lực sản xuất kinh doanh, mức độ tín nhiệm Những khách hàng đáp ứng được

đầy đủ những yêu cầu do ngân hàng đề ra thì dự án đầu tư sẽ được xem xết để raquyết định có cho vay hay không Vấn đề đặt ra ở đây là thủ tục và các điều kiện,tiêu chuẩn được sử dụng làm căn cứ để đánh giá khách hàng và dự án đầu tư có hợp

lý hay không Nếu thủ tục quá rườm rà, các điều kiện tiêu chuẩn đặt ra quá khắtkhe, không phù hợp với thức tế sẽ làm nản lòng khách hàng hoặc có rất ít kháchhàng thoả mãn được yêu cầu của ngân hàng Điều đó gây cản trở cho ngân hàng

Trang 33

trong việc thu hút thêm khách hàng, mở rộng tín dụng Ngược lại, nếu quy trình,

điều kiện đặt ra không chặt chẽ có thể khiến ngân hàng mắc những sai lầm đángtiếc trong việc ra quyết định cho vay, dẫn đến rủi ro tín dụng Chính vì vậy trongquá trình hoạt động các ngân hàng phải không ngừng cải tiến nâng cao trình độthẩm định của mình Làm được như vậy sẽ giúp ngân hàng lựa chọn được chính xácnhững khách hàng thực sự đáng tin cậy, những dự án thực sự khả thi và đó là tiền

đề để nâng cao chất lượng cho vay của ngân hàng

7.1.3 Năng lực giỏm sỏt và xử lý cỏc tỡnh huống cho vay của ngõn hàng

Cho dù công tác thẩm định dự án, thẩm định khách hàng được thực hiện tốt,giúp cho ngân hàng lựa chọn được những khách hàng đáng tin cậy, những dự ánkhả thi có khả năng sinh lời cao thì đó cũng không phải là những điều kiện chắcchắn để có thể nói chất lượng cho vay dự án của ngân hàng đạt mức cao, bởi lẽ hoạt

động đầu tư, sản xuất kinh doanh trong thời gian dài luôn ẩn chứa trong nó nhữngrủi ro không thể lường trước Bản thân dự án trong quá trình thực hiện cũng sẽ nảysinh những tình huống ngoài dự kiến Chính vì vậy mà công tác giám sát và xử lýcác tình hống tín dụng sau khi cho vay trở nên thực sự cần thiết Hoạt động giámsát chủ yếu tập trung vào một số vấn đề như: sự tuân thủ việc sử dụng vốn đúngmục đích của khách hàng; tình hình hoạt động thực tế của dự án; tiến độ trả nợ;Quá trình sử dụng, bảo quản và biến động tài sản của doanh nghiệp; những vấn đềmới nảy sinh trong quá trình thực hiện dự án làm tốt công tác này sẽ giúp ngânhàng phát hiện và ngăn chặn kịp thời những biểu hiện tiêu cực như sử dụng vốn saimục đích, âm mưu tẩu tán tài sản, lừa đảo ngân hàng Đồng thời qua việc luôn bámsát hoạt động của khách hàng thì ngân hàng có thể có biện pháp giúp đỡ kháchhàng thông qua việc cung cấp những lời khuyên, những thông tin bổ ích, kịp thời,hoặc trực tiếp giúp đỡ khách hàng khi họ gặp khó khăn bằng cách gia hạn nợ, chovay thêm nhằm giúp cho việc thực hiện dự án của khách hàng đạt hiệu quả caonhất, qua đó góp phần nâng cao chất lượng tín dụng ngắn hạn

Trang 34

7.1.4 Chớnh sỏch tớn dụng ngõn hàng

Chính sách tín dụng của NHTM là một hệ thống các biện pháp liên quan đếnviệc khuếch trương hoặc hạn chế tín dụng nhằm đạt được các mục tiêu của ngânhàng trong từng thời kỳ cụ thể

Với ý nghĩa như vậy, rõ ràng chính sách tín dụng có tác động rất lớn đếnchất lượng tín dụng ngân hàng nói chung và chất lượng cho vay dự án đầu tư nóiriêng Trước hết là về mặt quy mô tín dụng, nếu chính sách tín dụng của ngân hàngtrong một thời kỳ nào đó hạn chế tín dụng trung và dài hạn cũng có nghĩa là quymô cho vay dự án đầu tư của ngân hàng đó sẽ có nguy cơ bị thu hẹp.Đó có thể chothấy chất lượng cho vay dự án của ngân hàng đang gặp vấn đề hay ít ra xét về quymô cũng không thể nói chất lượng cho vay dự án của ngân hàng trong giai đoạn đó

là tốt Ngoài ra, chính sách tín dụng của ngân hàng còn bao gồm hàng loạt các vấn

đề như: những quy định về điều kiện, tiêu chuẩn tín dụng đối với khách hàng; lĩnhvực tài trợ; biện pháp bảo đảm tiền vay; quy trình quản lý tín dụng; lãi suất có tácdụng trực tiếp hay gián tiếp đến chất lượng tín dụng cũng như chất lượng cho vay

dự án của ngân hàng Nếu các vấn đề đó được xây dựng một cách khoa học và chặtchẽ, kết hợp hài hoà lợi ích của ngân hàng, khách hàng và của toàn xã hội thì chắcchắn chất lượng cho vay dự án được nâng lên và ngược lại

Trang 35

7.2 Nhúm nhõn tố thuộc về khỏch hàng.

7.2.1.Nhu cầu đầu tư.

Bất kỳ một loại hàng hoá, dịch vụ nào muốn tiêu thụ được cũng cần phải cóngười mua và có nhu cầu sử dụng chúng, tín dụng ngân hàng cũng vậy, ngân hàngkhông thể cho vay nếu không có người đi vay Xét trong phạm vi toàn bộ nền kinh

tế thì nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển luôn luôn cần thiết nhưng với tùng NHTMthì không phải lúc nào nhu cầu ấy cũng hiện hữu Do số lượng khách hàng thườngxuyên quan hệ với ngân hàng có hạn và không phải lúc nào tình hình sản xuất kinhdoanh của họ cũng tiến triển một cách khả quan nên nhu cầu đầu tư của họ khôngthường xuyên lớn Chính vì vậy việc xác định khách hàng và nhu cầu mục tiêu của

họ là rất cần thiết đối với hoạt động của từng ngân hàng trong lĩnh vực cho vay đầutư phát triển

7.2.2 Khả năng của khỏch hàng trong việc đỏp ứng yờu cầu, điều kiện, tiờu chuẩn tớn dụng của ngõn hàng.

Để đảm bảo an toàn, tránh rủi ro khi cho vay các NHTM thường đặt ranhững điều kiện, tiêu chuẩn tín dụng nhằm phân loại và lựa chọn những đối tượngkhách hàng cụ thể Chỉ những khách hàng đáp ứng đầy đủ các điều kiện của ngânhàng thì mới được xem xét cho vay Những điều kiện, tiêu chuẩn này có thể rấtkhác nhau tuỳ theo đặc thù của từng ngân hàng cụ thể, xong nhìn chung các ngânhàng đều quan tâm đến những vấn đề sau:

Trang 36

* Về mục đích sử dụng vốn: Phải hợp lý, hợp pháp và có hiệu quả Nghĩa là

vốn vay phải được sử dụng không trái pháp luật, phục vụ tốt nhất cho kế hoạch thựchiện dự án, đồng thời phải phù hợp với phương hướng phát triển kinh tế chung củangành, của địa phương và của cả nước

* Về năng lực tài chính: Điều này thể hiện ở tỷ trọng và quy mô vốn tự có

của doanh nghiệp tham gia vào dự án Quy mô và tỷ trọng này càng cao càng chothấy tiềm lực tài chính lớn mạnh của doanh nghiệp đó Tỷ trọng vốn của doanhnghiệp tham gia vào dự án cao còn có tác dụng kích thích doanh nghiệp nâng caotrách nhiệm trong việc thực hiện dự án nhằm tránh những rủi ro cho chính họ cũngnhư cho ngân hàng Thông thường, điều kiện tín dụng của ngân hàng sẽ quy định tỷ

lệ vốn tự có tối thiểu của doanh nghiệp tham gia vào dự án tuỳ theo từng trườnghợp cụ thể Chẳng hạn BIDV quy định với các dự án đầu tư xây dựng cơ bản mớikhách hàng phải có vốn tự có tham gia vào dự án tối thiểu bằng 25% tổng vốn đầutư của dự án

*Về năng lực sản xuất kinh doanh: Điều này thể hiện ở quy mô, năng suất,

khả năng đáp ứng nhu cầu thị trường về chất lượng, giá cả và khả năng mở rộng sảnxuất Ngoài ra các ngân hàng cũng yêu cầu các doanh nghiệp phải hoạt độgn ổn

định và có lãi trong một khoảng thời gian nhất định, hoặc nếu có lỗ thì phải cóphương án khắc phục khả thi

*Về tính khả thi của dự án: Dự án khả thi là dự án mà việc thực hiện nó là

cần thiết, đáp ứng nhu cầu thị trường, nhu cầu phát triển sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp, phù hợp với phương hướng phát triển kinh tế của ngành, của vùng,của Nhà nước Đồng thời doanh nghiệp với các nguồn tài lực, vật lực hiện có đủkhả năng đáp ứng các yêu cầu trong việc thực hiện dự án Yêu cầu có dự án khả thi

là yêu cầu mang tính bắt buộc đối với mọi khách hàng vay vốn phục vụ đầu tư

*Về các biện pháp bảo đảm: Do đặc điểm các khoản vay phục vụ mục đích

đầu tư tiềm ẩn nhiều rủi ro nên thông thường các ngân hàng sẽ yêu cầu khách hàngcủa mình thực hiện các biện pháp bảo đảm tiền vay nhằm bảo đảm cho ngân hàng

có thể thu được nợ nếu rủi ro bất ngờ xảy ra Hình thức bảo đảm bảo thường là cầm

cố, thế chấp, bảo lãnh Tuy nhiên đây không phải là điều kiện bắt buộc có tính

Trang 37

nguyên tắc Trong trường hợp một số khách hàng có uy tín, có tiềm lực tài chínhmạnh, có phương án khả thi theo đánh giá của ngân hàng thì ngân hàng có thể chovay mà không cần tài sản bảo đảm.

Rõ ràng khả năng của doanh nghiệp trong việc đáp ứng các tiêu chuẩn tíndụng sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động tín dụng đặc biệt là hoạt động cho vay

dự án của ngân hàng Bởi nếu đa số các khách hàng không đáp ứng được điều kiệncủa khách hàng thì có thể những yêu cầu của khách hàng là quá khắt khe, khôngthực tế hoặc do khả năng của khách hàng quá thấp thì ngân hàng không thể mởrộng cho vay trong khi vẫn muốn bảo đảm an toàn tín dụng

7.2.3 Khả năng của khỏch hàng trong việc quản lý, sử dụng vốn vay.

Khi cho vay chắc chắn các ngân hàng sẽ trông đợi khoản trả nợ sẽ thu được

từ chính kết quả hoạt động của dự án chứ không phải bằng cách phát mại tài sảnthế chấp cầm cố, điều này phụ thuộc rất lớn vào hiệu quả quản lý và sử dụng vốnvay của khách hàng.Có nhiều yếu tố bảo đảm cho việc sử dụng vốn vay của kháchhàng đạt hiệu quả cao trong đó có một số nhân tố giữ vai trò quyết định :

* Vị thế, năng lực của doanh nghiệp Điều này được thể hiện ở uy tín, chấtlượng sản phẩm, khả năng thích nghi của doanh nghiệp với nhu cầu thị trường, ởkhối lượng sản phẩm và doanh thu mang lại Vị thế, năng lực thị trường của doangnghiệp lớn cónghĩa là doanh nghiệp sẽ dễ dàng hơn trong việc chiếm lĩnh thị trường

và chiến thắng trong cạnh tranh

* Năng lực công nghệ của doanh nghiệp: Được tạo nên bởi trình độ trangthiết bị; trình độ tay nghệ, kiến thức của người lao động trong doanh nghiệp Nănglực công nghệ cho phép doanh nghiệp thực hiện có hiệu quả các dự án đòi hỏi trình

độ kỹ thuật, công nghệ cao đồng thời dễ dàng hơn trong việc tiếp thu những côngnghệ tiên tiến từ bên ngoài đưa vào

* Chất lượng nhân sự : Cũng giống như ngân hàng, chất lượng nhân sự luôn

là nhân tố quyết định sự thành bại của doanh nghiệp Một doanh nghiệp với đội ngũcông nhân lành nghề, lại am hiểu khoa học kỹ thuật cộng với đội ngũ nhân sự cótrình độ, có kinh nghiệm sẽ rất thuận lợi cho quá trình kinh doanh của mình

Trang 38

* Năng lực quản lý của doanh nghiệp: Bao gồm chất lượng nhân sự quản lý,

sự phối kết hợp giữa các thành viên trong ban quản lý nhằm xây dựng một cơ cấu

tổ chức hợp lý trong doanh nghiệp, cho phép tận dụng tối đa nguồn tài lực, vật lựccủa doanh nghiệp để đạt mục tiêu kinh doanh cao nhất Trong điều kiện nền kinh tếthị trường cạnh tranh gay gắt và đầy biến động thì vai trò của công tác quản lýtrong doanh nghiệp ngày càng quan trọng, bởi trong điều kiện đó đòi hỏi hoạt độngcủa doanh nghiệp phải thường xuyên được điều chỉnh để thích ứng với những biến

động của môi trường kinh doanh, của chính bản thân doanh nghiệp

* Đạo đức, thiện chí của khách hàng: Trong quan hệ tín dụng, muốn có hiệuquả cao đòi hỏi phải có sự hợp tác từ cả hai phía người cho vay và người đi vay.Nếu như khách hàng không có thiện chí thì sẽ rất khó khăn cho ngân hàng trongviệc thu hồi nợ Sự thiếu thiện chí của khách hàng có thể biểu trực tiếp trong quan

hệ tín dụng với ngân hàng như cố tình sử dụng vốn sai mục đích, tìm cách lừa đảongân hàng, hoặc cũng có thể là các hành vi gián tiếp ảnh hưởng tới chất lượng tíndụng ngân hàng như kinh doanh trái pháp luật, lừa đảo chiếm dụng vốn lẫn nhau.Tất cả các hành vi đó đều mang lại rủi ro cho ngân hàng

7.3.Nhúm nhõn tố thuộc mụi trường.

7.3.1 Mụi trường tự nhiờn

Trên thực tế, môi trường tự nhiên không ảnh hưởng đến hoạt động cho vaycủa ngân hàng mà vai trò của nó thể hiện qua sự tác động đến hoạt động đầu tư củakhách hàng, đặc biệt các là các hoạt động phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiênnhư các công trình xây dựng, cầu cống, cảng biển, những hoạt động đầu tư có liênquan đến nông nghiệp, ngư nghiệp Điều kiện tự nhiên diễn biến thuận lợi hay bấtlợi sẽ ảnh hưỏng đến hiệu quả hoạt dộng đầu tư của khách hàng qua đó trực tiếp

ảnh hưởng đến khả năng trả nợ cho ngân hàng

7.3.2 Mụi trường kinh tế

Là một tế bào trong nền kinh tế, sự tồn tại và phát triển của ngân hàng cũngnhư doanh nghiệp chịu ảnh hưởng rất nhiều của môi trường này Sự biến động củanền kinh tế theo chiều hướng tốt hay xấu sẽ làm cho hiệu quả hoạt động của ngânhàng và doanh nghiệp biến động theo chiều hướng tương tự Đặc biệt trong điều

Trang 39

kiện quốc tế hoá mạnh mẽ như hiện nay, hoạt động của các ngân hàng cũng nhưdoanh nghiệp không chỉ chịu ảnh hưởng của môi trường kinh tế trong nước mà cảmôi trường kinh tế quốc tế Những tác động do môi trường kinh tế gây ra có thể làtrực tiếp đối với ngân hàng( ví dụ: những rủi ro thay đổi tỷ giá, lãi suất, lạm phátlàm thiệt hại cho thu nhập của ngân hàng) hoặc ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanhcủa doanh nghiệp qua đó gián tiếp ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động cho vay dự

án

7.3.3 Mụi trường chớnh trị xó hội

Sự ổn định của môi trường chính trị, xã hội là một tiêu chí quan trọng để raquyết định của các nhà đầu tư Nếu môi trường này ổn định thì các doanh nghiệp sẽyên tâm thực hiện việc mở rộng đầu tư và do đó nhu cầu vốn tín dụng ngân hàng sẽtăng lên Ngược lại nếu môi trường bất ổn thì các doanh nghiệp sẽ thu hẹp sản xuất

để bảo toàn vốn, hạn chế rủi ro khi đó nhu cầu vốn cho vay dự án cũng giảm súttheo

7.3.4 Mụi trường phỏp lý

Môi trường pháp lý không chặt chẽ, nhiều khe hở và bất cập sẽ tạo cơ hộicho các doanh nghiệp yếu kém làm ăn bất chính, lừa đảo lẫn nhau và lừa đảo ngânhàng Môi trường pháp lý không chặt chẽ, không ổn định cũng khiến các nhà đầutư trung thực e dè, không dám mạnh dạn đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh do

đó hạn chế nhu cầu vay vốn tín dụng ngân hàng

7.3.5 Sự quản lý vĩ mụ của nhà nước và cỏc cơ quan chức năng.

Sự ổn định và hợp lý của các đường lối, chính sách, các quy định, thể lệ củanhà nước và các cơ quan chức năng sẽ tạo hành lang thuận lợi cho hoạt động củangân hàng cũng như doanh nghiệp, đó là tiền đề rất quan trọng để ngân hàng nângcao chất lượng tín dụng của mình

Tóm lại với tư cách là một trung gian tài chính trong nền kinh tế, hoat độngtín dụng của các ngân hàng có liên quan đến nhiều đối tượng trong nhiều lĩnh vựckhác nhau Do đó chất lượng tín dụng ngân hàng nói chung và chất lượng cho vay

dự án nói riêng sẽ phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố Có những nhân tố thuộc bản thân

Trang 40

ngân hàng, có những nhân tố thuộc khách hàng, cũng có những nhân tố nằm ngoàitầm kiểm soát của cả hai Việc nghiên cứu nắm rõ vai trò và cơ chế tác động củatừng nhân tố sẽ giúp các ngân hàng có biện pháp thích hợp để nâng cao hơn nữachất lượng tín dụng, phát huy tối đa vai trò đòn bẩy kinh tế của mình.

Ngày đăng: 18/08/2016, 19:56

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ cơ cấu tổ chức: - (Luận văn thạc sĩ) Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng cho vay dự án đầu tư tại sở giao dịch 1 ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam
Sơ đồ c ơ cấu tổ chức: (Trang 45)
Đạt  6290  tỷ  VND.  Giai  đoạn  1991-1994  hình  thức  cung  ứng  vốn  chủ  yếu  là  cấp phát vốn ngân sách, với tổng số vốn ngân sách cấp phát cho các chương trình, dự án - (Luận văn thạc sĩ) Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng cho vay dự án đầu tư tại sở giao dịch 1 ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam
t 6290 tỷ VND. Giai đoạn 1991-1994 hình thức cung ứng vốn chủ yếu là cấp phát vốn ngân sách, với tổng số vốn ngân sách cấp phát cho các chương trình, dự án (Trang 51)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w