Khi vào hợp tác xã, hộ nông dân đóng góp tất cả tư liệu sản xuất mà mình có được bao gồm: ruộng đất, trâu, bò, cày, cuốc… để sơ hữu chung, dưới sự quản lý của Ban chủ nhiệm hợp tác xã và
Trang 11 Tìm hiểu về tổng bí thư Kim Ngọc và quá trình đổi mới trong nông nghiệp (từ
khoán việc, khoán hộ…đến khoán 100 và khoán 10)
Ông Kim Ngọc tên thật là Kim Văn Nguộc, sinh ngày 10/10/1917 trong một gia đình
nông dân nghèo, cha đẻ của mô hình khoán Cũng như trong mọi sự sinh nở, ông đã trải qua những thai nghén, mang nặng, đẻ đau Rồi cũng như không ít bậc cha mẹ, ông đã không sống đủ lâu để nhìn thấy "đứa con" của mình sống sót, trưởng thành, phát triển Thêm vào đó là áp dụng một cơ chế tập trung quan liêu bao cấp đối với hợp tác xã,
vì thế chẳng bao lâu những nhược điểm, khuyết điểm của hợp tác hóa dần dần bộc lộ Nông dân chẳng còn thiết tha với ruộng đồng, sản xuất theo kiểu đối phó, năng suất lúa năm sau tuột hơn năm trước Nạn đói diễn ra thường xuyên Tỉnh Vĩnh Phúc cũng nằm trong hoàn cảnh trên Điều đó khiến ông Kim Ngọc - bí thư tỉnh ủy - mất ăn mất ngủ Ngay từ hồi những năm 60, khi mà sự giáo điều trong nhận thức lúc đó còn hết sức nặng nề về “ăn ngon, mặc đẹp, ở sang” (đồng nghĩa với sự sùng bái vật chất tư bản chủ nghĩa), nhưng ông Kim Ngọc phát biểu trong Đảng bộ tỉnh đã khẳng định một chân lý có thể nói là cực kỳ táo bạo về sự phấn đấu của người đảng viên là làm sao để: “Dân luôn được: ăn ngon, mặc đẹp, ở sang, học hành chữa bệnh không mất tiền” Ông nói, đấy chính là mục tiêu của CNXH Chính vậy, sau khi lên làm bí thư tỉnh ủy ông vẫn luôn theo sát nhân dân, xuống tận làng xã chứng kiến tận mắt hoạt động nông nghiệp cả nông dân Các hợp tác xã làm ăn sa sút, thu nhập ngày công của xã viên không đủ nấu cháo Bản thân ông cũng đi đến các hợp tác xã kiểm tra Ông Nguyễn Thành Tô, thư ký riêng của ông Kim Ngọc, nhớ lại có một lần ông Kim Ngọc đến một hợp tác xã, lúc này bà con đang cấy vụ chiêm Trời rét căm căm nhưng ông Kim Ngọc không vào trụ sở hợp tác xã
mà đi thẳng ra đồng, muốn thấy tận mắt xã viên làm việc như thế nào, sau đó mới vào làm việc với ban quản trị hợp tác xã
Trang 2Từ xa nhìn thấy trên một đám ruộng cỏn con mà có đến hơn chục cô gái chen chúc nhau cấy, ông Kim Ngọc hỏi: “Sao các cháu không chia ra các nhóm cấy ở ruộng khác
mà túm tụm vào nhau thế này?” Một cô bảo: “Chúng cháu cấy thế này cho vui, hơn nữa ruộng có bừa kịp cho chúng cháu cấy đâu Bác xem tổ bừa đang cắm bừa ngồi hút thuốc
và nói chuyện vãn kia thì biết” Ông Kim Ngọc nhìn theo tay cô gái chỉ: cách chừng vài đám ruộng có đến sáu bảy anh đang cắm bừa giữa ruộng, ngồi trên đường ruộng hút thuốc lào và chuyện trò rôm rả Nhìn lại đám ruộng các cô gái đang cấy thấy cây lúa xiêu vẹo chẳng ra đường lối, ông bảo: “Tiêu chuẩn kỹ thuật là phải cấy lúa thẳng hàng để dùng cào cỏ cải tiến, các cháu cấy thế này làm sao mà dùng cào cỏ được?” Một cô bảo:
“Đất bừa không kỹ làm sao chúng cháu cấy đúng tiêu chuẩn kỹ thuật hả bác”
Nghe cô gái nói vậy, ông Kim Ngọc bỏ dép, xắn quần nhảy xuống ruộng Ông đưa tay quơ qua quơ lại thấy đất lổn nhổn, có cục to gần bằng nửa viên gạch thẻ, ông kêu lên:
“Làm ăn như thế này thì chết đói thôi Thế chủ nhiệm hợp tác và đội trưởng sản xuất không kiểm tra hả?” Các cô gái nói ít khi thấy chủ nhiệm và đội trưởng sản xuất có mặt
ở ruộng Ông Kim Ngọc bảo cô gái đi tìm chủ nhiệm và đội trưởng sản xuất cho ông Lát sau chủ nhiệm, phó chủ nhiệm và mấy anh đội trưởng sản xuất tới
Ông chủ nhiệm xoa xoa hai tay vào nhau: “Bí thư xuống mà không báo cho chúng em biết để đón tiếp, mong bí thư thông cảm” Ông Kim Ngọc hỏi: “Các anh biết vì sao các
cô xã viên cấy cây lúa xiêu vẹo kia không?” Một anh bảo: “Báo cáo bí thư trời rét quá, tay cóng nên cấy không được thẳng hàng ạ” Nghe nói vậy ông Kim Ngọc giận dữ thật
sự Ông Kim Ngọc nói như quát: “Xã viên rét cóng tay không cấy được lúa, còn các anh
ở nhà đắp chăn ôm vợ phải không? Bây giờ cả mấy anh bỏ giày dép ra nhảy xuống ruộng” Khi mấy cán bộ nhảy xuống ruộng, ông Kim Ngọc bảo: “Các anh đưa tay khua xem có bao nhiêu đất cục dưới ruộng nhặt hết để lên đường ruộng cho tôi” Họ răm rắp làm theo, các cô gái nhìn thấy thế tủm tỉm cười Sau một hồi, ông Kim Ngọc bảo mấy
Trang 3cán bộ hợp tác: “Bây giờ thì các anh đã biết vì sao cấy không thẳng hàng rồi chứ?” Họ nói lí nhí: “Biết rồi ạ” Ông Kim Ngọc hỏi: “Các anh tính sao đây? Nhổ lên bừa kỹ rồi cấy lại hay sao?” Trong khi họ chưa biết trả lời thế nào thì ông nói tiếp: “Nếu nhổ lên cấy lại thì các anh tự làm lấy chứ không được điều công của xã viên Tháng nữa tôi xuống kiểm tra mà thấy các đám ruộng lúa còn xiêu vẹo thì đừng có trách” Nói xong ông Kim Ngọc đến chỗ nhóm xã viên đang ngồi hút thuốc ở đường ruộng Chào hỏi xong, ông hỏi: “Trâu ốm, người ốm hay sao mà nghỉ cả loạt thế này?” Mấy xã viên chưa biết ông Kim Ngọc nên trả lời trống không: “Đói ăn chứ chẳng ốm đau gì cả” Ông Kim Ngọc nói: “Làm ăn kiểu này đói là phải, các ông còn trách ai” Một anh nhìn ông Kim Ngọc rồi nói: “Ăn trắng mặc trơn như ông nói thế nào mà chả được Có giỏi ông nhảy xuống ruộng mà bừa thử xem” Nghe anh xã viên nói vậy, ông Kim Ngọc bảo: “Tớ nói cho các ông biết tớ từng đi làm tá điền cho địa chủ từ nhỏ, đừng có thách tớ”
Nói xong ông Kim Ngọc cởi bỏ quần dài, áo khoác đưa cho thư ký Nguyễn Thành Tô cầm rồi nhảy ngay xuống ruộng lấy roi và bừa Ông vút cây roi vào không khí vun vút, miệng hầy hầy giục trâu, con trâu ngoan ngoãn bước từng sải dài làm nước bắn lên tung tóe Mấy xã viên ngồi trên bờ ngạc nhiên hỏi ông Tô: “Ông ấy là ai mà bừa giỏi thế?” Ông Tô bảo: “Ông ấy là bí thư tỉnh ủy đấy” Họ kêu lên: “Chết mẹ chúng tôi rồi” Có lẽ
đã lâu mới cầm lại cái bừa nên máu nông dân trong người ông Kim Ngọc trỗi dậy Ông bừa đến vài chục vòng bừa rồi mới cho trâu nghỉ và bước lên bờ rửa chân mặc lại quần
áo Mấy anh xã viên rối rít xin lỗi Ông Kim Ngọc chỉ cười rồi ngồi sà xuống hút thuốc lào và hỏi han công việc làm ăn với các xã viên Những chuyện mắt thấy tai nghe khiến ông trăn trở rất nhiều
Trên đường trở về, ông hỏi người thư ký riêng: “Này Tô, nông dân chúng ta nổi tiếng cần cù, cậu thử nói cho tớ nghe vì sao họ lại lười biếng và làm ăn cẩu thả như vậy?” Không cần suy nghĩ, ông Tô đáp luôn: “Chẳng qua là họ không coi ruộng đất của hợp tác
Trang 4là của mình” Thấy người thư ký nói đúng với suy nghĩ của mình, ông Kim Ngọc vỗ đùi kêu lên: “Đúng, đúng Xã viên không coi ruộng đất là của họ nên chẳng còn thiết tha gì với đồng ruộng Phải để nông dân làm chủ mảnh đất của mình ông ạ Đúng như thế” Không ngờ cái ý tưởng ấy đã khiến cuộc đời ông Kim Ngọc sau này chịu bao nỗi lao đao
Đất nước đã thống nhất được gần 40 năm, công cuộc đổi mới đất nước đã trải qua gần
30 năm Thời gian chưa phải là dài cho sự phát triển của một đất nước, với biết bao thăng trầm, khó khăn, nguy cơ và thách thức, nhưng cho đến nay, Việt Nam đã từng bước vượt qua, từng bước khẳng định vị thế của mình trong khu vực và trên thế giới Đó là một sự chuyển mình vô cùng ngoạn mục Nhưng để có được sự chuyển mình đó, Việt Nam đã phải trải qua không ít những khó khăn, sai lầm nhưng rồi chúng ta đã từng bước nhận ra
và điều chỉnh, để đạt được kết quả như ngày hôm nay
Một trong những lĩnh vực đấu tranh để đi đến đổi mới tiên phong nhất và cũng cam go nhất, đó chính là quá trình đổi mới trong nông nghiệp Từ chủ trương hợp tác hoá nông nghiệp với tư duy quản lý tập thể, cơ chế hoá trong nông nghiệp, với hình thức khoán việc, đến sự ra đời của hình thức khoán hộ Từ khoán hộ ở một xã, huyện một cách công
khai đến khoán chui, khoán lùi, rồi khoán sản phẩm, khoán lúa, khoán 100 và khoán 10
là cả một chặng đường ghệp ghềnh, gian nan, đi từ thử nghiệm này đến thử nghiệm khác
và từng bước điều chỉnh để tìm ra con đường phát triển đúng đắn và phù hợp cho nông nghiệp nước ta Từ một nước nông nghiệp thiếu đói triền miên, chỉ sau vài năm đổi mới, Việt Nam đã tự lực được lương thực và vươn lên trở thành nước đứng thứ hai trên thế giới về xuất khẩu gạo
Bài học về khoán hộ và sự thăng trầm của khoán hộ là một thực tế đáng suy ngẫm trong quá trình đi đến đổi mới ở Việt Nam Khoán hộ không chỉ là vấn đề của quá khứ,
nó còn nhiều bài học nóng hổi cho giai đoạn phát triển đất nước hiện nay
Trang 5a Từ khoán việc đến khoán hộ.
Khoán việc: Với nhận thức: “…còn chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và lối làm ăn riêng lẻ thì vẫn còn cơ sở vật chất và điều kiện xã hội cho khuynh hướng tư bản chủ nghĩa tự phát nảy nở”, sau khi thực hiện cải cách ruộng đất và cải tạo nền
kinh tế xã hội chủ nghĩa, Đảng và Nhà nước đề mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc Trong nông nghiệp chủ trương thực hiện phong trào hợp tác hoá, thành lập các hợp tác xã nông nghiệp, hô hào nông dân tham gia hợp tác xã Tính đến cuối tháng
3-1959, toàn miền Bắc đã có 6.830 hợp tác xã sản xuất nông nghiệp bao gồm 7% nông
hộ và gần 70% nông hộ vào tổ đổi công (21% nông hộ vào tổ đổi công thường xuyên) Trong số 6.830 hợp tác xã đã có 119 hợp tác xã cấp cao và có một ít xã
đã thu hút trên 90% nông hộ vào hợp tác xã Số xã viên của từng hợp tác xã cũng đông hơn Trung bình mỗi hợp tác xã gồm 30 hộ Cá biệt có hợp tác xã gồm tới
100 hộ và kinh doanh nhiều mặt: nông nghiệp, thủ công nghiệp, mua bán (như hợp tác
xã Vũ La, Hải Dương)
Đến cuối 1960, phong trào hợp tác hoá nông nghiệp đã cơ bản thành công với 85,8%
số hộ nông dân và 68,1% diện tích đất canh tác ở miền Bắc được đưa vào 40.422 hợp tác
xã nông nghiệp Nguyên tắc của hợp tác xã là: tập thể hoá tư liệu sản xuất và sức lao động, quản lý theo cơ chế tập trung, phân phối tư liệu và sản phẩm một cách thống nhất Khi vào hợp tác xã, hộ nông dân đóng góp tất cả tư liệu sản xuất mà mình có được bao gồm: ruộng đất, trâu, bò, cày, cuốc… để sơ hữu chung, dưới sự quản lý của Ban chủ nhiệm hợp tác xã và các Đội sản xuất Mọi việc làm và kết quả thu hoạch được đều do Ban chủ nhiệm và các Đội sản xuất quản lí, điều hành và phân phối Hình thức tổ chức
sản xuất ở các hợp tác xã là khoán việc Đơn vị sản xuất là tổ đội sản xuất chứ không còn
là hộ gia đình, vai trò kinh tế hộ nông dân bị xoá bỏ Khoán việc không quy trách nhiệm cho ai, xã viên không hề thấy quyền lợi mà mình sẽ được hưởng trên cánh đồng chung
Trang 6Xã viên làm việc theo tiếng kẻng, buổi sang theo kẻng đủng đỉnh ra đồng, làm việc cầm chừng đợi kẻng hết giờ ra về, không quan tâm đến chất lượng công việc
Theo chế độ khoán việc, công sức lao động của xã viên được qui thành công, điểm (công là ngày công, còn điểm là 1/10 ngày công) Từ cấy hái, chăm bón đến họp hành đều tính thành công điểm mà người ghi điểm là cán bộ thôn, xã Cán bộ thôn, xã được bầu theo quan điểm giai cấp nên hầu hết là những bần, cố nông – những người còn nhiều hạn chế về khả năng và trình độ quản lí Ngày công được tính cho mỗi lao động khi thực hiện một công việc theo tiêu chuẩn hợp tác xã đề ra Cuối mỗi vụ đều dựa vào công điểm
để chia hoa lợi Đây chính là điểm sơ hở đẻ ra rất nhiều sâu mọt, quan tham ngay từ cơ
sở Kẻ ghi công điểm thì không phải lao động và có quyền ban phát công điểm cho nông dân Còn nông dân thì một nắng hai sương nhưng chẳng được bù đắp gì vì mọi thứ đều là của chung và rơi vào tình trạng “cha chung không ai khóc” Tình trạng “dong công, phóng điểm” ngày càng phát triển tràn lan Chính vì vậy mà sau một thời gian hợp tác hoá, nông nghiệp nước ta rơi vào tình trạng lụn bại
Trong thời kì 1961-1965, diện tích trồng trọt của miền Bắc tuy đã tăng thêm khoảng
20 vạn hecta do khai hoang, nhưng năng suất lúa giảm chỉ còn 17-18 tạ/hecta Năm 1961, mức bình quân lương thực đầu người là 24kg/tháng, đến năm 1965 giảm chỉ còn 14kg/tháng
Khoán hộ: Với cơ chế khoán việc, chỉ đạo của hợp tác xã, người nông dân không thiết
tha với công việc của hợp tác xã, cha chung không ai khóc, làm việc chỉ vì công điểm, không vì chất lượng nên chỉ sau một thời gian ngắn, nông nghiệp bị giảm sút nghiêm trọng Riêng tỉnh Vĩnh Phúc, năm 1966, diện tích và sản lượng một số cây trồng không đạt kế hoạch, đặc biệt, cây lương thực bị giảm sút nhiều, nhất là lúa Tổng sản lượng qui
ra thóc bị tụt 37.000 tấn, riêng lúa tụt 32.000 tấn so với năm 1965 Phần nghĩa vụ với nhà nước cũng giảm 22.000 tấn so với năm 1965” Trong lúc khó khăn, một số địa phương,
Trang 7hợp tác xã đã chủ động nghiên cứu, tìm hiểu nguyên nhân và tìm cách làm ăn mới hiệu quả hơn Theo điều tra lúc bấy giờ, nông dân không mặn mà với đất đai của chung hợp tác xã vì hiệu quả ngày công không cao nên họ tập trung đầu tư vào mảnh đất 5% (thường được gọi là ruộng phần trăm), vì công lao chăm bón, cày cấy và thu hoạch trên mảnh ruộng này hoàn toàn thuộc về hộ gia đình, làm được bao nhiêu họ hưởng cả, vì thế
mà họ ra sức chăm bón, cày cấy, quay vòng để nuôi gia đình Tức là khi hộ nông dân được tự chủ, họ có thể toàn tâm, toàn ý, bỏ hết công sức để đạt được năng suất cao nhất
có thể Vậy nếu khoán việc tới hộ nông dân thì sẽ khắc phục được những hạn chế trên và thúc đẩy người lao động hăng hái tham gia sản xuất, tăng năng suất lao động
Vĩnh Phúc là địa phương đầu tiên trong cả nước xuất hiện và thực hiện cơ chế “khoán
việc tới hộ”, thường được gọi là khoán hộ.
Từ năm 1963 đến năm 1965, ở Vĩnh Phúc đã xuất hiện việc khoán hộ rải rác ở các hợp tác xã Văn Quan, Đa Phúc, Hoà Loan, Tứ Kỳ dưới các hình thức khoán nuôi trâu, bò
đẻ, nuôi lợn, khoán trồng rau… Đây chính là những cơ sở thực tiễn ban đầu để hình thành chủ trương khoán hộ của Tỉnh uỷ tỉnh Vĩnh Phúc Ngày 10/09/1966, Ban thường
vụ Tỉnh uỷ Vĩnh Phúc ra nghị quyết về“Một số vấn đề quản lý lao động trong hợp tác
xã hiện nay” Theo nghị quyết này, đối với một số khâu trong quá trình canh tác mà xã
viên có thể đảm nhiệm hiệu quả như cấy, chăm bón lúa (làm cỏ, bón phân, tát nước…)
và thu hoạch, thì giao cho xã viên diện tích phải làm, kèm theo mức khoán số công điểm được ăn chia, sản lượng phải đạt và nộp cho hợp tác xã Với cách làm như vậy, xã viên làm tốt, vượt mức khoán thì họ được hưởng lợi hoàn toàn, nên xã viên hăng hái, chăm chỉ tham gia sản xuất Khả năng tự chủ của hộ gia đình lại được phát huy, mọi tiềm năng lao động lại được tận dụng
Kết quả: khoán hộ đã góp phần thúc đẩy sản xuất nông nghiệp ở Vĩnh Phúc Năm 1965: Vĩnh Phúc có 131 hợp tác xã (chiếm 9,4% tổng số hợp tác xã), đạt 5 tấn lúa/ha với
Trang 8ruộng hai vụ lúa Năm 1967 có 348 hợp tác xã (chiếm 21,4%) đạt sản lượng này, gấp đôi
so với năm 1965 Năm 1967, Vĩnh Phúc huy động thóc làm nghĩa vụ chỉ đạt 99,5% kế hoạch nhưng các loại nông sản khác lại vượt mức: hoa màu, rau xanh đứng thứ 3 toàn miền Bắc, thuốc lá thu mua vượt 14%, thịt bán cho nhà nước vượt 31,5% Một số xã như Cao Trào, Yên Lập đàn trâu đã tăng gấp 3 lần so với năm 1963 Hợp tác xã Đông Nam năng suất lúa tăng từ 520kg vụ chiêm, 840 vụ mùa (năm 1967) lên 602kg vụ chiêm, 980
kg vụ mùa (năm 1968), diện tích canh tác tăng thêm 100 mẫu bãi Năm 1967, tổng đàn lợn trong tỉnh là 307.000 con, tăng 20% so với năm 1966 Vĩnh Phúc là một trong 14 đơn
vị ở miền Bắc vượt kế hoạch thu mua thịt lợn hơi
Kết quả đó cho thấy hiệu quả rõ rệt của khoán hộ ở Vĩnh Phúc, vì trong giai đoạn này khoán hộ chủ yếu được thực hiện với hoa màu, rau và chăn nuôi Với nhiều hình thức khoán khác nhau, phù hợp với tâm lý, khả năng lao động, trình độ quản lý điều hành của cán bộ và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất lúc bấy giờ nên khoán hộ ở Vĩnh Phúc đã huy động và tận dụng được các lực lượng lao động, khuyến khích xã viên hăng hái sản xuất, nâng cao năng suất lao động, hạn chế đáng kể các hiện tượng tiêu cực trong các hợp tác xã lúc bấy giờ
b Từ khoán hộ đến khoán chui, khoán lùi
Tuy nhiên, việc triển khai “khoán hộ” ở Vĩnh Phúc trong hoàn cảnh đó không được sự đồng thuận, và bị coi là sự vượt rào Thông tri số 224-TT/TW ngày 12/12/1968 của Ban
Bí thư Trung ương Đảng “Về chấn chỉnh công tác ba khoán và quản lý ruộng đất của hợp tác xã sản xuất nông nghiệp ở một số địa phương” đã chấn chỉnh việc triển khai
khoán hộ ở Vĩnh Phúc Khoán hộ bị coi là buông lỏng quản lý, khoán trắng ruộng đất, khoán trồng trọt, khoán chăn nuôi, khoán cả công cụ sản xuất cho hộ dẫn đến tư hữu hoá
tư liệu sản xuất, “trái với đường lối hợp tác hoá nông nghiệp của Đảng”, phá vỡ nguyên
tắc quản lý XHCN, phục hồi kinh tế cá thể…, vì vậy việc khoán hộ ở Vĩnh Phúc không
Trang 9được ủng hộ Bí thư Đảng uỷ tỉnh Vĩnh Phúc là ông Kim Ngọc sau đó đã“Quyết tâm sửa chữa khuyết điểm, đưa phong trào hợp tác hoá xã và sản xuất nông nghiệp của tỉnh Vĩnh Phú vững bước tiến lên” (tháng 6/1969).
Sau khi khoán hộ ở Vĩnh Phúc được chấn chỉnh, khoán việc tiếp tục được bảo vệ và thắng thế qua nhiều hội nghị và đại hội Đảng Hội nghị nông nghiệp tại Thái Bình (tháng 8/1974), Đại hội Đảng lần thứ IV (04/1976) mặc dù phát động phong trào đẩy mạnh việc cải tiến quản lý trong các hợp tác xã nhằm cứu vãn phong trào hợp tác hoá nông nghiệp đang lâm vào khủng hoảng nhưng cơ chế quản lý theo khoán việc vẫn được duy trì, và sau khi thống nhất đất nước, lại được triển khai trên toàn quốc Khoán việc tiếp tục kéo
dài dẫn đến tình trạng “sản xuất chậm phát triển, có mặt trì trệ, sút kém, không đảm bảo nhu cầu thiết yếu của nhân dân Nhà nước phải đưa thóc về cứu tế cho nông dân, đời sống nông dân sa sút… sản xuất mang nặng tính chất tự cấp, tự túc, khép kín, phường hội, nhiều tiêu cực mới phát sinh, quản lý mất dân chủ, tham ô, lãng phí…)
Trước tình trạng nông dân thiếu đói trầm trọng, nông nghiệp sa sút, một số địa phương
đã lặng lẽ, kín đáo chuyển sang thực hiện khoán sản phẩm và khoán hộ nên thời kì này
thường được gọi là khoán chui vì khoán hộ bị cấm, cán bộ thực hiện khoán hộ có thể bị
kỷ luật nhưng hoàn cảnh lúc đó, “khoán chui hay là chết” đã buộc một số địa phương,
một số hợp tác xã không còn sự lựa chọn khác
Khoán chuiđược thực hiện ở một số hợp tác xã tại Vĩnh Phú, hợp tác xã Sơn Công
huyện Ứng Hoà, tỉnh Hà Sơn Bình, (từ 1978) Ở Hải Phòng, hàng loạt hợp tác xã thực
hiện khoán chui: xã Minh Tân huyện An Thuỵ thực hiện khoán chui từ năm 1972, xã Bắc Hà và Đoàn Xá (huyện Kiến An) khoán chui từ năm 1977 Ngay cả một số hợp tác
xã nổi tiếng, được coi là lá cờ đầu trong phong trào hợp tác hoá nông nghiệp lúc bấy giờ như Định Công (huyện Thiệu Yên, Thanh Hoá) hay Vũ Thắng (huyện Vũ Thư, Thái
Bình) cũng kín đáo chuyển sang khoán chui [Xem Thái Duy, tr.314,315] Tại Nam
Trang 10Bộ, khoán chui xuất hiện sớm nhất ở xã Hưng Lộc, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai
(từ năm 1979), sau đó là thành phố Hồ Chí Minh, Hậu Giang, Tiền Giang Tỉnh lúa lớn nhất đồng bằng sông Cửu Long là Hậu Giang (nay là Sóc Trăng và Cần Thơ) cũng về Hải Phòng học tập cách thực hiện khoán sản phẩm
Trước hiệu quả thực sự của khoán chui ở các địa phương, Hội nghị lần thứ VI Ban
chấp hành trung ương Đảng (tháng 09/1979) ra Nghị quyết số 20 –NQ/TW ngày
20/09/1979 “Về tình hình và nhiệm vụ cấp bách”, thừa nhận sự tồn tại khách quan của
các thành phần kinh tế, cho phép các hộ xã viên mượn đất sản xuất, ổn định nghĩa vụ lương thực, bãi bỏ việc phân phối định suất, thực hiện phân phối theo lao động, khuyến khích phát triển kinh tế gia đình, nởi lỏng quyền tự do lưu thông và trao đổi nông sản, thực phẩm… Đây được coi là nghị quyết có ý nghĩa mở đầu cho quá trình đổi mới
Tuy nhiên, quá trình đổi mới còn trải qua nhiều bước thăng trầm, quanh co và phức
tạp Tuy đã có sự đổi mới về nhận thức như trên, thấy được lợi ích rõ rệt của khoán chui nhưng một số cán bộ lãnh đạo lại cho rằng khoán chui chỉ là một bước lùi tạm thời,
về lâu dài và căn bản vẫn phải là khoán việc mới là làm ăn tập thể, mới là xã hội chủ
nghĩa Vì vậy, nhiều người mới gọikhoán chui là khoán lùi.
"Khoán chui", một mặt, phản ánh sự bắt đầu đổ vỡ khó tránh khỏi của mô hình tập thể
hoá triệt để ruộng đất, sức lao động và tư liệu sản xuất khác của nông dân; mặt khác, phản ánh tính tất yếu kinh tế - khôi phục lại chức nǎng kinh tế hộ nông dân Khoán 100 bước đầu đáp ứng được yêu cầu khách quan này
c Từ khoán chui đến khoán 100 và khoán 10
Sau Vĩnh Phúc, Hải Phòng là địa phương thứ 2 công khai thực hiện khoán hộ, khoán sản phẩm, bỏ khoán việc Tháng 06/1980, huyện uỷ Đồ Sơn ra nghị quyết số 05 giao ruộng đến xã viên, ngày 27/06/1980, Thành uỷ Hải Phòng ra nghị quyết số 24, công khai chuyển 06 huyện ngoại thành sang khoán sản phẩm, bỏ khoán việc