Làng nghề là một trong những dặc thù của nông thôn Việt Nam. Nhiều sản phẩm được sản xuất trực tiếp tại các làng nghề đã trở thành thương phẩm trao đổi, góp phần cải thiện đời sống gia đình và tận dụng những lao động dư thừa lúc nông nhàn.Làng nghề tái chế phế liệu chủ yếu là các làng nghề mới hình thành, số lượng ít nhưng lại phát triển nhanh về quy mô và loại hình tái chế (chất thải kim loại, giấy, nhựa, vải đã qua sử dụng). Đa số các làng nghề này nằm ở phía Bắc, công nghệ sản xuất đã từng bước được cơ giới hóa.Làng nghề đúc nhôm, chì Văn Môn – Yên Phong – Bắc Ninh cũng giống như bao làng nghề khác, đang góp phần cải thiện đời sống của nhiều hộ gia đình nơi đây và tạo công ăn việc làm cho một số lượng lớn lao động. Tuy nhiên, mỗi ngày, làng nghề này đang thải ra một số lượng lớn chất thải chưa qua xử lý ra môi trường. Do đặc thù làng nghề, chất thải mà làng nghề thải ra mỗi ngày có một lượng lớn là chất thải nguy hại (CTNH), gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe của người dân nơi đây và chất lượng môi trường.Theo quy định của pháp luật, cả chủ thải CTNH phải đăng ký chủ nguồn thải CTNH với cơ quan có thẩm quyền, và phải có trách nhiệm trong thu gom, lưu giữ, vận chuyển và xử lý CTNH của mình. Tuy nhiên, hiện nay ở làng nghề Văn Môn, công tác quản lý CTNH (QLCTNH) đang bị xem nhẹ. Vì vậy mà đã có nhiều hậu quả đáng tiếc xảy ra. Để xây dựng cơ sở cho công tác khắc phục và giảm thiểu hậu quả của việc không QLCTNH đúng cách, chúng em đã nghiên cứu đề tài: “Đánh giá công tác quản lý chất thải nguy hại ở làng nghề đúc nhôm, chì Văn Môn – Yên Phong – Bắc Ninh”.
Trang 1Tiểu luận Quản lý chất thải nguy hại:
ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT THẢI NGUY HẠI Ở LÀNG NGHỀ ĐÚC NHÔM, CHÌ VĂN MÔN
YÊN PHONG – BẮC NINH.
Hà Nội, tháng 3 năm 2012.
Trang 2MỤC LỤC
Trang 3PHẦN I MỞ ĐẦU
Làng nghề là một trong những dặc thù của nông thôn Việt Nam Nhiều sảnphẩm được sản xuất trực tiếp tại các làng nghề đã trở thành thương phẩm traođổi, góp phần cải thiện đời sống gia đình và tận dụng những lao động dư thừalúc nông nhàn
Làng nghề tái chế phế liệu chủ yếu là các làng nghề mới hình thành, số lượng
ít nhưng lại phát triển nhanh về quy mô và loại hình tái chế (chất thải kim loại,giấy, nhựa, vải đã qua sử dụng) Đa số các làng nghề này nằm ở phía Bắc, côngnghệ sản xuất đã từng bước được cơ giới hóa
Làng nghề đúc nhôm, chì Văn Môn – Yên Phong – Bắc Ninh cũng giống nhưbao làng nghề khác, đang góp phần cải thiện đời sống của nhiều hộ gia đình nơiđây và tạo công ăn việc làm cho một số lượng lớn lao động Tuy nhiên, mỗingày, làng nghề này đang thải ra một số lượng lớn chất thải chưa qua xử lý ramôi trường Do đặc thù làng nghề, chất thải mà làng nghề thải ra mỗi ngày cómột lượng lớn là chất thải nguy hại (CTNH), gây ảnh hưởng nghiêm trọng tớisức khỏe của người dân nơi đây và chất lượng môi trường
Theo quy định của pháp luật, cả chủ thải CTNH phải đăng ký chủ nguồn thảiCTNH với cơ quan có thẩm quyền, và phải có trách nhiệm trong thu gom, lưugiữ, vận chuyển và xử lý CTNH của mình Tuy nhiên, hiện nay ở làng nghề VănMôn, công tác quản lý CTNH (QLCTNH) đang bị xem nhẹ Vì vậy mà đã cónhiều hậu quả đáng tiếc xảy ra Để xây dựng cơ sở cho công tác khắc phục vàgiảm thiểu hậu quả của việc không QLCTNH đúng cách, chúng em đã nghiên
cứu đề tài: “Đánh giá công tác quản lý chất thải nguy hại ở làng nghề đúc
nhôm, chì Văn Môn – Yên Phong – Bắc Ninh”.
Trang 4PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1. Về phát sinh chất thải làng nghề
Ở Việt Nam, hiện đã có rất nhiều ngiên cứu về làng nghề, cụ thể:
Cuốn sách “Làng nghề Việt Nam và môi trường”, [Đặng Kim Chi và các
cộng sự, 2005]: Đây là một công trình nghiên cứu tổng quát nhất về vấn đề làngnghề và thực trạng ô nhiễm môi trường các làng nghề hiện nay Tác giả đã nêu
rõ từ lịch sử phát triển, phân loại, các đặc điểm cơ bản làng nghề cũng như hiệntrạng kinh tế, xã hội của các làng nghề Việt Nam hiện nay Cùng với đó là hiệntrạng môi trường các làng nghề (có phân loại cụ thể 5 nhóm ngành nghề chính).Qua đó cũng nêu rõ các tồn tại ảnh hưởng tới phát triển kinh tế và bảo vệ môitrường của làng nghề, nêu dự báo phát triển và mức độ ô nhiễm đến năm 2010,một số định hướng xây dựng chính sách đảm bảo phát triển làng nghề bền vững
và đề xuất các giải pháp cải thiện môi trường cho từng loại hình làng nghề củaViệt Nam
Qua nghiên cứu của tác giả, "100% mẫu nước thải ở các làng nghề đượckhảo sát có thông số vượt tiêu chuẩn cho phép Môi trường không khí bị ônhiễm có tính cục bộ tại nơi trực tiếp sản xuất, nhất là ô nhiễm bụi vượt tiêuchuẩn cho phép (TCCP) và ô nhiễm do sử dụng nhiên liệu than củi Tỷ lệ ngườidân làng nghề mắc bệnh cao hơn các làng thuần nông, thường gặp ở các bệnh vềđường hô hấp, đau mắt, bệnh đường ruột, bệnh ngoài da Nhiều dòng sông chảyqua các làng nghề hiện nay đang bị ô nhiễm nặng; nhiều ruộng lúa, cây trồng bịgiảm năng suất do ô nhiễm không khí từ làng nghề"
Nghiên cứu của PGS.TS Đặng Kim Chi cùng các cộng sự tại 3 làng nghề BắcNinh cho thấy môi trường xung quanh các làng nghề đã bị ô nhiễm ngày càngtrầm trọng Tại làng nghề sản xuất giấy Dương Ổ (Phong Khê – Bắc Ninh):nồng độ CO cao hơn 5mg/l so với TCCP (28 – 36 mg/l) Bụi ở khu vực dân cư
có nồng độ cao hơn TCCP từ 1,3 đến 3 lần CO tại khu vực sản xuất cao gấp 2lần TCCP, tiếng ồn cao hơn TCCP từ 3 – 10 dbA; tại làng nghề tái chế sắt thép
Đa Hội: Không khí xung quanh khu vực hộ gia đình sản xuất cao lớn hơn TCCP
Trang 512 lần, tiếng ồn lớn hơn 28 lần TCCP, bụi hơn 6 lần, nhiệt độ lớn hơn nhiệt độkhông khí từ 4 – 5 0C; làng nghề tái chế nhựa Minh Khai: nồng độ bụi lớn hơnTCCP 1h và 24h là 1- 4 lần và 3 - 6 lần, nồng độ HCl cao hơn TCCP 1,6 lần.[Lê Đức Thọ, 2008].
Đối với khu vực làng nghề đúc nhôm, chì Văn Môn – Yên Phong – Bắc
Ninh, hiện đã có khóa luận tốt nghiệp với đề tài “ Đánh giá hàm lượng kim loại nặng (As, Cd, Pb, Cu, Zn) trong môi trường đất tại làng nghề đúc nhôm, chì Văn môn – Yên Phong – Bắc Ninh” của Vũ Thị Thùy Dương trường Đại học
Nông Nghiệp Hà Nội năm 2008 Nghiên cứu tập trung vào vấn đề ô nhiễm củalàng nghề, đánh giá hiện trạng hàm lượng kim loại nặng trong đất tại Văn Môn,nguồn gốc kim loại nặng từ làng nghề, phân tích tình trạng ô nhiễm, từ đó kiếnnghị các giải pháp hợp lí để thu gom, xử lí chất thải rắn, lỏng, khí Đề tài
“Nghiên cứu chỉ số liều lượng rủi ro của chì (Pb) từ nguồn lương thực tại làng nghề tái chế nhôm Văn Môn – Bắc Ninh” của Lê An Nguyên, Nguyễn Mạnh
Khải (Trường Đại học KHTN, Đại học Quốc gia Hà Nội), Ngô Đức Minh,Nguyễn Công Vinh (Viện Thổ nhưỡng Nông hóa – Viện Khoa học Nông nghiệpViệt Nam), Rupert Lloyd Hough, (Học viện Nghiên cứu sử dụng đất Macaulay,Aberdeen, Vương Quốc Anh), Ingrid Oborn (Khoa Tài nguyên thiên nhiên vàKhoa học nông nghiệp, Trường Đại học Khoa học Nông nghiệp thụy Điển(SLU)) năm 2009 Nghiên cứu đã chỉ ra sự tích lũy chì trong nguồn lương thực(gạo) từ khu vực nông nghiệp bị ảnh hưởng bởi chất thải từ làng nghề Văn Môn
từ đó tính chỉ sô liều lượng rủi ro (HQI) Kết quả cho thấy hàm lượng Pb trongmẫu gạo ở khu vực làng nghề (0,057 ppm) cao hơn có ý nghĩa so với vùng đốichứng (0,029 ppm) cho thấy xu hướng tích lũy Pb trong sản phẩm nông nghiệpcủa làng nghề và có thể gây rủi ro lớn đến sức khỏe con người Tuy nhiênnghiên cứu mới chỉ dừng lại ở việc xem xết các nguồn thải để tính chỉ số HQI
mà chưa đề suất được các biện pháp giảm thiểu
Trang 6Theo báo cáo của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bắc Ninh, nồng độ bụi ởtất cả các vị trí đo trong khu vực làng nghề đúc đồng Đại Bái đều có giá trị vượttiêu chuẩn cho phép từ 2,67 đến 4 lần, tại làng nghề Văn Môn nồng độ bụi cũngvượt tiêu chuẩn tới gần 5 lần… Xuất phát từ thực tế này, năm 2009, được sựgiúp đỡ của Đại sứ quán Nhật Bản, cơ quan hợp tác quốc tế JICA (Nhật Bản) tạiViệt Nam, Trung tâm Khoa học công nghệ và Môi trường thuộc Liên minh cácHợp tác xã Việt Nam, Sở Tài nguyên và Môi trường đã triển khai dự án “Hỗ trợ
6 mô hình trình diễn về xử lý ô nhiễm môi trường khí thải tại các làng nghề táichế kim loại màu trên địa bàn tỉnh” bằng nguồn vốn hỗ trợ không hoàn lại củaChính phủ Nhật Bản
2. Về quản lý chất thải nguy hại làng nghề
Hiện nay, ở việt Nam còn thiếu các nghiên cứu về QLCTNH Hầu hết chỉxây dựng các giải pháp chung cho quản lý chất thải làng nghề, chưa phân tách rõQLCTNH Cụ thể có một số các tài liệu, các đề tài nghiên cứu sau:
Cuốn Tài liệu hướng dẫn áp dụng các giải pháp cải thiện môi trường cho làng nghề tái chế kim loại [GS.TS Đặng Kim Chi và các cộng sự, 2010] cũng đã
chỉ ra công nghệ sản xuất của các làng nghề tái chế kim loại, đánh giá chung vềhiện trạng môi trường làng nghề tái chế kim loại, các thiết bị sử dụng trong quátrình sản xuất, định mức tiêu thụ nguyên – nhiên liệu và hóa chất trong quá trìnhsản xuất, đặc biệt là đã bước đầu kiểm toán chất thải trong công nghệ sản xuất
Từ đó xác định chi phí dòng thải và hậu quả môi trường Trên cơ sở đó, đưa racác giải pháp kỹ thuật – quản lý, các hướng dẫn quan trắc và kiểm soát ô nhiễmmôi trường làng nghề tái chế kim loại
Tổng quát nhất có lẽ phải đề cập đến cuốn “Làng nghề Việt Nam và môi trường” của Đặng Kim Chi và các cộng sự Dựa trên cơ sở đã nghiên cứu tổng
quan về đặc điểm cũng như thực trạng sản xuất, hiện trạng môi trường các làngnghề, tác giả đã đi đến các giải pháp chung nhất cho từng loại hình làng nghề Ở
Trang 7đây cũng đề cập đến việc định hướng xây dựng một số chính sách đảm bảo pháttriển làng nghề bền vững (như các chính sách về hỗ trợ tài chính, chính sách vềthị trường, về cơ sở hạ tầng, giáo dục môi trường…) Qua đó đề xuất các giảipháp, nhìn chung tập trung vào hai nhóm chính là giải pháp kỹ thuật và giải phápquản lý nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường cho các làng nghề Các giải pháp
này được đề cập cụ thể hơn trong “ĐTNC cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc xây dựng các chính sách và biện pháp giải quyết vấn đề môi trường ở các làng nghề Việt Nam” (KC.08.09, 2005), cụ thể là các “Tài liệu hướng dẫn áp dụng các giải pháp cải thiện môi trường” cho các làng nghề nhựa; chế biến nông sản,
thực phẩm; thủ công mỹ nghệ; dệt nhuộm
Các nghiên cứu của Nguyễn Thị Liên Hương, Trần Minh Yến, Đặng VânTrình… đã nêu trên đều có đề cập đến các giải pháp can thiệp
Ngoài những giải pháp về kỹ thuật (sản xuất sạch hơn và sử dụng công nghệ
xử lý chất thải) thì trong công tác quản lý môi trường, các nhà nghiên cứu hiệnđang lưu ý đến một số giải pháp có tính khả thi và có hiệu quả trong điều kiệncủa Việt Nam hiện nay đó là giải pháp có sự tham gia của cộng đồng và pháttriển làng nghề gắn với phát triển du lịch Về khía cạnh này có một số nghiên
cứu, bài viết điển hình như: “Sổ tay hướng dẫn xây dựng kế hoạch phát triển làng nghề sử dụng phương pháp có sự tham gia của cộng đồng” [Bùi Đình Toái, Nguyễn Thị Thu Quế, 2005]; “Môi trường làng nghề với việc phát triển
du lịch bền vững” [Lê Hải, 2006]; “Phát triển bền vững du lịch làng nghề sinh thái – văn hóa” [Nguyễn Thị Anh Thu, 2005); Đặc biệt trong đó có nghiên cứu
về “Tính cộng đồng và xung đột môi trường tại khu vực làng nghề ở đồng bằng sông Hồng, thực trạng và xu hướng biến đổi” [Đặng Đình Long, 2005] Nghiên
cứu đã đề cập đến tình trạng xung đột môi trường hiện nay tại các làng nghềViệt Nam, nhất là khu vực Đồng bằng sông Hồng Các tác giả đã nêu cơ sở lýluận của việc nghiên cứu mối quan hệ giữa tính cộng đồng với xung đột môitrường tại khu vực nông thôn Đồng bằng sông Hồng và đã đi đến những kết luận
khá rõ ràng có liên quan như: “chất lượng môi trường tại các làng nghề hiện nay
Trang 8là rất xấu; nhận thức đối với việc bảo vệ môi trường của cộng đồng còn hạn chế; Tâm lý phổ biến của chính quyền và cộng đồng trước thực trạng ô nhiễm là sự trông chờ vào các cấp cao hơn, chưa có ý thức tự giác; mô hình ứng xử cơ bản của người dân đối với vấn đề môi trường là không biết làm gì và không có những hành
vi cụ thể để bảo vệ môi trường….”
Theo kết quả khảo sát của các tác giả tại 3 làng nghề điển hình thì tỷ lệ những ýkiến trông chờ sự giải quyết ô nhiễm vào Nhà nước chiếm tới 56,6%; giải phápnâng cao nhận thức môi trường chiếm 14,8%; thông cảm và cùng người sản xuất
xử lý ô nhiễm chỉ có 8,5%, đặc biệt ý kiến nếu không xử lý ô nhiễm thì ngừng sảnxuất chỉ có 1,1% [Đặng Đình Long, 2005] Qua đó cho thấy rằng ý thức của cộngđồng trong vấn đề phát triển kinh tế gắn với môi trường còn nhiều hạn chế, vấn đềxung đột môi trường có nguy cơ khá cao và phức tạp
Việt Nam cũng đang có nhiều cố gắng trong việc tiếp thu kinh nghiệm của cácnước đi trước trên thế giới và trong khu vực trong lĩnh vực quản lý môi trường Đốivới môi trường làng nghề, năm 2005 Bộ Tài nguyên và Môi trường phối hợp vớiNgân hàng thế giới (WB) cùng với Bộ Môi trường Hàn Quốc tổ chức Hội thảo ápdụng kinh nghiệm Hàn Quốc trong quản lý môi trường các làng nghề truyền thốngViệt Nam
Hơn nữa, kể từ khi Hiệp hội làng nghề Việt Nam được thành lập (2005) chođến nay đã có nhiều chương trình hoạt động cụ thể nhằm cải thiện về mặt chínhsách, ủng hộ về nguồn vốn, nâng cao kinh nghiệm quản lý, mở rộng thị trường,tạo thương hiệu cho các sản phẩm, quan tâm đến vấn đề môi trường các làngnghề…, khuyến khích cho các làng nghề phát triển về nhiều mặt
Trang 9PHẦN III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1. Giới thiệu về tình hình sản xuất của làng nghề
Hoạt động chủ yếu của làng nghề Văn Môn là đúc nhôm Xã có 450 hộ làmnghề đúc nhôm, trong đó có trên 100 hộ sản xuất lớn, 236 hộ chuyên thu gomphế liệu Sản lượng nhôm, đồng phế liệu chế biến hàng năm khoảng trên 3000tấn Các mặt hàng sản xuất gồm:
- Đúc nhôm: 450 hộ sản xuất gồm các mặt hàng như đồ gia dụng, nhômthỏi… với sản lượng khoảng 2000 tấn/năm
- Đúc chì: 01 hộ sản xuất chì kẹp công tơ điện với sản lượng khoảng 100kg/ngày, tương đương với 30 tấn/năm
- Đúc kẽm: 02 hộ sản xuất với lượng trên 2 tấn/ngày, tương đương với
Trang 10n th
ế, d
ây c
áp đ iện
•
Đồ dù
ng s inh hoạt
bị l oại bỏ
u, n ilon
•
Dầu
mỡ t rong các m
áy bi
ến t hế
•
Tro
từ v iệc đố
t d
ây c
áp đ iện đ
ể lấ
y đồ ng
n liệ
u là tha n
•
Chấ
t th ải:
•
Khí thả i: C
O, S O2, CO
2, N
Ox, bụi
•
Nhi
ệt độ , tiế
ng ồ n
•
Xỉ t han,
xỉ k im loạ i
i, n hiệt độ, tiế
ng ồ n
•
Nướ
c là
m m át
Trang 11Đầu mẩu nh ôm
X oon
g, mâm, .
it c
ó ch
ứa cặn n hôm
ứa axit , cặn nh ôm
Trang 123. Thực trạng phát sinh chất thải nguy hại
Sơ đồ dòng vật chất cho một hộ sản xuất nhôm điển hình
Nhôm phế liệu:
200 kg/ngày
Sản phẩm(170 kg/ngày)
Cám nhôm: 5 kg/ngày (đưa
đi nấu lại)Nhiệt độ, tiếng ồnCán kéo, tạo hình
Vẩy nhôm, xỉ nhôm: 10-20kg/ngày
Nước thải (chứa dầu mỡ,CTR): 3,06-3,21 m3/ngàyAxit, bazơ, chất tạo bóngNhiệt độ, tiếng ồn
Bụi: 0,728-0,91 kg/ngàyKhí lò (CO, CO2, SO2,
NOx): 2,9-3,7 kg/ngày
Xỉ than: 22-27 kg/ngày(chiếm 27% nhiên liệu)Nhiệt độ, tiếng ồnPhân loại
Trang 13Theo mục 7 Danh mục CTNH ban hành kèm theo Quyết định23/2006/QĐ-BTNMT, CTNH mà làng nghề đúc nhôm, chì Văn Môn – YênPhong – Bắc Ninh thải ra gồm có:
Khoảng 5000 l/năm
Xỉ than có lẫn kim loại Quá trình nấu chảy 217,5 tấn/năm
Nước thải có chứa kim
loại, axit, dầu mỡ
Làm sạch bề mặt kim loại
Đúc khuôn
Đánh bóng, xử lý bề mặt
_Các khí thải độc hại Quá trình nấu chảy _
Ghi chú: _ Không định lượng được
Trang 144. Bộ máy quản lý môi trường tại Bắc Ninh
Bộ Tài nguyên và Môi
trườngUBND tỉnh Bắc Ninh
Sơ đồ tổ chức các cơ quan quản lý môi trường.
Sở Tài nguyên vàMôi trường
Trang 155. Những văn bản pháp luật hiện hành có liên quan
Điều 38 của luật BVMT 2005 quy định rất rõ về BVMT đối với làng nghề.Tuy rằng những quy định này còn rất ngắn gọn, chưa cụ thể chi tiết, nhưng đâycũng là văn bản có tính pháp lý đầu tiên quy định về BVMT ở các làng nghề.Thông tư số 12/2011/TT-BTNMT quy định về QLCTNH
Thông tư số 46/2011/TT-BTNMT quy định về bảo vệ môi trường làng nghề.Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 07:2009/BTNMT về ngưỡng chất thảinguy hại
Tiêu chuẩn TCVN 6706:2009 về CTNH – phân loại
Tiêu chuẩn TCVN 6707:2009 về CTNH – dấu hiệu cảnh báo
Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 4317:86 - Nhà kho - Nguyên tắc cơ bản thiếtkế
Tiêu chuẩn xây dựng TCXD 320:2004- Bãi chôn lấp CTNH – Tiêu chuẩnthiết kế
Quy chế BVMT làng nghề tỉnh Bắc Ninh và đề án giảm thiểu ô nhiễm môitrường làng nghề tỉnh Bắc Ninh ban hành tháng 7/2000
Công ước Basel về kiểm soát vận chuyển qua biên giới các phế thải nguyhiểm và việc tiêu hủy chúng (gồm có 29 điều, 6 phụ lục)
Công ước Stockhom về POP mà Việt Nam đã tham gia Đây là công ướcđang sử dụng hiện tại ở Việt Nam
Ngoài ra còn có các văn bản pháp luật và các công ước mà Việt Nam đã thamgia khác
6. Quản lý chất thải nguy hại tại cơ sở
Nhận xét chung: Làng nghề Văn Môn phát triển theo hướng tự phát, không
có quy hoạch, trình độ công nghệ thấp, lao động giản đơn, chưa được đào tạođầy đủ cơ bản, chủ yếu dựa vào kinh nghiệm, ý thức BVMTchưa cao, sản xuấtchạy theo lợi nhuận và kinh tế, bất chấp độc hại, nguy hiểm gây ô nhiễm môitrường, thiếu các chính sách đồng bộ từ cơ quan quản lý trung ương tới địaphương về hỗ trợ sản xuất và quản lý môi trường tại làng nghề, chưa có ban