Việt Nam đã và đang tiến hành công cuộc đổi mới kinh tế, Công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước. Trong suốt hơn hai thập kỉ qua nền kinh tế của đất nước đã thu được nhiều thành tựu to lớn, tốc độ tăng trưởng GDP nhanh, thu nhập bình quân đầu người được cải thiện đáng kể, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng nông nghiệp, không chỉ ở các vùng đô thị, mức sống của người dân vùng nông thôn cũng được nâng cao, góp phần ổn định chính trị xã hội và an ninh – quốc phòng. Chính vì vậy các ngành công nghiệp phát triển ngày càng mạnh mẽ, các khu công nghiệp, nhà máy được xây mới, mở rộng ở nhiều địa phương với tốc độ nhanh, mạnh trên phạm vi cả nước. Theo đó khối lượng lớn các chất thải khí, lỏng, rắn đã và đang bị đưa vào môi trường. Chúng được đưa vào môi trường theo nhiều con đường khác nhau, làm cho môi trường trở lên ô nhiễm, gây tác hại nghiêm trọng đến đời sống con người, động thực vật. Môi trường ô nhiễm đồng nghĩa với việc gia tăng các căn bệnh về đường hô hấp, đường tiêu hóa, bệnh ngoài da và các bệnh về đau mắt, ung thư, và nhiều các căn bệnh hiểm nghèo khác…,làm suy giảm năng suất cây trồng và vật nuôi. Bên cạnh đó, lượng chất thải nguy hại phát sinh ngày càng nhiều, nó nhân tác hại lên rất nhiều lần. Vì vậy vấn đề quản lý và xử lý chất thải nguy hại đang là một vấn đề bức xúc của xã hội. Công ty giấy Bãi Bằng đặt tại thị trấn Phong Châu, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ. Tổng diện tích hiện nay của công ty khoảng hơn 80 ha, đây là vùng đồi núi có bề mặt khá bằng phằng, có độ cao trung bình 32m so với mực nước biển. Là công ty sản xuất giấy và bột giấy lớn nhất ở nước ta hiện nay. Với sự phát triển lớn mạnh về quy mô sản xuất của nhà máy giấy Bãi Bằng làm phát sinh lượng chất thải ngày càng nhiều. Vấn đề thu gom, vận chuyển, xử lý và quản lý chất thải nguy hại tại nhà máy giấy Bãi Bằng – tỉnh Phú Thọ ngày càng trở lên cấp thiết. Vấn đề chất thải phát sinh từ các ngành công nghiệp nói chung và tại nhà máy giấy Bãi Bằng nói riêng nếu không được xử lý hoặc xử lý chưa triệt để sẽ là một vấn đề rất đáng lo ngại. Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Tình hình quản lý và xử lý chất thải nguy hại tại nhà máy giấy Bãi Bằng, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ”.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
KHOA TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
ĐỀ TÀI: “Tình hình quản lý và xử lý chất thải nguy hại tại nhà
máy giấy Bãi Bắng – thị trấn Phong Châu – huyện Phù Linh –
tỉnh Phú Thọ”
Nhóm sinh viên thực hiện:
Người hướng dẫn:
Trang 2
MỤC LỤC I ĐẶT VẤN ĐỀ……… 9
II TỔNG QUAN TÀI LIỆU THAM KHẢO -10
2.1-Tình hình sản xuất giấy trên thế giới. -11
2.2- Tình hình sản xuất giấy ở Việt Nam -12
III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TẠI NHÀ MÁY GIẤY BÃI BẰNG -15
3.1 Tình hình hoạt động nhà máy giấy Bãi Bằng -15
3.1.1 Điều kiện tự nhiên -15
3.1.2 Tình hình sản xuất của công ty -16
3.1.3 Năng lực về công nghệ sản xuất sản phẩm -19
a Quy trình sản xuất -19
b Thiết bị chính của Công nghiệp giấy Bãi Bằng và các nguồn thải 23 3.2 Các nguồn phát sinh chất thải nguy hại tại công ty giấy Bãi Bằng. -25
3.3 Các văn bản pháp luật liên quan được sử dụng trong quản lý chất thải nguy hại ngành giấy. -29
3.4 Quá trình thu gom, lưu giữ và vận chuyển chất thải nguy hại tại công ty giấy Bãi Bằng. -29
III KẾT LUẬN -31
TÀI LIỆU THAM KHẢO -31
Trang 3Chính vì vậy các ngành công nghiệp phát triển ngày càng mạnh mẽ,các khu công nghiệp, nhà máy được xây mới, mở rộng ở nhiều địa phươngvới tốc độ nhanh, mạnh trên phạm vi cả nước Theo đó khối lượng lớn cácchất thải khí, lỏng, rắn đã và đang bị đưa vào môi trường Chúng được đưavào môi trường theo nhiều con đường khác nhau, làm cho môi trường trở lên
ô nhiễm, gây tác hại nghiêm trọng đến đời sống con người, động thực vật.Môi trường ô nhiễm đồng nghĩa với việc gia tăng các căn bệnh về đường hôhấp, đường tiêu hóa, bệnh ngoài da và các bệnh về đau mắt, ung thư, vànhiều các căn bệnh hiểm nghèo khác…,làm suy giảm năng suất cây trồng vàvật nuôi Bên cạnh đó, lượng chất thải nguy hại phát sinh ngày càng nhiều,
nó nhân tác hại lên rất nhiều lần Vì vậy vấn đề quản lý và xử lý chất thảinguy hại đang là một vấn đề bức xúc của xã hội
Công ty giấy Bãi Bằng đặt tại thị trấn Phong Châu, huyện Phù Ninh, tỉnhPhú Thọ Tổng diện tích hiện nay của công ty khoảng hơn 80 ha, đây là vùngđồi núi có bề mặt khá bằng phằng, có độ cao trung bình 32m so với mựcnước biển Là công ty sản xuất giấy và bột giấy lớn nhất ở nước ta hiện nay
Trang 4Với sự phát triển lớn mạnh về quy mô sản xuất của nhà máy giấy Bãi Bằnglàm phát sinh lượng chất thải ngày càng nhiều Vấn đề thu gom, vận chuyển,
xử lý và quản lý chất thải nguy hại tại nhà máy giấy Bãi Bằng – tỉnh Phú Thọngày càng trở lên cấp thiết Vấn đề chất thải phát sinh từ các ngành côngnghiệp nói chung và tại nhà máy giấy Bãi Bằng nói riêng nếu không được xử
lý hoặc xử lý chưa triệt để sẽ là một vấn đề rất đáng lo ngại
Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Tình hình quản lý và xử lý chất thải nguy hại tại nhà máy giấy Bãi Bằng, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ”.
I TỔNG QUAN TÀI LIỆU THAM KHẢO
Giấy là một sản phẩm của nền văn minh nhân loại với lịch sử hàngnghìn
năm Thành phần chính của giấy là xelluloz, một loại polyme mạch thẳng vàdài có trong gỗ, nằm bên trong lõi cây Trong gỗ, xelluloz được bao quanhbởi một màng lignin cũng là polyme Để tách xelluloz ra khỏi màng polymer,
người ta phải sử dụng phương pháp nghiền, sau đó sử dụng chất để xử lý
Những sản phẩm giấy sau khi sử dụng sẽ sản sinh ra giấy loại Giấy đã qua
sử dụng nếu không được đem tái sản xuất sẽ rất lãng phí Không phải nguồnnguyên liệu lúc nào cũng sẵn có trong tự nhiên, sau một thời gian sẽ khôngcòn đủ cho sản xuất giấy nữa, và không còn đủ để đáp ứng nhu cầu ngàycàng tăng của con người Do vậy chúng ta phải tìm ra một phương pháp haymột hướng đi mới cho ngành giấy, và phương pháp sản xuất giấy từ giấy đãqua sử dụng là một hướng đi mới cho ngành giấy [10]
Giấy có thành phần được cấu tạo bởi một mạch polyme thẳng và dài, đó là mộtloại xelluloz rất khó phân hủy trong tự nhiên, nhưng với giấy đã được thì có rấtnhiều phương pháp để xử lý
Trang 52.1-Tình hình sản xuất giấy trên thế giới
Ngành công nghiệp sản xuất giấy và bột giấy là một ngành công nghiệp pháttriển lớn mạnh, có quy mô toàn cầu Nhu cầu toàn thế giới năm 1998 khoảng
140 triệu tấn.Ở các nước Tây Âu: 27%, Bắc Mỹ: 24%, Nhật Bản: 11%, Trungquốc: 8%, Hàn quốc: 4%, các nước còn lại: 27% Tình hình sử dụng giấy táisinh trên thế giới đạt 46% và của một số quốc gia trong năm 1998 được đưa ratrong bảng sau:
Bảng 1: Mức độ sử dụng và thu gom giấy loại % của một số quốc gia trên thế giới:
4943657144622630
43
Đài LoanHànQuốc
Hà LanÚcNhật BảnUSAThụyĐiểnPhần LanCanada
907561585340185
58756548544558 42
Trang 6Mục tiêu của nhiều quốc gia là đạt được 70% tái sử dụng sơ sợi trong sản xuấtgiấy in báo, cactong vào năm 2010 Điều này đặt gánh nặng lên việc sử dụnghợp lý các sản phẩm giấy và cactong đã qua sử dụng thiết kế sản phẩn hợp lý,phân loại tại nguồn, loại các tạp chất của xơ sợi đảm bảo an toàn Môi trường Tái sử dụng: giấy báo cũ, giấy mỏng đã in và không in, cactong sóng cũ.
Có lý do để không tái sử dụng giấy và cactong Các sản phẩm có thể chứa cáctạp chất đến mức chúng không còn tái sử dung
Ngoài việc tái sản xuất các sản phẩm từ giấy, Người ta còn phương pháp kháclà: phương pháp đốt giấy loại
Một ứng dụng khác của giấy loại là sử dụng chúng như là nhiên liệu Thực tếgiấy là nhiên liệu sinh học lý tưởng với nhiệt trị khoảng 19MJ/Kg Chúng ta cóthể coi xơ sợi như là khoản đi vay Chúng ta mượn gỗ để sản xuất giấy hay cattông Khi chúng ta đọc báo xong hay sử dụng xong cactong đựng sữa, chúng tachuyển chúng thành nhiên liệu sinh học
2.2- Tình hình sản xuất giấy ở Việt Nam
Theo thống kê của Hiệp hội giấy Việt Nam, ngành giấy đạt tốc độ tăng trưởng
cao và liên tục trong những năm vừa qua Từ năm 1990 đến 1999, tốc độ tăngtrưởng bình quân là 16% /năm, 3 năm sau đó (2000, 2001 và 2002) đạt20%/năm Dư báo tốc độ tăng trưởng 5 năm tiếp theo là 28% /năm
Với tốc độ tăng trưởng cao như vậy, cùng với gia tăng sản phẩm giấy nhậpkhẩu, đã giúp định suất tiêu thụ giấy trên đầu người của Việt Nam tăng từ3,5kg/người/năm trong năm 1995 lên 7,7kg/người/năm trong năm 2000,11,4kg/người/năm trong năm 2002 và khoảng 16kg/người/năm trong năm 2005
Để đáp ứng đươc mức độ tăng trưởng trên, ngành giấy Việt Nam đã có chiếnlược phát triển từ nay đến 2010, đến năm 2010 sản lượng giấy trong nước sẽ đạt
Trang 7tới 1,38 triệu tấn giấy/ năm ( trong đó khoảng 56% là nhóm giấy công nghiệpbao bì và 25% là nhóm giấy vệ sinh) và 600.000 tấn bột giấy.
Hiện tại, bên cạnh khó khăn về chủ động nguồn bột giấy, ngành giấy ViệtNam đang đối mặt với các thách thức về quy mô, trình độ công nghệ và các vấn
đề về xử lý môi trường
Đặc trưng của ngành giấy Việt Nam là quy mô nhỏ Việt Nam có tới 46%doanh nghiệp có công suất dưới 1.000 tấn/năm, 42% có công suất từ 1.000-10.000 tấn/năm và chỉ có doanh nghiệp có công suất trên 50.000 tấn/năm Sốlượng các doanh nghiệp có quy mô lớn trên 50.000 tấn/năm sẽ ngày càng giatăng do quá trình đầu tư tăng trong giai đoạn 2006-2007 Quy mô nhỏ làm ảnhhưởng đến tính cạnh tranh sản xuất do chất lượng thấp, chi phí sản xuất và xử lýmôi trường cao
Công nghệ sản xuất từ những năm 70-80 hiện vẫn còn đang tồn tại phổbiến, thậm chí ở cả những doanh nghiệp sản xuất quy mô trên 50.000 tấn/năm.Nước thải, lignin là những vấn đề môi trường chính đối với ngành sản xuấtgiấy Việc xử lý là bắt buộc trước khi thải ra môi trường Bên cạnh đó, phát thảikhí từ nồi hơi, chất thải rắn của quá trình nấu, bùn thải của hệ thống xử lý nướcthải cũng là những vấn đề môi trường cần được quan tâm
Hiện tại chiến lược phát triển ngành giấy và bột giấy Việt Nam khuyếnkhích việc thành lập các doanh nghiệp sản xuất bôt có công suất trên 100.000tấn/năm, và sản xuất giấy trên 150.000 tấn/năm Hiệp Hội Giấy Việt Nam đangxúc tiến xây dựng tiêu chuẩn phát thải môi trường ngành, đồng thời đề xuất cắtgiảm hỗ trợ đối với các cơ sở sản xuất giấy có quy mô dưới 30.000 tấn/năm
Trang 8Cả nước có gần 500 doanh nghiệp sản xuất giấy, trong đó chỉ có khoảng 10% doanh nghiệp đạt tiêu chuẩn môi trường cho phép, còn hầu hết các nhà máy đềukhông có hệ thống xử lý nước thải hoặc có nhưng chưa đạt yêu cầu, vì thế tình trạng gây ô nhiễm môi trường do sản xuất giấy cũng đang là vấn đề được nhiều người quan tâm So với nhiều ngành công nghiệp sản xuất khác, ngành giấy có mức độ ô nhiễm cao và dễ gây tác động đến con người và môi trường xung quanh do ô nhiễm từ nguồn nước thải xử lý không đạt yêu cầu
Công nghệ sản xuất giấy ở Việt Nam còn rất lạc hậu Để sản xuất ra một tấn giấy thành phẩm, các nhà máy phải sử dụng từ 30-100 m3 nước, trong khi các nhà máy giấy hiện đại của thế giới chỉ sử dụng 7-15 m3/tấn giấy Sự lạc hậu nàykhông chỉ gây lãng phí nguồn nước ngọt, tăng chi phí xử lý nước thải mà còn đưa ra sông, rạch lượng nước thải khổng lồ
Trong các cơ sở công nghiệp giấy và bột giấy, nước thải thường có độ pH trung bình 9 – 11, chỉ số nhu cầu ôxy sinh hoá (BOD), nhu cầu oxy hoá học (COD) cao, có thể lên đến 700mg/l và 2.500mg/l Hàm lượng chất rắn lơ lửng cao gấp nhiều lần giới hạn cho phép Đặc biệt nước có chứa cả kim loại nặng, lignin (dịch đen), phẩm màu, xút, các chất đa vòng thơm Clo hoá là những hợp chất cóđộc tính sinh thái cao và có nguy cơ gây ung thư, rất khó phân huỷ trong môi trường Có những nhà máy giấy, lượng nước thải lên tới 4.000 – 5.000m3/ngày, các chỉ tiêu BOD, COD gấp 10 – 18 lần tiêu chuẩn cho phép; lượng nước thải này không được xử lý mà đổ trực tiếp vào sông
Ngoài ra, trong công nghiệp xeo giấy, để tạo nên một sản phẩm đặc thù hoặc những tính năng đặc thù cho sản phẩm, người ta còn sử dụng nhiều hóa chất và chất xúc tác Những chất này nếu không được thu hồi hoặc xử lý mà xả thẳng rasông ngòi thì vấn đề ô nhiễm là không tránh khỏi, làm mất cân bằng sinh thái trong môi trường nước
Trang 9Hiện nay, ở các khu vực có cơ sở sản xuất giấy đang phải chịu sức ép nặng nề
về ô nhiễm môi trường, để sản xuất mỗi tấn bột giấy phải thải ra 10 tấn dịch đen Riêng khu vực sông Cầu, chỉ với 3.500 m3 nước xả mỗi ngày, nhưng ngànhgiấy đã là thủ phạm số một gây ô nhiễm nặng cho dòng sông này, trong đó nhà máy giấy Hoàng Văn Thụ đứng đầu bảng
Công nghệ sản xuất giấy ở Việt Nam còn rất lạc hậu Để sản xuất ra một tấngiấy thành phẩm, các nhà máy phải sử dụng từ 30-100 m3 nước, trong khi cácnhà máy giấy hiện đại của thế giới chỉ sử dụng 7-15 m3/tấn giấy Sự lạc hậu nàykhông chỉ gây lãng phí nguồn nước ngọt, tăng chi phí xử lý nước thải mà cònđưa ra sông, rạch lượng nước thải khổng lồ Công nghiệp sản xuất giấy và bộtgiấy ở Việt Nam là một ngành công nghiệp lớn mạnh Tuy nhiên, vấn đề thugom, xử lý và quản lý chất thải của ngành công nghiệp là một vấn đề cấp thiết
và cần được quan tâm nhiều hơn nữa
III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TẠI NHÀ MÁY GIẤY BÃI BẰNG
3.1 Tình hình hoạt động nhà máy giấy Bãi Bằng
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
Công ty giấy Bãi Bằng là một công ty sản xuất giấy và bột giấy lớn nhất nước
ta hiện nay Công ty hình thành từ năm 1974, được xây dựng bằng nguồn việntrợ không hoàn lại của chính phủ Thụy Điển từ khâu thiết kế, xây dựng, chuyểngiao công nghệ và đào tạo nhân lực Chính thức đổi tên thành công ty giấy BãiBằng vào năm 1992
Phát triển qua nhiều giai đoạn, đáng chú ý là 2 giai đoạn mở rộng sản xuất:Năm 2003 nâng năng lực sản xuất lên 100.000 tấn/năm và năm 2005 nâng nănglực sản xuất lên 250.000 tấn/năm đã và đang cung cấp cho thị trường trongnước một khối lượng giấy đáng kể có chất lượng cao, được người tiêu dùng ưa
Trang 10chuộng và cũng đã vươn ra thị trường một số nước trong khu vực như Malaysia,Thái Lan, Singapore, Sri Lanka, Hồng Kông, Đài Loan
Công ty giấy Bãi Bằng đặt tại thị trấn Phong Châu, Phù Ninh, Phú Thọ, đây làvùng đồi có bề mặt khá bằng phẳng Đây là khu vực có nguồn tài nguyên rấtphong phú, trong đó Sông Hồng và Sông Lô là hai nguồn nước mặt lớn nênthuận lợi cho cấp nước sạch trong sản xuất và thoát nước thải
Sông Lô được khai thác để cấp nước cho sản xuất, sinh hoạt của công nhân nhàmáy Sông Hồng hiện đang tiếp nhận toàn bộ vị trí nước thải của công ty Hệthống giao thông ngày càng được mở rộng, cảng nguyên liệu ở sông Lô đượcxây dựng Công ty và khu dân cư hình thành, phát triển cho đến nay đã tác độngđến môi trường đất , nước và không khí vùng phụ cận
3.1.2 Tình hình sản xuất của công ty
Bảng 2: Sản lượng giấy sản xuất của công ty giấy Bãi Bằng ( 1992-2001)
hoạch (Tấn)
Sản lượng thực tế
36.14532.02034.48150.06257.02753.63160.02963.10165.324
100,4084,9298,52131,7495,0592,27109,1497,92101,19
Trang 112001 66.000 73.233 111,00
(Nguồn: Công ty giấy Bãi Bằng)
Qua biểu đồ ta nhận thấy tuy sản lượng có biến động lên xuống giữa các nămsong xu hướng đi lên vẫn là chính, Trong những năm cuối thế kỉ 20 và nhữngnăm đầu thế kỉ 21, sản lượng giấy tăng khá đồng đều và không có biến độnglớn Nhưng đến năm 1995 sản lượng giấy đạt 50.062 tấn, tăng 15.581 tấn tươngứng với 45.19% so với năm trước đó Điều này cho thấy những năm gần đâycông ty đã có cố gắng nhiều trong ổn định sản xuất đảm bảo phát triển nhịpnhàng cân đối
Biểu đồ 1: Biểu đồ lượng giấy thực té sản xuất qua các năm của công ty giấy Bãi Bằng (1992 – 2001)
Trang 12mở rộng giai đoạn 2 - Xây dựng một Nhà máy sản xuất bột giấy thương phẩm250.000 tấn/năm hoàn thành trước năm 2007 với chất lượng sản phẩm và môitrường đạt tiêu chuẩn quốc tế.
Trong những năm tới, nhất là khi Việt Nam tham gia khu vực mậu dich tự doAFTA sẽ có sự cạnh tranh gay gắt giữa các nhà máy giấy Nên việc nâng caonăng suất cải tiến là điều không thể tránh khỏi Như vậy lượng chất thải thải ramôi trường là khá lớn Ngay cả khi công ty giấy Bãi Bằng là 1 trong những nhàmáy uy tín về xử lý chất thải Vì thế cần quan tâm đến công tác quản lí xử líchất thải trong bãi Bằng nói riêng và các nhà máy giấy nói chung
3.1.3 Năng lực về công nghệ sản xuất sản phẩm
Công ty giấy Bãi Bằng được tổ chức sản xuất theo mô hình sản xuất phức tạpkiểu liên tục, sản phẩm sản xuất ra cuối cùng là sự hỗ trợ kết hợp sản xuất khépkín từ điện-hơi- nước – xút- clo- hypo-cơ khí-vận tải-xút thu hồi- bột giấy
- Sản phẩm chính:
+ Giấy in: Dạng cuộn, tờ, sử dụng cho việc in tài liệu, sách các loại
+ Giấy viết: Dạng cuộn, tờ, dùng để sản xuất vở, đóng sổ
+ Giấy photocopy: Sử dụng cho các loại máy photocopy
+ Giấy Tissue: Dạng cuộn, để gia công giấy vệ sinh, khăn ăn các loại
+ Các sản phẩm chế biến: Khăn ăn (hộp hoặc gói), giấy vệ sinh, khăn ăn bỏ túi.+ Các sản phẩm gỗ: gỗ dán, bàn, ghế, cửa các loại, trang thiết bị nội thất, đồdùng văn phòng
Trang 13Nguyên liệu thô (tre, nứa, gỗ) được đưa vào chặt thành mảnh qua hệ thống máychặt nguyên liệu và thủ công Sau khi qua các công đoạn chặt, rửa: các mảnhnày được đưa qua hệ thống sàng để laoij những mảnh không hợp cách, nhữngmảnh hợp cách được vận chuyển về kho chứa mảnh qua hệ thống băng tải và từđây đưa vào nồi nấu theo tỉ lệ phối trộn 50% sợi dài (mảnh tre nứa) và 50% sợingắn ( mảnh gỗ các loại).
Từ sân mảnh, mảnh được đưa vào các nồi nấu qua hệ thống ống thổi mảnh( theo nguyên lí khí động học) Quá trình đưa mảnh vào nồi nấu được vận hànhbằng hệ thống thiết bị nghi khí điều khiển và khi nấu bột hóa chất sử dụng làxút và Na2SO4.
Sau khi nấu bột đến công đoạn rửa, dịch đen loãng thu hồi được trong quá trìnhrửa bột được đưa vào chưng bốc thành dịch đen đặc cung cấp cho nồi hơi thuhồi Bột sau khi rửa được đưa sang công đoạn sàng chọn để loại bỏ mấu mắt vàtạp chất Sauk hi rửa xong bột được cô đọng tới 12% và đưa sang công đoạn tẩytrắng, theo yêu cầu phải tiến hành tẩy trắng bằng các hóa chất như xút, Clo,NaCl, H2O2; Các hóa chất này phải được cung cấp từ nhà máy hóa chất hoặcđược mua ngoài
Sau quá trình tẩy trắng, bột giấy được đưa ra phân xưởng xeo để sản xuất giấy.Trước tiên, bột giấy được bơm tới công đoạn chuẩn bị bột và phụ gia Tại đâybột giấy được nghiền nhờ hệ thống máy nghiền, để đưa độ nghiền của bột từ 150
SR lên 35-400 SR Do yêu cầu về sản lượng và chất lượng sản phẩm, công typhải nhập bột ngoại với tỉ lệ dung từ 15-20%, bột ngoại nhập cũng được xử lítại coong đoạn này Bột sau khi nghiền được phối trộn với một số hóa chất phụgia như keo ADK; CaCO3, bentonite, tinh bột, cataretin…nhằm cải thiện một sốtính chất của giấy sau này
Trang 14Để tờ giấy đạt được các tiêu chuẩn mong muốn về bền đẹp, trước khi hìnhthành tờ giấy, dung dịch bột được xử lí qua một hệ thống phụ trợ để loại bỏ tạpchất, tạo cho bột không bị vón cục và có nồng đọ áp lực ổn định Sau khi qua
hệ thống phụ trợ, dung dich bột giấy được đưa lên máy xeo và tờ giấy ướt đượchình thành, tờ giấy tiếp tục qua bộ phận sấy khô, kết thúc công đoạn sấy khô tờgiấy đạt độ khô từ 93-95% và được cuộn lại thành từng cuộn giấy to Các cuộntiếp tục được chuyển lên máy cuộn để cuộn lại và cắt thành các cuộn giấy nhỏ
có đường kính từ 90-100 cm; chiều rộng tùy yêu cầu của khách hàng Nhờ cóbăng tải và thang máy, các cuộn giấy này được chuyển tới bộ phận hoàn thành
để gia công chế biến, bao gói thành các sản phẩm Tất cả các sản phẩm đượcnhân viên KCS kiểm tra nghiêm ngặt, sau đó bao gói và nhập kho thành phẩm
để bán cho khách hàng
Tổ chức quá trình sản xuất của công ty:
Về quy mô thì công ty giấy Bãi Bằng là một trong những công ty có quy mô lớn
ở nước ta cả về lao động, máy móc thiết bị cùng những công tác tổ chức quản lí.Quá trình sản xuất được tổ chức một cách nhịp nhàng, tuần tự giữa các bộ phận,các công đoạn sản xuất Sản phẩm của công ty gồm giấy in giấy viết giấy đánhmáy, giấy telex…sản phẩm của công ty được nhiều người tiêu dùng ưa chuộng
và đạt tiêu chuẩn cao trên thị trường Công ty giấy Bãi Bằng thuộc loại hình sảnxuất liên tục, phân công công việc theo từng quy trình công nghệ, mỗi nơi làmviệc đảm bảo phụ trách một công đoạn quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm
Sơ đồ 1: Quy trình sản giấy tại công ty giấy Bãi Bằng