Lần đầu tiên đặc điểm thành phần loài và cấu trúc của quần xã Oribatida được nghiên cứu và khảo sát, theo một số đặc điểm gồm các loại sinh cảnh rừng phòng hộ, Đảo Ngọc, Bãi tắm, Vườn qu
Trang 1M A I H Ả I Y ÉN
THÀNH PHẦN VÀ CẮU TRÚC
QUẦN XÃ VE GIÁP (ACARI: ORIBATIDA)
THỊ XÃ PHÚC YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
Chuyên ngành: Sinh thái học
Mã số: 60.42.01.20
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC • ■ •
Ngưồri hướng dẫn khoa học: TS ĐÀO DUY TRINH
HÀ NỘI, 2015
Trang 2Trong quá trình hoàn thành luận văn Thạc sĩ này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ to lớn và quý báu của các cơ quan tập thể và cá nhân Nhân dịp này,
tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc TS Đào Duy Trinh, người thầy ngay
từ đầu đã định hướng và tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu
Xin trân trọng cảm ơn ban chủ nhiệm Khoa Sinh - KTNN, trường Đại học
Sư phạm Hà nội 2, phòng Sau Đại Học Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội 2 Xin cảm ơn tới em Nguyễn Văn Khanh lớp k37, khoa Sinh - KTNN
Cảm ơn các thầy, cô giáo đã tận tình giảng dạy, tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn thạc sĩ này
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 07 năm 2015
Hoc viên
Mai Hải Yến
Trang 3Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Những số liệu kết quả trong luận văn là trung thực không trùng lặp với các đề tài khác Công trình chưa được công bố trên bất cứ một tài liệu nào Tôi cũng xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Neu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm!
Hà Nội, tháng 07 năm 2015
Hoc viên
Mai Hải Yến
Trang 4Trang Trang phụ bìa
Lòi cảm 0 'n
Lòi cam đoan
Mục lục
Ký hiệu viết tắt
Danh mục các bảng
Danh muc các hình•
MỞ ĐÀU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Ý nghĩa khoa học của ỉuận văn 2
4 Những đóng góp mói của ỉuận văn 3
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Cơ sở khoa hoc của đề tài • 4
1.2 Tổng quan tài liệu 4
1.2.1 Tình hình nghiên cứu Oribatida trên thế giới 4
1.2.1.1 Nghiên cứu về thành phần loài Oribatida 7
1.2.1.2 Nghiên cứu về cấu trúc quần xã Orỉbatỉda 8
1.2.2 Tĩnh hình nghiên cứu Oribatida ở Việt Nam 9
1.1.2.1 Nghiên cứu về thành phần loài Oribatida 9
1.2.2.2 Nghiên cứu về cấu trúc quần xã Orỉbatỉda 10
Trang 52.1 Đổi tượng nghiên cứu 12
2.2 Vật liệu nghiên cứu 12
2.3 Địa điểm, thòi gian nghiên cứu và đặc điểm tự nhiên 12
2.3.1 Địa điẩn nghiên cứu 12
2.3.2 Thờỉgmn nghiên cứu 13
2.3.3 Đặc điểm tự nhiên của khu vực nghiên cứu 14
2.4 Nội dung nghiên cứu 16
2.5 Phương pháp nghiên cứu 16
2.5.1 Xác định thành phần loài Oribatida 16
2.5.2 Xác định sự tương đồng thành phần loài và cấu trúc quần xã 21 Orỉbatida
2.5.3 Phương pháp phân tích và thắng kê số liệu 21
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 23
3.1 Đa dạng thành phần loài Ve giáp (Acari: Oribatida) ở khu du lịch Đại Lải 23
3.1.1 Thành phần loài Oribatida ở khu du lịch Đại Lảỉ 22
3.1.2 Đặc điểm phân bố của quần xã Oribatida ở 4 sinh cảnh: Rừng phòng hộ, Đảo Ngọc, Bãi tắm, Vườn quanh nhà thuộc khu du tích Đai Lải thỉ xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc • ĩ / ĩ 7 31 3.2 Sự tương đồng thành phần loài của quần xã Orỉbatỉda ở khu du lịch Đại Lải 32
3.3 Cấu trúc quần xã Oribatida theo sinh cảnh Bãi tắm, Đảo Ngọc, Vườn quanh nhà, Rừng phòng hộ thuộc khu du lịch Đại Lải 33
3.3.1 Đa dạng thành phần loài 34
Trang 63.3.4 Chỉ sắ đằng đều J \ 37
3.3.5 Các loài Oribatida ưu thế ở khu du lịch Đại Lải 37
3.4 Cấu trúc quần xã Oribatỉda theo tầng sâu thẳng đứng trong hệ sinh thái đất ở Bãi tắm, Đảo Ngọc, Vườn quanh nhà, Rừng phòng hộ thuộc khu du lịch Đại Lải 44
3.4.1 Đa dạng thành phần loài 45
3.4.2 Mật độ trung bình 45
3.4.3 Chỉ số đa dạng loài H ’ 45
3.4.4 Chỉ sỗ đồng đều J \ 46
3.4.5 Các loài Oribatìda ưu thế theo tầng sâu thẳng đứng 46
3.4.6 Bàn luận và nhận xét 49
3.5 Bước đầu đánh giá vai trò chỉ thị sinh học của quần xã Oribatida ở khu du lích Đai Lải • • 50
3.5.1 Cơ sở khoa học của việc sử dụng quần xã Oribatida làm chỉ thi sinh hoc • • 50
3.5.2 Vai trò chỉ thị sinh học của quần xã Orìbatida trong môi trường đất ở khu du lịch Đại Lải 52
3.5.2.1 Cẩu trúc quần xã Orìbatìda như yểu tố chỉ thị biển đổi của sinh cảnh nghiên cứu 52
3.5.2.2 Cấu trúc quần xã Orỉbatỉda như yểu tố chỉ thị biển đổi theo tầng sâu thẳng đứng trong hệ sinh thái đất 54
3.6 Nhân xét 55
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 57
KẾT LUẬN 57
KIẾN NGHỊ 58
Trang 7TÀI LIỆU THAM KHẢO ■ 60 PHỤ LỤC
Trang 91 Bảng 2.1 Bảng thu mẫu ở các sinh cảnh thuộc khu du lịch
Đại Lải 13
2 Bảng 3.1 Danh sách thành phần loài và sự phân bố
Oribatida theo các sinh cảnh ở khu du lịch Đại Lải 24
3 Bảng 3.2 Sự tương đồng thành phàn loài của quần xã
Oribatida theo sinh cảnh ở khu du lịch Đại L ải 32
4 Bảng 3.3 Chỉ số định lượng cấu trúc quần xã của
Oribatida theo sinh cảnh ở khu du lịch Đại L ải 34
5 Bảng 3.4 Danh sách các loài Oribatida ưu thế ở sinh cảnh
Bãi Tắm thuộc khu du lịch Đại Lải 38
6 Bảng 3.5 Danh sách các loài Oribatida ưu thế ở sinh cảnh
Đảo Ngọc thuộc khu du lịch Đại Lải 40
7 Bảng 3.6 Danh sách các loài Oribatida ưu thế ở sinh cảnh
Rừng phòng hộ thuộc khu du lịch Đại Lải 41
8 Bảng 3.7 Danh sách các loài Oribatida ưu thế ở sinh cảnh
Vườn quanh nhà thuộc khu du lịch Đại Lải 43
9 Bảng 3.8 Chỉ số định lượng cấu trúc quần xã Oribatida
theo độ sâu của đất ở khu du lịch Đại Lải 44
10 Bảng 3.9 Tỷ lệ các loài ưu thế theo độ sâu của đất ở khu
du lịch Đại Lải 46
Trang 10Hình 2.2 Sơ đồ cấu trúc cơ thể của Oribatida
Hình 2.3 Sơ đồ cấu trúc cơ thể và cấu tạo các cơ quan của
Oribatìda bậc cao
Hình 3.1 Số lượng loài Oribatida ở các sinh cảnh thuộc
Khu du lịch Đại Lải
Hình 3.2 Mật độ trung bình Oribatida ở các sinh cảnh
thuộc Khu du lịch Đại Lải
Hình 3.3 Chỉ số đa dạng Oribatida ở các sinh cảnh thuộc
Khu du lịch Đại Lải
Hình 3.4 Chỉ số đồng đều Oribatida ở các sinh cảnh thuộc
Khu du lịch Đại Lải
Hình 3.5 Cấu trúc ưu thế của Oribatida ở sinh cảnh Bãi
tắm thuộc khu du lịch Đại Lải
Hình 3.6 Cấu trúc ưu thế của Oribatida ở sinh cảnh Đảo
Ngọc thuộc khu du lịch Đại Lải
Hình 3.7 Cấu trúc ưu thế của Oribatida ở sinh cảnh Rừng
phòng hộ thuộc khu du lịch Đại Lải
Hình 3.8 Cấu trúc ưu thế của Oribatida của sinh cảnh
Vườn quanh nhà thuộc khu du lịch Đại Lải
Hình 3.9 Các loài Oribatida ưu thế tại các sinh cảnh thuộc
khu du lịch Đại Lải
Hình 3.10 Chỉ số định lượng cấu trúc quần xã Oribatida
các sinh cảnh thuộc khu du lịch Đại L ải
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Như chứng ta đã biết, trong đất có rất nhiều nhóm sinh vật phong phú và
đa dạng, nhiều loài có lợi nhưng bên cạnh đó cũng có nhiều loài có hại cho đất Trong quần xã động vật đất, nhóm chân khớp bé (Microarthropoda: Acari, Collembola .), với kích thước cơ thể tò 0,1-0,2 đến 2,0-3,0mm thường là nhóm ưu thế Microarthropoda, mà đáng kể là Ve giáp (Acari: Oribatida) tham gia tích cực vào quá trình cải tạo đất, quyết định nhiều hoạt tính sinh học quan ừọng của môi trường và góp phần nâng cao độ phì nhiêu của đất Chúng là thành phàn quan trọng tạo nên tính đa dạng sinh học của giới động vật Một số nhóm Oribatida còn là đối tượng gây hại trực tiếp cho cây trồng, là véc tơ phát tán và lan truyền một số mầm bệnh và giun sán kí sinh cho cây trồng, vật nuôi và con người, cấu trúc quần xã Microarthropoda
ở đất, bao gồm đa dạng thành phần loài và dạng sống, mật độ quần xã, đặc điểm phân bố thẳng đứng và bề mặt , có liên quan chặt chẽ đến điều kiện khí hậu và môi trường, với loại đất, kiểu thảm phủ thực vật và cây ừồng, hay chế độ canh tác và phân bón Việc nghiên cứu cấu trúc quần xã Oribatida có ý nghĩa quan trọng trong chỉ thị sinh học, là cơ sở cho việc quản lý và khai thác bền vững nguồn tài nguyên môi trường đất số lượng cá thể rất nhạy cảm với những biến đổi của môi trường, đặc biệt là các tác động của con người vào môi trường đất tự nhiên Vì vậy, Oribatida được sử dụng như đối tượng nghiên cứu, đánh giá chất lượng đất và sự ô nhiễm, thoái hóa đất
Với sự phát triển mạnh mẽ về khu du lịch của đất nước nói chung và tinh Vĩnh Phúc nói riêng, đặc biệt là với khu du lịch Đại Lải thuộc thị xã Phúc Yên đang thu hút nhiều khách du lịch tham quan, vì vậy vấn đề ô nhiễm môi trường cần được quan tâm chặt chẽ hơn của các cấp, các ngành và nhất là những người dân sinh sống tại đó Những tác động của con người ít nhiều có
Trang 12ảnh hưởng đến sự đa dạng, cấu trúc, mật độ, sự gàn gũi về thành phần loài Ve giáp của khu vực nghiên cứu Cho đến nay chưa có nhiều nghiên cứu về sự biến đổi cấu trúc quàn xã Ve giáp, liên quan đến điều kiện tự nhiên và nhân tác tại khu du lịch Đại Lải, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
Với tất cả các lý do trên, tôi đã thực hiện đề tài “Thành phần và cấu
trúc quần xã Ve Giáp (Acarỉ: Orỉbatỉda) thuộc khu du lịch Đại Lải, thị
3 Ý nghĩa khoa học của luận văn
Ỷ nghĩa khoa học
Đề tài luận văn bổ sung làn đầu tiên những dẫn liệu về đa dạng sinh học của quần xã Oribatida thuộc khu du lịch Đại Lải, thị xã Phúc yên, tỉnh Vĩnh Phúc
Đề tài cung cấp thêm các bằng chứng về tính đa dạng sinh học của Oribatida tại KDL Đại Lải Bổ sung cho hệ sinh thái nhiều dẫn liệu mới
về nguồn tài nguyên động yật đất phong phú và hữu ích
Lần đầu tiên đặc điểm thành phần loài và cấu trúc của quần xã Oribatida được nghiên cứu và khảo sát, theo một số đặc điểm gồm các loại sinh cảnh (rừng phòng hộ, Đảo Ngọc, Bãi tắm, Vườn quanh nhà), và tầng sâu thẳng đứng trong đất (0-10 và 10-20cm)
Trang 13Ỷ nghĩa thực tiễn
Đề tài luận văn góp phần đánh giá tài nguyên đa dạng động vật đất Vỉệt Nam, và khảo sát cấu trúc quần xã Oribatida góp phàn dự đoán ảnh hưởng của các yếu tố tự nhiên và nhân tác tác động đến hệ sinh thái đất nói chung và đến quần xã Oribatida nói riêng
Đặc biệt với 4 sinh cảnh là Bãi tắm, Đảo Ngọc, Rừng phòng hộ và Vườn quanh nhà do có sự tác động con người ở các mức độ khác nhau dẫn tới sự phân bố của quàn xã Oribatida ở 4 sinh cảnh khác nhau vì vậy cần nghiên cứu để đánh giá mức độ tác động của con người lên các sinh cảnh
Số liệu thu được của đề tài luận văn góp phần cung cấp dẫn liệu, phục vụ giảng dạy và nghiên cứu động vật học, đặc biệt theo hướng chuyên sâu về khu
hệ và sinh thái động vật đất nói chung và Oribatida ở hệ sinh thái đất nói riêng
4 Những đóng góp mới của luận văn
Thành phần loài và cấu trúc quần xã Oribatida tại 4 sinh cảnh: Rừng phòng hộ, Đảo Ngọc, Bãi tắm, Vườn quan nhà thuộc khu du lịch Đại Lải, thị
xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc lần đầu tiên được khảo sát, trong đó xác định được tổng số loài, tổng số giống, tổng số họ và có bao nhiêu taxon phân loại chưa xác định được giống
Lần đầu tiên cung cấp dẫn liệu về cấu trúc định lượng của quần xã Oribatida (số lượng loài, chỉ số đa dạng H’, chỉ số đồng đều J’) và sự thay đổi giá tri các chỉ số trên theo tầng phân bố ở 4 sinh cảnh: Rừng phòng hộ, Đảo Ngọc, Bãi tắm, Vườn quanh nhà thuộc khu du lịch Đại Lải, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
Hệ thống phân loại Oribatida, cùng các quan hệ tiến hóa chúng với các nhóm ve giáp khác được xây dựng và xắp xếp theo hệ thống phân loại của các tác giả Willmann, 1931; Grandjean, 1954; Seilnick, 1960; Ghilarov et al., 1975; Balogh J et al 1988, 1992 Đây là những chuyên gia nghiên cứu hệ thống học Oribatida được chấp nhận trên thế giới Các nghiên cứu ở Việt Nam được bắt đầu từ những năm 30 và được các tác giả nước ngoài thực hiện
và được mở rộng từ những năm 80 của thế kỉ trước Trên cơ sở đó đã hình thành một bộ sưu tập khá phong phú mẫu Oribatida, mà một phần trong đó đã được phân tích tại một số cơ quan nghiên cứu chuyên ngành của Việt Nam và quốc tế
Như vậy, việc nghiên cứu phân tích về đặc điểm, cấu trúc, độ đa dạng thành phần loài, độ ưu thế, chỉ số tương đồng của Oribatida theo sinh cảnh, theo tầng đất được áp dụng ở các khu công nghiệp hoặc khu du lịch để làm cơ
sở chỉ ra những tác động tích cực, tiêu cực của các nhân tố môi trường tới sinh thái đất
1.2 Tổng quan tài liệu
1.2.1 Tình hình nghiên cứu Oribatida trên thế giới
Khu hệ Oribatida của Canada là một trong những khu hệ được nghiên cứu khá kỹ, từ rất sớm Mặc dù các dẫn liệu về sinh thái, phân bố của chúng có nhiều, nhưng về khu hệ, số loài được biết chỉ chiếm 1/4 số loài có trong thực tế.Trong khoảng 20 năm gần đây, các hoạt động nghiên cứu Oribatida diễn
ra mạnh mẽ và nhiều kết quả được công bố Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu của các tác giả khác, cùng với kết quả nghiên cứu của riêng mình Schatz,
2006 một chuyên gia Oribatida người Thụy Sĩ đã công bố và tổng hợp bản mục lục các loài Oribatida đã biết ở khu vực Trung Châu Mỹ Danh sách gồm
Trang 15543 loài Oribatida thuộc 87 họ Ngoài ra, ông còn liệt kê số lượng Oribatida
đã thu thập ở các quốc gia và vùng lãnh thổ khác cũng thuộc Trung Mỹ như: Cuba (225 loài), Antilles (387 loài), Jamaica (28 loài) Hiện tại 498 loài Oribatida đã được ghi nhận (gồm 300 loài đã xác định tên, 198 loài còn ở dạng sp.)
Nghiên cứu về Oribatida ở Nga phát triển mạnh từ những năm 50 của thế
kỷ 20 Cho đến nay đã ghi nhận được 300 loài Oribatida ở tất cả các hệ sinh thái Riêng khu hệ Oribatida sống trên cây cũng được quan tâm cách đây mấy chục năm Các mẫu Oribatida được thu thập tò rêu, địa y sống phụ sinh, từ
vỏ cành, thân cây và trong tán cây với các công trình của Dalenius (1960); Kielozewski; Kashyna (1965); Niedbale (1969); Woltemade (1982), Coloff (1983) (Ermilov and Lochyrska, 2008) [19],
Đến năm 1999, Ve giáp (Acari) được coi là cư dân truyền thống của đất
và thảm mục nhưng chúng chưa được chú ý đến nhiều ở sinh cảnh này Tuy vậy, độ phong phú của khu hệ Ve bét sống tự do, cư trú trên tán cây rừng nhiệt đới, ôn đới, được xem như “những sinh vật sống trôi nổi trên cây” (Wallter et al., 1999) đã được một số tác giả đề cập tới Chúng được thu thập
từ vỏ cây, rêu, địa y
Năm 2004, Karasawa đã nghiên cứu cấu trúc quần xã Oribatida ở đất ừeo và các nhân tố hữu sinh, vô sinh gây nên sự đa dạng của chứng Theo tác giả, Oribatida là một trong những nhóm Chân khớp chiếm ưu thế về số lượng trong đất treo Từ sinh cảnh này thu được không ít hơn 50 loài Độ đa dạng loài Oribatida ở đất treo có thể thấp hơn so với khu hệ Oribatida ở đất rừng (Karasawa, 2004) [20]
Cùng với kết quả nghiên cứu nguồn gốc phát sinh chủng loại, khu hệ,
hệ thống học Oribatida, các nghiên cứu về sinh học Oribatida cũng thu được nhiều kết quả có giá trị, trong đó việc nghiên cứu sự phát triển, sinh trưởng
Trang 16trong mối quan hệ với các yếu tố tác động lên chúng là một hướng quan trọng được nhiều tác giả chú ý đến Bản chất và thời gian phát triển, sinh trưởng của nhóm động vật này còn chưa được điều tra một cách cẩn thận, đầy đủ Tuy nhiên, nhiều nhà nghiên cứu hiểu rằng các nhân tố môi trường (nhiệt độ, độ
pH, hàm lượng mùn, số lượng và chất lượng thức ăn, sự xáo trộn nơi cư trú ) và mật độ của các nhóm chân khớp khác có thể ảnh hưởng đến thời gian sinh trưởng của hầu hết các Oribatiba (Ermilov and Lochynska, 2008) [19] Tuy nhiên, ảnh hưởng lớn nhất đến thời gian phát sinh là phương thức phát sinh của bộ hay của họ Oribatida Siepel (1994) đã lưu ý rằng tất cả các
sự thay đổi trong thời gian phát triển gây ra bởi môi trường đều nhỏ hơn sự thay đổi ngay trong nội tại của các họ hay của bộ Oribatida là nhóm tham gia tích cực trong quá trình phân hủy các chất hữu cơ, trong chu trình nitơ
và quá trình tạo đất Các nghiên cứu cho thấy trong tất cả các giai đoạn hay chu kì sinh trưởng, phát triển của chúng đều sử dụng với phổ thức ăn rộng, bao gồm thực vật sống và chết, nấm, rêu, địa y và thịt thối rữa Nhiều loài là vật chủ trung gian của sán lá dây, một vài loài là động vật ăn thịt, không có loài nào sống kí sinh (Krants, 1978) [21] Oribatida là động vật ăn hạt, chân kìm và các cấu tạo khác nhau của phần phụ miệng được sử dụng cùng với nhau để cắt hay xé hạt thành các tiểu phần có kích thước phù hợp để ăn
Có rất nhiều công trình nghiên cứu về vai ừò chỉ thị sinh học của Oribatida theo các hướng: chỉ thị cho chất lượng đất ở mức độ loài hay quần
xã, chỉ thị cho thuốc trừ sâu, phân bón sử dụng trong sản xuất nông nghiệp, chỉ thị cho môi trường đô thị
Những lợi thế của Oribatida khi sử dụng chúng như những sinh vật chỉ thị trong việc đánh giá chất lượng hệ sinh thái trên cạn là ở chỗ: chúng có độ
đa dạng cao, thu lượm với số lượng lớn một cách dễ dàng, ở tất cả các mùa trong năm, trong nhiều sinh cảnh; việc định loại cá thể trưởng thành tương đối
Trang 17dễ; hầu hết chúng sống trong tàng hữu cơ của lớp đất màu mỡ và chúng là nhóm dinh dưỡng không đồng nhất Chúng bao gồm các taxon được đặc trưng bởi sự sinh sản nhanh, thời gian sinh sống của các con non và con trưởng thảnh dài, khả năng tăng quần thể chậm (Behan - Pelletire, 1999) [17].
Một số nghiên cứu sơ bộ về chỉ thị sinh học trong môi trường đô thị cũng cho thấy Oribatida là nhóm động vật nhạy cảm với sự thay đổi chất lượng không khí (Weighmann, 1991) [30]
Có thể thấy lịch sử nghiên cứu của Oribatida đã có từ rất lâu trên thế giới, được nghiên cứu một cách hệ thống về cả khu hệ, sinh học, sinh thái và vai trò chỉ thị Nhưng ở Việt Nam thì hướng nghiên cứu về nhóm này mới chỉ bắt đầu ở thời gian gàn đây
1.2.1.1 Nghiên cứu về thành phần loài Orỉbatida
Trong các công trình nghiên cứu về Acari trước đây, các công trình của Berlese đóng một vai trò quan trọng và có một vị trí đặc biệt Ông là một trong
số những người quan tâm đến Ve giáp ở Châu Âu sớm nhất Chỉ từ năm 1881 đến năm 1923, ông đã đứng tên một mình, hoặc là đồng tác giả của 73 công trình nghiên cứu về Acari, Microarthropoda Trong đó ông đã mô tả khoảng 120 loài Oribatida Tuy nhiên, tất cả những loài Berlese mô tả đã được Hammen (2009) tu chỉnh, xắp xếp lại dựa ừên hệ thống phân loại của Grandjean(1954) và công bố trong công trình “ Berlese’s primitive Oribatida mites”
Khu hệ Oribatida của Canada là một trong những khu hệ được nghiên cứu khá kỹ từ rất sớm Nhưng theo Behan- Pelletier et all.(2000) [18], mặc dù các dẫn liệu về sinh thái, phân bố của chúng có nhiều, nhưng về khu hệ, số
loài được biết chỉ chiếm khoảng X A số loài có trong thực tế.
Khu hệ Oribatida ở Trung Mỹ được điều tta, nghiên cứu từ rất sớm Năm 1791, Otto Stoll đã mưu tả những loài Oribatida đầu tiên của khu vực Đến năm 1930 (sau 139 năm gián đoạn), nhiều Oribatida mới được thu thập,
Trang 18mô tả trong các công trình của Grandjean (1930- 1934, 1954, 1960, 1962), Willmann(1930) Woolley (1961, 1966) và từ năm 1972 trở lại đây, hàng loạt các công trình nghiên cứu về Oribatida của các tác giả khác nhau được thực hiện Hiện tại 498 loài Oribatida đã được ghi nhận (gồm 300 loài đã xác định tên, 198 loài còn ở dạng sp.) số lượng loài Oribatìda của Trung Mỹ, bao gồm cả Mexico là 978 loài, nếu cộng thêm cả Antilles nữa con số này
1238 loài (Schatz, 2002) [28]
1.2.1.2 Nghiên cứu về cấu trúc quần xã Orỉbatỉda
Phản ứng của các quần xã động vật đất đối với sự quản lý đất như sự thay đổi độ giàu hoặc, độ phong phú, chỉ số đa dạng loài đã được lượng hoá
và được kiểm tra phạm vi rộng như sinh cảnh, thậm chí trong một số trường hợp, ở phạm vi vùng đã được nghiên cứu Khi phân tích dẫn liệu thu được từ những mẫu định lượng (ở phạm vi 1 mẫu 250cm3 hay từ 1 điểm thu mẫu) là đặc biệt quan trọng cho sự hiểu biết về ảnh hưởng của việc sử dụng đất đến
cấu trúc quàn xã và sự tồn tại của những sinh vật sống trong đất (Minor et
a l, 2004) [25].
Sự tăng liên tục của những loài ưu thế sống ở bề mặt và những loài không chuyên hoá cho thấy sự thay đổi đáng kể trong tự nhiên của những ảnh hưởng có giới hạn này trong quá trình diễn thế Kết quả phân tích bằng phương pháp hồi quy thông thường cho thấy mức độ tác động gia tăng của các nhân tố bên ngoài đến quàn xã Oribatida trong thời gian diễn thế của đồng
cỏ và sự thay đổi hướng tác động chủ yếu đến độ phong phú của Oribatida từ các điều kiện của đất sang các điều kiện của thảm phủ thực vật và sau đó là tác động tổ họp của các điều kiện đất và lớp thảm phủ thực yật
Minor et ai, 2004 đã điều tra ảnh hưởng của một vài loại yật liệu bổ
sung vào đất nhằm làm tăng sinh khối cho các vụ trồng liễu luân phiên trong thời gian ngắn đến độ phong phú, độ đa dạng và cấu trúc quần xã của Ve bét
Trang 19sống tự do trong đất (gồm 2 nhóm Oribatida và Mesostigmata) ở vùng trung tâm New York Các vật liệu bổ sung bao gồm: Cặn bùn đã được làm ổn định bằng chất vôi, phân gà ủ hoai, phân đạm, lớp đất phủ dẻo màu đen để phủ lên trên bộ rễ Kết quả cho thấy: Nhóm ve ăn thịt (Mesostigmata) phản ứng vói các chất bổ sung khác vói nhóm ăn mùn bã và nấm (Oribatida) [25].
1.2.2 Tĩnh hình nghiên cứu Oribatida ở Việt Nam
1.1.2.1 Nghiên cứu về thành phần loài Oribatida
Ở Việt Nam, động vật chân khớp bé ở đất đã được nghiên cứu từ những năm 30 của thế kỉ XX Ban đầu là các nghiên cứu lẻ tẻ của các tác giả nước ngoài kết hợp nghiên cứu cùng các nhóm sinh vật khác
Trước năm 1975, các công trình nghiên cứu về Oribatida ở Việt Nam còn chưa được nghiên cứu sâu và đồng bộ Năm 1967, lần đàu tiên trong công trình “New Oribatid from Viet Nam”, hai tác giả người Hungari là Balogh J
và Mahunka s đã giới thiệu về khu hệ, danh pháp học và đặc điểm phân bố của 33 loài Ve giáp, trong đó đã mô tả 29 loài, 4 giống mới cho khoa học (Balogh J And Mahunka s., 1967) [16]
Năm 2012, tác giả Đào Duy Trinh và cs đã chỉ ra sự biến động thành phần loài Oribatida ở các sinh cảnh khác nhau khi thay đổi các điều kiện môi trường Trên cơ sở đó phân tích các mối quan hệ hữu cơ giữa sinh vật với môi trường và tìm kiếm được những nét đặc trưng ở mức độ quần xã hay mức độ
cá thể Oribatida làm sinh vật chỉ thị trong những nghiên cứu tiếp theo.(Đào Duy Trinh và CS.2012) [13].
Nhìn chung những nghiên cứu về ve giáp ở Việt Nam cho thấy: việc nghiên cứu đã đề cập một cách toàn diện và có hệ thống Tuy nhiên các kết quả đạt được mới chỉ là những bước đi định hướng ban đàu Để tìm hiểu thấu đáo vai trò của ve giáp sống ttong môi trường đất và để đưa chúng ứng dụng vào lĩnh vực khoa học và thực tiễn thì việc nghiên cứu nhóm này cần được đẩy mạnh nghiên cứu trong những năm tiếp theo
Trang 201.2.2.2 Nghiên cứu về cấu trúc quần xã Orỉbatỉda
Năm 2002, Vũ Quang Mạnh và cs đã đưa ra dẫn liệu về vai trò và cấu trúc quần xã Oribatida ở vùng rừng Tam Đảo (Vĩnh Phúc) Có nhận xét cấu trúc quàn xã Oribatìda ở hệ sinh thái đất có liên quan rõ rệt với sự suy giảm của cây gỗ rừng Nó có thể được xem xét và đánh giá như một đặc điểm sinh học, chỉ thị quá trình diễn thế của rừng Tam Đảo nói liêng và của Việt Nam nói chung (Vũ Quang Mạnh và cs., 2002) [4]
Năm 2004, nhận định Ve giáp trong cấu trúc quàn xã Acari trong hệ sinh thái rừng VQG Ba vì, Việt Nam cũng đã xác định được mối liên hệ giữa đai cao khí hậu ảnh hưởng tới cấu trúc quần xã Oribatida Mật độ quần thể ve bét
ở các sinh cảnh như RTN và RNT tương ứng gặp 3090 và 2200 cá thể/ m2 mặt đất là nhỏ hơn so với sinh cảnh nhân tác, như đất TCCB và ĐCT, tương ứng gặp 8247 và 7580 cá thể/ m2 (Phan Thị Huyền và cs., 2004) [1]
Năm 2005, trong báo cáo khoa học tại Hội nghị Côn trùng học toàn Quốc lần thứ V, Vũ Quang Mạnh, Nguyễn Xuân Lâm đã công bố khu hệ Oribatida Việt Nam; xác định được 158 loài, thuộc 46 họ, mang tính chất Ấn Độ- Mã Lai và thuộc vùng địa động vật Đông Phương (Vũ Quang Mạnh, Nguyễn Xuân Lâm, 2005) [6]
Năm 2006, Vũ Quang Mạnh, Đào Duy Trinh công bố 102 loài Oribatida được phát hiện ở Vườn Quốc gia Xuân Sơn - Phú Thọ Công bố Oribatida họ oppidae Grandjean, 1954; phân họ Oppinidae Grandjean,
1951 và Mulltioppiinae Balogh, 1938 ở Việt Nam (Vũ Quang Mạnh, Đào Duy Trinh, 2006) [8]
Năm 2007, Vũ Quang Mạnh, Lưu Thanh Ngọc, Đào Duy Trinh đã công
bố 3 loài thuộc giống Perxylobatas Hammer 1972, hiện có ở Việt Nam (Vũ
Quang Mạnh và cộng sự, 2007) [10]
Trong báo cáo tại hội nghị Techmart tại Tây Nguyên vào tháng 4/2008,
Trang 21các tác giả: Vũ Quang Mạnh, Đào Duy Trinh và Nguyễn Hải Tiến đã trình bày về vai trò của Động vật đất trong đó có Oribatida là yếu tố chỉ thị cho sự phát triển bền vững của hệ sinh thái đất [11].
Năm 2012 tác giả Đào Duy Trinh và cs đã chỉ ra được sự biến động thành phần loài ve giáp (Acari: Oribatida) dưới tác động của các nhân tố ô nhiễm đất bởi các chất bảo vệ thực vật, thuốc trừ sâu, phân bón hữu cơ, chất
Trang 22Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG, THỜI GIAN
2.1 Đổi tượng nghiên cứu
Các loài thuộc bộ Ve giáp (Acari: Oribatida), phân lớp Ve giáp (Acari), lớp Hình nhện (Arachnida), phân ngành Chân khớp có kìm (Chelicerata), ngành Chân khớp (Arthropoda), của Giới Động vật (Animalia)
2.2 Vật liệu nghiên cứu
Tổng số 80 mẫu định lượng (đất, thảm lá, rêu) thu được ở 4 sinh cảnh (BT, ĐN, VQN, RPH)
Dụng cụ thu mẫu ngoài thực địa: Hộp cắt kim loại hình khối hộp chữ nhật cỡ (5x5x10) cm Túi nilon đựng mẫu, bút dạ ghi chép, sổ ghi chép Dụng cụ nghiên cứu tỏng phòng thí nghiệm: hệ thống lọc mẫu đất (rây lọc, phễu lọc ), dụng cụ tách mẫu, phân tích mẫu và làm tiêu bản (đĩa petri, lam kính, la men, ống hút, bút tách mẫu, giấy thấm, bông ), kính hiển vi có
độ phóng đại 40-100 lần
Hóa chất sử dụng: Glixerol, íormaldehyt, cồn 90°
2.3 Địa điểm, thời gian nghiên cứu và đặc điểm tự nhiên
2.3.1 Địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu của tôi được tiến hành ở 4 sinh cảnh: Rừng phòng hộ, Đảo Ngọc, Bãi tắm, Vườn quanh nhà thuộc khu vực du lịch Đại Lải thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc
Rừng phòng hộ là một loại sinh cảnh gồm cây trồng lâu năm hoặc ngắn
khí hậu, bảo vệ môi trường
Vườn quanh nhà là một loại sinh cảnh bao gồm cây ừồng lâu năm và cây ngắn ngày được trồng xung quanh khu dân cư
Trang 23Bãi tắm là một loại sinh cảnh chịu sự tác động lớn của con người nhằm mục đích du lịch.
Đảo Ngọc là một loại sinh cảnh gồm các cây trồng lâu năm và cây ngắn ngày được trồng trên một hòn đảo và chịu sự tác động của con người nhằm mục đích du lịch
2.3.2 Thời gian nghiên cứu
Tôi tiến hành khảo sát và điều tra cấu trúc quàn xã Ve giáp vào ngày 12/10/2014 tại 4 sinh cảnh: Bãi tắm, Đảo Ngọc, Vườn quanh nhà, Rừng phòng hộ với số lượng 80 mẫu
Tổng số mẫu định lượng (đất, thảm lá, rêu) thu được tại các sinh cảnh thể hiện trong bảng sau:
Bảng 2.1 Bảng thu mẫu ở các sinh cảnh thuộc khu du lịch Đại Lải
rin A
Tâng
Sinh cảrử ì\
Đât 10-20 cm
Đât
rrn ẤTông
Trang 24Hình 2.1 Vị trí địa и khu du lịch Đạỉ Lải - Phúc Yên- Vĩnh Phúc [31]
Trang 25Vị trí địa ỉỷ và địa hình
Từ năm 2005, ưỷ Ban Nhân Dân tính Vĩnh Phúc đã có quy hoạch chung Khu du lịch Đại Lải, giai đoạn tò 2005 - 2020, với diện tích 2088ha nhằm xây dựng Đại Lải thành khu du lịch nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí, thể dục thể thao, văn hóa nhân văn tầm cỡ quốc tế Đại Lải thuộc địa phận xã Ngọc Thanh và
xã Cao Minh thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc, cách Hà Nội khoảng 50km cách sân bay Nội Bài 15 km với hệ thống đường giao thông thuận tiện cả đường bộ, đường sắt và đường hàng không Là một hồ nước nhân tạo, diện tích hồ là 525ha Trên mặt hồ có đảo Ngọc rộng 3ha, chỗ cao nhất trên 23m Phía tây và tây nam hồ là núi Thằn Lằn Đứng trên đỉnh núi có thể quan sát được toàn cảnh khu vực hồ Rừng Ngọc Thanh ở khu vực hồ có 500ha rừng
tự nhiên, 300ha rừng mới trồng với hệ động, thực vật tương đối đa dạng và phong phú [32]
Vĩnh Phúc là một tỉnh miền núi trung du nằm ở vùng Đông Bắc Việt Nam Phía Bắc giáp tỉnh Thái Nguyên và tỉnh Tuyên Quang, phía Tây giáp tỉnh Phú Thọ, phía nam giáp tỉnh Hà Tây (cũ) và thủ đô Hà Nội
Nhìn trên bản đồ địa lý tự nhiên nước ta, tỉnh Vĩnh Phúc nằm ở trung tâm của miền Bắc Việt Nam, cách Thủ đô Hà Nội 50 km về phía Tây Bắc Tỉnh Vĩnh Phúc ngày nay có một vị trí địa lý khá thuận lợi cho phát triển kinh
tế, xã hội và giao lưu văn hoá
Hiện nay, Vĩnh Phúc đã xây dựng được rất nhiều khu du lịch như Tam Đảo, Tây Thiên, Đại Lải Nhưng đang được đầu tư hơn cả là khu du lịch Đại Lải thuộc thị xã Phúc Yên Trong quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Vĩnh Phúc đến năm 2020 thì phát triển công nghiệp là nền tảng, du lịch trở thảnh ngành kinh tế mũi nhọn, phấn đấu đưa VTnh Phúc trở thành tỉnh phát triển mạnh về khu du lịch
Trang 26Khỉ hậu và thủy văn
Nhiệt độ trung hàng năm là 24°c Với khí hậu ôn hòa giữa khung cảnh thiên nhiên tĩnh lặng, cùng hệ thống giao thông thuận tiện cả đường bộ, đường sắt và đường hàng không, Đại Lải đã nhanh chóng trở thành điểm du lịch nghỉ dưỡng cuối tuần đầy ấn tượng của tỉnh Vĩnh Phúc
Lượng mưa trung bình hàng năm đạt 1.400 mm đến 1.600 mm.Trong đó, lượng mưa bình quân cả năm của vùng đồng bằng và trung du tại trạm Vĩnh Yên là 1.323,8 mm Vùng núi tại trạm Tam Đảo là 2.140 mm Lượng mưa phân bố không đều trong năm, tập trung chủ yếu tò tháng 5 đến tháng 10, chiếm 80% tổng lượng mưa cả năm Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau chỉ chiếm 20% tổng lượng mưa trong năm [32]
Tài nguyên thực vật và động vật
Khu hệ thực vật: chủ yếu là các cây ừồng như: keo, bạch đàn, thông các trảng cỏ cây bụi
Khu hệ động vật: Hồ Đại Lải có nhiều loài cá, tôm cỡ bé, ốc
2.4 Nội dung nghiên cứu
Điều ứa, phát hiện và lập danh sách thành phàn loài của quần xã Oribatìda ở
4 sinh cảnh thuộc khu du lịch Đại Lải, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc
Phân tích đặc điểm phân bố của quần xã Oribatida theo chiều sâu thẳng đứng ở 4 sinh cảnh thuộc khu du lịch Đại Lải, thị xã Phúc Yên, tình Vĩnh Phúc.Phân tích đặc điểm cấu trúc phân loại học của quần xã Oribatida ở 4 sinh cảnh thuộc khu du lịch Đại Lải, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc
So sánh sự tương đồng thành phần loài của quần xã Oribatida ở 4 sinh cảnh thuộc khu du lịch Đại Lải, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc
Trang 272.5 Phương pháp nghiên cứu
2.5.1 Xác định thành phần loài Oribatida
* Thu mẫu đất và thảm lá, rêu
Ở khu du lịch Đại Lải, tính Vĩnh Phúc tôi tiến hành thu mẫu tầng đất, tầng rêu và thảm lá, định lượng theo các sinh cảnh nghiên cứu khu hệ Mẩu đất được lấy ở độ sâu 0-1 Ocm và 10-20cm với kích thước của mỗi mẫu thu là 5x5x1 Ocm Đối với thảm lá rừng phủ trên mặt đất, chúng tôi tiến hành gom tất
cả lá mục, cành cây, xác hữu cơ phủ ừên mặt đất có diện tích (20cm X 20cm), đem cân và ghi lại trọng lượng, sau đó tính trung bình để biết trên lm 2 diện tích có trọng lượng thảm lá rừng là bao nhiêu Đối với các mẫu thảm rêu mẫu định lượng là từ 100-200 gram rêu bám thân cây gỗ rừng, xác vụn thực vật ở trên mặt đất nằm ở độ cao từ O-lOOcm trên mặt đất Các mẫu này đều cân trọng lượng mỗi mẫu và tính trung bình theo kg
* Tách lọc mẫu Orỉbatỉda
Các mẫu đất sau khi thu ở thực địa về, sẽ tiếp tục tiến hành tách động vật chân khớp bé ra khỏi đất theo phương pháp phễu lọc "Berlese- Tullgren", dựa theo tập tính hướng đất dương và hướng sáng âm của động vật đất, trong thời gian 7 ngày đêm, ở điều kiện nhiệt độ phòng thí nghiệm
Phương pháp xử lí mẫu, bảo quản và định loại: các ống nghiệm chứa động vật thu được nhờ phễu "Berlese- Tullgren" sẽ được đổ trên giấy lọc đặt sẵn trong đĩa petri để dưới kính lúp 2 mắt để nhặt riêng từng nhóm Oribatida Các mẫu Oribatida không làm tiêu bản sẽ được cho vào ống nghiệm chứa dung dịch định hình là íòmol 4% Các ống nghiệm đều được gắn nhãn ghi đầy
đủ ngày thu mẫu, địa điểm Mau vật nghiên cứu được bảo quản tại phòng thí nghiệm Động vật học, trường Đại học sư phàm Hà Nội 2
Trang 28* Đặc điểm hình thái phân loại
Hình 2.2 Sơ đồ cấu trúc cơ thể của Orìbatida
(từ Vũ Quang Mạnh, 2007) [3]
• Prosoma là phàn đầu ngực bao gồm cả 4 đôi đôi chân I, II, in và IV
• Proterosoma là phần trước đàu ngực chỉ bao gồm 2 đôi chân trước
•Hysterosoma là phần thân bao gồm cả vùng giáp hậu môn (AN),
giáp sinh dục (G) và 2 đôi chân sau
• Prodorsum là tấm giáp đầu ngực; Notogaster là tấm giáp lưng.
• Gnathosoma là phần hàm miệng.
• Propodosoma là phần thân trước mang đôi chân I và II.
• Metapodosoma là phàn thân giữa mang đôi chân III và IV.
• Podosoma là phàn ngực bao gồm cả 4 đôi chân.
Trang 29Hình 2.3 Sơ đồ cấu trúc cơ thể và cấu tạo các cơ quan của Oríbatida bậc cao
(từ Vũ Quang Mạnh, 2007) [3]
b ro: Chóp đỉnh rostrum: ro, Im: Lông rostrum; tấm lamella.
• le, in, ss: Lông mọc ữên lamella, lông ỉnterlamela, lông sensilus.
• Bothridium: Gốc của lông sensilus.
• Exa và Exp: Lông trước gốc bothrỉdỉum và lông sau gốc bothrỉdium.
•tutorìum: Tấm ki tin chìa ra nằm dưới và chạy song song với lamella.
• prolamela: Phàn tấm kéo dài ở trước lamella, không chìa lên ữên bề
mặt cơ thể
Trang 30•cl, c2, c3, cp, dl, d2, el, e2, fl, f2, hl, h2, h3, psl, ps2, ps3: Các lông notogaster ở ve giáp bậc thấp; gla: Tuyến dầu nhờn; h: Lông dưới miệng; la, lb, lc, và 2a, 3a, 3b, 3c, và 4a, 4b, 4c, 4d: Các lông của epimeres 1, 2, 3 và 4; apỉ, ap2, ap3, ap4, ap5, ap sej., ap.st.: Các mấu lồi trong apodemes; epl, ep2, ep3, ep 4: Các gân cơ epimeres của gốc chân; pdl, pd2, pd3, pd4: Các tấm pedotecta phủ mặt trên của gốc các chân; ỉa, ih, ỉm, ips, iad, ian: Các khe cắt ỉyrifissures.
• G, AG: Giáp sinh dục và giáp quanh sinh dục; g và ag: Các lông
sinh dục và lông quanh sinh dục [3],[22],[23],[24],[26],[27]
* Định loại Oribatida
Mau Oribatida, trước khi được định loại cần được tẩy màu, làm trong
vỏ kintin cứng Quá trình làm trong màu có thể diễn ra trong một vài ngày hoặc lâu hơn nên cần nhặt Oribatida riêng ra một lam kính lõm Đưa lam kính quan sát dưới kính lúp: dựa vào đặc điểm hình dạng ngoài, dùng kim tách sơ
bộ chúng thành nhóm có hình thù giống nhau thành một nhổm riêng Đặt lamel ở bên trái lam kính sao cho chỉ phủ một phần chỗ lõm Nếu dung dịch axit nhỏ vào chỗ lõm dưới lamel chưa đầy cần bổ sung cho đầy Dùng kim chuyển từng Oribatida vào chỗ lõm dưới lamel để quan sát ở các tư thế khác nhau theo hướng lưng và bụng và ngược lại Khi mẫu ở đúng tư thế quan sát,
ta chuyển sang ở kính hiển vi
Sau khi định loại xong, các loài được đo kích thước và chụp ảnh; tất
cả các cá thể cùng một loài để chung vào một ống nghiệm, dùng dung dịch định hình bằng íormaldehyt 4% Dùng giấy can ghi các thông số tên loài càn thiết bằng bút chì rồi nút bằng bông không thấm nước; tất cả các ống nghiệm được đặt chung vào lọ thuỷ tinh lớn chứa formaldehyt 4% để bảo quản lâu dài Ghi tất cả các tên loài đã được định loại vào nhật ký phòng thí nghiệm.Danh sách các loài Oribatida được sắp xếp theo hệ thống cây chủng loại phát sinh dựa theo hệ thống phân loại của Balogh J và Balogh p., 1992 Các
Trang 31loài trong một giống được sắp xếp theo vần a, b, c Định loại tên loài theo các tài liệu phân loại, các khóa định loại của các tác giả đàu ngành [3], [22], [23], [24], [26], [27].
2.5.2 Xác định sự tương đằng thành phần loài và cấu trúc quần xã Oribatida
Mức độ tương đồng về thành phần loài giữa các khu vực nghiên cứu Nghiên cứu cấu trúc quần xã Oribatida 4 sinh cảnh thuộc khu du lịch Đại Lải, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc tôi đã tiến hành phân tích 4 chỉ số định lượng cơ bản của Oribatida bao gồm: số lượng loài, mật độ, chỉ số đa dạng loài H’ (chỉ số Shannon- Waever) và chỉ số đồng đều J’(chỉ số Pielou) Đồng thời phân tích sự thay đổi các giá trị của 4 chỉ số định lượng này theo chiều sâu thẳng đứng
2.5.3 Phương pháp phân tích và thắng kê số liệu
Sử dụng phương pháp thống kê trong tính toán và xử lý số liệu, trên nền phần mềm Primer; phần mềm Excell 2007
* Phân tích chỉ số Jaccard về tương đồng thành phần loài:
Trong đó: a - số loài có ở sinh cảnh A
b - số loài có trong sinh cảnh B
c - số loài chung cho cả A và B
* Số lượng loài: số lượng loài được tính bằng tổng số loài có mặt trong điểm nghiên cứu ở tất cả các lần thu mẫu
* Mật độ trung bình: Mật độ trung bình được tính số lượng cá thể trung bình có ở tất cả các làn thu mẫu của điểm nghiên cứu
* Phân tích độ ưu thế Ợ)) tính theo công thức:
Trang 32Trong đó: na - số lượng cá thể của loài a.
N - tổng số cá thể của toàn bộ mẫu theo sinh cảnh hay theo địa điểm
*Phân tích chỉ số đa dạng loài (H’): Chỉ số (H’) Shannon- Weaner:
được sử dụng để tính sự đa dạng loài hay số lượng loài trong quàn xã và tính đồng đều về sự phong phú cá thể của các loài ừong quàn xã
Trong đó: s - số lượng loài;
Iii - số lượng cá thể của loài thứ i
N - tổng số lượng cá thể trong sinh cảnh nghiên cứu
Giá trị H’ dao động trong khoảng 0 đến 00
*Phân tích chỉ số đồng đều (J’) - Chỉ số Pỉelou
J ' = &ln s
Trong đó : H - chỉ số đa dạng loài
s - số loài có ừong sinh cảnh
Giá tri J’ dao động trong khoảng từ 0 đến 1
Trang 33Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1 Đa dạng thành phần loài Ve giáp (Acarỉ: Oribatida) ở khu du lịch Đai Lải
3.1.1 Thành phần loài Oribatida ở khu du lịch Đại Lải
Đã ghi nhận được 90 loài, thuộc 51 giống của 31 họ (Bảng 3.1) Trong danh sách này, thành phần loài Oribatìda được xếp theo hệ thống phân loại của Balogh J et al., 1992; Vũ Quang Mạnh, 2007 và các tác giả Willmaim, 1931; Grandjean, 1954; Sellnick, 1960; Ghilarov, 1975 [3], [14], [15], [29], [30].Trong số các họ đã ghi nhận được họ Oppiidae có số giống và số loài nhiều nhất (8 giống và 9 loài, chiếm 15,69% tổng số giống và 9,57% tổng số
loài) (bảng 3.1) Giống Rostrozetes có số loài nhiều nhất là 5 loài/giống, giống Rhysotritia và Scheloribates là giống có số loài nhiều thứ hai (4
loài/giống) Các giống còn lại chỉ có từ 1 đến 2 hoặc 3 loài
Trong 90 loài ghi nhận được có 63 loài được định tên và 27 loài thuộc dạng sp
Trang 34Bảng 3.1. Danh sách thành phần loài và sự phân bổ Oribatída theo các sinh cảnh ở khu du lịch Đại Lải
5 Hoplophorella cuneisetaMahunka, 1988 X
IV ORIBOTRITIIDAE GRAND JEAN, 1954
4 IndotrritiaMahunka, 1988
V EUPHTfflRACARIDAE JACOT, 1930
s Rhysotrítía Maerkel et Meyer, 1959
8 Rhysotritia duplica(Grandjean, 1953) X
Trang 3512 Mixacarus follifer Golosova, 1984 X
8 Papilỉacarus Kunst, 1959
VII NOTHRIDAE BERLESE, 1896
9 Nothrus C L Koch, 1836
18 Nothrus montanus Krivolutsky, 1998 X X
19 Nothrus shapensis Krivolutsky, 1998 X
26 Phyỉỉhermannia similis Balogh et Mahunka, 1967 X
XI LIODIDAE GRAND JEAN, 1954
13 Liodes von Heyden, 1826
Trang 3628 Liodes theleproctus (Hermann, 1804) X X
XII CEPHEIDAE BERLESE, 1896
14 Sphodrocepheus Woolley et Higgins, 1963
XIII EREMULIDAE GRAND JEAN, 1965
XVII PELOPPIIDAE BALOGH, 1943
19 Furcoppia Balogh et Mahunka, 1966
37 Furcoppia parva Balogh et Mahunka, 1967 X X
XVIII CARABODIDAE C L KOCH, 1837
Trang 3724 Pulchroppia Subias et Balogh, 1989
Trang 3832 Scapheremaeus Berlese, 1910
54 Scapheremaeus crassus Mahunka, 1988 X
XXIII MOCHLOZETIDAE GRAND JEAN, 1960
33 Uracrobates Balogh et Mahunka, 1967
XXIV XYLOBATIDAE J BALOGH ET P BALOGH, 1984
34 Brasilobates Perez-Inigo et Baggio, 1980
35 Setoxylobates Balogh et Mahunka, 1967
59 Setoxylobates foveolatus Balogh et Mahunka, 1967 X X X
36 Perxylobates Hammer, 1972
60 Perxylobates brevisetus Mahunka, 1988 X X X
61 Perxylobates vermiseta (Balogh et Mahunka, 1968) X X X X
62 Perxylobates vietnamensis (Jeleva et Vu, 1987) X X
37 Xylobates Jacot, 1929
64 Xylobates lophotrichus (Brerlese, 1904) X X
XXV PROTOR1BATIDAE J BALOGH ET P BALOGH, 1984
38 Liebstadia Oudemans, 1906
XXVI HAPLOZETIDAE GRANDJEAN, 1936
39 Magnobates Hammer, 1967
Trang 3968 Magnobates flagellifer Hammer, 1967 X
40 Peloribates Berlese, 1908
69 Peloribates stellatus Balogh et Mahunka, 1967 X
41 Rostrozetes Sellnick, 1925
72 Rostrozetes punctulifer Balogh et Mahunka, 1979 X X X X
73 Rostrozetes trimorphus Balogh et Mahunka, 1979 X
77 Scheloribates laevigatus (C L Koch, 1836) X X X X X
78 Scheloribates latipes (C L Koch, 1841) X
79 Scheloribates pallidulus (C L Koch, 1840) X X
80 Scheloribates praeincisus (Berlese, 1916) X X X X X X X
45 Tuberemaeus Sellnick, 1930
81 Tuberemaeus sculpturatus Mahunka, 1987 X
XXVIII ORIPODIDAE JACOT, 1925
Trang 4084 Ceratozetes gracilis(Michael, 1884) X X X X X X X X X X
XXXI GALUMNIDAE JACOT, 1925
50 Galumna Heyden, 1826
51 Trichogalumn Balogh, 1960
90 Trichogalumna vietnamica M ahunka, 1987 X
SỐ loài theo tầng phân bố 12 10 14 12 6 7 25 11 18 15 19 14 8 9 6 6
Ghi chú:
x: Loài xuất hiện ở tầng phân bố A: Tầng rêu A I: Tầng đất 0 - 10 cm AO: Tầng lá A2: Tầng đất 10 - 20 cm