Từng bước ỏp dụng những phương phỏp tiờn tiến và phương tiện hiện đại vào quỏ trỡnh dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiờn cứu của học sinh...” Cũng như hầu hết cỏc th
Trang 1Trong những năm gần đõy, nghị quyết của đại hội Đảng và nhiều văn kiện khỏc của Bộ Giỏo dục - đào tạo đều nhấn mạnh việc đổi mới phương phỏp dạy học là một nhiệm vụ quan trọng của tất cả cỏc cấp học và bậc học ở nước ta nhằm đào tạo những con người tớch cực, tự giỏc năng động sỏng tạo, cú năng lực giải quyết vấn đề, biết vận dụng kiến thức vào cuộc sống Nghị quyết lần thứ 2 của ban chấp hành trung ương khúa VIII về những giải phỏp chủ yếu trong giỏo dục và đào tạo đó chỉ rừ: “Đổi mới mạnh mẽ phương phỏp giỏo dục- đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rốn luyện thành nếp tư duy sỏng tạo của người học Từng bước ỏp dụng những phương phỏp tiờn tiến và phương tiện hiện đại vào quỏ trỡnh dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiờn cứu của học sinh ”
Cũng như hầu hết cỏc thầy cụ giỏo khỏc, trong những năm học vừa qua bản thõn tụi đó trăn trở tỡm tũi, từng bước thực hiện việc đổi mới phương phỏp giảng dạy theo yờu cầu của ngành giỏo dục đề ra bởi chỳng ta đều biết phương phỏp giảng dạy là một trong những yếu tố cơ bản và quan trọng nhằm truyền đạt kiến thức tới học sinh đạt hiệu quả tốt nhất Phương phỏp giảng dạy phự hợp, khoa học sẽ là con đường giỳp học sinh tiếp thu kiến thức một cỏch hiệu quả, phỏt huy trớ lực của người học Mỗi cấp học, mỗi bộ mụn đều phải cú một phương phỏp giảng dạy phự hợp và khụng ngừng đổi mới, hoàn thiện là một trong những yếu tố, động lực nhằm khụng ngừng nõng cao chất lượng toàn diện cho học sinh hiện nay
Từ những suy nghĩ trờn tụi thấy rằng một trong những nội dung đổi mới phương phỏp dạy học mụn vật lý để kớch thớch gõy hứng thỳ cho học sinh học tập là việc nghiờn cứu khai thỏc cỏc thớ nghiệm trong cỏc giờ học, đú là điều kiện rất thuận lợi để cú thể nõng cao hơn nữa hiệu quả trong việc tiếp thu kiến thức của học sinh Từ cỏc chuyờn đề về đổi mới phương phỏp dạy học và sự tỡm tũi, đổi mới trong sử dụng cỏc dụng cụ thớ nghiệm thực hành vào dạy học tụi đó rỳt ra một số “kinh nghiệm trong sử dụng thớ nghiệm trong giảng dạy vật lý” xin
đợc trình bày cùng độc giả tham khảo với mục đích khụng ngừng nõng cao chất lượng toàn diện cho học sinh
Trang 2
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:
I.CƠ SỞ LÝ LUẬN
Vật lý là một môn khoa học thực nghiệm.Trong chương trình Vật lí THCS hầu như bài nào cũng có thí nghiệm Từ các thí nghiệm học sinh hình thành khái niệm Trong chương trình, chủ yếu là các thí nghiệm biểu diễn hình thành tri thức mới và một số thí nghiệm chứng minh Thí nghiệm kiểm tra đóng vai trò khai thác sâu kiến thức biến kiến thức thành kỹ năng kỹ xảo vận dụng vào giải bài tập Do đó tôi thấy rằng một trong những giải pháp đổi mới phương pháp dạy học Vật lý ở trường THCS thì giải pháp đổi mới trong việc thực hiện các thí nghiệm của từng bài học, làm đầy đủ, có chất lượng các thí nghiệm trên lớp là giải pháp được đặt lên hàng đầu Giáo viên cần chú trọng việc sử dụng đồ dùng dạy học và dụng cụ thí nghiệm ở tất cả các tiết học và cần tạo điều kiện để các em học sinh được tự tay làm thí nghiệm, tự mình quan sát đo đạc và rút ra nhận xét, kết luận (tức là được trải nghiệm trong thực tế) các em học sinh học tập sẽ hứng thú hơn, phát huy được tính năng động sáng tạo của các em, kết quả học tập sẽ đạt cao hơn rất nhiều
II THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ CẦN NGHIÊN CỨU
Trước đây trong khi giảng dạy giáo viên chỉ chú trọng đến khối lượng kiến thức cần truyền đạt mà coi nhẹ phương pháp học tập và nghiên cứu mang tính đặc thù của bộ môn Vật lý là môn khoa học thực nghiệm thế nhưng tình trạng phổ biến hiện nay vẫn là :
- Dụng cụ thí nghiệm thiếu, một phần bị hư hỏng không chính xác, có năm được bổ sung thêm thì không đồng bộ với dụng cụ cũ Nhìn chung chưa
có đầy đủ dụng cụ thí nghiệm cần thiết cho các giờ học
- Số lượng học sinh trong một nhóm quá đông, một bộ phận học sinh yếu
và trung bình ít có cơ hội làm việc trong nhóm
- Kỹ năng làm thí nghiệm của học sinh vẫn còn hạn chế
- Một số bài thực hành thí nghiệm không thành công và thế không thể đánh giá kỹ năng thực hành của học sinh, làm giảm tính thuyết phục của nội dung bài học
- Nhà trường chỉ có một cán bộ phụ trách phòng thí nghiệm cho tất cả các môn học, được đào tạo chưa sâu cho từng bộ môn nên rất khó khăn trong việc giúp giáo viên chuẩn bị và hướng dẫn học sinh thực hành
Về cơ bản việc sử dụng thí nghiệm vật lý ở trường THCS vẫn còn hạn chế, chưa phát huy hết tính độc lập sáng tạo của học sinh Trong khi đó lượng kiến thức trong sách giáo khoa luôn luôn được bổ sung chỉnh lý cho kịp với
sự phát triển của thời đại Từ thực trạng trên dẫn đến chất lượng của môn học chưa tốt do đó cần đổi mới trong việc sử dụng thí nghiệm dạy học
Trang 3III.CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN
1 Thực hiện chia nhóm cho học sinh học tập
2 Thiết kế bài dạy : lập kế hoạch hoàn thiện, phát triển kiến thức cho học sinh một cách phù hợp với nội dung SGK, phải biết kết hợp thí nghiệm với hệ thống câu hỏi dẫn dắt phù hợp tạo điều kiện để học sinh chủ động tiếp thu kiến thức
3.Thực hiện chuẩn bị chu đáo đồ dùng dạy học cho mỗi tiết học trước ngày dạy hai đến ba ngày, thực hiện làm thử chu đáo, tìm cách thay thế các đồ dùng chưa hợp lý có trong phòng thí nghiệm
4 Thực hiện tự học hỏi thông qua tiếp thu các chuyên đề, qua tổ nhóm chuyên môn và qua các phương tiện thông tin đại chúng
II NHỮNG BIỆN PHÁP THỰC HIỆN.
:
1 Chia tổ nhóm:
Trước đây việc thực hiện các thí nghiệm trong các tiết học là do giáo viên làm biểu diễn hoàn toàn nên các em tiếp thu kiến thức một cách thụ động, kỹ năng thực hành của học sinh rất yếu các em nắm không sâu được kiến thức và nội dung bài học Các em rất lúng túng khi tự tay thực hiện các bài thực hành.Vì vậy cần đổi mới phương pháp truyền thụ này
Ngay từ giờ học đầu tiên của năm học giáo viên cần cho học sinh mắn được đặc thù của bộ môn là môn khoa học thực nghiệm, giáo viên chia học sinh của lớp thành các nhóm học tập, mỗi nhóm gồm cả các đối tượng khá, giỏi, trung bình và yếu Cử nhóm trưởng, nhóm phó, thư ký của nhóm Nhóm trưởng chịu trách nhiệm điều hành hoạt động của nhóm sao cho mọi thành viên trong nhóm đều được tham gia các công việc của nhóm, những thành viên yếu thường được giao công việc dễ hơn: Quan sát ghi số liệu Tạo điều kiện cho các em chủ động tích cực trong giờ học
2.Chuẩn bị thí nghiệm
Nói chung thí nghiệm phải kích thích được hứng thú óc sáng tạo của học sinh Muốn đạt được điều đó giáo viên phải tìm hiểu thật kỹ nội dung bài dạy, xác định rỏ nội dung kiến thức mục đích thí nghiệm Giáo viên cần có óc sáng tạo, chịu khó để lựa chọn các dụng cụ thí nghiệm cần thiết cho phù hợp Các dụng cụ thí nghiệm phải đơn giản dễ làm và chất lượng tốt đảm bảo độ chính xác cao Nhiều khi giáo viên phải tự tạo ra các dụng cụ thí nghiệm phục phụ cho giảng dạy vì không phải dụng cụ thí nghiệm nào cũng có và cũng hoạt động tốt vì vậy phải chuẩn bị thí nghiệm trước hai ba ngày
Để kích thích thị giác giáo viên cũng cần phải chọn các thí nghiệm có đồ dùng màu sắc tương phản “bặt mắt” giúp học sinh quan sát tốt hơn
Thí nghiệm thành công tức là phải được chuẩn bị kỹ, làm đi làm lại nhiều lần nếu thất bại sẽ phá vỡ tiến trình bài học gây tâm lí hoang mang thất vọng đối với học sinh Điều không thể thiếu được là giáo viên phải chuẩn bị hệ thống câu
Trang 4hỏi hướng dẫn học sinh quan sát hiện tượng, phân tích kết quả thí nghiệm vận dụng các kiến thức có liên quan để đi đến tri thức mới một cách logic
3 Tiến hành thí nghiệm
Vật lý là một trong những môn học có ưu thế trong việc phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của học sinh, trong đó sách giáo khoa là một trong những phương tiện thể hiện phương pháp dạy học tích cực Bên cạnh việc áp dụng phương pháp thực nghiệm cần phải sử dụng phương pháp suy luận lôgic mới có thể rút ra kết luận khoa học Chẳng hạn như căn cứ vào quan sát thí nghiệm, rút
ra được các dạng giống nhau cho nhiều trường hợp, dạng đặc biệt của một trường hợp, xác định mối quan hệ định lượng giữa các hiện tượng, xử lí sự chênh lệch giữa các số liệu, suy luận để đưa ra hệ quả
*Bước 1: Thu thập thông tin
Giáo viên hướng cho học sinh quan sát các sự kiện, hiện tượng, thí nghiệm, tìm được những thông tin cần thiết từ thực tế, sách giáo khoa, báo
Trong chương trình vật lý 6, học sinh đã nhiều lần tập đưa ra “Dự đoán”
và được giáo viên hướng dẫn làm thí nghiệm để kiểm tra tính đúng đắn của dự đoán Đến lớp 7 phương pháp nghiên cứu đó cần được phát triển và nâng cao hơn cần hướng dẫn học sinh thường xuyên đưa ra nhiều dự đoán khác nhau về cùng một hiện tượng và tự lực đề xuất các phương án làm thí nghiệm để kiểm tra dự đoán Đặc biệt trong chương trình vật lý 7 có sử dụng nhiều đến phương pháp thực nghiệm, tiếp tục rèn luyện cho học sinh kĩ năng làm thí nghiệm và từ thí nghiệm rút ra kiến thức của bài học
Tập cho học sinh lập kế hoạch khám phá thiết kế thí nghiệm, lựa chọn dụng cụ thiết bị thí nghiệm, chỉ ra đại lượng cần đo, những điều cần xác định trong thí nghiệm, chỉ ra những yếu tố cần giữ nguyên, không thay đổi khi làm thí nghiệm (Giáo viên hướng học sinh lựa chọn phương án mà giáo viên đã lựa chọn,đã thiết kế)
Tiến hành thí nghiệm: Hướng dẫn học sinh bố trí lắp đặt dụng cụ thiết bị thí nghiệm; thực hiện thí nghiệm theo phương án đề ra, cần thiết thay đổi phương
án thí nghiệm nếu kết quả không phù hợp với vấn đề đặt ra
Ghi kết quả khám phá Đọc số chỉ của các dụng cụ thí nghiệm ở mức độ cẩn thận và chính xác cần thiết, lập bảng kết quả, biểu diễn kết quả bằng đồ thị ,
sơ đồ
*Bước 2: Xử lí thông tin
Ví dụ như : Lập bảng, biểu, vẽ đồ thị theo những cách khác nhau, từ đó
phân tích dữ liệu, kết quả thí nghiệm và nêu ý nghĩa của chúng Tìm quy luật từ kết quả thí nghiệm từ biểu bảng đồ thị Phân loại dấu hiệu giống nhau, khác nhau, nhận biết những dấu hiệu bản chất của những nhóm đối tượng đã quan sát , so sánh, phân tích, tổng hợp dữ liệu và rút ra kết luận
*Bước 3:Thông báo kết quả làm việc
Cho đại diện nhóm mô tả lại những thí nghiệm đã làm, trình bày, giải thích những việc đã làm bằng lời, bằng hình vẽ hoặc bằng đồ thị nêu kết luận đã tìm
Trang 5thấy được Từ báo cáo của từng nhóm giáo viên cho lớp thảo luận để đi đến kết luận chung, tổng quát cho vấn đề đang nghiên cứu
*Bước 4: Vận dụng ghi nhớ kiến thức
Vận dụng giải các bài tập( định tính, định lượng, thực nghiệm) làm đồ chơi, dụng cụ học tập
Trong mỗi tiết dạy có thí nghiệm, giáo viên có thể phát huy tính tích cực học tập của học sinh ở những mức độ khác nhau (có thể giáo viên thực hiện, có thể giáo viên điều khiển học sinh thực hiện một vài phần, có thể để học sinh tự thực hiện hoàn toàn )
Ví dụ : ở bài “Sự truyền ánh sáng”
Khi nghiên cứu về đường truyền ánh sáng đầu tiên giáo viên phải yêu cầu học sinh đọc sách giáo khoa để thu thập thông tin để tìm hiểu mục đích của thí nghiệm, dụng cụ thí nghiệm và cách tiến hành thí nghiệm Giáo viên yêu cầu học sinh bố trí thí nghiệm như hình 2.1 trong SGK và quan sát ánh sáng phát ra
từ dây tóc đèn pin bằng ống thẳng và ống cong sau đó yêu cầu học sinh trả lời câu hỏi: ánh sáng từ dây tóc đèn pin truyền trực tiếp đến mắt ta theo ống thẳng hay ống cong?
Để trả lời được câu hỏi này học sinh phải tự làm thí nghiệm, quan sát tìm tòi được những thông tin cần thiết cho quan niệm đường truyền của ánh sáng Tiếp theo yêu cầu học sinh xử lí thông tin bằng thí nghiệm kỉêm tra (bố trí thí nghiệm như hình 2.2 SGK) với thí nghiệm này học sinh kiểm tra xem khi không dùng ống ánh sáng có truyền đi theo đường thẳng không? Việc xử lí thông tin này đòi hỏi học sinh phải suy nghĩ tìm tòi, tiến hành thí nghiệm, lựa chọn thông tin đã thu thập ở thí nghiệm hình 2.1vật lý 7 để tìm ra lời giải đáp đúng về đường truyền của ánh sáng Từ đó học sinh phải hoàn thành được phần kết luận trong SGK (Đường truyền của ánh sáng trong không khí là đường thẳng)
Để phát huy hiệu quả các thí nghiệm học sinh tự tìm tòi kiến thức một cách chủ động sáng tạo Điều vô cùng quan trọng là giáo viên phải biết lập kế hoạch hoàn thiện, phát triển kiến thức cho học sinh một cách phù hợp với nội dung SGK, phải biết kết hợp thí nghiệm với hệ thống câu hỏi dẫn dắt Ở chương
II phần Âm học lớp 7 hầu hết các thí nghiệm biểu diễn và thí nghiệm kiểm
chứng để xây dựng và mở rộng kiến thức Ví dụ bài “Nguồn âm” ngoài các dụng
cụ như dây cao su, trống, âm thoa giáo viên có thể tạo thêm một thí nghiệm nhạc cụ (đàn ống nghịêm) và hướng cho học sinh tự làm và kiểm tra được kết luận Với thí nghiệm củng cố này học sinh sẽ rất hứng thú và nắm vững được
đặc điểm của nguồn âm đó là “Vật dao động phát ra âm” Có làm được như vậy
theo tôi đã đạt được mục đích đặt ra
4 Trao đổi ở tổ nhóm
Ngoài sự nỗ lực của bản thân mỗi giáo viên cần tích cực học hỏi, trao đổi
dự giờ bạn nhất là giao lưu chuyên môn, các giờ dạy tốt dạy giỏi ở trường bạn Đặc biệt trong trường hàng tuần tổ chức một buổi sinh họat chuyên môn của nhóm, tổ như đăng ký dạy tốt, thảo luận về việc vận dụng đổi mới phương pháp giảng dạy vào từng tiết học Bàn bạc trong tổ về cách thức sáng tạo các thí
Trang 6nghiệm trong từng bài dạy Nhờ đó mà kỹ năng thí nghiệm và chất lượng giảng dạy được nâng nên rõ rệt
ÁP DỤNG VÀO MỘT TRƯỜNG HỢP CỤ THỂ.
Ví dụ 1: Bài 10- Nguồn âm
I/ Mục tiêu:
1.Kiến thức.
- Nêu được đặc điểm chung của các nguồn âm
- Nhận biết được một số nguồn âm trong đời sống
2 Kỹ năng Quan sát thí nghiệm kiểm chứng để rút ra đặc điểm của nguồn âm
là dao động
3 Thái độ Yêu thích môn học
II/ Chuẩn bị:
* Đối với mỗi nhóm học sinh.
- Một sợi dâycao su mảnh - Một thìa và một cốc thuỷ tinh mỏng
- Một âm thoa và một búa cao su
* Đối với giáo viên.- ống nghiệm hoặc lọ nhỏ- Vài ba dải lá chuối
- “Bộ đàn ống nghiệm” gồm 7 ống nghiệm đã được các tổ đổ nước với các mực khác nhau
III Tổ chức hoạt động dạy và học.
*Hoạt động 1: (5ph) Tổ chức tình huống học tập
GV: Yêu cầu học sinh tìm hiểu mục tiêu của chương II
GV: Chương âm học nghiên cứu các hiện tượng gì?
HS: Đọc mở bài và nêu mục đích của bài
GV: Vậy âm thanh được tạo ra như thế nào ta nghiên cứu bài hôm nay
*Hoạt động 2: Nhận biết nguồn âm (10ph)
GV: Yêu cầu học sinh đọc thông tin C1 và giữ yên lặng 1phút để trả lời câu hỏi C1
GV: Thông báo (vật phát ra âm gọi là nguồn âm)
HS: Lấy ví dụ về nguồn âm(3 em)
HS: Trả lời câu hỏi C2
*Hoạt động 3: Tìm hiểu đặc điểm chung của nguồn âm(20 ph)
Thí nghiệm 1:
GV: Yêu cầu học sinh nghiên cứu thí nghiệm H10.1 SGK và yêu cầu học sinh cho biết mục đích thí nghiệm và đọc C3
HS: Nêu dụng cụ thí nghiệm và cách tiến hành thí nghiệm
GV: Tổ chức hoạt động nhóm và yêu cầu các nhóm làm thí nghiệm(vừa lắng nghe vừa
quan sát)
GV: Theo dõi giúp đỡ những nhóm yếu
Thí nghiệm 2: H10.2 SGK Thay cốc bằng trống
GV: Yêu cầu học sinh đọc thông tin trong SGK và làm thí nghiệm như H10.2 SGK
Trang 7GV: Yêu cầu học sinh trả lời câu hỏi sau:
Phải kiểm tra như thế nào để biết mặt trống có rung động không? ( Thí nghiệm 1: H10.1(SGK)
HS: Trả lời câu hỏi C4 SGK
GV: Thông báo: Sự rung động qua lại vị trí cân bằng của vật gọi là dao động
Thí nghiệm 3:
GV: Yêu cầu học sinh quan sát H10.3 SGK và tiến hành làm thí nghiệm
HS: Làm thí nghiệm Gõ vào một nhánh của âm thoa, lắng nghe, quan sát và trả lời câu hỏi C5 SGK
GV: Yêu cầu học sinh tìm phương án kiểm tra sự dao động của âm thoa
HS: Đưa ra phương án kiểm tra, sờ nhẹ tay vào một nhánh của âm thoa (Thí nghiệm 2: H10.2 SGK)
GV: Qua các thí nghiệm trên em hãy cho biết làm thế nào để vật phát ra âm? GV: Bằng cách nào để kiểm tra vật đó có dao động không?
HS: Trả lời câu hỏi và hoàn thành kết luận trong SGK
* Hoạt động 4: Vận dụng củng cố hướng dẫn về nhà.
1/ Vận dụng.
GV: Yêu cầu họcc sinh thảo luận và trả lời C6, C7, C8
HS: Nhận xét
GV: Gọi học sinh làm thí nghiệm củng cố sau đó trả lời câu hỏi C9 SGK
2/ Củng cố :GV:Các vật phát ra âm có chung đặc điểm gì?
HS: đọc phần có thể em chưa biết
GV: Bộ phận nào trong cổ phát ra âm (cổ họng phát ra âm do dây âm thanh trong cổ dao động)
HS: Nêu phương án kiểm tra (Đặt tay vào sát ngoài cổ họng)
3/ Hướng dẫn về nhà.
Học bài và làm bài tập 10.1 đến 10.5 SBT
Làm lại các thí nghiệm trong điều kiện cụ thể (ở gia đình), quan sát sự các vật khi phát ra âm
Đọc trước bài học sau, chú ý đến các thí nghiệm, liên hệ với thực tiễn cuộc sống
Ví dụ 2: Bài 27: Thực hành đo hiệu điện thế và cường độ dòng điện đối với đoạn mạch nối tiếp
I Mục tiêu:
1 Kiến thức- kĩ năng:
điện trong mạch điện mắc nối tiếp hai bóng đèn
điện và hiệu điện thế trong mạch điện
2.Thái độ:
đời sống
Trang 8II Chuẩn bị : Mỗi nhóm :Nguồn điện 6V, Một Ampekế, một vôn kế, hai bóng đèn 3V, dây nối, khóa K, báo cáo thực hành
II Nội dung SGK:
SGK chỉ dừng lại ở mức độ làm cho học sinh biết mắc nối tiếp 2 bóng đèn III Hoạt động dạy học:
Cần làm cho học sinh nắm được dấu hiệu của mạch điện mắc nối tiếp, kết luận tổng quát cho đoạn mạch gồm nhiều thiết bị tiêu thụ điện mắc nối tiếp
Hoạt động 1: Mắc nối tiếp 2 bóng đèn
-Treo hình 27.1 a, yêu cầu học sinh quan sát để nhận biết 2 bóng đèn mắc nối tiếp
-Giáo viên đưa ra phản ví dụ (một mạch điện khác trong đó 2 đèn không mắc nối tiếp), yêu cầu học sinh quan sát, thảo luận tìm dấu hiệu nhận biết 2 bóng đèn mắc nối tiếp:
Học sinh: Dấu hiệu nhận biết 2 bóng đèn mắc nối tiếp:
- 2 đèn mắc liên tiếp thành một dãy
- Điểm đầu của đèn 2 là điểm cuối của đèn 1
- Hoạt động của 2 đèn phụ thuộc nhau( nếu tháo một đèn thì đèn còn lại không hoạt động)
-Yêu cầu hs trả lời câu hỏi C1
Học sinh: Hình 27.1 a Am pe kế, công tắc và 2 bóng đèn mắc nối tiếp
-Yêu cầu học sinh thực hành theo nội dung C2:
(Trước khi học sinh thực hành giáo viên chú ý nêu qui tắc sử dụng Ampekế để
đo cường độ dòng điện trong mạch)
Học sinh: Hoạt động nhóm lắp mạch điện đúng như sơ đồ trên bảng chú ý chốt (+) của Am pekế mắc về phía cực dương của nguồn, khóa mở và vẽ sơ đồ vào báo cáo
Hoạt động 2 : Đo cường độ dòng điện đối với đoạn mạch nối tiếp.
mới đóng công tắc quan sát hiện tượng, đọc và ghi số chỉ của Ampekế, qua các lần đo cường độ dòng điện tại các vị trí khác nhau, học sinh thảo luận để rút ra nhận xét
-Sau khi học sinh rút ra nhận xét: Trong đoạn nối tiếp, dòng điện có cường độ
bằng nhau tại các vị trí khác nhau của mạch: I 1 =I 2 = I 3 Giáo viên thông báo
"kết luận trên cũng đúng cho mạch điện gồm nhiều thiết bị tiêu thụ điện mắc nối tiếp: I1= I2=I3= =In"
Hoạt động 3: Đo hiệu điện thế đối với đoạn mạch nối tiếp:
-Tổ chức cho học sinh làm việc tương tự như hoạt động 2
Học sinh: Thực hành rút ra nhận xét: Đối với đoạn mạch gồm hai bóng đèn
nối tiếp, hiuêụ điện thế giữa hai đầu đoạn mạch bằng tổng HĐT trên mỗi đèn: U 13 = U 12 + U 23
-Giáo viên thông báo: Đối với đoạn mạch gồm nhiều thiết bị điện mắc nối tiếp,
Hiệu điện thế giữa hai đầu đoạn mạch bằng tổng hiệu điện thế trên mỗi thiết
bị điện: U= U 1 +U 2 + + U n
Trang 93/ Hướng dẫn về nhà
- Quan sát cụ thể ở gia đình các dụng cụ tiêu thụ điện được mắc nối tiếp hay mắc như thế nào, các thiết bị dùng điện trong gia đình hoạt động có phụ thuộc nhau hay hoạt động đọc lập đối với nhau?
Đọc trước bài học sau, chú ý liên hệ với thực tiễn cuộc sống
III KIỂM NGHIỆM:
Qua việc áp dụng đề tài trên vào giảng dạy, tôi đã theo dõi và tiến hành khảo sát chất lượng học sinh học môn Vật lý và thu được kết quả tương đối khả quan.Trước đây học sinh tiếp thu kiến thức một cách bị động, các em không được tự tay làm thí nghiệm nên kỹ năng thực hành rất kém, các em không tự tìm tòi kiến thức nên hiểu không sâu, không yêu thích môn học Việc vận dụng kiến thức vào giải các bài tập và giải thích các hiện tương tự nhiên của các em chưa tốt Đặc biệt việc vận dụng kiến thức đã học vào thực tế cuộc sống của các em còn rất yếu : Nhiều em bóng đèn của gia đình bị cháy, dây chì đứt, không dám
tự tay lắp bóng đèn, thay dây chì khác vào Các em không mạnh dạn để tìm tòi sáng tạo và tự nghiên cứu, tự khám phá các qui luật và hiện tượng trong tự nhiên
Mấy năm gần đây học sinh được hướng dẫn, tập làm thí nghiệm, được hướng dẫn để tự nghiên cứu vấn đề: Đưa ra dự đoán, biết lập kế hoạch, tìm dụng
cụ thí nghiệm và làm thí nghiệm kiểm tra dự đoán rồi từ kết quả thí nghiệm tự rút ra nội dung kiến thức của bài học nên học sinh hiểu bài sâu hơn, chủ động nghiên cứu hơn, sáng tạo hơn Kỹ năng thực hành tốt hơn, việc vận dụng kiến thức vào thực tế cuộc sống của các em thông thạo hơn Chất lượng cụ thể qua theo dõi liên tục sau hai năm của một khóa học sinh như sau :
Khảo sát giữa kì I Năm học 2010- 2011
Khảo sát cuối năm Năm học 2010- 2011
Khá - Giỏi
Điểm T.bình
Điểm Yếu-Kém
Điểm Khá - Giỏi
Điểm T.bình
Điểm Yếu-Kém
Khảo sát đầu năm Năm học 2011- 2012
Khảo sát cuối kỳ II Năm học 2011- 2012
Khá - Giỏi
Điểm T.bình
Điểm Yếu-Kém
Điểm Khá - Giỏi
Điểm T.bình
Điểm Yếu-Kém
Như vậy năm sau so với năm trước hoặc so sánh chất lượng cuối năm so với đầu năm thì tỉ lệ học sinh tiếp thu và hiểu bài ngay tại lớp tăng lên rõ rệt, tỉ
lệ học sinh khá giỏi tăng, giảm tỉ lệ học sinh trung bình và không còn học sinh
Trang 10yếu kộm.Học sinh yờu thớch mụn học hơn Kết quả thi học sinh giỏi vật lý cấp huyện hàng năm được nõng lờn (Năm học 2010- 2011: lớp 9 : Dự thi 2em thỡ đạt một giải nhỡ và một giải ba, năm học 2011-2012 lớp 9 dự thi 1 em và em đú đạt giả nhỡ, đồng đội vật lý 9 xếp thứ nhỡ huyện Hoằng húa, lớp 8 dự thi 2 em thỡ một em đạt giải nhỡ và một em đạt giải đạt giải nhất, đồng đội xếp thứ nhất huyện Hoằng Húa)
Năm học 2012- 2013 : lớp 9 dự thi học sinh giỏi cấp thành phố 2em đạt một giải nhỡ và một giải ba, đồng đội mụn vật lý 9 xếp thứ nhỡ của thành phố Thanh húa
Điều đáng kể hơn cả là tính năng động và khả năng tự lập của các em thể hiện khá rõ rệt, quan hệ thầy trò trở lên gần gũi hơn Trong giờ học khoảng cách giữa thầy và trò đợc thu hẹp Học sinh mạnh dạn hỏi thầy, trình bày quan điểm
và lập trờng của mình, mở rộng giao tiếp và t duy của các em
C KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
Việc đổi mới phương phỏp giảng dạy là việc làm thường xuyờn của giỏo viờn, gúp phần nõng cao chất lượng giỏo dục Tuy nhiờn cũng giống như cỏc hoạt động khỏc trong nhà trường nhõn tố quyết định vẫn là đội ngũ giỏo viờn Theo tụi người thầy phải cú nhận thức đỳng, yờu nghề, chăm chỉ cú sự chuẩn bị kĩ (sau khi đó nghiờn cứu kĩ bài dạy) cỏc thớ nghiệm phải được thầy chủ động tiến hành trước nhiều lần, với cỏc phương thức khỏc nhau để chọn ra phương phỏp hay nhất, học sinh dễ ỏp dụng khai thỏc được tốt kiến thức từ cỏc thớ nghiệm này, học sinh phải tự mỡnh được làm cỏc thớ nghiệm, ngụn ngữ của thầy phải trong sỏng, chớnh xỏc, trỡnh bày ngắn gọn sỳc tớch để học sinh tiếp thu bài nhanh Trong mỗi bài học, người dạy cần nghiờn cứu kĩ mục tiờu, nội dung SGK, sỏch bài tập tỡm hiểu sự tương ứng của nội dung kiến thức SGK và mục tiờu của bài học từ đú sắp xếp, bổ sung cỏc phần tử kiến thức tổ chức cỏc hoạt động dạy học tương ứng cho phự hợp.Bờn cạnh đú người thầy phải luụn tỡm tũi, sỏng tạo, học tập, lắng nghe ý kiến gúp ý của đồng nghiệp, rỳt ra kiến thức mang tớnh thực tiễn và vận dụng phương phỏp tốt nhất cho mỗi bài dạy.Mụn Vật
lớ là mụn khoa học thực nghiệm rất gần với cuộc sống đú là thuận lợi nhưng để khai thỏc hết hiệu quả của từng tiết học theo tụi là một “nghệ thuật” và vụ cựng khú
Bản thõn tụi khi nghiờn cứu và thực hiện đổi mới trong sử dụng cỏc thớ nghiệm vật lý trong quỏ trỡnh dạy học, kết quả thực hiện thấy học sinh hiểu sõu bài học, biết vận dụng bài học giải thớch tốt cỏc hiện tượng vật lý, yờu thớch bộ mụn hơn.Vỡ vậy tụi rất mong muốn kinh nghiệm này được viết lờn để độc giả tham khảo Tụi xin chõn thành được sự gúp ý của cỏc bậc tiền bối, của cỏc thầy, cụ giỏo, của đồng nghiệp và độc giả xa gần
Tụi xin chõn thành cảm ơn!