1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phương pháp đổi mới kiểm tra đánh giá tiếng anh ở trường t h c s doc

11 507 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 85,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lời mở đầu Ngày nay khi Tiếng Anh đã khẳng định vai trò và tầm quan trọng của nó trong trường học , thì việc nâng cao chất lượng dạy và học là vấn đề quan trọng hàng đầu .Chương trình t

Trang 1

A-Đặt vấn đề

I Lời mở đầu

Ngày nay khi Tiếng Anh đã khẳng định vai trò và tầm quan trọng của

trong trường học , thì việc nâng cao chất lượng dạy và học là vấn đề quan trọng hàng đầu Chương trình thay sách được áp dụng hàng loạt vấn đề về phương pháp dạy học Tiếng Anh lại nảy sinh Câu hỏi đặt ra là :

Làm thế nào để học sinh có thể lĩnh hội được toàn bộ kién thức và sủ dụng nó một cách thành thạo ?

Chúng ta đều biết rằng học Tiếng Anh đơn thuần chỉ là học một ngôn ngữ Muốn sử dụng thành thạo ngôn ngữ đó thì người học phải rèn luyện bốn

kỹ năng cơ bản : -Nge, - Nói , -Đọc, -Viết Ngay từ năm lớp 6 học sinh đã được làm quen với bài kiểm tra ,thi Khi chương trình được nâng cao càng được yêu cầu khắt khe hơn Nếu giáo viên không có phương pháp giảng dạy tốt ,sẽ không truyền đạt hết nội dung của bài dạy hơn nữa những bài kiểm tra,thi ở chương trình lớp 8,9 thường đài hơn và nhiều hơn, nên rất khó cho học sinh làm bài

Để đáp ứng được yêu cầu thực tế Mỗi giáo viên cần phải tìm cho mình một phương pháp kiểm tra đánh giá dạy học tối ưu , phù nhợp với từng đối tượng thực tế của từng học sinh để đạt kiết qủa cao đó mới là vấn đề , là mục đích mà mỗi giáo viên đang đứng lớp phải trăn trở , phải suy nghĩ Vì vậy cải tiến kiểm tra đánh giá luôn được nghành giáo dục quan tâm đúng

mức.Nghành luôn động viên khuyến khích những giáo viên có những cải tiến mới và có những đề tài sáng kiến kinh nghiệm hay ,thiết thực áp dụng thực tế ngay cho việc kiểm tra đánh giá

II-Thực trạng vấn đề nghiên cứu

1 -Thực trạng của việc dạy kỹ năng đọc Tiếng Anh ở trường T H C S :

Trang 2

- Mặc dù tiếng Anh đã trở thành môn học chính thức ỏ trong trường

học Nhưng việc phát huy lợi ích của nó vẫn chưa được quan tâm nhiều Một phần do hạn chế về cơ sở vật chất và thiết bị dạy học ở trường phổ thông nhưng mặt quan trọng nữa là do chất lượng dạy học chưa cao , chưa thu hút được sự đam mê học tập của học sinh điều này càng được thể hiện rõ trong giờ kiểm tra Tiếng Anh Bên cạnh đó , vai trò của giáo viên không thể không kể đến chất lượng dạy học được nâng cao , phương pháp dạy học có đổi mới phù hợp với từng bài kiểm tra ,bài thi , từng đối tượng học sinh Trong chương trình sách giáo khoa cũ , kỹ năng đọc được rèn luyện 4 kỹ năng Nghe - Nói và Viết

Sau khi chương trình Tiếng Anh được biên soạn cần được rèn luyện riêng

rẽ , đổi mới phương pháp trong kiểm tra đánh giá càng cao , càng bắt buộc phải thực hiện theo Nhiều bài mới lạ được đề cập đến Học sinh cảm thấy quá tải , phương pháp cũ không còn phù hợp Chính vì vậy trong việc này giáo viên đóng vai trò chủ đạo ra đề như thế nào để vừa đáp ứng được yêu cầu thực tế ,vừa nâng cao chất lượng của các em

2 Lí do để chọn đề tài

Nhận thấy kết quả ,hiệu quả của việc kiểm tra đánh giá mụn Tiếng Anh ở trường

T H C S là một vấn đề ,là một thực trạng cần thiết để bổ sung thêm vào các phương pháp kiểm tra Tiếng Anh ở trường T H C S nên tôi đã mạnh dạn cải

tiến nội dung cho đề tài của mình đó là: " Phương pháp đổi mới kiểm tra đánh giá Tiếng Anh ở trường T H C S "

Mục đích của việc nghiên cứu đề tài này là nhằm đổi mới kiểm tra kỹ năng Tiếng Anh Từ thực trạng của việc kiểm tra kỹ năng Tiếng Anh ỏ trường T H

C S , cải tiến phương phương pháp tích cực phù hợp với từng bài ,từng đối tượng học sinh

3 Nhiệm vụ của việc nghiên cứu của đề tài này là :

- Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc kiểm tra đánh giá Tiếng Anh

Trang 3

- Nghiên cứu cơ sở thực tiễn của việc kiểm tra đánh giá Tiếng Anh ở trường T H C S Từ đó có thể so sánh với kết quả đạt được sau khi áp dụng phương pháp mới

- Rút ra một số bài học bổ ích sau khi nghiên cứu

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Vì thời gian có hạn nên trong đề tài này tôi chỉ áp dụng phương pháp đổi mới kiểm tra đánh giá đối vớiTrường T H C S Hoằng Cỏt

B - Giải quyết vấn đề

I -Giải pháp thực hiện

Đổi mới kiểm tra đánh giá phải áp dụng vào thực tế :

Để làm được điều này, giáo viên cần lồng ghép ngay các dạng bài tập khi kiểm tra lại những gỡ vừa mới dạy xong hay kiểm tra bài cũ Thay đổi hỡnh thức kiểm tra cũng là một điều mới mẻ mà tôi nghĩ rằng giáo viên có thể

áp dụng để giúp các em rèn luyện làm các dạng bài tập từng giờ, từng ngày và từng cấp học thỡ chắc rằng cỏc em sẽ khụng cũn thấy khú khi gặp dạng mới hay thắc mắc vỡ kiểu bài chưa gặp và không biết làm…

Vớ dụ muốn giỳp cỏc em làm quen với dạng bài tập về ngữ õm thỡ

phần Check vocabulary hoặc homework giáo viên nên cho các em xác định

dấu trọng âm nằm ở đâu, hay tỡm từ cú cỏch phỏt õm khỏc từ cũn lại Vớ dụ sau khi dạy bài số nhiều của danh từ ở chương trỡnh lớp 6-Unit 3, thay vỡ giỏo viờn yờu cầu cỏc em học thuộc tất cả cỏc danh từ và kiểm tra bằng cỏch

lờn bảng ghi theo 3 cột /z/, /iz/, /s/ thỡ giỏo viờn cú thể thay đổi bằng cách

sau Giáo viên viết một bài tập trắc nghiệm trên bảng phụ và chỉ yêu cầu học sinh tỡm ra từ cú cỏch đọc khỏc với cỏc từ cũn lại, sau đó yêu cầu các em giải thích tại sao (Why?) Như thế vừa giúp các em ôn lại kiến thức vừa giúp các

em rèn luyện kỹ năng dạng bài tập này một cách chắc chắn

*Gạch chân dưới từ có cách phát âm khác từ cũn lại: (English 6-Unit 3)

a/ students doors windows

b/ kisses boxes tables

c/ erasers chairs benches

d/ books boards clocks

Keys: a students b tables c benches d boards

Hay khi dạy bài Text (Reading) giáo viên không chỉ cho học sinh đơn

thuần đọc bài và trả lời cõu hỏi (Comprehension question) mà dần hỡnh thành

bài tập trắc nghiệm cho cỏc em qua phần bảng phụ với dạng True/ False hoặc

túm tắt lại bài Text (summary) để các em làm bài tập dạng Gap Fill Vỡ đa số

các bài trong sách đều cho nhiều ở dạng trả lời cõu hỏi (Comprehension

Trang 4

question) nhưng trong bài thi thỡ đa số là ra dạng bài Gap fill Trong bài tập

cũng có thể ra một câu hơi khó để kích thích sự sáng tạo và học hỏi của các

em khá giỏi Ví dụ:

*Đọc lại đoạn văn trên và tỡm 01 từ thớch hợp để điền vào chổ trống (English 7-Unit 1-Page 11)

Hoa is a (1)……… student in class 7A at Hong Ha school Her parents live in (2)……… but she lives with her relatives in (3)……… She doesn’t have any (4)………… there Her old school is (5)……….than her new school She is (6)………….because she misses her parents and old friends.

Keys: 1 new 2 Hue 3 Ha noi 4 friends 5.smaller 6 unhappy

Một dạng bài nữa là cách trả lời câu hỏi đúng nhất Đề thi đưa ra một câu chưa hoàn chỉnh, trong đó, một hay một phần được bỏ trống Theo sau đáp án, thường liệt kê 3-4 từ hay cụm từ hoặc mệnh đề Học sinh sẽ phải chọn một đáp án đúng duy nhất trong những đáp án đưa ra để hoàn tất câu hợp với

cú pháp và hợp lý nhất Vớ dụ khi dạy xong bài hỏi về thời gian (What time is

it?) giỏo viờn cú thể kiểm tra lại (15’=fifteen=a quarter) như sau thay vỡ yờu

cầu cỏc em tự trả lời Điều này cũng giúp một số các em yếu kém có thêm cơ hội ôn lại lần nữa những gỡ mỡnh chưa nắm chắc chắn

*Khoanh trũn cõu trả lời đúng nhất (English 6-Unit 5-56)

1/ What time is it? (7:15) ……….

a It’s seven fifteen.

b It’s a quarter past seven.

c Cả hai câu trên đều đúng.

2/ What time is it? (9:45) ………

a It’s ten a quarter.

b It’s a quarter to ten.

c It’s a quarter past ten.

Keys: 1.c 2.b

Ngoài ra, giỏo viờn phải giỳp học sinh biết tập trung vào cái đúng Như trên

đó núi, để đạt được điểm cao trong các bài kiểm tra hay bài thi học sinh phải

nắm được kiến thức một cách cơ bản có hệ thống: từ ngữ õm, ngữ phỏp tới

từ vựng Nếu khi làm bài mà “cái đầu trống rỗng” thỡ cho dù có rèn luyện kỹ

năng đến đâu cũng không thể làm bài được Ví dụ trong Tiếng Anh cần chú ý nhất đến: trọng âm, phụ âm, nguyên âm, thời - dạng - thức, cách thành lập danh từ, tính từ (tiền tố/hậu tố), quán từ, đại từ quan hệ, các loại câu Nên giáo viên cần giúp học sinh hệ thống hóa lại những vấn đề phi hệ thống

Vớ dụ: -Xếp lại động từ bất qui tắc:

buy -> bought -> bought,

cut -> cut -> cut

-Một số trạng từ ngoại lệ:

I need him badly (tụi rất cần nú)

He hardly works (nó hầu như không làm việc)

I'll go to Namdinh shortly (chẳng bao lâu nữa tôi sẽ đi Nam Định)

Trang 5

Bên cạnh đó, qui luật xóa mờ của trí nhớ sẽ làm ta không những quên

mà cũn loạn trớ nhớ Vỡ vậy, giỏo viờn cũng đừng vỡ học sinh quỏ “sợ” dạng bài sửa lỗi mà cho cỏc em luyện tập nhiều Giáo viên nên định hướng rừ cho cỏc em trong trường hợp gặp phải thỡ sau khi làm xong và được xác định đáp

án, tuyệt đối không nhỡn vào cỏi sai nữa, hóy tập trung cao độ vào cái đúng và nói liên tục vài lần đồng thời nhắm mắt nghĩ lại nó, sau đó tưởng tượng tỡnh huống, như vậy sẽ nhớ rất lâu Đây là một dạng của thiền: “nhỡn sõu, nghe sõu - tập trung cao độ” Nói ra tức là tạo đường mũn ngoại ngữ,

tạo cỏch học xoỏy ốc cho nóo bộ Điều này giúp cho số học sinh từ chỗ phàn nàn, “khó chịu” có thể sẽ quen và rất hoan nghờnh

Thêm vào đó, giáo viên cũng động viên khuyến khích học sinh nên làm nhiều bài trắc nghiệm về đọc hiểu để nâng cao tư duy logic Sau đó rút ra từ/cấu trúc gỡ hay dựng mà khú dựng trong những bài đó để học Kẻ những bảng tổng kết, viết sau những tờ lịch to treo khắp mọi nơi trong nhà để học

Tốt hơn nữa là hóy thực hiện “văn hóa nghe”: thường xuyên bật băng/đĩa

(những lúc làm việc ở nhà), với những nội dung thiết thực, lắng nghe hay không lắng nghe, bài học vào đầu lúc nào không biết “Văn hóa nghe” đó

chính là phương pháp “tắm ngoại ngữ” (language bath) vụ cựng hiệu quả

trong học tập, nhất là Tiếng Anh

Tóm lại, để rèn luyện kỹ năng cho học sinh không phải giáo viên chỉ có làm sao giúp các em học thuộc là được Mà giáo viên cần giúp cho các em làm quen càng nhiều càng tốt Điều này có thể chứng minh qua các câu nói sau:

“I hear and I forget

I read and I remember

I do and I understand”

Vỡ thế một chõm ngụn khi học Tiếng Anh mà chỳng ta cần ghi nhớ là “Thực hành-thực hành và thực hành” “Practice-practice and practice” Do đó

giáo viên càng tạo cho các em có nhiều cơ hội làm bài tập trắc nghiệm trên lớp thỡ cỏc em càng cú nhiều kỹ năng làm bài hơn

II CÁC BIỆN PHÁP TỔ CHỨC THỰC HIỆN:

1 Biện phỏp

a/ Thứ nhất, về bỡnh diện tõm lý và ý thức:

+ Trước khi làm bài: xác định một tư tưởng thoải mái, tự tin, bỡnh tĩnh

+ Đọc kỹ câu hỏi, yêu cầu, hướng dẫn (chú ý từng dấu phẩy, từng phần gạch chõn, phần chấm chấm )

+ Chọn câu dễ, bài dễ làm trước

+ Không chủ quan Nếu làm xong trước giờ khụng nờn rời phũng thi sớm Nhắm mắt, nghỉ, thư gión vài phỳt sau đó đọc lại từng câu, từng chữ, từng dấu chấm để tự sửa lỗi cho mỡnh Kinh nghiệm cho thấy một số thớ sinh ra trước sau đó đó hối tiếc

b/ Thứ hai, về bỡnh diện ngụn ngữ: Luụn cõn nhắc các nét cơ bản nhất và tự hỏi mỡnh:

Trang 6

+ Từ gỡ/Cấu trỳc gỡ?

+ Thời gỡ/Thời đó hài hũa chưa?

+ Dạng gỡ (chủ động/bị động)?

+ Danh từ số nhiều hay số ớt?

+ Quỏn từ gỡ (a/an/the/0)?

+ Giới từ gỡ (động từ cụm/dạng bị động: dễ quên giới từ)?

+ Từ loại hợp lý chưa (noun, adj hay là adv )?

+ Chủ/vị thế nào ? Ở đâu? Hài hũa chưa?

+ Ý nghĩa, văn phong đúng chưa? Có logic không?

2 Một vài kinh nghiệm và thủ thuật giỳp học sinh làm bài kiểm tra, bài

thi trắc nghiệm hiệu quả.

a Theo đúng hướng dẫn: đọc kỹ các hướng dẫn về làm bài thi.

b Đọc hết toàn bộ từng câu hỏi và tất cả các chọn lựa của đáp án

trước khi chọn câu trả lời Các em nên xem qua một lượt tất cả các câu hỏi và trả lời những câu hỏi mà các em cảm thấy chắc chắn câu trả lời của mỡnh là đúng Việc này sẽ giúp các em thoải mái hơn và bản thân các em cũng sẽ thấy

tự tin hơn để tiếp tục làm những câu hỏi khác Nếu như học sinh đó chắc chắn

về một cõu trả lời nào đó, đừng quay trở lại để thay đổi nó Thông thường (tất nhiên không phải luôn luôn) khi chúng ta đó chắc chắn về cõu trả lời của mỡnh, chỳng ta thực sự khụng cần phải suy nghĩ nhiều về nú nữa Xem lại cõu trả lời chỉ làm cho cỏc em cảm thấy khụng chắc chắn và dễ làm cỏc em thay đổi ý kiến Điều này rất hay xảy ra, và đôi khi lại bị mất điểm

c Trả lời tất cả cỏc cõu Mỗi câu đều có điểm, cho nên bỏ câu nào là

mất điểm câu đó Với những câu hỏi mà ta không biết câu trả lời chính xác

thỡ học sinh cũng phải nờn đoán Phương pháp phỏng đoán và loại trừ là

một điều tích cực Có người nghĩ rằng đoán khụng phải là một cỏch hay Tuy

nhiờn, nếu khụng chắc chắn về cõu trả lời thỡ việc phỏng đoán một cách lôgic và khoa học là giải pháp cho thí sinh

Thớ sinh chẳng mất gỡ nếu đoán câu trả lời Vỡ với cõu trả lời sai, thớ sinh sẽ khụng "ăn" điểm nhưng cũng không bị trừ điểm Chẳng hạn là B, và điền câu trả lời B vào tất cả các câu hỏi cũn lại Như vậy, xác suất đúng sẽ cao hơn, trong điều kiện thời gian cũn quỏ ớt

Vậy là, thí sinh nên phỏng đoán khi làm bài thi vỡ đây không phải là gian dối

Đó đơn giản là một cách thông minh khi làm bài thi Những thí sinh khác cũng làm như thế, vỡ vậy, tại sao lại giới hạn cơ hội của chính mỡnh? Điều đầu tiên các em cần ghi nhớ đó là đừng cố gắng hoàn thành một câu hỏi trước khi chuyển sang một câu hỏi tiếp theo Điều này là rất quan trọng Nếu các

em tập trung quá nhiều vào một câu hỏi mà các em chưa hiểu (hay chưa thể trả lời được) tức là các em đang tự gây ra cho mỡnh ớt nhất hai khú khăn sau:

- Mất thời gian: Học sinh phải nhớ rằng, mỗi một câu hỏi chỉ được từ

0,25-1 điểm (theo từng đề ra cho mỗi câu và như nhau) vỡ vậy, nếu học sinh dành quỏ nhiều thời gian cho một cõu hỏi mà khụng thể trả lời những cõu hỏi sau đó thỡ cỏc em sẽ cũn mất nhiều điểm hơn rất nhiều

Trang 7

- Mất tinh thần: Học sinh sẽ cảm thấy lo lắng và sự lo lắng này rất có

thể sẽ làm các em bị mất tập trung và do đó sẽ không thể đem lại cho các em một kết quả cao được

d Chọn cõu trả lời tốt nhất trong các đáp án được câu hỏi đưa ra Có

thể các em nghĩ rằng câu trả lời đúng không nằm trong số những đáp án đưa

ra, nhưng các em bị giới hạn là chỉ được chọn lựa đáp án tốt nhất trong số

đáp án đó cho mà thụi Hóy hạn chế bản thõn mỡnh trong phạm vi kiến thức

mà mỡnh biết Học sinh thường bị tắc khi cố gắng tỡm ra đúng từ mà chúng chưa thể nhớ ra Nếu không thể nhớ ra từ đó, hóy dựng một từ khỏc cũng cú ý nghĩa tương tự

e Không nên phí thời gian cho một câu hỏi nào đó, hoặc chưa hiểu

rừ, hoặc quỏ khú Nếu chưa trả lời được ngay thỡ nờn bỏ qua để làm những

câu kế tiếp Sau đó, nếu cũn thời gian sẽ làm trở lại những câu đó bỏ qua núi trờn Nhớ ghi số thứ tự của cõu đó bỏ qua vào giấy nhỏp để dễ nhận diện

Nhưng, nếu như thời gian làm bài đó gần hết mà học sinh vẫn chưa thể

tỡm ra được đáp án, hóy chọn một đáp án bất kỡ theo sự suy đoán của các

em Do không bị trừ điểm nếu học sinh chọn câu sai, nên trước khi hết giờ thi, học sinh cần chọn nhanh đáp án hợp lý nhất cho những cõu chưa trả lời Đừng bao giờ bỏ qua bất kỡ cõu hỏi nào trong một bài thi trắc nghiệm vỡ nếu cỏc em trả lời, cỏc em sẽ cú 25% cơ hội trả lời đúng, cũn nếu khụng trả lời cỏc em chẳng cú cơ hội đúng nào cả

f Đọc câu nào thỡ trả lời ngay cõu ấy Tránh cách làm bằng việc trả

lời trước trên giấy nháp toàn bộ bài thi rồi sau đó mới tô vào bản trả lời, vỡ đôi lúc sẽ rất cập rập vào giờ chót nờn sẽ tụ lộn xộn trờn phiếu trả lời

g Phải đánh dấu câu trả lời theo đúng hướng dẫn và đúng với số thứ

tự của câu trên bản trả lời: Dùng bút chỡ đen tô kín ô trũn tương ứng với chữ cái đó chọn trờn phiếu trả lời Cần lưu ý là phải tụ đậm (đối với một số đề thi bắt buộc chấm bằng máy) và lấp kín diện tích cả ô (không dùng gạch chéo hay đánh dấu) Chẳng hạn, nếu ta đang làm câu số 9 và chọn C là phương án đúng thỡ ta tụ đen ô C trên dũng số 9 của phiếu trả lời:

Nờn nhớ là khụng tụ 2 ụ cho cựng một cõu vỡ đề thi thường chỉ cho một phương án đúng cho một câu Thí dụ nếu đó chọn và tụ đen đáp án C rồi thỡ khụng tụ thờm ụ nào nữa Trong trường hợp tô nhầm ô hay muốn đổi phương

án trả lời, thỡ phải tẩy thật sạch ụ cũ và tụ kớn ụ mới được chọn

h Xem lại bài kiểm tra trước khi nộp: Xem lại toàn bộ bài kiểm tra

một lần nữa để cố gắng tỡm ra cõu trả lời cho những cõu hỏi khú Bõy giờ học sinh đó cảm thấy tự tin hơn vào mỡnh và sự tự tin này sẽ giỳp cỏc em làm bài thi tốt hơn Tuy nhiên, học sinh cũng không nên quá tập trung vào một câu hỏi Khi đó xem toàn bộ bài kiểm tra hai lần, cỏc em hóy chỳ ý tỡm xem cú cõu hỏi nào trong bài mà cỏc em đó trả lời cú thể giỳp cỏc em trả lời được những câu hỏi khó không? Mẹo này rất ít học sinh sử dụng khi làm bài thi Nhưng trong bài kiểm tra đôi khi có những câu hỏi mà câu trả lời của nó lại nằm trong chính những câu hỏi sau đó Vỡ vậy, học sinh nờn hoàn thành bài

Trang 8

kiểm tra của mỡnh (bỏ lại những cõu hỏi khú, chưa trả lời được), sau đó dùng thời gian cũn lại để tiếp tục với những câu hỏi khó đó

j Để tiết kiệm thời gian, học sinh nờn Phõn bổ thời gian một cỏch hợp lý

Học sinh tuyệt đối không tô hai phương án trả lời trong cùng một câu hỏi, và cũng không được gạch chéo, hay đánh dấu cộng cho phương án trả lời

Cựng với bỳt chỡ, tất nhiên thí sinh nên mang theo tẩy Không nên sử dụng tẩy ở đầu bút chỡ, vỡ ngay việc quay đầu bút để tẩy cũng sẽ tốn đến mấy giây Học sinh nên mang một cục tẩy rời Tay phải cầm bút, tay trái cầm tẩy Nếu có một câu trả lời nào bạn nghĩ mỡnh đó làm sai, cú thể tẩy ngay

k Đọc trước câu hỏi để định hướng nội dung cần tỡm trong bài đọc hiểu

Thí sinh nên tập trung đọc những thông tin cần cho câu trả lời chứ không nên đọc cả đoạn văn mà không có định hướng gỡ

Thông thường, thí sinh bắt đầu đọc đoạn văn trước, rồi đọc câu hỏi thứ nhất

và trở lại bài đọc để tỡm cõu trả lời Như vậy là để trả lời mỗi câu hỏi, thí sinh phải đọc đoạn văn đến 2 lần Cách tốt nhất là thí sinh đọc câu hỏi trước

để biết rằng mỡnh cần phải tỡm thụng tin gỡ trong khi đọc cả đoạn văn Câu hỏi đầu tiên trong đoạn văn thường là câu hỏi về chủ đề, ý chớnh hoặc

tiờu đề phù hợp cho đoạn văn “Which of the following is the main idea/point/

purpose/topic/best title of/for the passage?"

Nếu thấy câu hỏi loại này xuất hiện đầu tiên trong bài đọc hiểu, học sinh đừng trả lời ngay, mà nên trả lời các câu hỏi tiếp theo trước Sau khi đó trả lời hết cỏc cõu hỏi khỏc, học sinh sẽ biết nội dung chớnh của bài đọc là gỡ và cú thể trả lời cõu hỏi này tốt hơn

*Trả lời những câu hỏi có từ “định hướng”

Những câu hỏi có từ “định hướng” sẽ cho thí sinh biết câu hỏi là về vấn đề

gỡ, và định hướng cho thí sinh phải tỡm thụng tin gỡ trong bài đọc

Nếu gặp câu hỏi như sau: “According to the passage, Tom was…”, thỡ cần

phải tỡm trong đoạn văn nội dung nói về Tom Như vậy, “Tom” chính là từ định hướng trong câu hỏi này Từ định hướng thường là những danh từ hoặc cụm danh từ, là những từ in hoa, con số và từ viết tắt

Thí sinh nên làm theo những bước sau để trả lời dạng câu hỏi này:

Bước 1: Đọc câu hỏi và tỡm ra từ “định hướng”

Bước 2: Tỡm từ “định hướng” trong đoạn văn

Bước 3: Khi đó tỡm ra từ “định hướng”, đọc câu phía trước từ đó và

chính câu chứa từ “định hướng”

Bước 4: Nếu đó tỡm ra thụng tin, trở lại phần cõu hỏi và cõu trả lời để

tỡm cõu trả lời gần nhất với thông tin trong đoạn văn

Bước 5: Nếu khụng tỡm thấy thụng tin cần cho cõu trả lời, từ “định

hướng” có thể xuất hiện trở lại trong phần sau của đoạn văn Lặp lại bước 2 đến bước 4 mà thí sinh gặp từ “định hướng”

Trang 9

Nếu từ định hướng xuất hiện 5 đến 6 lần trong đoạn văn thỡ cú thể phải đọc

cả đoạn Thí sinh không nên làm điều đó mà hóy quay thật nhanh trở lại cõu hỏi và chọn một từ “định hướng” khác

Nếu vẫn chưa tỡm được câu trả lời thỡ cú thể cõu hỏi này thuộc diện khú Thớ sinh cú thể ỏp dụng phương pháp phỏng đoán và tiếp tục làm câu hỏi tiếp theo Cần lưu ý rằng, thớ sinh khụng nờn dành quỏ 1 phỳt cho mỗi cõu hỏi

Thớ sinh cũng nờn ghi nhớ nội dung mỡnh đó đọc để có thể trả lời câu hỏi về nội dung chính của đoạn văn

C KẾT LUẬN

7 Kết quả đạt được

Qua quỏ trỡnh giảng dạy và đúc kết kinh nghiệm để giúp các em làm bài kiểm tra và bài thi trắc nghiệm tôi đó đạt được một số kết quả nhất định Xin đưa ra bản ví dụ minh họa của khối 8 năm học 2010 - 2011 như sau:

*H c k Iọc kỳ I ỳ I

*Học kỳ II

Như vậy, nếu giáo viên thường xuyên giúp các em “cập nhập” những dạng bài một cách phong phú và đầy đủ, bên cạnh những gỡ mỡnh vừa truyền đạt thỡ chắc chắn học sinh sẽ nhanh chúng hỡnh thành kỹ năng làm bài và óc sáng tạo lôgic rất nhiều Điều này cũng sẽ mang lại thành cụng khụng nhỏ cho cỏc em

Trang 10

Hoằng Cỏt ,Ngày 27 Thỏng 4 Năm

2011

Người viết đề tài sáng kiến kinh nghiệm

GV: Nguyễn Thị Huệ

Tài liệu tham khảo.

1 Sổ tay người dạy Tiếng Anh - Nhà xuất bản Giáo Dục

2.Sách giáo khoa , sách giáo viên sách bài tập 6,7,8,9.-Bộ Giáo Dục Và Đào Tạo

3.Sách bài tập bổ trợ nâng cao Tiếng Anh 6,7,8,9 - Nhà xuất bản Giáo Dục 4.Ngữ pháp Tiếng Anh của Nguyễn Khuê - Nhà xuất bản Đà Nẵng

5 Một số vấn đề đổi mới phương pháp ở trường T H C S - Bộ Giáo Dục Và Đào Tạo

Ngày đăng: 17/08/2016, 21:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w