Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu chỉ đề cập chung về rủi ro trong sản xuất nông nghiệp; chưa có công trình nào đề cập, xây dựng khung lý luận về phân tích rủi ro, đánh giá hiệu quả k
Trang 11
PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Cây cao su được nhân trồng ở Việt Nam kể từ năm 1900, đến năm 1920 diện tích mới đạt trên 10.000 ha nhưng đến năm 1945 đã có sự phát triển, diện tích đạt 138.000 ha và sản lượng đạt 77.400 tấn Tuy nhiên, giai đoạn 1945 - 1975 cao su ngừng phát triển và bị thu hẹp lại do ảnh hưởng của chiến tranh Sau năm 1975 chiến tranh chấm dứt, cây cao su được khôi phục và phát triển trở lại Đến nay, cao
su Việt nam đã có sự phát triển vượt bậc, năm 2013 đã trở thành quốc gia sản xuất cao su thiên nhiên lớn thứ 3 trên thế giới với tổng sản lượng đạt 1,043 triệu tấn, tăng 20,8% so với năm 2012 Theo nhận định của Hiệp hội các nước sản xuất cao su thiên nhiên (Association of Natural Rubber Producing Countries – ANRPC) thì đến năm 2020 diện tích cao su của Việt Nam sẽ vượt mốc 1 triệu ha Diện tích này đã vượt xa con số quy hoạch được Chính phủ phê duyệt là 800.000 ha năm 2015 và đạt 1.000.000 ha năm 2020 [10]
Tỉnh Quảng Bình là địa phương có tiềm năng lớn trong việc phát triển cây công nghiệp (CCN) lâu năm Diện tích đất lâm nghiệp chiếm 78,22% trong tổng diện tích đất, đặc biệt có diện tích đất xám feralit chiếm 59,23% là loại đất thuận lợi cho trồng cây cao su Mặt khác, cây cao su được xác định là cây trồng chủ lực và địa phương đã có nhiều cơ chế, chính sách thuận lợi để phát triển nên đang chiếm
ưu thế so với các loại cây công nghiệp khác, năm 2014 diện tích đạt 17.980,9 ha chiếm 78,07% diện tích cây công nghiệp lâu năm toàn tỉnh, tăng 32,2% so với năm
2013 và tăng gấp 3 lần so với năm 2000, tốc độ tăng trưởng bình quân diện tích giai đoạn 2000 - 2007 là 8,08% và giai đoạn 2007 - 2014 là 11,46% Với điều kiện thuận lợi trên cao su Quảng Bình đang phát triển mạnh với hai loại hình là cao su đại điền và cao su tiểu điền (CSTĐ) Trong đó, cao su tiểu điền triển khai muộn hơn, bắt đầu từ năm 1993 nhưng đến nay đã có sự phát triển mạnh, diện tích năm
2008 là 6.515 ha chiếm 57% diện tích cao su, đến năm 2014 là 10.876,8 ha chiếm 60,5% diện tích cao su, tăng 1,67 lần so với năm 2008 Có sự phát triển về diện tích nhưng năng suất chỉ đạt từ 0,75 – 0,98 tấn mủ khô/ha thấp hơn nhiều so với các địa
Trang 22
phương khác có điều kiện phát triển tương đồng như tỉnh Quảng trị có năng suất 1,4 tấn mủ khô/ha và Nghệ An có năng suất 1,2 tấn mủ khô/ha [43] Mặt khác, cao su tiểu điền có quy mô nhỏ (diện tích trung bình dưới 2 ha/hộ chiếm trên 60%), phân tán (trung bình mỗi hộ có 1 – 2 vườn cao su), đa số nằm ở vùng sâu vùng xa, đầu tư các nguồn lực còn hạn chế Bên cạnh đó người sản xuất còn phải đối mặt với nhiều rủi ro như giá cả thị trường không ổn định, thiên tai, dịch bệnh Năm 2010 giá giống tăng đột biến gấp 4 lần so với năm 2009, hiện nay giá giống tương đối ổn định nhưng giá nhân công lại tăng cao và giá bán mủ cao su lại giảm mạnh, năm 2011 giá mủ cao su là 20.300 đồng/kg mủ tươi, đến năm 2013 giá 10.800 đồng/kg mủ tươi và đến năm 2014 giá 10.000 đồng/kg mủ tươi Năm 2013 cơn bão số 10 đã gây thiệt hại nặng nề cho cây cao su ở tỉnh Quảng Bình, diện tích giảm 22,31%, sản lượng giảm 3,25% so với năm 2012 và hậu quả này làm sản lượng cao su năm 2014 chỉ đạt 3.598,8 tấn, giảm so với năm 2013 là 42,1% và so với năm 2012 là 43,97% [13], [43] Mặt khác, tỉnh Quảng Bình có đặc điểm khí hậu gió mùa nên tình hình sâu bệnh hại ngày càng phát triển, hiện có 10 đối tượng bệnh gây hại, 8 đối tượng sâu gây hại trên cây cao su, đáng chú ý là các bệnh phấn trắng, loét sọc mặt cao có
tỷ lệ bị bệnh và mức độ gây hại cao
Phân tích trên cho thấy, việc phát triển cao su tiểu điền ở tỉnh Quảng Bình có vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế địa phương góp phần nâng cao thu nhập cho người dân và giải quyết việc làm nhưng sản xuất cao su có năng suất, hiệu quả chưa cao, vẫn còn gặp nhiều khó khăn và thách thức, người sản xuất còn phải đối mặt với nhiều rủi ro Tuy nhiên, trong thực tiễn chưa có công trình nghiên cứu về rủi ro và hiệu quả kinh tế sản xuất cao su nói chung và cao su tiểu điền nói riêng trên địa bàn tỉnh Quảng Bình làm cơ sở cho các nhà hoạch định chính sách phát triển nông nghiệp và các hộ sản xuất kinh doanh cao su tiểu điền Mặt khác, về
lý luận đã có nhiều tác giả nghiên cứu về sản xuất cao su với nhiều phương pháp khác nhau Các tác giả Wickremasinghe.W.N, De Silvia.S & Peiris.L.T.(1992) [117], Barlow [74] sử dụng phương pháp điều tra mẫu để đánh giá sự phát triển của cây cao su; các tác giả Jagath Edirisinghe [83], Parinya Cherdchom [98], Ririn Purnamasari, Oscar Cacho và Phil Simmons [102], Sarba Priya Ray [104] ngoài sử
Trang 33
dụng phương pháp điều tra mẫu, còn sử dụng các mô hình hàm sản xuất Cobb - Douglas, phân tích độ nhạy để đánh giá hiệu quả và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất cao su tiểu điền; các tác giả Phùng Thị Hồng Hà [25], Bùi Dũng Thể [53] đã sử dụng các chỉ tiêu kinh tế như NPV, IRR, giá trị sản xuất, giá trị gia tăng
để đánh giá kết quả và hiệu quả sản xuất kinh doanh; các tác giả Claire Chatterjee [78], Ulrich Hess [110], Ririn Purnamasari, Oscar Cacho và Phil Simmons [102] đánh giá các rủi trong sản xuất nông nghiệp (SXNN) đến từ các nguyên nhân như thời tiết, sâu bệnh, biến động giá cả, sản lượng theo mùa, Về biện pháp giảm thiểu rủi ro, các tác giả đều có quan điểm thực hiện các giải pháp đa dạng hoá cây trồng, phân cấp rủi ro, bảo hiểm nông sản, hay bảo hiểm giá Như vậy,
Schaffnit-về lý luận đã có nhiều công trình bàn Schaffnit-về rủi ro trong sản xuất nông nghiệp, hiệu quả kinh tế trong sản xuất cao su Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu chỉ đề cập chung về rủi ro trong sản xuất nông nghiệp; chưa có công trình nào đề cập, xây dựng khung lý luận về phân tích rủi ro, đánh giá hiệu quả kinh tế trong bối cảnh rủi
ro trong sản xuất cao su và cao su tiểu điền tại một địa phương hay quốc gia
Xuất phát từ lý luận và thực tiễn nghiên cứu trên, đòi hỏi phải có một công trình nghiên cứu về phân tích rủi ro và đánh giá hiệu quả kinh tế trong sản xuất cao
su góp phần vận dụng và bổ sung vào lý luận kinh tế nông nghiệp; đồng thời kết quả nghiên cứu cho một trường hợp điển hình ở Việt Nam sẽ làm phong phú thêm
về phát triển triển nông nghiệp trong điều kiện các nước đang phát triển và là nguồn tham khảo quan trọng, hữu ích cho các cơ quan hoạch định chính sách phát triển nông nghiệp và các tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh cao su Vì vậy, đề tài
“Phân tích rủi ro và đánh giá hiệu quả kinh tế trong sản xuất kinh doanh cao su tiểu điền ở tỉnh Quảng Bình” được chọn làm đề tài luận án Tiến sỹ
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
2.1 Mục tiêu chung: Phân tích rủi ro và đánh giá HQKT trong sản xuất CSTĐ
ở tỉnh Quảng Bình nhằm đề xuất các giải pháp giảm thiểu rủi ro và nâng cao HQKT góp phần phát triển bền vững ngành hàng cao su thiên nhiên ở Quảng Bình
2.2 Mục tiêu cụ thể:
- Hệ thống hóa và phát triển cơ sở lý luận phân tích rủi ro và đánh giá HQKT
Trang 44
trong SXNN và cao su;
- Phân tích thực trạng rủi ro sản xuất kinh doanh CSTĐ ở tỉnh Quảng Bình;
- Đánh giá HQKT và các nhân tố ảnh hưởng đến HQKT sản xuất kinh doanh CSTĐ ở tỉnh Quảng Bình;
- Đề xuất một số giải pháp nhằm giảm thiểu rủi ro và nâng cao HQKT sản xuất kinh doanh CSTĐ ở tỉnh Quảng Bình
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
Các vấn đề lý luận và thực tiễn về rủi ro và HQKT sản xuất kinh doanh CSTĐ
- Huyện Bố Trạch: Điều tra nghiên cứu tại các hộ CSTĐ ở xã Hòa Trạch, xã Tây Trạch, xã Phú Định và thị trấn Nông trường Việt Trung
- Huyện Lệ Thủy: Điều tra nghiên cứu tại thị trấn Nông trường Lệ Ninh
3.2.2 Phạm vi thời gian
- Số liệu thứ cấp: Thu thập trong giai đoạn 2000 – 2014
- Số liệu sơ cấp: Thu thập thông tin về rủi ro và HQKT của các hộ CSTĐ được thu thập trong năm 2014;
- Các giải pháp được nghiên cứu và đề xuất cho giai đoạn 2015 – 2020
3.2.3 Phạm vi nội dung
- Phân tích rủi ro và đánh giá HQKT sản xuất kinh doanh CSTĐ;
- Đánh giá HQKT trong bối cảnh rủi ro, không nghiên cứu mối quan hệ giữa HQKT và rủi ro trong sản xuất kinh doanh CSTĐ
Trang 55
- Một số giải pháp cơ bản nhằm giảm thiểu rủi ro và nâng cao HQKT sản xuất kinh doanh CSTĐ
4 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
- Ý nghĩa khoa học: Luận án đã góp phần vận dụng và bổ sung vào lý luận
kinh tế nông nghiệp; đồng thời trình bày kết quả nghiên cứu cho một trường hợp điển hình ở Việt Nam, những kết quả cụ thể này được tổng kết lại là sự bổ sung và làm phong phú thêm về phát triển nông nghiệp trong điều kiện các nước đang phát triển
- Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận án là nguồn tham khảo quan
trọng và hữu ích cho các cơ quan hoạch định chính sách phát triển nông nghiệp và các tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh cao su ở tỉnh Quảng Bình
5 ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN
1 Vận dụng và bổ sung vào lý luận kinh tế nông nghiệp về các khái niệm, phương pháp và nội dung phân tích rủi ro, đánh giá HQKT trong sản xuất kinh doanh cao su Đây là nguồn tham khảo hữu ích và quan trọng cho các nhà nghiên cứu phát triển nông nghiệp trong nước và quốc tế
2 Những kết quả nghiên cứu của luận án được tổng kết lại là sự bổ sung và làm phong phú thêm tài liệu về phát triển nông nghiệp ở các địa phương và quốc gia đang phát triển Đây là nguồn tham khảo hữu ích và quan trọng cho các nhà hoạch định chính sách phát triển nông nghiệp địa phương và quốc gia
3 Là nghiên cứu đầu tiên về phân tích rủi ro và đánh giá HQKT trong sản xuất kinh doanh CSTĐ ở tỉnh Quảng Bình có sự kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu truyền thống và hiện đại; các phương pháp nghiên cứu phù hợp với điều kiện, đặc điểm tình hình sản xuất kinh doanh CSTĐ ở tỉnh Quảng Bình và mục tiêu, nội dung thực hiện của đề tài
4 Đã luận giải nguyên nhân thực trạng, đề ra các giải pháp giảm thiểu rủi ro
và nâng cao HQKT trong sản xuất kinh doanh CSTĐ ở tỉnh Quảng Bình Đây là nguồn tham khảo hữu ích và quan trọng cho các cơ quan hoạch định chính sách phát triển nông nghiệp và các hộ sản xuất kinh doanh CSTĐ ở tỉnh Quảng Bình
Trang 66
PHẦN 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU PHÂN TÍCH RỦI RO VÀ
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ
1 PHÂN TÍCH RỦI RO VÀ ĐÁNH GIÁ HQKT TRONG SXNN VÀ CAO SU TRÊN THẾ GIỚI
Trên thế giới đã có các công trình nghiên cứu về lý luận, thực tiễn về rủi ro và HQKT trong SXNN nói chung và cao su nói riêng Để có cơ sở khoa học về vấn đề nghiên cứu, chúng tôi tiến hành tổng hợp, phân tích và đánh giá kết quả những công trình đã thực hiện theo các nội dung sau:
1.1 Phân tích rủi ro trong SXNN và cao su
Những năm qua, nền kinh tế thế giới có nhiều biến động cùng với ảnh hưởng bất lợi của khí hậu toàn cầu đã tác động rất lớn và gây nhiều rủi ro đối với sản xuất kinh doanh nông nghiệp nói chung và cây cao su nói riêng nên đã có rất nhiều học giả thực hiện các công trình nghiên cứu về vấn đề này ở các khía cạnh cụ thể như: Rủi ro về thời tiết, về các yếu tố đầu vào, hay là rủi ro về giá
Khi đánh giá về rủi ro trong SXNN, các tác giả Claire Schaffnit-Chatterjee [78] đánh giá sự bất ổn trong SXNN diễn biến theo chiều hướng càng ngày càng phức tạp, những bất ổn đó có thể đến từ những nguyên nhân như: Thời tiết, biến động giá cả, sản lượng theo mùa, tương quan cung - cầu, biến động giá năng lượng… Chris Bastian [80] nhấn mạnh tất cả rủi ro trong nông nghiệp đều ảnh hưởng đến doanh thu của người sản xuất và việc kiểm soát các rủi ro như thời tiết, sâu bệnh, dịch bệnh của người sản xuất còn hạn chế World Bank [96] đã tổng hợp
ý kiến khác nhau của các chuyên gia về giải pháp giảm thiểu rủi ro gồm: Các chính sách của Chính phủ, bảo hiểm rủi ro, bảo hiểm mùa vụ và đa dạng hoá cây trồng Không chỉ khái quát các khía cạnh về rủi ro trong SXNN như trên, Claire Schaffnit-Chatterjee [78] còn nhấn mạnh việc quản trị rủi ro trong nông nghiệp là hết sức quan trọng, mặc dù việc giảm rủi ro không phải luôn luôn cải thiện phúc lợi xã hội nhưng thất bại trong việc quản trị rủi ro lại làm ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập của người nông dân, bình ổn thị trường và khả năng đảm bảo an ninh lương thực
Trang 7cơ, phân bổ hợp lý đất đai, các yếu tố đầu vào, bảo hiểm rủi ro về giá và các bảo hiểm nông nghiệp khác
Ulrich Hess và các cộng sự [110] nhấn mạnh việc SXNN phụ thuộc rất nhiều vào thời tiết, các nước đang phát triển không chỉ phụ thuộc vào điều kiện thời tiết
mà còn phải chịu đựng gánh nặng của các thảm họa tự nhiên (do điều kiện môi trường độc hại) qua đó đề cập công cụ quản trị rủi ro thời tiết áp dụng cho các nước đang phát triển
Đánh giá về các rủi ro tài chính, cụ thể là rủi ro về giá cả cũng như cân bằng cung cầu, các tác giả đã tìm ra nguyên nhân chính làm giảm HQKT của sản xuất CSTĐ là sự biến động của giá cả, đây chính là nguyên nhân ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập của người trồng cao su Cụ thể, các tác giả Ririn Purnamasari, Oscar Cacho và Phil Simmons [102] trong nghiên cứu về hiệu quả sản xuất CSTĐ ở Indonesia đã nhận định giá cả có ảnh hưởng trực tiếp và lớn đến thu nhập của người nông dân; Somboomsuke và các cộng sự [107] nhận xét giá cả mủ cao su thấp chính
là trở ngại lớn của người trồng cao su; Jagath Edirisinghe và các cộng sự [83] tập trung ở các yếu tố ảnh hưởng đến việc sản xuất kém hiệu quả
Nghiên cứu công tác quản trị rủi ro về giá, tác giả Giovannucci và các cộng sự [81] đã khái quát thực trạng trồng, khai thác cao su và các CCN khác ở Việt Nam, qua đó đề cập những rủi ro người nông dân gặp phải khi canh tác, đặc biệt là các rủi
ro về giá cả, đồng thời nghiên cứu sự biến động giá cả cao su trên thị trường thế giới và các giải pháp người nông dân áp dụng, các chính sách của Chính phủ để phòng tránh các rủi ro này Cũng nghiên cứu rủi ro về giá cả, Lisa Mariam Varkey
và Pramod Kumar [82] đã khẳng định sự biến động giá là một con dao hai lưỡi tác động vào dòng tiền cùng với quyết định đầu tư nên cần phải liên kết các biện pháp
Trang 88
quản lý rủi ro về giá và tiếp cận tín dụng Đây là một trong những lựa chọn chính sách quan trọng đối với cây trồng có sự đầu tư lớn và dài ngày như cao su Nghiên cứu trường hợp về quỹ bình ổn giá Ấn Độ, khẳng định các quốc gia sản xuất cao su
là người chấp nhận giá, họ phụ thuộc vào giá cao su quốc tế nên phải so sánh được giá trong nước và quốc tế Qua đó khẳng định sử dụng quỹ bình ổn giá là một trong những biện pháp hữu hiệu nhất để kiểm soát sự biến động của giá cả Cũng bàn về vấn đề này, Claire Schaffnit-Chatterjee [78] đã xác định sự biến động giá cả có xu hướng tăng lên và sẽ ảnh hưởng lớn đến sự mất cân bằng cung - cầu, qua đó đề xuất các giải pháp bảo hiểm rủi ro về giá để đảm bảo nguồn thu nhập cho nông dân
Từ tình hình nghiên cứu rủi ro trong SXNN và sản xuất cao su cho thấy, người sản xuất thường phải đối mặt với nhiều rủi ro do các yếu tố tự nhiên như thời tiết, khí hậu; rủi ro do sâu bệnh, kỹ thuật canh tác; rủi ro do sự biến động của giá cả và rủi ro do sự thay đổi chính sách, pháp luật của Nhà nước Và để giảm thiểu các rủi
ro này cần thực hiện các giải pháp như đa dạng hoá cây trồng, phân cấp rủi ro, bảo hiểm nông sản, hay bảo hiểm giá
1.2 Đánh giá HQKT trong SXNN và cao su
Trong SXNN và cao su, HQKT là vấn đề quan tâm hàng đầu của Nhà nước, chính quyền địa phương, đặc biệt là người sản xuất nên đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này Wickremasinghe và các cộng sự [117] đã tổng hợp các nghiên cứu về sản xuất CSTĐ với những mục tiêu khác nhau được thực hiện ở Sri Lanka Qua đó kết luận, những nghiên cứu trước đây được sử dụng chủ yếu theo phương pháp điều tra mẫu; được kể đến đầu tiên là công trình của Dissanayako (1963, 1968 và 1978), họ đã cung cấp thông tin sơ bộ về các khía cạnh cụ thể như tuổi thọ kinh tế của cây và xu hướng trong phương pháp mở rộng cao su; tiếp đến Jayasuriya và Carrad (1977) đã phân tích kinh tế toàn diện việc trồng lại các cây cao
su dựa trên điều tra mẫu của 165 hộ sản xuất CSTĐ ở các huyện Colombo, Kalutara
và Ratnapura Tuy nhiên, do sự bất cập của kích thước mẫu đối với những người thực sự liên quan đến trồng lại cao su nên kết quả của nghiên cứu này vẫn chưa thuyết phục được Barlow và các cộng sự [74] đã thực hiện một nghiên cứu kinh tế toàn diện của CSTĐ dựa trên một khu vực được lựa chọn khác bằng cách sử dụng
Trang 99
một mẫu gồm 289 hộ CSTĐ Mặc dù kích thước mẫu của nghiên cứu này là khá đầy
đủ nhưng nghiên cứu thiên vị cho CSTĐ, khi chỉ nhắc đến những khía cạnh tích cực của việc sản xuất kinh doanh CSTĐ mà không đại diện được cho mức trung bình của CSTĐ trong khu vực đó Nghiên cứu của Somboonsuke [105] đã trình bày tình hình phát triển ngành cao su Thái Lan cho đến trước khủng hoảng kinh tế; đã phân loại các hệ thống canh tác cao su khác nhau, dựa trên sự đa dạng của các sản phẩm được sản xuất bởi các tiểu điền, cơ cấu kinh tế - xã hội và kinh tế nông nghiệp; đã thực hiện phân loại bắt đầu với các trang trại độc canh cây cao su và sau đó là với các trang trại có sự kế hợp giữa cao su với ít nhất là ba sản phẩm nông nghiệp (SPNN) hoặc hai SPNN và một sản phẩm phi nông nghiệp (gia cầm hoặc cá) Ngoài
ra còn có một luận chứng thực nghiệm rằng trong trường hợp cung cấp đầy đủ các nguồn tài nguyên thiên nhiên và tài chính, CSTĐ sẽ chuyển đổi từ mô hình độc canh thành nhiều mô hình với hệ thống sản xuất phức tạp hơn Công trình của Prommee và Somboonsuke [100] đã chỉ ra sự khác biệt giữa các hệ thống canh tác khác nhau và kết luận độc canh cây cao su có đặc điểm bất lợi hơn so với các hệ thống khác; chủ của các hộ CSTĐ độc canh có trình độ giáo dục khá thấp, khả năng
sử dụng máy móc thiết bị trong sản xuất cũng là thấp nhất Tiếp đến Somboonsuke
và các cộng sự [106] đã tính toán các chỉ số kinh tế cho các hệ thống canh tác tương tự; đo lường năng lực tài chính và năng suất nông nghiệp được thực hiện cũng như một sự so sánh giữa các hệ thống kinh tế Các phân tích chỉ ra, tất cả các hệ thống cao su đều thu được lợi nhuận nhưng đối với độc canh cây cao su và các hệ thống cao su - dứa cho kết quả thấp nhất và kết luận càng đa dạng trong hệ thống cây trồng thì lợi nhuận thu được sẽ cao hơn
Tiếp tục phân tích các khó khăn chính mà CSTĐ gặp phải, Somboonsuke và các cộng sự [107] đã xác định trở ngại chính của các hộ sản xuất kinh doanh cao su
là giá thấp, chất lượng mủ cao su không đảm bảo, hộ sản xuất không đủ vốn để đầu
tư, khó tiếp cận thông tin và các vấn đề với sâu bệnh, dịch bệnh Bên cạnh đó, đánh giá việc thiếu lao động gia đình là một hạn chế nhưng không quan trọng mà nguồn cung cấp lao động là vấn đề đáng lo ngại, ngày càng tăng do giới trẻ có xu hướng di chuyển vào thành phố tìm kiếm cơ hội việc làm nhiều hơn Nghiên cứu cũng chỉ ra
Trang 1010
rằng hạn chế sinh học và kinh tế là nghiêm trọng hơn cả so với những khó khăn về thể chế và xã hội Hệ thống canh tác ít đa dạng về loại cây cũng dễ bị tổn thương hơn so với những hệ thống canh tác nhiều loại nông sản kết hợp
Kế tiếp các công trình trên, các công trình sau này ngoài việc điều tra mẫu, còn sử dụng các mô hình kinh tế để đánh giá hiệu quả và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất CSTĐ, như mô hình hàm sản xuất Cobb - Douglas, ma trận phân tích chính sách (PAM – Policy Analysis Matrix), phân tích độ nhạy Trong đó công trình của Jagath Edirisinghe và các cộng sự [83] nghiên cứu ở Sri Lanka đã tập trung phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến việc sản xuất kém hiệu quả Các tác giả
đã tìm ra nguyên nhân chính làm giảm HQKT sản xuất CSTĐ là sự biến động của giá cả, đây chính là nguyên nhân ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập của người trồng cao su Nghiên cứu đề cập đến việc sử dụng không có hiệu quả các yếu tố đầu vào
và kết luận không cần tăng các yếu tố đầu vào mà chỉ cần nâng cao hiệu quả sử dụng là có thể nâng cao lợi nhuận cho các hộ CSTĐ Công trình của Sarba Priya Ray [104] nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng năng lực sản xuất trong ngành cao su đã kết luận các chính sách cải cách của Chính phủ về việc cấp phép tự do hoá thương mại không giúp ngành công nghiệp và nông nghiệp mở rộng năng lực, các ngành phần lớn sử dụng năng lực sản xuất của ngành mình và chưa sử dụng hết năng lực này
Cũng bàn về vấn đề này Parinya Cherdchom và các cộng sự [98] ngoài việc hệ thống hoá các trang trại cao su, sự hình thành và phát triển của các hình thức canh tác, còn trình bày về tổ chức hoạt động sản xuất CSTĐ trong hệ thống các trang trại
ở Thái Lan và tầm quan trọng của cây cao su đối với nền kinh tế của đất nước này Mặt khác, công trình sử dụng các mô hình phân tích tính kinh tế thông qua các chỉ tiêu như giá trị thu nhập, đo lường HQKT, năng lực tài chính và năng suất sản xuất của mô hình; sử dụng các chỉ tiêu kinh tế khác như NPV, IRR đánh giá thẩm định đầu tư Thực hiện ở một địa phương khác, nhóm tác giả Vongpaphane Manivong và R.A Cramb [115] nghiên cứu đánh giá hiệu quả sản xuất của mô hình CSTĐ ở Lào bằng phương pháp phỏng vấn và quan sát thực tế, kết hợp với dữ liệu không gian nhằm dự đoán khả năng mở rộng cao su dựa vào tài nguyên thiên nhiên và khả năng
Trang 1111
tiếp cận dựa vào hệ thống cơ sở hạ tầng Tiếp cận phương pháp nghiên cứu khác, các tác giả Ririn Purnamasari, Oscar Cacho và Phil Simmons [102] đã đánh giá tầm quan trọng của cây cao su trong nền kinh tế Indonesia; đánh giá sự biến đổi giá cả làm ảnh hưởng đến lợi nhuận của người trồng CSTĐ; một điểm nổi bật khác nữa là việc tác giả sử dụng mô hình kinh tế - sinh học vào đánh giá hiệu quả sản xuất giữa
mô hình chuẩn và mô hình thứ hai sau khi đã đưa các yếu tố rủi ro
Ngoài các vấn đề trên, khi nghiên cứu HQKT giữa mô hình CSTĐ độc canh
và xen canh với các loại cây trồng NN, các vật nuôi khác, các công trình nghiên cứu
đã có các quan điểm khác nhau Công trình của tác giả Prommee và Somboonsuke [100] kết luận mô hình sản xuất cao su độc canh có nhiều điểm bất lợi hơn các mô hình xen canh khác và để khẳng định thêm quan điểm của mình, Somboomsuke và các cộng sự [106] đã tính toán các chỉ số kinh tế và năng lực tài chính cũng như các yếu tố đầu ra khác, từ đó đưa ra kết luận tất cả các hệ thống cao su đều thu được lợi nhuận nhưng đối với độc canh cây cao su có kết quả thấp hơn so với hệ thống cao
su - dứa Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng càng đa dạng trong hệ thống cây trồng thì lợi nhuận thu được sẽ cao hơn; ngược lại với hệ thống canh tác ít đa dạng về loại cây sẽ
dễ bị tổn thương hơn so với những hệ thống canh tác nhiều loại nông sản kết hợp Khác với quan điểm trên, Viswanathan [99] nghiên cứu hiệu quả sản xuất của các
mô hình cao su bằng phương pháp phân tích lợi thế so sánh, đã đưa ra kết luận mô hình CSTĐ độc canh là mô hình đem lại HQKT cao nhất Tác giả cho rằng với mô hình này, người nông dân gặp khó khăn trong việc tìm nguồn tài chính bổ sung cho việc đầu tư dài hạn, nhưng việc tập trung sản xuất một loại cây đem lại năng suất và chất lượng tốt hơn Cũng đồng quan điểm này, Rodgers và các cộng sự [73] đã kết luận về mô hình sản xuất CSTĐ độc canh đưa lại HQKT cao hơn mô hình CSTĐ kết hợp với các các loại cây trồng khác Lập luận của quan điểm này cho rằng năng suất của cây cao su sẽ lớn hơn, chất lượng tốt hơn nếu được chăm sóc kỹ và sử dụng nhiều lao động từ địa phương hơn do chu kỳ sống của cây cao su dài
Trang 1212
2 PHÂN TÍCH RỦI RO VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ TRONG SXNN VÀ CAO SU Ở VIỆT NAM VÀ QUẢNG BÌNH
2.1 Phân tích rủi ro trong SXNN và cao su ở Việt Nam
Ở Việt Nam nghiên cứu về rủi ro đã có rất nhiều tác giả thực hiện nhưng chủ yếu đề cập đến những vấn đề chung về rủi ro và rủi ro dự án Trong lĩnh vực SXNN
và cao su, rủi ro được xem như là đặc điểm nội tại nhưng những nghiên cứu mang tính điển hình về rủi ro trong lĩnh vực này lại không có nhiều hoặc ít được công bố Các thông tin về rủi ro này phần lớn được tìm thấy trong các báo cáo điều tra hoặc báo cáo phát triển của các tổ chức Tuy nhiên, về lý luận đã có một số tác giả bàn về rủi ro trong SXNN và cao su, tiêu biểu là công trình của Bùi Thị Gia [21] nghiên cứu về quản trị rủi ro trong các cơ sở sản xuất kinh doanh nông nghiệp đã đề cập tương đối đầy đủ các lý thuyết về quản trị rủi ro trong nông nghiệp Trong đó khẳng
định: “Rủi ro trong lĩnh vực nông nghiệp là những tổn thất, những bất trắc, khả năng không đạt được kết quả mong muốn và rủi ro có thể đo lường được” Tác giả
đã đề cập đến nhiều cách phân loại rủi ro của các tác giả qua đó đã phân loại rủi ro trong SXNN thành: Rủi ro sản xuất, rủi ro giá, rủi ro marketing, rủi ro thể chế, rủi
ro liên quan đến con người gây ra hoặc rủi ro cá nhân, rủi ro tài chính Bên cạnh đó, khi nghiên cứu về các mô hình hoá và công cụ nhận dạng rủi ro, tác giả đã đề cập đến các phương pháp lưu đồ, phương pháp thanh tra hiện trường, phương pháp nghiên cứu số liệu thống kê; nghiên cứu về đo lường rủi ro, tác giả đã đề cập đến phương pháp sử dụng ma trận rủi ro qua các thang đo ảnh hưởng và thang đo khả năng xảy ra rủi ro để sắp xếp ưu tiên các rủi ro, sử dụng phương pháp chuyên gia để
đo lường các rủi ro có thể xảy ra từ đó xác định những rủi ro cần được ưu tiên kiểm soát và tài trợ khi cần thiết Trên cơ sở đó, tác giả xác định quy trình rủi ro từ việc xác định rủi ro, phân tích rủi ro, đánh giá rủi ro, quản trị rủi ro và theo dõi, giám sát rủi ro Bên cạnh, đó còn đề cập đến các thái độ đối với rủi ro như né tránh hay không thích rủi ro; trung tính hay chấp nhận rủi ro và thích rủi ro hay người mạo hiểm từ đó thể hiện thái độ đối với rủi ro bằng mô hình lợi ích kỳ vọng
Về thực tiễn nghiên cứu rủi ro, tác giả Lữ Bá Văn [62] trong nghiên cứu rủi ro sản xuất và xuất khẩu cà phê của Việt Nam đã tổng quan về lý luận, làm rõ khái
Trang 1313
niệm về rủi ro và rủi ro trong SXNN, xác định tầm quan trọng của rủi ro, xác định các loại rủi ro thường gặp trong sản xuất cà phê như do biến động của giá, do thiên tai, do sâu bệnh, do kỹ thuật canh tác, do công nghệ,…Trên cơ sở đó thực hiện phương pháp nhận dạng rủi ro qua môi trường tự nhiên, môi trường xã hội; và thực hiện phương pháp phân tích rủi ro bằng cách xác định tổn thất trực tiếp và gián tiếp đối với người sản xuất và đối với người kinh doanh Cũng đề cập đến vấn đề này Lê Thị Hồng Trân [57] đã sử dụng các phương pháp ma trận đánh giá rủi ro qua việc xác định tần suất xảy ra và mức độ thiệt hại Nghiên cứu đã xác định ma trận thang điểm rủi ro, đề xuất thang điểm đánh giá đối với khả năng xảy ra rủi ro và mức độ thiệt hại, từ đó đề xuất thang điểm đánh giá mức độ rủi ro Đi sâu nghiên cứu về rủi
ro sản xuất, tác giả Nguyễn Quốc Nghi [37] đã tiến hành đánh giá thực trạng rủi ro trong sản xuất của nông hộ, qua đó phân tích phản ứng của nông hộ đối với các rủi
ro nông nghiệp, từ đó xây dựng mô hình liên kết giữa hộ sản xuất với Nhà nước, các
tổ chức tín dụng, nhà cung ứng, nhà thu mua, nhà khoa học và công ty bảo hiểm nhằm giảm thiểu rủi ro trong sản xuất của các nông hộ
2.2 Đánh giá HQKT trong SXNN và cao su ở Việt nam
Ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu đánh giá về HQKT trong SXNN và cao su Các công trình đã hệ thống hóa lý luận về HQKT trong SXNN ở từng lĩnh vực cụ thể Nghiên cứu của Bùi Nữ Hoàng Anh [2] đã khái quát hóa về hiệu quả, đưa ra các quan điểm về HQKT, nội dung và bản chất của HQKT qua đó nghiên cứu sâu về HQKT trong sử dụng đất nông nghiệp (ĐNN); Phan Sỹ Cường [11] sử dụng các chỉ tiêu NPV, IRR để tính HQKT sản xuất cam cho các hộ nông dân; Đoàn Công Qùy [38] sử dụng hệ thống chỉ tiêu như giá trị sản xuất, giá trị gia tăng, giá trị sản xuất trên lao động, giá trị gia tăng trên lao động để đánh giá HQKT
sử dụng đất canh tác; Trần Đình Thao [51] sử dụng mô hình hàm sản xuất Cobb – douglas phản ánh năng suất tối đa để đánh giá hiệu quả kỹ thuật và tính toán chỉ số hiệu quả kỹ thuật giao động từ 0,5 đến 0,9 mức bình quân là 0,82%; Nguyễn Khắc Quỳnh (2010) sử dụng các phương pháp thống kê mô tả, phân tích tài chính từng phần (Partial Budget Analysis – PBA), phân tích chỉ số VCR gia tăng (Incremental Value Cost Ratio – IVCR), phân tích điểm hòa vốn (Break – Even Analysis (BA))
Trang 1414
để đánh giá HQKT sản xuất lúa lai thương phẩm; Lê Thị Diệu Hiền, Nguyễn Quốc Nghi [29] sử dụng các mô hình tỷ suất lợi nhuận để đánh giá tác động của từng nhóm rủi ro, cấp độ rủi ro đến HQKT trong chăn nuôi heo thịt và Đỗ Văn Xê [67]
sử dụng phương pháp phân tích kinh tế để đánh giá HQKT của mô hình SXNN Bàn về phát triển sản xuất cao su và đánh giá HQKT sản xuất cao su các tác giả đã sử dụng nhiều phương pháp đánh giá ở các khía cạnh khác nhau Bùi Dũng Thể [53] áp dụng phương pháp liên ngành và phương pháp tiếp cận ngành hàng nông sản để nghiên cứu thực trạng phát triển CSTĐ, đề xuất mô hình trồng cao su cho các hộ sản xuất và hệ thống giải pháp kinh tế kỹ thuật để phát triển cây cao su đáp ứng yêu cầu phát triển nông thôn mới; Mai Văn Xuân (2011) sử dụng hệ số chi phí nguồn lực trong nước - DRC, mô hình kim cương của M.Porter (Porter „s Diamond), ma trận phân tích chính sách – PAM để đánh giá khả năng cạnh tranh của sản phẩm cao su; Phùng Thị Hồng Hà [25] sử dụng phương pháp hiện giá và phương pháp hạch toán để xác định kết quả và hiệu quả sản xuất cao su, các yếu tố tác động đến sự phát triển cây cao su ở Thừa Thiên Huế; Nguyễn Minh Hiếu [28] đã tiến hành đánh giá hiệu quả của việc phát triển CSTĐ ở thừa Thiên Huế và sử dụng ứng dụng công nghệ GIS để quản lý cao su trang trại tại Thừa Thiên Huế; Phạm Văn Tần [47] đã tiến hành nghiên cứu đánh giá tình hình phát triển CSTĐ ở Thừa Thiên Huế và đề ra các giải pháp kỹ thuật cho việc phát triển cao su ổn định, bền vững; Thái Thanh Hà [24] sử dụng phương pháp phân tích đường giới hạn DEA (Data Envelopment Analysis) để tính toán ra các chỉ số hiệu quả kỹ thuật và chỉ số hiệu quả chi phí, sau đó sử dụng tiếp hai loại chỉ số này thông qua phương trình hồi quy Tobit Regression để nhận dạng mức độ ảnh hưởng của các nhân tố có liên quan như: trình độ học vấn của chủ hộ, vốn vay đầu tư sản xuất cao su, số cây cao su mở miệng cạo và hệ số kỹ thuật của lao động
2.3 Phân tích rủi ro và đánh giá HQKT sản xuất kinh doanh cao su ở tỉnh Quảng Bình
Ở Quảng Bình đã có một số công trình nghiên cứu về sản xuất cao su ở các khía cạnh khác nhau Trong tuyển tập báo cáo hội thảo khoa học “Giải pháp nâng cao hiệu quả và phát triển bền vững cây cao su trên địa bàn tỉnh Quảng Bình” các
Trang 1515
công trình đã đánh giá thực trạng, định hướng phát triển cây cao su trên địa bàn; phân tích tiềm năng và rủi ro sơ tuyển giống cao su; thực trạng QTKT cây cao su; thực trạng về sâu bệnh hại cây cao su; đề xuất các giải pháp thiết lập và duy trì vườn cao su trong vùng gió, bão; các giải pháp nâng cao hiệu quả và phát triển bền vững cây cao su trên địa bàn; giải pháp về cơ cấu bộ giống, hướng trồng, mật độ trồng tối
ưu và vành đai bảo vệ chống bão Cũng bàn về vấn đề này, trong nghiên cứu của Dự
án quản lý bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên Miền Trung về chuỗi giá trị tiểu ngành cao su Quảng Bình [19] đã đánh giá khái quát về sự phát triển diện tích, năng suất cao su quốc doanh và CSTĐ; sơ đồ hóa chuỗi giá trị với năm tác nhân gồm tác nhân cung cấp yếu tố đầu vào, tác nhân sản xuất, tác nhân chế biến, tác nhân thương mại và tác nhân tiêu thụ từ đó xác định mối quan hệ giữa các tác nhân tham gia chuỗi Nghiên cứu tiến hành đánh giá các trở ngại và cơ hội của ngành cao su tỉnh Quảng Bình ở cấp vi mô, cấp trung gian và cấp vĩ mô Bên cạnh các nghiên cứu trên, Nguyễn Minh Hiếu [28] đã sử dụng các phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
từ các cơ quan quản lý và số liệu cơ cấp từ các hộ trồng cao su; phương pháp đo đếm trực tiếp một số chỉ tiêu trên vườn cây như năng suất, hàm lượng mủ, qua đó phân tích đánh giá khả năng sinh trưởng của các loại giống, diễn biến năng suất mủ tươi và mủ khô cá thể; đánh giá bệnh hại ở các giống nghiên cứu và đánh giá HQKT
ở các giống cao su nghiên cứu trên địa bàn Huyện Bố Trạch
3 KẾT LUẬN
Kết quả tổng quan tình hình nghiên cứu về phân tích rủi ro và đánh giá HQKT trong SXNN và cao su cho thấy:
- Về lý luận và thực tiễn phân tích rủi ro: Đã có các nghiên cứu về rủi ro trong
SXNN theo 3 phương diện gồm: Các yếu tố tác động của thiên nhiên nằm ngoài tầm kiểm soát của con người (thiên tai, biến đổi khí hậu…), các yếu tố đầu vào (giống, phân bón, đất, trình độ của nông dân…) và các yếu tố tác động của chính phủ các nước về chính sách cũng như về khung pháp lý Một số nghiên cứu khác đề cập việc kiểm soát rủi ro trong SXNN với các phương pháp như bảo hiểm theo chỉ số, phân cấp rủi ro và đưa ra những công cụ quản trị rủi ro Về thực tiễn, đã có các nghiên cứu bàn về rủi ro trong SXNN, các nghiên cứu đề cao vai trò và trách nhiệm của
Trang 1616
người nông dân, người nông dân phải biết tối ưu hoá các công cụ của thị trường để đối phó với rủi ro; đã đề cập đến khung pháp lý của chính phủ các nước để quản lý các rủi ro có thể gặp phải về mặt pháp luật; nghiên cứu mặt hạn chế của nguồn ngân sách các chính phủ khi đầu tư vào SXNN và hạn chế trong việc đàm phán cũng gây ảnh hưởng không nhỏ đến việc trợ giúp của chính phủ; nghiên cứu các giải pháp kiểm soát rủi ro như đa dạng hoá sản phẩm (phân cấp rủi ro), bảo hiểm mùa vụ, bảo hiểm theo chỉ số và đưa ra các công cụ quản lý rủi ro ở các nước phát triển và các nước đang phát triển
Như vậy, những kết quả nghiên cứu về lý luận và thực tiễn phân tích rủi ro trên thế giới và Việt Nam là cơ sở quan trọng để bổ sung và hoàn thiện các khái niệm về rủi ro, các loại rủi ro và phân tích rủi ro sản xuất kinh doanh cao su; qua đó xác định các nội dung phân tích rủi ro trong sản xuất kinh doanh CSTĐ ở tỉnh Quảng Bình
và xây dựng các phương pháp nghiên cứu cụ thể để thực hiện nội dung nghiên cứu
- Về lý luận và thực tiễn nghiên cứu HQKT: Trên thế giới đã có các công trình
nghiên cứu bàn về HQKT trong SXNN và cao su Các công trình đã nghiên cứu lịch
sử hình thành và phát triển cao su, lịch sử hình thành các mô hình cao su, vai trò phát triển cao su và các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh cao su; nghiên cứu nguyên nhân dẫn tới sản xuất cao su kém hiệu quả, các phương pháp phân tích HQKT và các chính sách để nâng cao HQKT Về thực tiễn, đã có nhiều công trình nghiên cứu về HQKT sản xuất cao su, đặc biệt là ở các nước có thế mạnh
về trồng và sản xuất cao su như: Ấn Độ, Lào, Malaysia, Việt Nam, Indonesia, Thái Lan, Sri Lanka Tuy nhiên, đối với mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ có những đặc điểm riêng biệt nên phương pháp nghiên cứu và phạm trù nghiên cứu là khác nhau Điển hình, công trình nghiên cứu về HQKT mô hình CSTĐ ở miền Nam Thái Lan sử dụng các phương pháp phân tích kinh tế để đánh giá thẩm định đầu tư; công trình nghiên cứu về tiềm năng phát triển cao su của Lào đã đánh giá thực trạng và chính sách của chính phủ, phân tích các yếu tố đầu vào như tài nguyên, giá cả, lao động,…; công trình nghiên cứu quản trị chiến lược mô hình CSTĐ ở Indonesia đã đánh giá sự ảnh hưởng của giá thành cao su và sử dụng mô hình kinh tế - sinh học
để tìm ra sự ảnh hưởng của các yếu tố liên quan nhưng mặt hạn chế của mô hình
Trang 17Qua kết quả phân tích trên cho thấy trên thế giới và ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu về rủi ro và HQKT trong SXNN nói chung và cao su nói riêng nhưng ở tỉnh Quảng Bình chưa có một nghiên cứu nào về phân tích rủi ro và đánh giá HQKT sản xuất kinh doanh CSTĐ Mặt khác, các công trình nghiên cứu chỉ đề cập chung về rủi ro và hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp và cao su; chưa có công trình nào đề cập, xây dựng khung lý luận về phân tích rủi ro, đánh giá hiệu quả kinh tế trong bối cảnh rủi ro trong sản xuất cao su và CSTĐ tại một địa phương hay quốc gia Vì vậy, để thực hiện để thực hiện nội dung nghiên cứu, luận
án dựa trên các lý luận chung về rủi ro và HQKT để kế thừa các quan điểm, khái niệm, phương pháp nghiên cứu chung về rủi ro và HQKT từ đó phát triển cụ thể các
lý luận về phân tích rủi ro và đánh giá HQKT trong bối cảnh rủi ro Đồng thời, dựa trên thực tiễn các công trình đã nghiên cứu, luận án đã kế thừa cách sử dụng các phương pháp phân tích, đối tượng phân tích rủi ro và đánh giá HQKT để từ đó hình thành khung nghiên cứu và xây dựng các phương pháp cụ thể để nghiên cứu phân tích rủi ro và đánh giá HQKT trong bối cảnh rủi ro trong sản xuất kinh doanh CSTĐ
ở tỉnh Quảng Bình
Trang 181.1.1 Đặc điểm, vai trò và ý nghĩa kinh tế của cây cao su
1.1.1.1 Đặc điểm của cây cao su
- Nguồn gốc cây cao su: Cây cao su có tên khoa học là “Hévéa Brasillensis”
thuộc họ Euphorbriaceae (họ thầu dầu) và được tìm thấy trong tình trạng hoang dại
ở vùng châu thổ sông Amazone (Nam Mỹ) Đây là một vùng nhiệt đới ẩm ướt (Brazil, Bolivia, Peru, Colombia, Ecuador ), lượng mưa trên 2000 mm, nhiệt độ cao và đều quanh năm, có mùa khô kéo dài 3 - 4 tháng, đất thuộc loại đất sét tương đối giàu dinh dưỡng, có độ PH từ 4,5 - 5,5 với tầng canh tác dày, thoát nước trung bình Vào cuối thế kỷ 19, cây cao su đã được du nhập và phát triển nhanh ở nhiều
nước trên thế giới [4]
- Đặc điểm sinh học của cây cao su: Cây cao su thay lá vào mùa Đông, thời
gian rụng lá kéo dài từ 20 ngày đến 1 tháng, sau khi rụng hết lá già, lá non bắt đầu xuất hiện và sau 1 đến 1,5 tháng, tán lá non ổn định Tuỳ theo giống, điều kiện của ngoại cảnh (đất đai, khí hậu…), điều kiện thâm canh mà cây cao su có chu kỳ sống khác nhau Trong tình trạng hoang dại là một loại cây rừng lớn, thân thẳng, cao trên 30m, có khi đến 50m, vành thân đạt từ 5m đến 7m, tán lá rộng với mật độ cây thưa thớt và sống trên 100 năm Khi trồng kinh doanh sản phẩm mủ, không gian trồng: 18
- 25m2/ cây (mật độ trồng khoảng 400 - 550 cây/ ha); chu kỳ sống giới hạn từ 30 -
40 năm, trong đó chia làm 2 thời kỳ, thời kỳ KTCB và thời kỳ KD; chiều cao cây trưởng thành tối đa là 25-30m và đạt vòng quanh tối đa 1m khi vào cuối niên hạn khai thác; phát triển bình thường ở nơi tối thiểu 1.600 giờ nắng/năm, là cây ưa sáng, thời gian và cường độ chiếu sáng càng nhiều giúp cho quá trình quang hợp cây càng nhiều, ánh sáng còn ảnh hưởng đến khả năng chống chịu của cây, tăng sức đề kháng cho cây; tốc độ gió nếu lớn hơn 8m/s – 13m/s sẽ ảnh hưởng đến sinh trưởng, nếu
Trang 1919
lớn hơn 17,2m/s sẽ làm cho thân gãy và nếu lớn hơn 25m/s sẽ làm gốc sụp đổ và dẫn tới giảm năng suất mủ; độ ẩm không khí bình quân thích hợp cho sự sinh trưởng của cây là trên 75% và là loại cây có khả năng chịu hạn tốt hơn nhiều CCN dài ngày khác (trừ cây điều) [30], [64]
- Các giai đoạn sinh trưởng của cây cao su: Sản phẩm chính của sản xuất cao
su là mủ nên người trồng thường không quan tâm nhiều đến sự phân loại quá trình phát dục của cây mà thường căn cứ vào các giai đoạn cho sản lượng mủ khác nhau
từ đó nắm bắt các đặc tính sinh học của chúng trong từng giai đoạn để thuận tiện cho quản lý sản xuất, thông thường chia thành các giai đoạn như sau [30], [64]: + Giai đoạn cây non trong vườn ươm: Bắt đầu từ khi gieo hạt đến lúc xuất khỏi vườn ươm, có thể kéo dài 6 tháng đến 24 tháng (stump lở, stump bầu,…) + Giai đoạn KTCB: Khoảng thời gian khoảng 6 đến 8 năm đầu tiên tính từ khi trồng, là thời gian cần thiết để vòng thân cây cao su đạt 50cm đo cách mặt đất 1m + Giai đoạn khai thác mủ (hay giai đoạn KD): Đây là giai đoạn dài nhất bắt đầu từ khi cây có thể khai thác mủ đến lúc cây bị thanh lý Căn cứ vào sự biến thiên
về năng suất hàng năm người ta chia thành 3 thời kỳ:
Thời kỳ khai thác cao su non: Cây vẫn tiếp tục sinh trưởng mạnh, số lượng cành, nhánh, chu vi thân (vanh), độ dày vỏ, sản lượng mủ tăng nhanh theo các năm Tốc độ tăng sản lượng hàng năm phụ thuộc nhiều vào giống, chế độ khai thác và chăm sóc Thời kỳ này kéo dài chừng 10 – 12 năm
Thời kỳ khai thác cao su trung niên: Năng suất không tăng thêm và giữ vững ở mức năng suất đó theo năm Tuy nhiên, tùy theo chế độ chăm sóc, khai thác trước
đó, hiện tại và giống mà thời kỳ này kéo dài hay ngắn Nếu vườn cây không được chăm bón tốt trong giai đoạn KTCB và khai thác cao su non thì khi cây bước vào thời kỳ này chỉ duy trì năng suất cao trong một khoảng thời gian ngắn và sau đó giảm năng suất
Thời kỳ khai thác cao su già: Là thời kỳ vườn cây có hiện tượng giảm năng suất trong nhiều năm liền nhưng mức giảm và tốc độ giảm năng suất nhanh hay chậm tùy thuộc vào giống, chế độ chăm sóc và khai thác các thời kỳ trước đó
Trang 2020
1.1.1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất sản xuất cao su
Cây cao su là loại CCN có chu kỳ kinh doanh kéo dài nên có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến năng suất và sản lượng như sau [30], [64]:
- Các nhân tố tự nhiên: Là những nhân tố ảnh hưởng lớn đến năng suất sản
xuất cao su như nhiệt độ, lượng mưa, gió, giờ chiếu sáng, đất đai Nếu những yếu tố này không đạt ngưỡng cho phép thì cây cao su cho năng suất thấp, vượt ngưỡng cho phép lớn thì không trồng được hoặc trồng được nhưng cây sẽ chết hoặc bị thiệt hại
nghiêm trọng
- Các nhân tố xã hội: Là các nhân tố về lao động, tập quán canh tác và phong
tục từng địa phương ảnh hưởng đến việc tăng năng suất sản xuất cao su Bên cạnh
đó còn có các nhân tố như thị trường, các chính sách kinh tế, vốn và cơ sở hạ tầng ảnh hưởng đến hành vi người sản xuất, tạo đà cho việc phát triển hay kìm hãm lĩnh vực sản xuất cao su
- Các nhân tố kinh tế: Là các nhân tố đầu tư vật chất, lao động cho việc trồng
và chăm sóc cao su như giống, phân bón và bảo vệ thực vật Đây là chi phí vật chất trực tiếp trong quá trình sản xuất và là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến năng suất
và sản lượng cao su
- Các nhân tố kỹ thuật: Là những nhân tố có mức ảnh hưởng lớn đến năng suất
và sản lượng sản xuất cao su như kỹ thuật làm đất; kỹ thuật thiết kế lô, phóng tiêu
và đào hố; kỹ thuật trồng, mật độ trồng; kỹ thuật làm cỏ, cắt tỉa chồi thường xuyên;
kỹ thuật trồng xen, trồng thảm phủ; kỹ thuật bón phân và công tác phòng bệnh; công tác phòng chống cháy, chăm sóc mặt cạo, chăm sóc lớp vỏ tái sinh; kỹ thuật khai thác mủ cao su Nếu không đảm bảo những nhân tố này, cây cao su sẽ không phát triển, nhiều sâu bệnh, gặp nhiều hỏa hoạn làm giảm năng suất hay thiệt hại lớn
1.1.1.2 Vai trò và ý nghĩa của cây cao su
- Về kinh tế: Cây cao su có vai trò và ý nghĩa quan trọng trong phát triển kinh
tế địa phương và quốc gia Vì sản phẩm cây cao su chủ yếu là mủ cao su với các đặc tính hơn hẳn cao su tổng hợp về độ giãn, độ đàn hồi, và là nguyên liệu không thể thiếu được trong đời sống hàng ngày của con người thông qua các đồ dùng sinh hoạt Đồng thời, là nguồn xuất khẩu quan trọng trong kim ngạch xuất khẩu Việt
Trang 2121
Nam, mang về nguồn ngoại tệ lớn cho đất nước Mặt khác, cây cao su đem lại thu nhập cao và ổn định cho người sản xuất trong lĩnh vực nông nghiệp và khi hết niên hạn phải thanh lý thì gỗ cao su là một nguồn kinh tế đáng kể [1]
- Về xã hội: Sản xuất kinh doanh cao su đòi hỏi một lực lượng lao động khá
lớn và tương đối ổn định lâu dài trong 20 đến 30 năm Hiện nay, phát triển sản xuất kinh doanh cao su đã giải quyết việc làm cho trên 110.000 lao động khối quốc doanh và trên 77.000 hộ CSTĐ Nhiều địa phương đã sử dụng cây cao su như một giải pháp xóa đói, giảm nghèo Mặt khác do nhu cầu đi lại để sản xuất và vận chuyển mủ nên đường sá vùng trồng cao su được phát triển tốt hơn nhờ đó hệ thống giao thông vùng nông thôn được nâng cấp [1]
- Về môi trường: Cây cao su khi trồng với diện tích lớn còn có tác dụng phủ
xanh đất trống, đồi trọc, chống xói mòn, bảo vệ môi trường rất tốt nhờ vào tán lá cao su rậm che phủ toàn bộ mặt đất và với chu kỳ trong khoảng 30 năm nên thuận lợi trong bảo vệ vùng sinh thái được bền vững [1] Mặt khác, cây cao su đã hoàn lại một khối lượng chất dinh dưỡng cho đất như cây rừng do bộ lá rụng hàng năm Sản phẩm của cây cao su là mủ được tổng hợp từ nước và các bon, nên cây cao su có nhu cầu phân bón không cao và là cây có khả năng hấp thụ khí các bonic rất lớn Do vậy cây cao su đang được xem là một giải pháp để giảm tác hại của hiệu ứng nhà kính do khí các bonic từ các ngành công nghiệp thải ra môi trường
- Về an ninh quốc phòng: Cây cao su được trồng nhiều địa bàn khác nhau như
vùng sâu, vùng xa và vùng biên giới Những nơi này thường chưa có người ở nên khi trồng cao su phải đưa lao động từ nơi khác đến chăm sóc, khai thác và chế biến
đã tạo ra một vùng dân cư mới Sự tập trung dân cư ở đây góp phần để giữ gìn an ninh quốc phòng
1.1.2 Cao su tiểu điền
1.1.2.1 Khái niệm CSTĐ
CSTĐ là hình thức tổ chức sản xuất quy mô nhỏ, hộ nông dân tự bỏ vốn ra đầu
tư hoặc do các tổ chức cho nông dân vay vốn đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh CSTĐ có diện tích nhỏ (dưới 4 ha/hộ) thường trồng không tập trung, nằm rải rác quanh khu vực cư trú của nông dân [59]
Trang 2222
1.1.2.2 Vai trò của CSTĐ
- Giải pháp hữu hiệu để giải quyết việc làm, mang lại thu nhập cao và ổn định cho người lao động ở nông thôn, góp phần thực hiện xoá đói giảm nghèo một cách bền vững
- Huy động các nguồn lực sẵn có ở các vùng nông thôn, vùng sâu và vùng xa
như đất đai, lao động, góp phần tạo ra khối lượng sản phẩm cao su nguyên liệu ngày càng nhiều cho sản xuất trong nước và xuất khẩu
- Đóng vai trò quan trọng đối với quá trình dịch chuyển cơ cấu kinh tế nông
nghiệp nông thôn theo hướng CNH - HĐH Đồng thời, thay đổi tập quán từ sản xuất nhỏ, độc canh mang tính tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hoá
- Mô hình CSTĐ phù hợp với chính sách đổi mới của nhà nước về chủ trương
giao đất giao rừng, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, công nhận và khuyến kích kinh tế hộ phát triển
1.2 PHÂN TÍCH RỦI RO TRONG SẢN XUẤT KINH DOANH CSTĐ 1.2.1 Khái niệm rủi ro
Bàn về khái niệm rủi ro thì hiện nay trên thế giới có nhiều trường phái đưa ra những định nghĩa rủi ro khác nhau Những định nghĩa này rất đa dạng, phong phú nhưng tựu trung lại có thể chia làm 2 trường phái lớn: Trường phái truyền thống (hay còn gọi là trường phái tiêu cực) và trường phái trung hòa [21], [61]
1.2.1.1 Trường phái truyền thống (trường phái tiêu cực)
Theo trường phái này, rủi ro được coi là sự không may, sự tổn thất, mất mát, nguy hiểm, Thuộc trường phái này, có các định nghĩa như: Theo Từ điển Tiếng
Việt do Trung tâm từ điển học Hà Nội xuất bản năm 1995 thì “Rủi ro là điều không lành, không tốt, bất ngờ xảy đến”; theo cố GS Nguyễn Lân thì “Rủi ro (đồng nghĩa với rủi) là sự không may” (từ điển Từ và ngữ Việt Nam, năm 1998, trang 1540); theo từ điển Oxford “Rủi ro là khả năng gặp nguy hiểm hoặc bị đau đớn, thiệt hại, ” ; trong lĩnh vực kinh doanh tác giả Hồ Diệu định nghĩa: “Rủi ro là sự tổn thất về tài sản hoặc là sự giảm sút lợi nhuận thực tế so với lợi nhuận dự kiến” hay
“Rủi ro là sự bất trắc ngoài ý muốn xảy ra trong quá trình sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, tác động xấu đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp” Tóm
Trang 2323
lại, theo cách nghĩ truyền thống thì “Rủi ro là những thiệt hại, mất mát, nguy hiểm hoặc các yếu tố liên quan đến nguy hiểm, sự khó khăn hay những vấn đề không chắc chắn có thể xảy ra cho con người” [21], [61]
1.2.1.2 Trường phái trung hòa
Theo trường phái này có một số định nghĩa như sau: “Rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được” (Frank Knight); “Rủi ro là sự bất trắc có thể liên quan đến sự xuất hiện những biến đổi không mong đợi” (Allan Willett); “Rủi ro là một tổng hợp ngẫu nhiên có thể đo lường được bằng xác suất” (Irving Preffer) hay “Rủi ro là giá trị và kết quả mà hiện thời chưa biết đến” và theo C Arthur William, Jr.Micheal L.Smith đã viết: “Rủi ro là những biến động tiềm ẩn ở những kết quả; xuất hiện trong hầu hết mọi hoạt động của con người, khi có rủi ro người ta không thể dự đoán được chính xác kết quả Sự hiện diện của rủi ro gây nên sự bất định, nguy cơ rủi ro có thể xảy ra bất cứ khi nào, một hành động dẫn đến khả năng được hoặc mất không thể đoán trước”[21], [61]
Như vậy, theo trường phái này thì “Rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được”
Từ các quan điểm trên cho thấy có sự khác nhau nhất định khi nhìn nhận về rủi ro, do cách đánh giá ở từng khía cạnh, từng lĩnh vực sản xuất và đời sống ở mỗi thời điểm xảy ra rủi ro khác nhau Tuy nhiên, các định nghĩa đều quan tâm, đề cập
đến một số vấn đề có mối liên hệ như sau: (1) Đề cập đến sự không chắc chắn trong tương lai, sự kiện bất ngờ và không mong đợi (2) Đề cập tới hậu quả do một hoặc
nhiều nguyên nhân gây ra và sự không chắc chắn về hậu quả, gây ra tổn thất cho con người trong tương lai
Từ những lý luận trên, luận án xác định khái niệm rủi ro như sau: “Rủi ro là những biến cố xảy ra ngoài ý muốn; có thể xảy ra bất kì lúc nào, trong mọi lĩnh vực của cuộc sống, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh doanh; sự tồn tại của rủi ro là một tất yếu khách quan và rủi ro có thể đo lường được”
1.2.2 Rủi ro trong sản xuất kinh doanh nông nghiệp và cao su
1.2.2.1 Rủi ro trong SXNN
Trong nhiều thập kỷ qua, các nghiên cứu về rủi ro trong nông nghiệp khá đa dạng về đối tượng cũng như phương pháp Ở thời kỳ đầu, các nghiên cứu thường
Trang 2424
tập trung ở các nước có nền nông nghiệp phát triển như ở Mỹ, EU, Canada, Australia với mối quan tâm chính là tác động của các yếu tố ngoại vi như thời tiết, thiên tai, dịch bệnh đối với SXNN; lựa chọn quyết định sản xuất trong điều kiện rủi ro; các phương pháp xác định rủi ro; sự cần thiết phải can thiệp của chính phủ trong SXNN Kế thừa những nghiên cứu này, các nghiên cứu về rủi ro trong nông nghiệp được mở rộng cả về phạm vi lẫn đối tượng nghiên cứu SXNN ở các nước thế giới thứ 3 với những đặc thù riêng cũng đã được quan tâm Sự biến động của thị trường,
sự tác động qua lại và ảnh hưởng tổng hợp của các loại rủi ro đối với lựa chọn của người sản xuất; các chiến lược giảm thiểu rủi ro đối với cá nhân, cộng đồng và vai trò của Chính phủ; các phương pháp tiếp cận mới đối với rủi ro, đánh giá lại các chương trình giảm thiểu rủi ro của Chính phủ Đây là những nội dung mà các học giả và nhiều tổ chức nghiên cứu đề cập đến Bên cạnh đó, nghiên cứu rủi ro còn hướng đến những tác động do biến đổi môi trường khí hậu toàn cầu, những rủi ro đem đến cho sức khỏe của cộng đồng [21], [61]
Các nghiên cứu về rủi ro trong nông nghiệp đã đóng góp rất lớn trong việc hình thành, ứng dụng các chiến lược và công cụ nhằm quản lỷ rủi ro vốn đã và đang được thực hiện thành công ở nhiều quốc gia Từ những luận cứ và phân tích trên, luận án đưa ra khái niệm rủi ro trong lĩnh vực nông nghiệp như sau:
“Rủi ro là những biến cố xảy ra ngoài ý muốn của người sản xuất như thiên tai, dịch bệnh, giá cả biến động, sự thay đổi luật pháp, kỹ thuật canh tác, ảnh hưởng và gây thiệt hại đến kết quả và hiệu quả SXNN; những mức thiệt hại này có thể đo lường được”
1.2.2.2 Rủi ro trong sản xuất kinh doanh cao su
- Khái niệm: Trên cơ sở phân tích các khái niệm về rủi ro và đề xuất khái niệm
rủi ro, rủi ro trong SXNN, luận án xác định khái niệm rủi ro trong sản xuất cao su
như sau “Rủi ro là những biến cố xảy ra ngoài ý muốn của người sản xuất như thiên tai, dịch bệnh, giá cả biến động, sự thay đổi luật pháp, kỹ thuật canh tác, ảnh hưởng và gây thiệt hại có thể đo lường được đến kết quả và hiệu quả sản xuất kinh doanh cao su
Trang 2525
- Phân loại: Việc phân loại rủi ro có nhiều loại khác nhau do các cách tiếp cận
khác nhau Theo phương pháp quản trị rủi ro truyền thống có 4 loại rủi ro, rủi ro thảm họa, rủi ro tài chính, rủi ro tác nghiệp và rủi ro chiến lược; theo đối tượng rủi
ro gồm 3 loại, rủi ro tài sản, rủi ro nhân lực và rủi ro trách nhiệm; theo môi trường hoạt động gồm 2 nhóm, rủi ro môi trường vĩ mô và rủi ro môi trường vi mô Thực hiện nội dung nghiên cứu luận án, chúng tôi tiếp cận phân loại rủi ro sản xuất kinh doanh cao su theo nguồn hình thành như sau:
Rủi ro trong sản xuất: Đến từ những sự kiện không đoán trước được của thời
tiết cũng như những bất định trong sản xuất cao su Vì SXNN nói chung và cao su nói riêng chịu tác động nhiều của các yếu tố không kiểm soát được như thời tiết, dịch bệnh, giống,…thậm chí hàng năm sử dụng đầu vào và đầu ra như nhau nhưng năng suất vẫn khác nhau
Rủi ro về giá cả hay rủi ro về thị trường: Xuất hiện do những thay đổi không
báo trước của thị trường đầu vào và đầu ra trong sản xuất cao su Giá đầu vào và đầu ra cao su thay đổi hàng năm, giá đầu vào có thể thay đổi theo tháng, giá đầu ra bấp bênh Trong khi đó chu kỳ sản xuất dài do đó quyết định sản xuất phải dự báo, lường trước được những thay đổi, những rủi ro có thể xảy ra hoặc không xảy ra
Rủi ro thể chế: Xuất hiện do những thay đổi luật pháp của nhà nước hoặc các
quy định từ các cấp chính quyền địa phương gây bất lợi đối với người sản xuất kinh doanh cao su gồm: Thay đổi của luật quản lý rừng, thay đổi chính sách vay vốn, chính sách phát triển kinh tế, gây bất lợi đối với người sản xuất kinh doanh cao su
Rủi ro về con người: Là những biến cố không mong muốn ảnh hưởng đến điều
kiện, sức khỏe của người sản xuất kinh doanh cao su như ốm đau, bệnh tật, tình trạng này kéo dài có thể ảnh hưởng đến sản xuất và tăng chi phí một cách đáng kể
Rủi ro về kỹ thuật: Là loại rủi ro phát sinh từ việc áp dụng kỹ thuật mới trong
sản xuất cao su nhưng không phù hợp dẫn đến bị thua thiệt Khi đưa một công nghệ mới vào người nông dân luôn có câu hỏi rằng, liệu công nghệ mới có đáp ứng được mong muốn không? Có thực sự đáp ứng được chi phí và tăng sản xuất không? Nhiều công nghệ có tính ưu việt nhưng nông dân luôn tiếp thu chậm, tìm thấy mặt không ưu việt về chi phí hoặc năng suất khi họ sử dụng lần đầu
Trang 2626
Rủi ro tài chính và rủi ro tín dụng: Rủi ro về mặt tài chính liên quan đến sự an
toàn hoặc mất an toàn về mặt tài chính của doanh nghiệp An toàn tài chính của doanh nghiệp thể hiện ở khả năng trả nợ và khả năng thanh toán Khác với rủi ro trong kinh doanh, nguyên nhân xảy ra rủi ro tài chính là do sử dụng vốn vay Tăng vốn vay làm tăng tỷ số nợ trên vốn của chủ sở hữu, làm tăng cán cân tài chính, tăng cán cân tài chính làm tăng rủi ro tài chính khi thu nhập giảm Tỷ trọng vốn vay càng lớn so với tổng vốn thì hệ số nhân đóng góp vào rủi ro kinh doanh càng cao Chỉ khi doanh nghiệp, trang trại tự tài trợ 100% vốn thì không có rủi ro về mặt tài chính
- Chiến lược quản lý rủi ro: Để giảm thiểu các rủi ro cần có hệ thống chiến
lược quản lý rủi ro theo thời điểm phát sinh như sau [21], [61]:
Đối với rủi ro chưa phát sinh: Chiến lược phòng tránh rủi ro, theo cơ chế phi
chính thống gồm: Tránh các rủi ro, đa dạng hóa cây trồng hoặc xen canh gối vụ, phân tán cây trồng, canh tác hỗn hợp, đa dạng hóa nguồn thu nhập, dự trữ đệm hoặc tích lũy các tài sản có tính lỏng, áp dụng cả kỹ thuật công nghệ canh tác hiện đại Cũng chiến lược này, theo cơ chế chính thống có sự can thiệp của cơ quan quản lý nhà nước gồm:
Hệ thống khuyến nông, cung cấp các yếu tố đầu vào có chất lượng, các chương trình quản lý sâu bệnh và xây dựng cơ sở hạ tầng Đối với chiến lược chuyển giao rủi ro theo
cơ chế phi chính thống là chia sẻ sản phẩm, chia sẻ các trang thiết bị đầu vào, thiết lập các nhóm hỗ trợ tự phát; theo cơ chế chính thống có sự điều tiết thị trường là ràng buộc bằng hợp đồng, hợp đồng giao sau và bảo hiểm
Đối với rủi ro đã phát sinh: Chiến lược đối mặt với rủi ro theo cơ chế phi
chính thống là cắt giảm tiêu dùng, trì hoãn các hoạt động không quan trọng, bán tài sản hay theo cơ chế chính thống có sự can thiệp của cơ quan quản lý nhà nước là: Cứu trợ xã hội, dãn nợ, khoanh nợ, bảo hiểm nông nghiệp, hỗ trợ nguyên liệu đầu vào, tiêu thụ đầu ra, cấp tiền Bên cạnh đó cơ chế chia sẻ rủi ro dựa vào thị trường là một trong những chiến lược đang nhận được sự quan tâm như bảo hiểm, sản xuất theo hợp đồng
Bảo hiểm cây cao su: Là một hình thức chuyển giao tài trợ rủi ro, trong đó
người bảo hiểm chấp thuận gánh vác phần tổn thất tài chính cho hộ sản xuất kinh doanh cao su khi rủi ro xuất hiện Bảo hiểm có thể được định nghĩa như một hợp
Trang 2727
đồng chấp thuận giữa hai bên, người bảo hiểm là các doanh nghiệp và người được bảo hiểm là hộ sản xuất kinh doanh CSTĐ Theo hợp đồng này, người bảo hiểm đồng ý bù đắp những tổn thất được bảo hiểm (theo hợp đồng bảo hiểm) và các chi phí dịch vụ cho người bảo hiểm
Sản xuất theo hợp đồng: Là hình thức tổ chức gắn kết giữa nông dân và doanh
nghiệp chế biến hoặc kinh doanh cao su bằng hợp đồng 2 chiều quy định các điều kiện sản xuất và tiếp thị nông sản hàng hóa
1.2.3 Phân tích rủi ro trong sản xuất kinh doanh cao su
1.2.3.1 Một số vấn đề chung về phân tích rủi ro
Phân tích rủi ro là việc cân nhắc mô tả khả năng xảy ra, đánh giá hậu quả của rủi ro
và đề xuất các biện pháp xử lý, theo dõi, kiểm tra và là thành phần quan trọng của quản trị rủi ro Là bước quan trọng trong quá trình quản trị rủi ro, được thể hiện qua Sơ đồ 1.1
Sơ đồ 1.1 Sơ đồ quản trị rủi ro trong sản xuất kinh doanh cao su [20]
Qua Sơ đồ 1.1 cho thấy, để thực hiện theo dõi, giám sát rủi ro trong sản xuất kinh doanh cao su cần phải thực hiện các bước với nội dung như sau:
- Xác định bối cảnh và phạm vi quản trị rủi ro: Bước này liên quan đến việc
đưa ra bối cảnh và xác định các tham số của rủi ro hoặc miền của rủi ro Phạm vi quản trị rủi ro có thể là thuộc phạm vi quản trị chiến lược, phạm vi tổ chức hoặc
Trang 2828
khía cạnh khác Trong đó phạm vi chiến lược liên quan đến quan hệ giữa tổ chức
và môi trường của nó, xác định những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức đối với các đơn vị, cá nhân sản xuất kinh doanh cao su Ở phạm vi tổ chức thì quản trị rủi ro có liên quan đến quá trình đưa ra và thảo luận các mục đích và mục tiêu, phân công trách nhiệm đối với từng loại quyết định cho từng người Quản trị rủi
ro trong phạm vi này có nghĩa là quản trị toàn diện một tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh cao su, hiểu rõ cơ cấu quản trị và hoạt động của nó
- Xác định rủi ro: Việc xác định rủi ro cần quản trị ở đây là phải tiếp cận
một cách hệ thống để đảm bảo không bỏ sót một loại rủi ro nào Vì vậy, cần liệt
kê các sự kiện có thể ảnh hưởng lớn đến kết quả hoạt động của tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh cao su Cụ thể là cần cân nhắc cái gì có thể xảy ra, tại sao và ảnh hưởng như thế nào?
- Phân tích rủi ro: Qua Sơ đồ 1.1 cho thấy phân tích rủi ro là một bước quan
trọng trong quá trình quản trị rủi ro sản xuất kinh doanh cao su Quá trình phân tích rủi ro
thường chia thành hai bước là cân nhắc khả năng xảy ra và đánh giá hậu quả của nó
Bước thứ nhất gọi là phân tích không chính thức sẽ trình bày một cách tổng quát với những khái niệm như “rất không có khả năng xảy ra - very unlikely” hoặc “hoàn toàn có khả năng xảy ra - quite likely” để mô tả các khả năng xảy ra, hoặc các khái niệm nguy hiểm hoặc “thảm họa” để mô tả hậu quả Mục đích là để phân chia các sự kiện ra thành loại có xác suất xảy ra nhỏ hoặc tác động của nó không lớn Bước thứ hai là phân tích chính thức Việc xác định khi nào cần tiến hành phân tích chính thức về rủi ro là quan trọng, thường có hai trường hợp phân tích chính thức cần tính đến dưới đây
Trường hợp thứ nhất: Đối với những quyết định nhanh cần có những chiến lược
nhạy cảm và lợi ích từ việc quyết định riêng biệt có thể không lớn, nhưng lợi ích tích lũy qua nhiều giai đoạn có thể làm thay đổi thời gian và nỗ lực ban đầu cũng như những nỗ lực tiếp theo cho phân tích Trường hợp phân tích quyết định nhanh này có thể mở rộng ứng dụng đối với quản lý dịch vụ khuyến nông bằng các biện pháp canh tác mới
Trường hợp thứ hai: Đối với những quyết định quan trọng, nếu có những khoảng
cách lớn đáng kể giữa kết quả tốt nhất và xấu nhất Ví dụ về quyết định đầu tư lớn, nông dân có thể thấy rất có giá trị nếu đầu tư mua một trang trại khác để mở rộng quy mô kinh
Trang 2929
doanh đáp ứng mục tiêu dài hạn nhưng nếu đầu tư thì đòi hỏi phải đáp ứng một lượng tiền vay lớn và có thể dẫn đến phá sản nếu mọi việc không đúng Thực ra một quyết định hay một loạt các quyết định quan trọng để điều chỉnh các nỗ lực nhằm đạt được lựa chọn tốt hơn, không chỉ cân nhắc quyết định có phân tích chính thức hay không phân tích Nhiều lựa chọn trong nông nghiệp thực sự là phức tạp và có thể không được trình bày có
sử dụng phương pháp phân tích chính thức hay không
- Đánh giá rủi ro: Là bước tiếp theo và có liên quan chặt chẽ với các bước
trên, nó liên quan tới vấn đề xác định các rủi ro hiện tại không còn phù hợp và cần phải điều chỉnh trong tương lai Điều chỉnh sự chấp nhận rủi ro cần phải cân nhắc đến thái độ đối với rủi ro của người sản xuất cao su Vấn đề mấu chốt liên quan đến điều chỉnh thái độ chấp nhận rủi ro bên trong tổ chức đó là mức độ né tránh rủi ro của người ra quyết định Các công ty lớn hoặc tổ chức lớn như tổ chức của Nhà nước thì thái độ đối với rủi ro là trung tính, trừ những rủi ro có tính chất sống còn, nhưng đối với người nông sản xuất kinh doanh cao su ở các nước đang phát triển thì họ lại có thái độ né tránh hoặc không chấp nhận rủi ro
- Quản trị rủi ro: Là xác định miền lựa chọn để xử lý các rủi ro thông
thường, sau đó đánh giá các lựa chọn đó, chọn lựa chọn phù hợp nhất và thực hiện
nó Có những rủi ro có thể quản lý được bằng cách hạn chế khả năng xảy ra, hoặc giới hạn tối đa hậu quả xấu
- Theo dõi, giám sát: Mặc dù kế hoạch quản trị rủi ro đã được xây dựng,
duy trì và thực hiện nhưng những phương án lựa chọn đều được dựa trên những thông tin không hoàn hảo, vì vậy có những phương án có thể không thoả mãn nên việc theo dõi, giám sát là cần thiết để bảo đảm cho kế hoạch được thực hiện và nhằm phát hiện ra những vấn đề cần phải giải quyết, điều chỉnh trong tương lai Nếu có điều chỉnh ở một hoặc nhiều bước thì cần phải làm lại các bước khác cho phù hợp
1.2.3.2 Phân tích rủi ro trong sản xuất kinh doanh CSTĐ
- Đặc điểm phân tích rủi ro trong sản xuất kinh doanh CSTĐ
Rủi ro trong sản xuất kinh doanh cao su có ảnh hưởng nhiều mặt đến đời sống của người trồng cao su Do đó cần tiến hành phân tích rủi ro, một trong những bước
Trang 3030
quan trọng trong quá trình quản trị rủi ro Trên cơ sở kết quả phân tích rủi ro, ta mới
có thể đưa ra các biện pháp quản lý chúng
Đối với sản xuất kinh doanh CSTĐ, việc phân tích rủi ro sẽ giúp nhận dạng được các loại rủi ro như: Rủi ro trong khâu chọn giống (chọn giống xấu hoặc chọn giống tốt nhưng trồng ở những vùng trái với quy luật phát triển của nó); rủi ro do thiên tai thời tiết như lũ lụt, bão, lốc; rủi ro do dịch bệnh; rủi ro do kỹ thuật canh tác; rủi ro do giá cả thị trường Sau khi nhận dạng được các rủi ro, ta tiến hành phân tích từng loại rủi ro và đưa ra các biện pháp quản trị rủi ro nhằm hạn chế, triệt tiêu rủi ro, giúp cho sản xuất kinh doanh CSTĐ có thể an toàn và phát triển hơn Như vậy, phân tích rủi ro trong sản xuất CSTĐ bao gồm thực hiện các nội dung sau:
Xác định các loại rủi ro: Những rủi ro nào thường phát sinh đối với sản xuất
kinh doanh cao su; loại rủi ro nào là chính và nguy cơ xảy ra các loại rủi ro mới; và thời gian duy trì từng loại rủi ro là bao lâu?
Đo lường mức độ thiệt hại: Ảnh hưởng của rủi ro đó đến hộ sản xuất kinh
doanh cao su; mức độ thiệt hại là bao nhiêu đối với từng loại rủi ro và thiệt hại về rủi ro đó kéo theo thiệt hại về loại rủi ro nào?
Nguyên nhân xảy ra rủi ro: Nguyên nhân đó đến từ phía người sản xuất hay
đến từ phía tác nhân khác và các nguyên nhân này có thể tự khắc phục được hay không?
Chiến lược phòng chống: Đối với các hộ nông dân thì thường phòng rủi ro hay
chống rủi ro? Các biện pháp đó thường được thực hiện như thế nào? Chính thống hay phi chính thống,…
- Phương pháp áp dụng phân tích rủi ro
Phương pháp nhận dạng rủi ro: Thiết lập hệ thống bảng câu hỏi điều tra, xác
định các loại rủi ro thường xảy ra đối với hộ sản xuất CSTĐ; mức độ tổn thất khi xảy ra, số lần xuất hiện rủi ro trong một khoảng thời gian nhất định; các biện pháp phòng ngừa, tài trợ rủi ro, kết quả đạt được, những rủi ro chưa xuất hiện nhưng có thể xuất hiện qua đó phân tích đánh giá rủi ro và đề xuất công tác quản trị rủi ro
Phương pháp lưu đồ: Tiến hành xây dựng lưu đồ trình bày tất cả các hoạt
động sản xuất kinh doanh cao su của các hộ CSTĐ từ việc cung cấp các yếu tố đầu
Trang 3131
vào, quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm qua đó nhận dạng các rủi ro có thể xảy
ra ở từng khâu, từng công đoạn và tiến hành phân tích xác định mức độ ảnh hưởng của từng rủi ro
Phương pháp thanh tra hiện trường (nghiên cứu tại chỗ): Là phương pháp
nghiên cứu, điều tra trực tiếp quá trình sản xuất kinh doanh của các hộ CSTĐ từ đó phân tích đánh giá và nhận dạng các rủi ro, mức độ tác động của chúng từ đó đề xuất các biện pháp quản trị rủi ro
Phương pháp phân tích độ nhạy: Là việc xác định những biến số có ảnh
hưởng nhiều nhất đến lợi ích ròng của mô hình CSTĐ và lượng hóa mức độ ảnh hưởng của chúng Phân tích này bao gồm việc kiểm định tác động của sự biến thiên một số biến chi phí và lợi ích chọn lọc đến IRR và NPV của mô hình CSTĐ
Phương pháp ma trận rủi ro: Là việc xác định các loại rủi ro, tần suất xảy ra
rủi ro và mức độ thiệt hại do các rủi ro gây ra thông qua các hệ số điểm được xác định cho từng mức độ của vấn đề và được xem xét theo điều tra, khảo sát các hộ trồng cao su, nhà quản lý,… trên cơ sở đó trình bày thang điểm để đánh giá mức độ rủi ro của sản xuất kinh doanh cao su
1.3 ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ TRONG SẢN XUẤT KINH DOANH CAO SU
1.3.1 Những vấn đề chung về HQKT
1.3.1.1 Khái niệm
Hiệu quả kinh tế là mục tiêu người sản xuất và là thước đo phản ánh mức độ thành công của người sản xuất trong việc lựa chọn tổ hợp đầu vào và đầu ra tối ưu Trong thực tiễn xét ở nhiều phương diện khác nhau có nhiều cách hiểu và khái niệm khác nhau về HQKT Trong nghiên cứu này, chúng tôi xác định khái niệm HQKT
như sau:
HQKT là phạm trù phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động sản xuất kinh doanh, phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực sản xuất (lao động, máy móc thiết bị, nguyên vật liệu, tiền vốn) trong quá trình tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp để tối đa hoá lợi nhuận
Trang 32độ tổ chức sản xuất của một đơn vị hoặc một nền kinh tế nên chưa trả lời được các câu hỏi như: được tạo ra bằng cách nào, bằng phương tiện gì và chi phí bao nhiêu?
Để có thể giải quyết được vấn đề này, kết quả của quá trình sản xuất phải được đặt trong mối quan hệ so sánh với chi phí và nguồn lực khác Trong điều kiện giới hạn nguồn lực, phải tạo ra kết quả sản xuất cao, tạo ra được nhiều sản phẩm hàng hóa cho xã hội Chính điều này thể hiện trình độ sản xuất trong nền kinh tế quốc dân mà theo Các Mác thì đây là cơ sở để phân biệt trình độ văn minh của nền sản xuất này
so với nền sản xuất khác HQKT chính là yếu tố thể hiện được điều này
Phân biệt HQKT và các chỉ tiêu đo lường HQKT: HQKT là một phạm trù kinh
tế phản ánh chất lượng tổng hợp của một quá trình sản xuất kinh doanh, bao gồm hai mặt định tính và định lượng còn các chỉ tiêu đo lường HQKT chỉ phản ánh từng mặt các quan hệ định lượng của HQKT Mặt khác, các chỉ tiêu đo lường HQKT là
cụ thể, còn HQKT vừa là phạm trù trìu tượng vừa là phạm trù cụ thể Vì HQKT phản ánh trình độ năng lực sản xuất kinh doanh của tổ chức sản xuất hoặc của nền kinh tế quốc dân; các yếu tố cấu thành HQKT là kết quả sản xuất và nguồn lực cho sản xuất mang các đặc trưng gắn liền với quan hệ sản xuất của xã hội, quan hệ pháp luật từng quốc gia và các quan hệ khác của hạ tầng cơ sở cũng như thượng tầng kiến trúc nên HQKT phản ánh toàn diện sự phát triển của tổ chức sản xuất, của nền sản xuất xã hội Ngoài ra, HQKT còn thể hiện trình độ sản xuất, trình độ quản lý kinh doanh, trình độ sử dụng các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất để đạt được kết quả cao ở đầu ra với chi phí thấp nhất HQKT còn là một phạm trù cụ thể vì nó có thể đo lường được thông qua mối quan hệ bằng lượng giữa kết quả sản xuất với chi
Trang 3333
phí bỏ ra Trong lúc đó không có một chỉ tiêu tổng hợp nào có thể phản ánh được đầy đủ các khía cạnh khác nhau của HQKT, mỗi chỉ tiêu chỉ phản ánh một khía cạnh nào đó của HQKT [2]
Từ các phân tích trên có thể khẳng định việc nâng cao HQKT là nâng cao các chỉ tiêu đo lường và mức độ đạt được các mục tiêu định tính theo hướng tích cực
1.3.1.2 Các quan điểm về HQKT
Qua nghiên cứu tài liệu trong nước và thế giới, chúng tôi nhận thấy có 2 quan điểm về HQKT như sau:
- Quan điểm truyền thống: Cho rằng HQKT là giá trị còn lại của kết quả sản
xuất kinh doanh sau khi đã trừ chi phí Hiệu quả kinh tế được đo bằng lãi Nhiều tác giả cho rằng, HQKT được xem như là tỷ lệ giữa kết quả thu được với chi phí bỏ ra, hay ngược lại là chi phí trên một đơn vị sản phẩm hay giá trị sản phẩm Những chỉ tiêu hiệu quả này thường là mức sinh lời của đồng vốn được tính toán khi kết thúc một quá trình sản xuất kinh doanh [31]
Đánh giá quan điểm truyền thống về HQKT cho thấy chưa thật toàn diện khi
xem xét ở nhiều phương diện khác nhau Thứ nhất, chỉ xem xét HQKT đối với quá
trình sản xuất kinh doanh trong trạng thái tĩnh và xem xét sau khi đã đầu tư Trong khi đó, HQKT lại là một vấn đề rất quan trọng không những cho phép chúng ta biết được kết quả đầu tư mà còn giúp chúng ta xem xét trước khi ra quyết định có nên đầu tư hay không và nên đầu tư bao nhiêu, đến mức độ nào Như vậy, xét trên
phương diện này, quan điểm truyền thống chưa đáp ứng được đầy đủ Thứ hai, quan
điểm truyền thống không tính yếu tố thời gian khi tính toán thu và chi cho một hoạt động sản xuất kinh doanh Xét theo phương diện này, thu và chi trong tính toán
HQKT là chưa đầy đủ và chính xác Thứ ba, HQKT chỉ bao gồm hai phạm trù cơ
bản là thu và chi Hai phạm trù này chủ yếu liên quan đến yếu tố tài chính đơn thuần như chi phí về vốn, lao động, thu về sản phẩm và giá cả Trong khi đó, các hoạt động đầu tư và phát triển lại có những tác động không chỉ đơn thuần về mặt kinh tế
mà con trên cả các phương diện khác nữa Mặt khác, có những phần thu lợi hoặc những khoản chi phí mà lúc đầu khó hoặc không lượng hóa được nhưng lại đáng kể thì lại không được phản ánh ở cách tính theo quan điểm truyền thống này [31]
Trang 3434
- Quan điểm hiện đại: Quan điểm này giải quyết những hạn chế của quan điểm
truyền thống, thể hiện khi tính toán HQKT phải xem xét vào tổ hợp các yếu tố đầu vào, đầu ra và yếu tố thời gian, cụ thể như sau:
+ Trạng thái động của mối quan hệ giữa đầu vào và đầu ra Về mối quan hệ này, cần phân biệt rõ ba phạm trù là hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả phân phối các nguồn lực và HQKT, cụ thể:
Hiệu quả kỹ thuật: Là số lượng sản phẩm có thể đạt được trên một đơn vị chi
phí đầu vào hay nguồn lực sử dụng vào sản xuất trong những điều kiện cụ thể về kỹ thuật hay công nghệ áp dụng vào SXNN Như vậy hiệu quả kỹ thuật liên quan đến phương diện vật chất của sản xuất, nó chỉ ra một đơn vị nguồn lực dùng vào sản xuất đem lại thêm bao nhiêu đơn vị sản phẩm
Hiệu quả phân phối (hiệu quả giá): Là chỉ tiêu hiệu quả trong đó các yếu tố
giá sản phẩm và giá đầu vào được tính để phản ánh giá trị sản phẩm thu thêm trên một đồng chi phí thêm về đầu vào Khi nắm được giá của các yếu tố đầu vào, đầu
ra, người ta sẽ sử dụng các yếu tố đầu vào theo một tỷ lệ nhất định để đạt được lợi nhuận tối đa Thực chất của hiệu quả phân phối, chính là hiệu quả kỹ thuật có tính đến giá của các yếu tố đầu vào và đầu ra, hay chính là hiệu quả về giá
Hiệu quả kinh tế: Là việc phân bổ có hiệu quả các nguồn lực nhằm đem lại
thặng dư cho người sản xuất và tiêu dùng Điều kiện cho việc phân bổ HQKT được
thể hiện ở ba điểm: (i) giá trị của một loại hàng hoá được sản xuất bởi một cá nhân phải bằng với giá chuyển một loại hàng hoá này sang một loại hàng hoá khác, (ii)
giá trị tiêu thụ của các yếu tố trực tiếp phải bằng với chi phí của việc chuyển đổi các
yếu tố đầu vào thành hàng hoá, (iii) các giá trị được xác định bởi người tiêu dùng
các yếu tố đầu vào và đầu ra phải bằng với các sản phẩm cận biên [101]
+ Yếu tố thời gian: Các nhà kinh tế đương đại coi thời gian là một yếu tố trong tính toán hiệu quả; cùng đầu tư một lượng vốn như nhau và cùng có tổng doanh thu bằng nhau nhưng có thể có hiệu quả khác nhau trong những thời điểm khác nhau Trên cơ sở phân tích các quan điểm về HQKT tác giả nhận thức được đầy đủ những ưu điểm và hạn chế nhằm xem xét kết hợp cả hai quan điểm để nghiên cứu tính toán HQKT trong sản xuất kinh doanh CSTĐ ở tỉnh Quảng Bình
Trang 3535
1.3.1.3 Nội dung và bản chất của HQKT
Dù xét HQKT theo quan điểm truyền thống hay hiện đại thì đều liên quan đến các yếu tố tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh Vì vậy, nội dung và bản chất HQKT được thể hiện như sau:
Về nội dung bao gồm: Xác định các yếu tố đầu vào là chi phí trung gian, chi
phí sản xuất, chi phí lao động và dịch vụ, chi phí vốn đầu tư và đất đai, ; xác định các yếu tố đầu ra (mục tiêu đạt được), là các mục tiêu đạt được của từng hộ gia đình, từng cơ sở sản xuất Mục tiêu này phải phù hợp với mục tiêu chung của nền kinh tế quốc dân, hàng hóa sản xuất ra phải trao đổi được trên thị trường, các kết quả đạt được là khối lượng sản phẩm, giá trị sản xuất, giá trị gia tăng và lợi nhuận
Về bản chất: HQKT xét về mặt định lượng là xem xét, so sánh kết quả thu
được và chi phí bỏ ra, người ta chỉ thu được HQKT khi kết quả thu được lớn hơn chi phí bỏ ra, chênh lệch này càng lớn thì HQKT càng cao và ngược lại; xét về mặt định tính, HQKT cao là phản ánh nỗ lực của từng khâu, của mỗi cấp trong hệ thống sản xuất phản ánh trình độ năng lực quản lý sản xuất kinh doanh Sự gắn bó của việc giải quyết những yêu cầu và mục tiêu kinh tế với những yêu cầu và mục tiêu chính trị xã hội Hai mặt định tính và định lượng là cặp phạm trù của HQKT có quan hệ mật thiết với nhau [18]
1.3.1.4 Chỉ tiêu HQKT
Chỉ tiêu xác định HQKT bắt nguồn từ bản chất HQKT, là mối tương quan so sánh giữa kết quả đạt được với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó, hay là mối quan hệ giữa các yếu tố đầu ra và đầu vào Mối tương quan đó cần so sánh cả về giá trị tuyệt đối và tương đối giữa hai đại lượng Các chỉ tiêu hiệu quả biểu hiện như sau:
Công thức 1: H = Q - C
Trong đó H: HQKT
Q: Kết quả thu được C: Chi phí bỏ ra Chỉ tiêu này càng lớn hiệu quả càng cao nhưng chưa tính đến quy mô sản xuất lớn hay nhỏ nên không so sánh được HQKT của các đơn vị sản xuất có quy mô
Trang 3636
khác nhau Hơn nữa chỉ tiêu này chỉ cho biết quy mô của hiệu quả chứ không chỉ rõ được mức độ HQKT, nên chưa giúp cho nhà sản xuất đưa ra những tác động cụ thể đến các yếu tố đầu vào để giảm chi phí nguồn lực, nâng cao HQKT
Công thức 2: H = Q/C hoặc ngược lại H = C/Q
Khi so sánh hiệu quả thì việc sử dụng số tương đối là cần thiết vì nó nói lên mặt chất lượng của hiện tượng Cách tính này có ưu điểm là phản ánh được mức độ
sử dụng các nguồn lực, xem xét được một đơn vị nguồn lực mang lại kết quả là bao nhiêu Vì vậy, nó giúp cho việc đánh giá HQKT của các đơn vị sản xuất một cách rõ nét Tuy nhiên, cách tính này vẫn có nhược điểm là chưa thể hiện được quy mô HQKT vì thực tế, quy mô khác nhau nhưng lại có hiệu suất sử dụng vốn như nhau Trong thực tế, khi đánh giá HQKT người ta thường kết hợp giữa công thức 1
và công thức 2 để chúng bổ sung cho nhau, qua đó sẽ đánh giá được HQKT một cách sâu sắc và toàn diện
Công thức 3: H = ∆Q - ∆C
Trong đó H: HQKT tăng thêm
∆Q: Kết quả tăng thêm
∆C: Chi phí tăng thêm
Chỉ tiêu này càng lớn thì hiệu quả càng cao Công thức này thể hiện rõ mức độ hiệu quả của đầu tư thêm và nó được dùng kết hợp với công thức 4 để phản ánh toàn diện HQKT hơn
Công thức 4: H = ∆Q/∆C Hoặc ngược lại H =∆C/∆Q
Công thức này thể hiện rõ HQKT của việc đầu tư thêm hay tăng thêm chi phí, nó thường được sử dụng để xác định HQKT theo chiều sâu hoặc của việc áp dụng tiến bộ KHKT Tỷ suất này giúp cho các nhà sản xuất xác định được điểm tối đa hóa lợi nhuận để đưa ra những quyết định sản xuất tối ưu nhất Tuy nhiên, chỉ tiêu này chưa phân tích được tác động, ảnh hưởng của các yếu tố tự nhiên như đất đai, khí hậu Trong thực tế sản xuất, khi đánh giá HQKT ta thường kết hợp các công thức lại với nhau để chúng bổ sung cho nhau
Như vậy, việc đánh giá HQKT sẽ chính xác và toàn diện hơn tùy thuộc vào từng trường hợp mà ta lựa chọn chỉ tiêu cho phù hợp với điều kiện của sản xuất
Trang 3737
1.3.2 Hiệu quả kinh tế trong sản xuất kinh doanh nông nghiệp và CSTĐ
1.3.2.1 Hiệu quả kinh tế nông nghiệp
Như đã thảo luận, HQKT là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (nhân lực, tài lực, vật lực và tiền vốn) để đạt được mục tiêu xác định Đối với từng ngành công nghiệp đặc thù thì phạm trù HQKT sẽ được bàn trong những khía cạnh cụ thể khác nhau Trong SXNN, nghiên cứu về HQKT hết sức quan trọng vì ngành nông nghiệp đã và đang cung cấp nguồn lực sản xuất cho các ngành và sự tăng trưởng, phát triển của một quốc gia phụ thuộc vào HQKT trong lĩnh vực nông nghiệp nên đã có nhiều nghiên cứu về vấn đề này Theo Alexander và các cộng sự [72] các công trình nghiên cứu về HQKT trong SXNN đã sử dụng nhiều phương pháp khác nhau, kết quả nghiên cứu được sử dụng để xây dựng chính
sách nông nghiệp Các công trình nghiên cứu dựa trên 3 giai đoạn chính, giai đoạn
1 từ năm 1950 đến năm 1980, giai đoạn 2 nghiên cứu trong những năm 1990 và giai đoạn 3 từ những năm 2000 và xa hơn nữa Trước những năm 1990, mục tiêu
chính của nghiên cứu hiệu quả nông nghiệp là xác định hiệu quả kỹ thuật trong SXNN Hầu hết các nghiên cứu đã không điều tra mức độ hiệu quả phân bổ như nó yêu cầu đầy đủ và chất lượng dữ liệu về giá đầu vào mà trong hầu hết các phần gặp nhiều khó khăn để có được Trong những năm 1990, hầu hết các nghiên cứu tập trung vào việc xác định hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả phân bổ và hiệu quả quy mô giữa các các trang trại có quy mô khác nhau và các phương pháp khác nhau có thể mang lại kết quả khác nhau Trong những năm 2000, nghiên cứu hiệu quả nông nghiệp chủ yếu tập trung vào việc sử dụng các phương pháp khác nhau để xác định hiệu quả của các hình thức khác nhau trong SXNN (so với các trang trại thông thường) khi xác định ảnh hưởng của các chính sách của chính phủ về nông nghiệp hiệu quả Các nghiên cứu cũng tìm hiểu đóng góp tương đối của tăng trưởng đầu vào, phương thức quản lý, và các yếu tố khác để SXNN có hiệu quả
Theo Hollas và Stansell (1988), hiệu quả được định nghĩa theo ba hình thức; kinh tế, giá cả (phân bổ) và kỹ thuật HQKT có thể thu được từ sự tác động chung của giá cả và hiệu quả kỹ thuật Các nghiên cứu trước đây về HQKT rất phong phú với các nghiên cứu thực nghiệm Các nghiên cứu phổ biến nhất là về hiệu quả kỹ
Trang 3838
thuật là xác định khả năng của một doanh nghiệp để có thể đạt được sản lượng tối
đa từ một tập hợp các yếu tố đầu vào… Tuy nhiên, theo Abdulai và Huffman (2000) một phương pháp sản xuất là không hiệu quả khi không kết hợp hiệu quả các nguồn lực, các yếu tố đầu vào khác nhau và giá cả đầu ra giữa các doanh nghiệp HQKT có thể được nghiên cứu trực tiếp như khả năng của người nông dân để đạt được lợi nhuận tối đa tiềm năng bởi các yếu tố đầu vào và giá cả cho sẵn
1.3.2.2 Hiệu quả kinh tế sản xuất kinh doanh CSTĐ
- Khái niệm và ý nghĩa đánh giá HQKT sản xuất kinh doanh CSTĐ
Qua kết quả phân tích tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về HQKT trong ngành công nghiệp cao su cho thấy, các tác giả không chỉ đề cập về lý luận
mà còn đánh giá trên nhiều phương diện khác nhau Sarba Priya Ray [104] đánh giá hiệu quả về kỹ thuật như kỹ thuật chăm sóc, kỹ thuật cạo mủ và hiệu quả về phân
bổ các nguồn tài nguyên; Laura Rantala [88] đã đánh giá theo các mô hình sản xuất khác nhau như mô hình độc canh và mô hình nông lâm kết hợp; Parinya Cherdchom
và các cộng sự [98] đánh giá thông qua tính toán thu nhập ròng của nông trại và phân tích tổng lợi nhuận, thu nhập cho lao động gia đình, tỷ lệ hoàn chi phí cố định, chi phí biến đổi và thẩm định đầu tư; Cherdchom và các cộng sự [79] đánh giá hệ thống canh tác cao su xen canh và đưa ra lựa chọn các hệ thống canh tác cao su kết hợp Như vậy, đã có nhiều công trình nghiên cứu về HQKT trong sản xuất nông
nghiệp và cao su nhưng chưa có tài liệu nào đưa ra khái niệm rõ ràng về “HQKT trong sản xuất kinh doanh CSTĐ” Vì vậy, qua nghiên cứu lý luận và thực tiễn luận
án xác định khái niệm HQKT trong sản xuất kinh doanh CSTĐ như sau:
“Hiệu quả kinh tế trong sản xuất kinh doanh CSTĐ là một phạm trù phản ánh mối quan hệ so sánh giữa kết quả kinh tế và chi phí kinh tế mà các hộ trồng cao su bỏ ra để đạt được kết quả đó trên một đơn vị diện tích trong chu kỳ sản xuất kinh doanh cao su”
Từ khái niệm trên vấn đề đặt ra là vì sao cần đánh giá HQKT trong sản xuất kinh doanh CSTĐ Cây cao su là CCN lâu năm có vai trò và ý nghĩa rất lớn về kinh
tế, xã hội, môi trường và an ninh quốc phòng Mô hình CSTĐ là hình thức tổ chức sản xuất quy mô nhỏ, hộ nông dân tự bỏ vốn ra đầu tư hoặc do các tổ chức cho nông
Trang 3939
dân vay vốn đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh Phát triển CSTĐ có vai trò to lớn trong giải quyết việc làm, mang lại thu nhập cao và ổn định cho người lao động ở nông thôn, góp phần thực hiện xoá đói giảm nghèo một cách bền vững; huy động các nguồn lực sẵn có ở các vùng nông thôn, vùng sâu và vùng xa như đất đai, lao động ; góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn theo hướng CNH – HĐH
Như vậy, trong bối cảnh phát triển CSTĐ còn gặp nhiều khó khăn do quy mô nhỏ, phân tán, có vốn đầu tư thấp, đa số nằm ở vùng sâu vùng xa nên khó chuyển giao áp dụng tiến bộ KHKT đồng bộ, công tác thu gom mủ, chất lượng mủ thấp nhưng giá thành lại cao; nhiều hộ nông dân thiếu vốn, thiếu kỹ thuật, có hộ trồng cây giống không rõ nguồn gốc, trồng xen canh không đúng kỹ thuật, khai thác không đúng quy trình; giá thành làm ra chưa gắn với khâu chế biến, tiêu thụ dẫn đến người dân bị tư thương ép giá; gặp nhiều rủi ro do bị tác động nhiều yếu tố như giá
cả biến động theo chiều hướng bất lợi, sự thay đổi thất thường về thời tiết, biến đổi khí hậu, sự gia tăng thiên tai, dịch bệnh làm tăng chi phí, giảm hiệu quả sản xuất và khả năng cạnh tranh Việc nghiên cứu đánh giá HQKT có ý nghĩa quan trọng và quyết định giúp cho mỗi địa phương, mỗi quốc gia có thể hoạch định được chính sách phù hợp, hiệu quả; giúp cho các hộ sản xuất kinh doanh CSTĐ có các chiến lược và giải pháp cụ thể giải quyết những tồn tại, khó khăn; lựa chọn được những phương án sản xuất kinh doanh mang lại thu nhập cao, ổn định, tăng khả năng ứng phó với biến đổi khí hậu là cơ sở quan trọng để nâng hiệu kinh tế, đảm bảo sự phát triển bền vững
- Các phương pháp sử dụng đánh giá HQKT sản xuất kinh doanh cao su Phương pháp điều tra mẫu: Là phương pháp điều tra đánh giá sản xuất cao su
về các khía cạnh như tuổi thọ kinh tế của cây, xu hướng trong phương pháp mở rộng cao su, tình hình phát triển cao su, các mô hình canh tác cao su khác nhau Bên cạnh đó, sử dụng phương pháp phỏng vấn và quan sát thực tế, kết hợp với dữ liệu không gian nhằm dự đoán khả năng mở rộng cao su dựa vào tài nguyên thiên nhiên
và khả năng tiếp cận dựa vào hệ thống cơ sở hạ tầng
Trang 40để tính lợi nhuận có thể thu được, các biện pháp thích hợp về lợi nhuận để đầu tư dài hạn, tức là các giá trị hiện tại của lợi ích (doanh thu) nhiều hơn giá trị hiện tại của chi phí đầu vào và các yếu tố sản xuất trong nước Về mặt toán học được định nghĩa là:
Trong đó, Bt là lợi ích tại năm t, chi phí Ct tại năm t, t là thời gian biểu thị năm
và i là lãi suất chiết khấu Một khoản đầu tư được đánh giá là có lợi nhuận nếu NPV lớn hơn 0 và từ đó sử dụng phương pháp phân tích độ nhạy trong nghiên cứu Việc
sử dụng ma trận phân tích chính sách (PAM) nắm bắt được những tác động tiềm năng về giá cả và năng suất do PAM là mô hình tĩnh Sử dụng phương pháp phân tích độ nhạy nhằm xem xét các yếu tố như giá, lãi suất tăng hay giảm ảnh hưởng như thế nào đến khả năng tồn tại và phát triển của mô hình CSTĐ Bên cạnh đó, đánh giá HQKT thông qua việc tính toán thu nhập thuần cho phép đo lường tương đối hiệu quả, công suất và năng suất CSTĐ và thẩm định đầu tư Trong đó, thu nhập thuần được tính bằng tổng sản lượng trên mỗi ha cao su và trừ đi tổng chi phí biến