Nghiên cứu đặc điểm của hoạt động chào bán chứng khoán riêng lẻ khôngchỉ phân biệt các phương thức phát hành mà còn có ý nghĩa xác định phạm vi thịtrường cho các chứng khoán, công tác qu
Trang 1Lời mở đầu
Thị trường chứng khoán Việt Nam ra đời và chính thức đi vào hoạt động từngày 28/7/2000 là sự kiện quan trọng trong quá trình đổi mới nền kinh tế và hộinhập quốc tế của Việt Nam Thị trường chứng khoán là công cụ hiệu quả huyđộng và phân bổ vốn trung, dài hạn cho nền kinh tế Thông qua hoạt động chàobán chứng khoán các doanh nghiệp sẽ thu hút, tạo lập vốn để mở rộng sản xuấtkinh doanh Trong những năm qua, hoạt động chào bán chứng khoán riêng lẻ đãtrở thành giải pháp hiệu quả giúp doanh nghiệp giải quyết nhu cầu về vốn củamình Tham gia chào bán chứng khoán riêng lẻ còn tạo điều kiện cho các doanhnghiệp đổi mới hình thức quản lý, quản trị doanh nghiệp, nâng cao năng lựccạnh tranh Để bảo đảm hoạt động chào bán chứng khoán riêng lẻ của các doanhnghiệp diễn ra đúng pháp luật, thị trường chứng khoán vận hành an toàn, nghiêncứu pháp luật về hoạt động chào bán chứng khoán riêng lẻ là việc làm cần thiết
1 Mục đích nghiên cứu:
- Khóa luận tiến hành nghiên cứu một số vấn đề lý luận cơ bản về chào bánchứng khoán riêng lẻ và pháp luật về chào bán chứng khoán riêng lẻ;
- Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam trong những năm qua
về chào bán chứng khoán riêng lẻ, những thành tựu và hạn chế cần khắc phục;
- Đề xuất một số phương hướng hoàn thiện pháp luật về hoạt động chàobán chứng khoán riêng lẻ của doanh nghiệp Việt Nam hiện nay
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Hoạt động chào bán chứng khoán thu hút sự tham gia của nhiều chủ thể vàđược điều chỉnh bởi nhiều văn bản có hiệu lực pháp lý khác nhau Đề tài chỉ tậptrung nghiên cứu hoạt động chào bán chứng khoán riêng lẻ của doanh nghiệpViệt Nam, bao gồm hoạt động chào bán cổ phiếu và trái phiếu riêng lẻ của cácdoanh nghiệp Hoạt động chào bán chứng khoán ra công chúng, chào bán chứngchỉ quỹ đầu tư, hoạt động chào bán trái phiếu Chính phủ, hoạt động chào bán
Trang 2chứng khoán của những doanh nghiệp được Chính phủ bảo lãnh không thuộcphạm vi nghiên cứu của đề tài.
3 Phương pháp nghiên cứu:
Khóa luận đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu của chủ nghĩa duyvật biện chứng, phương pháp logic, so sánh, phân tích, tổng hợp, thống kê
4 ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài:
- Khóa luận góp phần làm rõ hơn một số vấn đề lý luận chào bán chứngkhoán riêng lẻ và pháp luật về chào bán chứng khoán riêng lẻ, vai trò của hoạtđộng này đối với nền kinh tế
- Các giải pháp hoàn thiện pháp luật về chào bán chứng khoán riêng lẻđược rút ra từ việc nghiên cứu, đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam tronghoàn cảnh đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế
5 Kết cấu của đề tài:
Ngoài phần Lời mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung đề tài gồm
Trang 3Bảng chữ viết tắt
CPH: Cổ phần hoá
DNNN: Doanh nghiệp nhà nước
NHTM: Ngân hàng thương mại
NHTMCP: Ngân hàng thương mại cổ phần
TTCK: Thị trường chứng khoán
TTGDCK: Trung tâm giao dịch chứng khoán
Trang 4Chương 1 Những vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật chào bán chứng khoán riêng lẻ
1.1 Khái niệm chứng khoán và chào bán chứng khoán riêng lẻ.
1.1.1 Chứng khoán.
* Định nghĩa:
Nền kinh tế hiện đại tồn tại nhiều loại thị trường, mỗi thị trường đều cóhàng hoá và đối tượng giao dịch khác nhau Thị trường tiền tệ là nơi mua bán,trao đổi các công cụ tài chính ngắn hạn như tín phiếu kho bạc, thương phiếu, cácchứng chỉ tiền gửi có thể chuyển nhượng được Thị trường ngoại hối là nơidiễn ra các giao dịch, mua bán, chuyển nhượng, vay và cho vay bằng ngoại tệ.Trên thị trường chứng khoán (TTCK), đối tượng giao dịch chủ yếu của thịtrường này là các chứng khoán, bao gồm cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ đầu
tư và các chứng khoán phái sinh Có nhiều định nghĩa khác nhau về chứngkhoán, tuỳ theo quan điểm của mỗi chủ thể và pháp luật mỗi quốc gia
Theo nghĩa nguyên thuỷ nhất, chứng khoán là những chứng thư, chứng từ thay thế tiền bạc chi tiêu trong các hành trình nhiều ngày trên biển [9, tr.270]
Định nghĩa này chỉ phù hợp với giai đoạn đầu khi TTCK mới hình thành, sốlượng hàng hoá còn hạn chế
Ngày nay, TTCK đã phát triển về quy mô và chất lượng, khái niệm vềchứng khoán có những thay đổi nhất định Một cách khái quát nhất, chứng
khoán được hiểu là những chứng thư dưới dạng vật chất hoặc dữ liệu điện tử
(bút toán ghi sổ) xác nhận quyền, lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu chứng khoánđối với chủ thể phát hành và có thể mua bán, trao đổi
Một số nhà kinh tế học cho rằng, chứng khoán là mọi sản phẩm tài chính
có thể chuyển nhượng được Hiểu theo cách này, khái niệm chứng khoán không
chỉ có cổ phiếu, trái phiếu và các chứng khoán phái sinh mà bao gồm các công
cụ trên thị trường tiền tệ như tín phiếu kho bạc, kỳ phiếu ngân hàng, các loại
Trang 5thương phiếu, hối phiếu, lệnh phiếu Nếu hiểu như vậy chúng ta sẽ khó khăntrong việc xác định cấu trúc của thị trường tài chính [9, tr.270]
Chứng khoán là một từ dùng để chỉ một chứng từ hợp pháp xác nhận quyềnđược hưởng một số quyền lợi có thể có trong tương lai một số điều kiện nhấtđịnh [6, tr.11]
ở Việt Nam, theo khoản 1 Điều 6 Luật chứng khoán 2006: “Chứng khoán
là bằng chứng xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu đối với tài sảnhoặc phần vốn của tổ chức phát hành Chứng khoán được thể hiện dưới hìnhthức chứng chỉ, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử, bao gồm các loại sau đây:a) Cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ;
b) Quyền mua cổ phần, chứng quyền, quyền chọn mua, quyền chọn bán,hợp đồng tương lai, nhóm chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán.”
Khái niệm về chứng khoán có thể được xây dựng theo hai phương pháp:đưa ra các tiêu chí để xác định một loại sản phẩm tài chính nào đó được coi làchứng khoán hoặc liệt kê tất cả những đối tượng được coi là chứng khoán Mỗiphương pháp đều có mặt tích cực và hạn chế Các quốc gia tuỳ theo mục đíchxây dựng và phát triển TTCK có thể sử dụng các phương pháp khác nhau Điều
2 Luật chứng khoán Hoa Kỳ năm 1933 (đã sửa đổi) sử dụng phương pháp liệt kêtất cả hơn 30 công cụ được coi là chứng khoán Điều 4 Luật chứng khoán vàgiao dịch chứng khoán Thái Lan liệt kê chi tiết 10 loại chứng khoán khác nhau.Luật chứng khoán Trung Quốc kết hợp cả hai phương pháp trên.[5, tr.210] ViệtNam áp dụng cả hai phương pháp, vừa liệt kê 09 loại chứng khoán vừa đưa ramột số tiêu chí chung như nội dung, hình thức tồn tại của chứng khoán
Luật Chứng khoán 2006 đã thừa nhận hình thức thể hiện của chứng khoándưới dạng dữ liệu điện tử và quy định cụ thể bằng cách liệt kê các chứng khoán
mà Nghị định 144/2003/NĐ-CP ngày 28/11/2003 của Chính phủ về chứng
khoán và TTCK chỉ quy định “các loại chứng khoán khác” Quy định như vậy
phù hợp với tốc độ phát triển của TTCK Việt Nam và thông lệ quốc tế Việc liệt
Trang 6kê đầy đủ các loại chứng khoán tạo thuận lợi cho công tác quản lý, hoạt động ápdụng pháp luật diễn ra thuận lợi hơn.
* Đặc điểm:
Chứng khoán là hàng hoá đặc biệt chỉ xuất hiện và tồn tại trên TTCK
Chứng khoán có những đặc điểm phân biệt với hàng hoá thông thường.
Thứ nhất, chứng khoán có tính sinh lợi: thể hiện ở lợi tức và chênh lệch giá
chứng khoán Khả năng sinh lợi tạo nên sức hấp dẫn của chứng khoán, lôi cuốnnhà đầu tư tham gia thị trường Họ sẵn sàng trả tiền để mua chứng khoán vớimong muốn chứng khoán đó sẽ mang về một khoản lợi nhuận trong tương lai,
có thể là khoản chênh lệch về thị giá khi mua bán chứng khoán, có thể là lợi tức
do việc sở hữu chứng khoán
Thứ hai, chứng khoán có tính thanh khoản: đây là thuộc tính quan trọng thể
hiện ở khả năng chuyển hoá thành tiền mặt dễ dàng của chứng khoán Nhờ khảnăng thanh khoản, chứng khoán có thể chuyển nhượng, trao đổi, mua bán trênthị trường và hạn chế các rủi ro Mỗi loại chứng khoán có tính thanh khoản khácnhau, phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: uy tín của chủ thể phát hành, nhu cầu thịtrường
Thứ ba, chứng khoán có tính rủi ro: ngoài những thuộc tính hấp dẫn về tính
sinh lợi, tính thanh khoản, chứng khoán ẩn chứa nhiều rủi ro Chứng khoángiống như một con dao hai lưỡi, có thể đem lại khoản lợi nhuận lớn nhưng cóthể gây thiệt hại đáng kể cho nhà đầu tư Họ có thể gặp nhiều rủi ro về thanhtoán, tính thanh khoản, rủi ro về lạm phát, rủi ro về lãi suất, rủi ro về nhu cầu thịtrường Khi quyết định đầu tư chứng khoán nhà đầu tư cần lưu ý thuộc tínhnày
Ngoài những đặc điểm trên, chứng khoán còn có tính “tư bản giả”, thể hiện
ở sự không đồng nhất giữa giá thanh toán và mệnh giá của chứng khoán Chứngkhoán còn có tính giá trị Là bằng chứng xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp củangười sở hữu đối với phần vốn và tài sản của chủ thể phát hành nên chứngkhoán luôn có giá trị nhất định
Trang 7Các đặc điểm của chứng khoán luôn có mối quan hệ chặt chẽ, tác động lẫnnhau: tính thanh khoản luôn đi cùng tính sinh lời, tính giá trị và tính rủi ro Do
đó, cần quan tâm đầy đủ các thuộc tính của chứng khoán để đưa ra những quyếtđịnh đầu tư đúng đắn
- Căn cứ vào quyền của nhà đầu tư đối với chủ thể phát hành, chứng khoán
có thể chia thành: chứng khoán nợ, chứng khoán vốn, chứng khoán phái sinh.+ Chứng khoán vốn là loại chứng khoán xác nhận quyền sở hữu và lợi íchhợp pháp của người sở hữu chứng khoán đối với tài sản hoặc phần vốn góp của
tổ chức phát hành Chứng khoán vốn có hai dạng chủ yếu là cổ phiếu, chứng chỉquỹ đầu tư
+ Chứng khoán nợ: là loại chứng khoán xác nhận một khoản nợ của tổ chứcphát hành đối với người sở hữu chứng khoán, trong đó cam kết sẽ thanh toán sốtiền gốc và lãi trong một thời gian nhất định Chứng khoán nợ chủ yếu là cácloại trái phiếu (trái phiếu Chính phủ, trái phiếu Chính quyền địa phương, tráiphiếu doanh nghiệp )
+ Chứng khoán phái sinh là loại chứng khoán có nguồn gốc từ một loạichứng khoán nào đó Loại chứng khoán này phát hành với mục đích dự phòngrủi ro hay tăng khả năng lợi nhuận cho nhà đầu tư khi mua bán chứng khoán
- Căn cứ vào thời hạn, chứng khoán có thể chia thành: chứng khoán ngắnhạn, chủ yếu là các giấy tờ có giá ngắn hạn (thường là dưới 1 năm) như tín phiếukho bạc, kỳ phiếu ngân hàng Chứng khoán dài hạn (có thể từ 5-10 năm hoặctrên 10 năm) như cổ phiếu, trái phiếu
Trang 8- Căn cứ vào lợi tức, có thể chia thành chứng khoán có lợi tức ổn định vàchứng khoán có lợi tức không ổn định Chứng khoán có lợi tức ổn định là nhữngchứng khoán tạo ra lợi tức ổn định theo mệnh giá cho người sở hữu chứngkhoán, thường là cổ phiếu ưu đãi và trái phiếu Đối với chứng khoán có lợi tứckhông ổn định, người sở hữu chứng khoán hưởng lợi tức theo kết quả kinhdoanh của doanh nghiệp, cổ phiếu thường là một chứng khoán loại này
- Căn cứ vào khả năng chuyển đổi, chứng khoán có thể chia thành: chứngkhoán có khả năng chuyển đổi và chứng khoán không có khả năng chuyển đổi.Chứng khoán có khả năng chuyển đổi là những chứng khoán cho phép ngườinắm giữ nó có thể chuyển sang một loại chứng khoán khác theo những điều kiện
và tỷ lệ nhất định Cổ phiếu ưu đãi, trái phiếu chuyển đổi có thể chuyển đổithành cổ phiếu thường Chứng khoán không có khả năng chuyển đổi không cónhững khả năng như vậy
Việc phân loại chứng khoán giúp chúng ta hiểu hơn về các loại chứngkhoán, quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư khi sở hữu các chứng khoán khácnhau, quản lý nhà nước đối với hoạt động chào bán và giao dịch chứng khoán
1.1.2 Chào bán chứng khoán riêng lẻ.
* Định nghĩa:
Chào bán chứng khoán là việc đưa thêm chủng loại chứng khoán mới vàothị trường, bao gồm tất cả các hoạt động như xin phép, mời chào, phát hành,phân phối chứng khoán với mục đích cuối cùng là đưa chứng khoán ra thịtrường, tạo tính thanh khoản cho chứng khoán Hoạt động này chỉ diễn ra trênthị trường sơ cấp - nơi chứng khoán lần đầu tiên được phát hành
Các chứng khoán thường được chào bán theo hai phương thức, đó là chàobán riêng lẻ và chào bán ra công chúng Chào bán chứng khoán ra công chúng làviệc bán chứng khoán cho một số lượng lớn công chúng đầu tư, trong đó một sốlượng chứng khoán phải được phân phối cho các nhà đầu tư nhỏ, khối lượngphát hành phải đạt một tỷ lệ nhất định Các chứng khoán chào bán ra côngchúng được niêm yết và giao dịch trên thị trường tập trung Các công ty chào
Trang 9bán chứng khoán ra công chúng có lợi thế trong việc quảng bá hình ảnh, tên tuổi
và mặc nhiên được coi là có tình hình tài chính lành mạnh, hoạt động kinhdoanh ổn định Đây là lợi thế lớn cho công ty khi ký kết hợp đồng, tìm kiếm bạnhàng
Chào bán chứng khoán riêng lẻ là việc chào bán chứng khoán trong phạm
vi một số nhà đầu tư nhất định, thông thường là những nhà đầu tư có tổ chức vớinhững điều kiện hạn chế, không tiến hành chào bán rộng rãi ra công chúng.Khái niệm chào bán chứng khoán riêng lẻ chưa được đề cập chính thứctrong hệ thống pháp luật về chứng khoán và TTCK của Việt Nam Khoản 12Điều 6 Luật chứng khoán 2006 chỉ đề cập đến khái niệm chào bán ra côngchúng Một đợt chào bán được coi là chào bán chứng khoán ra công chúng nếuviệc chào bán chứng khoán thông qua các phương tiện thông tin đại chúng (kể
cả qua Internet) hoặc chào bán cho từ 100 nhà đầu tư trở lên, không kể nhà đầu
tư chuyên nghiệp; chào bán cho một số lượng nhà đầu tư không hạn chế
Do vậy, có thể hiểu khái niệm về hoạt động chào bán chứng khoán riêng lẻ
là chào bán chứng khoán không thông qua các phương tiện thông tin đại chúnghay chào bán cho dưới 100 nhà đầu tư không? Dù hiểu theo cách nào thì phạm
vi chào bán, số vốn huy động và tính đại chúng của hoạt động chào bán chứngkhoán riêng lẻ thường hẹp hơn so với chào bán chứng khoán ra công chúng
* Đặc điểm:
Thứ nhất, chào bán chứng khoán riêng lẻ chỉ hướng tới một số lượng nhà
đầu tư hạn chế, thông thường là những nhà đầu tư có tổ chức hay những nhà đầu
tư cá nhân có tiềm lực kinh tế hoặc những người có mối quan hệ thân thiết vớichủ thể phát hành Pháp luật các nước quy định khác nhau về số lượng nhà đầu
tư tham gia tối thiểu được chào bán trong mỗi đợt phát hành riêng lẻ Tại Mỹ vàNhật Bản nếu phát hành cho dưới 200 nhà đầu tư được coi là chào bán riêng lẻ;tại Hàn Quốc, Thái Lan, Indonexia nếu chào bán cho thấp hơn 50 nhà đầu tư làphát hành riêng lẻ [2, tr.62]
Trang 10Thứ hai, ở các nước theo hệ thống Civil law, hoạt động chào bán chứng
khoán riêng lẻ do Luật chứng khoán và kinh doanh chứng khoán điều chỉnh, cácnước theo hệ thống Common law chủ yếu do Luật công ty điều chỉnh ở ViệtNam, hoạt động này do nhiều văn bản pháp luật khác nhau quy định tuỳ theoloại hình doanh nghiệp và lĩnh vực kinh doanh Đó là Luật doanh nghiệp, Luậtcác tổ chức tín dụng, các Nghị định về cổ phần hoá, phát hành trái phiếu, chuyểnđổi doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thành công ty cổ phần
Thứ ba, hoạt động chào bán chứng khoán riêng lẻ thường gắn với việc
thành lập công ty cổ phần và quá trình chuyển đổi hình thức sở hữu doanhnghiệp Khi thành lập công ty cổ phần các cổ đông sáng lập có thể tiến hànhchào bán cổ phần riêng lẻ góp đủ số vốn điều lệ đã đăng ký Các công ty Nhànước tiến hành cổ phần hoá (CPH) có thể lựa chọn phương thức chào bán chứngkhoán riêng lẻ
Ngoài ra, khi chào bán chứng khoán riêng lẻ công ty có thể thực hiện một
số mục đích khác như duy trì các quan hệ kinh doanh (khách hàng lâu năm, nhàcung cấp, phân phối…) hoặc chào bán cho cán bộ, công nhân, viên chức củacông ty Chi phí chào bán chứng khoán ra công chúng thường cao hơn chi phíchào bán chứng khoán riêng lẻ, có thể lên đến 8-10% so với tổng lượng vốn huyđộng [8, tr.29-30] Công ty có thể chọn phương thức chào bán chứng khoánriêng lẻ với mức chi phí thấp hơn
Nghiên cứu đặc điểm của hoạt động chào bán chứng khoán riêng lẻ khôngchỉ phân biệt các phương thức phát hành mà còn có ý nghĩa xác định phạm vi thịtrường cho các chứng khoán, công tác quản lý thị trường, bảo vệ quyền lợi chonhà đầu tư thực hiện tốt hơn
* Phương thức chào bán chứng khoán riêng lẻ:
Phương thức chào bán chứng khoán là những cách thức thực hiện mốiquan hệ giữa tổ chức phát hành và nhà đầu tư trong suốt quá trình đưa chứngkhoán từ nơi phát hành đến với nhà đầu tư Chứng khoán có thể được chào bántheo các phương thức:
Trang 11- Bán trực tiếp:
Là phương thức tổ chức phát hành thực hiện chào bán chứng khoán trựctiếp cho nhà đầu tư không qua khâu trung gian Đây là phương thức cổ điểnchứng khoán được mua bán như hàng hoá thông thường Tổ chức phát hành thựchiện tất cả các công đoạn của quá trình chào bán như chuẩn bị hồ sơ, thủ tục,đăng ký chào bán, quảng cáo, phân phối chứng khoán Phương thức này đòihỏi tổ chức phát hành phải am hiểu thị trường, có hệ thống phân phối rộng, nhucầu huy động vốn không cấp bách Khi đó chứng khoán sẽ đi thẳng từ nhà pháthành đến tay nhà đầu tư, không có chi phí trung gian
Ưu điểm của phương thức bán trực tiếp là tổ chức phát hành sẽ tối đa đượclợi nhuận, nắm bắt được nhu cầu thị trường Nhưng tổ chức phát hành sẽ gặpkhó khăn trong việc kiểm soát tổng lượng vốn lưu động, thời gian tập trung vốnthường kéo dài nên phương thức này ẩn chứa nhiều rủi ro
- Chào bán chứng khoán thông qua đại lý phát hành:
Đại lý phát hành là phương thức một hoặc nhiều tổ chức đứng ra làm đạidiện phân phối chứng khoán cho tổ chức phát hành theo hợp đồng đại lý trong
đó có cam kết tỷ lệ hoa hồng (phí đại lý phát hành)
Thông thường tổ chức đại lý phát hành là các công ty chứng khoán hay cácđịnh chế tài chính khác theo quy định của pháp luật Với trình độ chuyên môn và
sự am hiểu thị trường, các đại lý phát hành sẽ tạo mạng lưới phân phối rộng, sốlượng chứng khoán bán ra lớn hơn so với bán trực tiếp Nhưng tổ chức pháthành gặp khó khăn trong việc xác định tổng lượng chứng khoán bán ra, phụthuộc vào khách hàng, bị động trong khả năng huy động vốn và chịu phí đại lýphát hành Các đại lý phát hành chịu trách nhiệm phân phối chứng khoán, khôngbảo đảm thành công cho đợt chào bán Phương thức này thường được các doanhnghiệp có uy tín, sản xuất kinh doanh hiệu quả, mạng lưới phân phối hạn chế lựachọn
- Chào bán chứng khoán thông qua đấu giá:
Trang 12Là phương thức các tổ chức trung gian sẽ thực hiện đấu giá đối với sốlượng chứng khoán mà doanh nghiệp sẽ bán ra bên ngoài Nhà đầu tư sẽ thamgia đấu giá bằng cách đăng ký trước, việc trả giá chứng khoán được tiến hành bỏphiếu kín Người tổ chức đấu giá, tổ chức phát hành sẽ ấn định giá tối thiểu vàthực hiện bán chứng khoán theo nguyên tắc ưu tiên về giá Thông qua đấu giá,người mua và người bán sẽ xác định được một mức giá phù hợp, khách quan và
công bằng Giá chứng khoán được hình thành theo hai chiều: người mua cạnh tranh với những người mua khác để mua được với giá thấp nhất, người bán cạnh tranh với những người bán khác để bán được với giá cao nhất [9, tr.222]
Có nhiều phương thức đấu giá, nếu căn cứ vào hình thức đấu giá, có đấugiá trực tiếp, đấu giá gián tiếp, đấu giá tự động Nếu căn cứ vào phương thứcđấu giá, có đấu giá định kỳ và đấu giá liên tục
- Chào bán chứng khoán thông qua đấu thầu:
Đấu thầu chứng khoán là phương thức một hoặc nhiều nhà thầu sẽ muatoàn bộ số chứng khoán dự định phát hành, sau đó phân phối lại trên cơ sở phânchia tỷ lệ phần trăm với tổ chức phát hành
Phương thức này có ưu điểm là xác định tổng lượng vốn lưu động, thờigian huy động vốn ngắn (thường chỉ từ 1- 6 tuần) Tuy nhiên, tổ chức phát hànhphải chịu chi phí trung gian Khoản phí này do tổ chức phát hành thoả thuận với
tổ chức đấu thầu, tổ chức được uỷ quyền Trái phiếu Chính phủ, trái phiếu Chínhquyền địa phương, trái phiếu kho bạc, trái phiếu công trình trung ương, tráiphiếu được Chính phủ bảo lãnh thường chào bán bằng phương thức đấu thầu
- Chào bán chứng khoán thông qua bảo lãnh phát hành:
Bảo lãnh phát hành là phương thức một hoặc nhiều tổ chức bảo lãnh camkết với tổ chức phát hành về việc thực hiện các thủ tục trước khi chào bán, phânphối chứng khoán cho nhà đầu tư, nhận mua chứng khoán để bán lại và mua sốchứng khoán còn lại chưa phân phối hết
Sự tham gia của tổ chức bảo lãnh giúp hoạt động chào bán chứng khoándiễn ra thuận lợi hơn Tổ chức bảo lãnh chuẩn bị hồ sơ, thủ tục cần thiết trước
Trang 13khi chào bán và tiến hành phân phối chứng khoán Tổ chức bảo lãnh có thểthành lập tổ hợp bảo lãnh để phân tán rủi ro trong đợt chào bán.
Có nhiều phương thức bảo lãnh với mức độ cam kết khác nhau được ghi rõtrong hợp đồng bảo lãnh Những doanh nghiệp mới thành lập hoặc quy mô nhỏ
có thể chọn hình thức bảo lãnh với cam kết chắc chắn để đảm bảo thành côngcho đợt chào bán Nếu công ty có nhu cầu một số vốn nhất định cho chiến lượckinh doanh mà không thể sử dụng số vốn ít hơn có thể chọn bảo lãnh theophương thức tất cả hoặc không Những doanh nghiệp phát hành bổ sung thêm cổphiếu, nếu có những cổ đông không muốn mua thêm cổ phiếu của công ty có thể
áp dụng phương thức bảo lãnh dự phòng cho những quyền mua không đượcthực hiện Nếu tổ chức bảo lãnh không bảo đảm khả năng phân phối hết sốchứng khoán có thể thoả thuận với tổ chức phát hành hình thức bảo lãnh với cốgắng cao nhất Mỗi phương thức bảo lãnh đều có ưu và nhược điểm riêng Do
đó, tổ chức phát hành cần lưu ý nhu cầu vốn và những đặc thù của doanh nghiệp
để lựa chọn phương thức bảo bãnh phù hợp
* Vai trò của hoạt động chào bán chứng khoán riêng lẻ trong nền kinh tế thị trường của Việt Nam hiện nay:
Đối với TTCK, hoạt động chào bán chứng khoán riêng lẻ cung cấp hànghoá cho TTCK, tạo cơ sở cho các hoạt động trao đổi mua bán trên thị trường vàkiểm chứng ban đầu về chất lượng chứng khoán sẽ được cung ứng
Đối với tổ chức phát hành, hoạt động chào bán chứng khoán riêng lẻ là mộtkênh huy động vốn hiệu quả, linh hoạt Thông qua chào bán chứng khoán riêng
lẻ tổ chức phát hành sẽ tăng quy mô, hiệu quả sử dụng vốn, mở rộng sản suất.Đây là nguồn vốn dài hạn và ổn định Hoạt động này góp phần thúc đẩy doanhnghiệp tự “hoàn thiện” mình trong việc thực hiện tốt hơn chế độ tài chính, kếtoán, công bố thông tin… Từ đó, doanh nghiệp từng bước đáp ứng những điềukiện chào bán chứng khoán ra công chúng và niêm yết trên thị trường tập trung.Đối với các nhà đầu tư, hoạt động chào bán chứng khoán riêng lẻ cung cấpcác loại chứng khoán và những thông tin bổ ích về đợt chào bán và tổ chức phát
Trang 14hành Bằng những kiến thức, kinh nghiệm họ quyết định đầu tư vào một loạichứng khoán cụ thể Do vậy, hoạt động chào bán chứng khoán riêng lẻ có ýnghĩa nhất định đối với các nhà đầu tư
Đối với tổ chức trung gian, với vai trò đại lý phát hành, bảo lãnh phát hành,
tư vấn phát hành các tổ chức này không chỉ thu được khoản lợi nhuận nhấtđịnh (phí, hoa hồng) từ các hợp đồng đại lý, bảo lãnh Thông qua những hoạtđộng này, tổ chức trung gian sẽ nắm bắt được nhu cầu, diễn biến của thị trường
và đưa ra những chiến lược kinh doanh hợp lý
Trong điều kiện nền kinh tế Việt Nam hiện nay, cùng với quá trình chuyểnđổi từ cơ chế tập trung, quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường là quá đổimới, sắp xếp doanh nghiệp nhà nước (DNNN) Hoạt động chào bán chứngkhoán riêng lẻ góp phần thúc đẩy quá trình CPH DNNN, giảm sự bao cấp vềvốn cho những doanh nghiệp này Huy động vốn bằng cách chào bán chứngkhoán mang lại sự linh hoạt và chủ động cho doanh nghiệp, tạo điều kiện đểdoanh nghiệp tiếp cận với phương thức quản lý hiệu quả hơn
Ngoài ra, hoạt động chào bán chứng khoán riêng lẻ có vai trò quan trọngtrong việc thực hiện chuyển đổi các loại hình doanh nghiệp khác như doanhnghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, công ty trách nhiệm hữu hạn chuyển đổi thànhcông ty cổ phần và hoạt động quản lý nhà nước trên thị trường sơ cấp
1.2 Pháp luật về chào bán chứng khoán riêng lẻ.
1.2.1 Khái niệm:
Pháp luật về chào bán chứng khoán riêng lẻ là tổng hợp các quy phạm phápluật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình chào bán chứngkhoán trong một phạm vi, giới hạn nhất định của tổ chức phát hành
1.2.2 Nội dung pháp luật chào bán chứng khoán riêng lẻ
* Pháp luật chào bán cổ phiếu riêng lẻ:
Chào bán cổ phiếu riêng lẻ là việc công ty cổ phần thực hiện bán cổ phiếucủa mình trong phạm vi nhỏ các tổ chức đầu tư hay một số nhà đầu tư cá nhân
có tiềm lực kinh tế
Trang 15- Chủ thể thực hiện hoạt động chào bán cổ phiếu riêng lẻ:
Là những tổ chức thực hiện hoạt động chào bán cổ phiếu để huy động vốn
từ công chúng sau khi đáp ứng đầy đủ các quy định của pháp luật về điều kiện,trình tự, thủ tục chào bán
Các chủ thể thể thực hiện chào bán cổ phiếu riêng lẻ bao gồm công ty cổphần, công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán, công ty đại chúng, DNNN CPH,doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chuyển đổi thành công ty cổ phần Trong đó, công ty cổ phần có thể chào bán cổ phiếu riêng lẻ hoặc ra côngchúng để công khai huy động vốn từ công chúng Công ty cổ phần có đặc trưng
là vốn điều lệ chia thành nhiều phần bằng nhau nên khả năng huy động vốn linhhoạt hơn
Công ty nhà nước CPH có thể chào bán cổ phần theo cả hai phương thứcchào bán cổ phần riêng lẻ hoặc chào bán cổ phần ra công chúng
Đối với các chủ thể khác như công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán,công ty đại chúng hoạt động chào bán cổ phiếu, chứng chỉ quỹ thực hiện theophương thức chào bán ra công chúng Khoá luận không đề cập đến hoạt độngchào bán chứng khoán của những chủ thể này
Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có thể thực hiện chào bán cổphiếu riêng lẻ để chuyển đổi thành công ty cổ phần
- Điều kiện, thủ tục chào bán cổ phiếu riêng lẻ:
Điều kiện chào bán cổ phiếu riêng lẻ thường được quy định như sau:
Thứ nhất, là những chủ thể được phép chào bán cổ phiếu riêng lẻ theo quy
định của pháp luật Bao gồm công ty cổ phần hoặc các loại hình doanh nghiệpkhác chuyển đổi thành công ty cổ phần Công ty trách nhiệm hữu hạn, công tyhợp danh, doanh nghiệp tư nhân không được chào bán cổ phiếu để huy độngvốn
Thứ hai, chủ thể phát hành đã đi vào hoạt động ổn định và có tình hình tài
chính lành mạnh Phần lớn pháp luật các nước không quy định chủ thể phát hànhphải đạt mức vốn điều lệ tối thiểu trong điều kiện chào bán cổ phiếu riêng lẻ ở
Trang 16Việt Nam, theo Khoản 1 Điều 12 Luật chứng khoán 2006 doanh nghiệp có mứcvốn điều lệ đã góp tại thời điểm đăng ký chào bán từ 10 tỷ đồng Việt Nam trởlên tính theo giá trị ghi trên sổ sách kế toán được chào bán cổ phiếu ra côngchúng, không quy định mức vốn điều lệ tối thiểu tạo thuận lợi cho công ty tăngvốn bằng cách chào bán cổ phiếu riêng lẻ
Thứ ba, có phương án sử dụng vốn hiệu quả được cơ quan có thẩm quyền
thông qua, cam kết sử dụng đúng mục đích số vốn huy động được
Thứ tư, phạm vi chào bán chỉ hướng tới số lượng nhà đầu tư nhất định,
không chào bán ra rộng rãi công chúng Điều kiện này tạo ranh giới phân biệtchào bán cổ phiếu riêng lẻ và chào bán cổ phiếu ra công chúng
Trên thực tế, pháp luật về chứng khoán của các quốc gia có những quy địnhkhác nhau về điều kiện về chào bán chứng khoán riêng lẻ Pháp luật về chứngkhoán của Mỹ quy định điều kiện như sau: nếu nhà đầu tư không phải là nhữngngười thành thạo thì số lượng không vượt quá 35 người và phải cử đại diện mua;đối với nhà đầu tư có tổ chức số lượng mua không hạn chế nếu họ mua chứngkhoán để nắm giữ lâu dài chứ không phải để bán lại; được quảng cáo bằngphương tiện thông tin đại chúng, hội thảo rộng rãi trừ trường hợp hội nghị hẹpvới nhà đầu tư tiềm năng Luật Chứng khoán Thái Lan chỉ quy định nếu pháthành cho dưới 35 người và tổng số tiền không quá 20 triệu Bath thì không phảixin phép nhưng phải đăng ký và nộp lệ phí cho Uỷ ban chứng khoán [8, tr.28]Thủ tục chào bán chứng khoán riêng lẻ thường đơn giản hơn so với thủ tụcchào bán cổ phiếu ra công chúng Doanh nghiệp thực hiện chào bán cổ phiếuriêng lẻ chỉ cần thực hiện thủ tục tối thiểu như thông báo, xin phép chào bán,cung cấp cho nhà đầu tư những thông tin cần thiết về đợt chào bán và tình hìnhkinh doanh của công ty, không phải đăng ký với Uỷ ban chứng khoán Nhà nước
- Phương thức chào bán cổ phiếu riêng lẻ:
Các chứng khoán được chào bán riêng lẻ có thể được chào bán thông quanhiều phương thức khác nhau: bán trực tiếp, thông qua các đại lý phát hành, bảolãnh phát hành hoặc chào bán thông qua đấu giá, đấu thầu
Trang 17Khi tiến hành lựa chọn phương thức chào bán chứng khoán riêng lẻ doanhnghiệp cần lưu ý những quy định của cơ quan quản lý về điều kiện, cách thứcphát hành; mục đích phát hành; khả năng kiểm soát nhà đầu tư của tổ chức pháthành; điều kiện về khoa học công nghệ, cơ sở vật chất, kỹ thuật và những đặcthù của doanh nghiệp; trình độ, uy tín của tổ chức nhận đại lý, bảo lãnh pháthành Đây là những yếu tố quan trọng giúp doanh nghiệp lựa chọn phương thứcchào bán phù hợp và bảo đảm thành công cho đợt chào bán.
* Pháp luật về chào bán trái phiếu riêng lẻ:
- Chủ thể chào bán trái phiếu riêng lẻ:
Chủ thể chào bán trái phiếu riêng lẻ bao gồm: công ty cổ phần, công ty nhànước, công ty trách nhiệm hữu hạn, Chính phủ, Chính quyền địa phương vớiquyền năng chào bán trái phiếu riêng lẻ khác nhau
Công ty cổ phần là chủ thể có thể chào bán các loại chứng khoán khác nhau
để huy động vốn Ngoài cổ phiếu, công ty cổ phần được phép chào bán các loạitrái phiếu và các chứng khoán phái sinh Công ty cổ phần có số lượng cổ đônglớn và khả năng huy động vốn rộng rãi trong công chúng
Công ty trách nhiệm hữu hạn có phần vốn góp được chia thành nhiều phầnbằng nhau nhưng không thể hiện dưới hình thức cổ phần và rất khó chuyểnnhượng ra bên ngoài Chủ thể này không được huy động vốn bằng chào bán cổphiếu Tuy nhiên trong quá trình hoạt động, công ty trách nhiệm hữu hạn đượcchào bán trái phiếu để tăng vốn vay
Công ty nhà nước bao gồm công ty nhà nước đang trong thời gian chuyểnđổi thành công ty cổ phần là chủ thể thực hiện chào bán trái phiếu riêng lẻ đểđáp ứng nhu cầu vốn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh
Doanh nghiệp tư nhân là loại hình doanh nghiệp do một người làm chủ,quy mô vốn nhỏ Chủ doanh nghiệp tư nhân vừa quản lý vừa điều hành và tựchịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanhnghiệp Do đó, hầu hết các quốc gia đều quy định doanh nghiệp tư nhân khôngđược chào bán chứng khoán
Trang 18Công ty hợp danh là loại hình doanh nghiệp thể hiện sự kết hợp giữa trí tuệ,tài chính, khả năng quản lý giữa các thành viên hợp danh và thành viên góp vốn.Thành viên hợp danh là người quản lý và điều hành, chịu trách nhiệm bằng toàn
bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty Giống như doanh nghiệp tưnhân, công ty hợp danh không được chào bán chứng khoán để huy động vốn Ngoài ra, Chính phủ, Chính quyền địa phương cũng là những chủ thể thamgia chào bán trái phiếu phục vụ cho đầu tư phát triển, bù đắp thiếu hụt tạm thờicho ngân sách nhà nước Hoạt động chào bán trái phiếu của các chủ thể nàythường có quy định riêng và không thuộc phạm vi nghiên cứu của khóa luận.Như vậy, so với chào bán cổ phiếu riêng lẻ hoạt động chào bán trái phiếuriêng lẻ rộng hơn về số lượng chủ thể tham gia
- Điều kiện, thủ tục chào bán trái phiếu riêng lẻ:
Tuỳ theo quy định của mỗi nước mà điều kiện chào bán trái phiếu riêng lẻ
có thể khác nhau Mục đích chung là chọn ra những chủ thể có khả năng tàichính để thanh toán đủ gốc, lãi trái phiếu, hạn chế tối đa các rủi ro Thôngthường các điều kiện đó như sau: là chủ thể được phép chào bán trái phiếu theoquy định của pháp luật; hoạt động kinh doanh phải có lãi trong một số năm gầnnhất; có phương án sử dụng vốn khả thi và được cơ quan có thẩm quyền thôngqua; các báo cáo về tình hình tài chính của doanh nghiệp trong một số năm đượckiểm toán; có cam kết thực hiện nghĩa vụ đối với người sở hữu trái phiếu
ở Việt Nam, pháp luật về phát hành trái phiếu doanh nghiệp không quyđịnh mức vốn điều lệ tối thiểu trong điều kiện chào bán trái phiếu riêng lẻ Thủ tục chào bán trái phiếu riêng lẻ đơn giản hơn so với chào bán trái phiếu
ra công chúng Các doanh nghiệp không phải đăng ký với Uỷ ban Chứng khoánNhà nước Tuỳ theo đặc thù và lĩnh vực kinh doanh, doanh nghiệp khi chào bántrái phiếu riêng lẻ sẽ thực hiện những thủ tục khác nhau
- Phương thức chào bán trái phiếu riêng lẻ:
Trái phiếu được chào bán riêng lẻ có thể thực hiện theo các phương thức:bán trực tiếp, bảo lãnh phát hành, đại lý phát hành, đấu thầu trái phiếu
Trang 191.2.3 Mục đích, nguyên tắc quản lý nhà nước đối với hoạt động chào bán chứng khoán riêng lẻ
* Mục đích quản lý Nhà nước:
Kinh nghiệm phát triển của một số TTCK lâu đời trên thế giới cho thấy cầnthiết phải có sự quản lý nhà nước đối với thị trường Vụ sụp đổ thị trường vàonhững năm 1929, 1987, 1990 của TTCK Mỹ và một số nước Châu Âu là những
“ngày đen tối” trong lịch sử phát triển của TTCK Hàng loạt thị trường lớn phảiđóng cửa Một trong những nguyên nhân dẫn đến vụ sụp đổ này là do thiếu sựquản lý và kinh nghiệm điều hành thị trường Điều đó cho thấy vai trò quantrọng của quản lý nhà nước đối với TTCK Quản lý nhà nước đối với hoạt độngchào bán chứng khoán riêng lẻ thực chất là hoạt động quản lý nhà nước trên thịtrường sơ cấp Mục đích của hoạt động này là:
Thứ nhất, bảo đảm tính công bằng trong hoạt động chào bán chứng khoán
riêng lẻ, các chủ thể chào bán có điều kiện như nhau được đối xử công bằng,bình đẳng Quản lý phải gắn liền với hiệu quả, các vi phạm được xử lý kịp thời,hoạt động chào bán chứng khoán diễn ra đúng pháp luật
Thứ hai, tạo lập sự ổn định và trung thực trong hoạt động chào bán chứng
khoán riêng lẻ, bảo đảm chất lượng cho các chứng khoán cung cấp cho thịtrường có tính thanh khoản cao, ít rủi ro
* Nguyên tắc quản lý Nhà nước:
Đó là những tư tưởng chủ đạo, những tiêu chuẩn hành vi mà các chủ thểquản lý phải tuân thủ Hoạt động quản lý nhà nước phải bảo đảm cơ quan quản
lý xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn; mỗi cơ quan quản lý độc lậpvới nhau, có đủ quyền lực và điều kiện thực tế để thực thi nhiệm vụ; hoạt độngquản lý phải rõ ràng, thống nhất, công khai và đúng pháp luật; chủ thể có thẩmquyền quản lý là người có tiêu chuẩn nghề nghiệp cao, trình độ chuyên môn
* Nội dung quản lý Nhà nước đối với hoạt động chào bán chứng khoán
riêng lẻ:
Trang 20Hiện nay trên thế giới, có hai phương thức quản lý nhà nước trên thị trường
sơ cấp Đó là phương thức quản lý theo chất lượng và theo chế độ công bố thôngtin đầy đủ [3, tr.131] Nếu quản lý theo chất lượng cơ quan quản lý đưa ra nhiềutiêu chí bảo đảm chủ thể chào bán có tình hình tài chính ổn định, có uy tín trênthị trường Nếu quản lý theo chế độ thông tin đầy đủ cơ quan quản lý chú trọngđến chất lượng thông tin và công bố thông tin rộng rãi ra công chúng
Những nước có TTCK phát triển thường áp dụng chế độ công bố thông tinđầy đủ Việt Nam và một số nước đang phát triển, cơ quan quản lý thường ápdụng phương thức quản lý theo chất lượng ở những nước này, TTCK còn nontrẻ phải có những bảo đảm an toàn cần thiết
Quản lý nhà nước đối với hoạt động chào bán chứng khoán chủ yếu tậptrung vào hoạt động của chủ thể phát hành, các tổ chức trung gian tham gia chàobán, các nhà đầu tư Đó là các hoạt động ban hành văn bản pháp luật về chàobán chứng khoán riêng lẻ; tổ chức và hướng dẫn về điều kiện, thủ tục, phương
án chào bán chứng khoán; thanh tra, giám sát việc tuân theo pháp luật về chàobán chứng khoán riêng lẻ của các chủ thể tham gia hoạt động chào bán, xử lýcác hành vi vi phạm
Quản lý hoạt động chào bán chứng khoán riêng lẻ của chủ thể phát hành:đối tượng quản lý là các chủ thể chào bán chứng khoán riêng lẻ theo quy địnhcủa pháp luật Các chủ thể này tiến hành hoạt động chào bán chứng khoán riêng
lẻ trên thực tế Cơ quan quản lý xác định điều kiện chào bán chứng khoán; quyđịnh thủ tục, phương thức chào bán; nội dung công bố thông tin, các báo cáo tàichính; chế độ kế toán, kiểm toán Quản lý phải bảo đảm chủ thể phát hành cungcấp đầy đủ, trung thực những thông tin liên quan tới đợt chào bán Việc công bốthông tin phải tiến hành thường xuyên Những thông tin được công bố bảo đảmchính xác, kịp thời, dễ tiếp cận
Quản lý hoạt động của các tổ chức trung gian tham gia thị trường: tổ chứctrung gian có thể là những ngân hàng thương mại (NHTM), các công ty chứngkhoán, công ty tài chính, quỹ đầu tư chứng khoán Các trung gian tài chính có
Trang 21lợi thế về chuyên môn hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện thành công đợt chào bán.Thẩm quyền quản lý những tổ chức này thuộc về nhiều cơ quan khác nhau, tuỳthuộc vào hình thức quản lý, chính sách kinh tế của mỗi quốc gia Cơ quan quản
lý cần quy định rõ trách nhiệm, phạm vi hoạt động của các tổ chức này nhằmbảo đảm quyền lợi cho nhà đầu tư, hoạt động chào bán chứng khoán riêng lẻdiễn ra công bằng
Quản lý hoạt động của các nhà đầu tư: TTCK luôn vận động theo nhữngquy luật riêng Nhà đầu tư là chủ thể dễ bị xâm phạm do những tiêu cực của thịtrường Cơ quan quản lý vừa bảo đảm quyền lợi cho nhà đầu tư đồng thời ngănchặn và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật
Chào bán chứng khoán riêng lẻ là hoạt động có ảnh hướng lớn tới sự pháttriển của TTCK Quản lý nhà nước trong hoạt động chào bán chứng khoán riêng
lẻ phải bảo đảm cho mọi hành vi liên quan đến hoạt động chào bán diễn ra đúngpháp luật, tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ thể thức hiện chào bán chứngkhoán để huy động vốn
Chương 2 Thực trạng pháp luật về hoạt động chào bán chứng khoán riêng lẻ của doanh nghiệp
Việt Nam hiện nay
Vốn trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là một nhu cầubức thiết Trước đây để đáp ứng nhu cầu này doanh nghiệp thường lệ thuộc vàongân hàng TTCK ra đời tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiếp cận một kênh huyđộng vốn linh hoạt hơn Đó là phương thức chào bán chứng khoán Các doanhnghiệp Việt Nam hiện nay đã và đang sử dụng hiệu quả phương thức này đầu tư
mở rộng sản xuất
Trang 222.1 Chào bán cổ phiếu riêng lẻ.
2.1.1 Chào bán cổ phiếu riêng lẻ của công ty cổ phần.
Công ty cổ phần cung cấp cổ phiếu - một loại hàng hoá quan trọng choTTCK Với đặc điểm vốn điều lệ chia thành nhiều phần bằng nhau, khả nănghuy động vốn bằng cách chào bán cổ phần, cổ phiếu của công ty cổ phần linhhoạt hơn so với những doanh nghiệp khác
Hoạt động chào bán cổ phiếu riêng lẻ của công ty cổ phần được thực hiệnkhi thành lập công ty cổ phần hoặc công ty huy động vốn
* Hoạt động chào bán cổ phần riêng lẻ khi thành lập công ty cổ phần:
Công ty cổ phần được thành lập có thể là thành lập công ty cổ phần từ khiđăng ký kinh doanh hoặc do kết quả của quá trình chuyển đổi hình thức sở hữu,loại hình công ty (phần này sẽ được đề cập ở những mục sau)
Khi được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, các cổ đông sáng lậptiến hành góp vốn, mua cổ phần Các cổ đông có thể cùng nhau mua toàn bộ cổphần hoặc chào bán cổ phần ra bên ngoài để bảo đảm góp đủ số vốn cần thiết.Luật Doanh nghiệp 2005 quy định cụ thể, chi tiết hoạt động góp vốn, mua cổphần, chào bán, thanh toán cổ phần của cổ đông sáng lập khi thành lập công ty
đông sáng lập không thanh toán đủ số cổ phần đã đăng ký, Luật doanh nghiệp
2005 quy định rõ cách xử lý, bảo đảm trong thời hạn ba năm số cổ phần chưađăng ký mua phải được chào bán hết Nhưng sau ba năm số cổ phần ấy chưađược đăng ký mua hết sẽ xử lý như thế nào vẫn là một câu hỏi Người đang sởhữu cổ phiếu có quyền yêu cầu hoàn trả vốn hay không? Trách nhiệm của các cổđông sáng lập trong trường hợp này chưa có quy định rõ ràng
Trang 23Khoản 1 Điều 87 Luật doanh nghiệp 2005 đã bổ sung thẩm quyền của Hộiđồng quản trị trong việc quyết định thời điểm, phương thức chào bán cổ phầntrong số cổ phần được quyền chào bán Đây là những yếu tố quan trọng quyếtđịnh thành công của đợt chào bán cần được sự chấp thuận của Hội đồng quản trị Quy định về giá chào bán cổ phần cũng có sự thay đổi phù hợp, Hội đồngquản trị có thể quyết định giá chào bán cổ phần theo giá thị trường hoặc theo giátrị được ghi trong sổ sách của cổ phần tại thời điểm gần nhất Do đó, công ty cóthể lựa chọn mức giá phù hợp, bảo đảm quyền lợi cho cổ đông
Tuy nhiên, Luật doanh nghiệp 2005 quy định các trường hợp ngoại lệ.Công ty có thể chào bán cổ phần với giá thấp, bằng hoặc cao hơn mệnh giá Có
ý kiến cho rằng quy định trên mâu thuẫn với quy định của pháp luật chứngkhoán Vì theo Luật Chứng khoán 2006, công ty muốn chào bán cổ phiếu racông chúng thì giá cổ phiếu phải ít nhất bằng giá cổ phiếu trên thị trường Nếuxét từng trường hợp cụ thể thì không hoàn toàn như vậy
Đối với trường hợp chào bán lần đầu tiên cho người không phải là cổ đông
sáng lập Quy định này bảo đảm cho công ty có đủ số vốn điều lệ cần thiết đểhoạt động, tại thời điểm này chúng ta chưa xác định được giá của cổ phiếu trênthị trường
Trường hợp chào bán cổ phần cho các cổ đông theo tỷ lệ cổ phần hiện cócủa họ tại công ty Cổ đông là những chủ sở hữu của công ty cổ phần, có quyềnmua cổ phần của công ty với giá thấp hơn Khi chào bán cổ thêm cổ phần có thểthay đổi cơ cấu vốn điều lệ và quyền quản lý công ty Vì vậy, quy định của LuậtDoanh nghiệp 2005 nhằm bảo vệ quyền lợi của các cổ đông hiện hữu
Trường hợp cổ phần chào bán cho người môi giới hoặc người bảo lãnh.Điều 87 Luật Doanh nghiệp 2005 quy định giá chào bán cổ phần cho người môi
giới hoặc bảo lãnh thì số chiết khấu hoặc tỷ lệ chiết khấu cụ thể phải được sự chấp nhận của số cổ đông đại diện ít nhất 75% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết Khi chào bán cổ phần với giá như vậy có thể ảnh hưởng đến quyền lợi
Trang 24của cổ đông Trong trường hợp này phải được sự đồng ý của ít nhất 75% tổng số
cổ phần có quyền biểu quyết
* Hoạt động chào bán cổ phiếu khi công ty cổ phần tăng vốn :
Hoạt động này thường được tiến hành khi công ty có nhu cầu mở rộng sảnxuất, thực hiện các dự án đầu tư Đối tượng được chào bán có thể là cổ đônghiện hữu hoặc công chúng đầu tư Khoản 2 Điều 87 Luật doanh nghiệp 2005
quy định: Trường hợp công ty phát hành thêm cổ phần phổ thông và chào bán
số cổ phần đó cho tất cả các cổ đông phổ thông theo tỷ lệ cổ phần hiện có của
họ tại công ty thì phải gửi thông báo bằng văn bản đến các cổ đông theo phương
thức đảm bảo đến được địa chỉ của họ Có thể hiểu đây là hoạt động chào bán cổphần riêng lẻ (chào bán trong nội bộ công ty) vì đối tượng được chào bán là các
cổ đông hiện hữu, không có sự tham gia của nhà đầu tư bên ngoài
“Thủ tục và trình tự chào bán cổ phần thực hiện theo quy định của pháp luật về chứng khoán” (Khoản 4 Điều 61 Luật doanh nghiệp 1999) Với quy định
này công ty không thể chào bán cổ phần riêng lẻ Pháp luật về chứng khoán chỉđiều chỉnh hoạt động chào bán chứng khoán ra công chúng Khoản 6 Điều 87Luật doanh nghiệp năm 2005 đã phân biệt thủ tục chào bán cho mỗi phương
thức chào bán: điều kiện, phương thức, thủ tục chào bán cổ phần ra công chúng thực hiện theo quy định của pháp luật về chứng khoán Chính phủ sẽ quy định hướng dẫn việc chào bán cổ phần riêng lẻ Quy định này hợp lý và rõ ràng Nếu
công ty chào bán cổ phần ra công chúng thì điều kiện, phương thức, thủ tục chàobán tuân theo những quy định của pháp luật về chứng khoán Nếu công ty chàobán cổ phần riêng lẻ trước hết sẽ tuân theo quy định của Luật doanh nghiệp vàvăn bản hướng dẫn của Chính phủ Luật doanh nghiệp 2005 chưa quy định cụthể điều kiện, phương thức, thủ tục chào bán cổ phần riêng lẻ của doanh nghiệpnhưng đã có những điều chỉnh phù hợp
2.1.2 Chào bán cổ phần riêng lẻ của các công ty Nhà nước chuyển đổi thành công ty cổ phần.
Trang 25DNNN có một vị trí quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam những nămqua Tuy nhiên, hiệu quả hoạt động của những doanh nghiệp này chưa cao, phầnlớn kinh doanh không hiệu quả Nhà nước hàng năm vẫn phải bù lỗ cho nhữngdoanh nghiệp này, gây mất cân đối thu chi ngân sách Nhà nước Nhiều phươngthức được áp dụng để đổi mới, sắp xếp lại các doanh nghiệp này như CPH, giao,bán, khoán cho thuê, giải thể, phá sản trong đó CPH được coi là trọng tâm.CPH thực chất là việc chuyển doanh nghiệp thuộc sở hữu Nhà nước thành doanhnghiệp có nhiều chủ sở hữu bao gồm các pháp nhân, cá nhân thuộc các thànhphần kinh tế khác nhau
Quá trình CPH được bắt đầu từ những năm 90 và trải qua nhiều thăng trầm.Giai đoạn đầu tiên (1992 – 1996) chỉ CPH được 5 doanh nghiệp đó là Công ty
cổ phần giày Hiệp An thuộc Bộ Công nghiệp, Công ty cổ phần chế biến thức ăngia súc thuộc Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Công ty cổ phần Cơ điệnlạnh thuộc Uỷ ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh [4, tr.58]
Sau hơn 15 năm, quá trình CPH DNNN thu được nhiều thành quả đángkhích lệ Tính đến tháng 8/2006, cả nước đã sắp xếp được 4.447 DNNN, trong
đó CPH là 3.060 doanh nghiệp [20, tr.24], các hình thức khác như giao, bán,khoán, cho thuê chiếm khoảng 31,1% trong tổng số các doanh nghiệp đượcsắp xếp lại Tuy nhiên, kết quả này đã tương xứng với tiềm năng và công sức màchúng ta bỏ ra? Tại sao tốc độ CPH chậm, nhiều mục tiêu CPH không đạt được?
Có rất nhiều nguyên nhân bởi đây là một hoạt động phức tạp và nhạy cảm, liênquan đến quyền lợi của nhiều chủ thể
Nghị định 187/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của Chính phủ về chuyểncông ty nhà nước thành công ty cổ phần và Thông tư 126/2004/TT-BTC ngày24/12/2004 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định 187/2004/NĐ-CP
là những văn bản có hiệu lực pháp lý cao nhất điều chỉnh hoạt động này còn tồntại nhiều bất cập, cần sửa đổi, bổ sung
* Đối tượng và điều kiện cổ phần hoá:
Trang 26Theo quy định tại Nghị định 187/2004/NĐ-CP, đối tượng CPH là các công
ty không thuộc diện nhà nước phải nắm giữ 100% vốn điều lệ bao gồm: Tổng công ty nhà nước (kể cả các ngân hàng thương mại nhà nước, tổ chức tài chính nhà nước), công ty nhà nước độc lập, công ty thành viên hạch toán độc lập của tổng công ty do nhà nước quyết định đầu tư thành lập, đơn vị hạch toán phụ thuộc của công ty nhà nước So với Nghị định 64/2002/NĐ-CP ngày 19/06/2002
của Chính phủ thì đối tượng CPH mở rộng hơn, bao gồm những doanh nghiệphoạt động trong các lĩnh vực “nhạy cảm” như tài chính – ngân hàng
Trước đây, Nhà nước khuyến khích các DNNN CPH nhưng đến nay chúng
ta đã chủ động và đẩy mạnh hoạt động này Những doanh nghiệp nào thuộc diệnCPH phải tiến hành CPH Điều kiện CPH chỉ yêu cầu các doanh nghiệp này phải
còn vốn nhà nước (không bao gồm giá trị quyền sử dụng đất) sau khi trừ đi giá
trị tài sản không cần dùng, tài sản chờ thanh lý, các khoản tổn thất do lỗ, giảmgiá tài sản, công nợ không có khả năng thu hồi và chi phí CPH Quy định nhưvậy tạo điều kiện cho các DNNN CPH thuận lợi, dễ dàng hơn
* Hình thức cổ phần hoá:
Điều 3 Nghị định 187/2004/NĐ-CP quy định bốn hình thức CPH Với quyđịnh này, Nghị định 187/2004/NĐ-CP đã kế thừa quy định về hình thức CPH tạiNghị định 64/2002/NĐ-CP Trên thực tế các doanh nghiệp sử dụng các hìnhthức này không giống nhau Theo thống kê của Cục Tài chính doanh nghiệp (BộTài chính) trong số hơn 3000 doanh nghiệp và bộ phận doanh nghiệp CPH tínhđến thời điểm tháng 12/2006: có 43,4% doanh nghiệp chọn hình thức bán mộtphần vốn nhà nước tại doanh nghiệp kết hợp phát hành thêm cổ phiếu mới; 26%doanh nghiệp CPH theo hình thức bán một phần vốn nhà nước hiện có; 15,5%doanh nghiệp chọn hình thức bán toàn bộ vốn nhà nước hiện có tại doanhnghiệp; chỉ có 15,1% doanh nghiệp vẫn giữ nguyên vốn nhà nước kết hợp pháthành thêm cổ phiếu mới [19, tr.6-7]
* Đối tượng và điều kiện mua cổ phần:
Trang 27Tuỳ thuộc vào đối tượng mà số lượng cổ phần được phép mua khác nhau,thể hiện sự phân biệt giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài Cácnhà đầu tư trong nước được mua với số lượng không hạn chế, nhà đầu tư nướcngoài được mua cổ phần theo quy định của pháp luật (không quá 49% theoQuyết định 238/2005/QĐ-TTg ngày 29/9/2005 của Thủ tướng Chính phủ về tỷ
lệ tham gia của bên nước ngoài vào TTCK Việt Nam)
* Xác định giá trị doanh nghiệp:
Giá trị doanh nghiệp là vấn đề quan trọng được các doanh nghiệp khichuyển đổi quan tâm Hoạt động này có ý nghĩa quyết định đến giá bán cổ phầnlần đầu Trước đây, theo Nghị định 28/1996/NĐ-CP ngày 07/05/1996, Nghịđịnh 44/1998/NĐ-CP ngày 29/06/1998 của Chính phủ giá trị doanh nghiệp đượcxác định thường không phản ánh đúng với giá trị thực tế Giá trị doanh nghiệp
có thể là giá thực tế người mua và người bán có thể chấp nhận được hoặc căn cứvào hiện trạng về tính năng, kĩ thuật, phẩm chất, giá trị của tài sản và tình hìnhkinh doanh trong 03 năm cuối
Nghị định 64/2002/NĐ-CP ngày 19/6/2002 của Chính phủ đã đưa thêm giátrị quyền sử dụng đất vào giá trị doanh nghiệp góp phần xác định giá trị doanhnghiệp khách quan hơn Nhưng quá trình thực hiện nghị định này có nhiều bấtcập Ngày16/11/2004 Chính phủ ban hành Nghị định 187/2004/NĐ-CP quy định
cụ thể hơn về giá trị quyền sử dụng đất và giá trị lợi thế kinh doanh của doanhnghiệp Giá trị doanh nghiệp được định giá phản ánh đúng giá trị thực tế củadoanh nghiệp, hạn chế thất thoát vốn nhà nước Tuy nhiên, thẩm quyền quyếtđịnh giá trị doanh nghiệp là những cơ quan chủ quản của doanh nghiệp ảnhhưởng đến tính minh bạch trong hoạt động này
* Giá bán cổ phần lần đầu:
Theo quy định tại Nghị định 187/2004/NĐ-CP và Thông tư BTC hướng dẫn thực hiện Nghị định 187/2004/TT-BTC, giá bán cổ phần ưu đãicho người lao động trong doanh nghiệp giảm 40% so với giá đấu thành côngbình quân thực tế, các nhà đầu tư chiến lược giảm 20% so với giá đấu thành
Trang 28126/2004/TT-công bình quân thực tế, đối với nhà đầu tư khác thì thực hiện theo giá thànhcông của từng nhà đầu tư Những quy định này giúp doanh nghiệp vừa tận dụngđược tối đa các nguồn vốn, giảm chi phí giải quyết quyền lợi cho người lao độngvừa duy trì quan hệ bạn hàng với những đối tác quan trọng
Tuy nhiên, việc chỉ quy định nhà đầu tư chiến lược do cơ quan quyết định CPH phê duyệt dẫn đến hiện tượng mỗi cơ quan đưa ra những cách thức xác
định khác nhau Ngày 19/12/2006 Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư 95/2006/
TT-BTC sửa đổi, bổ sung Thông tư 126/2004/TT-BTC quy định rõ hơn: người lao động trong doanh nghiệp CPH, các pháp nhân trong cùng Tổng công ty không được xác định là nhà đầu tư chiến lược Quy định này góp phần hạn chế
sự tuỳ tiện trong áp dụng pháp luật của các cơ quan quyết định CPH Thông tư95/2006/TT-BTC đã giới hạn tỷ lệ mua tối đa của người lao động trong doanhnghiệp là 100 cổ phần/năm công tác, nhà đầu tư chiến lược sẽ được mua tối đa
là 20% số cổ phần bán ra
* Phương thức tổ chức bán đấu giá cổ phần lần đầu:
Điều 30 Nghị định 187/2004/NĐ-CP chỉ quy định một hình thức chào bán
cổ phần lần đầu thông qua bán đấu giá: đấu giá trực tiếp tại doanh nghiệp nếukhối lượng cổ phần bán ra từ 01 tỷ đồng trở xuống hoặc đấu giá tại tổ chức tàichính trung gian nếu số lượng cổ phần bán ra trên 01 tỷ đồng, nếu khối lượng cổphần bán ra trên 10 tỷ đồng sẽ tổ chức đấu giá tại trung tâm giao dịch chứngkhoán (TTGDCK)
Quy định này góp phần gắn kết quá trình CPH và TTCK Đối với nhữngdoanh nghiệp có tên tuổi khi CPH việc chào bán trên thị trường tập trung vớilượng vốn huy động trên 10 tỷ đồng không quá khó khăn Những doanh nghiệp
ít tiếng tăm, chưa đủ điều kiện về kế toán, kiểm toán, minh bạch hoá thông tin,bán đấu giá trên TTCK có bảo đảm thành công cho đợt chào bán hay không?Hơn nữa, các DNNN hoạt động trên nhiều lĩnh vực khác nhau, có những đặc thùriêng trong khi đó pháp luật chỉ quy định một hình thức duy nhất để chào bán cổphần là bán đấu giá
Trang 29Trình tự tổ chức bán đấu giá lần đầu được quy định cụ thể Trước khi bánđấu giá tối thiểu 20 ngày, cơ quan thực hiện bán đấu giá phải thông báo côngkhai các thông tin về thời gian, địa điểm, hình thức bán cổ phần, điều kiện thamgia, số lượng cổ phần dự kiến bán trên các phương tiện thông tin đại chúng.Thời hạn thực hiện chào bán cổ phần là 04 tháng kể từ ngày cơ quan có thẩmquyền phê duyệt phương án CPH Tuy nhiên, Nghị định 187/2004/NĐ-CP chưađưa ra cách xác định giá đấu bình quân, xử lý trường hợp cổ phần không phânphối hết Những bất cập trên đã được sửa đổi, bổ sung tại Thông tư95/2006/TT-BTC ngày 19/12/2006 của Bộ Tài chính Nếu số lượng cổ phầnkhông bán hết còn lại dưới 50% thì điều chỉnh quy mô vốn điều lệ, tỷ lệ vốn nhànước tại doanh nghiệp Nếu trên 50% thì xem xét điều chỉnh giá khởi điểm và tổchức bán đấu giá tiếp số cổ phần còn lại.
* Phí cổ phần hoá:
Chi phí cổ phần hoá được trừ vào vốn nhà nước tại doanh nghiệp và khôngvượt quá 10% tổng chi phí cổ phần hoá (điểm 8 mục B phần V Thông tư126/2004/TT-BTC ngày 24/12/2004 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện
Nghị định 187/2004/NĐ-CP) Quy định này không đảm bảo các chí phí cho các
hoạt động liên quan đến CPH Bộ Tài chính đã điều chỉnh: nếu do Ban chỉ đạocủa doanh nghiệp thực hiện, chi phí tối đa không qua 10% tổng chi phí CPH;nếu do tổ chức tài chính trung gian thực hiện tối đa không quá 15%; trường hợpdoanh nghiệp thực hiện đấu giá qua TTGDCK, tối đa không quá 20% tổng chiphí CPH (mục 12 Thông tư 95/2006/TT-BTC ngày 19/12/2006) Doanh nghiệpkhi tổ chức bán cổ phần không phải “đau đầu” cho “bài toán” chi phí CPH.Với những quy định hiện nay, Đảng và Nhà nước ta đã tạo được cơ sở pháp
lý quan trọng cho hoạt động chào bán cổ phần của DNNN chuyển đổi thànhcông ty cổ phần Có thể những quy định này chưa hoàn thiện nhưng với nỗ lực
và quyết tâm, quá trình CPH mà Đảng và nhân dân ta theo đuổi trong suốt thờigian qua sẽ thành công
2.1.3 Chào bán cổ phiếu riêng lẻ của các ngân hàng thương mại cổ phần.
Trang 30Do được phép thực hiện các hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, tíndụng nên các ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) khi thực hiện chào bánchứng khoán riêng lẻ thường chịu sự kiểm soát chặt chẽ hơn
NHTMCP được tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần nên khi thực hiệnhoạt động chào bán cổ phiếu riêng lẻ trước hết phải tuân theo những quy địnhcủa Luật doanh nghiệp Ngoài ra, chủ thể này phải chịu sự điều chỉnh chặt chẽcủa pháp luật ngân hàng như: Luật ngân hàng, Luật các tổ chức tín dụng và cácvăn bản pháp luật khác của Ngân hàng Nhà nước
Cụ thể tại khoản 2 Điều 43 Nghị định 49/2000/NĐ-CP của Chính phủ ngày
12/9/2000 về tổ chức và hoạt động của NHTM đã quy định: Việc phát hành cổ phiếu của NHTMCP được thực hiện theo quy định của Ngân hàng nhà nước.
Ngày 04/9/2001, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ban hành Quyếtđịnh số 1122/2001/QĐ-NHNN ban hành quy chế cổ đông, cổ phần, cổ phiếu vàvốn điều lệ của NHTMCP để hướng dẫn quy định trên Quy chế này thể hiện sựcan thiệp sâu sắc của Ngân hàng Nhà nước trong hoạt động chào bán cổ phần đểtăng vốn của các chủ thể này Các NHTMCP chỉ được thay đổi vốn điều lệ saukhi được Thống đốc Ngân hàng nhà nước chấp nhận bằng văn bản
Quyết định 1122/2001/QĐ-NHNN không quy định các điều kiện tăng vốnđiều lệ nhưng với yêu cầu nhiều giấy tờ, thủ tục khiến nhiều ngân hàng ngần
ngại khi muốn tăng vốn Hồ sơ đề nghị thay đổi vốn điều lệ bao gồm: Tờ trình của Hội đồng quản trị, Biên bản của Đại hội cổ đông về việc thay đổi cơ cấu vốn điều lệ, phương án thay đổi mức vốn điều lệ, danh sách và tỷ lệ vốn cổ phần của các cổ đông lớn trước và sau khi thay đổi, đơn xin mua cổ phiếu của cổ đông lớn và những văn bản khác có liên quan theo quy định của pháp luật
NHTM thực hiện cùng lúc những hoạt động mang tính rủi ro cao, pháp luậtthường quy định cụ thể, chặt chẽ Nhưng với quá nhiều giấy tờ, đặc biệt là yêu
cầu đơn xin mua cổ phần của cổ đông lớn rõ ràng không phù hợp, gây trở ngại
cho các ngân hàng khi huy động vốn Hơn nữa, việc mua hay không mua cổphiếu là quyền của cổ đông, có nên yêu cầu họ làm đơn “xin” mua cổ phiếu?
Trang 31Thẩm quyền quyết định giá chào bán cổ phần là Hội đồng quản trị Trườnghợp giá chào bán cổ phần cao hơn mệnh giá cổ phần phải được Đại hội đồng cổđông thông qua, phần chênh lệch được hạch toán vào quỹ dự trữ bổ sung vốnđiều lệ Hiện nay, nhiều NHTM tiến hành chào bán cổ phiếu riêng lẻ để tăngvốn, chỉ cần gửi hồ sơ tối thiểu xin Ngân hàng Nhà nước cấp giấy chứng nhậntăng vốn điều lệ Hầu hết các NHTMCP đã được cơ cấu lại và lành mạnh hoá tàichính Cổ phiếu ngân hàng đang có sức hấp dẫn đối với nhà đầu tư với mức lợinhuận cao nhất là 40%, thấp nhất là 15% trong khi tỷ lệ này ở các ngành côngnghiệp khác chỉ là 6-10% [17, tr.15] Do đó, một mặt phải quản lý chặt chẽ đểngăn ngừa rủi ro đồng thời tạo thuận lợi cho các ngân hàng tăng vốn, nâng caonăng lực cạnh tranh.
Quyết định 1122/2001/QĐ-NHNN được ban hành khi TTCK Việt Nam đivào hoạt động hơn 01 năm TTCK khi đó còn khá mới mẻ với công chúng đầu
tư Vì vậy, Quyết định 1122/2001/QĐ-NHNN thể hiện sự thận trọng của Ngânhàng Nhà nước trong việc cho phép các NHTMCP tham gia niêm yết trênTTGDCK Các NHTMCP muốn chào bán cổ phiếu và niêm trên TTGDCK phảiđược Ngân hàng Nhà nước chấp thuận bằng văn bản Trong điều kiện hiện nayquy định như vậy không còn phù hợp Nếu các NHTMCP phải chờ sự chấpthuận của Ngân hàng Nhà nước sẽ không thể cạnh tranh với các ngân hàng nướcngoài
Hơn nữa, Việt Nam đã chính thức là thành viên thứ 150 của Tổ chứcThương mại thế giới WTO ngày 07/11/2006, việc mở cửa và thực hiện các camkết là điều không tránh khỏi Trước sức ép từ các thành viên WTO yêu cầu ViệtNam phải mở cửa hơn nữa cho các ngân hàng nước ngoài nhưng chúng ta đã đạt
được những cam kết hợp lý Đó là chỉ những ngân hàng nước ngoài có tổng tài sản trên 10 tỷ USD mới được thành lập ngân hàng 100% vốn nước ngoài (từ tháng 4 năm 2007), trên 20 tỷ USD được phép thành lập chi nhánh ngân hàng nước ngoài ở Việt Nam, bên nước ngoài được phép mua tối đa 30% cổ phần của các NHTM Nhà nước và đến 01/01/2011 được phép hoạt động như ngân hàng
Trang 32trong nước…[12, tr.7] Các NHTM Việt Nam có lợi thế hơn ngân hàng nước
ngoài về thị phần, mạng lưới chi nhánh, sự am hiểu về môi trường kinh doanh vàtập quán tiêu dùng của nhân dân nhưng cần tiến hành đổi mới cơ chế quản lý
và nâng cao năng lực tài chính trước cơ hội và thách thức mới
2.1.4 Chào bán cổ phần riêng lẻ của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chuyển đổi thành công ty cổ phần.
Với tình hình chính trị xã hội ổn định, kinh tế tăng trưởng nhanh, nhữngchính sách ưu đãi đầu tư, cải cách thủ tục hành chính khi thực hiện cấp Giấyphép đầu tư, thẩm định đầu tư Việt Nam luôn là một môi trường đầu tư hấpdẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài Năm 2006 cả nước đã thu hút được gần
10 tỷ USD vốn đăng ký mới, trong đó có khoảng 800 dự án được cấp mới vớitổng vốn đăng ký trên 7,6 tỷ USD và 490 lượt dự án tăng vốn đầu tư mở rộngsản xuất với số vốn tăng thêm là 2,4 tỷ USD [21] Cùng với quá trình CPH cácDNNN hiện nay, chuyển đổi các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đượcxem như một giải pháp hữu hiệu để nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanhnghiệp và thu hút đầu tư nước ngoài
Ngày 15/4/2003, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 38/20003/NĐ-CP vềviệc chuyển đổi một số doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sang hoạt độngtheo hình thức công ty cổ phần tạo cơ sở pháp lý thống nhất cho hoạt động này
* Đối tượng và điều kiện chuyển đổi:
Đối tượng chuyển đổi là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đang
hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam đáp ứng đủ các điều kiện: đã góp đủ số vốn pháp định theo quy định tại Giấy phép đầu tư; đã chính thức hoạt động ít nhất
ba năm, trong đó năm cuối cùng trước khi chuyển đổi phải có lãi; có hồ sơ đề nghị chuyển đổi.
Quy định trên không yêu cầu tỷ lệ vốn tối thiểu tạo điều kiện cho doanhnghiệp chuyển đổi dễ dàng hơn Tuy nhiên, Thông tư liên tịch số08/2003/TTLT-BKH-BTC ngày 29/12/2003 hướng dẫn thực hiện một số quyđịnh Nghị định 38/20003/NĐ-CP đưa ra một số doanh nghiệp chưa được xem
Trang 33xét chuyển đổi Đó là những doanh nghiệp trong đó các bên có cam kết chuyểngiao không bồi hoàn tài sản cho Nhà nước Việt Nam và bên Việt Nam; doanhnghiệp có doanh thu trước; doanh nghiệp đầu tư theo các hình thức BT, BOT,BTO; doanh nghiệp có quy mô vốn đầu tư quy định tại Giấy phép đầu tư trên 70triệu đô la Mỹ và dưới 01 triệu đô la Mỹ; doanh nghiệp có số lỗ lũy kế tại thờiđiểm xin chuyển đổi (sau khi đã dùng lãi của năm tài chính ngay trước nămchuyển đổi để bù đắp) lớn hơn hoặc bằng vốn của chủ sở hữu; doanh nghiệp có
số nợ phải thu không còn khả năng thu hồi tại thời điểm xin chuyển đổi lớn hơnvốn của chủ sở hữu
Quy định trên đã hạn chế nhiều doanh nghiệp muốn lập hồ sơ xin chuyểnđổi nhưng thuộc diện chưa được xem xét Có thể hiểu Nhà nước muốn chọn ranhững doanh nghiệp có tình hình tài chính lành mạnh, hoạt động hiệu quả.Nhưng liệt kê những doanh nghiệp tạm thời không thuộc được phép chuyển đổi
có phải giải pháp tối ưu? Và có thể dẫn đến tình trạng đối xử không bình đẳnggiữa các nhà đầu tư nước ngoài, gây tâm ký không tốt cho các nhà đầu tư
* Hình thức chuyển đổi doanh nghiệp:
Nghị định 38/2003/NĐ-CP và Điều 2 Thông tư liên tịch số BKH-BTC đưa ra ba hình thức chuyển đổi áp dụng cho từng đối tượng cụ thể.Quy định này có hạt nhân hợp lý là sự rõ ràng cụ thể, tạo thuận lợi cho doanhnghiệp và cơ quan quản lý trong quá trình chuyển đổi Tuy nhiên, quy định trên
08/2003/TTLT-có phần cứng nhắc, giảm sự linh hoạt trong việc lựa chọn phương thức chuyểnđổi của doanh nghiệp, dẫn đến tình trạng nhiều doanh nghiệp không chọn đượchình thức chuyển đổi phù hợp vì luật đã “chọn” sẵn Theo quy định trên, doanhnghiệp chỉ có thể:
Một là, giữ nguyên giá trị doanh nghiệp và chủ đầu tư, nếu doanh nghiệp có
số lượng chủ đầu tư tối thiểu phù hợp theo quy định về công ty cổ phần (tốithiểu là 3) hoặc các chủ đầu tư không chuyển nhuyển nhượng phần vốn góp cho
cổ đông mới hoặc không huy động thêm vốn điều lệ