1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề tài nghiên cứu đề xuất giải pháp thúc đẩy hoạt động tái chế chất thải rắn sinh hoạt tại thành phố hồ chí minh

99 424 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 15,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CHUONG TONG QUAN VE CHAT THAI RAN SINH HOAT VA TAI CHE CHAT THAI RAN 2.1 Tổng quan về chất thải rắn sinh hoạt 2.1.1 Nguồn phát sinh 2.1.2 Tính chất 2.1.3 Tác hại đối với môi trường 2

Trang 1

1.2 Tính cấp bách và cân thiết của đề tài

Trong quá trình sản xuất và tiêu dùng của cải vật chất, con người luôn đào

thải ra các chất vào môi trường Ngày nay, với dân số ngày càng đông, tốc độ phát triển kinh tế-xã hội đô thị hoá nhanh, lượng chất thải rắn phát sinh ngày một nhiều Thành phố Hồ Chí Minh là một trong những thành phố dẫn đầu cả nước về

lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ Với tốc độ phát triển công nghiệp hóa, hiện đại

hóa nhanh, thành phố Hồ Chí Minh là một trung tâm công nghiệp, giữ vai trò trọng

điểm của vùng kinh tế phía Nam và của cả nước Tp.HCM với hơn 7 triệu dân (

4/2006) tập trung tại 24 quận huyện với diện tích 2.093,7 Km, là nơi tập trung hàng trăm nhà hàng, khách sạn, khu thương mại, văn phòng, công sở, trường học, chợ, siêu thị, bệnh viện, các trung tâm y tế, phòng khám đa khoa, và hơn 12.000 cơ sở

công nghiệp ( lớn, vừa và nhỏ), hơn 800 công ty nằm trong và ngoài 12 khu công

nghiệp, 03 khu chế xuất và 01 khu công nghệ cao, hàng ngàn công trình đang xây dựng và cải tạo Trong những năm gần đây, tốc độ đô thị hoá, công nghiệp hoá tại

Trang 2

Tp.HCM đã gia tăng mạnh mẽ và đang có xu hướng tăng mạnh trong những năm

tới, gây nhiều áp lực nặng nề đối với môi trường và cộng đông Nhiều vấn để nan

giải, những thách thức lớn được đặt ra trong công tác bảo vệ môi trường nhằm phát

triển ổn định và bển vững thành phố Bên cạnh nhiều khó khăn, tổn tại trong việc giải quyết các vấn để liên quan đến nước thải và ô nhiễm không khí, vấn để chất thải rắn đang thật sự là một thách thức lớn, một mối de doa khủng khiếp đối với môi trường và sức khỏe cộng đồng Giải quyết vấn để chất thải rắn đô thị tại

Tp.HCM là một bài toán phức tạp, từ khâu thu gom, phân loại rác tại nguồn, đến

việc vận chuyển xử lý chất thải rắn Mỗi ngày Tp.HCM đổ ra khoảng 6.000 tấn chất thải rắn đô thị, với thành phần chủ yếu là thực phẩm thừa chiếm khoảng 50- 90% (khối lượng ướt), các chất thải rắn có khả năng tái chế chiếm khoảng 30% và một phần nhỏ các loại chất thải không có kha năng tái sử dụng, tái chế chiếm

khoảng 5-10% ( khối lượng ướt) Bên cạnh đó, còn có khoảng 700-1.200 tấn chất

thải rắn xây dựng ( xà bần) và 1.000-1.500 tấn chất thải rắn công nghiệp, trong đó

có khoảng 150-200 tấn chất thải nguy hại, 7-9 tấn chất thải rắn y tế

Chất thải rắn và việc xử lý chúng hiện nay là vấn để bức xúc của nước ta

nói chung và của Tp Hồ Chí Minh nói riêng Lượng chất thải rắn thu gom tại các

đô thị Việt Nam hiện chỉ đạt khoảng 70% yêu cầu so với thực tế và chủ yếu tập trung tại các khu vực nội thành Bên cạnh đó, các loại chất thải rắn nguy hại không

được phân loại riêng mà trộn lẫn với chất thải rắn sinh hoạt, nếu không được xử lý triệt để sẽ gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, dẫn đến suy thoái môi trường đất, nước, không khí Chất thải rắn đô thị hiện đang thực sự là một mối đe dọa lớn đối

với môi trường và sức khoẻ cộng đồng

Trang 3

Tại Tp.HCM hiện nay, phần lớn chất thải được vứt bỏ lẫn lộn, không phân loại tại nguồn và được đưa đến các bãi chôn lấp hợp vệ sinh của thành phố và thậm chí còn đổ xuống các kênh rạch, sông hổ, các khu đất trống gây 6 nhiễm môi trường, mất vệ sinh và mất mỹ quan nghiêm trọng Hiện nay, các bãi chôn lấp chất thải rắn tại Tp.HCM như bãi chôn lấp Gò Cát, Phước Hiệp, Đông Thạnh đang trong

giai đoạn quá tải, và việc xử lý các khí thải cũng như một lượng lớn nước rỶ rác tại

đây cũng là vấn để cấp bách cần được giải quyết Mặc dù các bãi chôn lấp này

được đầu tư rất lớn với công nghệ hiện đại, chúng vẫn luôn tạo ra những áp lực lớn

đối với môi trường với một lượng lớn nước rỉ rác ( §00-1.000 mỶ/ bã¡/ngày đêm) và

khí thải ( 500.000-700.000 mỶ/ngày đêm), đặc biệt là mùi hôi Ngoài ra, việc xử lý

chất thải rắn bằng phương pháp chôn lấp hợp vệ sinh chiếm diện tích đất chôn lấp

rất lớn chưa kể diện tích đất cho các công trình phụ trợ như đường giao thông, trạm

cân, sàn trung chuyển, trạm xử lý nước rỉ rác và khí thải, hành làng cây xanh cách

ly và diện tích này sẽ khó có thể sử dụng vào mục đích khác trong thời gian dài (

30-50 năm), không những thế, kinh phí để bảo trì và giám sát các bãi chôn lấp này sau khi đóng cửa cũng rất lớn Lượng chất thải rắn phát sinh trên địa bàn thành phố

sẽ không ngừng tăng nhanh với tốc độ tăng trưởng kinh tế và dân số của thành phố

Theo dự báo của Sở Tài Nguyên và Môi trường Tp.HCM, lượng chất thải rắn bình

quân ở thành phố có thể tăng từ 0,6I Kg/người/ngày năm 1996 lên hơn 1kg/người/ngày đến năm 2010, nghĩa là tăng thêm 40% trong vòng 15 năm

Chỉ có một phần nhỏ chất thải rắn được tái chế tại các cơ sở tái chế quy mô vừa

và nhỏ ở Tp.Hồ Chí Minh ( thu mua phế liệu và tái chế) Thực tế Tp.HCM hiện nay

có nhiều cơ sở tái chế chất thải rắn, hoạt động từ lâu với nhiều loại nguyên liệu

Trang 4

được thu mua, tái chế như giấy, thủy tinh, nylon, kim loại Nhìn chung các cơ sở tái

chế này chỉ phát triển một cách tự phát với quy mô sản xuất nhỏ, công nghệ tái chế vẫn không được đầu tư mới và một số công nghệ đã không còn phù hợp với điều kiện thực tế, do đó chưa tạo được nhiều sản phẩm có chất lượng cao đáp ứng nhu

cầu của của thị trường tiêu thụ Hoạt động tái chế này đã phần nào đáp ứng việc

tái chế chất thải ở Tp.HCM Bên cạnh mặt tích cực mà hoạt động tái chế này mang lại, trong quá trình phát triển, hoạt động tái chế cũng đã gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, ảnh hưởng sức khỏe người dân và cộng đồng xung quanh, đồng thời

do công nghệ tái chế lâu đời nên cũng chưa khai thác hết chất thải rắn có thể tái chế về chủng loại và khối lượng

Như đã biết, môi trường có chức năng là nơi chứa đựng các chất thải do con người tạo ra trong cuộc sống và hoạt động sản xuất Để góp phần giảm thiểu khả năng chịu tải của môi trường, việc tái chế chất thải rắn là rất quan trọng và thiết thực, nhằm giảm thiểu lượng rác đem chôn lấp và xử lý, đồng thời cũng tiết kiệm các nguồn nguyên liệu để sẳn xuất ra vật chất mới Mặc khác, tái chế còn là một giải pháp hữu hiệu làm giảm chỉ phí sản xuất, giảm chi phí xử lý chất thải và do đó

hạ giá thành sản phẩm Tái chế giúp khôi phục và duy trì một môi trường trong sạch và lành mạnh, nhờ vậy giảm các chỉ phí chữa bệnh và chi phí do nghỉ ốm Môi

trường trong lành cũng giúp phát triển ngành du lịch kéo theo các hoạt động kinh tế

khác như nhà hàng, khách sạn, thương mại, cơ sở hạ tầng Về lâu đài, việc duy trì

sự phát triển bển vững quan trọng hơn nhiều so với tăng trưởng nhanh trong một thời gian ngắn với chất lượng phát triển thấp, gây áp lực lớn lên hệ thống cơ sở hạ tầng và gây ra những vấn để môi trường trầm trọng Như đã biết, một xã hội bển

Trang 5

vững là xã hội không những đảm bảo được nhu cầu hiện tại của thế hệ hiện tại mà

phải đắm bảo nhu cầu phát triển cho các thế hệ tương lai Điều này chỉ có thể thực

hiện được khi các nguồn tài nguyên được sử dụng một cách hiệu quả và quan trọng

hơn là chúng có thể được tái chế .Xét trên tổng thể, thực hiện tốt việc tái chế chất thải rắn đem lại môi trường trong sạch hơn, cải thiện sức khỏe cộng đồng và là một trong những giải pháp quan trọng đảm bảo sự phát triển bền vững của xã hội Vì vay, dé tai “ Nghiên cứu và để xuất giải pháp thúc đẩy hoạt động tái chế chất thải rắn sinh hoạt tại thành phố Hồ Chí Minh” là một nhu câu hết sức bức thiết, có ý nghĩa sâu sắc trong việc thúc đẩy các hoạt động tái chế chất thải rắn sinh hoạt tại

nghiệp và nguy hại

b) Nội dung để tài

Nội dung để tài bao gồm :

Trang 6

* Tổng quan về số lượng, thành phần chất thải rắn và tình hình thải bỏ, xử lý chất

thải rắn hiện nay trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh Qua đó, đánh giá hiện trạng

-_ Đánh giá những thuận lợi và khó khăn trong hoạt động tái chế

œ Để xuất các giải pháp để thúc đẩy các hoạt động tái chế chất thải rắn sinh hoạt

tại đây

1.5 Phương Pháp nghiên cứu

Khảo sát, thống kê các cơ sở doanh nghiệp đang hoạt động trong ngành tái chế hiện nay trên địa bàn thành phố bằng khảo sát thực tế và qua các tài liệu có liên

Phương pháp phân tích hệ thống ( phương pháp SWOT- phân tích điểm mạnh ,

điểm yếu, cơ hội, thách thức)

Trang 7

1.6 Tính thực tiễn, tính mới của đề tài

a) Tính thực tiễn của để tài

Như đã đề cập trong phần tính cấp bách và cần thiết của để tài, việc tái chế chất thải rắn hiện nay rất thiết thực, không những tái chế giúp giảm thiểu khả năng

chịu tải của môi trường mà vai trò của tái chế còn thể hiện như là nguôn cung cấp nguyên vật liệu giá rẻ, qua đó tiết kiệm tài nguyên, hướng tới phát triển bền vững

Thực tế hiện nay ở Tp Hồ Chí Minh có rất nhiều cơ sở tái chế chất thải phát triển

tự phát, quy mô hộ gia đình hoạt động lâu đời với nhiều loại nguyên liệu được thu

mua và tái chế như giấy, thủy tinh, nylon, kim loại Phải nhận thấy rằng , các hoạt

động của các cơ sở thu mua, tái chế này đã phần nào tái chế được một lượng chất thải rắn nhất định Tuy nhiên, cũng phải nhận thấy rằng hoạt động của các cơ sở

này hầu như nằm ngoài tam kiểm soát của các cơ quan quản lý nhà nước, gây 6

nhiễm môi trường nghiêm trọng và chất lượng sản phẩm tái chế còn thấp Muốn

phát huy thế mạnh của các hoạt động tái chế này, cần xây dựng các giải pháp quản

lý và thúc đẩy, nhằm đưa hoạt động tái chế thành một ngành nghề, góp phần giải quyết vấn để chất thải rắn tại nước ta nói chung và Tp.HCM nói riêng Hoạt động tái chế hiện này cũng cần phải phát triển hơn nhằm đáp ứng chu cầu ngày càng cao

của khách hàng về chất lượng sản phẩm và các quy định về an toàn, môi trường b) Tính mới của để tài :

Mặc dù hoạt động tái chế tại Tp.HCM đã hình thành và phát triển hơn 30 năm qua nhưng nhìn chung chỉ phát triển một cách tự phát với quy mô sản xuất nhỏ, Trong những năm gần đây, đã có rất nhiều nghiên cứu trong nước về lĩnh vực tái

chế Tuy nhiên các công trình nghiên cứu này chỉ tập trung vào một ngành nghề tái

Trang 8

chế cụ thể hoặc chỉ đi sâu vào nghiên cứu hiện trạng tái chế chất thải mà chưa có

cái nhìn chung cho việc quản lý cũng như các giải pháp thúc đẩy cho các hoạt động

này Qua để tài này, sẽ để xuất các giải pháp nhằm quản lý, thúc đẩy hoạt động tái chế tại Tp.HCM hiện nay

Trang 9

CHUONG

TONG QUAN VE CHAT THAI RAN SINH HOAT

VA TAI CHE CHAT THAI RAN

2.1 Tổng quan về chất thải rắn sinh hoạt

2.1.1 Nguồn phát sinh

2.1.2 Tính chất

2.1.3 Tác hại đối với môi trường

2.2 Tổng quan về tái chế chất thải rắn

Tái chế chất thải rắn là quá trình thu hồi và tái sản xuất các phế liệu, chất thải bỏ

từ các hộ gia đình, các cơ sở công nghiệp, nông nghiệp và kinh doanh để tạo ra các

z 42

sản phẩm có ích

Tái chế chất thải rắn sinh hoạt là quá trình thu hồi và tái sản xuất các phế liệu, chất

thải bỏ từ các hoạt động sinh hoạt hàng ngày của các gia đình, các cơ quan, văn

phòng để tạo ra các sản phẩm có ích

Tái chế chất thải rắn bao gồm :

- _ Đốt chất thải rắn tạo nguồn năng lượng

- _ Chế biến phân hưu cơ từ chất thải rắn thực phẩm

- Tái chế chất thải rắn thành các vật liệu, sản phẩm và chế phẩm xây dựng

Trang 10

2.2.1 Tổng quan về tình hình tái chế chất thải rắn trong nước

Tại Việt Nam, thực hiện chiến lược phát triển bển vững, chiến lược quản lý môi trường đến năm 2010, chiến lược Bảo vệ môi trường quốc gia giai đoạn 2015, tầm

nhìn 2020 đã xác định các đô thị, trong đó có thành phố Hồ Chí Minh, phải tăng

cường công tác tái sử dụng, tái chế và áp dụng công nghệ mới nhằm mục tiêu đến năm 2010 giảm từ 30-50% lượng chất thải rắn đô thị đưa về các bãi chôn lấp Thực hiện nội dung chiến lược, trong những năm qua đã có rất nhiều nghiên cứu về lĩnh vực tái chế nhằm hạn chế lượng chất thải rắn đi đến các bãi chôn lấp cũng như tạo nguồn nguyên liệu cho sản xuất nhằm tiết kiệm tài nguyên, bảo vệ sức khỏe cộng đông và hướng tới phát triển bền vững

Các nghiên cứu điển hình như : Nghiên cứu công nghệ xử lý và tái chế phế thải

của quá trình luyện cốc làm phụ gia siêu dẻo cho bê tông với mục đích nghiên cứu

chế tạo và thiết lập quy trình cho công nghệ sản xuất phụ gia siêu dẻo cho bê tông trên cơ sở thu gom, xử lý phế thải công nghiệp luyện cốc ở nhà máy Cốc hoa-Công

ty Gang thép Thái Nguyên nhằm góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường; các nghiên cứu về tái chế nhựa phế thải, tái chế giấy trên địa bàn Tp.Hà Nội; nghiên ctfu san xuất compost từ chất thải rắn hữu cơ và xây dựng quy trình công nghệ phù hợp cho Tp.HCM; nghiên cứu nâng cao hiệu quả hệ thống tái sinh, tái chế tại

Tp.HCM; nghiên cứu các quy định về tái chế rác áp dụng tại Tp.HCM; nghiên cứu

tái sinh năng lượng từ thành phần hữu cơ của chất thải rắn đô thị Tp.HCM; nghiên

cứu điều chế nhiên liệu biodiesel từ dầu thực vật phế thải được thực hiện tại Hà Nội ( Trung tâm Khoa học Tự nhiên và Công nghệ Quốc gia) và Tp.HCM ( Đại học Quốc gia Tp.HCM); nghiên cứu tận dụng cặn từ quá trình súc rửa tàu dầu; nghiên

Trang 11

cứu tận dụng chất thải rắn công nghiệp tôn mạ kẽm; nghiên cứu sản xuất một số sản phẩm chất lượng cao từ phế thải kẽm nhôm; nghiên cứu xử lý- tận dụng chất thải hữu cơ nguy hại; nghiên cứu công nghệ xử lý chất thải rắn (rác xây dựng) chế

tạo thành vật liệu xây dựng đã đưa ra được quy trình công nghệ xử lý xà bân và chế

tạo vật liệu xây dựng sản xuất loại gạch xây tường và lát vỉa hè có chất lượng cao

và giá thành phù hợp Để tài “ Nghiên cứu các giải pháp phát triển hiệu quả để tuần hoàn và tái sử dụng chất thải rắn công nghiệp và chất thải rắn công nghiệp nguy hại-để xuất một thị trường trao đổi chất thải rắn công nghiệp-chất thải rắn

công nghiệp nguy hại cho khu vực Tp.HCM đến năm 2010 do viện môi trường và

tài nguyên chủ trì, TS Lê Thanh Hải làm chủ nhiệm để tài, năm 2003 Gần đây nhất là để tài “ Nghiên cứu xây dựng mô hình tổ chức và hoạt động quỹ tái chế

chất thải rắn tại Tp.HCM, tháng 9/2006 do CN Huỳnh Thu Hà và Th§ Pham Hồng

Nhật làm chủ nhiệm đề tài Mục tiêu của để tài là xây dựng cơ sở pháp lý, kỹ thuật

và để xuất mô hình Quỹ tái chế Chất thải rắn ở Tp Hồ Chí Minh nhằm đảm bảo hiệu quả của công tác quản lý chất thải theo chiến lược phát triển bển vững Viện Môi trường và Tài nguyên cũng đã có báo cáo tổng hợp về để tài nghiên cứu khoa

học “ Nghiên cứu cơ sở khoa học xây dựng phương pháp tính phí xử lý chất thải

nguy hại theo cơ chế thị trường” do Th§ Nguyễn Thanh Hùng làm chủ nhiệm để tài ( tháng 9/2006) với mục tiêu là xây dựng phương pháp tính phí xử lý chất thải nguy

hại theo cơ chế thị trường có cơ sở khoa học và phù hợp với điều kiện Tp Hồ Chí Minh, đối tượng nghiên cứu chính của để tài là chất thải nguy hại dạng rắn và bán

rắn từ các khu công nghiệp, các cơ sở công nghiệp trên địa bàn Tp.Hồ Chí Minh

Trang 12

Tp.HCM hiện nay co rất nhiều cơ sở thu mua phế liệu và tái chế chất thải đã

hoạt động từ lâu với nhiều loại nguyên liêu được mua và tái chế như : giấy, thủy

tỉnh, nylon, kim loại Thành phố hiện đang đầu tư xây dựng 7 nhà máy tái chế và

xử lý chất thải lớn Các loại chất thải rắn đang được thành phố quan tâm tái chế

như : nhựa, da, giấy, cao su, thủy tỉnh, kim loại

2.2.2 Tổng quan về tình hình tái chế ngòai nước

Tái chế là một hoạt động phổ biến trong lịch sử nhân loại Trước thời kỳ công nghiệp tại Châu Âu, người ta đã thu nhặt các mảnh vụn làm từ đồng và các

kim loại có giá trị khác, nung chẩy để tái sử dụng Ở Anh, tro bụi từ việc đốt gỗ và than được dùng để làm nguyên liệu gạch Tái chế giấy xuất hiện ở nước Anh vào năm 1921, khi tổ chức Rác thải Giấy Anh quốc ( British Waste Paper Association) được thành lập để khuyến khích kinh doanh trong lĩnh vực tái chế giấy

Chiến lược quản lý rác thải đô thị ở Tp Luân Đôn (nước Anh) được ban hành

vào năm 2002 hướng tới Tp bển vững vào năm 2020 Để đạt được mục tiêu dài hạn

này, các thói quen sinh hoạt phải thay đổi sao cho mỗi người thải ra lượng rác thải

tối thiểu Ngành công nghiệp tái chế cũng được thúc đẩy hình thành Chính quyển

Tp Luân Đôn đã đặt ra mục tiêu tái chế và làm phân compost từ rác thải đô thị là 17%, 25% và 33% tương ứng với các năm 2003, 2005 và 2015 Trong năm 2003-

2004, Tp.Luân Đôn đã thải ra 4,34 triệu tấn rác, trong đó 70% được xử lý bằng cách chôn lấp hợp vệ sinh, 19% xử lý bằng phương pháp đốt và 11% lượng rác thải còn lại được tái chế

Tại Mỹ, sự đầu tư lớn cho tái chế là vào những năm 1970, do chỉ phí nhiên

liệu tăng Năm 1973, thành phố Berkeley, California ( Mỹ) bắt đầu một trong

Trang 13

những chương trình thu gom tại lề đường đầu tiên bằng những lần thu lượm giấy báo từ các khu vực dân cư hàng tháng Từ đó nhiều nước đã bắt đầu và mở rộng các chiến dịch thu gom tại nhà Một sự kiện nữa đánh dấu cho nỗ lực tái chế xẩy ra vào năm 1989 cũng tại thành phố Berkeley, đó là lệnh cấm sử dụng bao gói bằng chất

liệu polystyrene để giữ ẩm bánh Hamburger McDonald's Một tác động của lệnh

cấm này đã tăng cường sự quản lý tại nhà sản xuất polystyrene lớn nhất thế giới (Dow Chemical), dẫn đến nỗ lực lớn đầu tiên để chứng minh rằng nhựa cũng có thể tái chế Đến năm 1999, riêng tại Mỹ đã có 1677 công ty tham gia vào ngành công nghiệp tái chế nhựa từ rác thải tiêu dùng Năm 2003, lượng chất thải rắn tái chế ở

Mỹ ( bao gồm sản xuất phân Compost) là 30,6 %; lượng chất thải rắn mang đi chôn lấp là 56,4%; còn lại được xử lý bằng phương phdp dot ( theo www.epa.gov) Mặt

khác, để giảm thiểu lượng rác thải phát sinh, nước Mỹ đã có những chính sách hỗ

trợ hoạt động tái chế và hiện đang có những cố gắng thiết lập xã hội kinh tế tuần

hoàn, các nhà sản xuất phải xét xem sản phẩm của mình có sinh ra ít chất thải hơn

không và các chất liệu có khả năng tái chế hay không

Tại Đức, năm 1990 Volkwagens đã khánh thành một nhà máy tái sinh xe ô

tô và được chính phủ Đức khuyến khích về việc thực hiện các biện pháp thu hồi

phế phẩm

Tại Nhật, những công trình nghiên cứu biện pháp tái sử dụng, tái chế rác thải

bắt đầu từ thập kỷ 80 Từ năm 1980, công nghệ tái chế chất thải rắn ở Nhật đã bắt

đầu có biến chuyển cùng với việc Chính phủ Nhật thông qua một số đạo luật, như

Luật xúc tiến việc sử dụng những nguồn tài nguyên có thể tái chế năm 1991 hay

Luật cơ bản về môi sinh năm 1993, Luật xúc tiến việc thu gom, phân loại và tái chế

Trang 14

bao bì năm 1995 Ở Nhật hiện nay, công việc tái chế, hầu như ai cũng tham gia Đồ

nhựa được làm từ nguyên liệu sợi polyeste tái chế; rác thải thực phẩm trở thành

phân bón tổng hợp cho cây trồng; vụn thủy tinh trở thành gạch lát nén Theo con

số thống kế tại Nhật Bắn, năm 1995 có khoảng 50% giấy phế liệu được thu hồi và tái chế, 100% các chai miểng thủy tỉnh và 75% tổng lượng vỏ kim loại đô hộp được

thu hồi và tái chế

Năm 2004, lượng giấy tái chế được tiêu thụ tại Trung Quốc là 28,8 triệu tấn

Tỷ lệ tái chế giấy là 33,4% và sử dụng giấy tái chế là 58,2% Năm 2005, có nhiều

dự án về tái chế giấy được thành lập cũng như mở rộng tại Trung Quốc Hiện nay, Trung Quốc đang đẩy mạnh việc hình thành các hệ thống thị trường tái chế giấy, đáp ứng nhu cầu thu gom, phân loại, kỹ thuật và các hệ thống máy móc tái chế giấy hiện đại Trung Quốc có thị trường tiểm tàng về tái chế giấy (Theo

http://www.chinapapershanghai.com/wastepaper)

Trong chính sách quần lý rác thải vào năm 1992, chính phủ Hàn Quốc đã đưa

vào quy định hạn chế phát sinh rác thải nhằm mục đích sử dụng tài nguyên một cách hiệu quả và đẩy mạnh việc tái chế tài nguyên Hiện nay, Chính phủ Hàn Quốc cũng đưa ra mục tiêu nâng cao tỷ lệ tái chế rác thải công nghiệp đến năm 2010 là

§0% Theo mục tiêu tái chế của Hàn Quốc, nước này đã đầu tư vào việc mở rộng các thiết bị tái chế cơ bản, mở rộng tài trợ và khuyến khích cho công nghiệp tái chế trong nước, nhằm nâng cao tỉ lệ tái chế lên 53% lượng rác thải phát sinh

Chính Phủ Đài Loan với chương trình tái chế toàn bộ rác và không chôn rác

vào năm 2010 với mục tiêu về tỷ lệ tái chế là 33% vào năm 2007, 67% vào năm

2008 và 100% vào năm 2010 Khái niệm không chôn rác ( Zero Landfill) có nghĩa

Trang 15

tất cả rác thải đô thị sẽ được tái chế hoặc tái sử dụng, và bao gồm sản xuất rác thải hữu ơc làm phân compost, tái chế và tái sử dụng tất cả nhựa, giấy kim loại, thủy tỉnh sử dụng tốt nhất năng lượng tạo ra từ đốt rác và rác phân hủy

Các nước phát triển hiện nay đang thay đối lối sống là tiêu dùng các sản phẩm có nguồn gốc tái chế và phát triển ngành kinh doanh tái chế Đặc điểm của hoạt động thu hồi và tái chế chất thải rắn ở nước này là tổ chức các dịch vụ công cộng có trách nhiệm đẩy mạnh tái chế rác thải bằng ngân sách Hình 3.1 sau đây thể hiện tỷ lệ tái chế chất thải rắn ở Hồng Kông, Hàn Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ và

Nhật Bản

Trang 16

Hong Kong Hàn Quốc Thổ Nhĩ Kỳ Nhật Bản

Giấy và Chất hữu cơ Thuy tinh Kim loai (vo Chat déo

Lan, Nhật, Đài Loan, Singapore, Thái Lan ) đều hướng về mục tiêu 3R (Reduce,

Reuse, Recycle) là giảm thải, tái sử dụng và tái chế, trong đó mục tiêu hàng đầu là

giảm lượng chất thải Đồng thời với việc xử lý chất thải rắn cũng được thực hiện

theo hướng giảm thiểu lượng rác chôn lấp do quỹ đất ngày càng thu hẹp, thay dần

Nghiên cứu đề xuất giải pháp thúc đẩy hoạt động tái chế HVTH : Nguyễn Thị Phương Anh chất thải rắn sinh hoạt tại thành phố Hồ Chí Minh

Trang 17

bằng công nghệ đối đối với các chất thải rắn không thể tái chế được Để đạt được

mục tiêu 3R, các nước đã ban hành một hệ thống các chính sách đồng bộ, các quy

định cụ thể, chỉ tiết để thực thi, bao gồm cả việc phân công trách nhiệm trong từng công đoạn quản lý và xử lý chất thải rắn Các công cụ kinh tế trong quản lý rác thải như thuế, phí tái chế được vận dụng khác nhau ở mỗi nước nhằm huy động và

sử dụng hiệu quả hợp lý nguồn lực của chính những người sử dụng tài nguyên và

người gây ô nhiễm để cải thiện môi trường hoặc giảm những hậu quả bất lợi cho môi trường Bên cạnh việc giảm thiểu lượng chất thải rắn, ngành tái chế chất thải hiện đang được khuyến khích phát triển như một trong những giải pháp sử dụng tiết

kiệm và hiệu quả tài nguyên thiên nhiên trong chiến lược bảo vệ môi trường và

phát triển bển vững Chính Phủ các nước đã đưa ra các chính sách tài chính như

giảm thuế lợi tức khi đầu tư công nghệ tái chế ( Đan Mạc, Mỹ ), thành lập Quỹ tái

chế chất thải ( Đài Loan, Nhật ) để phát triển hoạt động tái chế chất thải Đồng thời, các chương trình tái chế chất thải đã huy động sự tham gia của tư nhân, cộng đông dân cư cùng với chính quyền trong hoạt động tái chế và sử dụng sản phẩm tái

chế

Như vậy, hoạt động tái chế chất thải rắn trên thế giới đã được quan tâm và thực

hiện từ lâu đời Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật cũng như các chính sách quản lý phù hợp, hoạt động tái chế ngày càng tạo được nhiều sản phẩm có giá trị và chất lượng cao, giúp giảm bớt áp lực cho môi trường và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên

2.2.3 Quản lý chất thải rắn tại một số nước phát triển (Hàn Quốc, Nhật Bản,

Singapore )

Trang 18

a Quan ly chat thai ran tai Han Quéc

Luật quản lý rác thải ở Hàn Quốc đưa ra các tiêu chuẩn xử lý, bảo quản, vận chuyển và thu gom rác thải và trách nhiệm của các đối tượng xả thải nhằm xử lý

chất thải rắn hợp ly nhất Đối với chất thải rắn sinh hoạt, chính quyển địa phương

có trách nhiệm xử lý hợp lý ; đốivới rác thải nơi kinh doanh, các cơ sở kinh doanh sản xuất có trách nhiệm xử lý hợp lý

Trong chiến lược quản lý chất thải rắn vào năm 2002, Chính phủ Hàn Quốc đã đưa

vào quy định hạn chế phát sinh chất thải rắn nhằm sử dụng hiệu quả tài nguyên

thiên nhiên và đẩy mạnh việc tái chế chất thải

Những quy định chủ yếu trong luật tái chế và xử lý rác thải trong nước:

- Quy dinh han chế sử dụng sản phẩm dùng một lần : quy định đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh hạn chế sử dụng các sản phẩm dùng một lần và không được cung cấp sản phẩm dùng một lần miễn phí tại các cửa hàng siêu thị, quán ăn

- _ Quy định về trả phí rác thải : quy định về phí mà người sản xuất hoặc nhập khẩu các nguyên liệu, thùng chứa bao hàm các chất độc hại, khó tái chế

- _ Quy định trách nhiệm tái chế đối với người sản xuất : Đưa ra các danh mục bắt buộc tái chế đối với một số sản phẩm, chất liệu bao bì sinh ra nhiều rác thải sau khi sử dụng Quy định trách nhiệm đối với người sản xuất hay nhập khẩu

sản phẩm trong việc thu gom, tái chế các sản phẩm này Hoặc những người này

phải có trách nhiệm chỉ trả phí thu gom, tái chế, xử lý rác thải cho các cơ sở tái chế

Tình hình xử lý chất thải rắn hiện nay tại Hàn Quốc :

Trang 19

- D6i véi chat thai ran céng nghiép : Cac co sé sn xuat c6 trách nhiệm xử lý toàn bộ ( chôn lấp, tiêu hủy, tái chế) hoặc ủy thác cho công ty chuyên xử lý ăIn

thực hiện

-_ Đối với chất thải rắn nông nghiệp : Chất thải rắn nông nghiệp được nông dân

thu gom rồi tập trung về từng khu vực thu gom tại làng, xã Sau đó, Công ty môi trường sẽ thu gom và xử lý toàn bộ

- _ Đối với chất thải rắn sinh hoạt :

Chất thải rắn sinh hoạt thuộc các loại đem chôn lấp không thể tái chế được đựng trong các túi nhựa thiết kế theo tiêu chuẩn Các loại chất thải có thể tái

chế được phân loại vào các thùng thu gom Chính quyền địa phương có trách

nhiệm thu gom và xử lý

«œ Đối với các loại chất thải rắn nằm trong danh mục bắt buộc tái chế thuộc

trách nhiệm của các cơ sở sẳẩn xuất kinh doanh hay nhập khẩu nguyên liệu (hộp giấy, chai thủy tỉnh, hộp kim loại, các loại chai lọ tổng hợp, các loại pin, dầu bồi trơn, vỏ xe ) sản phẩm đó, các cơ sở này sẽ có trách nhiệm xử lý,

tái chế toàn bộ

\ Chất thải có thể | | Phân loại vào | | Chính quyền địa phuơng | | phản loại tái chế > cácthùng l> hoặc các doanh nghiệp CO) tại chế

thu gom trách nhiệm tái chế

Hình 2.6 : Quần lý chất thải rắn sinh hoạt tại Hàn Quốc

b Quản lý chất thải rắn tại Nhật Bản

Trang 20

Xã hội Nhật Bản là Xã hội tuần hoàn nguyên liệu, xãhội tuần hoàn nguyên liệu

bao gồm 5 nội dung : Giảm lượng rác thải, tái sử dụng, tái chế nguyên liệu, tái chế nhiên liệu và chôn lấp chất thải rằn phù hợp

Mục tiêu của Nhật bản cho đến năm 2010 là :

-_ Giảm 20% lượng chất thải rắn sinh hoạt bình quân đầu người so với năm 2000 -_ Tăng gấp đôi quy mô thị trường tái chế, sản phẩm tái chế so với năm 1997

- Tang ty lệ tuần hoàn nguyên liệu từ 10% năm 2000 lên 14% vào năm 2010

- _ Giảm 50% lượng chất thải rắn đem đi chôn lấp vào năm 2010 so với năm 2000

Ngoài ra, Nhật Bản đã hình thành một hệ thống các luật và văn bản pháp lý để

hoàn thành các mục tiêu trên như : Luật tái chế túi bao bì và đồ đựng (1995), Luật tái chế các đổ điện gia dụng ( tháng 4/2001), Luật tái chế thực phẩm ( tháng

5/2001), luật tái chế vật liệu xây dựng (tháng 5/2002), luật tái chế xe hết hạn sử

dụng ( 1/2005) và Luật thu mua xanh ( tháng 4/2001), Luật tái chế rác bếp (tháng

5/2001), Luật quản lý chất thải (sửa đổi tháng 12/2003, Luật Quản lý chất thải sửa đổi (tháng 12/2003) và luật khuyến khích sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên (

tháng 4/2001) Theo như các luật định này cùng các chính sách và nguyên tắc trách

nhiệm của chủ nguồn thải, Nhật Bản đã thành công trong chiến dịch tái chế, tái sử

dụng và giảm thiểu lượng chất thải phát thải

c Quản lý chất thải rắn tại Singapo

Năm 2002, Bộ Môi trường và Tài nguyên Singapore xây dựng kế hoạch xanh của cua Singapo và đặt mục tiêu tăng tỷ lệ tái chế chất thải từ 44% năm 2002 lên 60%

năm 2012 Năm 2004, Singapo đạt được tỷ lệ tái chế chất thải là 48% và phấn đấu tiến tới “lượng chất thải phải chôn lấp bằng zero”

Trang 21

Để khuyến khích phát triển và áp dụng các công nghệ cải tiến về môi trường, cơ

quan môi trường quốc gia đã xây dựng quỹ 20 triệu đô để hỗ trợ tài chính cho các

công ty tiến hành thử nghiệm các công nghệ môi trường Năm 2001, cơ quan này đã

phát động chương trình tái chế quốc gia để khuyến khích các hộ gia đình tham gia tái chế chất thải bằng cách cung cấp cho các hộ gia đình các túi hoặc thùng đựnê Itái chế để chia chọn các vật liệu tái chế tại nguồn phát sinh Số hộ gia đình tham gia chương trình tái chế chất thải gia đình tăng từ 22% năm 2001 lên 54% vào cuối năm 2004

Ngoài ra, Cơ quan môi trường quốc gia còn phát động các chương trình tái chế trong

các khu công nghiệp và thương mại nhằm khuyến khích tái chế gỗ, hộp giấy, nhựa

tổng hợp và kim loại tại các nhà máy quy mô vừa và nhỏ ở ác khu công nghiệp

Cơ quan môi trường còn phối hợp với hiệp hội khách sạn, hiệp hội bán lẻ và các

trung tâm thương mại tiến hành các dự án và chương trình tái chế và giảm thiểu chất thải

Trang 22

Thành phố Hồ Chí Minh là một trong những địa phương dẫn đầu cả nước về lĩnh

vực công nghiệp và dịch vụ Cùng với cả nước, trong những năm gần đây, thành

phố đã và đang đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhằm sớm đưa

thành phố trở thành Thành phố công nghiệp vào năm 2015-2017, là trung tâm công

nghiệp, giữ vai trò đầu tàu của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và của cả nước theo quan điểm phát triển đã được thể hiện trong Quy hoạch phát triển công nghiệp

Tp.HCM đến năm 2010 có tính đến năm 2020 do Thủ Tướng Chính Phủ phê duyệt tại quyết định số 188/2004/QĐ-Ttg Tp.HCM với hơn 7 triệu dân ( tháng 4/2006) là

nơi tập trung hàng trăm nhà hàng, khách sạn, khu thương mại, chợ, siêu thị, công

sở, văn phòng, trường học, bệnh viện, trung tâm y tế, phòng khám đa khoa, các cơ

sở công nghiệp, các khu công nghiệp, khu chế xuất, hàng trăm công trường xây

dựng cải tạo Mỗi ngày Tp.HCM đổ ra khoảng 6.000 tấn chất thải rắn đô thị, với thành phần chủ yếu là thực phẩm thừa chiếm khoảng 50-90% (khối lượng ướt), các chất thải rắn có khả năng tái chế chiếm khoảng 30% và một phần nhỏ các loại chất thải không có khả năng tái sử dụng, tái chế chiếm khoảng 5-10% ( khối lượng ướt) Bên cạnh đó, còn có khoảng 700-1.200 tấn chất thải rắn xây dựng ( xà bần) và 1.000-1.500 tấn chất thải rắn công nghiệp, trong đó có khoảng 150-200 tấn chất thải nguy hại, 7-9 tấn chất thải rắn y tế

Trang 23

2 Trường học nghiệm

3 Cơ quan, công sở Giấy, đồ dùng văn phòng, nhựa thủy tinh, bao bì

Nhà hàng, khách sạn, Rác thực phẩm các loại, giấy, nhựa, thủy tinh, bao bì, vỏ

4 quấánăn hộp

Khu di tích lịch sử văn

5 _ hoá, khu vui chơi giải trí Rác thực phẩm và bao bì các loại, giấy nhựa

Rác sinh hoạt đông thường, rác y tế ( bệnh phẩm, bông

6 _ Bệnh viện, cơ sở y tế băng, kim tiêm, dụng cụ y tế ),các chất độc hại khác

Cành lá cây khô, xác chết động vật, phân súc vật và các

7 Đường phố loại rác sinh hoạt thông thường

Các cơ sở sản xuất công Rác sinh hoạt thông thường, chất thải rắn công nghiệp,

8 _ nghiệp chất thải rắn nguy hại

Chợ và các trung tâm Rau quả, đầu tôm ruột cá, thức an dư thừa và các loại rác

9 thương mại sinh hoạt thông thường khác

Rác sinh hoạt thông thường, những chất thải đặc thù khác

10 Các cơ sở dịch vụ tuỳ theo loại hình dịch vụ sẳn xuất kinh doanh

11 Công trình xây dựng Xa ban

Rac sinh hoạt thông thường, giấy, nhựa, bao bì, vỏ hộp,

Các công trình công cộng thực phẩm, cành lá cây khô, xác chết động vật, phân súc

12 (công viên, nhà ga ) vật

13 Hầm cầu Phân hầm cầu

Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên ở Tp.HCM vào khoảng 2%/năm, trong khi tỷ lệ tăng

rác lại đến gần 40 %/năm Tức cứ tăng 1% dân số ( chưa tính yếu tố tăng dân số cơ học) thì lượng rác tăng tương ứng khoảng 20%

Trang 24

2.1.2 Tinh hinh quan ly chat thai ran

a) Tình hình lưu trữ, thu gom, vận chuyển

Luu trit:

Các hộ gia đình sử dung thùng chứa chất thải rắn bằng nhựa, một số gia đình sử

dụng thùng chứa bằng kim loại hoặc vỏ tre nứa Phổ biến nhất, người dân thường sử

dụng các loại túi xốp, nilon chứa chất thải rắn Ở nhiều nơi, các hộ gia đình sử dụng

chung một thùng chứa hoặc chứa trong các loại túi rồi đổ thành đống tại một điểm

nhất định Khi đến thời gian giao rác, thông thường các hộ đem thùng chứa hoặc túi nilon để trước cửa để người thu gom rác dễ dàng thu gom Đối với những hộ không

ở nhà vào thời gian thu gom rác, thường bỏ rác vào các bọc nilon buộc chặt, để

trước cửa Đối với các loại chất thải rắn có giá trị, thông thường được người dân lưu

giữ trong nhà và bán cho những người thu mua phế liệu dạo

Tại các chợ, hầu hết chất thải rắn phát sinh đều được thải bỏ ngay tại các lối đi

trong chợ Sau khi tan chợ, công nhân vệ sinh sẽ thu gom rác trong chợ Đối với các

siêu thị, hầu hết chất thải rắn được lưu giữ trong các thùng chứa 2401

Đối với trường học, công sở, nhà hàng, khách sạn, chất thải rắn được lưu giữ trong

các thùng chứa nhỏ được trang bị trong đơn vị Sau đó, chất thải rắn được chuyển ra

đổ vào thùng 2401

Chất thải rắn bệnh viện và các cơ sở y tế được lưu giữ trong các thùng nhựa màu vàng ( chất thải rắn y tế) và màu xanh ( chất thải rắn sinh hoạt) với các thùng có

dung tích khác nhau

Thu gom, vận chuyển:

Công tác thu gom, vận chuyển chất thải rắn do Công ty Môi trường đô thị thành phố

cùng với Công ty dịch vụ công ích các Quận huyện và lực lượng tư nhân thực hiện

Hằng ngày, chất thải rắn được thu gom bằng xe đẩy tay và tập trung tại các điểm

hẹn Trên địa bàn thành phố hiện này có 300 điểm hẹn trên đường, chuyển chất thải rắn từ xe đẩy tay sang xe cơ giới; 39 trạm và bô trungchuyển rác Phương tiện

Trang 25

thu gom, vận chuyển chất thải rắn trên địa bàn thành phố hiện có 4.128 xe thô sơ, 1.037 xe cơ giới các loại tải trọng từ 4 đến 13 tấn, ngoài ra còn có 10 tàu gỗ, 30

chiếc ghe là phương tiện thực hiện công tác vớt chất thải rắn và ven kênh rạch với

khối lượng chất thải rắn trung bình là 30 tấn/ngày

b) Tình hình xử lý

œ Xử lý chất thải công nghiệp nguy hại

Hiện nay vấn đề chất thải công nghiệp nói chung và chất thải nguy hại nói riêng là một trong những vấn để hết sức bức xúc của thành phố Chỉ có một phần rất nhỏ chất thải rắn nguy hại ( dầu cặn, dung môi, bao bì ) được thu hồi, tái chế và tái sử

dụng ngay trong các cơ sở công nghiệp hoặc đưa ra bên ngoài để tái chế tại các cơ

sở tư nhân Phần lớn chất thải nguy hại được vứt bỏ lẫn lộn với chất thải rắn đô thị

và đưa đến các bãi chôn lấp, thậm chí còn đổ xuống các kênh rạch, ra các khu đất

trống, gây nên tình trạng ô nhiễm môi trường và mất vệ sinh nghiêm trọng, đe doạ

trực tiếp đến nguy cơ suy thoái tài nguyên nước mặt và nước ngâm thành phố Qui chế Quản lý chất thải rắn nguy hại đã có hiệu lực thi hành hơn 6 năm qua nhưng hiện nay việc tách riêng chất thải rắn nguy hại ra khỏi chất thải rắn công nghiệp không nguy hại vẫn chưa được thực hiện tốt ở các cơ sở công nghiệp và có rất ít cơ

sở đăng ký quản lý chất thải nguy hại

Về mặt nguyên tắc, chất thải công nghiệp nguy hại phải được thu gom tách rời

khỏi chất thải công nghiệp không nguy hại Người phát thải chịu trách nhiệm xử lý

bao gồm vận chuyển đến các doanh nghiệp được Sở Tài Nguyên và Môi trường

thành phố cấp phép Nếu đơn vị phát sinh nằm trong khu công nghiệp, họ sẽ ký hợp

đồng thông qua khu công nghiệp Những doanh nghiệp xử lý chất thải thực hiện

chôn lấp chất thải cuối cùng tại bãi chôn lấp cùng với chất thải sinh hoạt sau khi đã

qua các bước xử lý, vì không có bãi chôn lấp dành riêng cho chất thải công nghiệp tại Tp.HCM

Theo đánh giá của Sở Tài Nguyên và Môi trường, khả năng tiếp nhận, xử lý, tiêu hủy chất thải công nghiệp nguy hại của các đơn vị có chức năng xử lý, tiêu hủy chất

Trang 26

thải công nghiệp được cấp phép hoạt động tại Tp.HCM ước tính khoảng 20

tấn/ngày, như vậy chỉ giải quyết được khoảng 10% ( lượng chất thải nguy hại hằng

này phát sinh tại Tp.HCM khoảng 150-200 tấn) lượng chất thải công nghiệp nguy

hại phát sinh tại Tp.HCM mỗi ngày Số lượng còn lại sẽ được đưa đến các bãi chôn lấp chất thái rắn sinh hoạt hoặc đổ trực tiếp ra sông rach, các khu đất trống Điều này hết sức nguy hiểm đối với môi trường và sức khoẻ cộng đồng

œ Xử lý chất thải y tế

Chất thải rắn y tế tại Tp.HCM hiện nay được Công ty Môi trường Đô thị Thành phố

xử lý giống chất thải nguy hại Công ty Môi trường Đô thị co một lò đốt với công suất 7 tấn/ngày xử lý chất thải y tế được thu gom từ 60 bện viện và phòng khám trong thành phố

œ Xi ly chat thải xây dựng

Công ty Môi trường đô thị thu gom và vận chuyển chất thải từ các công trường xây

dựng ( xà bân ) đến bãi chôn lấp Đông Thạnh hiện đã không còn tiếp nhận chất

thải rác sinh hoạt nữa

Bãi chôn lấp Đông Thạnh có lịch sử hình thành khá lâu Bãi chôn lấp ở Hocmon, trước năm 1990, là khu vực khai thác đất và bãi chôn lấp tự phát do nhu cầu bức bách về bãi đổ rác sinh hoạt của thành phố Từ năm 1990, được quy hoạch thành bải chôn lấp của thành phố Do licụ sử để lại, bãi chôn lấp không có lớp chống

thấm để ngăn nước rỉ rác, không có nhà máy xử lý nước rỉ rác và hệ thống thu khí

bãi rác Bãi chôn lấp có diện tích 43,5 ha, có tường rào bao quanh,hiện đang tiếp

nhận xà bận với công suất 1600 tấn/ngày

œ© Xử lý chất thải thương mại, sinh hoạt

Biện pháp áp dụng để xử lý chất thải rắn đô thị tại Tp.HCM hiện nay chủ yếu là chôn lấp tại các bãi chôn lấp được thiết kế hợp vệ sinh Chất thải rắn khác từ các

hộ gia đình, công sở và nhà máy chưa được phân loại tại nguồn, trong tình trạng trộn lẫn, sau khi được thu gom được chất lên xe tải lớn tại các trạm trung chuyển

Trang 27

của thành phố và chở tới các bãi chốn lấp đang trong giai đoạn cuối cùng là Bãi chôn lấp Gò Cát ( Bình Tân) và Bãi chôn lấp Phước Hiệp (Củ Chi)

Bãi chôn lấp Gò Cát ( Bình Tân)

+ Diện tích : 25 ha

+ Công suất tiếp nhận : 2000 tấn/ngày

+ Nhận rác từ tháng 1/2002, khối lượng chất thải rắn xử lý đến nay là hơn 4,5 triệu

tấn, hiện đang tăng công suất tiếp nhận từ 2000 tấn/ngày lên 3000-3500 tấn/ngày do bãi chôn lấp Phước Hiệp phải giảm công suất tiếp nhận từ 3000 tấn/ngày xuống còn 1.200-1.500 tấn/ngày do bãi chôn lấp này đang bị sự cố 4+ Xử lý nước rỉ rác : Do sự cố kỹ thuật hệ thống xử lý nước rỉ rác đã ngưng hoạt động từ đầu năm 2006

Bãi chôn lấp Phước Hiệp (Củ Chi)

s%- Diện tích : 43 ha

4+ Công suất tiếp nhận : 3000 tấn/ngày

+ Nhân rác từ 01/2003, khối lượng chất thải rắn xử lý đến nay là hơn 3 triệu tấn, giảm công suất tiếp nhận hiện nay từ 3000-3500 tấn/ngày xuống 1.000-1.500 tấn/ngày do sự cố sụt lún

4+ Xử lý nước rỉ rác : đến 5/2006 tổng khối lượng nước rỉ rác sau xử lý là 477.307

3

m

Trang 28

c) Nhifng t6n tai va kh6é khăn trong công tác quản lý chất thải rắn tại Tp.HCM

Việc xây dựng các bãi chôn lấp chưa được quy hoạch từ trước nên hiện nay phát

sinh một số vấn để như : Bãi chôn lấp Gò Cát không có khu vực cách ly do người dân lấn đất làm nhà sát hàng rào bãi chôn lấp; bãi chôn lấp Phước Hiệp lựa chọn

vụ trì không hợp lý như trên nền đất yếu, nằm trong vùng ngập lũ ngoài ra việc

lựa chọn công nghệ thích hợp để xử lý nước rỉ rác cũng là một tổn tại, trở ngại lớn hiện nay

Việc giảm thiểu chất thải tại nguôn chưa được quan tâm Và hầu hết chất thải rắn

sinh hoạt trên địa bàn Tp.HCM hiện nay chưa được phân loại tại nguồn và đều được

xử lý bằng phương pháp chôn lấp hợp vệ sinh Phương pháp chôn lấp hợp vệ sinh

đòi hỏi diện tích đất rất lớn để chôn lấp chưa kể diện tích đất cho các công trình

phụ trợ như đường giao thông, trạm cân, sàn trung chuyển, trạm xử lý nước rỉ rác,

khí chôn lấp, hàng cây xanh cách ly Ngoài ra các bãi chôn lấp này cần được bảo

trì và giám sát với kinh phí hàng năm sau khi đóng bãi là khá lớn Bên cạnh đó,

phương tiện thu gom và vận chuyển rác vẫn chưa đáp ứng cho lượng chất thải rắn

Trang 29

Với tốc độ tăng trưởng kinh tế và dân số của thành phố như hiện nay, lượng chất thải rắn phát sinh ngày càng nhiều và thành phần chất thải rắn đô thị ngày càng phức tạp, chứa nhiều thành phần nguy hại Chất thải rắn chưa được phân loại tại nguồn Phí thu gom chất thải rắn sinh hoạt chưa được tính toán và thu gom đây đủ Thành phố đang phải chỉ trả kinh phí rất lớn cho vấn để này

2.2 Hiện trạng hoạt động tái chế tại Tp.HCM

2.2.1 Sự phân bố các cơ sở tái chế trên địa bàn Tp.HCM

Hoạt động tái chế tại Tp.HCM đã có từ lâu đời, rất đa dạng và phong phú Kết quả

khảo sát tại 202 cơ sở thu mua phế liệu và 100 cơ sở tái chế tại Tp.HCM đã cung

cấp một hình ảnh khá tổng quan về tình hình tái chế chất thải rắn hiện nay tại Tp.HCM Các loại hình tái chế chất thải rắn phổ biến gồm 06 loại hình cơ bản sau

Loại hình Thu mua | Tái chế | Tái chế | Táichế | Tái chế | Tái chế Tổng số các cơ

tái chế phế liệu | cao su nhựa kim loại giấy thủy tỉnh sở tái chế

Quan 5

Trang 30

thủy tinh với 15/100 cơ sở chiếm tỷ lệ 15%, kế đến là loại hình tái chế kim loại

với 9/100 cơ sở chiếm tỷ lệ 9 % Loại hình tái chế xếp thứ tư là loại hình tái chế giấy với 7/100 cơ sở chiếm 7% và cuối cùng là loại hình tái chế cao su chiếm 2 % Quận II có số cơ sở tái chế tập trung nhiều nhất (74/100 cơ sở) với các loại hình tái chế tập trung chủ yếu là tái chế nhựa, tái chế thủy tỉnh

2.2.2 Hiện trạng về quy mô đâu tư, mặt bằng sử dụng và số lượng lao động

Kết quả khảo sát cho thấy hiện nay hầu hết các cơ sở thu mua các chất thải có thể tái chế và các cơ sở tái chế đều là những cơ sở có quy mô vừa và nhỏ Các cơ sở sản xuất vừa và nhỏ là các cơ sở sản xuất có tổng vốn đầu tư không quá 10 tỷ

Nghiên cứu đề xuất giải pháp thúc đẩy hoạt động tái chế HVTH : Nguyễn Thị Phương Anh

chất thải rắn sinh hoạt tại thành phố Hồ Chí Minh

Trang 31

đồng Việt Nam hoặc tổng số nhân công lao động hàng năm không quá 300 người

( theo Nghị định 90/2001/NĐ-CP)

Bảng 2.3 : Số lượng cơ sở theo Quy mô

Các cơ sở thu mua phế liệu thường có vốn đầu tư nhỏ ( số cơ sở thu mua phế liệu

có vốn đầu tư nhỏ hơn 25 triệu đổng chiếm khoảng 80%) Các cơ sở này, lực lượng

lao động chủ yếu là người trong gia đình và chỉ thuê 1-2 nhận công phụ giúp Các

cơ sở thu mua phế liệu có vốn đầu tư lớn chiếm một tỷ lệ khá nhỏ, cơ sở có vốn đầu

tư trên 100 triệu chiếm 1,5 %, vốn đầu tư từ 50-100 triệu là 9.9 % và vốn đầu tư từ

25-50 triệu là 8,4%

Kết quả khảo sát cho thấy hiện nay hầu hết các cơ sở tái chế đều là những cơ sở có quy mô vừa và nhỏ ( 97/100 cơ sở chiếm tỷ lệ 97% ), trong khi đó số cơ sở có quy

mô lớn là rất ít với tỷ lệ chỉ chiếm 3% trong tổng số 100 cơ sở tái chế đã khảo sát

Nhìn chung, đa số các cơ sở thu mua và tái chế chất thải có số vốn đâu tư nhỏ hơn

25 triệu đồng ( chiếm 69,6 % trong số 302 cơ sở)

Trang 32

Bảng 2.4 : Số lượng lao động theo từng loại hình tái chế

Số lượng lao động Số cơ sở tái chế

1.Thu mua chất thải có thể tái chế 202

Nếu căn cứ theo tiêu chí số lao động làm việc trong cơ sở đánh giá quy mô hoạt

động của cơ sở thì tất cả các cơ sở thu mua và tái chế chất thải đều thuộc loại quy

mô vừa và nhỏ vì theo thống kê không có cơ sở nào có tổng số lao động hàng năm lớn hơn 300

Về hiện trạng mặt bằng sử dụng, hiện nay tỷ lệ các cơ sở thu mua và tái chế phải thuê đất để hoạt động là khá cao chiếm 59,3% so với 40,7 % các cơ sở có đất sở

hữu

Trang 33

Bảng 2.5 : Hiện trạng mặt bằng sử dụng

2.2.3 Hiện trạng về môi trường

Kết quả khảo sát cho thấy các vấn để môi trường chưa được các cơ sở quan tâm, có đến 97/7% các cơ sở không có nhân viên về môi trường, 98% cơ sở không có hệ thống xử lý nước thải và khoảng 95% số sơ sở không có hệ thống xử lý khí thải

Ngoài ra, các cơ sở tái chế còn không đảm bảo về an toàn loa động và phòng cháy

chữa cháy Công nhân làm việc trong điều kiện an toàn lao động kém, trang thiết bị không an toàn và quá cũ kỹ, dụng cụ phòng cháy chữa cháy không được trang bị

2.2.4 Hiện trạng về hoạt động thu mua các chất thải có thể tái chế

Hiện nay, các loại chất thải được thu gom bởi một mạng lưới thu mua khắp thành

phố nhằm có thể tận thu tối đa những chất thải có thể tái chế Trong 202 cơ sở thu

mua phế liệu, hầu hết đều thu mua các phế liệu như nhựa, giấy, thủy tinh, đồng, nhôm, sắt một số cơ sở chỉ thu mua một loại phế liệu như giấy hoặc nhựa Các

vựa phế liệu này đa số thu mua từ những người lượm ve chai dạo, hoặc phế liệu từ các cơ quan xí nghiệp, hàng thanh lý, những cá thể ở gần vựa đem lại bán

Trang 34

Ngoài những nguồn phế liệu từ các cơ sở thu mua lớn, các cơ sở tái chế cũng tự thu mua phế liệu, các cơ sở tái chế có thế mạnh là giá thu mua cao hơn và do biết rõ được nhu cầu chất thải tái chế nên việc thu mua phế liệu cũng dễ dàng hơn Vì vậy, lượng phế liệu được bán trực tiếp cho các cơ sở tái chế cũng nhiều Các loại phế liệu mà các cơ sở tái chế thu mua là : các loại phế liệu cần số lượng lớn như khi tái

chế nhựa, giấy các loại phế liệu ít người thu gom như thủy tỉnh Trong khi đó, các

cơ sở thu mua phế liệu có thế mạnh trong việc thu mua các phế liệu có giá trị cao

như sắt, nhôm, đồng , số lượng ít và rải rác như ve chai, chỉ vụn

Bảng 2.2 Số cơ sở khảo sát chỉ thu mua một loại và thu mua nhiều loại phế liệu

STT ¡ phế liệu thu mua Số cơ sở T

Thu mua kim loại 10

Thu mua thủy tỉnh 3

Thu mua nhựa 4

Thu mua cao su 1

Thu mua nhiều loại phế liệu

(Nghiên cứu này, 2007)

Đánh giá chung về hoạt động thu mua phế liệu ở Tp.HCM

- Tất cả các cơ sở thu mua phế liệu đều có quy mô vừa và nhò ( theo Nghị định

90/2001/ND-CP ) và hình thành chủ yếu trên cơ sở quan hệ gia đình

- _ Cơ sở hạ tầng các cơ sở thu mua phế liệu rất kém, ít nhân công để phân loại

- Các cơ sở vẫn chưa coi trọng công tác bảo về môi trường và tất cả các cơ sở khảo sát không có nhân viên môi trường cũng như hệ thống xử lý nước thải,

khí thải

- _ Về nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước, các cơ sở thu mua phế liệu cũng chưa thực hiện đầy đủ, chỉ có khoảng 50 % cơ sở hoạt động có đóng thuế Điều này cũng chứng tỏ rằng sự quản lý của nhà nước đối với các cơ sở thu mua phế liệu cũng

chưa được chặt chẽ

Nghiên cứu đề xuất giải pháp thúc đẩy hoạt động tái chế HVTH : Nguyễn Thị Phương Anh chất thải rắn sinh hoạt tại thành phố Hồ Chí Minh

Trang 35

thing carton | Be hop thành phẩm Xeo giấy

Hình 2.1 Sơ đồ tái chế giấy điển hình

- _ Trên đây là sơ đổ tái chế giấy điển hình Có thể nhận xét về công nghệ tái chế

giấy của các cơ sở tái chế được khảo sat Inhư sau :

- _ Hầu hết các thiết bị tái chế đều cũ và thô sơ (nhiều thiết bị sử dụng vài chục

Hình 2.2 Sơ đồ tái chế kim loại điển hình

Kim loại phế Na Đổ vào Thành

Trang 36

Đa số các cơ sở tái chế kim loại đểu cùng biện pháp nấu chảy kim loại và đổ thành cục, sau đó bán cho các cơ sở sản xuất khác Công nghệ tái chế kim loại thật đơn

giản , tuy nhiên tái chế kim loại theo công nghệ này có một số nhược điểm sau :

- _ Chất lượng kim loại sau tái chế không ổn định do nguyên liệu đầu vào không

Hình 2.3 : Sơ đồ tái chế thủy tinh điển hình

Công nghệ tái chế thủy tinh ở các cơ sở tái chế có chung một số đặc điểm sau :

- Tất cả các cơ sở tái chế đều có chung một quy trình công nghệ và hâu hết đều

sử dụng lao động chân tay ở tất cả các công đoạn

- Nguyên liệu nào sẽ cho ra sản phẩm tương ứng, sản xuất tất cả các loại sản phẩm trên cơ sở nguyên liệu sẵn có

Nhựa phế liệu Phân loại Xay —>_ Rửa và phơi

Ep hay kéo thanh SP Xao va tron nina Hạtnhựa =©— Máy ó keo a

Trang 37

Không phải các cơ sở tái chế nhựa đều tiến hành tái chế qua các công đoạn đầy đủ

như sơ đồ trên, có cơ sở chỉ thực hiện các công đoạn phân loại nhựa phế liệu, xay,

rửa và phơi sau đó bán lại cho các cơ sở ó thành nhạt nhựa rồi ép thành sản phẩm

như dép nhựa, sản phẩm nhựa gia dụng Hoặc kéo thành sợi ( dây nilon) Tuy

nhiên cũng có cơ sở chỉ thực hiện công đoạn ó này hạt nhựa từ các cơ sở xay phế

liệu rồi tiếp tục bán hạt nhựa cho các cơ sở gia công thành sản phẩm cuối cùng Có

thể đánh giá công nghệ tái chế nhựa như sau :

-_ Đối với các cơ sở tái chế thực hiện một phần của quy trình tái chế nhựa thì đa phần sử dụng công nghệ cũ và thô sơ Nhiều thiết bị máy móc đã sử dụng hàng chục năm và chủ yếu vận hành bằng sức người

- _ Đối với một số cơ sở có quy mô và sản xuất một số mặt hàng cao cấp thì công nghệ tương đối hiện đại Những cơ sở này đã đầu tư thiết bị mới sản xuất trên cơ

sở kết hợp giữa nguyên liệu tái chế và nguyên liệu chính phẩm nhằm giảm giá

thành sản phẩm nhưng vẫn đắm bảo yêu cầu về chất lượng

e Tái chế cao su

Hình 2.5: Sơ đồ tái chế cao su điển hình Các cơ sở tái chế cao su qua khảo sát chỉ thực hiện công đoạn xay nhỏ cao su,

mouse rồi bán lại cho các cơ sở tái chế khác

2.3 Hiện trạng tiêu thụ sản phẩm tái chế

2.3.1 Các loại sản phẩm tái chế tại Tp.HCM

Các sản phẩm của quá trình tái chế là nguyên liệu thô và sản phẩm hoàn thiện

Các loại sản phẩm này, tùy mục đích sử dụng sẽ được bán cho các đối tượng tiêu thụ khác nhau và yêu cầu chất lượng cũng khác nhau

Trang 38

a Sản phẩm tái chế là các loại nguyên liệu thô

Các loại sản phẩm tái chế là các nguyên liệu thô hình thành chủ yếu từ các cơ sở

thu mua phế liệu Tại đây, các loại phế liệu được phân loại thành các thành phần

riêng biệt, làm sạch sẽ và bán cho các đầu mối tiêu thụ

Bảng 2.6 : Một số loại nguyên liệu thô

Trên cơ sở khảo sát sản phẩm tạo thành là các nguyên liệu thô từ các cơ sở thu

mua, tái chế chất thải, nhận thấy rằng khối lượng nguyên liệu thô được tái chế từ chất thải rắn là rất lớn, khối lượng lên đến hàng trăm tấn mỗi tháng Một số loại

nguyên liệu thô có thể đưa vào sản xuất ngay mà không cần qua một công đoạn xử

lý tiếp theo như : giấy, nhựa Bên cạnh đó, chủng loại của các nguyên liệu thô rất

đa dạng và so với nguyên liệu chính phẩm, giá của nguyên liệu này rất rẻ chỉ bằng

20-40% Do đó đây là thế mạnh tuyệt đối của các loại sản phẩm này

b Sản phẩm tái chế là sản phẩm cuối cùng

Bảng 2.7 Khối lượng và sản phẩm điển hình của các loại hình tái chế trên địa

bàn Tp.HCM

Trang 39

Loai hinh tai

chế Sản phẩm tái chế Đơn vị Khối lượng

Giấy cuộn đen tấn/tháng 300 Giấy 2 da tấn/tháng 30

Tái chế giấy Giấy xeo cuộn tấn/tháng 159

Bao bì, giấy carton tấn/tháng 330 Giấy tập học sinh tấn/tháng 10

Nhựa đã xay tấn/tháng 2.608 Keo phế liệu tấn/tháng 258

Dây nilon tấn/tháng 15.020 Túi xốp tấn/tháng 38 Tái chế nhựa | Vỏ bình acquy tấn/tháng 10

Ơng PVC tấn/tháng 6 Muỗng nhựa tấn/tháng 1 Ơng chỉ bằng nhựa tấn/tháng 1

Nghiên cứu đề xuất giải pháp thúc đẩy hoạt động tái chế HVTH : Nguyễn Thị Phương Anh chất thải rắn sinh hoạt tại thành phố Hồ Chí Minh

Trang 40

13

Phụ tùng các loại máy khoan tấn/tháng 4

Con bọ kẹp hàng hoá tấn/tháng 2 Tái chế kim loại | Phụ kiện dây dẫn điện tấn/tháng 5

Sắt phi, sắt lá tấn/tháng 15

Bản lề, chốt cửa tấn/tháng 24 Sắt cuộn tròn nhiều cỡ tấn/tháng 15 Chai lọ đựng thực phẩm tấn/tháng 196

tương đối rẻ so với các sản phẩm được sản xuất từ nguyên liệu chính phẩm

Ngày đăng: 17/08/2016, 08:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w