1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG ĐẾN NĂM 2020

222 373 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 222
Dung lượng 3,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Như vậy, rõ ràng vai trò của khu vực dịch vụ trong nền kinh tế, ngoài việc làm tăng sản lượng đầu ra còn đóng góp với vai trò là khu vực cung cấp các sản phẩm trung gian cho khu vực sản

Trang 1

ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

VIỆN NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI ĐÀ NẴNG

BÁO CÁO KHOA HỌC

Đề tài:

PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ

ĐÀ NẴNG ĐẾN NĂM 2020

Chủ nhiệm đề tài: PGS TS Nguyễn Thị Nhƣ Liêm

Đà Nẵng, tháng 08/2010

Trang 2

ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

VIỆN NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI ĐÀ NẴNG

BÁO CÁO KHOA HỌC

Tên đề tài: Phát triển dịch vụ trên địa bàn thành phố Đà Nẵng đến năm 2020

Cơ quan chủ trì: Viện Nghiên cứu Phát triển Kinh tế-Xã hội Đà Nẵng Chủ nhiệm đề tài: PGS.TS Nguyễn Thị Nhƣ Liêm

Phó chủ nhiệm đề tài: TS Hồ Kỳ Minh

(3) Sở Giao thông, vận tải

(4) Sở Văn hóa, thể thao và du lịch

(5) Sở Xây dựng

(6) Sở Tài chính

(7) Sở Y tế

(8) Sở Giáo dục và Đào tạo

(9) Sở Thông tin-Truyền thông

Cá nhân phối hợp nghiên cứu:

(1) TS Nguyễn Thanh Liêm

Trang 3

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT IV DANH MỤC CÁC BẢNG V DANH MỤC CÁC HÌNH VI DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ VII PHẦN MỞ ĐẦU VIII

1 ĐẶT VẤN ĐỀ VIII

2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU VIII

3 DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU IX

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU IX

5 PHẠM VI NGHIÊN CỨU IX

CHƯƠNG 1 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KHU VỰC DỊCH VỤ 1

1.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ PHÂN LOẠI DỊCH VỤ 1

1.1.1 Khái niệm 1

1.1.2 Những đặc điểm cơ bản của dịch vụ 5

1.1.3 Phân loại dịch vụ 6

1.2 VAI TRÕ CỦA DỊCH VỤ ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ-XÃ HỘI 9

1.2.1 Đóng góp vào tăng trưởng kinh tế 10

1.2.2 Tạo ra việc làm và thu nhập 11

1.2.3 Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) 12

1.2.4 Đóng góp vào kim ngạch xuất khẩu 13

1.2.5 Đóng góp quyết định vào phát triển xã hội và con người 13

1.3 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TĂNG TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA KHU VỰC DỊCH VỤ 14

1.3.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự tăng trưởng của khu vực dịch vụ 14

1.3.2 Các tiêu chí đánh giá sự phát triển khu vực dịch vụ trong nền kinh tế 18

1.4 KHUNG PHÁP LÝ ĐIỀU CHỈNH DỊCH VỤ Ở VIỆT NAM 21

1.4.1 Những cam kết của Việt Nam với WTO và các hiệp định thương mại song phương về dịch vụ 21

1.4.2 Khung pháp lý điều chỉnh dịch vụ ở Việt Nam 23

1.5 KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI 24 1.5.1 Sự phát triển của dịch vụ trên thế giới 24

1.5.2 Kinh nghiệm phát triển dịch vụ của một số quốc gia, vùng lãnh thổ 27

1.5.3 Những bài học kinh nghiệm có thể áp dụng nhằm phát triển dịch vụ của nền kinh tế địa phương 40

TÓM TẮT CHƯƠNG 1 48

CHƯƠNG 2 49

THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KHU VỰC DỊCH VỤ CỦA THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG GIAI ĐOẠN 1997-2009 49

2.1 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ-XÃ HỘI CỦA THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 49

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 49

2.1.2 Đặc điểm kinh tế 49

2.1.3 Dân số và lao động 56

2.2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KHU VỰC DỊCH VỤ CỦA THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 59

2.2.1 Tốc độ tăng trưởng và đóng góp của dịch vụ vào tăng trưởng GDP 59

2.2.2 Tỷ trọng khu vực dịch vụ trong cơ cấu kinh tế 61

2.2.3 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong khu vực dịch vụ 61

2.2.4 Vốn đầu tư vào khu vực dịch vụ 63

Trang 4

2.2.5 Lao động và việc làm trong khu vực dịch vụ 66

2.3 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN MỘT SỐ PHÂN NGÀNH TRONG KHU VỰC DỊCH VỤ CỦA THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 67

2.3.1 Dịch vụ du lịch 67

2.3.2 Thương mại 73

2.3.3 Dịch vụ bưu chính-viễn thông 78

2.3.4 Dịch vụ vận tải, kho bãi 81

2.3.5 Dịch vụ tài chính, tín dụng 86

2.3.6 Dịch vụ giáo dục, đào tạo 89

2.3.7 Dịch vụ y tế 93

2.3.8 Dịch vụ bất động sản 95

2.3.9 Dịch vụ giải trí 99

2.4 CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC NGÀNH DỊCH VỤ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 100

2.4.1 Cơ cấu tổ chức và chức năng nhiệm vụ QLNN đối với các ngành dịch vụ 100

2.4.2 Sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý Nhà nước về dịch vụ trên địa bàn thành phố Đà Nẵng 101

2.5 ĐÁNH GIÁ CHUNG 103

2.5.1 Điểm mạnh 103

2.5.2 Điểm yếu 104

2.5.3 Tồn tại 104

2.5.4 Nguyên nhân tồn tại 105

CHƯƠNG 3 109

GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KHU VỰC DỊCH VỤ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG ĐẾN NĂM 2020 109

3.1 DỰ BÁO PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ CỦA THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG ĐẾN NĂM 2020 109

3.1.1 Dự báo xu hướng phát triển dịch vụ 109

3.1.2 Cơ hội, thách thức 116

3.1.3 Dự báo phát triển khu vực dịch vụ của thành phố đến năm 2020 117

3.2 QUAN ĐIỂM PHÁT TRIỂN 128

3.2.1 Quan điểm phát triển 128

3.2.2 Mục tiêu tổng quát 128

3.2.3 Các mục tiêu cụ thể 129

3.3 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN 132

3.3.1 Định hướng phát triển chung 132

3.3.2 Định hướng phát triển một số phân ngành dịch vụ 133

3.4 LỰA CHỌN CÁC PHÂN NGÀNH DỊCH VỤ ƯU TIÊN PHÁT TRIỂN 140

3.4.1 Tiêu chí lựa chọn 140

3.4.2 Lựa chọn các phân ngành dịch vụ ưu tiên phát triển 141

3.4.3 Định hướng phát triển dịch vụ theo không gian đô thị 141

3.4.4 Các dự án trọng điểm 142

3.5 MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KHU VỰC DỊCH VỤ 142

3.5.1 Các giải pháp đột phá 143

3.5.2 Các giải pháp hỗ trợ 144

3.6 KIẾN NGHỊ 149

3.6.1 Đối với Chính phủ 149

3.6.2 Đối với thành phố Đà Nẵng 150

TÓM TẮT CHƯƠNG 3 152

KẾT LUẬN 153

TÀI LIỆU THAM KHẢO 155

TÀI LIỆU THAM KHẢO TRONG NƯỚC 155

Trang 5

TÀI LIỆU THAM KHẢO NƯỚC NGOÀI 157 PHỤ LỤC 155

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ASEAN Hiệp Hội Đông Nam Á

MICE Du lịch kết hợp tổ chức hội nghị, hội thảo, triển lãm, tổ chức sự kiện

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Xuất khẩu thương mại dịch vụ trên thế giới 13

Bảng 2.1 Tốc độ tăng trưởng các nhóm ngành kinh tế TP Đà Nẵng 51

Bảng 2.2 Cơ cấu lao động thành phố Đà Nẵng phân theo nhóm ngành kinh tế 53

Bảng 2.3 Tình hình dân số của thành phố Đà Nẵng từ năm 2000 đến 2008 56

Bảng 2.4 Lao động và việc làm của thành phố Đà Nẵng 57

Bảng 2.5 Tình hình nguồn lao động thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2000-2008 58

Bảng 2.6 Cơ cấu kinh tế thành phố Đà Nẵng theo hiện hành 59

Bảng 2.7 Tốc độ tăng và đóng góp vào tăng trưởng GDP 60

Bảng 2.8 Đóng góp của các ngành dịch vụ vào tăng trưởng GDP 62

Bảng 2.9 Vốn đầu tư phát triểntrên địa bàn thành phố Đà Nẵng (Theo giá hiện hành) 63

Bảng 2.10 Vốn đầu tư phát triểntrên địa bàn thành phố Đà Nẵng (Theo giá hiện hành) 64

Bảng 2.11 Đầu tư trực tiếp nước ngoài đăng ký theo lĩnh vực, ngành nghề 65

Bảng 2.12 Lao động làm việc trong khu vực dịch vụ 66

Bảng 2.13 Đóng góp của ngành dịch vụ khách sạn, nhà hàng vào tăng trưởng GDP 67

Bảng 2.14 Lượng khách du lịch đến Đà Nẵng phân theo lữ hành phục vụ và lưu trú phục vụ 69

Bảng 2.15 Cơ cấu tổng mức bán hàng hóa và dịch vụ xã hội 75

Bảng 2.16 Lao động trong lĩnh vực thương mại của TP Đà Nẵng 76

Bảng 2.17 Đóng góp của ngành bưu chính viễn thông vào cơ cấu GDP của khu vực dịch vụ 78

Bảng 2.18 So sánh mạng điểm phục vụ các quận, huyện trên địa bàn thành phố 79

Bảng 2.19 Hiện trạng dịch vụ viễn thông thành phố Đà Nẵng 80

Bảng 2.20 Đóng góp của ngành vận tải, kho bãi vào cơ cấu GDP của khu vực dịch vụ 81

Bảng 2.21 Khối lượng hàng hóa vận chuyển theo từng loại hình vận tải 84

Bảng 2.22 Vận chuyển hành khách theo từng loại hình vận tải 85

Bảng 2.23 Đóng góp của ngành tài chính, tín dụng vào tăng trưởng GDP 86

Bảng 2.24 Tổng huy động và dư nợ cho vay trên địa bàn thành phố năm 2000 – 2009 87

Bảng 2.25 Tình hình đóng góp vào NSNN của các đơn vị kế toán, kiểm toán 88

Bảng 2.26 Đóng góp của ngành giáo dục, đào tạo vào tăng trưởng GDP 89

Bảng 2.27 Chi thường xuyên ngân sách địa phương đối với giáo dục, đào tạo 90

Bảng 2.28 Các chỉ số giáo dục chính tại thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2004-2009 92

Bảng 2.29 Đóng góp của ngành y tế vào tăng trưởng GDP 93

Bảng 2.30 Danh sách các sàn giao dịch bất động sản đã đăng ký của thành phố Đà Nẵng 97

Bảng 2.31 Số sàn giao dịch bất động sản đã đăng ký 98

Bảng 3.1 Giá trị và tốc độ tăng của kim ngạch xuất nhập khẩu thương mại dịch vụ 112

Bảng 3.2 Tốc độ tăng trưởng GDP của khu vực dịch vụ của Việt Nam 114

Bảng 3.3 Mô tả thống kê các biến 117

Bảng 3.4 Mô tả thống kê dữ liệu khu vực dịch vụ (Theo giá cố định 1994) 118

Bảng 3.5 Mô tả thống kê dữ liệu khu vực dịch vụ (Theo giá thực tế) 118

Bảng 3.6 Dự báo qui mô GDP của các phân ngành dịch vụ đến năm 2015 120

Bảng 3.7 Dự báo tốc độ tăng trưởng GDP hằng năm của các phân ngành dịch vụ 121

Bảng 3.8 Dự báo qui mô GDP của các phân ngành dịch vụ 2011- 2015 121

Bảng 3.9 Dự báo chuyển dịch cơ cấu của các phân ngành dịch vụ 2011-2015 121

Bảng 3.10 Dự báo qui mô GDP của các phân ngành dịch vụ 2015- 2016 122

Bảng 3.11 Dự báo tốc độ tăng trưởng GDP hằng năm của các phân ngành dịch vụ 122

Bảng 3.12 Dự báo qui mô GDP của các phân ngành dịch vụ 2011- 2015 123

Bảng 3.13 Dự báo chuyển dịch cơ cấu của các phân ngành dịch vụ 2016-2020 123

Bảng 3.14 Dự báo qui mô GDP và tốc độ tăng trưởng của khu vực dịch vụ đến năm 2020 123

Bảng 3.15 Kết quả các ước lượng hồi qui hàm sản xuất Cobb-Douglas mở rộng 124

Bảng 3.16 Kết quả dự báo 2011-2020 126

Trang 8

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1 Tỷ trọng của khu vực dịch vụ trong GDP, 1985-2008 11

Hình 1.2 Thu nhập bình quân đầu người và tỷ trọng của khu vực dịch vụ, 2006 11

Hình 1.3 Phân bố của FDI theo khu vực trên thế giới và các nước đang phát triển 12

Hình 2.1 Tốc độ tăng trưởng kinh tế thành phố Đà Nẵng 50

Hình 2.2 Cơ cấu kinh tế TP Đà Nẵng phân theo nhóm ngành 52

Hình 2.3 Cơ cấu thành phần kinh tế trong GDP của TP Đà Nẵng 53

Hình 2.4 Tỷ lệ vốn đầu tư so với GDP của thành phố Đà Nẵng 54

Hình 2.5 Cơ cấu đầu tư của TP Đà Nẵng phân theo nhóm ngành kinh tế 54

Hình 2.6 Tỷ trọng các nguồn vốn đầu tư tại Đà Nẵng 55

Hình 2.7 Số dự án và lượng vốn FDI của Đà Nẵng tính đến 31/12 hàng năm (1997-2009) 55

Hình 2.8 Tốc độ tăng trưởng của khu vực dịch vụ và tốc độ tăng trưởng GDP 60

Hình 2.9 Cơ cấu kinh tế của các thành phố lớn năm 2000 và 2008 61

Hình 2.10 Cơ cấu FDI theo ngành nghề thành phố Đà Nẵng đến năm 2009 64

Hình 2.11 Cơ cấu và năng suất lao động của thành phố Đà Nẵng 66

Hình 2.12 Lượng khách du lịch đến thành phố Đà Nẵng 68

Hình 2.13 Thành phần khách du lịch quốc tế đến thành phố Đà Nẵng năm 2009 69

Hình 2.14 Doanh thu dịch vụ du lịch phân theo doanh thu dịch vụ và doanh thu lữ hành 70

Hình 2.15 Hoạt động khách sạn trên địa bàn thành phố Đà Nẵng 71

Hình 2.16 Số lượng các đơn vị kinh doanh lữ hành trên địa bàn thành phố Đà Nẵng 71

Hình 2.17 GDP thương mại thành phố Đà Nẵng giai đoạn 1997-2009 74

Hình 2.18 Tốc độ tăng trưởng GDP thương mại và tốc độ tăng trưởng GDP 74

thành phố Đà Nẵng giai đoạn 1997-2009 74

Hình 2.19 Tỷ trọng của GDP thương mại so với GDP 75

thành phố Đà Nẵng giai đoạn 1997-2009 75

Hình 2.20 Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đăng ký theo lĩnh vực, ngành nghề 96

vào thành phố Đà Nẵng 96

Trang 9

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ

Sơ đồ 1.1 Định nghĩa dịch vụ của Hill (1977) 2

Sơ đồ 2.1 Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước khu vực dịch vụ 101

Trang 10

PHẦN MỞ ĐẦU

1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong vài thập kỷ qua, sự đóng góp của khu vực dịch vụ vào tăng trưởng kinh tế đã và đang ngày càng thu hút nhiều hơn sự chú ý của các nhà kinh tế cũng như các nhà hoạch định chính sách Thực tiễn phát triển khu vực dịch vụ của thành phố Đà Nẵng trong thời gian gần đây cho thấy có nhiều chuyển biến tích cực Cơ cấu kinh tế của thành phố đang có sự chuyển dịch từ công nghiệp-dịch vụ-nông nghiệp sang dịch vụ-công nghiệp-nông nghiệp Khu vực dịch vụ là khu vực có tỷ trọng cao nhất

trong cơ cấu GDP với tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm nhanh hơn tốc độ tăng trưởng GDP của

thành phố và luôn đạt cao hơn mức trung bình của cả nước

Tuy nhiên, nền kinh tế của thành phố Đà Nẵng vẫn còn đối mặt với nhiều thách thức như cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm, qui mô và tốc độ tăng trưởng của một số phân ngành dịch vụ vẫn chưa cao đặc biệt đối với các phân ngành dịch vụ có giá trị lớn

Ngoài ra, ở Việt Nam nói chung và thành phố Đà Nẵng nói riêng, nhiều vấn đề về dịch vụ còn chưa được hiểu một cách thấu đáo và sự phát triển của khu vực này vẫn chưa thực sự được quan tâm đúng mức Mặc dù đã có một số Sở, Ngành xây dựng quy hoạch phát triển cho một số ngành dịch vụ cụ thể nhưng những nghiên cứu này chỉ tập trung đối với một số ngành dịch vụ như thương mại, dịch vụ tài chính ngân hàng, bưu chính viễn thông và dịch vụ bảo hiểm; trong khi đó, một số ngành dịch vụ có vai trò không kém phần quan trọng đối với tăng trưởng của thành phố thì lại chưa được quan tâm như dịch vụ du lịch, dịch vụ vận tải, kho bãi, dịch vụ giáo dục và đào tạo…Hơn nữa, tính đến thời điểm hiện nay, ngoài những nghiên cứu này ra vẫn chưa có những nghiên cứu nào đi sâu phân tích vai trò và thực trạng của khu vực dịch vụ Đà Nẵng trong thời gian qua

Để thực hiện Nghị quyết 33 của Bộ chính trị về “Xây dựng và phát triển thành phố Đà Nẵng

trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, trong đó phấn đấu đưa Đà Nẵng trở thành “trung tâm thương mại, du lịch và dịch vụ, là thành phố cảng biển, đầu mối giao thông quan trọng về trung chuyển vận tải trong nước và quốc tế; trung tâm văn hóa-thể thao, giáo dục-đào tạo và khoa học công nghệ của miền Trung”, đồng thời góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu mà Đại hội Đảng bộ thành phố

Đà Nẵng lần thứ XIX đã đề ra, Viện Nghiên cứu Phát triển Kinh tế-Xã hội Đà Nẵng đã phối hợp cùng

PGS.TS Nguyễn Thị Như Liêm thực hiện đề tài: “Phát triển dịch vụ trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

đến năm 2020”

2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

- Cung cấp cơ sở lý luận liên quan đến dịch vụ và phát triển khu vực dịch vụ bao gồm: các khái niệm và phân loại dịch vụ, vai trò của dịch vụ đối với tăng trưởng kinh tế; các nhân tố ảnh hưởng đến

sự phát triển của khu vực dịch vụ và các tiêu chí đánh giá

- Nghiên cứu kinh nghiệm phát triển dịch vụ của một số quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới và rút ra bài học kinh nghiệm về phát triển dịch vụ cho thành phố Đà Nẵng

- Xác định và tìm hiểu các vấn đề pháp lý điều chỉnh dịch vụ

Trang 11

- Đánh giá thực trạng phát triển của khu vực dịch vụ và một số phân ngành dịch vụ có vai trò quyết định đối với tăng trưởng kinh tế của thành phố Đà Nẵng trong giai đoạn 1997-2009

- Đề xuất mục tiêu, định hướng phát triển cùng với các giải pháp và kiến nghị đối với chính phủ, thành phố Đà Nẵng nhằm phát triển khu vực dịch vụ của thành phố Đà Nẵng đến năm 2020

3 DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU

- Niên giám thống kê thành phố Đà Nẵng của các năm 2000, 2004, 2006, 2010

- Báo cáo hàng năm của các Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Công Thương, Sở Giao thông, Vận tải, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Sở Xây dựng, Sở Tài chính, Sở Y tế, Sở Giáo dục và Đào tạo, Sở Thông tin, Truyền thông, Cảng Đà Nẵng, Trung tâm Xúc tiến Đầu tư (IPC), Ngân hàng Nhà nước - Chi nhánh thành phố Đà Nẵng

- Dự thảo Quy hoạch các ngành dịch vụ thành phố Đà Nẵng đến năm 2020

- Số liệu điều tra khách du lịch đến Đà Nẵng trong năm 2010 của Viện Nghiên cứu Phát triển Kinh

tế - Xã hội Đà Nẵng

- Số liệu thống kê kinh tế - xã hội của 63 tỉnh, thành phố được xuất bản bởi Tổng Cục Thống Kê

- Một số trang thông tin điện tử khác

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

- Phương pháp phân tích thống kê, so sánh, hệ thống

- Phương pháp chuyên gia

- Phương pháp định lượng

5 PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu: Khu vực dịch vụ và một số phân ngành dịch vụ

- Thời gian nghiên cứu: Giai đoạn 1997 – 2020

- Không gian nghiên cứu: Trên địa bàn TP Đà Nẵng trong mối liên kết với khu vực miền Trung

và Tây Nguyên, cả nước và Hành lang kinh tế Đông – Tây

Trang 12

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KHU VỰC DỊCH VỤ

1.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ PHÂN LOẠI DỊCH VỤ

1.1.1 Khái niệm

Có một thực tế là cho đến nay vẫn tồn tại sự đồng thuận chưa cao về định nghĩa và cách phân loại dịch vụ cả trong học thuật và hạch toán tài khoản quốc gia Những bất cập trong cách phân loại và định nghĩa dịch vụ đã làm giảm chất lượng, tính liên tục và độ phân tán của dữ liệu liên quan Chính những khó khăn trong việc tìm ra định nghĩa chung về các dịch vụ thường dẫn đến việc ước lượng không đúng qui mô sản lượng đầu ra từ khu vực dịch vụ Những khó khăn này xuất phát từ những đặc điểm vốn có của dịch vụ (Kanapathy, 2003) Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu cố gắng chỉ ra những đặc trưng riêng

để mô tả khu vực dịch vụ (Daniels 1985, Marshall và Wood 1995, Riddle 1986), nhưng các nghiên cứu này đều cho thấy chính tính đa dạng của các hoạt động và kinh doanh dịch vụ đã làm cho việc đưa ra một định nghĩa chung về dịch vụ gặp nhiều khó khăn Charles (1992) cho rằng một yếu tố quan trọng khi đưa ra khái niệm về dịch vụ là cần phải nhận biết được tính chất đa dạng và phức tạp của các hoạt

động dịch vụ Mặt khác, đặc điểm chung nhất của tất cả các hoạt động dịch vụ đó là “tính vô hình”

Ngoài đặc điểm này ra, khó có thể xác định những đặc điểm chung cho dịch vụ Những định nghĩa truyền thống của dịch vụ chủ yếu dựa vào tính tương đối vô hình của dịch vụ, tính không tách rời giữa sản xuất và tiêu dùng hay tính thâm dụng lao động của dịch vụ cao hơn so với khu vực sản xuất

(Kanapathy, 2003) Tạp chí The Economist đã mô tả dịch vụ là "bất cứ thứ gì bạn có thể mua và bán

nhưng không thể đánh rơi nó xuống dưới chân bạn" Chẳng hạn như đối với các dịch vụ sửa chữa, dạy

học, dịch vụ cắt tóc, dịch vụ ăn uống trong nhà hàng, quá trình sản xuất và tiêu dùng hàng hóa dịch vụ

ở đây xảy ra cùng lúc và hai hoạt động này không thể tách rời nhau Tuy nhiên, Urry (1995) đã chỉ ra rằng những cải tiến trong công nghệ thông tin đã giúp những hoạt động dịch vụ có thể được sản xuất ở một nơi, vào một thời điểm nhưng lại được tiêu dùng ở một nơi khác, vào một thời điểm khác (như các

cửa hàng bán thức ăn mang về - take away meals) hay một số dịch vụ vẫn có “tính hữu hình” như các

phần mềm máy tính Do vậy các định nghĩa truyền thống về dịch vụ đã bộc lộ những hạn chế Hơn nữa, việc ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông (ICT-Information and Commnunication Technology) trong sản xuất và lưu chuyển hàng hóa của một số ngành dịch vụ như tài chính, vận tải và viễn thông làm cho dịch vụ trở thành ngành thâm dụng cao về công nghệ và vốn – quan điểm này hoàn toàn trái ngược với với quan điểm truyền thống khi xem dịch vụ như là ngành thâm dụng lao động

Nhiều nghiên cứu sau đó cũng cố gắng để đưa ra khái niệm tổng quát hơn về dịch vụ Những khái niệm này chủ yếu dựa vào mối quan hệ giữa đối tượng sản xuất và đối tượng tiêu dùng dịch vụ như: giáo viên và học sinh, người bán và người mua, nhà tư vấn và khách hàng Trong đó, Hill (1977)

định nghĩa “Dịch vụ là sự thay đổi về điều kiện của một người hay một hàng hóa thuộc một đơn vị kinh

tế và những sự thay đổi này được tạo ra từ hoạt động của một đơn vị kinh tế khác” Định nghĩa của

Hill về sau đã được Gadrey (2002) mô tả dưới dạng hình vẽ sau:

Trang 13

Sơ đồ 1.1 Định nghĩa dịch vụ của Hill (1977)

hạn chế trong định nghĩa của Hill là đã đề cập đến yếu tố “sự thay đổi về điều kiện” mà theo ông đó chính là “những tác động hữu ích có tính chất lâu dài”, nhưng quan sát thực tế cho thấy có rất nhiều

loại cung ứng dịch vụ mà không tạo ra sự tác động nào (như khách sạn, bán lẻ, các công ty viễn thông)

Khi nền kinh tế càng phát triển thì vai trò của dịch vụ ngày càng quan trọng và dịch vụ đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khác nhau Do vậy mà có nhiều khái niệm về dịch vụ theo nghĩa rộng hẹp khác nhau (Sieh, 2000)

Cách hiểu thứ nhất

Theo nghĩa rộng: dịch vụ được xem là một ngành kinh tế thứ ba (Clark, 1957 và Fisher, 1939) Với cách hiểu này, tất cả các hoạt động kinh tế nằm ngoài hai ngành nông nghiệp và công nghiệp đều được xem là thuộc ngành dịch vụ Tuy nhiên, định nghĩa này gặp một trở ngại là do không có sự phân biệt rõ ràng giữa các ngành nên có những hoạt động không được thống nhất phải xếp vào ngành nào, ví

dụ hoạt động xây dựng từ trước vẫn được liệt vào ngành công nghiệp nhưng đến nay lại được chuyển sang ngành dịch vụ Rất nhiều nước đang phát triển thường thống kê hoạt động xây dựng vào ngành công nghiệp, chứ không phải là dịch vụ, khiến cho tỷ trọng của khu vực dịch vụ trong GDP lại càng có khoảng cách kém xa hơn so với tỷ trọng này ở các nước phát triển Hoặc các dịch vụ bổ sung cho các

Tổ chức công cộng, quốc gia…

Các tương tác và mối quan hệ về

dịch vụ

Tương tác giữa A và C

Tương tác của B vào C

Hình thức sở hữu của B trên C

C-Thực thể được A chuyển giao hoặc vận hành theo yêu cầu của B

Hệ thống vật chất hoặc hàng hóa Thông tin được mã hóa

Trang 14

lĩnh vực như nông nghiệp, đánh cá, lâm nghiệp, khai thác mỏ, chế tạo,… được coi là các dịch vụ thương mại, tuy nhiên trong hệ thống tài khoản quốc gia, các hoạt động này thường được xếp vào nhóm sản xuất hàng hóa

Theo nghĩa hẹp: dịch vụ được hiểu là phần mềm của sản phẩm, hỗ trợ cho khách hàng trước, trong và sau khi bán

Cách hiểu thứ hai

Theo nghĩa rộng: Dịch vụ là khái niệm chỉ toàn bộ các hoạt động mà kết quả của chúng không tồn tại dưới hình dạng vật thể Hoạt động dịch vụ bao trùm lên tất cả các lĩnh vực với trình độ cao, chi phối rất lớn đến quá trình phát triển kinh tế - xã hội, môi trường của từng quốc gia, khu vực nói riêng

và toàn thế giới nói chung Ở đây dịch vụ không chỉ bao gồm những ngành truyền thống như: giao thông vận tải, du lịch, ngân hàng, thương mại, bảo hiểm, bưu chính viễn thông mà còn lan toả đến các lĩnh vực rất mới như: dịch vụ văn hoá, hành chính, bảo vệ môi trường, dịch vụ tư vấn

Theo nghĩa hẹp: Dịch vụ là làm một công việc cho người khác hay cộng đồng, là một việc mà hiệu quả của nó đáp ứng một nhu cầu nào đó của con người, như: vận chuyển, sửa chữa và bảo dưỡng các thiết bị máy móc hay công trình

Việc quan niệm theo nghĩa rộng hẹp khác nhau về dịch vụ, một mặt tùy thuộc vào trình độ phát triển kinh tế của mỗi quốc gia trong một thời kỳ lịch sử cụ thể; mặt khác, còn tùy thuộc vào phương pháp luận kinh tế của từng quốc gia Những quan niệm khác nhau sẽ có ảnh hưởng khác nhau đến chất lượng dịch vụ, đến qui mô, cũng như tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế của mỗi quốc gia

Hệ thống tài khoản quốc gia (SNA- System of National Accounts) năm 1993 của Ủy Ban thống

kê Liên Hiệp Quốc định nghĩa: “Dịch vụ là những thực thể tồn tại không thể tách rời quyền chủ sở hữu

thể hiện trên đó Dịch vụ không thể được mua bán tách rời với quá trình sản xuất của nó Dịch vụ là các sản phẩm không đồng nhất sản xuất theo đặt hàng và bao gồm sự thay đổi điều kiện của các đơn vị tiêu dùng được nhà cung cấp thực hiện theo nhu cầu của người tiêu dùng”1

Tuy nhiên, sau đó hệ thống SNA 1993 phát biểu làm rõ thêm định nghĩa trên như sau: “Sản

phẩm của các ngành dịch vụ cũng có nhiều đặc tính giống hàng hóa đó là có thể được lưu trữ, lưu kho, thông tin và chia sẻ thông tin, tư vấn và trình diễn theo nghĩa rộng nhất, chẳng hạn như thông tin, tin tức, báo cáo tư vấn, các chương trình máy tính, phim ảnh, âm nhạc, v.v… Sản phẩm dịch vụ có thể gắn liền với quyền sở hữu trên đó hoặc cũng có thể lưu trữ dưới dạng vật chất như giấy tờ, băng đĩa, v.v…

và được mua bán như hàng hóa bình thường Cho dù được mô tả dưới dạng là hàng hóa hay dịch vụ, các sản phẩm này đều có một đặc điểm chính là chúng có thể được sản xuất bởi một bên nhưng vẫn có thể cung cấp cho một bên khác sử dụng Đây chính là điểm làm thuận lợi cho việc phân loại lao động

và phân loại các thị trường mới nổi”2 Theo cách định nghĩa này, một số hoạt động được liệt kê vào dịch vụ điển hình như bán buôn, bán lẻ, sửa chữa, khách sạn, cấp dưỡng, vận tải, bưu chính, viễn thông,

Trang 15

tài chính, bảo hiểm, bất động sản, cho thuê tài sản, hoạt động liên quan tới máy tính, nghiên cứu, chuyên môn nghề nghiệp, tiếp thị, quảng bá và các hoạt động hỗ trợ kinh doanh khác, quản lý nhà nước, giáo dục, chăm sóc sức khỏe, xã hội, vệ sinh môi trường, hoạt động cộng đồng, nghe nhìn, giải trí, văn hóa, dịch vụ cá nhân và nội địa 3

(UNSD-United Nations Statistics Division)

đã đưa ra một phiên bản mới SNA 2008 với nhiều sửa đổi, bổ sung so với SNA 1993 Trong đó, khái niệm về khu vực dịch vụ cũng có nhiều thay đổi Theo SNA 2008, sản xuất là hoạt động của nền kinh

tế mà trong đó doanh nghiệp sử dụng các đầu vào để sản xuất ra các đầu ra Đầu ra của sản xuất bao gồm hàng hóa và dịch vụ (kể cả những sản phẩm có hàm lượng tri thức cao-knowledge capturing proudcts) Quá trình sản xuất dịch vụ bắt buộc giới hạn trong các hoạt động mà có thể được thực hiện bởi một đơn vị nào đó để phục vụ cho lợi ích của một đơn vị khác Nếu không như vậy, thì dịch vụ sẽ không phát triển và không tồn tại thị trường cho khu vực dịch vụ Trong một số trường hợp, đơn vị sản xuất dịch vụ có thể sản xuất dịch vụ để tự phục vụ cho lợi ích của mình với điều kiện hoạt động đó phải

là những hoạt động có thể được thực hiện bởi các đơn vị khác Theo đó, dịch vụ được định nghĩa: Dịch

vụ là kết quả của quá trình sản xuất mà có thể làm thay đổi các điều kiện của các đơn vị tiêu dùng, hoặc thúc đẩy quá trình trao đổi hàng hóa hoặc tài sản tài chính Có thể thấy đây là khái niệm đầy đủ

nhất so với các khái niệm đã có từ trước Tuy nhiên, việc đưa ra khái niệm dịch vụ theo hệ thống SNA

2008 chỉ mang tính chất tham khảo Vì trên thực tế hiện nay, cách phân loại và hạch toán tài khoản quốc gia của khu vực dịch vụ ở Việt Nam vẫn dựa trên phiên bản của SNA 1993

Để tạo ra một cách hiểu nhất quán về khái niệm dịch vụ nhằm xây dựng chính sách chung điều chỉnh lĩnh vực này trong phạm vi các nước thành viên, một số tổ chức quốc tế như IMF, WTO,… đã hướng đến một định nghĩa thống nhất về dịch vụ Tuy nhiên, cho đến nay điều này vẫn chưa thực hiện được Thay vào đó họ đã tiếp cận khái niệm này bằng cách xác định phạm vi những lĩnh vực được coi

là dịch vụ, căn cứ vào 4 phương thức di chuyển (cơ học) qua biên giới, tại thời điểm cung cấp dịch vụ

: (1) cung cấp qua biên giới là phương thức

theo đó dịch vụ được cung cấp từ lãnh thổ của một thành viên sang lãnh thổ của thành viên khác mà không có sự di chuyển từ lãnh thổ này sang lãnh thổ khác giữa người cung cấp và người tiêu dùng dịch

vụ; (2) tiêu dùng ngoài lãnh thổ là phương thức theo đó người tiêu dùng của một thành viên di chuyển sang lãnh thổ của một thành viên khác để tiêu dùng dịch vụ; (3) sự hiện diện thương mại là phương

thức theo đó nhà cung cấp dịch vụ của một thành viên thiết lập các công ty, chi nhánh…trên lãnh thổ

của thành viên khác để cung cấp dịch vụ; (4) sự hiện diện thể nhân là phương thức theo đó thể nhân

cung cấp dịch vụ của một thành viên di chuyển sang lãnh thổ của một thành viên khác để cung cấp dịch

Trang 16

đề tài này sẽ sử dụng khái niệm dịch vụ của SNA 1993 Theo đó, khu vực dịch vụ bao hàm cả hoạt

động thương mại Trong đó, thương mại - dịch vụ được xem xét với tư cách một ngành kinh tế thực hiện quá trình lưu thông, trao đổi hàng hóa và thực hiện các công việc phục vụ tiêu dùng của sản xuất

1.1.2.2 Tính không đồng nhất và khó xác định chất lượng

Chất lượng của dịch vụ thường khó xác định bởi vì những dịch vụ này phụ thuộc vào tổ chức hay

cá nhân cung cấp chúng Mặc khác, chất lượng dịch vụ không đồng nhất, nó tùy thuộc vào hoàn cảnh tạo ra dịch vụ như người cung ứng, thời gian, địa điểm cung ứng Chẳng hạn, chất lượng cung cấp dịch

vụ viễn thông của một công ty có thể khác nhau tùy thuộc vào thời điểm sử dụng, phương tiện kỹ thuật…

1.1.2.3 Không có tiêu chuẩn nhất định để đánh giá chất lượng dịch vụ

Khách hàng sẽ không biết trước được chất lượng của dịch vụ mà họ muốn sử dụng để quyết định việc liệu có chọn dịch vụ này hay chọn dịch vụ khác Những tiêu chí mà các khách hàng thường sử dụng để đánh giá chất lượng dịch vụ đôi khi gây khó khăn cho các nhà sản xuất Ví dụ như cách mà khách hàng đánh giá chất lượng của các dịch vụ đầu tư được cung cấp bởi các nhà kinh doanh chứng khoán là phức tạp và khác biệt hơn rất nhiều so với việc đánh giá chất lượng của một cái quần bò Tiêu chí duy nhất được sử dụng để đánh giá chất lượng của các hoạt động dịch vụ đó chính là thông qua khách hàng Chất lượng của dịch vụ sẽ được đánh giá thông qua việc so sánh khả năng mà nhà cung cấp dịch vụ có thể đáp ứng được những kỳ vọng của khách hàng về những dịch vụ đó hay không Khách hàng sẽ không chỉ đánh giá chất lượng dịch vụ dựa vào một tiêu chí duy nhất là đầu ra của dịch vụ; mà họ còn xem xét cả quá trình tạo ra dịch vụ đó

1.1.2.4 Tính không thể tách rời

Quá trình sản xuất và tiêu thụ dịch vụ diễn ra đồng thời Khác với sản xuất vật chất, sản xuất dịch

vụ không thể làm sẵn để lưu kho sau đó mới đem tiêu thụ Dịch vụ không thể tách rời khỏi nguồn gốc của nó, trong khi hàng hóa vật chất tồn tại không phụ thuộc vào sự có mặt hay vắng mặt nguồn gốc của

nó Hay nói một cách khác, một dịch vụ được tiêu dùng khi nó đang được tạo ra và khi ngừng quá trình cung ứng có nghĩa là việc tiêu dùng dịch vụ ấy cũng ngừng lại

Trang 17

1.1.2.5 Tính không lưu trữ được

Dịch vụ không thể lưu giữ được, tức là sản phẩm dịch vụ không thể sản xuất sẵn rồi lưu vào kho chờ tiêu thụ Tuy nhiên đặc tính này chỉ mang tính tương đối do một số dịch vụ có thể mang hình thái vật chất như đối với dịch vụ thiết kế thì các bản vẽ là hữu hình và có thể lưu trữ được Chính vì đặc tính không lưu trữ được này mà dịch vụ còn được xem là loại hàng hóa có thể bị mất đi Ví dụ như khi xem xét chỗ ngồi trên máy bay, phòng trống trong khách sạn hay bệnh viện, hay sự vắng khách trong 1 giờ đồng hồ ở một phòng khám nha khoa Trong các trường hợp đó, dịch vụ đã mất đi bởi vì nó không thể

dự trữ Tuy nhiên, những ảnh hưởng của dịch vụ thì có thể giữ lại trong thời gian dài

1.1.3 Phân loại dịch vụ

Cho đến nay vẫn chưa có những tiêu chí thống nhất được sử dụng để phân loại dịch vụ Trên lý thuyết, tùy theo cách tiếp cận và mục đích nghiên cứu mà có nhiều cách phân loại dịch vụ khác nhau Còn trong thực tiễn, dựa trên phương pháp thống kê các hoạt động dịch vụ diễn ra trong thực tế mà cách phân loại dịch vụ cũng khác nhau Trong phần này sẽ đề cập đến một số cách phân loại dịch vụ điển hình

1.1.3.1 Phân loại theo tính chất thương mại của dịch vụ

Dựa vào tính chất thương mại của dịch vụ, có hai cách phân loại dịch vụ

Cách 1: Phân biệt dịch vụ mang tính chất thương mại và dịch vụ không mang tính chất thương mại

- Dịch vụ mang tính thương mại là những dịch vụ được thực hiện, được cung ứng nhằm mục

đích kinh doanh để thu lợi nhuận Ví dụ như dịch vụ nghiên cứu thị trường để thâm nhập thị trường, dịch vụ quảng cáo để bán hàng, dịch vụ môi giới…

- Dịch vụ không mang tính chất thương mại (hay dịch vụ phi thương mại) là những dịch vụ

được cung ứng không nhằm mục đích kinh doanh, không vì mục đích thu lợi nhuận Các loại dịch vụ này bao gồm các dịch vụ công cộng thường được thực hiện bởi các tổ chức, các tổ chức xã hội phi lợi nhuận hoặc do các cơ quan nhà nước cung cấp khi thực hiện các công việc thuộc chức năng và nhiệm

vụ của mình Ví dụ như các dịch vụ y tế cộng đồng, dịch vụ giáo dục, dịch vụ chăm sóc người già, người tàn tật, dịch vụ hành chính công…

Cách 2: Phân chia dịch vụ thành ba loại: dịch vụ kinh doanh có tính thị trường; dịch vụ sự nghiệp và dịch vụ quản lý hành chính công

- Dịch vụ kinh doanh có tính thị trường: giống với dịch vụ mang tính chất thương mại

- Dịch vụ sự nghiệp: bao gồm các hoạt động cung cấp phúc lợi xã hội thiết yếu cho người

dân như giáo dục, văn hóa, khoa học, chăm sóc sức khỏe, an sinh xã hội…

- Dịch vụ hành chính: là dịch vụ gắn liền với chức năng quản lý nhà nước nhằm đáp ứng

yêu cầu của người dân như quản lý nhà nước, an ninh, quốc phòng…

Theo cách phân loại này có thể giúp để phân loại mục tiêu, đối tượng và phạm vi của thương mại dịch vụ Trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, thương mại dịch vụ phát triển mạnh, tuy nhiên không phải tất cả các loại dịch vụ đều có thể được trao đổi hoặc mua bán Vì vậy, cách phân loại này sẽ giúp các nhà hoạch định chính sách phân tích và đánh giá thị trường dịch vụ một cách

Trang 18

thuận lợi cũng như xây dựng các chính sách về mở cửa thị trường dịch vụ, xã hội hóa cung ứng dịch vụ (Đinh Văn Ân và Hoàng Thu Hòa, 2007)

1.1.3.2 Phân loại theo mục tiêu của dịch vụ

Theo mục tiêu của dịch vụ, có thể chia dịch vụ thành hai nhóm chính

Dịch vụ về hàng hóa (Dịch vụ trung gian):

- Dịch vụ phân phối bao gồm các hoạt động dịch vụ vận chuyển, kho bãi, bán buôn, bán lẻ,

quảng cáo môi giới…tức là các hoạt động nhằm thúc đẩy quá trình phân phối và lưu thông các loại hàng hoá và các dịch vụ do các chủ thể kinh tế cung cấp

- Dịch vụ (hỗ trợ) sản xuất bao gồm các dịch vụ như tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, thiết kế,

kiến trúc công trình, dịch vụ kế toán, kiểm toán…tức là các hoạt động không nhằm phục vụ cho tiêu dùng cuối cùng mà chủ yếu là đóng vai trò là một đầu vào trung gian của quá trình sản xuất ra sản phẩm và dịch vụ

Dịch vụ về tiêu dùng (dịch vụ cuối cùng):

- Dịch vụ xã hội bao gồm các dịch vụ sức khoẻ, y tế, giáo dục, bưu chính và các dịch vụ xã hội

khác…Các dịch vụ xã hội nhằm phục vụ cho các nhu cầu xã hội và thông thường không liên quan đến thương mại hàng hóa

- Dịch vụ cá nhân bao gồm các dịch vụ như dịch vụ sửa chữa, dịch vụ khách sạn, dịch vụ nhà

hàng, dịch vụ giải trí, dịch vụ văn hóa…là các dịch vụ đáp ứng nhu cầu trực tiếp của cá nhân

Tuy nhiên cách phân loại này chỉ mang tính tương đối, bởi vì trong nhiều trường hợp cùng một loại dịch vụ với đối tượng này là dịch vụ trung gian nhưng với đối tượng khác lại là dịch vụ cuối cùng Chẳng hạn như dịch vụ du lịch là dịch vụ tiêu dùng cuối cùng của khách du lịch nhưng nó lại là dịch vụ sản xuất cho những người kinh doanh lữ hành Tuy nhiên, ý nghĩa quan trọng của cách phân loại này là

nó giúp cho việc phân biệt được dễ dàng dịch vụ về hàng hóa mang tính chất thương mại với các dịch

vụ về tiêu dùng mang tính chất thương mại và không mang tính chất thương mại, tạo cơ sở cho việc hoạch định chính sách phát triển dịch vụ nói chung và phát triển thương mại dịch vụ nói riêng (Đinh Văn Ân và Hoàng Thu Hòa, 2007)

1.1.3.3 Phân ngành dịch vụ theo WTO

Phân loại ngành dịch vụ của WTO dựa trên nguồn gốc ngành kinh tế Toàn bộ khu vực dịch vụ

sẽ xuất hiện trong tương lai, dù không được liệt kê trong danh mục của WTO, cũng sẽ thuộc phạm vi

và điều chỉnh của WTO nếu dịch vụ ấy tham gia vào thương mại quốc tế

6

Mỗi ngành trong số 12 ngành dịch vụ được chia nhỏ thành các hoạt động dịch vụ cấu thành và được gọi là các phân ngành dịch vụ Phụ thuộc vào tính chất và đặc điểm riêng mà mỗi ngành dịch vụ có thể có ít hay nhiều phân ngành dịch vụ

Trang 19

1.1.3.4 Phân ngành dịch vụ theo SNA 1993 của Việt Nam

Theo hệ thống SNA của Việt Nam, các ngành kinh tế được phân chia dựa vào chức năng hoạt động chủ yếu của các đơn vị sản xuất, kinh doanh; được quy định tại Nghị định 75/CP ngày 27/10/1993 của Chính phủ Theo Nghị định này, hệ thống các ngành kinh tế được chia thành 20 ngành cấp I, trong số

đó có 14 ngành dịch vụ Trong mỗi ngành dịch vụ lại được chia thành các phân ngành khác nhau (Xem Phụ lục 1B) Việc phân chia khu vực dịch vụ thành những ngành và phân ngành như trên là tương đối

cụ thể và chi tiết Tuy nhiên, so với hệ thống phân ngành quốc tế (trong khuôn khổ WTO), thì hệ thống của Việt Nam có những chỗ chưa phù hợp Hiện nay, Tổng cục Thống kê đang nghiên cứu xây dựng

Hệ thống phân ngành kinh tế mới để phù hợp với thông lệ quốc tế (Đinh Văn Ân và Hoàng Thu Hòa, 2007)

1.1.3.5 Phân ngành dịch vụ theo SNA 2008

SNA 2008 phân dịch vụ thành hai loại dịch vụ chính đó là: dịch vụ tạo ra sự thay đổi effecting services) và dịch vụ biên (Margin services)

(Change Dịch vụ tạo ra sự thay đổi: Là đầu ra của quá trình sản xuất và nó bao gồm các sự thay đổi về

điều kiện của đối tượng tiêu dùng mà sự thay đổi này được thực hiện bởi các hoạt động của người sản xuất nhằm đáp ứng nhu cầu cho người tiêu dùng Những dịch vụ tạo ra sự thay đổi này không thể tách rời chủ thể và quyền sở hữu trên nó và nó không thể được trao đổi tách rời khỏi quá trình sản xuất Hay nói cách khác, ngay sau khi được sản xuất, nó phải được cung cấp cho người tiêu dùng Các hình thức sản xuất của loại dịch vụ này bao gồm:

+ Sự thay đổi về điều kiện của hàng hóa tiêu dùng: người cung cấp sẽ sản xuất trực tiếp trên hàng hóa được sở hữu bởi người tiêu dùng như là dịch vụ vận chuyển, dịch vụ vệ sinh, dịch vụ sửa chữa…

+ Sự thay đổi điều kiện vật chất của con người: như dịch vụ vận chuyển hành khách, dịch vụ cung cấp chỗ ở, điều trị y học, phẫu thuật…

+ Sự thay đổi về tinh thần: dịch vụ giáo dục, dịch vụ giải trí hay các dịch vụ tương tự yêu cầu

sự hiện diện của người sản xuất và người tiêu dùng…

Một đặc điểm đáng chú ý là những thay đổi này có thể mang tính tạm thời hoặc tồn tại mãi mãi Chẳng hạn việc cung cấp dịch vụ y học hay giáo dục: khi người tiêu dùng lĩnh hội được những lợi ích này họ có thể duy trì nó mãi mãi trong khi đó việc đi xem trực tiếp một trận đấu bóng đá, thì lợi ích cung cấp từ dịch vụ này chỉ xảy ra lúc đó hoặc không lâu hơn nhưng không thể mãi mãi

- Dịch vụ biên: là những hoạt động làm thay đổi quyền sở hữu của hàng hóa, các loại sản phẩm

nắm bắt tri thức, tài sản tài chính giữa hai đối tượng với nhau Ví dụ như các dịch vụ giữa bán buôn và bán lẻ, dịch vụ trao đổi các tài sản tài chính Giống với dịch vụ tạo ra sự thay đổi, các hoạt động được phân loại theo dịch vụ này cũng có đặc điểm là không thể tách rời giữa quá trình sản xuất và tiêu dùng

1.1.3.6 Phân ngành dịch vụ theo hệ thống ngành kinh tế của Việt Nam

Theo Quyết định số 10/2007/QĐ-TTg ngày 23/01/2007 của Thủ tướng chính phủ về việc ban hành

hệ thống ngành kinh tế của Việt Nam thì nền kinh tế được chia thành 21 ngành cấp 1 và được mã hóa theo bảng chữ cái từ A đến U; 88 ngành cấp 2; 242 ngành cấp 3; 437 ngành cấp 4 và 642 ngành cấp 5 Trong đó, 15 ngành cấp 1 thuộc khu vực dịch vụ được mã hóa theo bảng chữ cái từ G đến U (Xem Phụ lục 1C)

Tuy nhiên, niên giám thống kê của thành phố Đà Nẵng áp dụng cách phân chia ngành kinh tế theo SNA 1993 đối các số liệu được thống kê từ 1996-2008, chỉ riêng số liệu thống kê năm 2009 là được áp dụng theo cách phân ngành kinh tế nói trên Mặc dù cách phân loại dịch vụ theo SNA 1993 còn nhiều

Trang 20

nhược điểm nhưng do hạn chế về mặt số liệu thống kê nên nghiên cứu này chủ yếu áp dụng theo cách phân loại này

1.2 VAI TRÕ CỦA DỊCH VỤ ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ-XÃ HỘI

Các nghiên cứu trước đây đều cho thấy tăng trưởng kinh tế luôn đi kèm với sự gia tăng tỷ trọng của khu vực dịch vụ trong GDP, đầu tư và việc làm (Fisher, 1935; Clark, 1957; Kuznets, 1957; Chenery, 1960; Fuch, 1968) Có nhiều giải thích khác nhau cho hiện tượng này bao gồm: độ co giãn

và sự chuyển dịch cơ cấu Sự chuyển dịch này làm cho khu vực dịch vụ có hiệu quả bên ngoài hơn so với việc sản xuất chúng trong nước

Nghiên cứu thực nghiệm dựa trên dữ liệu chéo của các quốc gia cho thấy tỷ lệ của dịch vụ trong tổng giá trị sản xuất và việc làm tăng lên theo trình độ phát triển (Francois và Reinert, 1996; Kongsamut và đồng nghiệp, 1997) So sánh giữa các quốc gia cho thấy mối quan hệ cùng chiều giữa mức thu nhập bình quân đầu người và mức độ sử dụng dịch vụ trong ngành sản xuất (Francois và

Reinert, 1996) Một phần của việc tăng sử dụng dịch vụ trong sản xuất là nhờ đặc điểm tách rời

(splintering) chẳng hạn như các dịch vụ thuê bên ngoài phạm vi quốc gia (outsourcing) đối với các hoạt động sản xuất gián tiếp (Bhagwati, 1984) Tuy nhiên, phần lớn sự gia tăng là nhờ sự chuyển dịch cơ cấu của khu vực sản xuất (Francois và Reinert, 1996) Chính sự thay đổi này làm tăng cầu của khu vực sản xuất đối với các sản phẩm dịch vụ đầu vào trung gian

Việc sử dụng các dịch vụ thuê ngoài của các doanh nghiệp sản xuất xuất phát từ những ưu thế

mà các dịch vụ này mang lại Sử dụng dịch vụ thuê ngoài, một mặt làm tăng giá trị đối với các sản phẩm của doanh nghiệp và làm giảm chi phí trong quá trình hoạt động; mặt khác, còn góp phần làm tăng năng suất của doanh nghiệp Việc thuê dịch vụ bên ngoài sẽ rẻ hơn so với việc cung cấp dịch vụ từ trong nội bộ quốc gia; do có thể tiết kiệm được chi phí Tác động của quá trình toàn cầu hóa và việc sử

và “Build-to-order”9 cùng với xu hướng đẩy mạnh xuất khẩu dẫn đến việc thuê ngoài các dịch vụ có chất lượng cao đối với các doanh nghiệp sản xuất ngày càng trở nên quan trọng hơn Việc sử dụng các dịch vụ thuê ngoài này phụ thuộc vào các yếu tố: (1) Áp lực đối với các doanh nghiệp muốn tăng hiệu quả, giảm chi phí và nâng cao năng lực cạnh tranh (2) Sự sẵn có của dịch vụ, phụ thuộc vào mức độ phát triển của khu vực dịch vụ trong nền kinh

tế (3) Chi phí tương đối của việc sản xuất dịch vụ trong phạm vi quốc gia so với thuê ngoài (Banga và Goldar, 2004)

Như vậy, rõ ràng là các doanh nghiệp sản xuất dịch vụ ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp các sản phẩm đầu vào cho khu vực sản xuất Việc ứng dụng các công nghệ mới vào quá trình sản xuất đã làm tăng tính đa dạng và phức tạp của quá trình sản xuất và phân phối; và sự thay đổi

7 Có sự không rõ ràng giữa đầu ra của khu vực dịch vụ và sản phẩm dịch vụ cuối cùng Tuy nhiên, lý thuyết trước đây cho rằng những hoạt động trung gian thuần túy cũng như những hoạt động được xem là trung gian khi nó được dùng để tiếp tục kinh doanh và những hoạt động được gọi là cuối cùng khi nó được tiêu dùng ngay bởi hộ gia đình (tức là người tiêu dùng cuối cùng như sửa chữa, bảo dưỡng…)

8 Mô hình sản xuất “Just-in-time” tạm dịch là mô hình sản xuất “ Đúng sản phẩm-với đúng số lượng-tại đúng nơi-vào đúng thời điểm cần thiết” Trong quá trình sản xuất hay cung ứng dịch vụ, mỗi công đoạn của quy trình sản xuất sẽ được hoạch

định để làm ra một số lượng bán thành phẩm, thành phẩm đúng bằng số lượng mà công đoạn sản xuất tiếp theo sẽ cần tới

9 Mô hình sản xuất theo đơn đặt hàng

Trang 21

này là nhân tố chính làm tăng hàm lượng dịch vụ trong các hàng hóa sản xuất (Guerieri và Meliciani, 2003) Tuy nhiên, vai trò của dịch vụ vẫn chưa được chú trọng trong các nghiên cứu thực nghiệm về năng suất và hành vi của nhà sản xuất Hầu hết những nghiên cứu về hàm sản xuất hay năng suất sản xuất trước năm 1980, đều sử dụng mô hình hai đầu vào mà trong đó giá trị tăng thêm được xem là thước đo cho sản lượng đầu ra còn vốn, lao động là hai yếu tố đầu vào Rõ ràng là mô hình này không thể hiện vai trò của khu vực dịch vụ trong quá trình sản xuất Nhiều nghiên cứu sau đó đã sử dụng mô

(vốn-lao động-năng lượng-nguyên vật liệu) Mô hình này cũng nhấn mạnh đến vai trò của nguyên liệu và năng lượng nhưng không có dịch vụ Thêm vào đó, cách mà các nghiên cứu này lý giải cho sự không có của dịch vụ khi đo lường các yếu tố đầu vào đều không được giải thích rõ ràng

Nhiều nghiên cứu gần đây đã chỉ ra sự cần thiết phải xem dịch vụ như là một đầu vào độc lập trong quá trình sản xuất khi phân tích năng suất sản xuất Chẳng hạn như trong sách hướng dẫn đo lường năng suất sản xuất của OECD (OECD Productivity Manual) (OECD, 2001) về mặt lý thuyết, có

đề cập đến việc thay mô hình sản xuất KLEM bằng mô hình KLEMS (vốn-lao động-năng nguyên vật liệu-dịch vụ) bằng cách thêm yếu tố đầu vào dịch vụ Banga và Goldar (2004) đã đưa lý thuyết này vào trong nghiên cứu thực nghiệm khi phân tích đánh giá vai trò của khu vực dịch vụ đối với tăng trưởng của tổng sản phẩm đầu ra và năng suất sản xuất trong khu vực sản xuất của Ấn Độ Kết quả của nghiên cứu cho thấy, dịch vụ đóng vai trò rất quan trọng trong tăng trưởng của sản phẩm đầu ra trong khu vực sản xuất của Ấn Độ trong những năm 1990 khi những cải cách chính trong thương mại

lượng-và công nghiệp được thực hiện

Như vậy, rõ ràng vai trò của khu vực dịch vụ trong nền kinh tế, ngoài việc làm tăng sản lượng đầu ra còn đóng góp với vai trò là khu vực cung cấp các sản phẩm trung gian cho khu vực sản xuất và thúc đẩy khu vực này phát triển theo Sự phát triển của khu vực dịch vụ sẽ kéo theo lượng việc làm mới được tạo ra từ khu vực này Phân tích dưới đây về vai trò của dịch vụ đối với các nền kinh tế trên thế giới qua số liệu thống kê để làm rõ thêm cho những nghiên cứu lý thuyết ở trên

1.2.1 Đóng góp vào tăng trưởng kinh tế

Sự phát triển kinh tế trên thế giới hơn hai thập kỷ qua cho thấy mối quan hệ chặt chẽ giữa phát triển khu vực dịch vụ và tăng trưởng kinh tế Ở những nước có nền kinh tế phát triển, dịch vụ luôn chiếm tỷ trọng cao hơn so với các khu vực khác trong tổng sản phẩm trong nước (GDP) Năm 2007, khu vực dịch vụ ở các nước phát triển chiếm trên 70% GDP, trong khi đó con số này ở các nước đang

của Ngân hàng thế giới cho thấy tỷ trọng ngành dịch vụ chiếm 72% trong GDP ở các quốc gia có thu nhập cao, trong khi đó con số này là 52% ở các quốc gia có thu nhập trung bình và 45% ở các quốc gia

có thu nhập thấp (Xem Hình 1.1) Mặc dù Việt Nam được xếp vào nhóm các quốc gia có mức thu nhập thấp, nhưng khi so sánh chỉ tiêu này với các quốc gia khác trong cùng nhóm thì Việt Nam vẫn còn ở mức thấp hơn Tỷ trọng của khu vực dịch vụ trong cơ cấu GDP của Việt Nam qua các năm 2006, 2007,

Trang 22

Hình 1.1 Tỷ trọng của khu vực dịch vụ trong GDP, 1985-2008

Nguồn: World Development Indicator-World Bank (2009)

1.2.2 Tạo ra việc làm và thu nhập

Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng nhanh tỷ trọng khu vực dịch vụ và giảm tỷ trọng khu vực công nghiệp, nông nghiệp là động lực làm di chuyển lao động từ khu vực công nghiệp, nông nghiệp sang khu vực dịch vụ, dẫn đến tỉ lệ lao động trong khu vực dịch vụ có xu hướng liên tục tăng lên Cùng với sự phát triển của dịch vụ, khu vực này thu hút một lượng lớn lao động ở các nước phát triển cũng như các nước đang phát triển

Hình 1.2 Thu nhập bình quân đầu người và tỷ trọng của khu vực dịch vụ, 2006

Vietnam

India Philippines

ChinaThailandColombia

South Africa

Argentina Brazil

Malaysia

Uruguay Russian Turkey

Chile

Poland Mexico Croatia

Hungary Estonia

Czech Republic

Saudi Arabia

Portugal Slovenia Korea, Rep.

Greece Hong Kong, China

Spain Italy SingaporeJapanGermany

France Belgium Austria United Kingdom

Finland

Netherlands Sweden United States Denmark Ireland Switzerland

0 10 20 30 40 50 60 70 80 90 100

Trang 23

Do tính chất đa dạng của dịch vụ nên việc làm mới được tạo ra không chỉ tăng về số lượng mà còn đa dạng về trình độ; từ những việc làm đơn giản, phổ thông (chẳng hạn như thương mại bán lẻ hay các loại hình dịch vụ cá nhân) đến những việc làm đòi hỏi trình độ cao, thậm chí rất cao (như tài chính ngân hàng hay thiết kế phần mềm) Dĩ nhiên là tính chất và mức độ phức tạp của hoạt động dịch vụ gắn liền với mức thu nhập từ chính việc cung cấp dịch vụ đó Hơn nữa, chính dịch vụ đã tạo ra việc làm cho những lao động không thể hay không muốn làm việc trong các khu vực truyền thống như nông nghiệp hay công nghiệp, góp phần tích cực giảm tỷ lệ thất nghiệp

Tính trung bình toàn thế giới, tỷ lệ lao động làm việc trong khu vực dịch vụ đã tăng từ 19% trong tổng số lao động đang làm việc đầu những năm 1960 lên 40% năm 1980 và lên 48,5% cuối những năm 1990, tức là tăng 29,5 điểm phần trăm trong vòng gần 40 năm (Đinh Văn Ân, Hoàng Thu Hòa, 2007 ) Hay trong trường hợp của Mỹ, trong giai đoạn 1970-2001, số lao động làm việc trong khu vực dịch vụ tăng từ mức 67% lên 79% trong khi lao động trong ngành công nghiệp giảm từ mức 29% xuống còn 19% còn mức thay đổi này ở các nước thành viên EU tương ứng là 47% lên 70% và từ 40% xuống còn 26% (D‟Agostino, Serafini và Ward-Warmedinger, 2006)

1.2.3 Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)

Hình 1.3 Phân bố của FDI theo khu vực trên thế giới và các nước đang phát triển

Dòng FDI chảy vào Trên thế giới 1990 Trên thế giới 2002

Nguồn: UNCTAD, Báo cáo đầu tư thế giới 2004

Chính vì vai trò quan trọng của dịch vụ nên khu vực kinh tế này thu hút được một lượng đầu tư ngày càng lớn, không chỉ đầu tư trong nước mà còn cả đầu tư nước ngoài Trong giai đoạn 1990-2002,

Trang 24

tổng lượng vốn FDI toàn cầu vào khu vực dịch vụ đã tăng hơn bốn lần (Xem Hình 1.3) Năm 2002, ngành dịch vụ chiếm hơn 60% trong tổng lượng vốn FDI của toàn cầu, so với mức dưới 50% của một thập kỷ trước đó Ngược lại, cũng trong thời gian này mặc dù tổng lượng FDI vào khu vực sản xuất tăng gấp ba lần song với mức tăng chậm hơn ngành dịch vụ nên tỷ lệ FDI vào khu vực sản xuất trong tổng lượng vốn FDI đã giảm từ 41% xuống còn 34% năm 2002 (Manafnezhad, 2006)

Năm 2004, trong tổng số 10.000 tỷ USD vốn FDI toàn cầu thì có tới 60% lượng vốn này đầu tư

hướng chuyển dịch tích cực sang lĩnh vực dịch vụ Số liệu thống kê cho thấy tỷ lệ FDI trong khu vực dịch vụ luôn cao hơn so với khu vực công nghiệp và nông nghiệp Trong năm 2009, nguồn vốn FDI tập trung đầu tư mạnh vào ba lĩnh vực chính: dịch vụ lưu trú và ăn uống (vốn đăng ký 8,8 tỷ USD), kinh doanh bất động sản (vốn đăng ký 7,6 tỷ USD) và lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo (vốn đăng ký 2,97 tỷ USD)13

1.2.4 Đóng góp vào kim ngạch xuất khẩu

Bên cạnh thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ cũng không ngừng phát triển Thương mại dịch vụ chủ yếu tập trung ở các nền kinh tế phát triển Một mặt, các nước phát triển coi thương mại dịch vụ như vũ khí cạnh tranh quan trọng dựa vào sức mạnh kinh tế, công nghệ và trình độ quản lý, tỷ trọng thương mại dịch vụ trong tổng kim ngạch thương mại của các nước công nghiệp có xu hướng tăng nhanh Mặt khác, các nước phát triển cũng sử dụng thương mại dịch vụ như một công cụ điều tiết

và kiểm soát thương mại hàng hóa của các nước đang phát triển Năm 2008, xuất khẩu thương mại dịch

vụ của thế giới tăng lên 11% tương ứng với 3,7 nghìn tỷ USD Trong đó, dịch vụ vận tải và du lịch là hai trong số các ngành thương mại dịch vụ có tỷ lệ tăng cao nhất (Xem Bảng 1.1) (Theo Báo cáo

, WTO)

Bảng 1.1 Xuất khẩu thương mại dịch vụ trên thế giới

ĐVT: tỷ USD, % thay đổi

Nguồn: WTO Secretariat

1.2.5 Đóng góp quyết định vào phát triển xã hội và con người

Trong một chừng mực nhất định, có thể thấy giáo dục và y tế là hai loại hình dịch vụ quan trọng quyết định trình độ phát triển xã hội và phát triển con người ở tất cả các quốc gia Ngoài một số chỉ tiêu

12 Liberazing Trade in Service-Bernad Hoekman-WB 2006-trang 8

13 Cục Đầu tư Nước ngoài, Báo cáo nhanh đầu tư trực tiếp nước ngoài năm 2009, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2009

14

World Trade Report 2009_WTO

Trang 25

kinh tế về thu nhập bình quân đầu người, tỷ lệ đói nghèo và mức độ bất bình đẳng trong xã hội, thì các chỉ tiêu về xã hội và con người liên quan trực tiếp tới cung cấp và tiêu dùng các dịch vụ thiết yếu như

tỷ lệ biết đọc, biết viết, tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng, tuổi thọ trung bình, tỷ lệ người nhiễm HIV , phản ánh một cách chính xác và nhân văn nhất về trình độ phát triển xã hội và phát triển con người của mỗi

2), có tới một nửa là hệ quả trực tiếp của phát triển các ngành dịch vụ, cụ thể là phát triển giáo dục, đào tạo và y tế là 3 mục tiêu có nội dung liên quan chặt chẽ đến phát triển dịch vụ

Đối với một số ngành dịch vụ, cùng với việc tạo ra việc làm còn có tác dụng trực tiếp nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân như giáo dục, y tế, văn hóa, an sinh xã hội… Ngoài ra, phát triển dịch vụ ít gắn liền với việc khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên Nhờ vậy, phát triển dịch vụ góp phần cải thiện môi trường và nâng cao chất lượng cuộc sống

1.3 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TĂNG TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA KHU VỰC DỊCH VỤ

1.3.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự tăng trưởng của khu vực dịch vụ

1.3.1.1 Lý thuyết chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Có nhiều nghiên cứu về sự tăng trưởng của khu vực dịch vụ và mối quan hệ của khu vực này đối với các khu vực còn lại là nông nghiệp và công nghiệp, như là Fisher (1939), Clark (1940), Chenery (1960), Kuznets (1966), Chenery và Syrquin (1975), Kongsamut và các đồng sự (1999), Eichengreen

và Syrquin (2009)

Các nghiên cứu đầu tiên về tăng trưởng kinh tế của Fisher (1939) và Clark (1940) đã chỉ ra rằng sự phát triển của các quốc gia sẽ gắn liền với sự phát triển của ba khu vực đó là: khu vực I (primary production-khu vực nông nghiệp), khu vực II (secondary production-khu vực sản xuất hay khu vực công nghiệp) và khu vực III (tertiary production-khu vực dịch vụ) Trong đó, khu vực I là khu vực sản xuất các loại hàng hóa cơ bản và tiềm năng phát triển của khu vực này trong một chừng mực nào đó là

bị hạn chế; Khu vực II tạo ra các loại hàng hóa lâu bền để phục vụ cho các nhu cầu tiêu dùng trung gian Khu vực III sản xuất các loại hàng hóa xa xỉ và các đầu vào trung gian dưới nhiều loại hình dịch

vụ khác nhau, và khu vực này có nhiều tiềm năng phát triển trong xã hội hiện đại

Sau đó các dự báo này đã được minh chứng một cách rõ ràng ở các nước có nền kinh tế phát triển (Fuchs, 1968; Bell, 1973; Kellerman, 1985), cụ thể đó là sự dịch chuyển trong phân bổ lao động theo hướng từ khu vực I sang khu vực II và khu vực III Biểu hiện rõ nhất là nghiên cứu của Feinstein (1999) về quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong thế kỷ 20 của 25 nước công nghiệp phát triển (OECD) cho thấy sự thay đổi dựa vào hai yếu tố chính đó là: sự dịch chuyển để phân phối lại lực lượng lao động giữa các khu vực nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ; và quá trình phi công nghiệp hóa Năm

là khoảng 50%,

15 Millennium Development Goals

16 6 nước Châu Mỹ La tinh bao gồm: Argentina, Brazil, Chile, Colombia, Mexico và Peru

Trang 26

tương đương với tỷ lệ này của các quốc gia thuộc khối OECD 50 năm trước Tuy nhiên, tỷ lệ này đã giảm xuống một cách đáng kể còn 29% năm 1980 và 19% vào những năm giữa của thập niên 1990 Sự sụt giảm này được thay thế bởi sự gia tăng nhanh chóng của tỷ lệ lực lượng lao động tham gia vào khu vực dịch vụ từ 28% năm 1950 lên 57% vào những năm cuối của thế kỷ 20; Trong khi đó, mức độ dịch chuyển lao động từ khu vực nông nghiệp sang khu vực công nghiệp lại thấp hơn, dẫn đến tỷ lệ lực lượng lao động tham gia vào khu vực công nghiệp khoảng 22% năm 1950 và chỉ tăng lên 24% vào

cho thấy các quốc gia này đang trải qua giai đoạn phát triển thấp hơn và quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế cũng diễn ra chậm hơn Bằng chứng là tỷ lệ lao động trong khu vực nông nghiệp của các quốc gia này rất cao (khoảng 76% trong năm 1950) và mặc dù đã có sự sụt giảm đáng kể nhưng tỷ lệ này vẫn còn ở mức khá cao, (khoảng hơn 51% vào những năm giữa của thập niên 1990) Song sự sụt giảm này lại được bù đắp bởi tỷ lệ tăng tương ứng bằng nhau của lực lượng lao động tham gia vào hai khu vực công nghiệp

và dịch vụ (Feinstein, 1999)

Về lý thuyết, có nhiều cách để giải thích kết quả nghiên cứu trên Thứ nhất, “Quy luật của Engel” dựa trên tính co giãn của cầu hàng hóa dịch vụ theo thu nhập Theo quy luật này, khi nền kinh tế càng phát triển và thu nhập bình quân đầu người tăng lên thì cầu của hàng hóa dịch vụ sẽ tăng lên với tỷ lệ cao hơn Thứ hai, giải thích dựa vào sự khác biệt về năng suất giữa khu vực dịch vụ và các khu vực còn lại Tốc độ tăng năng suất lao động của khu vực dịch vụ thấp hơn tương đối so với khu vực sản xuất và điều này đã làm cho giá cả của hàng hóa dịch vụ trở nên đắt hơn tương đối so với những loại hàng hóa khác Và đây cũng chính là nguyên nhân giải thích cho sự tiếp tục di chuyển lao động từ các khu vực khác sang khu vực dịch vụ Thứ ba, giải thích dựa vào sự phân phối của hàng hóa dịch vụ như là đầu vào trung gian cho khu vực sản xuất Khi nền kinh tế phát triển, sự phân công lao động giữa các ngành

sẽ tác động đến sự tăng trưởng của khu vực dịch vụ thông qua sự gia tăng cầu của khu vực sản xuất đối với các đầu vào dịch vụ trung gian được chuyên môn hóa cao hơn

Có thể nói sự liên kết cùng chiều giữa tỷ trọng của khu vực dịch vụ trong cơ cấu tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và thu nhập bình quân đầu người là một trong những quy tắc được biết đến nhiều nhất

ở các nền kinh tế tăng trưởng và phát triển; nhưng trên thực tế quy tắc này ít được biết đến một cách phổ biến như đã được đánh giá Những nhà nghiên cứu tiên phong về lý thuyết chuyển dịch cơ cấu kinh

tế như Fisher (1939) và Clark (1940) đã nhấn mạnh đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp trong quá trình tăng trưởng kinh tế và thực tế ít đề cập đến khu vực dịch vụ Trong các nghiên cứu thực nghiệm về tăng trưởng kinh và cơ cấu kinh tế phải kể đến đóng góp của Kuznets (1961, 1971) Trong những nghiên cứu này, ông đã chia nền kinh tế thành ba ngành: nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ và nhận thấy một xu hướng rõ nét rằng tỷ trọng ngành nông nghiệp trong GDP của các nước được nghiên cứu đều giảm nhanh, còn tỷ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ lại gia tăng Và ông cũng đã chỉ ra mối quan hệ mật thiết giữa quá trình thay đổi cấu trúc kinh tế này và mức thu nhập bình quân đầu người đó là mức thu nhập bình quân đầu người càng cao thì tỷ trọng ngành nông nghiệp

sẽ càng giảm Ông cho rằng mối quan hệ này là kết quả tổng hợp của các yếu tố: thay đổi trong cầu về

17 Các quốc gia chính thuộc châu Á gồm: Bangladesh, Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Pakistan, Philipines và Thái Lan

Trang 27

hàng hóa, thay đổi về lợi thế tương đối của các nước, và thay đổi trong công nghệ Tuy nhiên, ông cho rằng tiến bộ công nghệ đóng vai trò quan trọng nhất trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Một nghiên cứu khác, Chenery (1960) tiến hành hồi quy tỷ trọng của khu vực dịch vụ theo thu nhập bình quân đầu người để xem xét mối quan hệ giữa hai đối tượng này thì kết quả cho thấy mối quan hệ trên là không đồng nhất giữa các quốc gia Chenery và Syrquin (1975) sau đó hồi quy tỷ trọng của khu vực dịch vụ theo hai biến độc lập là thu nhập bình quân đầu người và thu nhập bình quân đầu người bình phương Kết quả hồi quy cho thấy mối quan hệ giữa tỷ trọng đóng góp của khu vực dịch vụ vào nền kinh tế với thu nhập bình quân đầu người là một đường cong lõm so với góc tọa độ Điều này hàm ý rằng tỷ trọng của khu vực dịch vụ trong cơ cấu GDP tăng lên khi thu nhập bình quân đầu người tăng lên nhưng với tỷ lệ tăng giảm dần Kongsamut và các đồng sự (1999) lại đưa ra một kết quả trái ngược khi cho rằng mối quan hệ trên là quan hệ hoàn toàn tuyến tính, tức là tỷ trọng đóng góp của khu vực dịch vụ tăng lên khi thu nhập bình quân đầu người tăng lên

Tuy nhiên, thực tế cho thấy việc ứng dụng các công nghệ thông tin và truyền thông vào sản xuất dịch vụ đã tạo ra sự nghi ngờ đối với những giả định trước đó khi cho rằng chi phí sản xuất dịch vụ tăng nhanh hơn so với chi phí sản xuất hàng hóa; bởi vì việc ứng dụng những công nghệ tiến bộ này sẽ giúp cho các ngành dịch vụ có thể sản xuất tại địa phương và xuất sang nơi khác, thậm chí ra khỏi phạm vi quốc gia Hơn nữa, những ngành dịch vụ truyền thống nổi trội trước đây như là dịch vụ cho thuê nhà trọ, ăn uống, dọn dẹp nhà cửa, tiệm cắt tóc và chăm sóc sắc đẹp dần đã bị thay thế bởi các ngành dịch vụ hiện đại18

như dịch vụ tài chính-ngân hàng, truyền thông, tin học, kỹ thuật, pháp lý, quảng cáo và kinh doanh Do đó trong bối cảnh của sự phát triển, đã có những thay đổi về mối quan hệ giữa đóng góp của khu vực dịch vụ và thu nhập bình quân đầu người (Eichengreen và Gupta, 2009)

Một nghiên cứu gần đây nhất của Eichengreen và Gupta (2009) đã chỉ ra sự phát triển của khu vực dịch vụ trong quá trình phát triển kinh tế sẽ đi theo hai làn sóng, trong đó làn sóng thứ nhất chú trọng phát triển các ngành dịch vụ truyền thống xảy ra ở các quốc gia có mức thu nhập bình quân đầu người tương đối thấp, còn làn sóng thứ hai chú trọng phát triển các ngành dịch vụ hiện đại và xảy ra ở các quốc gia có mức thu nhập bình quân đầu người cao hơn Kết quả nghiên cứu còn cho thấy phát triển dịch vụ theo làn sóng thứ hai xuất hiện chủ yếu ở các nền kinh tế có các yếu tố như: thực hiện tốt hơn việc phổ biến thông tin và công nghệ truyền thông; có các nền kinh tế với độ mở thương mại lớn hơn (cả thương mại nói chung và đặc biệt là thương mại dịch vụ) và gần các trung tâm tài chính lớn có lợi thế cạnh tranh trong việc cung cấp các dịch vụ tài chính

1.3.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự tăng trưởng của khu vực dịch vụ

Nhiều nghiên cứu đã xem xét các nhân tố ảnh hưởng đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế cũng như

sự tăng trưởng của khu vực dịch vụ Một nghiên cứu mới đây của Banga (2005), tác giả đã liệt kê hai nhóm nhân tố từ phía cầu và phía cung Nhóm các nhân tố từ phía cầu bao gồm: Độ co giãn của cầu đối

18 Các ngành dịch vụ hiện đại ở đây được hiểu là các loại hình dịch vụ có thể ứng dụng công nghệ thông tin mới và có thể thương mại qua biên giới

Trang 28

với sản phẩm dịch vụ cuối cùng theo thu nhập; Tăng trưởng năng suất; Sự chuyển dịch cơ cấu; Và sử dụng các nguồn lực bên ngoài Nhóm các nhân tố từ phía cung bao gồm: Sự gia tăng thương mại quốc tế; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI); và sự đổi mới về công nghệ

Cụ thể hơn, Krkavis và các đồng sự (1983) giải thích rằng tính co giãn cao của cầu đối với sản phẩm dịch vụ cuối cùng theo thu nhập dẫn đến sự gia tăng của tỷ lệ sản lượng đầu ra và việc làm từ khu vực dịch vụ; Tuy nhiên, một số nghiên cứu khác lại cho rằng độ co giãn cao của cầu hàng hóa dịch vụ theo thu nhập chỉ đúng cho một số loại hình dịch vụ (Falvey và Gemmell, 1996) Sự gia tăng cầu dịch

vụ còn do sự khác biệt về năng suất lao động giữa khu vực dịch vụ với khu vực nông nghiệp và công

của cả nền kinh tế và tăng trưởng năng suất trong khu vực phi sản xuất là mối quan hệ ngược chiều; bởi

vì hầu hết các hoạt động không thuộc khu vực sản xuất, đặc biệt là các hoạt động dựa chủ yếu vào nguồn lực đất đai như nông nghiệp và các hoạt động dịch vụ là những lĩnh vực bị giới hạn bởi hiệu suất giảm dần theo qui mô Ủng hộ quan điểm trên còn có mô hình tăng trưởng không cân bằng của Baumol (1967) với lập luận rằng vì bản chất của các hoạt động của khu vực dịch vụ là thâm dụng lao động nên khu vực này không thể đạt hiệu quả cao hơn nhờ vào tính thâm dụng vốn, đổi mới công nghệ hay hiệu quả kinh tế theo qui mô Bên cạnh đó, Kuznets, (1950), Kravis và các đồng sự (1983), Bhagwati (1984)

đã chỉ ra một xu hướng trong quá trình phát triển là sự khác biệt tương đối về năng suất lao động giữa hai khu vực dịch vụ và sản xuất là trái ngược nhau theo với mức thu nhập của các nước; hay nói cách khác, khi so sánh sự khác biệt năng suất lao động giữa các nước có thu nhập thấp với các nước có thu nhập cao có thể nhận thấy được rằng khác biệt năng suất lao động trong khu vực dịch vụ thấp hơn trong khu vực sản xuất

Bên cạnh đó, Mulder (2001) và Wolfl (2005) cho rằng sự tăng trưởng của khu vực dịch vụ còn được xác định bởi các nhân tố như sự chuyên môn hóa, mức thu nhập và quá trình đô thị hóa Khi nền kinh tế tăng trưởng, các hoạt động sản xuất sẽ được chuyên môn hóa cao hơn cùng với sự đẩy nhanh của quá trình đô thị hóa nhờ vào thu nhập tăng lên Kết quả của sự gia tăng chuyên môn hóa trong sản xuất là các doanh nghiệp sẽ có xu hướng thuê ngoài các dịch vụ như dịch vụ tư vấn pháp lý, kế toán-tài chính và các dịch vụ an ninh Hơn nữa, quá trình đô thị hóa cũng được xem là nhân tố ảnh hưởng đến

sự tăng trưởng dịch vụ theo hai cách: Thứ nhất, khác với những người nông dân, trong một chừng mực nào đó họ có thể tự cung cấp một số hàng hóa dịch vụ để tiêu dùng trong khi đó người dân sống ở đô thị dựa chủ yếu vào nguồn cung hàng hóa dịch vụ từ thị trường; Thứ hai là những người dân thành thị tham gia vào các thị trường việc làm không chính thức nếu không tìm được việc làm từ khu vực chính thức; Vì vậy, sự gia tăng của dân cư thành thị không chỉ là nguồn cầu mà còn là nguồn cung lớn đối với dịch vụ Ngoài ra, nhiều nghiên cứu khác còn cho thấy sự tham gia của lao động nữ vào lực lượng lao động cũng là một nhân tố ảnh hưởng đến sự tăng trưởng của cầu đối với hàng hóa dịch vụ; Việc phụ nữ tham gia nhiều hơn vào lực lượng lao động hay cơ cấu lao động nữ chiếm tỷ trọng lớn trong lực lượng lao động có thể làm tăng cầu của một số loại hình dịch vụ như chăm sóc trẻ em, dịch vụ chăm sóc sắc đẹp Mặt khác, các sự thay đổi chính sách cũng sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của khu vực dịch vụ;

19 Theo qui luật này thì tăng trưởng năng suất lao động trong khu vực sản xuất được tạo ra từ tăng trưởng sản lượng của nền kinh tế

Trang 29

chẳng hạn như các dịch vụ viễn thông tăng trưởng nhanh chóng sau khi nhiều quốc gia thực hiện chính sách bãi bỏ các quy định đối với lĩnh vực này (Wirtz, 2002)

1.3.2 Các tiêu chí đánh giá sự phát triển khu vực dịch vụ trong nền kinh tế

1.3.2.1 Phát triển dịch vụ

Phát triển dịch vụ được thừa nhận là một khía cạnh quan trọng của phát triển kinh tế và phát triển dịch vụ luôn đi kèm với tăng trưởng thu nhập và hiện đại hóa nền kinh tế (Francois và Reinhert, 1996) Đánh giá mức độ phát triển khu vực dịch vụ được xem xét trên các khía cạnh qui mô và tốc độ tăng trưởng, cơ cấu và mức độ chuyển dịch cơ cấu của đầu ra (tổng giá trị sản xuất và giá trị gia tăng)

và đầu vào (lao động, vốn, công nghệ) và các nhân tố ảnh hưởng (thu nhập bình quân đầu người, độ mở cửa của nền kinh tế, vốn đầu tư nước ngoài, mức độ đô thị hóa)

1.3.2.1 Các tiêu chí đánh giá sự phát triển khu vực dịch vụ

(1) Qui mô và tốc độ tăng trưởng

Đối với đầu ra, xét về qui mô, các chỉ tiêu cơ bản được sử dụng là: tổng giá trị sản xuất là tổng doanh thu được tạo ra từ khu vực dịch vụ, sau khi trừ đi các chi phí trung gian sẽ là giá trị gia tăng của khu vực dịch vụ đóng góp vào tổng sản phẩm quốc nội (GDP) Từ đó cho phép đánh giá được vai trò của khu vực dịch vụ trong nền kinh tế thông qua chỉ tiêu tỷ trọng đóng góp của khu vực dịch vụ vào GDP trong mối quan hệ với khu vực nông nghiệp và công nghiệp Thêm nữa, chỉ tiêu tốc độ tăng trưởng của khu vực dịch vụ trong mối tương quan với tốc độ tăng trưởng GDP chung và của các khu vực còn lại đánh giá được triển vọng phát triển của khu vực này Và khi khu vực dịch vụ tăng trưởng cao sẽ thúc đẩy nhanh hơn quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế được thể hiện thông qua chỉ tiêu mức

càng phát triển thì tỷ trọng và tốc độ tăng trưởng của dịch vụ trong GDP của nền kinh tế càng cao

(2) Cơ cấu và mức độ chuyển dịch cơ cấu của đầu ra và đầu vào

Đánh giá sự phát triển của khu vực dịch vụ cần phải được xem xét trong mối quan hệ với quá

trình phân bổ nguồn lực giữa các khu vực trong nền kinh tế Thứ nhất, một đặc trưng cơ bản của khu

vực dịch vụ là tính thâm dụng lao động nên các chỉ tiêu tỷ trọng lao động tham gia vào dịch vụ so với tổng lực lượng lao động, tốc độ tăng trưởng lao động và năng suất lao động đánh giá khả năng hấp thu

lao động của khu vực dịch vụ và đặc điểm chuyển dịch cơ cấu lao động giữa các khu vực Thứ hai, các

chỉ tiêu tỷ trọng vốn đầu tư vào dịch vụ so với tổng vốn đầu tư, tỷ lệ vốn cố định và vốn lưu động trong

cơ cấu vốn sẽ đánh giá đặc điểm chuyển dịch cơ cấu vốn và đổi mới công nghệ Tuy khu vực dịch vụ cũng có đặc trưng là không thể đạt hiệu quả hơn nhờ vào tích lũy vốn, đổi mới công nghệ hay hiệu quả

n

i

i i

t S t S

t S t S

1 2 2

2 1

1 2

)()

(

)()

(cos , trong đó: S i (t)tỷ trọng của ngành i trong GDP năm t, : là góc giữa hai vectơ cơ

cấu kinh tế (0o  90o), nếu  0o: không có sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nếu  90o: cơ cấu kinh tế chuyển dịch lớn nhất

Trang 30

kinh tế theo qui mô, song những đổi mới trong khu vực dịch vụ cũng không kém phần quan trọng như đối với khu vực sản xuất, góp phần giảm chi phí và nâng cao hiệu quả

(3) Các yếu tố ảnh hưởng từ bên ngoài

Bên cạnh đó, sự phát triển của khu vực dịch vụ gắn bó chặt chẽ với các đặc điểm của nền kinh

tế Về đặc điểm tiêu dùng được xem xét thông qua chỉ tiêu hệ số co giãn của cầu đối với sản phẩm dịch

vụ theo thu nhập; Độ co giãn cao của cầu đối với hàng hóa dịch vụ cuối cùng theo thu nhập dẫn đến một sự gia tăng lớn hơn sản lượng của hàng hóa khi thu nhập bình quân đầu người tăng lên Về độ mở của nền kinh tế được đo lường bằng tỷ lệ của tổng giá trị xuất khẩu và nhập khẩu so với GDP, chỉ tiêu này thể hiện khả năng hội nhập kinh tế quốc tế và mức độ tự do hóa thương mại của nền kinh tế; Khả năng thu hút các nguồn lực bên ngoài cũng là một nhân tố quan trọng góp phần thúc đẩy khu vực dịch

vụ được đo lường thông qua chỉ tiêu tỷ lệ vốn FDI so với GDP hay tỷ lệ vốn FDI so với tổng đầu tư trong nước Độ mở của nền kinh tế và khả năng thu hút nguồn lực bên ngoài càng cao, có tác động tích cực đến sự phát triển của khu vực dịch vụ thông qua việc mở rộng thị trường, đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực cạnh tranh và hiệu quả kinh tế; bởi vì sản phẩm dịch vụ “nhập khẩu” có đặc điểm là được tạo trong phạm vi lãnh thổ của nền kinh tế, cho nên sự tham gia của yếu tố nước ngoài không chỉ đơn thuần thay thế hay bổ sung cho yếu tố nội địa mà còn thúc đẩy cạnh trạnh, tăng cường chuyên môn hóa

và tái cơ cấu lĩnh vực dịch vụ và nền kinh tế Mức độ đô thị hóa được đo lường bởi tỷ lệ dân số đô

thị-là tỷ số giữa dân số thành thị so với tổng dân số; quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ thúc đẩy khu vực dịch vụ phát triển bởi vì đặc trưng kinh tế của dân cư thành thị là tính chuyên môn hóa và thương mại hóa cao làm gia tăng cầu đối với sản phẩm dịch vụ

(4) Năng suất trong khu vực dịch vụ

Ngoài ra, chỉ tiêu năng suất lao động trong khu vực dịch vụ cũng được xem là một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá sự phát triển của khu vực này Năng suất lao động cho thấy hoạt động

hay không Xét về khía cạnh kinh tế, năng suất được xác định bằng tỷ lệ giữa đầu vào và đầu ra Yếu tố đầu vào trong một tổ chức bao gồm các nguồn lực được

sử dụng trong quá trình sản xuất như là lao động, nguyên vật liệu, năng lượng Đầu ra bao gồm sản phẩm, dịch vụ hay là một hàm lượng gồm cả sản phẩm và dịch vụ Tuy nhiên, việc áp dụng theo cách này để đo lường năng suất trong khu vực dịch vu là không hoàn toàn chính xác Bởi vì năng suất của các đầu vào và đầu ra trong khu vực dịch vụ không chỉ bao gồm các yếu tố về số lượng mà còn cả chất lượng (Reid, 2005) Hơn nữa, chất lượng và năng suất là hai yếu tố có mối tương quan mạnh mẽ với nhau trong tất cả các phân ngành dịch vụ (Gummesson, 1992) Sự liên quan của khách hàng đối với hoạt động của tổ chức trong khu vực dịch vụ đã tạo ra sự khác biệt về chất lượng của các đầu ra trong khu vực này Do đó, đầu ra của khu vực dịch vụ trong một vài trường hợp có thể được đo lường chỉ bằng sự khác biệt về chất lượng

21 Từ gốc của cụm này là “Efficient and Effective”: Efficient-hữu hiệu, có nghĩa là làm một cách có tổ chức khoa học và

không mất thời gian hoặc năng lực Effective-hiệu nghiệm, có nghĩa là hiệu quả, giải quyết được vấn đề hay đạt được kết

quả.

Trang 31

Theo Adam và các đồng sự (1995), để có thể giải thích năng suất của khu vực dịch vụ theo nghĩa rộng hơn so với cách hiểu truyền thống trong khu vực chế tạo cần phải bao gồm yếu tố chất lượng trong định nghĩa này (Gronroos, 1990) Sản lượng và chất lượng của dịch vụ không thể được xem xét một cách tách biệt, bởi vì khó có thể tách rời những ảnh hưởng của quá trình sản xuất dịch vụ đến năng suất ra khỏi những ản hưởng của nó đối với chất lượng dịch vụ (Kontaghiorghes, 2003) Do

đó, cả hai khía cạnh chất lượng và số lượng phải được xem xét đồng thời để đánh giá những ảnh hưởng tổng hợp của năng suất trong các tổ chức dịch vụ Năng suất trong khu vực dịch vụ có thể được xác định bằng tỷ số giữa sản lượng và chất lượng đầu ra so với sản lượng và chất lượng đầu vào

a) Yếu tố số lượng của năng suất dịch vụ

Yếu tố sản lượng của năng suất dịch vụ giống với năng suất trong khu vực chế tạo và nó bao gồm nguyên vật liệu, lao động và vốn Kinh doanh dịch vụ là một lĩnh vực thâm dụng lao động, do đó, năng suất của khu vực dịch vụ thấp hơn so sới khu vực chế tạo Cũng chính vì lý do này mà có nhiều nhà cung cấp dịch vụ mong muốn đầu tư vào lĩnh vực công nghệ nhằm thay thế việc sử dụng lao động (chẳng hạn các máy giao dịch tự động có thể giúp thay thế cho nhiều giao dịch viên tại quầy, việc kinh doanh qua mạng cũng là một cách để tiết kiệm người bán tại các gian hàng).Điều này cho thấy gia tăng năng suất thông qua đầu tư công nghệ sẽ làm tăng chí phí đầu vào là vốn Mặc dù vốn là yếu tố ảnh hưởng chủ yếu đến năng suất dịch vụ, tuy nhiên chúng ta không sử dụng yếu tố này làm yếu tố duy nhất để đánh giá năng suất

Đầu ra hay sản lượng đầu ra là những nhân tố cơ bản để đo lường năng suất Khi một dịch vụ được đưa ra nó bao gồm một hay một vài các yếu tố tiêu chuẩn cấu thành, sản lượng đầu ra của dịch vụ

dễ dàng được đo lường (Quinn và Paquette, 1990) Do đó, đầu ra có thể bao gồm nhiều dịch vụ chuẩn hóa nhằm đáp ứng từng khách hàng (chẳng hạn như gói dịch vụ duy nhất) Vì vậy, việc xác định đầu ra của dịch vụ là một nhiệm vụ khó khăn

Yếu tố có tầm quan trọng chiến lược đối với các nhà cung cấp dịch vụ đó là có đủ nguồn lực nhằm cung cấp đáp ứng được nhu cầu đối với dịch vụ Chiến lược này được định hướng về mặt số lượng Tuy nhiên, theo quan điểm của khách hàng, khối lượng sản lượng đầu ra là một vấn đề cực kỳ khó, bởi vì khách hàng thông thường chỉ mua một đơn vị đầu ra (chẳng hạn như một đầu tóc được cắt mới) hay một gói dịch vụ (tour du lịch) Do đó, khách hàng thương có khuynh hướng đặt ưu tiên cho yếu tố chất lượng dịch vụ hơn là số lượng dịch vụ (Sahay, 2005) Tuy nhiên, sản lượng hoạt động trên thực tế được xác định bằng sự khác biệt giữa các nhu cầu theo thời gian (McLaughlin, 1996) Kết quả

là, tỷ lệ năng suất của các hoạt động dịch vụ có thể khác nhau giữa thời kỳ này so với thời kỳ khác, nếu

nó được đo lường dựa trên tỷ số về sản lượng Chính vì sự khác biệt trong tổng nhu cầu theo thời gian, nhà cung cấp dịch vụ cần giải quyết 2 vấn đề cơ bản liên quan đến khía cạnh sản lượng đó là qui mô phạm vi sản xuất và danh mục sản xuất

b) Yếu tố chất lượng của năng suất dịch vụ

Yếu tố chất lượng là một thước đo khó có thể xác định một cách khách quan Theo Gummesson (1992), có thể đánh giá chất lượng theo cách tiếp cận chất lượng mang tính nhân văn Đó là cách đánh giá dựa vào các yếu tố như khách hàng, nhân viên, những nhà lãnh đạo, văn hóa; ngược lại trong một

số trường hợp khác sự đánh giá lại dựa vào cách tiếp cận công nghệ có liên quan đến việc quản lý các

Trang 32

hoạt động, số liệu thống kê và các phương pháp đo lường Lehtinen (1991) đã đề cập đến chất lượng vật chất, chất lượng tương tác và chất lượng tổng hợp, mặt khác lại đề cập đến chất lượng của quá trình

và đầu ra Với công thức đánh giá năng suất như đã được đề cập ở trên, đã phân chia phạm vi chất lượng đầu vào và chất lượng đầu ra; và sự phân chia này cũng tương tự như cách phân chia của Lehtinen về sau Do đó, chúng ta có thể phát biểu rằng đầu ra là bao gồm tất cả chất lượng của các dịch

vụ được cung cấp và đầu vào bao gồm cả các yếu tố hữu hình và vô hình

Chất lượng đầu ra ở đây được hiểu chính là những gì mà khách hàng phải trá giá để có được chúng và chất lượng này là vô hình, do đó khó có thể định lượng được (Adam và các đồng sự, 1995) Chất lượng dịch vụ nhìn chung được hiểu là những cảm nhận của khách hàng về chất lượng, trong đó nhấn mạnh đến sự đánh giá của các cá nhân đối với giá trị của dịch vụ được cung ứng (Gummesson, 1994) và sẽ tồn tại sự khác biệt giữa chất lượng dịch vụ kỳ vọng và chất lượng dịch vụ được đánh giá trên thực tế (Gronroos, 1982)

1.4 KHUNG PHÁP LÝ ĐIỀU CHỈNH DỊCH VỤ Ở VIỆT NAM

1.4.1 Những cam kết của Việt Nam với WTO và các hiệp định thương mại song phương về dịch

vụ

1.4.1.1 Những cam kết của Việt Nam với WTO

Theo cam kết, Việt Nam phải mở cửa 110 phân ngành thuộc 11 ngành dịch vụ cho các thành viên WTO Những cam kết này liên quan đến chế độ đầu tư, hình thức thành lập doanh nghiệp, thuê đất, các biện pháp về thuế, trợ cấp cho doanh nghiệp trong nước…Đồng thời chưa cho phép các công ty nước ngoài hiện diện tại Việt Nam dưới hình thức chi nhánh (ngoại trừ điều đó được cho phép theo cam kết trong từng ngành cụ thể) Các công ty nước ngoài được phép mua cổ phần trong các doanh nghiệp Việt Nam, nhưng mức mua trong từng ngành sẽ phải phù hợp với sự hạn chế về phần vốn thuộc

sở hữu nước ngoài quy định trong Biểu cam kết (riêng ngành ngân hàng, phía nước ngoài chỉ được phép mua tối đa 30% cổ phần) Các công ty nước ngoài cũng được phép đưa cán bộ quản lý vào Việt Nam làm việc, nhưng cán bộ quản lý là người Việt Nam tối thiểu phải chiếm 20%…

Về cơ bản, các cam kết về thương mại dịch vụ của Việt Nam phù hợp với chính sách và thực trạng của nền kinh tế nên nhìn chung sẽ không gây ra tác động lớn đến sự phát triển các ngành dịch vụ Tuy nhiên, một số ngành có thể phải chịu sức ép khá lớn, đó là dịch vụ phân phối, bán lẻ (được nghiên cứu ở đề tài khác), tài chính (ngân hàng, bảo hiểm, thị trường chứng khoán) và dịch vụ vận tải, giao nhận Cũng cần phải thấy rằng, việc bảo hộ một số ngành dịch vụ quan trọng một mặt là cần thiết, nhưng mặt khác lại làm cho nhiều ngành khác, thậm chí cả nền kinh tế bị ảnh hưởng tiêu cực Việc bảo

hộ luôn có tính hai mặt vì thế những ngành không mở cửa rộng rãi cũng cần tránh tâm lý ỷ lại, trì trệ dẫn đến việc chậm đổi mới và nâng cao sức cạnh tranh từ đó tác động tiêu cực đến sự phát triển chung của nền kinh tế

Những cơ hội và thách thức của việc thực thi các cam kết về dịch vụ khi gia nhập WTO:

 Cơ hội

- Tự do hóa ngành dịch vụ sẽ có tác động mạnh đến việc thu hút đầu tư nước ngoài Trước hết là đối với các phân ngành dịch vụ trước đây bị đóng cửa hoặc hạn chế chặt chẽ với đầu tư nước ngoài (như vận tải, kho bãi, viễn thông, tài chính ) thì sau khi gia nhập WTO sẽ trở nên hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài mặc dù vẫn còn một số điều kiện hạn chế và một thời gian chuyển đổi Ngoài ra,

Trang 33

việc điều chỉnh các chính sách và thể chế của chính phủ theo hướng minh bạch và bình đẳng hơn đối với các thành phần kinh tế cũng sẽ góp phần tạo ra một môi trường kinh doanh hấp dẫn, thu hút đầu tư nước ngoài

- Tự do hóa ngành dịch vụ sẽ thúc đẩy cạnh tranh và dẫn đến năng suất trong các ngành dịch vụ được cải thiện mạnh mẽ Áp lực cạnh tranh với các công ty nước ngoài khiến tất cả các công ty trong nước, đặc biệt là những công ty trước đây thuộc sở hữu hoặc kiểm soát bởi Nhà nước, phải tự cải tổ lại

để trở nên hiệu quả hơn Vì ngành dịch vụ liên quan đến toàn bộ các ngành kinh tế khác nên cải thiện năng suất trong ngành này sẽ góp phần nâng cao năng suất của cả nền kinh tế, góp phần đáng kể cải thiện chất lượng môi trường đầu tư, giảm chi phí và thời gian sản xuất Có thể nói, những cam kết mở cửa thị trường dịch vụ có tác dụng tích cực đến cải thiện năng suất và tính cạnh tranh của toàn bộ nền kinh tế Bên cạnh đó, các doanh nghiệp trong nước cũng có thể cân nhắc tới khả năng hợp tác với đối tác nước ngoài để có thể trở thành một phần của các hoạt động kinh doanh toàn cầu của các đối tác này

+ Việc mở rộng liên doanh, liên kết tạo điều kiện tăng cường trao đổi kiến thức và kỹ năng chuyên ngành giúp các doanh nghiệp trong nước tiếp cận và theo kịp trình độ tiên tiến của các nước trên thế giới, góp phần thúc đẩy năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước

+ Việc mở cửa nhiều ngành và phân ngành dịch vụ, nhất là các phân ngành dịch vụ cơ bản có tác động quan trọng đến nhiều lĩnh vực của nền kinh tế như ngân hàng, viễn thông, phân phối, vận tải, kho bãi, giáo dục - đào tạo… sẽ tạo điều kiện cho nhiều ngành khác phát triển thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của đất nước

+ Việc mở cửa thị trường dịch vụ còn là cơ hội gia tăng lợi ích cho người tiêu dùng khi có nhiều hơn các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài tham gia vào thị trường Người tiêu dùng sẽ được hưởng lợi

từ giá cả cạnh tranh hơn và nhiều lựa chọn tốt hơn về chất lượng cũng như sự đa dạng của dịch vụ

 Thách thức

- Thách thức rõ ràng nhất đối với các doanh nghiệp trong nước là sức ép cạnh tranh và nguy cơ mất thị phần vào tay các doanh nghiệp nước ngoài Việc cạnh tranh với những đối thủ mạnh về tài chính, công nghệ và kinh nghiệm là không dễ dàng Một minh chứng cụ thể là khi Việt Nam mở cửa thị trường bảo hiểm cho các công ty của Mỹ theo Hiệp định thương mại Việt - Mỹ thì thị phần của Bảo Việt Nhân thọ đã giảm từ trên 70% trong năm 2000 xuống còn 38% trong năm 2005

- Việc thị trường phát triển nhanh về qui mô, đa dạng về sản phẩm cũng là sức ép đối với các nhà quản lý Chẳng hạn, sự tham gia ngày càng nhiều của các ngân hàng nước ngoài có qui mô vốn lớn, năng lực cạnh tranh cao và nắm giữ vai trò quan trọng trong hệ thống tài chính quốc gia sẽ chứa đựng rủi ro tiềm tàng tới sự phát triển ổn định và bền vững của hệ thống tài chính , đồng thời đây cũng là thách thức lớn đối với khả năng đối phó trước các hiện tượng rửa tiền, tài trợ khủng bố,

- Các doanh nghiệp trong nước phải có chiến lược phát triển nguồn nhân lực và các công cụ bảo

vệ pháp lý khi tham gia vào thương mại quốc tế

Ngoài ra, còn có một số thách thức khác về mặt xã hội như tình trạng thất nghiệp của đội ngũ lao động; vấn đề cung cấp các dịch vụ cơ bản như y tế, giáo dục; khoảng cách phát triển giữa các vùng, miền,

Nhìn chung, các cam kết gia nhập WTO mang lại cả thuận lợi và khó khăn Tuy nhiên, đối với toàn bộ nền kinh tế Việt Nam, thuận lợi là nhiều hơn, thách thức của ngành này có khi lại là cơ hội của

Trang 34

ngành khác và ngược lại Các cam kết gia nhập WTO nhìn chung phù hợp với chủ trương, chính sách đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam Tuy rằng việc triển khai các cam kết liên quan đến cải cách thủ tục hành chính, sửa đổi hệ thống pháp luật theo hướng rõ ràng, minh bạch hơn là thách thức rất lớn, nhưng đều là những việc chúng ta bắt buộc phải làm và đã làm dần từ trước khi trở thành thành viên chính thức của WTO

1.4.1.2 Các hiệp định thương mại song phương

Hiệp định thương mại Việt Mỹ được ký kết vào tháng 7/2000 và có hiệu lực vào ngày 11/12/2001 là một hiệp định quan trọng được kí kết giữa Việt Nam và Hoa Kỳ, gồm 4 phần chính: thương mại hàng hóa; quyền sở hữu trí tuệ; thương mại dịch vụ và phát triển quan hệ đầu tư; ngoài ra còn có các chương quy định về tạo thuận lợi trong kinh doanh; tính minh bạch, công khai và quyền khiếu kiện; những điều khoản chung và các phụ lục

Trong lĩnh vực dịch vụ, Việt Nam cam kết tuân thủ các quy định của WTO về Tối huệ quốc, đối

xử quốc gia và các nguyên tắc trong pháp luật quốc gia Bên cạnh đó, Việt Nam đồng ý cho phép các công ty và các cá nhân Mỹ đầu tư vào các thị trường của một loạt các lĩnh vực dịch vụ, bao gồm các dịch vụ pháp lý, kế toán, tư vấn về thuế, kiến trúc, các dịch vụ kỹ thuật, vi tính, quảng cáo, tư vấn thăm

dò thị trường, tư vấn quản lý, các dịch vụ bưu chính viễn thông, các dịch vụ nghe nhìn, ngân hàng, máy tính, phân phối, giáo dục, bảo hiểm, và viễn thông Hầu hết các cam kết về các lĩnh vực đó có lộ trình thực hiện sau 3 đến 5 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực

1.4.2 Khung pháp lý điều chỉnh dịch vụ ở Việt Nam

Theo quy định tại Điều 3 Luật Thương mại năm 2005, hoạt động thương mại là hoạt động nhằm

mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác Như vậy dịch vụ là một trong những hoạt động thương mại, chịu sự điều chỉnh của Bộ luật Dân sự năm 2005, Luật Thương mại năm 2005 và các văn bản hướng dẫn thi hành

Ngoài ra, mỗi loại hình dịch vụ còn có khung pháp lý riêng với những quy định mang tính chất chuyên ngành như Luật Du lịch năm 2005, Luật các tổ chức tín dụng năm 1997, Luật Ngân hàng nhà nước năm 1997, Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000, Luật Chứng khoán năm 2006, Luật Kinh doanh Bất động sản năm 2006, Luật Giáo dục năm 2005, Luật Dạy nghề năm 2006, Bộ luật Hàng hải năm

2005, Luật Hàng không Dân dụng năm 2006, Luật Đường sắt năm 2005, Luật Giao thông đường thủy nội địa năm 2004, Pháp lệnh Bưu chính Viễn thông năm 2002, Pháp lệnh về hành nghề y, dược tư nhân năm 1993 và các văn bản hướng dẫn thi hành

Nhìn chung, các văn bản trên đã tạo khuôn khổ pháp lý cho sự phát triển của các ngành dịch vụ cũng như của nền kinh tế và là công cụ để các cơ quan nhà nước thực hiện hoạt động quản lý nhà nước

về dịch vụ Nhiều văn bản mới được ban hành để điều chỉnh những quan hệ xã hội nảy sinh trong quá trình hội nhập, phát triển như Luật chứng khoán năm 2006, Luật Kinh doanh Bất động sản năm 2006,… Phần lớn các văn bản trong lĩnh vực này được ban hành, sửa đổi, bổ sung từ năm 2005 để đáp ứng yêu cầu đổi mới thể chế pháp lý gia nhập tổ chức thương mại thế giới và nội luật hóa các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia như Luật Du lịch năm 2005, Bộ luật Hàng hải năm 2005, Luật Hàng không Dân dụng năm 2006,…

Trang 35

Vì dịch vụ là lĩnh vực kinh tế rộng lớn, liên quan đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội nê, hệ thống pháp luật về dịch vụ của Việt Nam khá phức tạp, bao gồm nhiều văn bản, với nhiều cấp độ hiệu lực khác nhau, từ bộ luật, luật đến pháp lệnh, nghị định, thông tư, quyết định Số lượng văn bản điều chỉnh lĩnh vực dịch vụ lên đến hàng trăm văn bản Đây là một khó khăn lớn cho việc thực thi pháp luật

Và các doanh nghiệp cũng khó có thể cập nhật đầy đủ các văn bản điều chỉnh lĩnh vực mình đang kinh doanh

Mặt khác, các văn bản do nhiều cơ quan soạn thảo, ban hành nên không tránh khỏi sự chồng chéo, mâu thuẫn Ví dụ, Điều 7 Nghị định 21/2005/NĐ-CP và Điều 2 Nghị định 79/2005/NĐ-CP cho phép các cá nhân có đăng ký kinh doanh được kinh doanh dịch vụ xếp dỡ hàng hóa tại cảng, bến thủy nội địa và dịch vụ đại lý hải quan nhưng khoản 1 Điều 234 Luật Thương mại năm 2005 và Điều 5 Nghị định 140/2007/NĐ-CP lại không cho phép cá nhân kinh doanh dịch vụ logistics chủ yếu (trong đó bao gồm dịch vụ xếp dỡ hàng hóa tại cảng, bến thủy nội địa và dịch vụ đại lý hải quan) Một ví dụ khác, là

sự mâu thuẫn giữa Bộ luật Dân sự năm 2005 và Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2005 về quy định trả tiền bảo hiểm khi người được bảo hiểm chết trong bảo hiểm tính mạng (bảo hiểm con người) Theo quy định của điều 578 BLDS năm 2005, nếu người được bảo hiểm chết, số tiền bảo hiểm sẽ trả cho người thừa kế của người được bảo hiểm, còn theo quy định của Luật KDBH, số tiền bảo hiểm sẽ trả cho người thụ hưởng, và người thụ hưởng có thể không phải là người thừa kế của người được bảo hiểm

Pháp luật điều chỉnh lĩnh vực dịch vụ cũng thường xuyên được thay đổi và khó dự đoán nên không tạo được môi trường pháp lý ổn định cho hoạt động của các doanh nghiệp Đây là thực trạng bị nhiều doanh nghiệp phản ánh trong các điều tra về năng lực cạnh tranh cấp tỉnh do Phòng Thương mại

và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) tổ chức Hiện tượng thiếu cơ sở pháp lý chắc chắn điều chỉnh một số dịch vụ dẫn đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp gặp khó khăn và thị trường cũng bị ảnh hưởng vẫn còn tồn tại, chẳng hạn như khung pháp lý điều chỉnh hoạt động kinh doanh vàng chưa được hoàn thiện dẫn đến việc Thủ tướng Chính phủ yêu cầu chấm dứt các hoạt động liên quan đến kinh doanh sàn giao dịch vàng và kinh doanh vàng trên tài khoản ở trong nước để rà soát lại các quy định hiện hành, thống nhất quản lý hoạt động kinh doanh này

Hệ thống giấy phép trong lĩnh vực dịch vụ còn rất phức tạp, mặc dù đã có nhiều nỗ lực của Chính phủ trong việc đơn giản hóa và minh bạch hóa thủ tục thành lập doanh nghiệp, đăng ký kinh doanh và cấp phép hoạt động

Một số văn bản điều chỉnh lĩnh vực dịch vụ đã lạc hậu, cần được thay thế như Luật các tổ chức tín dụng năm 1997, Luật Ngân hàng nhà nước năm 1997 Hiện nay, Quốc hội cũng đang trong quá trình thu thập ý kiến để hoàn chỉnh dự thảo các văn bản mới để thay thế

1.5 KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI 1.5.1 Sự phát triển của dịch vụ trên thế giới

1.5.1.1 Sự phát triển của khu vực dịch vụ trên thế giới

Việc ứng dụng các công nghệ mới vào quá trình sản xuất đã làm tăng tính đa dạng và phức tạp của quá trình sản xuất và phân phối; và nhờ đó làm tăng hàm lượng dịch vụ trong các hàng hóa sản xuất (Guerieri và Meliciani, 2003) Bên cạnh đó, những ngành dịch vụ tri thức cũng có thể được xem là

xu hướng phát triển nổi trội của nền kinh tế hiện đại Thực tiễn phát triển đã cho thấy, các ngành tài

Trang 36

chính-ngân hàng (gồm cả bảo hiểm) và dịch vụ kinh doanh trở thành hai ngành dịch vụ quan trọng đóng góp lớn trong việc tạo ra giá trị tăng thêm của khu vực dịch vụ, đồng thời còn là động lực chính thúc đẩy cho tăng trưởng của nền kinh tế Chẳng hạn, tính đến năm 2003, có khoảng 68% giá trị tăng thêm ở các quốc gia OECD được tạo ra từ khu vực dịch vụ, trong đó khoảng 20%-30% giá trị tăng thêm này được đóng góp từ các lĩnh vực tài chính-ngân hàng và dịch vụ kinh doanh, cao hơn nhiều so với con số 10-20% trong năm 1980 (FORFAS, 2006) Báo cáo phát triển thế giới năm 2009 mới đây cho thấy khu vực dịch vụ chiếm khoảng 69% trong GDP của nền kinh tế thế giới Trong đó, tỷ trọng của khu vực dịch vụ trong GDP ở các quốc gia phân theo mức thu nhập tương ứng là 59% ở các quốc gia có mức thu nhập thấp và trung bình, và 72% ở các quốc gia có mức thu nhập cao (WDR, 2009)

Ngoài ra, một trong những yếu tố thúc đẩy khu vực dịch vụ hiện nay phát triển, đó là sự gia tăng thuê ngoài (outsourcing) trong các giai đoạn của quá trình sản xuất và cung ứng dịch vụ (Chadwick, 2004) Việc sử dụng các dịch vụ bên ngoài của các doanh nghiệp sản xuất là nhờ vào những lợi thế mà các dịch vụ này mang lại Hơn nữa, việc mua lại dịch vụ từ bên ngoài sẽ rẻ hơn so với việc cung cấp dịch vụ từ trong nước; hay nói cách khác, dịch chuyển nguồn lực ra ngoài phạm vi quốc gia có thể tiết kiệm được chi phí Do đó, sử dụng dịch vụ trong sản xuất, ngoài việc làm giảm chi phí trong quá trình hoạt động còn làm tăng giá trị đối với các sản phẩm của doanh nghiệp và góp phần làm tăng năng suất của doanh nghiệp Trong đó, công nghệ thông tin đã và đang trở thành là dịch vụ được thuê ngoài nhiều nhất Chẳng hạn, theo số liệu khảo sát của các công ty Mỹ tính đến cuối năm 1997 cho thấy công nghệ thông tin chiếm tới 30% trong tổng chi phí thuê ngoài của các công ty này, tiếp theo đó

là thuê mướn lao động (16%), marketing (14%) và tài chính (11%) (Nguyễn Hồng Sơn và Nguyễn Mạnh Hùng, 2007)

Một biểu hiện khác của khu vực dịch vụ hiện nay trên thế giới, đó là xu hướng gia tăng lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào khu vực dịch vụ Xu hướng FDI vào ngành dịch vụ tăng nhanh xuất hiện từ những năm 1990 do các nhà cung cấp dịch vụ tăng cường thiết lập sự “hiện diện thương mại” (commercial presence) tại các thị trường nước ngoài Hiện diện thương mại là phương thức cung cấp dịch vụ thông qua sự hiện diện của nhà cung cấp của một nước ở trong lãnh thổ của nước khác (OECD, 2000) và điều này thường đòi hỏi phải đầu tư vào một hoạt động dịch vụ nào đó Theo báo cáo của OECD (2000), FDI vào ngành dịch vụ ở các quốc gia này chủ yếu tập trung vào các ngành như bán lẻ, ngân hàng, dịch vụ kinh doanh, viễn thông, khách sạn và nhà hàng- là những ngành cần có

sự hiện diện thương mại để tiến hành hoạt động kinh doanh Tuy nhiên, dòng FDI chảy vào các lĩnh vực như giáo dục, y tế và các dịch vụ cá nhân và xã hội vẫn còn hạn chế Năm 2002, ngành dịch vụ chiếm hơn 60% trong tổng lượng vốn FDI của toàn cầu, so với mức dưới 50% của một thập kỷ trước

đó (Trung tâm phát triển OECD và Ngân hàng phát triển Châu Á- ADB, 2003) Báo cáo đầu tư thế giới

2009 cho thấy, khu vực dịch vụ mà đặc biệt là ngành tài chính đã thu hút một lượng lớn FDI Việc mua lại và sáp nhập qua biên giới trong khu vực dịch vụ năm 2008 đã tăng lên hơn 7 tỷ USD từ mức 3 tỷ USD trong năm 2007 nhưng thấp hơn rất nhiều so với mức 14 tỷ trong năm 2006 Tăng trưởng kinh tế

và các chiến lược cải cách quốc gia đã góp phần làm tăng lượng đầu tư FDI từ các công ty đa quốc gia vào khu vực dịch vụ mà đặc biệt là trong lĩnh vực tài chính (UNCTAD, 2009)

Nhiều nghiên cứu cho thấy, các nhân tố thúc đẩy FDI vào khu vực dịch vụ đó là: (1) Một số dịch vụ khó có thể lưu trữ và vận chuyển nên cần có sự hiện diện thương mại ở nước ngoài, chưa kể nhiều dịch

vụ cần có sự tiếp xúc giữa người với người (2) Sự khác biệt về văn hóa đã hạn chế nhu cầu đối với các dịch vụ nhập khẩu (3) Mặc dù có nhiều lĩnh vực dịch vụ được mở cửa cho đầu tư nước ngoài song vẫn

Trang 37

còn tồn tại một số rào cản thương mại và đầu tư vào một số ngành dịch vụ (như yêu cầu phải thành lập

cơ sở cung cấp dịch vụ trong nước) (4) Xu thế của các công ty cung ứng dịch vụ mở rộng đầu tư nước ngoài nhằm tăng doanh số khi thị trường nội địa bão hòa, đặc biệt là xu thế tăng cường đầu tư vào lĩnh vực dịch vụ của các công ty xuyên quốc gia thông qua việc tham gia vào các dự án liên doanh, thỏa thuận hợp tác và liên minh, mua lại và sáp nhập với các đối tác nước ngoài

1.5.1.2 Ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu đối với sự phát triển của một số ngành dịch vụ

Đối với lĩnh vực tài chính, ngân hàng, trong năm 2008 kinh tế thế giới đã bị tác động mạnh

bởi cuộc khủng hoảng tài chính sâu rộng Cuộc khủng hoảng này đã bắt đầu tư tháng 8/2007 sau sự sụp

đổ của thị trường cho vay dưới chuẩn ở Hoa Kỳ đã chuyển sang một giai đoạn mới nặng nề hơn vào tháng 9/2008 Cuộc khủng hoảng này đã lay chuyển lòng tin vào các định chế và thị trường tài chính toàn cầu Nghiêm trọng hơn, sự gia tăng những lo ngại về khả năng thanh khoản của các ngân hàng lớn

đã gây ra sự phá sản của hàng loạt ngân hàng, cùng với đó là sự sụp đổ của thị trường liên ngân hàng

Cuộc khủng hoảng tài chính bắt nguồn từ các nền kinh tế phát triển, tuy nhiên các nước đang phát triển cũng chịu ảnh hưởng nặng nề Cho đến giữa tháng 11/2008 thị trường cổ phiếu ở các nước đang phát triển đã bị suy giảm mạnh Số lượng các công ty niêm yết trên thị trường cổ phiếu cũng rất ít

Vì trái phiếu doanh nghiệp là một trong những nguồn tài chính quan trọng nhất ở các quốc gia đang phát triển, nên điều này có thể dẫn đến sự suy giảm đầu tư ở các nước này Các khoản cho vay của ngân hàng và đầu tư nước ngoài cũng bị giảm sút Khủng hoảng hệ thống ngân hàng vào tháng 9/2008

đã làm mạnh mẽ hơn chu kỳ suy giảm đang diễn ra

Đối với khu vực Đông Á và Đông Nam Á, do đa số các nền kinh tế lớn ở khu vực này đều định hướng xuất khẩu và phụ thuộc nhiều vào thương mại quốc tế và đầu tư nước ngoài, nên lĩnh vực xuất khẩu, thị trường chứng khoán, và thị trường tiền tệ khu vực chịu ảnh hưởng nhiều nhất từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu Singapore là quốc gia đầu tiên rơi vào suy thoái năm 2008, ba lĩnh vực trụ cột của kinh tế nước này, trong đó có dịch vụ tài chính, ngân hàng và du lịch đều bị ảnh hưởng nặng nề từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu

Đối với lĩnh vực dịch vụ du lịch và phân phối, sau năm 2008 đầy khó khăn, kinh tế thế giới

trong năm 2009 tiếp tục gặp nhiều thách thức Khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu tiếp tục có tác động ngày càng sâu, rộng Kinh tế Hòa Kỳ và nhiều quốc gia khác trong những tháng đầu năm 2009 tiếp tục suy giảm Tình trạng suy thoái kinh tế như vậy đã dẫn tới sự suy giảm trong chi tiêu của người dân, làm cho ngành dịch vụ phân phối bán lẻ và ngành du lịch bị tác động mạnh Chẳng hạn, doanh số thị trường ô tô của Mỹ trong năm 2009 chỉ đạt mức 14,5 triệu chiếc, thấp nhất trong vòng một thập kỷ lại đây Trong lĩnh vực du lịch, số khách đi bằng hàng không, cũng như đường bộ giảm sút đáng kể Tình trạng này đã buộc hàng loạt hãng hàng không trên thế giới phải đóng cửa Riêng trong tháng 6/2008, số hãng hàng không phải ngừng hoạt động đã lên tới con số 25 Đồng đô la Mỹ mất giá khiến nhiều người dân nước này phải từ bỏ thói quen đi du lịch và mua sắm ở nước ngoài, trong khi doanh số bán lẻ trong nước cũng suy giảm mạnh

Đối với dịch vụ thương mại, do những tác động của cuộc khủng hoảng tài chính, ngành dịch vụ

thương mại-gồm những dịch vụ gắn với việc mua bán hàng hóa đã suy giảm mạnh Như vậy, một khi xuất khẩu và nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ gặp nhiều khó khăn sẽ kéo theo sự sụt giảm của ngành

Trang 38

dịch vụ thương mại Theo dự báo, thương mại thế giới năm 2009 tăng trưởng chậm lại ở mức 2,1% so với 4,4% năm 2008 Cả xuất khẩu và nhập khẩu của thế giới cũng như của các nước đang phát triển và phát triển đều được dự báo là sẽ giảm so với năm 2008

Số liệu dự báo của IMF cho thấy, xuất khẩu của các nước phát triển có mức sụt giảm mạnh hơn

so với các nền kinh tế đang nổi và đang phát triển Dự báo kim ngạch nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ thế giới sẽ giảm với tốc độ lớn hơn so với mức giảm kim ngạch xuất khẩu Nhập khẩu của các nước phát triển là những nước bị tổn thất nhiều nhất từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu sẽ tăng trưởng ở mức âm (-2,1%), giảm so với mức tăng 1,7% năm 2008 và giảm mạnh so với mức 4,5% năm 2007 Trong khi đó, ở các nền kinh tế mới nổi, tốc độ tăng nhập khẩu cũng giảm hơn 50%, từ mức 10,9% năm 2008, xuống còn 5,2% năm 2009 Kinh tế Trung Quốc vốn được coi là một động lực tăng trưởng của nền kinh tế thế giới, sau nhiều năm tăng trưởng cao ở mức hai con số, đã giảm xuống mức 7,5% năm 2008 Đối với lĩnh vực xuất khẩu, trong đó có xuất khẩu dịch vụ đã suy giảm mạnh do khủng hoảng tài chính Nền kinh tế đông dân nhất thế giới này vốn dựa nhiều vào xuất khẩu, nên bị tác động

rõ rệt và trực tiếp từ việc các nền kinh tế châu Âu và Hoa Kỳ suy giảm Kết quả là, chỉ số chứng khoản CSI đã giảm gần bốn lần so với đỉnh điểm cuối năm 2007, thất nghiệp gia tăng, xuất khẩu giảm liên tục, hàng hóa ứ đọng với khối lượng rất lớn

1.5.2 Kinh nghiệm phát triển dịch vụ của một số quốc gia, vùng lãnh thổ

Mặc dù có sự khác biệt về cơ cấu sản xuất và việc làm, các nền kinh tế phát triển và đang phát triển đều có chung một đặc điểm đó là tỷ trọng của khu vực dịch vụ ngày càng tăng và đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế Ở các quốc gia OECD, dịch vụ đã trở thành ngành chiếm tỷ trọng lớn nhất cả về sản lượng và việc làm Số liệu thống kê từ Ngân hàng thế giới (2009) cho thấy khu vực dịch

vụ của các quốc gia này chiếm khoảng 2/3 tổng giá trị tăng thêm và lượng việc làm mới được tạo ra trong suốt giai đoạn 2000-2006 Tương tự, ở các nước đang phát triển, tỷ trọng của ngành dịch vụ đã tăng tương đối so với tổng giá trị gia tăng Sự gia tăng tỷ trọng của khu vực dịch vụ trên thế giới càng cho thấy phát triển dịch vụ được xem như là một điều kiện tiên quyết cho sự phát triển hơn là một kết quả của sự phát triển (Trung tâm phát triển của OECD và Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB), 2002) Chẳng hạn, các dịch vụ cơ sở hạ tầng không đầy đủ như mạng lưới giao thông-vận tải và viễn thông

nghèo nàn hay một hệ thống tài chính yếu kém đều có thể được xem như là những “nút thắt cổ chai”

đối với quá trình phát triển bền vững Các dịch vụ phân phối, tài trợ thương mại, bảo hiểm, marketing

và các dịch vụ kinh doanh khác có vai trò hỗ trợ cho sự phát triển lành mạnh của các hoạt động công nghiệp Ngày nay, vai trò của dịch vụ được thừa nhận một cách rộng rãi trong việc xác định chất lượng cũng như tốc độ tăng trưởng kinh tế và không thể có một nền kinh tế mang tính cạnh tranh nếu như ngành dịch vụ của nền kinh tế đó không hiệu quả và hiện đại về công nghệ (OECD và ADB, 2002)

Có thể xem Việt Nam là quốc gia đi sau về phát triển nền kinh tế hiện đại Mặc dù đây là một bất lợi hiển nhiên nếu xét về tăng trưởng, song nó lại đem lại cho các nhà hoạch định chính sách của đất nước cơ hội quan sát và học hỏi kinh nghiệm từ các quốc gia, vùng lãnh thổ có đặc điểm tương đồng Trong phần này, chúng tôi xem xét những nguyên nhân thúc đẩy tăng trưởng trong khu vực dịch

vụ của các nền kinh tế này; Nghiên cứu các thể chế, chính sách ở cấp độ quốc gia và địa phương có ảnh hưởng đến sự tăng trưởng và phát triển của khu vực dịch vụ, từ đó rút ra một số bài học kinh nghiệm cho việc phát triển khu vực dịch vụ của thành phố Đà Nẵng trong thời kỳ công nghiệp hóa và hiện đại hóa

Trang 39

Tuy nhiên, để có thể học hỏi được kinh nghiệm từ những quốc gia phát triển thành công đi trước, đồng thời rút ra được những bài học hữu ích và mang tính thực tiễn cao đòi hỏi cần phải đặt trong sự tương quan so sánh Trong bối cảnh của nghiên cứu này, để có thể rút ra được những bài học phát triển khu vực dịch vụ cho thành phố Đà Nẵng, sẽ là hợp lý hơn nếu đi nghiên cứu kinh nghiệm phát triển của một số quốc gia có những đặc điểm tương đồng đối với Việt Nam nói chung và thành phố Đà Nẵng nói riêng về các điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý, quá trình phát triển Tuy nhiên, sẽ không tồn tại một giải pháp chung nào cho tất cả các nền kinh tế Do đó, việc lựa chọn Hồng Kông, Singapore, Malaysia, Ấn Độ và Trung Quốc, để học hỏi trong lĩnh vực phát triển khu vực dịch vụ, từ

đó rút ra những bài học kinh nghiệm có thể áp dụng cho thành phố Đà Nẵng trong thời gian tới cũng không nằm ngoài những mục tiêu trên

Chính sự chồng chéo mạnh mẽ giữa hoạt động kinh tế và đặc điểm của các tiểu vùng là nguyên nhân trong việc áp dụng việc gắn liền địa danh với kinh nghiệm phát triển kinh tế Cùng nằm trong khu vực Đông Á, Hồng Kông, Singapore, Malaysia và Việt Nam đều trải qua hai giai đoạn giống nhau đó là ban đầu tập trung phát triển các ngành chế tạo mà ít quan tâm đến phát triển khu vực dịch vụ nhưng sau

đó chuyển sang phát triển nền kinh tế với khu vực dịch vụ là động lực chính của sự tăng trưởng Tuy nhiên cũng tồn tại một số khác biệt đáng chú ý giữa các quốc gia, vùng lãnh thổ này Hồng Kông và Singapore có xuất phát điểm là hai thành phố, quốc gia cảng biển với nền kinh tế nhỏ và nghèo về tài nguyên thiên nhiên Các nền kinh tế này không có cơ hội khai thác tài nguyên thiên nhiên để tăng trưởng, và thị trường nội địa thì luôn quá nhỏ để duy trì công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu với hàng rào thuế quan cao Ngay từ khi bắt đầu, các nền kinh tế này không có nhiều lựa chọn ngoài việc chuyên môn hóa vào ngành chế tạo hướng đến xuất khẩu để phục vụ thị trường toàn cầu Mặc dù chiến lược phát triển không giống nhau và thay đổi theo thời gian, nhưng hai nền kinh tế này đều có điểm chung là quyết tâm tăng sức cạnh tranh trên thị trường toàn cầu và các nhà lãnh đạo chính trị đều sẵn sàng cho phép những ngành công nghiệp thiếu sức cạnh tranh được thu hẹp hoặc rút lui hoàn toàn Trong khi đó, Malaysia và Việt Nam lại được biết đến như là những quốc gia được ban tặng nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú Một điểm khác biệt đáng lưu ý ở đây nữa là hai nền kinh tế thành phố Singapore và Hồng Kông không có lục địa nên thường dựa vào dân di cư để tăng nguồn cung lao động Do cơ cấu của những nền kinh tế này, nên việc nhập cư của lao động có kỹ năng là một ưu tiên đặc biệt, dù đối với hai nền kinh tế này, lực lượng dân nhập cư không có tay nghề cũng rất quan trọng, đặc biệt là đối với những ngành như xây dựng đô thị và dịch vụ cá nhân Bên cạnh đó, việc lựa chọn Trung Quốc và

Ấn Độ, vốn là hai quốc gia có khu vực dịch vụ phát triển nhanh hiện nay trên thế giới đồng thời là hai nền kinh tế lớn với những tiềm năng và chính sách cụ thể để học hỏi kinh nghiệm là khá giống Việt Nam, với tư cách là những quốc gia đến sau trong quá trình toàn cầu hóa

Điều đáng lưu ý là trong những nghiên cứu về kinh nghiệm phát triển khu vực dịch vụ được tổng hợp ở đây phần lớn được xem xét trên góc độ phạm vi quốc gia, nhưng mục đích lựa chọn quốc gia này đều được đặt trong sự tương quan so sánh với thành phố Đà Nẵng Và vì vậy, những bài học kinh nghiệm được rút ra cũng sẽ được xem xét ở phạm vi địa phương, thành phố

1.5.2.1 Kinh nghiệm của Hồng Kông

Nền kinh tế Hồng Kông đã trải qua thời kỳ chuyển đổi đáng chú ý trong hai thập kỷ trước đây

và kết quả là khu vực dịch vụ đã được mở rộng một cách nhanh chóng Ngành dịch vụ của Hồng Kông được đánh giá là một trong những ngành dịch vụ phát triển nhất của khu vực Đông Á Trong giai đoạn

Trang 40

1990-2007, tốc độ tăng bình quân hàng năm của giá trị tăng thêm từ khu vực dịch vụ đạt 7,3%, nhanh hơn tốc độ tăng trưởng bình quân 6% mỗi năm của GDP trong nền kinh tế Kết quả là, cơ cấu của dịch

vụ trong GDP của giai đoạn này cũng có xu hướng tăng lên, từ 75% trong năm 1990 tăng lên 92% trong năm 2007; nếu không tính đến lĩnh vực dịch vụ công thì con số này vẫn còn khá cao là 83% GDP

Đối mặt với những thách thức của sự thay đổi công nghệ nhanh chóng và môi trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt được tạo ra từ quá trình toàn cầu hóa, nền kinh tế Hồng Kông đã có sự thay đổi theo hướng tăng tỷ trọng những ngành dịch vụ có thể đem lại giá trị tăng thêm cao hơn cũng như chú trọng phát triển những hoạt động kinh tế dựa vào tri thức Đồng thời, sự tích hợp về kinh tế và tài chính giữa Hồng Kông và Trung Quốc đại lục đang ngày càng thịnh vượng, tạo ra nhiều cơ hội kinh doanh cho lĩnh vực dịch vụ rộng lớn Điều này đã minh chứng cho sự phát triển mở rộng nhanh chóng của khu vực dịch vụ Hồng Kông trong những năm qua

Có thể nói sự tăng trưởng nhanh chóng của các ngành dịch vụ ở Hồng Kông là nhờ vào chính sách mở cửa của Trung Quốc, quá trình toàn cầu hóa nền kinh tế và sự tăng trưởng nhanh chóng của khu vực Châu Á -Thái Bình Dương Đặc biệt là, kể từ sau cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á 1997-

1998, để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, Hồng Kông đã tập trung vào những cải cách về mặt thể chế trong lĩnh vực dịch vụ tài chính, hiện đại hóa các dịch vụ logistic, cảng biển và tăng trưởng của dịch vụ

du lịch Ngoài ra, Hồng Kông còn cương quyết thực hiện theo phương châm “Ủng hộ tối đa, can thiệp

tối thiểu”, đồng thời thực hiện vai trò cơ bản của mình là đem lại những điều kiện kinh doanh thân

thiện nhất có thể từ những qui định pháp lý, sự quản lý hiệu quả, trong sạch và một môi trường bình đẳng cho tất cả các doanh nghiệp đến những điều kiện về đất đai và cơ sở hạ tầng như đường xá, trường học nhằm giúp cho nền kinh tế Hồng Kông tăng trưởng Do đó, những chính sách phát triển kinh tế của Hồng Kông trong những năm đến tập trung khuyến khích các doanh nghiệp quốc tế đầu tư vào thành phố để phát triển cơ sở hạ tầng nhằm mở ra nhiều cơ hội kinh doanh Các chính sách linh hoạt cũng như những nỗ lực nhằm tự do hóa nền kinh tế đã cho thấy hoạt động kinh doanh đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì và cải thiện vị thế của Hồng Kông trên trường quốc tế

Sự tăng trưởng cao nhất trong giá trị tăng thêm được tạo ra cũng như số lượng lao động làm việc được thu hút chủ yếu ở các lĩnh vực dịch vụ công, dịch vụ kinh doanh, dịch vụ xuất-nhập khẩu, dịch vụ tài chính và dịch vụ bán buôn; trong khi đó tăng trưởng của dịch vụ bán lẻ và dịch vụ tiêu dùng lại rất hạn chế Điều này có thể đúng khi nhận xét rằng phần lớn những đối tượng sử dụng các dịch vụ bán buôn, xuất-nhập khẩu, tài chính và các dịch vụ kinh doanh là các công ty và phần lớn những người

sử dụng dịch vụ bán lẻ và các dịch vụ tiêu dùng là những người tiêu dùng cuối cùng Chính vì vậy, yếu

tố quan trọng nhất quyết định đến sự tăng trưởng trong khu vực dịch vụ của Hồng Kông chính là sự tăng trưởng của các dịch vụ đầu vào trung gian chứ không phải là các dịch vụ tiêu dùng cuối cùng (Wong, 2003)

Tỷ lệ giá trị tăng thêm được tạo ra từ dịch vụ tiêu dùng trong GDP tăng từ 29,5% năm 1983 lên 34% trong năm 2001, trong khi đó tỷ trọng của các dịch vụ trung gian trong GDP tăng từ 32,5% năm

1983 lên 43,9% trong năm 2001 Sư tăng trưởng của các dịch vụ trung gian ở Hồng Kông liên quan đến việc mở rộng các hoạt động sản xuất hàng hóa từ các công ty nằm dọc đường biên giới phía nam Trung

Quốc Mối quan hệ này đã tạo ra 2 tác động khác nhau: Một là, sự tăng trưởng của cầu về các loại dịch

vụ trung gian được thúc đẩy bởi sự tăng trưởng từ khu vực sản xuất hàng hóa và dẫn đến những ảnh

hưởng số nhân sau này Hai là, các dịch vụ trung gian đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy năng

Ngày đăng: 16/08/2016, 20:21

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
6. Công ty quản lý, tƣ vấn Bất động sản CB Richard Ellis (CBRE). 2007. Tổng quan thị trường bất động sản Đà Nẵng. Tháng 10/2007. CBRE Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan thị trường bất động sản Đà Nẵng
7. Công ty quản lý, tƣ vấn Bất động sản CB Richard Ellis (CBRE). 2010. Thông tin thị trường Khu vực ven biển Đà Nẵng-Hội An. Tháng 03/2010. CBRE Đà nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tin thị trường Khu vực ven biển Đà Nẵng-Hội An
16. Lưu Đức Khải, Hà Huy Ngọc. Dịch vụ môi giới bất động sản: Kinh nghiệm quốc tế, thực tiễn và định hướng phát triển ở Việt Nam. Quản lý kinh tế số 24 (1+2/2009) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dịch vụ môi giới bất động sản: Kinh nghiệm quốc tế, thực tiễn và định hướng phát triển ở Việt Nam
19. Nguyễn Ngọc Vũ, Vai trò của các ngân hàng thương mại trên địa bàn đối với sự chuyển dịch và phát triển cơ cấu kinh tế của Thành Phố Đà Nẵng trong những năm qua, Tạp chí KH-CN, Đại học Đà Nẵng, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của các ngân hàng thương mại trên địa bàn đối với sự chuyển dịch và phát triển cơ cấu kinh tế của Thành Phố Đà Nẵng trong những năm qua
21. Nguyễn Xuân Thành. 2003. Đà Nẵng lựa chọn chính sách đầu tư và phát triển kinh tế. Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương. Quỹ Châu Á và Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đà Nẵng lựa chọn chính sách đầu tư và phát triển kinh tế
22. Phan Thị Cúc, Nguyễn Văn Xa. Đầu tư kinh doanh bất động sản. Nhà xuất bản Đại học quốc gia TP Hồ Chí Minh, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đầu tư kinh doanh bất động sản
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học quốc gia TP Hồ Chí Minh
25. Thái Bá Cẩn, Trần Nguyên Nam. Thị trường bất động sản: Những vấn đề lý luận và thực tiễn ở Việt Nam. Học viện Tài chính, Nhà xuất bản Tài chính, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thị trường bất động sản: Những vấn đề lý luận và thực tiễn ở Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Tài chính
26. Trần Thọ Đạt. 2005. Các mô hình tăng trưởng kinh tế. Hà Nội: Thống Kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các mô hình tăng trưởng kinh tế
27. Trần Văn Minh. 2008. “Mục tiêu và định hướng phát triển kinh tế-xã hội thành phố Đà Nẵng đến năm 2020”. Thông tin khoa học: Phát triển kinh tế-xã hội Đà Nẵng số 10/2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mục tiêu và định hướng phát triển kinh tế-xã hội thành phố Đà Nẵng đến năm 2020
29. VCCI/VNCI. 2009. “Báo cáo PCI năm 2009”. http://www.pcivietnam.org/reports.php (truy cập ngày 27/5/2010) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo PCI năm 2009”. "http://www.pcivietnam.org/reports.php
33. Vũ Thị Xuân Hương, Sự phát triển dịch vụ tài chính trong tập đoàn Bưu Chính Viễn Thông Việt Nam, < www.tuyensinhnganhan.neu.edu.vn&gt Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự phát triển dịch vụ tài chính trong tập đoàn Bưu Chính Viễn Thông Việt Nam
34. Vương Đình Huệ, Hệ thống kiểm toán Việt Nam – Thực trạng, định hướng và giải pháp phát triển, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống kiểm toán Việt Nam – Thực trạng, định hướng và giải pháp phát triển
5. Cao Minh Nghĩa, Tổng quan lý thuyết về ngành kinh tế dịch vụ. Viện nghiên cứu phát triển thành phố Hồ Chí Minh. Online: http://www.hids.hochiminhcity.gov.vn/xemtin.asp?idcha=3439&cap=4&id=4690Cập nhật ngày 13/01/2010 Link
1. Báo cáo của Sở Du lịch (cũ) và Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch (mới) các năm 2000-2008 Khác
2. Báo cáo Phân tích hành vi và đánh giá của khách du lịch quốc tế đối với hình ảnh điểm đến Đà Nẵng. Viện Nghiên cứu phát triển Kinh tế-xã hội Đà Nẵng Khác
3. Báo cáo tổng kết ngân hàng nhà nước chi nhánh Đà Nẵng 2000 – 2008 Khác
4. Bộ Kế hoạch Đầu tư và Chương trình phát triển liên hợp quốc (UNDP), Phát triển khu vực dịch vụ ở Việt Nam: Chìa khóa cho tăng trưởng bền vững. Dự án VIE/02/009. Hà Nội, tháng 11/ 2005 Khác
8. Cục Thống kê Đà Nẵng, Niên giám Thống kê Đà Nẵng 2000, NXB Thống kê, 2001 Khác
9. Cục Thống kê Đà Nẵng, Niên giám Thống kê Đà Nẵng 2006, NXB Thống kê, 2007 Khác
10. Cục Thống kê Đà Nẵng, Niên giám Thống kê Đà Nẵng 2009, NXB Thống kê, 2010 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.1. Định nghĩa dịch vụ của Hill (1977) - PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG ĐẾN NĂM 2020
Sơ đồ 1.1. Định nghĩa dịch vụ của Hill (1977) (Trang 13)
Hình 1.1  Tỷ trọng của khu vực dịch vụ trong GDP, 1985-2008 - PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG ĐẾN NĂM 2020
Hình 1.1 Tỷ trọng của khu vực dịch vụ trong GDP, 1985-2008 (Trang 22)
Hình 1.2  Thu nhập bình quân đầu người và tỷ trọng của khu vực dịch vụ, 2006 - PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG ĐẾN NĂM 2020
Hình 1.2 Thu nhập bình quân đầu người và tỷ trọng của khu vực dịch vụ, 2006 (Trang 22)
Hình 1.3  Phân bố của FDI theo khu vực trên thế giới và các nước đang phát triển - PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG ĐẾN NĂM 2020
Hình 1.3 Phân bố của FDI theo khu vực trên thế giới và các nước đang phát triển (Trang 23)
Hình 2.6  Tỷ trọng các nguồn vốn đầu tƣ tại Đà Nẵng - PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG ĐẾN NĂM 2020
Hình 2.6 Tỷ trọng các nguồn vốn đầu tƣ tại Đà Nẵng (Trang 66)
Hình 2.7  Số dự án và lƣợng vốn FDI của Đà Nẵng tính đến 31/12 hàng năm (1997-2009) - PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG ĐẾN NĂM 2020
Hình 2.7 Số dự án và lƣợng vốn FDI của Đà Nẵng tính đến 31/12 hàng năm (1997-2009) (Trang 66)
Hình 2.8  Tốc độ tăng trưởng của khu vực dịch vụ và tốc độ tăng trưởng GDP - PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG ĐẾN NĂM 2020
Hình 2.8 Tốc độ tăng trưởng của khu vực dịch vụ và tốc độ tăng trưởng GDP (Trang 71)
Bảng 2.7 Tốc độ tăng và đóng góp vào tăng trưởng GDP - PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG ĐẾN NĂM 2020
Bảng 2.7 Tốc độ tăng và đóng góp vào tăng trưởng GDP (Trang 71)
Hình 2.9  Cơ cấu kinh tế của các thành phố lớn năm 2000 và 2008 - PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG ĐẾN NĂM 2020
Hình 2.9 Cơ cấu kinh tế của các thành phố lớn năm 2000 và 2008 (Trang 72)
Hình 2.11 Cơ cấu và năng suất lao động của thành phố Đà Nẵng - PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG ĐẾN NĂM 2020
Hình 2.11 Cơ cấu và năng suất lao động của thành phố Đà Nẵng (Trang 77)
Hình 2.12  Lƣợng khách du lịch đến thành phố Đà Nẵng - PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG ĐẾN NĂM 2020
Hình 2.12 Lƣợng khách du lịch đến thành phố Đà Nẵng (Trang 79)
Hình 2.13  Thành phần khách du lịch quốc tế đến thành phố Đà Nẵng năm 2009 - PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG ĐẾN NĂM 2020
Hình 2.13 Thành phần khách du lịch quốc tế đến thành phố Đà Nẵng năm 2009 (Trang 80)
Hình 2.17  GDP thương mại thành phố Đà Nẵng giai đoạn 1997-2009 - PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG ĐẾN NĂM 2020
Hình 2.17 GDP thương mại thành phố Đà Nẵng giai đoạn 1997-2009 (Trang 85)
Hình 2.18  Tốc độ tăng trưởng GDP thương mại và tốc độ tăng trưởng GDP - PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG ĐẾN NĂM 2020
Hình 2.18 Tốc độ tăng trưởng GDP thương mại và tốc độ tăng trưởng GDP (Trang 85)
Hình 2.19  Tỷ trọng của GDP thương mại so với GDP thành phố Đà Nẵng giai đoạn 1997-2009 - PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG ĐẾN NĂM 2020
Hình 2.19 Tỷ trọng của GDP thương mại so với GDP thành phố Đà Nẵng giai đoạn 1997-2009 (Trang 86)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w