1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá hiện trang khai thác và sử dụng các loài thực vật rừng dùng làm thực phẩm, gia vị tại xã vũ chấn huyện võ nhai tỉnh thái nguyên

84 264 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 0,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kiến thức của người dân địa phương trong chế biến và sử dụng thực vật rừng làm thực phẩm, gia vị.. Trong quá trình phát triển, loài người đã biết sử dụng những sản phẩm của rừng mà đặc b

Trang 1

- -

LỘC NGUYỄN THỊ HUỆ

ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG KHAI THÁC VÀ SỬ DỤNG CÁC LOÀI THỰC VẬT RỪNG DÙNG LÀM THỰC PHẨM, GIA VỊ TẠI XÃ VŨ CHẤN, HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Nông lâm kết hợp

Khóa học : 2011 - 2015 Giảng viên hướng dẫn : TS Nguyễn Thị Thoa

Thái Nguyên - 2015

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan khóa luận này do chính tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Nguyễn Thị Thoa

Các số liệu kết quả nghiên cứu trong khóa luận của tôi hoàn toàn trung thực

và chưa hề công bố hoặc sử dụng để bảo vệ học vị nào

Nội dung khóa luận có tham khảo và sử dụng các tài liệu, thông tin được đăng tải trên các tác phẩm, tạp chí,…đã được chỉ rõ nguồn gốc

Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Thái nguyên, ngày, tháng, năm 2015

XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN CHẤM PHẢN BIỆN

Trang 3

vị tại xã Vũ Chấn, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên”

Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự quan tâm của nhà trường, khoa Lâm Nghiệp, cô giáo hướng dẫn, UBND xã Vũ Chấn, bà con nhân dân trong xã, bạn bè và gia đình

Tôi xin gửi lời cảm ơn đến Ban giám hiệu nhà trường, khoa Lâm Nghiệp, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tạo điều kiện thuận lợi giúp tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết

ơn sâu sắc tới cô giáo hướng dẫn TS Nguyễn Thị Thoa cùng với UBND xã

đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Tôi xin gửi lời cảm ơn đến tập thể lớp K43 Nông lâm kết hợp đã quan tâm, giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập, rèn luyện tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

Một lần nữa, tôi xin kính chúc toàn thể thầy, cô giáo khoa Lâm Nghiệp sức khỏe, hạnh phúc và thành đạt Chúc toàn thể cán bộ trong xã Vũ Chấn công tác tốt, chúc các bạn sinh viên mạnh khỏe học tập tốt, thành công trong cuộc sống!

Thái Nguyên, ngày tháng 05 năm 2015

Sinh viên

Lộc Nguyễn Thị Huệ

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Các loại đất chính của xã Vũ Chấn 18

Bảng 3.2: Tình hình phân bổ dân cư xã Vũ Chấn năm 2013 25

Bảng 4.1 Danh mục các loài cây được sử dụng làm thực phẩm 33

Bảng 4.2 Danh mục các loài cây được sử dụng làm gia vị 36

Bảng 4.3 Các loài thực phẩm tiềm năng 50

Bảng 4.4 Những thuận lợi và khó khăn trong khai thác, chế biến và sử dụng thực vật làm thực phẩm, gia vị 51

Trang 5

DANH MỤC CÁC HÌNH Hình 4.1 Trám kho thịt 46 Hình 4.2 Bánh gio 47 Hình 4.3 Bánh ngải 48

Trang 6

NCCT Người cung cấp tin

Trang 7

MỤC LỤC

PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích nghiên cứu 3

1.3 Mục tiêu nghiên cứu 3

1.4 Ý nghĩa của đề tài 3

1.4.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 3

1.4.2 Ý nghĩa trong thực tiễn 4

PHẦN 2: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5

2.1 Cơ sở khoa học 5

2.2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 6

2.2.1 Tình hình trên thế giới 6

2.2.2.Tình hình trong nước 8

2.3 Điều kiện tự nhiên,dân sinh, kinh tế, xã hội của khu vực nghiên cứu 16

2.3.1 Điều kiện tự nhiên – tài nguyên thiên nhiên 16

2.3.2 Điều kiện dân sinh – kinh tế - xã hội 20

PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 30

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 30

3.3 Nội dung nghiên cứu 30

3.4 Phương pháp nghiên cứu 30

3.4.1 Công tác chuẩn bị 30

3.4.2 Phương pháp tiến hành 31

3.4.3 Phương pháp nội nghiệp 32

PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 33

Trang 8

4.1 Thành phần các loài thực vật rừng làm thực phẩm và nơi phân bố tại địa

phương 33

4.1.1 Thành phần thực vật rừng làm gia vị, thực phẩm 33

4.1.2 Nơi phân bố của thực vật làm thực phẩm, gia vị tại xã Vũ Chấn 37

4.2 Hiện trạng khai thác và mức độ sử dụng thực vật rừng làm thực phẩm, gia vị của cộng đồng dân cư xã Vũ Chấn 39

4.3 Kiến thức bản địa người dân địa phương trong khai thác, chế biến và sử dụng thực vật làm thực phẩm, gia vị 42

4.3.1 Kiến thức bản địa của người dân trong khai thác 42

4.3.2 Kiến thức của người dân địa phương trong chế biến và sử dụng thực vật rừng làm thực phẩm, gia vị 44

4.3.3 Các loài thực phẩm tiềm năng 50

4.4 Nguyên nhân làm suy giảm nguồn tài nguyên cây rừng làm thực phẩm, gia vị 52

4.5 Những giải pháp bảo tồn, phát triển và sử dụng bền vững các loài thực vật 52

PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 55

5.1 Kết luận 55

5.2 Kiến nghị 56

Trang 9

PHẦN 1

MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

Rừng là tài nguyên thiên nhiên đặc biệt và vô cùng quý giá, những giá trị của rừng mang lại cho con người rất lớn Rừng cung cấp một khối lượng lớn gỗ và lâm sản cho các ngành công nghiệp, cung cấp nguyên liệu cho các ngành chế biến, lương thực thực phẩm cho cuộc sống của người dân sống trong và gần rừng Ngoài ra rừng còn có ý nghĩa rất lớn trong nghiên cứu khoa học, bảo tồn đa dạng sinh học, góp phần bảo vệ nguồn nước, đất, điều hòa khí hậu, hạn chế một số thiên tai như: hạn hán, lũ lụt, gió bão, đặc biệt là

sự nóng lên của trái đất, đồng thời rừng cũng tạo cảnh quan phục vụ cho du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng Vì thế vai trò của rừng ngày càng trở nên quan trọng

Trong quá trình phát triển, loài người đã biết sử dụng những sản phẩm của rừng mà đặc biệt là thực vật rừng để phục vụ cho nhu cầu cuộc sống Sự tích luỹ kinh nghiệm khiến cho con người hiểu rõ hơn về tác dụng của các loài thực vật rừng, từ đó chọn lọc và sử dụng chúng trong các hoạt động đời sống Tuỳ từng đất nước, dân tộc, cộng đồng mà các loài cây, các bộ phận của cây được sử dụng theo những mục đích khác nhau, tác dụng khác nhau

Việt Nam nằm ở Đông-Nam lục địa Châu Á, có đường biên giới trên đất liền khoảng 3.700 km dọc theo các triền núi và châu thổ Mê Kông, có bờ biển dài 3.260 km Phần lãnh thổ Việt Nam trải dài từ Lũng Cú - Hà Giang tới Mũi Cà Mau nằm trong vành đai khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng và ẩm, với

sự thay đổi từ điều kiện khí hậu nhiệt đới điển hình ở những vùng đất thấp phía nam đến các đặc điểm mang tính chất cận nhiệt đới ở các vùng núi cao phía bắc Thêm vào đó, Việt Nam có nhiều dạng địa hình khác nhau, hình

Trang 10

thành nên những hệ sinh thái khác biệt Những đặc điểm khí hậu và địa hình

đó đã góp phần tạo nên một Việt Nam giàu tính đa dạng sinh học

Việt Nam có 54 dân tộc, mỗi dân tộc lại có những bản sắc, phong tục, tập quán và điều kiện sống khác nhau nên ở mỗi vùng cư trú, mỗi dân tộc, cộng đồng dân cư đã đúc kết, tích luỹ cho riêng mình những kinh nghiệm quý báu về sử dụng thực vật để phục vụ các nhu cầu của cuộc sống Tuy nhiên, hầu hết chúng chỉ được lưu truyền trong nội bộ các cộng đồng riêng lẻ Trong số đó có rất nhiều tri thức kinh nghiệm có thể sử dụng để phát triển kinh tế, nâng cao đời sống của người dân Theo quá trình phát triển của đất nước sự tích luỹ về kiến thức, kinh nghiệm quý báu này đang dần bị mai một và lãng quên

Ở Việt Nam cũng có rất nhiều loại gia vị thực phẩm đặc trưng của từng dân tộc, từng vùng miền trên khắp đất nước Mỗi nơi lại có cách điều chế, sử dụng riêng của mình, có những cách thức vô cùng đặc biệt được gọi là bí quyết chỉ truyền cho người trong nhà, hoặc nội bộ dòng tộc, hình thành nên những loại gia vị thực phẩm đặc sản

Xã nằm ở phía bắc của huyện và thuộc lưu vực của sông Nghinh Tường

Vũ Chấn giáp với hai xã Sảng Mộc và Nghinh Tường lần lượt ở phía tây bắc và đông bắc, giáp với xã Phú Thượng ở phía đông nam, giáp với xã Lâu Thượng ở phía nam, giáp với xã Cúc Đường ở phía tây nam và giáp với

xã Thượng Nung ở phía tây

Xã Vũ Chấn có gần 100% dân số là dân tộc ít người Với 6 dân tộc đa

số là dân tộc Tày và Dao Vũ Chấn được chia thành 10 xóm là Na Mấy, Đồng Đình, Na Rang, Khe Rạc, Cao Sơn, Na Đồng, Khe Rịa, Na Cà, Khe Cái, Khèn Nọi

Trang 11

Với sự đa dạng về thành phần dân tộc, kiến thức bản địa về các loài cây gia vị thực phẩm nơi đây vô cùng phong phú Để góp phần bảo tồn kiến thức

về cây gia vị thực phẩm được tích luỹ, cũng như bảo vệ, khai thác, sử dụng

hợp lý các loài cây gia vị thực phẩm, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá hiện trạng khai thác và sử dụng các loài thực vật rừng dùng làm thực phẩm, gia vị tại xã Vũ Chấn, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên”

1.2 Mục đích nghiên cứu

Nhằm đánh giá mục đích thực trạng khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên thực vật làm gia vị thực phẩm của người dân địa phương Tìm hiểu, phân tích và làm rõ nguyên nhân những tồn tại, khó khăn từ đó đưa ra những kiến nghị, giải pháp nhằm bảo tồn và phát triển thực vật làm gia vị thực phẩm tại xã Vũ Chấn, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên

1.3 Mục tiêu nghiên cứu

- Xác định được thành phần loài lâm sản ngoài gỗ được sử dụng làm

1.4 Ý nghĩa của đề tài

1.4.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học

Việc nghiên cứu đề tài trước hết là một phương pháp tốt để tự hệ thống

và củng cố lại những kiến thức đã học

Giúp sinh viên có cơ hội vận dụng lý thuyết vào thực tế Biết cách thu thập, phân tích và xử lý thông tin cũng như kỹ năng tiếp cận và làm việc với cộng đồng thôn bản và người dân

Trang 12

Làm tiền đề cho sinh viên sau khi ra trường có thêm kiến thức để vững vàng bước vào cuộc sống sau này

1.4.2 Ý nghĩa trong thực tiễn

Giúp bảo tồn kiến thức bản địa về các loài cây được sử dụng làm thực phẩm, gia vị

Bổ sung thêm kiến thức bản địa vào kho tàng kiến thức dân tộc

Nâng cao ý thức trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân trong việc quản

lý và sử dụng tài nguyên rừng và kết hợp hiệu quả sử dụng tài nguyên rừng với hiệu quả bảo vệ môi trường

Tìm ra giá trị sử dụng của các loài cây làm thực phẩm, gia vị

Trang 13

PHẦN 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2.1 Cơ sở khoa học

Lâm sản ngoài gỗ (Non timber forest products) bao gồm các nguyên liệu có nguồn gốc sinh vật, không phải là gỗ, được khai thác từ rừng để phục

vụ con người chúng bao gồm thực phẩm, thuốc, gia vị, tinh dầu, nhựa, nhựa

mủ, tanin, thuốc nhuộm, cây cảnh, động vật hoang dã (động vật sống hoặc các sản phẩm của chúng) củi và các nguyên liệu thô như tre, nứa, mây, song, gỗ nhỏ và sợi (J.H De beer, 2000)

LSNG thường được phân chia theo nhóm giá trị sử dụng như sau:

- Nhóm LSNG dùng làm nguyên liệu công nghiệp

LSNG có giá trị đối với sự giàu có của hệ sinh thái rừng Chúng đóng góp vào sự đa dạng sinh học cho rừng, chúng là nguồn gen hoang dã quý có thể bảo tồn phục vụ gây trồng công nghiệp

LSNG hiện đang bị cạn kiệt cùng với sự suy thoái của rừng bởi sự ảnh hưởng của tăng dân số, mở rộng canh tác nông nghiệp, chăn thả gia súc không kiểm soát, khai thác gỗ, thu hái chất đốt

Trang 14

2.2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

2.2.1 Tình hình trên thế giới

Lịch sử của các loài cây gia vị thực phẩm dài như chính lịch sử của nhân loại Người ta đã sử dụng các loại thực vật để làm gia vị thực phẩm từ rất sớm Không có mặt hàng nào có thể so sánh với vai trò của gia vị thực phẩm trong sự phát triển của nền văn minh hiện đại Cuộc sống của người dân

và các loài cây này ngày càng gắn bó và chi phối lẫn nhau Theo quá trình lịch

sử và kinh tế, vị thế của cây gia vị thực phẩm không ngừng được nâng lên, chúng là những thành phần thiết yếu của các sản phẩm như: thuốc men, nước hoa, mỹ phẩm, thực phẩm

Người dân trên khắp thế giới đã chọn và khai thác các loại cây hương liệu và gia vị trong tự nhiên từ thời cổ đại Những kiến thức về nơi chúng phát triển và thời gian tốt nhất để thu thập chúng đã hình thành một truyền thống truyền miệng quan trọng giữa những người sản xuất của nhiều quốc gia khác nhau trong nhiều nền văn hóa khác nhau Những truyền thống cổ xưa đã cân bằng thành công giữa cung và cầu, cho phép thực vật có thể tái sinh và tái sản xuất để khai thác theo mùa

Gia vị đóng một vai trò quan trọng trong tất cả các nền văn minh cổ đại tiêu biểu như Trung Quốc - Ấn Độ, Hy Lạp - La Mã, Babylon - Ai Cập, và từ lâu chúng đã được đánh giá là có khả năng chống lại bệnh tật Điều này được xác thực trong thời đại kim tự tháp ở Ai Cập Trong giai đoạn này, hành tây

và tỏi được cho người lao động ăn để bảo vệ sức khỏe và quế của họ đã được

sử dụng để ướp người chết Sử dụng thuốc là các loại gia vị được đề cập trong

“Charaka Samhita and Sushruta Samhita” Ban đầu con người sử dụng các loại gia vị trong thực phẩm là để bảo quản thịt, do đặc tính kháng khuẩn của chúng Với sự ra đời của điện lạnh, nhu cầu đối với các loại gia vị như một chất bảo quản trong thế giới phương Tây giảm Tuy nhiên, theo thời gian các

Trang 15

loại gia vị đã trở thành không thể thiếu trong nghệ thuật ẩm thực để tăng cường hương vị và khẩu vị của các loại thực phẩm và đồ uống, vì vậy việc sử dụng chúng không ngừng tăng ở phương Tây Với sự phát triển của các quy trình tách, chiết xuất gia vị, gia vị đã được sử dụng rộng rãi hơn trong nước hoa, mỹ phẩm và các ngành công nghiệp dược phẩm Trong kỷ nguyên toàn cầu hóa, nhằm đảm bảo sức khỏe của người tiêu dùng với các loại phụ gia hóa học, gia vị trở nên ngày càng quan trọng hơn vì nguồn gốc tự nhiên, hương vị chất kháng khuẩn và chất chống oxy hóa Cũng có một sự tăng trưởng mạnh trong việc sử dụng các sản phẩm thực vật tự nhiên và thảo dược trong ngành công nghiệp mỹ phẩm, các loại gia vị như nghệ, nghệ tây, rau mùi, húng quế,

cỏ cà ri, …vv đã trở nên quan trọng hơn trong lĩnh vực này Trong ngành công nghiệp dinh dưỡng mới nổi, các loại hương liệu và gia vị có thể đóng một vai trò quan trọng, vì có thế ứng dụng, sử dụng điều trị đã được khoa học chứng minh và xác nhận, các đánh giá an toàn cần thiết đã được thực hiện

Các loại gia vị thực phẩm có tầm quan trọng to lớn trong cuộc sống của chúng ta, như là thành phần trong thực phẩm, đồ uống có cồn, thuốc, nước hoa, mỹ phẩm, tạo màu Các loại gia vị thực phẩm được sử dụng trong thực phẩm để tạo hương vị, vị cay và màu sắc Chúng cũng có chất chống oxy hóa, kháng khuẩn, dược phẩm và tính chất dinh dưỡng Ngoài những tác động trực tiếp được biết đến, việc sử dụng những cây này cũng có thể dẫn đến tác các dụng phụ phức tạp như giảm muối và đường, cải thiện kết cấu và phòng ngừa

hư hỏng đối với thực phẩm

Ấn Độ được biết đến trên toàn thế giới như là “vùng đất của các loại gia vị” Các loại gia vị đã được trồng ở Ấn Độ từ thời cổ đại và đã nổi tiếng trên khắp thế giới Điều này thu hút các nhà thám hiểm, những kẻ xâm lược

và thương nhân từ các vùng đất khác nhau để bờ biển Ấn Độ Ấn Độ với điều

Trang 16

kiện khí hậu và đất đai đa dạng, là quê hương của nhiều loại gia vị và là nơi sản xuất các loại gia vị chất lượng nội tại cao

2.2.2.Tình hình trong nước

Trong các loài cây lâm sản ngoài gỗ của rừng nhiệt đới nước các loài cây làm gia vị thực phẩm có thể tổ chức sản xuất thành nguồn hàng lớn, ổn định lâu dài và xuất khẩu Là những loài cây làm gia vị thực phẩm có giá trị kinh tế cao, sản phẩm của chúng được sử dụng rộng rãi trong nước và trên thế giới để làm gia vị trong thực phẩm cũng như thảo dược chữa bệnh Do đó các loài cây làm gia vị thực phẩm mang lại nguồn kinh tế lớn và gắn liền với đời sống của nhân dân các dân tộc ở vùng trung du và miền núi nước ta

Sau hơn hai mươi năm đổi mới cùng nền kinh tế đất nước, việc phát triển cây gia vị thực phẩm đã có những bước tiến nhất định Gia vị thực phẩm

là sản phẩm đặc biệt, do vậy sự cạnh tranh trên thị trường cũng luôn quyết liệt

và được sự quan tâm của toàn xã hội Bên cạnh thuận lợi về mặt môi trường đầu tư và tiếp cận công nghệ mới, thì phát triển cây gia vị thực phẩm còn có thuận lợi về nguồn nguyên liệu đa dạng và phong phú sẵn có tại các khu rừng

tự nhiên trên cả nước

Thực vật Việt Nam hiện có khoảng 12.000 loài (chưa kể rong, rêu, nấm) trong đó có hơn 3000 loài là loài cây làm nguyên liệu, kể cả nghành hóa

mĩ phẩm (hương liệu), thực phẩm (gia vị) Các loài cây này phân bố rộng trên khắp lãnh thổ đất nước Trong các loài cây làm gia vị thực phẩm hiện đã được công bố, nước ta có nhiều loài cây được xếp vào loài quý và hiếm trên thế giới Với hệ thực vật phong phú về thành phần loài và khả năng cung cấp các cây gia vị thực phẩm quý Việt Nam được đánh giá là quốc gia có tiềm năng lớn về mặt gia vị thực phẩm trong khu vực Đông Nam Á Tuy nhiên hiện nay nguồn cây gia vị thực phẩm cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp đang bị mất cân đối và tái phụ thuộc ngày càng nhiều vào nguồn cây nhập khẩu

Trang 17

Trong đó là sự suy giảm nghiêm trọng nguồn cây mọc tự nhiên, nhiều loài cây

có giá trị sử dụng và kinh tế cao trước kia khai thác được nhiều nhưng hiện đã mất khả năng khai thác, thậm chí một số loài

Cũng như các nước trong vùng nhiệt đới, Việt Nam có một tập đoàn thực vật phong phú và đa dạng Đó là điều kiện thuận lợi cho nhiều người nghiên cứu, tìm tòi cũng như áp dụng các kêt quả đã được nghiên cứu và thử nghiệm trên thế giới để phát huy hiệu quả nguồn tài nguyên này

Trong công trình nghiên cứu về đa dạng nguồn gen thực vật của trung tâm Tài nguyên thực vật (2010) đã thống kê như sau: Từ vùng di dân để xây dựng thủy điện Sơn La và các tỉnh lân cận (Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai) có tổng số 4.423 nguồn gen cây trồng các loại trong đó có 1.527 nguồn gen cây rau và gia vị Từ các tỉnh khu vực Tây Nguyên (Lâm Đồng, Gia Lai, Kontum, Đắc Lắc) và khu vực Nam Trung Bộ (Quảng Ngãi, Phú Yên, Bình Định, Ninh Thuận) thống kê được 608 nguồn gen cây trồng trong đó có 289 nguồn gen ra

và gia vị

Trong nghiên cứu “Một số loại rau dại ăn được ở Việt Nam” Nguyễn Tiến Bân và cộng sự (1994) đã thống kê được 113 loài thực vật rừng làm thực phẩm, gia vị có ở Việt Nam và tìm hiểu giá trị dinh dưỡng, phân biệt rau ăn được và rau độc, đặc điểm nơi sống và cách thu hái, chế biến, thành phần dinh dưỡng… Đây là mốt đề tài khoa học của nhiều thế hệ các nhà nghiên cứu đã điều tra, khảo sát, tìm hiểu trong một thời gian dài đầy công phu và tỉ mỉ trên nhiều vùng sinh thái khác nhau

Vũ Tài Anh (2008) đã nghiên cứu về đa dạng nguồn tài nguyên cây có ích hệ thực vật Bắc Trung Bộ và thống kê được 547 loài được sử dụng làm thức ăn, lương thực, thực phẩm, cây ăn quả hoặc chăn nuôi gia súc chiếm 13,23 % Có thể kể đến mốt số loài ví dụ như: Hồng rừng, Mít rừng, Lười ươi, Nang, Vú sữa rừng, Rau Tai voi, Môn thục…

Trang 18

Theo Nguyễn Thị Yên và cộng sự, những sản phẩm khai thác từ rừng như măng, rau rừng, nấm thì thì các hộ giàu ở khu vực miền núi phía Bắc dùng để ăn còn các hộ nghèo dùng để mua bán gạo (Dẫn theo Arnold, 1995) [21]

Trong nghiên cứu điều tra đánh giá đa dạng sinh học của các khu bảo tồn thiên nhiên Copia (Sơn La), Lê Xuân Hệ (2009) [7] đã thống kê được 43 loài cây rau ăn, 37 loài cho quả

Theo Nguyễn Thị Phương Thảo và cộng sự (2009) [15] người Mường tại xã Chiềng Yên (Mộc Châu – Sơn La) đã khai thác và sử dụng thường xuyên 42 nhóm cây tài nguyên trong đó cây ăn quả 17 loài, cây làm rau 34 loài Người Dao Tiền sử dụng 22 loài cây làm rau ăn, 10 loài cây ăn quả

Tại khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống, Nghệ An, Nguyễn Nghĩa Thìn

và cộng sự (2008) [17] đã thống kê nhóm cây ăn quả có được 143 loài (76 loài làm rau và gia vị, 55 loài có quả ăn được và 12 loài cho bột ăn) Những loài dùng làm rau, gia vị không thể thiếu được trong các bữa ăn hang ngày của cộng đồng các dân tộc thiểu số sống xung quanh khu vực vùng đệm khu bảo tồn, trong đó có những loài được thị trường rất ưa chuộng như các loài măng, Luồng (Dendrocalamus membranaceus ), Rau sắng (Meliantha suavis Pierre), Măng đắng (Bambusa spp.),….Những loài cho quả và hạt ăn được có

55 loài được cộng đồng thu hái và bán trên thị trường, một phần cải thiện đời sống của cộng đồng đó là các loài Gắm (Gnetum spp.), các loài Trám (Canarium spp.), Dâu da xoan (Spodias lakonenis Pierre), Tai chua (Garcinia cowa Roxd.), Dẻ (Castanopsis sp.), … Những loài cho củ, hạt làm lương thực, thực phẩm có 12 loài Những loài này là cứu cánh cho những năm đói kém hoặc vào thời gian giáp hạt như củ Mài (Dioscorea persimilis), củ Từ (Dioscorea eslulenta), Khoai sọ (Colocasia esculenta (L.) Schott),…

Khi tiến hành tìm hiểu việc sử dụng thực vật rừng làm rau của nhân dân các Bản Cám, Nà Nặm thuộc Vườn Quốc gia Ba Bể - tỉnh Bắc Kạn, La

Trang 19

Quang Độ (2001) [6] đã xác định được tên, giá trị sử dụng, đặc điểm sinh thái, nơi phân bố của 15 loài thực vật rừng làm rau ăn và kinh nghiệm của người tộc trong khai thác, sử dụng, chế biến các loài này Đề tài này là một sự đóng góp quan trọng cho tỉnh Bắc Kạn trong việc đánh giá nguồn tài nguyên lâm sản ngoài gỗ

Theo Trần Ngọc Lân (1999) [9] ở khu bảo tồn thiên nhiên Pù Mát (Nghệ An) 100% hộ dân sống dựa vào rừng, 11,75 % số hộ thường xuyên khai thác măng, mộc nhĩ thu nhập 26.000 đồng/ngày Trong những ngày giáp hạt trên 90% số hộ ở bản Châu Sơn phải vào rừng đào củ mài, củ chuối, củ nâu, hái lá rừng để ăn

Theo Lê Thị Diên và cộng sự (2004) [4] tại xã Phú Vinh, huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế số loài thực vật LSNG làm thực phẩm chiếm tỷ lệ lớn nhất, có tới 41 loài, chiếm 53% trên tổng số loài điều tra được Trong nhóm những loài cây cho thức ăn thì các loại măng được người dân khai thác nhiều nhất Đây là nguồn thực phẩm cung cấp cho bữa ăn hàng ngày của người dân trong vùng, đồng thời còn được họ đem bán trên thị trường

Cũng tại huyện A Lưới tỉnh Thừa Thiên Huế, Dương Viết Tình và cộng

sự (2005) [19] đã nghiên cứu, tìm hiểu vai trò, hiện trạng khai thác, tình hình quản lí sử dụng lâm sản ngoài gỗ của người dân địa phương Trong đó, nhóm cho lương thực, thực phẩm không được tiêu thụ trên thị trường nhưng chúng

là nguồn bổ sung thêm năng lượng cho người dân, giúp làm giảm bớt tình trạng thiếu dinh dưỡng thiếu dinh dưỡng trong thời gian giáp hạt Các loại cây thường được người dân sử dụng làm lương thực, thực phẩm là Măng nứa, Măng giang, Măng tre, Môn vót, Môn thục, Mộc nhĩ, Nấm thối, Rau tàu bay, rau Rớn,Rau chua, Đọt mây, hoa Chuối rừng, Dâu rừng, Chôm chôm rừng Khai thác lâm sản ngoài gỗ làm lương thực, thực phẩm cũng là một tập quán, nét văn hóa của người dân tộc

Trang 20

Nghiên cứu về lâm sản ngoài gỗ ở huyện Nam Đông – Thừa Thiên Huế, Lê Thị Diên và cộng sự (2009) [5] đã chỉ ra loài lâm sản ngoài gỗ được người dân trong vùng làm lương thực, thực phẩm là: Măng tre, Măng nứa, măng lồ ô, Môn vót, Lá me, Chuối rừng, Rau tai voi, Chi Lai, A chớt, rau Rớn, Rau Tàu bay, Rau Dền, Tai nai, lá Lốt, Tân lăng, Rau má, Xà lách xoong, Dong riềng, Nấm mối, Nấm mèo, Bứa, Sung, Dâu rừng, Đào, Chôm chôm Nhóm lương thực, thực phẩm được người dân sử dụng nhiều nhất vì đây là nguồn thực phẩm hàng ngày của những hộ dân sống phụ thuộc vào rừng

Theo Nguyễn Hoàng Nghĩa (2005) [12] một số loài tre trúc cho măng

ăn ngon như: Măng mai, Măng luồng, Măng tre, Măng mạy lay, Măng nứa,

có khi là Măng đắng như Măng vầu Đây là nguồn thực phẩm tốt, và cũng là nguồn thu nhập quan trọng của người dân miền núi Trong thời gian gần đây, việc trồng tre lấy măng (kể cả tre trúc bản địa và nhập nội) đang phát triển mạnh mẽ góp phần xóa đói giảm nghèo và tăng đáng kể giá trị lợi ích của đất trồng rừng và tăng việc làm cho người dân

Trong cuốn Cẩm nang ngành lâm nghiệp Chương lâm sản ngoài gỗ (2006) [12] đã nêu rõ vai trò của lâm sản ngoài gỗ cho thực phẩm Các loại nấm như Mộc nhĩ, Nấm hương, Nấm linh chi, và Măng tre, Trúc, Mật ong là nhưng sản phẩm vừa để tự túc vừa là hàng hóa thương mại Măng tre là thực phẩm có thể thay một phần lương thực trong những ngày tháng giáp hạt, nếu thiếu lương thực chính Nấm hương, Mộc nhĩ thu hái trong rừng tự nhiên từ lâu đợi đã là những sản phẩm truyền thống của đồng bào dân tộc ít người và

là nguồn thu nhập quan trọng của họ sau lúa ngô, sắn

Các loại củ rừng đã trở nên hiếm do diện tích rừng tự nhiên bị thu hẹp

và bị cạn kiệt do khai thác quá mức Các loại quả rừng được coi như là đặc sản địa phương, đáng chú ý là Sến tam qui ở Thanh Hóa Trám cho quả vẫn là cây đa tác dụng phổ biến ở các tỉnh Đông Bắc Qủa cây Ươi trong rừng Tây

Trang 21

Nguyên được dùng làm nước giải khát ở Nam Bộ Qủa Móc mật dùng làm gia

vị ở vùng núi Bắc Bộ Qủa vả được trồng nhiều ở miền trung (Cẩm nang ngành lâm nghiệp, Chương lâm sản ngoài gỗ, 2006) [2]

Rau rừng là nguồn lương thực thực phẩm phong phú Các loài rau có

ưu thế là tái sinh nhanh, phát triển tốt trên diện tích đất trồng Rau tàu bay, rau Dớn, Bò khai, Rêu núi…là những loài phổ biến Rau Sắng trên núi đá vôi Chùa Hương là loại rau ngon, hiếm, được gọi là đặc sản trong trong vùng Mặc dù vậy cho đến nay loài rau này chưa được gây trồng và lan rộng (Cẩm nang ngành lâm nghiệp, Chương lâm sản ngoài gỗ, 2006) [2]

Về tri thức bản địa trong sử dụng các loài thực vật làm thực phẩm của đồng bào dân tộc cũng rất phong phú và hình thành từ rất sớm Trong nghiên cứu Đinh Thanh Sang và cộng sự (2007) [13] nguồn thực phẩm quan trọng đối với đồng bào Châu Mạ tại Vườn quốc gia Cát Tiên đó là măng Măng được khai thác chủ yếu từ 2 loại tre là Lồ Ô (Bambusa Procera) và Mum (Gigantochloa sp.) Mùa hái măng là từ tháng 6 -10 hàng năm Trước đây hái măng chỉ để sử dụng trong tất cả các bữa ăn, nhưng hiện nay măng trở thành hàng hóa quan trọng tăng thu nhập của gia đình Rau rừng, đọt mây cũng luôn

có mặt trong bữa ăn của đồng bào Châu Mạ

Theo Phạm Quốc Hùng và cộng sự (2009) [8] người Mông tại khu bảo tồn thiên nhiên Hang Kia – Pà Cò tỉnh Hòa Bình sử dụng các loài rau trồng như: Cải nương, Bí đỏ, Cải xang, Xu hào… Rau rừng như: hoa chuối rừng đọt cây móc, và một số cây họ dương xỉ, nhiều loài nấm cũng được người dân sử dụng làm thực phẩm như: Nấm hương, Mộc nhĩ

Hiện nay, một số loài thực vật rừng cho thực phẩm đã được gây trồng Mục đích là phục vụ cho chính nhu cầu của người dân trong vùng, cung cấp cho thị trường trong nước và xuất khẩu Cây thạch đen có nguồn gốc từ Trung Quốc nhưng được nhập vào nước ta từ rất lâu đời Ở Việt Nam cây đã trồng ở

Trang 22

một số nơi, hiện đang trồng nhiều ở Lạng Sơn, Cao Bằng Thân và lá sau khi phơi khô được dùng để chế biến món thạch đen, một món ăn ưa thích trong ngày hè Thạch đen là một loại lâm sản ngoài gỗ có nhiều giá trị và triển vọng, cần có chính sách và kĩ thuật hỗ trợ để người dân có thể phát triển lâu dài loại hàng hóa này (Phùng Tửu Bôi) (2005) [3]

Theo Mike Dine (2005) [23] Thanh Mai là loài cây bản địa ở Việt Nam, có tên khoa học là Myrica esculenta, đây là một loài cây lâm sản ngoài

gỗ đa tác dụng Về hình thái, Thanh Mai là cây gỗ nhỏ, thường cao 3 - 4 m, phân bố trong rừng tự nhiên ở các tỉnh duyên hải miền Bắc Việt Nam Cây thường gặp trong các khu rừng thứ sinh nghèo kiệt, nơi có đất nồng, khô nhiều tính kiềm và ít chịu ảnh hưởng của các loài côn trùng gây bệnh Cây thường phân cành thấp nên có tán rộng thuận lợi cho việc hái quả Đây chính

là điều khiến Thanh Mai là loài lý tưởng để trồng trong vườn rừng hay trồng làm cây ăn quả khi đã được thuần hóa Qủa Thanh Mai có giá trị kinh tế cao Qủa được dùng làm thuốc, ăn tươi, chế biến thành rượu hay ô mai Nước quả Thanh Mai cũng được ưa thích trong những ngày hè nóng bức

Măng là thực phẩm được dùng rất phổ thong trong toàn quốc, sức tiêu thụ lớn Sản xuất măng khô, măng muối là nghề của dân vùng núi thuộc các tỉnh Yên Bái, Lào Cai, Tuyên Quang, Phú Thọ, Sơn La, Hòa Bình, Thanh Hóa…Trong những năm gần đây có nhiều công trình nghiên cứu dẫn giống một

số loài tre, trúc như tre Bát Độ, Điền Trúc…chuyên dùng để sản xuất măng Có thể coi măng là nguồn lâm sản ngoài gỗ có triển vọng phát triển mạnh ở Việt Nam Ngoài măng các loại nấm cũng đã được sản xuất trong các gia đình miền núi theo một quy trình sản xuất do các cơ quan khuyến nông hướng dẫn (Cẩm nang ngành lâm nghiệp, Chương lâm sản ngoài gỗ, 2006) [2]

Để khai thác tiềm năng sẵn có về tre, kết hợp kinh nghiệm địa phương

về kinh doanh tre lấy măng với khoa học hiện đại, góp phần thúc đẩy kinh

Trang 23

doanh măng tre ở Việt Nam, đề tài nghiên cứu kiến thức bản địa kinh doanh tre lấy măng ở vùng Đông Bắc Việt Nam được thực hiện từ năm 2004 Mục tiêu của đề tài nhằm xác định những loài tre có thể kinh doanh lấy măng, tổng kết kinh nghiệm địa phương và đề xuất mô hình kĩ thuật để kinh doanh tre lấy măng có hiệu quả, bền vững (Nguyễn Danh Minh, 2005) [10]

Ngoài ra còn có rất nhiều công trình nghiên cứu về thực vật cho thực phẩm như:

Trồng thử nghiệm thâm canh các loài tre nhập nội lấy măng của Đỗ Văn Bản, 2009 Nhân giống Tai chua bằng phương pháp ghép của Đặng Quang Hưng, Nguyễn Bá Triệu, Nguyễn Xuân Nam, 2009 Các báo cáo của chương trình “ Tăng cường sử dụng nguồn gen rau bản địa nhằm cải thiện dinh dưỡng cho các cgia đình nghèo ở Châu Á” của Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Rau châu Á giai đoạn 2003 – 2005 Nghiên cứu các loài rau rừng ăn được phục vụ bộ đội ở chiến trường Tây Nguyên 1969 – 1973 của Nguyễn Nghĩa Thìn

Song song với những nghiên cứu đó, một số chương trình được triển khai:

1 Dự án trồng rừng đặc sản (được lồng ghép trong chương trình 5 triệu

Trang 24

cứu thực vật làm thực phẩm ở Việt Nam còn thiếu chiều sâu Do vậy, tuy đã có nhiều nghiên cứu, chương trình dự án tiến hành ở nhiều nơi song vậy chưa có nơi nào thực sự phát huy cao được vai trò của thực vật rừng cho thực phẩm

2.3 Điều kiện tự nhiên,dân sinh, kinh tế, xã hội của khu vực nghiên cứu

2.3.1 Điều kiện tự nhiên – tài nguyên thiên nhiên

Theo Báo cáo thuyết minh tổng hợp Quy hoạch sử dụng đất chi tiết

đến năm 2020, kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2011 – 2015) xã Vũ Chấn - huyện Võ Nhai – tỉnh Thái Nguyên (8), cung cấp thông tin:

2.3.1.1 Điều kiện tự nhiên

Vị trí địa lý

Vũ Chấn là xã miền núi nằm ở phía Đông bắc của huyện Võ Nhai cách trung tâm huyện 37 km, có tổng diện tích đất tự nhiên 7.769 ha Địa giới hành chính của xã được xác định như sau:

Phía Bắc giáp xã Nghinh Tường, Sảng Mộc

Phía Đông giáp xã Phú Thượng

Phía Nam giáp xã Cúc Đường

Phía Tây giáp xã Thượng Nung

Xã Vũ Chấn nằm ở tiểu vùng I thuộc vùng núi của huyện Võ Nhai mang đặc tính của địa hình trung du miền núi Bắc Bộ

Địa hình, địa mạo

Là xã miền núi, địa hình bị chia cắt mạnh bởi hệ thống núi đá vôi chiếm 72%, độ dốc đa phần từ 25° trở lên, các dòng chảy tự nhiên tạo thành các khe lạch và những thung lũng nhỏ hẹp, độ cao trung bình từ 300 – 500m so với mặt nước biển Do vậy diện tích đất bằng sản xuất nông nghiệp chủ yếu nằm dọc các khu suối, các thung lũng chiếm tỷ lệ nhỏ so với diện tích tự nhiên của xã Bất lợi cho việc phát triển cơ sở hạ tầng như giao thông, thủy lợi và lưu thông hàng hóa trong và ngoài xã

Trang 25

Khí hậu

Là khu vực nằm trong vùng khí hậu Trung du miền núi phía Bắc, mang những nét điển hình của khí hậu nhiệt đới gió mùa Mùa hè nóng ẩm mưa nhiều nhưng ít có những ngày nhiệt độ quá cao hoặc có gió lào, mùa đông thường lạnh khô hanh, cuối mùa đông có mưa phùn, ẩm độ không khí cao

Mùa đông lạnh (từ tháng 11 đến tháng 3), mùa hè ẩm ướt, mưa nhiều (từ tháng 4 đến tháng 10)

- Nhiệt độ

Nhiệt độ trung bình hàng năm là 22,4°C, tháng có nhiệt độ trung bình cao nhất là 36,8°C (tháng 6); tháng thấp nhất là 3°C (tháng 1, 2)

Biên độ ngày đêm trung bình là 7°C, lớn nhất là tháng 10: 8,2°C

Với chế độ nhiệt như vậy rất thích hợp để phát triển các loại cây như: quế, hồi, chè và các loại cây ăn quả

+ Độ ẩm trung bình năm là 83%, cao nhất là 87%, tháng có độ ẩm thấp nhất là tháng 12: 77%

- Gió: Có hai loại gió chính: gió mùa đông bắc và gió tây nam

* Gió mùa Đông Bắc thường xuất hiện từ tháng 11 năm trước đến tháng 3 năm sau Gió mùa Đông bắc kèm theo không khí lạnh, hay xuất hiện sương muối làm ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp và chăn nuôi gia súc, gia cầm

Trang 26

* Gió Đông Nam xuất hiện từ tháng 4 đến tháng 10 trong năm, khí hậu mát mẻ, kèm theo mưa nhiều

2.3.1.2 Tài nguyên thiên nhiên

* Tài nguyên đất

- Diện tích đất tự nhiên của xã: 7.769 ha Trong đó:

+ Đất nông nghiệp: 7.649,9 ha

+ Đất phi nông nghiệp: 77,41 ha

+ Đất chưa sử dụng: 21, 18 ha

+ Đất ở tại nông thôn: 20,51ha

Tài nguyên đất phong phú và đa dạng Diện tích là đất rừng, diện tích đất dành cho sản xuất nông nghiệp ít, đặc biệt là đất trồng cây lương thực Vì vậy sản xuất nông nghiệp chỉ đảm bảo được vấn đề an ninh lương thực trong xã không có khả năng thúc đẩy phát triển kinh tế xã Mặt khác xã có nguồn tài nguyên đất đai rộng lớn nhưng các loại đất xen kẹp lẫn nhau

Bảng 2.1: Các loại đất chính của xã Vũ Chấn

hiệu

Diện tích (ha)

Cơ cấu (%)

8 Đất nâu đỏ trên đá Gabro tầng dầy Fkx 250 4,21

9 Đất nâu đỏ trên đá Gabro trung bình Fky 300 5,05

(Nguồn thống kê xã Vũ Chấn)[8]

Trang 27

+ Đất phù sa có 50 ha chiếm 0,84% tổng diện tích tự nhiên, phân bố ở Tây nam có độ dốc < 3° Đây là loại đất thích hợp cho trồng lúa và cây ngắn ngày

+ Đất dốc tụ có 100 ha, chiếm 1,68% diện tích tự nhiên, phân bố rải rác, co độ dốc <8° Đây là loại đất được hình thành do tích tụ của các sản phẩm phong hóa trên cao đưa xuống, đất có độ phì tương đối khá, nên thích hợp cho trồng lúa và cây ngắn ngày

+ Đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa có 10 ha chiếm 0,17% diện tích tự nhiên, có độ dốc < 3°, loại đất này thích hợp cho trồng lúa và các loại cây ngắn ngày

+ Đất nâu vàng trên phù xa cổ có 80 ha chiếm 1,35% diện tích tự nhiên,

co độ dốc <8° Loại đất này thích hợp cho trồng màu, cây công nghiệp ngắn ngày như: mía, lạc, đậu

+ Đất đỏ vàng trên đá sét tầng trung bình có 4.500 ha chiếm 75,76 % diện tích tự nhiên Đất này có độ dốc > 15°, có thành phần cơ giới từ trung bình đến thị nặng, cấu trúc dạng lục, ngập nước lâu ngày sẽ có quá trình Glây hóa mạnh Đây là loại đất thích hợp cho trồng cây hàng năm, cây công nghiệp, cây ăn quả

và trồng rừng

+ Đất đỏ vàng trên đá sét tầng mỏng có 350 ha chiếm 5,89% diện tích tự nhiên, phân bố chủ yếu ở trung tâm xã, có độ dốc > 25° Đây là loại đất có thành phần cơ giới trung bình đến thịt nặng thích hợp cho việc trồng rừng

+ Đất vàng nhạt trên đá cát tầng mỏng có 300 ha chiếm 5,05 % diện tích tự nhiên, có độ dốc từ 15 - 25°, phân bố tập trung ở phía Tây nam Loại đất này có thành phần cơ giới thịt nhẹ, có nhiều sạt thạch anh, trên bề mặt thường có màu xám Loại đất này thích hợp với việc sản xuất nông lâm kết hợp

+ Đất nâu đỏ trên đá Gabro tầng dầy có 250 ha, chiếm 4,21 % diện tích tự nhiên, phân bố chủ yếu ở phía Nam, có độ dốc 15 – 25° Loại đất này chứa nhiều

Trang 28

sắt, mangan khi gặp nóng ẩm sẽ phong hóa, phần trên đầu dễ kết vón Đây là loại đất tốt có thể khai thác đưa vào sản xuất nông nghiệp và lâm nghiệp kết hợ

+ Đất nâu đỏ trên đá Gabro trung bình có 300 ha chiếm 5,05% diện tích

tự nhiên, phân bố ở phía Nam Loại đất này chứa nhiều sắt, mangan khi gặp nóng ẩm sẽ phong hóa, phần trên đầu dễ kết vón Đây là loại đất tốt có thể khai

thác đưa vào sản xuất nông nghiệp và lâm nghiệp kết hợp

* Thủy văn

 Nguồn nước mặt

Nguồn nước mặt của xã tương đối dồi dào Trên địa bàn xã có hệ thống khe suối dày đặc, cộng với lượng mưa lớn trong năm (khoảng 1.941 mm) tạo thành nguồn nước mặt chủ yếu cung cấp cho việc tưới tiêu, sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt của nhân dân trong xã

 Nguồn nước ngầm

Do địa hình chia cắt bởi các dãy núi đá vôi và núi đất, nên ngoài hệ thống sông suối, ao hồ trên địa bàn xã còn có các nguồn nước ngầm từ các hang động trong núi đá Kết quả khảo sát và nghiên cứu tại đây cho thấy ở đây

có trữ lượng nước ngầm tương đối dồi dào và chất lượng tốt, nhưng việc khai thác còn nhiều han chế

Nguồn tài nguyên nước khá dồi dào, nhưng địa hình chia cắt mạnh, chất lượng thảm thực vật rừng không cao, nên mùa mưa dòng chảy lớn, hay sảy ra lũ lụt, mùa khô lại thiếu nước gây ra hạn hán

2.3.2 Điều kiện dân sinh – kinh tế - xã hội

2.3.2.1 Điều kiện kinh tế

* Tổng quát về thực trạng phát triển kinh tế

- Những năm qua nhờ có sự lãnh đạo đúng hướng của Đảng uỷ, UBND xã

và sự quan tâm chỉ đạo của UBND huyện Võ Nhai, nền kinh tế của xã đã có

những bước phát triển đáng kể, đời sống của nhân dân từng bước được cải thiện

Trang 29

- Hiện nay ngành nông nghiệp vẫn chiếm vị trí chủ đạo trong cơ cấu kinh tế của xã, do đó luôn được chú ý quan tâm đầu tư đúng mức, kết hợp với trình độ thâm canh được nâng lên, ngành chăn nuôi khá phát triển Do đó bước đầu đã đem lại hiệu quả kinh tế cho ngành và tăng thu nhập cho các hộ gia đình

- Lĩnh vực ngành nghề dịch vụ cũng từng bước phát triển theo hướng

đa dạng và nâng dần quy mô, số lao động chuyển dịch từ nông nghiệp sang dịch vụ, thương mại phát triển tập trung tại trung tâm xã, chủ yếu là buôn bán nhỏ lẻ nhằm phục vụ nhu cầu tại chỗ của nhân dân

* Thực trạng phát triển các ngành sản xuất

Trong những năm qua các cấp ủy Đảng, chính quyền đã lãnh đạo nhân dân tích cực chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, mở rộng diện tích thâm canh tăng vụ, tăng cường công tác khuyến nông, chuyển giao khoa học kỹ thuật đến các hộ nông dân, theo phương châm sản xuất gắn liền với tiêu thụ sản phẩm, dưa những loại giống cây trồng có giá trị kinh tế cao vào sản xuất đã đạt được những thành tich

có hạt năm 2013 đạt 1.679 tấn, trong đó lượng thóc 1.021,45 tấn, tổng sản lượng ngô là 671,1 tấn

Diện tích trồng sắn năm 2013 là 48 ha

Trang 30

Cây công nghiệp ngắn ngày: cây lạc, đỗ diện tích gieo trồng là 21 ha, sản lượng đạt 21 tấn; trồng chè cho sản lượng 62 tấn

- Ngành chăn nuôi, thuỷ sản

+ Phát huy lợi thế đồi rừng, trong những năm qua, chăn nuôi trên địa bàn xã có sự chuyển dịch từ chăn nuôi nhỏ lẻ sang chăn nuôi theo hướng sản xuất hàng hóa Nhiều mô hình kinh tế chăn nuôi quy mô trang trại, gia trại hình thành và phát triển góp phần nâng cao tỷ trọng GDP trong nông nghiệp

và ngày càng nâng cao đời sống của các hộ chăn nuôi Theo số liệu điều tra năm 2013, tổng đàn gia súc, gia cầm như sau: đàn trâu có 480 con, đàn bò có

27 con, đàn lợn có 2.000 con và đàn gia cầm có 19.700 con

+ Thủy sản: tổng diện tích ao, hồ nuôi trồng thủy sản là 13 ha, sản

lượng ước tính đạt 9,5 tấn

Tuy vậy, việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất thâm canh tăng vụ và chăn nuôi ở một số hộ còn chưa mạnh dạn, chất lượng sản phẩm chưa cao Tiêu thụ sản phẩm còn gặp khó khăn phụ thuộc nhiều vào thị trường, công tác tiêm phòng dịch cho đàn gia súc, gia cầm đã được triển khai nhưng còn thấp so với tổng đàn

+ Về lâm nghiệp: Trong năm 2013 đã trồng được 38 ha

Công tác quản lý, chăm sóc bảo vệ rừng được duy trì thường xuyên, thường xuyên tuyên truyền bảo vệ và phòng, chống cháy rừng, nội, quy chế

và luật bảo vệ rừng đến từng người dân ở các xóm, đặc biệt là vào mua khô.Trồng rừng kết hợp trồng cây ăn quả và chăn thả gia súc đã cho hiệu quả kinh tế, tăng thêm thu nhập cho người dân

- Khu vực kinh tế công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và xây dựng

Hoạt động ngành tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ trong những năm qua phát triển chậm, chiếm tỷ trọng trong nền kinh tế Trong xã không có cơ sở sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ với quy mô lớn Hiện

Trang 31

chỉ có các cơ sở tư nhân, hộ gia đình như: sửa chữa xe máy, mộc dân dụng, may mặc, xay sát, khai thác đá, cửa hàng dịch vụ phục vụ cho sản xuất nông – lâm – nghiệp và sinh hoạt đời sống của nhân dân như: phân bón, thuốc trừ sâu, thức ăn gia súc, dụng cụ phục vụ sản xuất nông – lâm nghiệp, bán hàng hóa Những dịch vị này chủ yếu phục vụ cho bà con nhân dân trong xã Các hoạt động dịch vụ này đã góp phần thúc đẩy cho sản xuất và tăng thu nhập cho người dân

* Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng

- Hệ thống giao thông

Xã có tuyến đường giao thông duy nhất chạy qua là tuyến đường liên

xã, có chiều dài khoảng 13,7 km Đây là tuyến đường giao thông quan trọng

để phát triển kinh tế-xã hội, nhất là giao thông mua bán, trao đổi hàng hóa và giao lưu văn hóa với các địa phương bên ngoài Tuy nhiên, chất lượng đường còn còn rất thấp, là đường cấp phối, nên găp rất nhiều khó khăn cho việc đi lại

va trao đổi hàng hóa của người dân trong mùa mưa bão

Hệ thống giao thông liên thôn và các tuyến đường ra đồng trong những năm qua đã được đầu tư, sửa chữa và mở một số tuyến mới để đáp ứng nhu cầu đi lại của nhân dân, tuy nhiên hầu hết các tuyên đườngchưa được mở rộng

và mặt đường chưa được bê tông hóa, chủ yếu là đường cấp phối, nên gặp nhiều khó khăn trong việc đi lại trong mùa mưa bão

Nhìn chung, hệ thống giao thông của xã Vũ Chấn chưa đáp ứng cơ cầu nhu cầu đi lại, vận chuyển hang hóa cuả nhân dân, nhiều tuyến giao thông chất lượng còn kém chưa đáp ứng nhu cầu đi lại vận chuyển hàng hóa của nhân dân

- Hệ thống điện

Hiện nay trên địa bàn xã 66,8% số hộ đã được dùng điện lưới quốc gia, còn nhiều hộ chưa có điện, nên việc nâng cao đòi sóng văn hóa, tinh thần của

Trang 32

người dân còn gặp nhiều khó khăn.Trong tương lai cần mở thêm một số trạm

để đáp ứng nhu cầu về điện cho người dân trên địa bàn xã

- Bưu chính viễn thông

Hiện nay trên địa bàn xã có một điểm bưu điện văn hóa xã Xã đã được phủ sóng điện thoại di động, do đó việc trao đổi thông tin liên lạc rất thuật lợi Xã có điểm dịch vụ internet phục vụ việc truy cập thông tin của mọi người

Nhìn chung mạng lưới bưu chính viễn thông của xã còn phát triển ở mức thấp,cơ sở vật chất nghèo nàn cả về chất lượng và số lượng

- Hệ thống thuỷ lợi

Hệ thống thủy lợi hiện nay trên địa bàn xã bao gồm các hồ chứa, đập dâng,

hệ thống kênh mương và các công trình khác Nhìn chung hệ thống thủy lợi chưa đáp ứng được nhu càu tưới tiêu, đặc biệt là nước tưới phục vụ cho việc phát triển sản xuất nông - lâm nghiêp đặc biệt là vào mùa khô

2.3.2.2 Điều kiện xã hội

- Tài nguyên nhân văn

Vũ Chấn là vùng đất có nguồn gốc lịch sử phát triển lâu đời, thiên nhiên ưu đãi và hào phóng giành cho Vũ Chấn một vùng đất trù phú , cảnh quan đa dạng Con người nơi đây tài hoa, thông minh, cần cù, chăm chỉ, nổi tiếng với truyền thống hiếu học, đỗ đạt cao Cộng đồng dân cư có kiến thức, tay nghề, kinh nghiệm sản xuất, cùng với sự hiếu học đã góp phần sử dụng ngày càng hiệu quả hơn các nguồn tài nguyên thiên nhiên, nhất là việc sử dụng tài nguyên đất cho các mục đích phát triển kinh tế - xã hội và an ninh quốc phòng

Theo thống kê cho thấy, năm 2013 dân số toàn xã là: 633 hộ với 2.754 nhân khẩu Xã có 10 xóm bản, có 6 dân tộc anh em cùng sinh sống, chủ yều là người Tày, Dao, Nùng, Cao Lan và người kinh Mỗi dân tộc đều có phong tục tập quán sinh hoạt và kinh nghiệm sản xuất riêng tạo nên nền văn hóa đa dạng về bản sắc

Theo điều tra trên địa bàn xã Vũ Chấn là một xã ở miền núi, người dân sống

Trang 33

ở đây chủ yếu là dân tộc: Tày, Dao, Kinh, Nùng, Cao Lan và Mông phần lớn các dân tộc ở đây là do phong trào di dân tự do trong vài trục năm về trước đến sinh sống trên địa bàn

- Thực trạng phát triển các khu dân cư

Dân cư phân bố không tập trung, hệ thống sông suối phức tạp tạo ra địa hình chia cắt rất phức tạp, gây khó khăn cho việc đầu tư xây dựng, quản lý khai thác và vận hành các công trình hạ tầng kỹ thuật (giao thông, thuỷ lợi,

lưới điện) phục vụ sản xuất và sinh hoạt cho nhân dân trong xã

Bảng 3.2: Tình hình phân bổ dân cƣ xã Vũ Chấn năm 2013

Số người thất nghiệp

Số người không tham gia lao động

Trang 34

+ Dân số: Xã Vũ Chấn có tổng dân số là 2.754 người sinh sống trên

tổng diện tích đất tự nhiên là 7.769 ha, mật độ dân số ở khá thưa

Dân cư xã Vũ Chấn tập trung chủ yếu ở trung tâm xã và các chân đồi dọc theo trục đường liên thôn Đất ở thường gắn liền với đất vườn, đất trồng cây lâu năm, đất trồng cây hàng năm, đất rừng trồng, đất nuôi trồng thủy sản Nhìn chung đất khu dân cư nông thôn hiện nay của xã Vũ Chấn tương đối phù hợp với điều kiện sản xuất và phong tục tập quán, sinh hoạt của nhân dân

- Sự nghiệp giáo dục đào tạo của xã

Công tác giáo dục ở các cấp học luôn được sư quan tâm chỉ đạo của Đảng

ủy, Hội đồng nhân dân nên đã đạt được những thành tích cao hoàn thành phổ cập Trung học cơ sở Cơ sở vật chất được củng cố, đội ngũ giáo viên từng bước được tiêu chuẩn hóa Tỷ lệ học sinh lên lớp, học sinh giỏi và thi tốt nghiệp đạt kêt quả cao

Về quy mô phát triển các cấp học đội ngũ giáo viên được tăng cường chuẩn hóa, chất lượng giáo dục toàn diện được các cấp các ngành địa phương quan tâm chỉ đạo

Xã có đủ cả 3 cấp học mần non, tiểu học và trung học cơ sở trong đó; trường tiểu học và trung học cơ sở 100% giáo viên đạt chuẩn, trường mầm non 10/15 giáo viên đạt chuẩn Hàng năm 100% số trẻ được đền trường trong

độ tuổi, chất lượng đào tạo đạt ở mức khá Tỷ lệ học sinh lên lớp ở khối trung học cơ sở đạt 86,3% khối tiểu học đạt 96,1%

Tuy nhiên trong giai đoạn tới cần phải tiếp tục đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị giảng dạy và học tập cho tất cả các cấp học

- Công tác Y tế của xã

Công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân, vệ sinh phòng dịch luôn luôn được chú trọng Xã thường xuyên tổ chức công tác tiêm phòng các bệnh truyền nhiễm cho các cháu, phổ biền kiến thức về bảo vệ sức khỏe cho

Trang 35

người dân, làm tốt công tác dân số kế hoạch hóa gia đình Tổ chức khám, chữa bệnh và cấp thuốc cho người nghèo, tỷ lệ các cháu trong độ tuổi và phụ

nữ có thai được tiêm các loại vacxin phòng bệnh và uống vitamin A

Trạm y tế trong những năm qua đã được xây dựng và đầu tư trang thiết

bị y tế để đảm bảo tốt công tác khám và điều trị, chăm sóc sức khỏe ban đầu cho người dân, năm 2011 trạm y tế xã đã đạt chuẩn quốc gia Đội ngũ cán bộ

y tế làm việc tại trạm xã có 06 người, trong đó có 01 bác sỹ

- Công tác Văn hoá - Văn nghệ - Thể dục -Thể thao

Phong trào văn hóa thể dục thể thao trong những năm qua có nhiều những hoạt động thiết thực Trong xã thường xuyên tổ chức giao lưu văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao chào mừng những ngày lễ lớn, phát huy và gìn giữ truyền thống văn hóa địa phương Triển khai thực hiện phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, thực hiện tốt chương trình mục tiêu văn hóa Làm tốt công tác tuyên truyền các chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, các nhiệm vụ mục tiêu kinh tế - xã hội

- Quốc phòng, an ninh

+ Làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng, xây dựng củng cố và nâng cao chất lượng khu vực phòng thủ huyện, xã, cơ quan vững mạnh Công tác tuyên truyền pháp luật, công tác giải quyết khiếu nại tố cáo của công dân được chú trọng

+ Đẩy mạnh xây dựng lực lượng dân quân đảm bảo sẵn sàng chiến đấu + Phong trào quần chúng bảo vệ an ninh tổ quốc được phát động rộng khắp, đi vào chiều sâu, góp phần nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân chống âm mưu “ Diễn biến hòa bình “ của các thế lực thù địch Tình hình an ninh chính trị, trât tự an toàn xã hội luôn được đảm bảo, ổn định và giữ vững

+ Tổ chức huyến luyện quân sự, quản lý tốt lực lượng dự bị động viên,

Trang 36

khám sở tuyển nghĩa vụ quân sự đảm bảo số lượng, chất lượng chuẩn bị cho công tác tuyển quân

+ Xây dựng, bổ sung kế hoạch PCCR và kế hoạch PCLB - TKCN của

xã và ban chỉ huy quân sự

Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và môi trường

Thuận lợi

Vị trí địa lý, điều kiện đất đai, khí hậu, tài nguyên nước cho phép xã Vũ Chấn phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp đa dạng, phong phú theo hướng đa canh và thâm canh, cung cấp các sản phẩm mà thị trường cần nhue: thịt gia súc, chè, sản phẩm lâm nghiệp

Với tổng diện tích tự nhiên là 7.769 ha, trong đó đất nông nghiệp 7.649,49 ha; diện tích trồng cây hang năm là 784,66 ha, diện tích trồng cây lâu năm 242,69 ha Diện tích đât lâm nghiêp là chủ yếu, chiếm 85,1% tổng diện tích tự nhiên Đối với một xã miền núi, đây chính là một lợi thế lớn, là cơ sở để xây dựng nên các vùng nông nghiệp hàng hóa tập trung mang lại hiệu quả kinh tế cho địa phương chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp và lâm nghiệp

Nét nổi bật trong những năm qua là các địa phương đã từng bước bố trí,

sử dụng hợp lý đất đai, đổi mới cơ cấu giống, cơ cấu mùa vụ, làm tốt công tác chuyển giao tiến bộ kỹ thuật đến hộ nông dân,… đã tạo động lực cho nông lâm nghiêp phát triển và đi dần vào thế ổn định Đời sống của nông dân có bước cải thiện rõ rệt

Cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất nông lâm thủy sản của xã từng bước được đầu tư Hệ thống thủy lợi nội đồng đã được quan tâm xây dựng bằng nhiều chương trình, dự án Đời sống người nông dân từng bước được cải

thiện, có tích lũy để tái đầu tư và thâm canh sản xuất

Khó khăn

Địa hình chia cắt và dốc, mưa lớn thường gây ra lũ quét úng ngập vào

Trang 37

mùa mưa bão Hàng năm thường chịu ảnh hưởng trực tiếp rét đậm kéo dài kèm theo sương muối, gây thiện hại đáng kể đến sản xuất nông nghiệp, cũng như đối với đời sống của nhân dân

Là xã có diện tích rộng nhưng chủ yếu là diện tích rừng phòng hộ, rừng đặc dụng nhiều, địa hình chia cắt phức tạp, nguy cơ thiên tai lớn gây ảnh hưởng đến diện tích đất sản xuất cây trồng hàng năm (lúa, màu) và nuôi trồng thủy sản rất thấp, chỉ chiếm phần nhỏ trong cơ cấu sử dụng đất của xã

Sản xuất nông lâm nghiêp thủy sản có cơ cấu không ổn định, thiêú bền vững, chưa phát triển theo sản xuất hàng hóa

Vốn để phát triển các loại hình kinh tế còn khó khăn do đa phần dân còn nghèo

Sản xuất nông nghiệp mang tính tư túc; giá trị sản xuất trên một đơn vị diện tích canh tác thấp, kinh tế ngành nông nghiệp chiếm tỷ trọng cao, kinh tế công nghiêp, tiểu thủ công nghiệp và thương mại - dịch vụ chiếm tỷ trọng thấp, chưa tương xứng với tiềm năng của xã

Trang 38

PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Các loài thực vật rừng sử dụng làm thực phẩm, gia vị

- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu các hoạt động khai thác và sử

dụng thực vật làm thực phẩm, gia vị trên địa bàn xã Vũ Chấn

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành

- Địa điểm tiến hành: Xã Vũ Chấn, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên

- Thời gian: Từ tháng 2 đến tháng 5 năm 2015

3.3 Nội dung nghiên cứu

- Thành phần thực vật rừng làm thực phẩm, gia vị và nơi phân bố tại địa phương

- Hiện trạng khai thác và mức độ sử dụng thực vật rừng làm thực phẩm, gia vị của cộng đồng dân cư xã Vũ Chấn

- Kiến thức bản địa của người dân trong khai thác, chế biến và sử dụng thực vật rừng làm thực phẩm, gia vị

- Nguyên nhân gây suy thoái một số loại thực vật rừng làm thực phẩm, gia vị

- Đề xuất các giải pháp nhằm bảo tồn và phát triển bền vừng nguồn thực vật rừng sử dụng làm thực phẩm, gia vị tại địa phương

3.4 Phương pháp nghiên cứu

3.4.1 Công tác chuẩn bị

- Sưu tầm các tài liệu có liên quan đến công tác nghiên cứu

- Chuẩn bị các phiếu phỏng vấn

Trang 39

3.4.2 Phương pháp tiến hành

3.4.2.1 Phương pháp ngoại nghiệp

* Thu thập các thông tin, số liệu có sẵn

a Kế thừa các tài liệu cơ bản:

Kế thừa có chọn lọc các tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, cùng các tài liệu có liên quan tới các đề tài của các tác giả trong và ngoài nước tại khu vực nghiên cứu

b Phương pháp chuyên gia:

Phân loại thực vật được giám định của các thầy giáo có chuyên môn về phân loại thực vật hoặc thực vật rừng của Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên

* Phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA)

PRA được tiến hành phỏng vấn trực tiếp người dân thông qua các bảng hỏi Lựa chọn 3 địa điểm tiêu biểu trong xã để làm địa điểm nghiên cứu, tại mỗi địa điểm có khoảng 10-15 người được lựa chọn để tiến hành phỏng vấn theo những nội dung sau :

- Điều tra mức độ tác động của người dân đến việc khai thác

- Điều tra chi tiết về số lượng giá cả thị trường Thời gian khai thác cho từng sản phẩm

- Phân tích xếp hạng giá trị nhiều mặt của một số loài thực vật cho LSNG

* Điều tra theo tuyến với người cung cấp tin quan trọng

Đây là phương pháp thường được áp dụng trong điều tra tài nguyên thực vật Dựa trên cơ sở kết quả của bước: Liệt kê tự do, lựa chọn người cung cấp tin quan trọng và tiến hành xác định tên khoa học và vị trí phân loại của các loài cây gia vị, thực phẩm

Người cung cấp tin quan trọng là những người am hiểu về cây gia vị, thực phẩm trong khu vực, thường là những người già, phụ nữ, tự nguyện cung

Trang 40

cấp thống tin Mục tiêu điều tra là xác định chính xác các loài cây đã được liệt

kê tại bước liệt kê tự do Các bước thực hiện bao gồm:

+ Xác định tuyến điều tra: Tuyến điều tra có thể được xác định dựa trên thực trạng thảm thực vật, địa hình và phân bố cây gia vị, thực phẩm trong khu vực Để đảm bảo tính khách quan trong quá trình điều tra, tuyến điều tra nên

đi qua các địa hình và thảm thực vật khác nhau Trong điều tra tại cộng đồng, lấy trung tâm công đồng làm tâm và đi theo bốn hướng khác nhau Số lượng tuyến phụ thuộc vào thời gian và nhân lực sẵn có (Điều tra 20 hộ dân trên địa bàn xã)

+ Thu thập thông tin tại thực địa: Người cung cấp tin và điều tra viên cùng đi theo tuyến và phỏng vấn đối với bất kỳ cây nào gặp trên đường đi Cách thu thập thông tin khác, có hệ thống hơn, là người cung cấp tin và điều tra viên dừng lại tại mỗi điểm có sự thay đổi về thảm thực vật và phỏng vấn đối với tất cả các loài cây gia vị, thực phẩm xuất hiện trong khu vực đó

Thông tin cần phỏng vấn bao gồm: tên cây (tên địa phương), bộ phận dùng, cách dùng Để tiết kiệm thời gian in sẵn một sổ mẫu biểu có các nội dung điều tra đã định trước và đánh dấu tại các nội dung phù hợp trong quá trình điều tra Bất kỳ cây nào được người cung cấp tin xác định là cây gia vị, thực phẩm đều được thu thập để xác định tên phổ thông và tên địa phương (Phụ lục 3)

3.4.3 Phương pháp nội nghiệp

Tổng hợp, phân tích, xử lí số liệu theo phương pháp thống kê mô tả và phương pháp phân tích định tính, ngoài ra còn sử dụng phương pháp phân tích SWOT để phân tích những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức trong sử dụng và quản lí LSNG tại xã Vũ Chấn

Ngày đăng: 16/08/2016, 16:40

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4.1. Danh mục các loài cây đƣợc sử dụng làm thực phẩm. - Đánh giá hiện trang khai thác và sử dụng các loài thực vật rừng dùng làm thực phẩm, gia vị tại xã vũ chấn   huyện võ nhai   tỉnh thái nguyên
Bảng 4.1. Danh mục các loài cây đƣợc sử dụng làm thực phẩm (Trang 41)
Hình 4.1. Trám kho thịt  Bánh gio - Đánh giá hiện trang khai thác và sử dụng các loài thực vật rừng dùng làm thực phẩm, gia vị tại xã vũ chấn   huyện võ nhai   tỉnh thái nguyên
Hình 4.1. Trám kho thịt Bánh gio (Trang 55)
Hình 4.2. Bánh gio  Bánh ngải. - Đánh giá hiện trang khai thác và sử dụng các loài thực vật rừng dùng làm thực phẩm, gia vị tại xã vũ chấn   huyện võ nhai   tỉnh thái nguyên
Hình 4.2. Bánh gio Bánh ngải (Trang 56)
Hình 4.3. Bánh ngải - Đánh giá hiện trang khai thác và sử dụng các loài thực vật rừng dùng làm thực phẩm, gia vị tại xã vũ chấn   huyện võ nhai   tỉnh thái nguyên
Hình 4.3. Bánh ngải (Trang 57)
Bảng 4.3. Các loài thực phẩm tiềm năng  STT  Tên phổ thông  Tên La tinh - Đánh giá hiện trang khai thác và sử dụng các loài thực vật rừng dùng làm thực phẩm, gia vị tại xã vũ chấn   huyện võ nhai   tỉnh thái nguyên
Bảng 4.3. Các loài thực phẩm tiềm năng STT Tên phổ thông Tên La tinh (Trang 58)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w