1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Triển khai một số test đánh giá hành vi trầm cảm thực nghiệm và áp dụng để đánh giá tác dụng của l tetrahydropalmatin

67 529 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 1,29 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

DANH MỤC CÁC HÌNH 1.1 Cơ chế dẫn truyền thần kinh của NE và 5-HT 6 3.1 Ảnh hưởng của fluoxetin và clomipramin đến thời gian thể hiện các trạng thái của chuột cống trắng trên test FST 30

Trang 1

BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI

LÊ NGỌC QUỲNH GIAO

MÃ SINH VIÊN: 1101124

TRIỂN KHAI MỘT SỐ TEST ĐÁNH GIÁ HÀNH VI TRẦM CẢM THỰC NGHIỆM VÀ ÁP DỤNG ĐỂ ĐÁNH GIÁ TÁC DỤNG CỦA L-TETRAHYDROPALMATIN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC SĨ

HÀ NỘI – 2016

Trang 2

BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI

LÊ NGỌC QUỲNH GIAO

MÃ SINH VIÊN: 1101124

TRIỂN KHAI MỘT SỐ TEST ĐÁNH GIÁ HÀNH VI TRẦM CẢM THỰC NGHIỆM VÀ ÁP DỤNG ĐỂ ĐÁNH GIÁ TÁC DỤNG CỦA L-TETRAHYDROPALMATIN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC SĨ

Trang 3

LỜI CẢM ƠN Bằng tất cả sự chân thành và lòng biết ơn sâu sắc, em xin gửi lời cảm ơn tới ThS Nguyễn Thu Hằng, DS Phạm Đức Vịnh, TS Nguyễn Hoàng Anh là những người thầy, người cô đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình chỉ bảo và giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành khóa luận

Em xin gửi lời cảm ơn tới TS Nguyễn Trần Linh, Bộ môn Bào chế, trường

ĐH Dược Hà Nội đã có những góp ý và giúp đỡ em trong quá trình thực hiện đề tài

Em xin gửi lời cảm ơn tới DS Đinh Đại Độ, kỹ thuật viên tại bộ môn Dược lực trường ĐH Dược Hà Nội đã nhiệt tình giúp đỡ và trực tiếp thực hiện nhiều công việc xuyên suốt trong quá trình tiến hành đề tài

Nhân đây em cũng xin gửi lời cảm ơn tới:

Các thầy cô, các anh chị kỹ thuật viên trong bộ môn Dược lực đã tạo mọi điều kiện, giúp đỡ để em có thể hoàn thành khóa luận một cách tốt nhất

Các thầy cô trong Ban giám hiệu nhà trường, các phòng ban, các bộ môn trường Đại học Dược Hà Nội đã tận tình dạy dỗ, giúp đỡ em trong quá trình học tập tại trường

Em cũng xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới những người thân trong gia đình, những người bạn đã luôn kịp thời động viên, ủng hộ em trong suốt quá trình học tập tại trường cũng như trong thời gian thực hiện khóa luận

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 5 năm 2016

Sinh viên

Lê Ngọc Quỳnh Giao

Trang 4

DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 3

1.1 Rối loạn trầm cảm 3

1.1.1 Khái niệm 3

1.1.2 Tình hình dịch tễ 3

1.1.3 Phân loại 4

1.1.4 Sinh hóa thần kinh trong rối loạn trầm cảm 4

1.1.5 Điều trị rối loạn trầm cảm bằng các thuốc hóa dược 9

1.2 Mô hình trầm cảm trên động vật thực nghiệm 11

1.3 Các test đánh giá hành vi trầm cảm trên động vật thực nghiệm 13

1.3.1 Test bơi cưỡng bức 15

1.3.2 Test treo đuôi 15

1.3.3 Test tiêu thụ saccarose 16

1.4 Tác dụng dược lý hướng thần kinh và tâm thần của l-tetrahydropalmatin 16

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19

2.1 Đối tượng 19

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 19

2.1.2 Hóa chất, dụng cụ và thiết bị 19

2.1.3 Động vật thí nghiệm 19

2.1.4 Chuẩn bị thuốc thử 19

Trang 5

2.2 Phương pháp nghiên cứu 20

2.2.1 Sơ đồ thiết kế nghiên cứu 20

2.2.2 Nội dung nghiên cứu 21

2.2.3 Thiết kế nghiên cứu 21

2.2.4 Điều kiện tiến hành thí nghiệm 23

2.2.5 Các test đánh giá tác dụng chống trầm cảm sử dụng trong nghiên cứu 23 2.2.5.1 Test bơi cưỡng bức (FST) 23

2.2.5.2 Test treo đuôi (TST) 25

2.2.5.3 Test môi trường mở (OFT) 27

2.3 Xử lý số liệu 29

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 30

3.1 Kết quả triển khai test đánh giá hành vi trầm cảm trên động vật thực nghiệm 30

3.1.1 Ảnh hưởng của fluoxetin và clomipramin đến hành vi trầm cảm của chuột cống trắng trên test FST 30

3.1.2 Ảnh hưởng của clomipramin đến hành vi trầm cảm trên chuột nhắt trắng 32

3.1.2.1 Đánh giá hành vi trầm cảm sử dụng test FST 32

3.1.2.2 Đánh giá tác dụng chống trầm cảm sử dụng test TST 32

3.2 Áp dụng test hành vi phù hợp để đánh giá tác dụng chống trầm cảm của l-THP 33

3.2.1 Đánh giá tác dụng chống trầm cảm của l-THP trên chuột cống trắng 34

3.2.2 Ảnh hưởng của l-THP trên hoạt động tự nhiên và khám phá ở chuột cống trắng 38

3.2.3 Đánh giá tác dụng chống trầm cảm của l-THP trên chuột nhắt trắng 39

Trang 6

3.2.4 Ảnh hưởng của l-THP trên hoạt động tự nhiên và khám phá ở chuột nhắt trắng 403.3 Bàn luận 413.3.1 Kết quả đánh giá hành vi trầm cảm trên 2 test: test bơi cưỡng bức và test treo đuôi 423.3.2 Tác dụng chống trầm cảm của l-THP 45KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 48

Trang 7

DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

5-HIAA acid 5 – hydroxyindoleacetic

5-HT 5-hydroxytryptamin (Serotonin)

ACTH Hormon vỏ thượng thận (Adrenocorticotropic hormone)

APA Hội tâm thần Hoa Kỳ (American Psychiatric Association)

BDNF Yếu tố dinh dưỡng thần kinh có nguồn gốc từ não

(Brain-Derived Neurotrophic Factor) COMT Catechol-O-methyl transferase

CREB Protein liên kết từng phần đáp ứng với AMP vòng (Cyclic-AMP

Response Element-Binding Protein) CRH Hormon giải phóng corticotropin (Corticotropin Releasing

Hormone)

DD Rối loạn trầm cảm dai dẳng (Persistent Depressive Disorder /

Dysthymia) DMDD Rối loạn điều hòa tâm trạng kích động (Disruptive Dood

Dysregulation Disorder) DSM-5 Sổ tay chẩn đoán và thống kê các rối loạn sức khoẻ tâm thần

(Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders, 5th Edition)

EEG Điện não đồ (Electroencephalogram)

ERK Enzym chuyển gốc phosphat điều hòa tín hiệu ngoại bào

(Extracellular signal-regulated kinase) FST Test bơi cưỡng bức (Forced Swim Test)

GABA Gamma amino butyric acid

HPA Trục dưới đồi - tuyến yên - tuyến thượng thận (hypothalamic -

pituitary - adrenal)

Trang 8

ICD-10 Phân loạn bệnh Quốc tế (International Classification of

Diseases, Tenth Revision) MAOI Ức chế monoamin oxidase (Monoamin Oxidase Inhibitor) MDD Rối loạn trầm cảm nặng (Major Depressive Disorder)

MHPG 3 - methoxy – 4 – hydroxyphenylglycol

NaCMC Natri carboxymethyl cellulose

NMDA N-methyl-D-aspartat

OFT Test môi trường mở (Open Field Test)

PMDD Rối loạn tâm thần tiền kinh nguyệt (Premenstrual Dysphoric

Disorder) REM Giấc ngủ sóng nhanh (Rapid Eye Movement)

SNRIs Chất ức chế tái thu hồi serotonin – norepinephrin (Serotonin –

Norepinephrine Reuptake Inhibitors) SSRIs Chất ức chế tái thu hồi chọn lọc serotonin (Serotonin Selective

Reuptake Inhibitors) TCAs Thuốc chống trầm cảm 3 vòng (Tricyclic Antidepressants) THP Tetrahydropalmatin

TrkB Tyrosine kinase B

WHO Tổ chức Y tế thế giới (World Health Organization)

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH

1.1 Cơ chế dẫn truyền thần kinh của NE và 5-HT 6

3.1 Ảnh hưởng của fluoxetin và clomipramin đến thời gian thể

hiện các trạng thái của chuột cống trắng trên test FST 30

3.2 Ảnh hưởng của fluoxetin và clomipramin đến điểm thể hiện

các trạng thái của chuột cống trắng trên test FST 31

3.3 Ảnh hưởng của clomipramin đến thời gian thể hiện các trạng

3.4 Ảnh hưởng của clomipramin đến thời gian bất động của chuột

3.5 Tác dụng của l-THP với các mức liều đến thời gian bất động

3.6 Tác dụng của l-THP với các mức liều đến thời gian bơi của

3.7 Tác dụng của l-THP với các mức liều đến thời gian trèo/lặn

3.8 Tác dụng của l-THP với các mức liều đến điểm bất động của

Trang 11

3.9 Tác dụng của l-THP với các mức liều đến điểm bơi của chuột

3.10 Tác dụng của l-THP với các mức liều đến điểm trèo/lặn của

3.11 Tác dụng của l-THP đến thời gian bất động của chuột nhắt

Trang 12

ĐẶT VẤN ĐỀ Rối loạn trầm cảm (depression disorder) là tình trạng rối loạn cảm xúc phổ biến nhất, dao động từ trạng thái rất nhẹ, gần như bình thường đến rất nặng (tâm thần) kèm theo ảo giác và hoang tưởng [48] Đây là bệnh lý tương đối phổ biến, đứng hàng thứ hai trong các bệnh lý tâm thần [6] Bệnh có tỷ lệ mắc cao, nguy cơ khởi phát tăng dần theo tuổi [27] Các phương pháp điều trị chủ yếu hiện nay là phối hợp các liệu pháp tâm lý hoặc liệu pháp sốc điện với các thuốc chống trầm cảm [56] Ngoài các tác dụng không mong muốn như khả năng lệ thuộc thuốc, hội chứng cai thuốc, một hạn chế lớn của các nhóm thuốc này là khởi phát tác dụng muộn Điều này đặt ra nhu cầu tìm kiếm các thuốc chống trầm cảm mới, có tác dụng tương đương, hạn chế các tác dụng không mong muốn trên và cải thiện thời gian tiềm tàng xuất hiện tác dụng trên lâm sàng Trước thực trạng đó, cần thiết phải có các test đánh giá hành vi trầm cảm có độ tin cậy và khả năng dự đoán cao để sàng lọc các hoạt chất có tác dụng chống cảm trên các mô hình động vật

Hiện nay, có nhiều mô hình gây trầm cảm cũng như các test đã được phát triển

để mô phỏng và đánh giá hành vi trầm cảm thực nghiệm Trong đó có hai test được

sử dụng phổ biến trong các nghiên cứu do quy trình đơn giản, dễ thực hiện và có khả năng dự đoán cao với nhiều thuốc chống trầm cảm là test bơi cưỡng bức và test treo đuôi Hai test này đều dựa trên nguyên tắc khi động vật gặp phải những stress cấp tính và không có khả năng trốn thoát sẽ rơi vào trạng thái bất động hay hành vi trầm cảm như một cách để đối phó với stress Một số nhóm nghiên cứu ở Việt Nam cũng

đã áp dụng những test này để đánh giá tác dụng chống trầm cảm của nhiều hoạt chất khác nhau [5], [5] Tuy nhiên, có rất nhiều yếu tố gây ảnh hưởng đến kết quả của các test hành vi này, do đó cần thiết phải ổn định các thông số của thí nghiệm trong điều kiện của phòng nghiên cứu, cũng như có cách tính kết quả hợp lý để hoàn thiện các test này

Các thuốc và sản phẩm có nguồn gốc dược liệu hiện được coi là hướng tiếp cận

bổ sung và thay thế cho các thuốc có nguồn gốc hóa dược trong điều trị rối loạn trầm cảm [50] Những nghiên cứu gần đây đánh giá tác dụng dược lý hướng thần kinh và

Trang 13

tâm thần của l-tetrahydropalmatin (l-THP) đã cho thấy tác dụng an thần và giải lo âu của hoạt chất này Nghiên cứu cũng cho thấy l-THP có tiềm năng trong điều trị trầm cảm, mở ra hướng nghiên cứu mới về tác dụng chống trầm cảm của l-THP [5] Ngoài

ra, cũng đã có nghiên cứu trên thế giới đánh giá và tìm kiếm mức liều thể hiện tác

dụng chống trầm cảm của l-THP [34]

Để góp phần nghiên cứu sâu hơn tác dụng chống trầm cảm của l-THP, đồng

thời tạo cơ sở cho việc phát triển và ứng dụng hoạt chất này trong điều trị rối loạn trầm cảm, đề tài được thực hiện với 2 mục tiêu:

1 Triển khai một số test để đánh giá hành vi trầm cảm thực nghiệm trên hai đối tượng chuột cống trắng và chuột nhắt trắng

2 Áp dụng các test thích hợp để đánh giá tác dụng chống trầm cảm của l-THP

Trang 14

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1.1 Rối loạn trầm cảm

1.1.1 Khái niệm

Rối loạn trầm cảm được đặc trưng bởi các rối loạn cảm xúc và biến đổi về nhận thức, thần kinh thực vật và tâm thần vận động có liên quan ở các mức độ khác nhau [27] Đặc điểm của rối loạn này là ức chế cảm xúc, kéo theo sự biến đổi các hoạt động tâm thần khác như hành vi, tâm lý vận động, nhận thức, chú ý, trí nhớ làm giảm chất lượng cuộc sống của người bệnh [6]

Bệnh nhân trầm cảm thường có giảm khí sắc, mất mọi quan tâm và thích thú, giảm năng lượng dẫn đến tăng mệt mỏi và giảm hoạt động Những triệu chứng phổ biến khác bao gồm: giảm tập trung và chú ý; giảm tự trọng và tự tin; tâm lý có tội và không xứng đáng (kể cả ở trong giai đoạn nhẹ); nhìn vào tương lai ảm đạm và bi quan; ý tưởng và hành vi tự hủy hoại hoặc tự sát; rối loạn giấc ngủ; ăn không ngon miệng [11], [60]

Trầm cảm thường cần ít nhất 2 tuần để chẩn đoán nhưng thời gian cũng có thể ngắn hơn nếu triệu chứng nặng bất thường và khởi phát nhanh [11], [60]

Tại Việt Nam, một nghiên cứu cộng đồng ở lứa tuổi 14 - 25 cho thấy 32% thanh thiếu niên tham gia khảo sát đã đã trải qua những cảm xúc buồn bã về cuộc sống nói chung, 25% cảm thấy họ không thể tham gia vào các hoạt động bình thường, 21% cảm thấy thất vọng về tương lai của mình, 0,5% đã cố gắng tự tử và 2,8% nói rằng

Trang 15

họ đã từng tự gây thương tích cho bản thân Tỷ lệ tự tử cao nhất ở nam thanh niên, đặc biệt là khoảng 18 - 21 tuổi, trong đó tỷ lệ là 6,4% đối với những người sống ở các vùng đô thị và 4,1% đối với những người sống ở khu vực nông thôn [2] Trong một nghiên cứu về trầm cảm sau sinh ở Việt Nam, 33% phụ nữ tham gia khám sức khỏe tổng quát tại thành phố Hồ Chí Minh có trầm cảm và 19% trong số họ thừa nhận đã từng có ý tưởng tự sát [28] Nghiên cứu của Đoàn Vương Diễm Khánh (2011) cũng cho thấy 24,3% người trưởng thành ở Việt Nam đang ở ngưỡng “nguy cơ trầm cảm lâm sàng”, 11,9% được phân loại là có triệu chứng trầm cảm và 6,8% có trầm cảm thực sự [26]

1.1.3 Phân loại

Hệ thống phân loại bệnh tật quốc tế ICD-10 của Tổ chức Y tế thế giới (WHO, 1992) phân chia giai đoạn trầm cảm theo các mức độ nghiêm trọng: nhẹ (ít nhất hai trong số các triệu chứng điển hình nhất và hai triệu chứng khác), trung bình (ít nhất hai trong số ba triệu chứng điển hình nhất và ba hoặc bốn triệu chứng khác), hoặc nặng (cả ba triệu chứng điển hình nhất và ít nhất bốn triệu chứng khác) [60]

Theo DSM-5 của Hội tâm thần Hoa Kỳ (APA, 2013), rối loạn trầm cảm bao gồm [11]:

 Rối loạn điều hòa tâm trạng kích động (disruptive mood dysregulation disorder, DMDD, đối với trẻ em đến 18 tuổi)

 Rối loạn trầm cảm nặng (major depressive disorder, MDD)

 Rối loạn trầm cảm dai dẳng (persistent depressive disorder / dysthymia, DD)

 Rối loạn tâm thần tiền kinh nguyệt (premenstrual dysphoric disorder, PMDD)

 Rối loạn trầm cảm do thuốc (substance/medication – induced depressive disorder)

1.1.4 Sinh hóa thần kinh trong rối loạn trầm cảm

Cho đến nay, các nhà nghiên cứu vẫn chưa thể đưa ra một cơ chế chính xác để giải thích cho bệnh sinh trầm cảm Các nghiên cứu về mô bệnh học, nghiên cứu hình

Trang 16

ảnh cấu trúc và chức năng não cũng như nghiên cứu gen đã chỉ ra rằng sinh lý bệnh của trầm cảm rất phức tạp [31] Một số giả thiết về cơ chế bệnh sinh của trầm cảm đã được đề xuất, bao gồm giả thiết monoamin, giả thiết dinh dưỡng thần kinh và giả thiết nội tiết Trong đó giả thiết monoamin được xem là giả thiết quan trọng nhất, gợi ý các triệu chứng chủ yếu trong trầm cảm là do suy giảm số lượng và chức năng của các chất dẫn truyền thần kinh hệ monoaminergic trong não như norepinephrin (NE), serotonin (5-HT) và dopamin (DA) ở vỏ não và hệ viền (limbic) [12]

Norepinephrin được tổng hợp ở các tế bào thần kinh trong não, vùng dưới đồi, tủy thượng thận, các sợi hậu hạch giao cảm Enzym có vai trò quan trọng trong việc tổng hợp NE là tyrosin hydroxylase Quá trình tổng hợp 5-HT xảy ra tại các nhân ở não giữa và một số vùng khác của não, sừng sau tủy sống và vùng dưới đồi với vai trò của enzym tryptophan hydroxylase Hai chất này được tổng hợp ở cúc tận cùng

và hấp thu vào các bọc nhỏ theo cơ chế tích cực Khi các chất dẫn truyền thần kinh được giải phóng khỏi các bọc chứa ở trước synap và khuếch tán vào khe synap, chúng

sẽ tới gắn vào các thụ thể tương ứng ở màng sau synap và phát huy tác dụng Hai thụ thể quan trọng nằm trên cúc tận cùng tương ứng với NE và 5-HT là α2-adrenergic và 5-HT1A serotonergic, có vai trò là thụ thể điều hòa ngược với mục đích ngăn cản giải phóng chất dẫn truyền, tránh kích thích quá mức các thụ thể sau synap [15]

Sau đó các chất dẫn truyền thần kinh sẽ bị khử hoạt nhanh chóng theo hai con đường chính:

 Tái thu hồi tích cực vào cúc tận cùng và được tái sử dụng

 Bị các enzym đặc hiệu chuyển hóa ngay tại khe synap NE được chuyển hóa chủ yếu qua monoamin oxidase (MAO) và catechol-O-methyl transferase (COMT), tạo thành 3-methoxy-4-hydroxyphenylglycol (MHPG) Chuyển hóa 5-HT được thực hiện chủ yếu thông qua monoamin oxidase A (MAO-A), sản phẩm chuyển hóa cuối cùng là 5-hydroxyindoleacetic acid (5-HIAA) [45], [46], [47]

Trang 17

Hình 1.1 Cơ chế dẫn truyền thần kinh của NE và 5-HT [31]

Bằng chứng thuyết phục nhất của giả thiết monoamin là việc các thuốc chống trầm cảm hiện nay đều ảnh hưởng đáng kể lên hệ monoaminergic Các nhóm thuốc này đều làm tăng mật độ của 5-HT, NE hoặc DA tại khe synap Việc phát triển các thuốc chống trầm cảm có tác dụng trên các hệ thống dẫn truyền thần kinh khác vẫn chưa cho thấy kết quả [31], [48]

Các bệnh nhân trầm cảm có đáp ứng với thuốc chống trầm cảm hệ serotonergic như fluoxetin thường tái phát nhanh khi thực hiện chế độ ăn không có tryptophan Trong khi đó, những bệnh nhân đáp ứng với thuốc chống trầm cảm hệ noradrenergic như desipramin ít có khả năng tái phát với chế độ ăn trên Tương tự, giảm catecholamin ở các bệnh nhân trầm cảm đã đáp ứng với thuốc chống trầm cảm hệ

Trang 18

noradrenergic cũng cho thấy xu hướng tái phát của bệnh Sử dụng chất ức chế tổng hợp norepinephrin làm tái phát các triệu chứng trầm cảm ở các bệnh nhân đáp ứng với thuốc hệ noradrenergic nhưng không phải luôn xuất hiện ở bệnh nhân có đáp ứng với thuốc chống trầm cảm hệ serotonergic [31] Điều này cho thấy sự cần thiết phải duy trì nồng độ NE và 5-HT để đảm bảo cho đáp ứng của thuốc

Một số nghiên cứu cho thấy có sự thay đổi số lượng thụ thể 5-HT1A và 5-HT2C

hoặc α2-adrenergic ở bệnh nhân trầm cảm và tự tử, nhưng phát hiện giữa các nhóm nghiên cứu vẫn chưa thống nhất Giảm chất chuyển hóa chính của 5-HT là 5-HIAA trong dịch não tủy có liên quan đến hành vi bạo lực và bốc đồng, bao gồm tự tử bạo lực (violent suicide) [31], [51]

Bằng chứng từ nghiên cứu gen cũng ủng hộ cho giả thiết monoamin Các đối tượng đồng hợp tử allen ngắn dễ bị trầm cảm hơn và có hành vi tự tử khi gặp stress Ngoài ra, đồng hợp tử allen ngắn cũng ít đáp ứng và dung nạp thuốc chống trầm cảm

hệ serotonergic Ngược lại, các đối tượng có allen dài có xu hướng kháng lại stress tốt hơn và đáp ứng tốt với các thuốc chống trầm cảm hệ serotonergic

Bên cạnh giả thiết monoamin, cũng có nhiều chứng cứ ủng hộ cho giả thiết dinh dưỡng thần kinh Stress và đau đớn liên quan đến giảm nồng độ yếu tố dinh dưỡng thần kinh có nguồn gốc từ não (BDNF), làm giảm thể vùng hồi hải mã (hippocampus)

và các khu vực khác như vỏ não trán giữa (medial frontal cortex) và vỏ não vành trước (anterior cingulate) Hồi hải mã có vai trò quan trọng trong việc lưu giữ, gợi lại trí nhớ về cảm xúc, nhận thức và điều khiển trục dưới đồi - tuyến yên - thượng thận (HPA) Tương tự, vỏ não vành trước có vai trò trong việc kết hợp các chức năng kích thích cảm xúc và chú ý, trong khi đó vỏ não trán giữa cũng có vai trò trong việc ghi nhớ, học tập, và cảm xúc Trầm cảm có liên quan đến giảm nồng độ BDNF trong dịch não tủy và huyết thanh cũng như giảm hoạt động của thụ thể tyrosin kinase B (TrkB) BDNF được cho là ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển tế bào thần kinh bằng cách hoạt hóa các thụ thể TrkB ở cả tế bào thần kinh và tế bào thần kinh đệm Truyền trực tiếp BDNF vào vùng não giữa, vùng hồi hải mã, và não thất bên cũng như sử dụng các thuốc chống trầm cảm hay các can thiệp có hiệu quả khác như liệu pháp sốc điện

Trang 19

làm tăng nồng độ BDNF và tăng sinh tế bào thần kinh trên các mô hình động vật Ngược lại, sử dụng các thuốc chống trầm cảm làm tăng nồng độ BDNF trong các thử nghiệm lâm sàng và có thể liên quan đến việc tăng thể tích vùng hồi hải mã ở một số bệnh nhân Tuy nhiên một số nghiên cứu lại cho các kết quả ngược lại [31]

Những thay đổi trong dẫn truyền thần kinh glutamat cũng có thể có liên quan đến trầm cảm Bệnh nhân trầm cảm đã được chứng minh là có nồng độ glutamat trong

vỏ não tăng Điều trị bằng thuốc chống trầm cảm có thể làm giảm giải phóng glutamat

và làm suy giảm chức năng thụ thể N-methyl-D-aspartat (NMDA) [48]

Ngoài hai giả thiết trên, trầm cảm cũng được cho là có liên quan đến một số bất thường nội tiết, trong số đó có bất thường ở trục HPA trên bệnh nhân trầm cảm nặng Bệnh nhân trầm cảm thường có nồng độ cortisol tăng, không làm ức chế giải phóng hormon vỏ thượng thận (ACTH) trong test ức chế dexamethason, và làm tăng cao mạn tính nồng độ hormon giải phóng corticotropin (CRH) CRH phân bố rộng rãi trong não và có ảnh hưởng đến hành vi Khi được tiêm vào trong não của động vật thí nghiệm, CRH mô phỏng một số khía cạnh của bệnh trầm cảm trên người, chẳng hạn như giảm hoạt động, mất cảm giác ngon miệng và có dấu hiệu tăng lo lắng Rối loạn tuyến giáp cũng được báo cáo ở những bệnh nhân trầm cảm Bệnh nhân suy giáp lâm sàng thường có biểu hiện trầm cảm, được điều trị bằng cách bổ sung hormon tuyến giáp Hormon tuyến giáp cũng thường được sử dụng kết hợp với các thuốc chống trầm cảm để tăng hiệu quả điều trị Steroid sinh dục cũng liên quan đến bệnh sinh trầm cảm Trạng thái thiếu hụt estrogen xảy ra trong giai đoạn sau sinh và mãn kinh được cho là có vai trò trong bệnh sinh trầm cảm ở nữ giới Tương tự, thiếu hụt testosteron ở nam giới cũng có liên quan đến các triệu chứng trầm cảm Liệu pháp thay thế hormon ở nam giới và nữ giới có suy giảm chức năng sinh dục có thể liên quan đến sự cải thiện tâm trạng và triệu chứng trầm cảm [31]

Các giả thiết bệnh sinh vừa được mô tả không loại trừ lẫn nhau Các monoamin, thần kinh nội tiết và hệ thống dinh dưỡng thần kinh có liên quan đến nhau Ví dụ, HPA và bất thường steroid có thể ức chế phiên mã gen BDNF Thụ thể glucocorticoid

có mật độ cao trong vùng hồi hải mã, liên kết của các thụ thể này với cortisol trong

Trang 20

trạng thái stress mạn tính như trầm cảm nặng có thể làm giảm tổng hợp BDNF, dẫn đến giảm thể tích các khu nhạy cảm với stress như vùng hồi hải mã Sự hoạt hóa kéo dài các thụ thể monoamin do các thuốc chống trầm cảm có tác dụng đối kháng với stress và kết quả làm tăng phiên mã BDNF Ngoài ra, kích hoạt các thụ thể monoamin

có tác dụng điều hòa xuống trục HPA và bình thường hóa chức năng của HPA [31] Giả thiết monoamin và giả thiết dinh dưỡng thần kinh vẫn có những thiếu sót Trên thực tế, những tác dụng hóa học thần kinh của thuốc chống trầm cảm xuất hiện rất nhanh (từ vài phút đến vài giờ), trong khi phải mất đến vài tuần để có các tác dụng chống trầm cảm trên lâm sàng [48] Có một số giải thích đã được đề xuất:

 Sự hoạt hóa kéo dài các thụ thể monoamin do các thuốc chống trầm cảm được cho là có khả năng làm tăng phiên mã BDNF Tuy nhiên, các yếu

tố dinh dưỡng thần kinh cần có thời gian để tổng hợp Thời gian tổng hợp protein của BDNF thường mất 2 tuần hoặc lâu hơn và trùng với thời gian xuất hiện tác dụng trên lâm sàng của thuốc chống trầm cảm [31]

 Hầu hết các loại thuốc chống trầm cảm làm tăng nồng độ serotonin ở khe synap và dẫn đến điều hòa xuống các thụ thể điều hòa ngược trước synap Các nhà nghiên cứu cho rằng việc điều hòa xuống làm tăng tốc độ dẫn truyền của tế bào thần kinh serotonin Do đó tác dụng trên lâm sàng của các thuốc chống trầm cảm bị trì hoãn và chỉ có thể xuất hiện sau một thời gian điều trị [14]

1.1.5 Điều trị rối loạn trầm cảm bằng các thuốc hóa dược

Có 3 giai đoạn điều trị cho bệnh nhân rối loạn trầm cảm nặng: giai đoạn cấp kéo dài khoảng 6 – 12 tuần, mục tiêu là đạt được trạng thái thuyên giảm (remission); giai đoạn tiếp theo kéo dài 4 – 9 tháng sau khi đạt trạng thái thuyên giảm, với mục tiêu lúc này là loại bỏ các triệu chứng hoặc ngăn ngừa tái phát bệnh (không có triệu chứng trong vòng 6 tháng thuyên giảm bệnh); giai đoạn duy trì kéo dài ít nhất 12 – 36 tháng với mục tiêu bệnh không tái phát (ví dụ, một giai đoạn trầm cảm riêng biệt) Việc điều trị rối loạn trầm cảm thường bao gồm các biện pháp không dùng thuốc và biện pháp dùng thuốc Biện pháp không dùng thuốc gồm có tâm lý trị liệu và liệu pháp sốc

Trang 21

điện, trong đó tâm lý trị liệu được khuyến cáo sử dụng như liệu pháp điều trị đầu tay trên những bệnh nhân trầm cảm nhẹ đến vừa [56] Với biện pháp dùng thuốc, có 5 nhóm thuốc chống trầm cảm nguồn gốc hóa dược chính sử dụng trong điều trị bao gồm: thuốc chống trầm cảm ba vòng, thuốc ức chế monoamin oxidase, thuốc ức chế tái thu hồi chọn lọc serotonin, thuốc ức chế tái thu hồi serotonin-norepinephrin, thuốc chống trầm cảm không điển hình [1], [16], [41], [49], [56]

 Các thuốc chống trầm cảm ba vòng (TCAs)

- Chỉ định: Hiệu quả trong điều trị trầm cảm trung bình đến nặng và điều trị

trầm cảm kháng trị không đáp ứng với các liệu pháp mới

- Cơ chế: Ức chế tái thu hồi serotonin và noradrenalin về bọc dự trữ ở cúc tận

cùng trước synap, làm tăng hoạt tính serotoninergic và noradrenergic trung ương

- Thuốc sử dụng: imipramin, amitriptylin, clomipramin, desipramin, doxepin

 Các thuốc ức chế monoamin oxidase (IMAO)

- Chỉ định: Chỉ định cho các bệnh nhân trầm cảm không đáp ứng hoặc dị ứng

với TCA và SSRI hoặc những bệnh nhân cảm thấy lo âu nhiều Nhóm này đặc biệt

có hiệu quả trong điều trị trầm cảm không điển hình Do nguy cơ tương tác thuốc, IMAO được coi là lựa chọn cuối cùng

- Cơ chế: Ức chế hoạt tính monoamin oxidase, ngăn phân hủy các chất dẫn

truyền monoamin và do đó tăng dự trữ các chất này Có 2 dạng: A và

MAO-B MAO-A ưu tiên deamin hóa serotonin, melatonin, adrenalin và noradrenalin MAO-B ưu tiên deamin hóa phenylethylamin Dopamin bị deamin hóa ngang bằng bởi hai loại

- Thuốc sử dụng: phenelzin, tranylcypromin, isocarboxazid, selegilin

 Các thuốc chống trầm cảm ức chế tái thu hồi chọn lọc serotonin (SSRI)

- Chỉ định: Là thuốc đầu tay để điều trị rối loạn trầm cảm, tác dụng tương tự

TCA nhưng khả năng dung nạp tốt và ít tác dụng không mong muốn so với các nhóm thuốc khác

- Cơ chế: Ức chế chọn lọc tái thu hồi serotonin về bọc dự trữ ở cúc tận cùng

trước synap, làm tăng hoạt tính serotoninergic trung ương

Trang 22

- Thuốc sử dụng: fluoxetin, citalopram, escitalopram, fluvoxamin, paroxetin

 Các thuốc ức chế tái thu hồi serotonin – norepinephrin (SNRI)

- Chỉ định: Được chỉ định điều trị trầm cảm, được cho là có hiệu quả trên cả

những bệnh nhân không có đáp ứng với SSRI

- Cơ chế: Ức chế tái thu hồi serotonin và noradrenalin về bọc dự trữ ở cúc tận

cùng trước synap, làm tăng hoạt tính serotoninergic và noradrenergic trung ương Các thuốc nhóm SNRI khác với TCA ở chỗ nó có rất ít hoạt động tại α-adrenergic, muscarinic, hoặc thụ thể histamin, do đó ít có các tác dụng không mong muốn qua trung gian thụ thể hơn

- Thuốc sử dụng: venlafaxin, desvenlafaxin, duloxetin, levomilnacipran

 Các thuốc chống trầm cảm không điển hình

- Bupropion: Bupropion là chất ức chế tái thu hồi dopamin và norepinephrin,

được sử dụng để điều trị trầm cảm, ngăn ngừa các rối loạn trầm cảm theo mùa, làm giảm bớt các triệu chứng của bệnh trầm cảm Ngoài ra, cơ chế của nó có thể liên quan đến việc giải phóng norepinephrin và dopamin trước synap

- Mirtazapin: Mirtazapin có tác dụng an thần khá mạnh, sử dụng để điều trị cho

các bệnh nhân trầm cảm có mất ngủ Cơ chế của thuốc là tăng cường hoạt động của serotonin và norepinephrin thông qua đối kháng thụ thể α2-adrenergic trước synap Thuốc cũng đối kháng với thụ thể 5-HT2 và 5-HT3 cũng như các thụ thể histamin

- Nefazodon và trazodon: Trazodon và nefazodon hiệu quả trong điều trị trầm

cảm và gây ngủ; tuy nhiên việc sử dụng đang bị hạn chế do có báo cáo về độc tính trên gan Cơ chế của các thuốc này là đối kháng với các thụ thể 5-HT2a sau synap 1.2 Mô hình trầm cảm trên động vật thực nghiệm

Cơ chế sinh học thần kinh của trầm cảm vẫn chưa được hiểu rõ hoàn toàn Do

đó, đã có nhiều nghiên cứu được thực hiện nhằm xây dựng các mô hình động vật mô phỏng trạng thái bệnh lý ở người [10] Tuy nhiên, rất khó để có một mô hình động vật mô phỏng hoàn toàn các triệu chứng trầm cảm ở người [25], do các rối loạn nổi bật như tâm trạng chán nản, cảm giác buồn bã, tội lỗi, tự ti hoặc ý định tự tử không thể quan sát ở động vật [10], [25] Trầm cảm được cấu thành bởi các nhóm hành vi,

Trang 23

những hành vi này có thể mô phỏng một cách độc lập và đánh giá ở động vật, bao gồm sinh lý, nội tiết và thay đổi giải phẫu thần kinh cũng như đặc điểm hành vi (Bảng 1.1) [25]

Bảng 1.1 Các loại hành vi liên quan đến trầm cảm có thể mô hình hóa trên động vật Mất khoái cảm

(anhedonia)

Việc mất quan tâm đến các hoạt động ưa thích là một triệu chứng chính của bệnh trầm cảm Mất khoái cảm ở loài gặm nhấm có thể được đánh giá bằng khả năng tiêu thụ đồ ăn ưa thích như dung dịch saccarose hoặc bằng cách tự kích thích nội sọ

Hành vi lo âu Lo âu là một triệu chứng rất dễ gặp trong trầm cảm Vì vậy, mô

hình động vật được sử dụng để làm sáng tỏ cơ chế của trầm cảm thường thể hiện các biến đổi hành vi do lo âu

Rối loạn thần

kinh nội tiết

Rối loạn trục HPA là một trong những triệu chứng thường gặp trong trầm cảm Chức năng của trục HPA có thể dễ dàng được đánh giá bằng test ức chế dexamethason hoặc test kết hợp dexamethason và CRH

trong ăn uống

hoặc tăng cân

Trầm cảm ở người thường gắn liền với những thay đổi lớn về cảm giác thèm ăn hoặc tăng cân, có thể dễ dàng đo được ở các loài gặm nhấm

Giải phẫu thần

kinh

Các đối tượng trầm cảm cho thấy có sự giảm thể tích vùng hồi hải mã qua hình ảnh cộng hưởng từ Động vật gặm nhấm tiếp xúc với stress mạn tính hoặc dư thừa glucocorticoid sẽ có các dấu hiệu tương tự như giảm thể tích vùng hồi hải mã và teo tế bào nhánh thần kinh

Trang 24

McKinney và Bunny đã đề xuất các điều kiện tối thiểu cho một mô hình trầm cảm trên động vật [40] Theo đó, mô hình cần thỏa mãn các tiêu chí sau:

 Mô phỏng những triệu chứng tương tự ở người

 Những thay đổi hành vi có thể ghi nhận một cách khách quan

 Những thay đổi này có thể đảo ngược bởi các phương pháp điều trị đã có hiệu quả trên người

 Có tính lặp lại giữa các nhóm nghiên cứu

Bằng cách sử dụng mô hình động vật, các thay đổi ở cấp độ phân tử và mối quan

hệ nhân quả giữa những biến đổi về gen hoặc môi trường, rối loạn trầm cảm có thể được kiểm tra và sẽ cung cấp được một cái nhìn sâu sắc hơn về cơ chế bệnh lý của trầm cảm [19] Các mô hình trầm cảm trên động vật ngày nay đang được xây dựng

để có thể đáp ứng các tiêu chí đã nêu, bao gồm những mô hình dựa trên kỹ thuật gen, gây tổn thương não và các thay đổi môi trường Trong thực tế, có rất ít mô hình trầm cảm đáp ứng đầy đủ các tiêu chí Tuy nhiên, không cần thiết phải có một mô hình “lý tưởng" thể hiện được tất cả các bất thường hành vi có liên quan đến trầm cảm, cũng như các bệnh nhân không biểu hiện tất cả các triệu chứng có thể có của bệnh trầm cảm [33]

1.3 Các test đánh giá hành vi trầm cảm trên động vật thực nghiệm

Ban đầu, mô hình trầm cảm trên động vật được thiết kế như các test sàng lọc để đánh giá hiệu quả của thuốc chống trầm cảm Những test này không mô phỏng được các triệu chứng tương tự trên người nhưng có khả năng dự đoán hoạt tính của các thuốc / hóa chất được thăm dò nghiên cứu tác dụng chống trầm cảm

Bảng 1.2 Các test sử dụng để đánh giá một số hành vi trầm cảm ở động vật [25]

Dựa vào hành vi tuyệt vọng

Bơi cưỡng bức Nhạy với nhiều thuốc

Trang 25

Treo đuôi Nhạy với nhiều thuốc

Dựa trên hành vi được thưởng

Tiêu thụ saccarose Đánh giá trạng thái cảm

xúc và động lực Đáp ứng với điều trị trầm cảm mạn tính

Chưa đáp ứng được tính hiệu lực trong mô hình trầm cảm

Tự kích thích nội sọ

Dựa trên hành vi lo âu

Giảm ăn do môi

Khó phân biệt giữa giảm né tránh do lo âu với tăng tìm kiếm trong môi trường mới

Đáp ứng với thuốc chống trầm cảm không đáng tin cậy

Thể tích máu chuột nhắt có hạn, trong khi test đánh giá cần lấy máu nhiều giai đoạn và có thể phải lấy nhiều mẫu

Phối hợp

dexamethason và

CRH

Trang 26

1.3.1 Test bơi cưỡng bức

Một trong những test phổ biến nhất được các nhà nghiên cứu sử dụng để xác định các loại thuốc chống trầm cảm mới là test bơi cưỡng bức (forced swim test, FST), được mô tả lần đầu năm 1977 bởi Porsolt [44] Trong test này, chuột được đặt vào trong một bình trụ chứa đầy nước và không thể thoát ra Ban đầu, chuột sẽ cố gắng trốn thoát nhưng sau đó nó chuyển sang tư thế bất động, chỉ duy trì các hoạt động tối thiểu để giữ cho đầu/mũi ở trên mặt nước Bất động là biểu hiện cho hành vi trầm cảm Test trên chuột cống bao gồm hai pha Lần phơi nhiễm đầu kéo dài 15 phút

và lần thứ hai được thực hiện 24 giờ sau đó, với thời gian thí nghiệm 5 phút Test trên chuột nhắt bao gồm một lần phơi nhiễm duy nhất kéo dài 6 phút, với 2 phút đầu được xem như thời gian thích nghi và 4 phút cuối là thời gian đánh giá

FST dễ sử dụng, có độ lặp lại cao và được dùng để đánh giá các loại thuốc chống trầm cảm mới Các nhóm thuốc chống trầm cảm khác nhau làm giảm thời gian bất động trong FST bằng cách tăng thời gian bơi và/hoặc thời gian trèo/lặn Các thuốc ảnh hưởng đến dẫn truyền thần kinh hệ noradrenergic (ví dụ, imipramin) làm tăng hành vi trèo/lặn (chuyển động dọc), trong khi các thuốc ảnh hưởng đến dẫn truyền thần kinh hệ serotonergic (ví dụ, fluoxetin, citalopram) làm tăng thời gian bơi (chuyển động ngang) [18] Tác dụng của thuốc chống trầm cảm trên hành vi ở FST tương đối

rõ ràng do nó không làm tăng hoạt động tự nhiên của chuột, không kích thích tâm thần như amphetamin và cocain [30]

1.3.2 Test treo đuôi

Một test thông dụng khác dựa trên các giả định và giải thích tương tự như FST

là test treo đuôi (tail suspension test, TST) Test này dựa trên thực tế khi động vật chịu các stress ngắn hạn, không thể trốn thoát như bị treo đuôi sẽ rơi vào trạng thái bất động [22] Trong TST, chuột bị treo đuôi trong thời gian 6 phút, ghi nhận và đánh giá thời gian bất động Test TST có hiệu lực với rất nhiều thuốc chống trầm cảm, do những thuốc này làm giảm đáng kể thời gian bất động

Hành vi trong TST không bị ảnh hưởng bởi hiện tượng hạ thân nhiệt gặp trong FST [36] Ưu điểm của TST là đơn giản, không tốn kém, và cho phép tự động hóa

Trang 27

Trong khi đó, nhược điểm là ứng dụng bị hạn chế trong chuột nhắt và giới hạn trong các chủng không có xu hướng leo lên đuôi Ngoài ra, cả TST và FST đều không phản ánh được sự khởi phát chậm tác dụng chống trầm cảm như đã quan sát thấy trên người

và các test này không có khả năng mô phỏng triệu chứng cũng như cơ chế bệnh sinh tương tự trên người [22]

1.3.3 Test tiêu thụ saccarose

Test tiêu thụ saccarose (sucrose preference test, SPT) cũng thường được sử dụng, dựa trên việc đánh giá mức giảm khả năng tiêu thụ thức ăn yêu thích của chuột Trong test này, chuột được tự do lựa chọn uống nước hoặc dung dịch saccarose Chuột được tiếp cận với hai chai nước có sẵn - một chứa nước thường và chai kia chứa dung dịch saccarose (thường là 1 hoặc 2%) Đo thể tích dung dịch saccarose và nước được tiêu thụ Tính lượng saccarose theo phần trăm so với tổng lượng chất lỏng đã được tiêu thụ và lượng saccarose tiêu thụ theo mg/g trọng lượng cơ thể chuột Thông thường, những chuột khỏe mạnh sẽ ưa thích nước ngọt, trong khi đó ở động vật có biểu hiện trầm cảm sẽ ít thể hiện xu hướng này Việc tiêu thụ saccarose dưới 65% được coi là có biểu hiện của hành vi trầm cảm [54]

Test tiêu thụ saccarose có ưu điểm là khả năng lặp lại trên cùng một cá thể chuột Như vậy, trong nghiên cứu sử dụng stress nhẹ mạn tính, có thể tiến hành pretest, test lại sau 3 tuần điều trị, và test lần nữa vào cuối đợt điều trị Sau đó phân tích dữ liệu trong lô và giữa các lô chuột nghiên cứu [42]

1.4 Tác dụng dược lý hướng thần kinh và tâm thần của l-tetrahydropalmatin Tetrahydropalmatin (THP) là một alcaloid được tìm thấy ở hầu hết các loài

thuộc chi Stephania, đã được chứng minh là có khả năng cải thiện nhiều triệu chứng

bệnh lý trên các hệ thần kinh trung ương và hệ miễn dịch

Tác dụng an thần và giảm đau của THP được chứng minh có liên quan tới hoạt tính đối kháng của thuốc trên hệ dopaminergic, giảm dần theo thứ tự D1, D2, D3 [29] Trên mô hình tăng cường thời gian ngủ do thiopental, Phạm Duy Mai và cộng sự cho

thấy gindarin hydrochlorid (l-tetrahydropalmatin hydrochlorid) mức liều 30 mg/kg

kéo dài thời gian ngủ do thiopental lên 1,5 lần so với lô chứng [3] Nghiên cứu của

Trang 28

Nguyễn Tiến Vững cũng cho thấy l-THP mức liều 40 mg/kg làm tăng thời gian ngủ

do thiopental lên 8 lần so với nhóm chứng [8] Ngoài ra, trong nghiên cứu của Lê

Doãn Trí, l-THP mức liều 10 mg/kg và 100 mg/kg cũng thể hiện tác dụng an thần rõ

rệt tương tự diazepam [5], và có tác dụng giảm đau ở mức liều 30 mg/kg [9]

Tác dụng ức chế thần kinh trung ương của dl-THP đã được chứng minh bằng

cách xác định thành phần các sóng điện não trong vỏ não vùng cảm giác-vận động và

trong thể lưới thân vỏ não l-THP cho thấy tác dụng tăng cường ức chế tế bào thần

kinh ở vỏ bán cầu đại não và thể lưới thân não [8]

Tác dụng hạ huyết áp động mạch và giảm nhịp tim liên quan tới quá trình giải phóng của hệ thần kinh serotonergic ở vùng dưới đồi [20] THP có tác dụng đối kháng thụ thể α1-adrenergic, chủ vận trên α2-adrenergic và là chất điều hòa dị lập thể dương tính của thụ thể GABAA [58] THP đối kháng tác dụng hoạt hóa các thụ thể serotonin, noradrenalin và dopamin do cocain gây ra Tác dụng trên thụ thể 5-HT1A và α-adrenergic giúp giảm nhẹ tác dụng ngoại tháp do đối kháng dopamin [39] THP có tác dụng giảm các triệu chứng trong quá trình cai nghiện cocain và heroin ở chuột cống [39], [65], làm giảm sự thèm muốn và tình trạng tái nghiện trong quá trình cai nghiện heroin [61] THP ức chế sự phụ thuộc tâm thần gây ra bởi oxycodon thông qua ảnh hưởng tới sự phosphoryl hóa CREB (cyclic-AMP response element-binding protein) và ERK (Extracellular signal-regulated kinases) ở nhân vòng và hồi hải mã

ở chuột cống [37]

Về tác dụng giải lo âu, nghiên cứu của Leung cho thấy, THP ở liều thấp (0,5 -

10 mg/kg) có tác dụng giải lo âu rõ rệt Trong khi đó, tác dụng an thần và giãn cơ chỉ thể hiện ở liều cao (50 mg/kg) Tác dụng giải lo âu của THP bị đối kháng bởi flumazenil, một chất cạnh tranh vị trí gắn của benzodiazepin trên thụ thể GABAA, chứng tỏ cơ chế giải lo âu của THP một phần thông qua tương tác với vị trí gắn của benzodiazepin trên thụ thể GABAA [35] Một nghiên cứu khác đã phát hiện: dl-THP

thể hiện tác dụng giải lo âu rõ rệt ở các mức liều 0,1 mg/kg đến 50 mg/kg [63], còn

l-THP thể hiện tác dụng giải lo âu rõ rệt ở các mức liều từ 0,1 mg/kg đến 2,5 mg/kg

Tác dụng an thần xuất hiện ở mức liều cao (5 mg/kg) [62], đồng thời cơ chế tác dụng

Trang 29

có thể liên quan đến khả năng dl-THP và l-THP là những chất chủ vận tại vị trí gắn

benzodiazepin trên thụ thể GABAA đã được đề xuất [62], [63] Ngoài ra, theo Lê

Doãn Trí, l-THP khi sử dụng liều đơn và liều lặp lại 5 ngày bằng đường uống tại các

mức liều từ 0,1 mg/kg đến 1 mg/kg thể hiện tác dụng giải lo âu Tác dụng giải lo âu giảm dần trong khi tác dụng an thần tăng lên khi tăng dần liều (từ 3 mg/kg đến

100mg/kg) [5] Một nghiên cứu khác cũng cho thấy l-THP tại hai mức liều 0,3 mg/kg

và 1,0 mg/kg lặp lại 5 ngày theo đường uống thể hiện tác dụng giải lo âu rõ rệt trên đối tượng chuột được gây lo âu thực nghiệm bằng phương pháp nuôi cô lập [7]

Về ảnh hưởng trên hoạt động tự nhiên, Kai Yue và cộng sự đã cho thấy l-THP

ở mức liều 5 mg/kg làm giảm rõ rệt khả năng hoạt động trên chuột cống, trong khi các mức liều thấp hơn không cho thấy ảnh hưởng này [65] Nghiên cứu của Hong

Xue và cộng sự cho thấy mức liều làm giảm hoạt động tự nhiên của dl-THP và l-THP

tương ứng là: từ 0,1 mg/kg đến 100 mg/kg và từ 5 mg/kg đến 40 mg/kg [62], [63]

Nghiên cứu của Lê Doãn Trí và cộng sự cho thấy l-THP ở các mức liều giải lo âu (từ

0,1 mg/kg đến 1 mg/kg) không ảnh hưởng tới hoạt động tự nhiên của chuột cả khi sử dụng liều đơn và sử dụng liều lặp lại 5 ngày [5]

Hiện tại các nghiên cứu về THP vẫn đang tập trung vào tác dụng giải lo âu, trong khi đó vẫn chưa có nhiều nghiên cứu đánh giá tác dụng chống trầm cảm của

THP Trong nghiên cứu của Lê Doãn Trí và cộng sự, l-THP mức liều thấp (0,1 mg/kg

và 0,3 mg/kg) thể hiện tác dụng chống trầm cảm trên chuột cống tương tự chất đối chiếu clomipramin [5] Tuy nhiên cơ chế của tác dụng này vẫn chưa được hiểu rõ

Ứng dụng trong điều trị, l-THP từ lâu đã được sử dụng để điều trị một số rối loạn bệnh lý tâm thần và thần kinh Tại Trung Quốc, hiệu quả của l-THP như một

thuốc giảm đau không opioid, một hoạt chất an thần/giải lo âu, hỗ trợ điều trị cai nghiện dẫn đến sự phê duyệt trong chỉ định điều trị các bệnh lý tương ứng cho thuốc [58] Tại Việt Nam, nhiều sản phẩm chứa THP lưu hành trên thị trường với các biệt dược: Rotundin, Rotundin 30, Rotunda đã được sử dụng với chỉ định điều trị an thần gây ngủ, giảm đau, hỗ trợ điều trị cai nghiện

Trang 30

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

l-tetrahydropalmatin (Rotundin) đạt tiêu chuẩn kiểm nghiệm với hàm lượng 98,4%, được cung cấp bởi công ty Cổ Phần Dược phẩm Tâm Hiếu Đức Mẫu l-THP

được kiểm nghiệm tại phòng kiểm tra chất lượng, công ty cổ phần Traphaco theo tiêu chuẩn cơ sở CP 1998

2.1.2 Hóa chất, dụng cụ và thiết bị

Clomipramin (biệt dược Clomidep 25 mg của Công ty Sun Pharmaceutical Industries, Ấn Độ), fluoxetin (biệt dược Nufotin 20mg của Công ty cổ phần Dược Danapha, Việt Nam)

Tween 80, NaCMC

Bơm, kim tiêm nhựa, đồng hồ bấm giây, nhiệt kế, bóng đèn 60W, đèn bàn, cân phân tích, cân kỹ thuật

Cốc có mỏ 100, 250 ml, bình định mức 10, 20, 25, 50 và 100 ml, chày, cối, micropipet1 ÷ 5 ml và một số dụng cụ dùng trong chăn nuôi và pha chế của bộ môn Dược lực, trường Đại học Dược Hà Nội

2.1.3 Động vật thí nghiệm

Chuột nhắt trắng giống đực, chủng Swiss albino khỏe mạnh, khối lượng 18 – 22

g do Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung Ương cung cấp

Chuột cống trắng giống cái, chủng Wistar khỏe mạnh, khối lượng 100 – 120 g

do Học viện Quân Y cung cấp

Động vật được nuôi trong điều kiện nhiệt độ 24 ± 1oC, ánh sáng tự nhiên, được nuôi bằng thức ăn chuẩn, uống nước tự do, chu kỳ sáng/tối 12 giờ

2.1.4 Chuẩn bị thuốc thử

Thuốc thử được sử dụng dưới dạng hỗn dịch: l-THP, clomipramin, fluoxetin

được phân tán đồng nhất trong Tween 80 1% hoặc NaCMC 0,5% để đạt được nồng

độ mong muốn Tất cả các thuốc đều được sử dụng theo đường uống

Trang 31

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Sơ đồ thiết kế nghiên cứu

Hình 2.1 Sơ đồ thiết kế nghiên cứu

l-tetrahydropalmatin

Đánh giá tác dụng chống trầm cảm, test FST và/hoặc test TST

Triển khai test đánh giá trầm cảm

Đánh giá hành vi trầm cảm, test treo đuôi (TST) Chuột nhắt

Test phù hợp

Đánh giá ảnh hưởng trên hoạt động tự nhiên của chuột, test môi trường mở (OFT)

Trang 32

2.2.2 Nội dung nghiên cứu

Nghiên cứu được thiết kế thành 3 đợt thí nghiệm với các nội dung sau đây: Đợt 1: Thí nghiệm trên chuột cống trắng, đánh giá ảnh hưởng của clomipramin

và fluoxetin trên các test FST và test OFT

Đợt 2: Thí nghiệm trên chuột nhắt trắng, đánh giá ảnh hưởng của clomipramin trên các test FST, test TST và test OFT

Đợt 3: Thí nghiệm trên chuột cống trắng và chuột nhắt trắng, đánh giá tác dụng

chống trầm cảm của l-tetrahydropalmatin trên các test phù hợp

2.2.3 Thiết kế nghiên cứu

Đợt 1: Đánh giá ảnh hưởng của clomipramin và fluoxetin trên chuột cống trắng bằng test FST và test OFT

Chuột cống trắng giống cái được chia ngẫu nhiên thành 3 lô (mỗi lô 9 con), uống thuốc liên tục trong 21 ngày, bao gồm:

 Lô chứng (Tween80): uống dung môi chứa Tween 80 1%

 Lô FLX10: uống fluoxetin liều 10 mg/kg

 Lô CLM25: uống clomipramin liều 25 mg/kg

Vào ngày thứ 21, sau khi uống thuốc 1 giờ, tiến hành đánh giá hành vi trầm cảm của chuột trên test bơi cưỡng bức (FST) và khả năng vận động tự nhiên của chuột trên test môi trường mở (OFT) theo mô tả ở mục 2.2.5 Thí nghiệm được thực hiện theo sơ đồ sau:

Hình 2.2 Sơ đồ thí nghiệm đợt 1

Trang 33

Đợt 2: Đánh giá ảnh hưởng của clomipramin trên chuột nhắt trắng bằng test FST, test TST và test OFT

Chuột nhắt trắng giống đực được chia ngẫu nhiên thành 2 lô (mỗi lô 10 con), uống thuốc liên tục trong 21 ngày, bao gồm:

 Lô chứng (NaCMC): uống dung môi chứa NaCMC 0,5%

 Lô CLM25: uống clomipramin liều 25 mg/kg

Vào ngày thứ 21, sau khi uống thuốc 1 giờ, tiến hành đánh giá hành vi trầm cảm của chuột trên test bơi cưỡng bức (FST) và test treo đuôi (TST), khả năng vận động

tự nhiên của chuột trên test môi trường mở (OFT) theo mô tả ở mục 2.2.5 Thí nghiệm được thực hiện theo sơ đồ sau:

 Lô chứng (Tween80): uống dung môi chứa Tween 80 1%

 Lô l-THP 0,1: uống l-THP liều 0,1 mg/kg

 Lô l-THP 0,3: uống l-THP liều 0,3 mg/kg

 Lô l-THP 1: uống l-THP liều 1 mg/kg

 Lô l-THP 3: uống l-THP liều 3 mg/kg

 Lô l-THP 10: uống l-THP liều 10 mg/kg

Ngày đăng: 16/08/2016, 15:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Bộ Y tế, Tổng cục Thống kê, Tổ chức Y tế thế giới (WHO), Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) (2005), Điều tra Quốc gia về Vị thành niên và Thanh niên Việt Nam, tr. 73 - 85 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra Quốc gia về Vị thành niên và Thanh niên Việt Nam
Tác giả: Bộ Y tế, Tổng cục Thống kê, Tổ chức Y tế thế giới (WHO), Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF)
Năm: 2005
3. Phạm Duy Mai, Phan Đức Thuận (1986), "Tác dụng dược lý của bình vôi", Công trình NCKH Viện Dược liệu 1972 - 1986, NXB Y học, Hà Nội, tr. 55 - 57 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác dụng dược lý của bình vôi
Tác giả: Phạm Duy Mai, Phan Đức Thuận
Nhà XB: NXB Y học
Năm: 1986
4. Đinh Nữ Hạnh Thục, Nguyễn Ngọc Khôi (2010), "Thăm dò tác dụng chống trầm cảm của một số công thức phối hợp từ cam thảo, nghệ và nhân sâm", Tạp chí Dược học, 50(406), tr. 17 - 20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thăm dò tác dụng chống trầm cảm của một số công thức phối hợp từ cam thảo, nghệ và nhân sâm
Tác giả: Đinh Nữ Hạnh Thục, Nguyễn Ngọc Khôi
Nhà XB: Tạp chí Dược học
Năm: 2010
5. Lê Doãn Trí, Đỗ Văn Quân, Nguyễn Thu Hằng, Nguyễn Quốc Huy, Nguyễn Hoàng Anh (2014), "Đánh giá tác dụng giải lo âu trên động vật thực nghiệm của l-tetrahydropalmatin", Tạp chí Dược học, 54(464), tr. 64 - 68 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá tác dụng giải lo âu trên động vật thực nghiệm của l-tetrahydropalmatin
Tác giả: Lê Doãn Trí, Đỗ Văn Quân, Nguyễn Thu Hằng, Nguyễn Quốc Huy, Nguyễn Hoàng Anh
Nhà XB: Tạp chí Dược học
Năm: 2014
6. Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên (2008), Bài giảng Bệnh Tâm thần, NXB Y học, tr. 42 - 50 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng Bệnh Tâm thần
Nhà XB: NXB Y học
Năm: 2008
7. Pha ̣m Đức Vi ̣nh, Nguyễn Thu Hằng, Đỗ Văn Quân, Lê Ngọc Quỳnh Giao, Nguyễn Hoàng Anh (2016), "Nghiên cứu tác dụng giải lo của l- tetrahydropalmatin trên động vật thực nghiệm được gây lo âu bằng phương pháp nuôi cô lập", Tạp chí Dược liệu, 21, tr. 106 - 110 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tác dụng giải lo của l- tetrahydropalmatin trên động vật thực nghiệm được gây lo âu bằng phương pháp nuôi cô lập
Tác giả: Pha ̣m Đức Vi ̣nh, Nguyễn Thu Hằng, Đỗ Văn Quân, Lê Ngọc Quỳnh Giao, Nguyễn Hoàng Anh
Nhà XB: Tạp chí Dược liệu
Năm: 2016
9. Phạm Văn Vượng, Nguyễn Thị Bích Luyện (2007), "Tác dụng dược lý của siro Laroxen len một số chức năng thần kinh trung ương trên thực nghiệm", Tạp chí Y Dược học Quân sự, 1, tr. 4 - 7.TIẾNG ANH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác dụng dược lý của siro Laroxen len một số chức năng thần kinh trung ương trên thực nghiệm
Tác giả: Phạm Văn Vượng, Nguyễn Thị Bích Luyện
Nhà XB: Tạp chí Y Dược học Quân sự
Năm: 2007
10. Abelaira H.M., Reus G.Z., Quevedo J. (2013), "Animal models as tools to study the pathophysiology of depression", Revista Brasileira de Psiquiatria, 35, pp. 112 - 120 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Animal models as tools to study the pathophysiology of depression
Tác giả: Abelaira H.M., Reus G.Z., Quevedo J
Nhà XB: Revista Brasileira de Psiquiatria
Năm: 2013
11. Association American Psychiatric (2013), Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders, Fifth Edition, pp. 37 - 41 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders, Fifth Edition
Tác giả: Association American Psychiatric
Năm: 2013
12. B. Brigitta (2002), "Pathophysiology of depression and mechanisms of treatment", Dialogues in Clinical Neuroscience 4, pp. 7 - 20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pathophysiology of depression and mechanisms of treatment
Tác giả: B. Brigitta
Nhà XB: Dialogues in Clinical Neuroscience
Năm: 2002
13. Blokland A., Ten Oever S., Van Gorp D., Van Draanen M., Schmidt T., Nguyen E., Krugliak A., Napoletano A., Keuter S., Klinkenberg I. (2012),"The use of a test battery assessing affective behavior in rats: order effects", Behavioural brain research, 228(1), pp. 16 - 21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The use of a test battery assessing affective behavior in rats: order effects
Tác giả: Blokland A., Ten Oever S., Van Gorp D., Van Draanen M., Schmidt T., Nguyen E., Krugliak A., Napoletano A., Keuter S., Klinkenberg I
Nhà XB: Behavioural brain research
Năm: 2012
14. Brenner G.M., Stevens C.W. (2013), "Chapter 22: Psychotherapeutic Drugs", Pharmacology, 4th Edition, Saunders, pp. 221 - 236 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chapter 22: Psychotherapeutic Drugs
Tác giả: Brenner G.M., Stevens C.W
Năm: 2013
15. Bullock S., Manias E. (2013), "Chapter 36: Antidepressants and Mood stabilisers", Fundamentals of pharmacology, 7th Edition, Pearson Higher Education AU, pp. 381 - 198 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Fundamentals of pharmacology
Tác giả: Bullock S., Manias E
Nhà XB: Pearson Higher Education AU
Năm: 2013
16. Buschmann H., Diaz J.J., Holenz J., Párraga A., Torrens A., Vela J.M. (2007), Antidepressants, Antipsychotics, Anxiolytics, Wiley-VCH Verlag GmbH &Co, pp. 14 - 22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Antidepressants, Antipsychotics, Anxiolytics
Tác giả: Buschmann H., Diaz J.J., Holenz J., Párraga A., Torrens A., Vela J.M
Năm: 2007
17. Can A., Dao D.T., Terrillion C.E., Piantadosi S.C., Bhat S., Gould T.D. (2012), "The tail suspension test", JoVE (Journal of Visualized Experiments), (59), pp.e3769 - e3769 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The tail suspension test
Tác giả: Can A., Dao D.T., Terrillion C.E., Piantadosi S.C., Bhat S., Gould T.D
Năm: 2012
18. Castagné V., Moser P., Roux S., Porsolt R.D. (2011), "Rodent models of depression: forced swim and tail suspension behavioral despair tests in rats and mice", Current Protocols in Neuroscience 55(8.10), pp. 11 - 18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rodent models of depression: forced swim and tail suspension behavioral despair tests in rats and mice
Tác giả: Castagné V., Moser P., Roux S., Porsolt R.D
Năm: 2011
(2010), "Hematopoietic origin of pathological grooming in Hoxb8 mutant mice", Cell, 141(5), pp. 775 - 785 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hematopoietic origin of pathological grooming in Hoxb8 mutant mice
Nhà XB: Cell
Năm: 2010
20. Chueh F.Y., Hsieh M.T., Chen C.F., Lin M.T. (1995), "Hypotensive and bradycardic effects of dl-tetrahydropalmatine mediated by decrease in hypothalamic serotonin release in the rat", The Japanese Journal of Pharmacology, 69, pp. 177 - 180 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hypotensive and bradycardic effects of dl-tetrahydropalmatine mediated by decrease in hypothalamic serotonin release in the rat
Tác giả: Chueh F.Y., Hsieh M.T., Chen C.F., Lin M.T
Năm: 1995
21. Cryan J.F., Markou A., Lucki I. (2002), "Assessing antidepressant activity in rodents: recent developments and future needs", Trends in pharmacological sciences, 23(5), pp. 238 - 245 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Assessing antidepressant activity in rodents: recent developments and future needs
Tác giả: Cryan J.F., Markou A., Lucki I
Năm: 2002
22. Cryan J.F., Mombereau C., Vassout A. (2005), "The tail suspension test as a model for assessing antidepressant activity: review of pharmacological and genetic studies in mice", Neuroscience & Biobehavioral Reviews, 29(4), pp.571 - 625 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The tail suspension test as a model for assessing antidepressant activity: review of pharmacological and genetic studies in mice
Tác giả: Cryan J.F., Mombereau C., Vassout A
Nhà XB: Neuroscience & Biobehavioral Reviews
Năm: 2005

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng  Tên bảng  Trang - Triển khai một số test đánh giá hành vi trầm cảm thực nghiệm và áp dụng để đánh giá tác dụng của l tetrahydropalmatin
ng Tên bảng Trang (Trang 9)
Hình 1.1. Cơ chế dẫn truyền thần kinh của NE và 5-HT [31] - Triển khai một số test đánh giá hành vi trầm cảm thực nghiệm và áp dụng để đánh giá tác dụng của l tetrahydropalmatin
Hình 1.1. Cơ chế dẫn truyền thần kinh của NE và 5-HT [31] (Trang 17)
2.2.1. Sơ đồ thiết kế nghiên cứu - Triển khai một số test đánh giá hành vi trầm cảm thực nghiệm và áp dụng để đánh giá tác dụng của l tetrahydropalmatin
2.2.1. Sơ đồ thiết kế nghiên cứu (Trang 31)
Hình 2.5. Dụng cụ bơi cưỡng bức cho chuột cống (bên trái) - Triển khai một số test đánh giá hành vi trầm cảm thực nghiệm và áp dụng để đánh giá tác dụng của l tetrahydropalmatin
Hình 2.5. Dụng cụ bơi cưỡng bức cho chuột cống (bên trái) (Trang 35)
Hình 2.6. Dụng cụ treo đuôi - Triển khai một số test đánh giá hành vi trầm cảm thực nghiệm và áp dụng để đánh giá tác dụng của l tetrahydropalmatin
Hình 2.6. Dụng cụ treo đuôi (Trang 37)
Hình 2.7. Dụng cụ môi trường mở cho chuột cống (bên trái) - Triển khai một số test đánh giá hành vi trầm cảm thực nghiệm và áp dụng để đánh giá tác dụng của l tetrahydropalmatin
Hình 2.7. Dụng cụ môi trường mở cho chuột cống (bên trái) (Trang 39)
Hình 3.2. Ảnh hưởng của fluoxetin và clomipramin đến điểm thể hiện các trạng thái - Triển khai một số test đánh giá hành vi trầm cảm thực nghiệm và áp dụng để đánh giá tác dụng của l tetrahydropalmatin
Hình 3.2. Ảnh hưởng của fluoxetin và clomipramin đến điểm thể hiện các trạng thái (Trang 42)
Hình 3.3. Ảnh hưởng của clomipramin đến thời gian thể hiện các trạng thái của - Triển khai một số test đánh giá hành vi trầm cảm thực nghiệm và áp dụng để đánh giá tác dụng của l tetrahydropalmatin
Hình 3.3. Ảnh hưởng của clomipramin đến thời gian thể hiện các trạng thái của (Trang 43)
Hình 3.4. Ảnh hưởng của clomipramin đến thời gian bất động của chuột nhắt trắng - Triển khai một số test đánh giá hành vi trầm cảm thực nghiệm và áp dụng để đánh giá tác dụng của l tetrahydropalmatin
Hình 3.4. Ảnh hưởng của clomipramin đến thời gian bất động của chuột nhắt trắng (Trang 44)
Hình 3.5. Tác dụng của l-THP với các mức liều đến thời gian bất động của chuột - Triển khai một số test đánh giá hành vi trầm cảm thực nghiệm và áp dụng để đánh giá tác dụng của l tetrahydropalmatin
Hình 3.5. Tác dụng của l-THP với các mức liều đến thời gian bất động của chuột (Trang 45)
Hình 3.6. Tác dụng của l-THP với các mức liều đến thời gian bơi của chuột cống - Triển khai một số test đánh giá hành vi trầm cảm thực nghiệm và áp dụng để đánh giá tác dụng của l tetrahydropalmatin
Hình 3.6. Tác dụng của l-THP với các mức liều đến thời gian bơi của chuột cống (Trang 46)
Hình 3.7. Tác dụng của l-THP với các mức liều đến thời gian trèo/lặn của chuột - Triển khai một số test đánh giá hành vi trầm cảm thực nghiệm và áp dụng để đánh giá tác dụng của l tetrahydropalmatin
Hình 3.7. Tác dụng của l-THP với các mức liều đến thời gian trèo/lặn của chuột (Trang 47)
Hình 3.10. Tác dụng của l-THP với các mức liều đến điểm trèo/lặn của chuột cống - Triển khai một số test đánh giá hành vi trầm cảm thực nghiệm và áp dụng để đánh giá tác dụng của l tetrahydropalmatin
Hình 3.10. Tác dụng của l-THP với các mức liều đến điểm trèo/lặn của chuột cống (Trang 49)
Hình 3.11. Tác dụng của l-THP đến thời gian bất động của chuột nhắt trắng trên - Triển khai một số test đánh giá hành vi trầm cảm thực nghiệm và áp dụng để đánh giá tác dụng của l tetrahydropalmatin
Hình 3.11. Tác dụng của l-THP đến thời gian bất động của chuột nhắt trắng trên (Trang 51)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w