Thấm nhuần tư tưởng của Hồ Chí Minh về công tác dân vận, từ khi thànhlập đến nay, qua các thời kỳ cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn luôn đặtcông tác dân vận là một trong những nhiệm
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRƯƠNG THANH NGA
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ DÂN VẬN
VÀ VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG ĐÓ TRONG CÔNG TÁC VẬN ĐỘNG PHỤ NỮ Ở BÌNH DƯƠNG HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI - 2016
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRƯƠNG THANH NGA
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ DÂN VẬN
VÀ VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG ĐÓ TRONG CÔNG TÁC VẬN ĐỘNG PHỤ NỮ Ở BÌNH DƯƠNG HIỆN NAY
Chuyên ngành: TRIẾT HỌC
Mã số: 60 22 03 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
TS CAO THU HẰNG
HÀ NỘI - 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứucủa cá nhân tôi, dưới sự hướng dẫn khoa học củaTS.Cao Thu Hằng Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
về kết quả nghiên cứu của công trình khoa học này
Người làm luận văn
Trương Thanh Nga
Trang 4MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MÌNH VỀ DÂN VẬN 11
1.1 Khái niệm dân vận và những tiền đề cơ bản cho sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác dân vận 11
1.1.1 Khái niệm dân vận 11
1.1.2 Bối cảnh kinh tế - xã hội và những tiền đề cơ bản cho sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận 12
1.2 Nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận 36
1.2.1 Nhân dân là chủ, nhân dân làm chủ 36
1.2.2 Phương thức làm dân vận 38
1.2.1 Người phụ trách dân vận 41
1.3 Ý nghĩa tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác dân vận ở nước ta hiện nay 42
Chương 2: VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ DÂN VẬN TRONG VẬN ĐỘNG PHỤ NỮ Ở TỈNH BÌNH DƯƠNG HIỆN NAY: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP 46
2.1 Một số đặc điểm về tỉnh Bình Dương và thực trạng công tác vận động phụ nữ theo tư tưởng Hồ Chí Minh ở Bình Dương hiện nay 46
2.2.1 Một số đặc điểm về tỉnh Bình Dương và khái quát tình hình phụ nữ ở Bình Dương hiện nay 46
2.2.2 Thực trạng công tác vận động phụ nữ theo tư tưởng Hồ Chí Minh ở Bình Dương những năm qua 52
2.2 Một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả công tác vận
động phụ nữ theo tư tưởng Hồ Chí Minh ở tỉnh Bình Dương hiện nay
76
Trang 52.2.1 Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng và các cấp chính
quyền địa phương trong công tác vận động phụ nữ ở Bình Dương
hiện nay 76 2.2.2 Đổi mới hoạt động của hệ thống Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh
Bình Dương 78 2.2.3 Nâng cao trình độ dân trí, khoa học, công nghệ cho phụ nữ
tỉnh Bình Dương 82 2.2.4 Phát huy hơn nữa vai trò của đội ngũ cán bộ làm công tác dân
vận 85
KẾT LUẬN CHUNG 87 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 90
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hồ Chí Minh là người lãnh đạo nhân dân ta tiến hành thắng lợi cuộc cáchmạng giải phóng dân tộc Để có sự thắng lợi đó là bởi Hồ Chí Minh luôn pháthuy sức mạnh đại đoàn kết của cả dân tộc Trong suốt quá trình lãnh đạo cáchmạng của mình, Hồ Chí Minh luôn coi: cách mạng là sự nghiệp của nhân dân;lực lượng cách mạng là toàn dân tộc Người khẳng định: “Lực lượng của dân rất
to Việc dân vận rất quan trọng Dân vận kém thì việc gì cũng kém Dân vậnkhéo thì việc gì cũng thành công”[27, tr.234] Chính vì lẽ đó mà Người luôn coitrọng công tác tập hợp, tổ chức lực lượng cách mạng thông qua công tác dân
vận Theo Người: “Dân vận là vận động tất cả lực lượng của mỗi một người dân
không để sót một người dân nào, góp thành lực lượng toàn dân, để thực hànhnhững công việc nên làm, những công việc Chính phủ và Đoàn thể giao cho”[27,tr.232] Muốn làm tốt công tác dân vận, đòi hỏi mỗi người cán bộ lãnh đạo, quản
lý vừa phải dân chủ và tập trung trong công tác, vừa phải sâu sát, gần gũi vớinhân dân Trong đó, cán bộ làm công tác dân vận phải vừa là người đồng hànhdẫn dắt nhân dân, “phải hướng về cơ sở, gắn với thực tiễn cơ sở để nắm được vàkiểm nghiệm sự sát, đúng của các chủ trương, chính sách, đồng thời phát hiệnnhững tố mới, những điển hình tiên tiến để ủng hộ, bồi dưỡng và nhân rộng”[23,tr.611]
Thấm nhuần tư tưởng của Hồ Chí Minh về công tác dân vận, từ khi thànhlập đến nay, qua các thời kỳ cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn luôn đặtcông tác dân vận là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu; tuyêntruyền, giáo dục, tập hợp quần chúng thành một lực lượng to lớn, đông đảo, đoànkết xung quanh Đảng, tham gia các phong trào cách mạng vì độc lập dân tộc,thống nhất Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân Chính công
Trang 7tác dân vận của Đảng đã góp phần tuyên truyền, vận động, tổ chức những phongtrào cách mạng rộng lớn, động viên sức người, sức của, huy động được sứcmạnh của toàn dân tộc, làm nên những chiến thắng vẻ vang, những chiến cônghiển hách, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, thu non sông về một mối,làm tròn nghĩa vụ quốc tế cao cả, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Phát huy tư tưởng, quan điểm dân vận của Hồ Chí Minh và của ĐảngCộng sản Việt Nam, trong những năm qua, công tác dân vận của tỉnh BìnhDương nói chung và công tác vận động phụ nữ của Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnhBình Dương nói riêng luôn thực hiện tốt chức năng của mình – đoàn kết, vậnđộng, tổ chức, hướng dẫn phụ nữ thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng,pháp luật của Nhà nước – từ đó đạt được những kết quả to lớn trong việc tập hợpcác tầng lớp phụ nữ trong tỉnh tham gia tích cực các phòng trào của Hội vớinhững mô hình tập hợp đa dạng, góp phần xây dựng tỉnh Bình Dương giàu đẹp,văn minh, nghĩa tình Tuy nhiên, vấn đề đang được đặt ra một cách cấp thiếttrong công tác vận động phụ nữ ở tỉnh Bình Dương hiện nay là làm thế nào đểphát huy những thành quả đạt được để tiếp tục gặt hái nhiều thành quả to lớn hơn,đáp ứng yêu cầu ngày càng cao vừa của công tác vận động phụ nữ vừa của côngcuộc phát triển kinh tế, ổn định chính trị - xã hội của tỉnh nhà
Do đó, việc nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận; phân tích vàđánh giá thực trạng công tác vận động phụ nữ ở tỉnh Bình Dương trong nhữngnăm qua, những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân; xác định một số giải pháp
để vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác dân vận vào việc vận động phụ
nữ trong hệ thống Hội liên hiệp phụ nữ tỉnh Bình Dương hiện nay, có ý nghĩathiết thực, vừa cơ bản, vừa cấp bách, cả về lý luận và thực tiễn
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong những năm gần đây, đặc biệt từ khi Bộ chính trị đã ra chỉ thị số 06
-CT/TW về việc tổ chức cuộc vận động: “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, vấn đề dân vận trong tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung và công tác vận động phụ nữ nói riêng đã thu hút sự quan tâm của nhiều tổ chức,
chuyên gia, học giả, các nhà hoạch định chính sách, các nhà khoa học quan tâm
Trang 8nghiên cứu, với nhiều góc độ khác nhau Trong đó, từ góc độ triết học có thểkhái quát theo các chủ đề:
Thứ nhất, những vấn đề lý luận chung về dân vận và tư tưởng dân vận của Hồ Chí Minh, có các công trình nghiên cứu đã được công bố, tiêu biểu trong
số đó có các công trình sau:
Cuốn sách “Phóng tay phát động quần chúng”, Nxb Sự thật, Hà Nội,
phát hành, năm 1953 Cuốn sách là tập hợp các bài viết của Hồ Chí Minh,Trường Trinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Hoàng Quốc Việt, TrườngChinh, về công tác phát động quần chúng trong kháng chiến, công tác dân vận,thực hiện chính sách ruộng đất năm 1953, củng cố mở rộng mặt trận dân tộcthống nhất,…;
Công trình “Sơ khảo lịch sử công tác dân vận của Đảng Cộng sản Việt Nam” của Hoàng Xuân Đồng, Trần Lương Ngọc, Võ Đình Liên, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 1999 Công trình đã phân tích, trình bày khá rõ ràng về quátrình lãnh đạo công tác dân vận của Đảng Cộng sản Việt Nam qua các thời kỳ từ
1930 – 1996 và những bài học lịch sử về công tác dân vận của Đảng ta;
“Một số vấn đề về công tác dân vận trong giai đoạn hiện nay” của
Nguyễn Thế Trung, Nxb Chính trị quốc gia phát hành Trong cuốn sách là tậphợp nhiều bài viết của tác giả liên quan đến công tác dân vận, trong đó, tác giả
đã khái quát về tư tưởng dân vận của Hồ Chí Minh và thực tiễn công tác dân vậncủa Đảng ta trong bối cảnh hiện nay;
“Công tác dân vận” của Phạm Tất Dong, Đỗ Quang Tuấn, Đinh Văn Tư,
Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội, 2004 Đây là giáo trình trung cấp lý luận chínhtrị Trong giáo trình này, các tác giả đã trình bày, phân tích khá sâu về quanđiểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng về côngtác dân vận; về công tác dân vận của chính quyền cơ sở, tổ chức cơ sở Đảng, mặttrận tổ quốc; về công tác vận động công nhân, nông dân, trí thức, phụ nữ, thanhniên, vùng dân tộc miền núi, tín đồ, chức sắc tôn giáo;
Cuốn sách “Tiếp dân và dân vận” của Nguyễn Ngọc Hiến (chủ biên), Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội, phát hành năm 2005 Cuốn sách đã giới thiệu những
Trang 9kiến thức pháp lý áp dụng cho các tình huống tiếp dân và dân vận cụ thể ở cấp
xã, bồi dưỡng kiến thức và kĩ năng cơ bản về tiếp dân và dân vận ở cấp xã,phường, thị trấn;
“Những nội dung quan điểm và giải pháp cơ bản về tăng cường, đổi mới công tác dân vận” của Nguyễn Duy Việt, Nxb Văn hóa – Thông tin, phát hành
năm 2013 Trong cuốn sách, tác giả đã phân tích, trình bày khá rõ và sâu nhữngkết quả, hạn chế công tác dân vận sau 23 năm triển khai thực hiện Nghị quyết08B-NQ/HNTW (ngày 27-3-1990 của Ban chấp hành Trung ương khóa VI); đặcđiểm của tình hình mới, sự cần thiết phải tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo củaĐảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới Đề cập phương pháp tiếp cậnmới về công tác dân vận Ngoài ra, tác giả còn phân tich làm rõ cơ sở lý luận,thực tiễn của việc kế thừa các quan điểm của Nghị quyết 08B và phát triển, bổsung hoàn thiện cho phù hợp vơi gia đoạn mới Trong cuốn sách, tác giả cũng đềxuất những giải pháp cơ bản về tăng cường công tác dân vận, trong đó tác giả đãtập trung phân tích khá kỹ giải pháp hàng đầu là: Quyết tâm, kiên trì làm tốtcông tác xây dựng Đảng, tập trung giải quyết tốt những bức xúc của nhân dânvừa là giải pháp cấp bách vừa là giải pháp mang tính lâu dài của công tác dânvận;
“Lý luận và kinh nghiệm của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác dân vận” do Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật phát hành, 2014 Cuốn sách là tập hợp
các bài viết của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, lãnh đạo các cấp,… đưa
ra những phân tích sâu sắc, toàn diện, làm nỗi bật cơ sở lý luận, thực tiễn và kinhnghiệm của công tác dân vận trong thời gian qua ở nước ta;
“Cẩm nang công tác dân vận” của Ban dân vận Trung ương, Nxb Chính
trị quốc gia, Hà Nội, 2014 Trong cuốn sách là tập hợp những văn bản của Đảng,Nhà nước, Chính phủ về công tác dân vận Trong đó, trọng tâm của cuốn sách làmột số vấn đề lý luận liên quan đến công tác dân vận và công tác dân vận củacác cấp chính quyền;
“Tập bài giảng về công tác dân vận” của Ban dân vận Trung ương do
Nguyễn Thế Trung (chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2014 Cuốn
Trang 10sách đã tập trung phân tích khá sâu cơ sở lý luận của công tác dân vận ở ViệtNam hiện nay, trong đó một trong những cơ sở lý luận quan trọng mà cuốn sáchphân tích khá rõ là tư tưởng dân vận của Hồ Chí Minh; cuốn sách cũng đã phântích những vấn đề thực tiễn liên quan đến công tác dân vận và những nhiệm vụcủa công tác dân vận hiện nay;
Công trình luận án tiến sĩ “Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận và ý nghĩa của nó đối với sự nghiệp bảo vệ an ninh tổ quốc” của Phạm Duy Hoàng, Học viện
Khoa học xã hội, 2015 Trong công trình này, tác giả đã phân tích, làm rõ cơ sởhình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận, với nội dung chủ yếu là vấn đề lợiích của quần chúng; tác giả cũng làm rõ ý nghĩa của tư tưởng Hồ Chí Minh về dânvận đối với sự nghiệp bảo vệ an ninh tổ quốc trong việc xác định lực lượng, biệnpháp, nội dung và phương pháp phát động toàn dân bảo vệ an ninh tổ quốc
Thứ hai, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận trong công tác tập hợp quần chúng của các tổ chức chính trị - xã hội ở Việt Nam và tỉnh Bình Dương, có các công trình nghiên cứu đã được công bố, tiêu biểu như:
Công trình “Tình hình và nhiệm vụ công tác vận động phụ nữ công nhân viên chức” của Tổng Công đoàn Việt Nam, Nxb Lao động, Hà Nội, 1962 Công
trình đã phân tích, nhận định tình hình của phong trào phụ nữ, viên chức về sựbiến chuyển và những khó khăn còn tồn tại Kiểm điểm việc tổ chức chỉ đạocông tác vận động quần chúng trên các mặt công tác công đoàn Nhiệm vụ côngtác vận động phụ nữ công nhân viên chức của công đoàn, đặc biệt là công tácvận động phụ nữ công nhân viên chức từ khi miền Bắc được giải phóng năm1954
“Tài liệu tuyên truyền kỷ niệm 75 năm ngày truyền thống công tác dân vận của Đảng Công sản Việt Nam” của Ban Dân vận tỉnh ủy Bình Dương, 2005.
Cuốn tài liệu đã trình bày, phân tích khái quát tư tưởng dân vận của Hồ ChíMinh qua các bài báo của Người; vai trò, nhiệm vụ của công tác dân vận trongthời kỳ mới;
“Tài liệu Công tác vận động quần chúng” của Ban dân vận tỉnh ủy Bình
Dương, 2011 Trong cuốn tài liệu đã trình bày khái quát về dân vận, các văn bản
Trang 11Trung ương về công tác tác vận động quần chúng, đặc biệt tring cuốn tài liệu đãtập hợp được nhiều văn bản liên quan đến chương trình hành động của Ban dânvận tỉnh ủy Bình Dương về công tác dân vận và vận động quần chúng;
Công trình “Công tác vận động đồng bào Khmer của các Đảng bộ xã,phường, thị trấn ở Tây Nam Bộ trong giai đoạn hiện nay”, luận án tiến sĩ củaĐẳng Trí Thủ, Học viện Chính trị Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, 2012.Trong công trình này, tác giả đã phân tích khái quát công tác vận động đồng bàoKhmer của các đảng bộ xã, phường, thị trấn ở Tây Nam Bộ trong giai đoạn hiệnnay Luận án cũng đánh giá được thực trạng và đề xuất một số giải pháp nhằmnâng cao công tác vận động đồng bào Khmer của các Đảng bộ xã, phường, thịtrấn ở các tỉnh Tây Nam Bộ;
Cuốn sách “Về công tác vận động quần chúng hiện nay” của Nguyễn Văn
Linh, Nxb Tp.Hồ Chí Minh, 2012 Cuốn sách bao gồm những bài phát biểu vàtrả lời phỏng vấn của đồng chí Nguyễn Văn Linh về công tác dân vận, mặt trận,công đoàn, Hội liên hiệp nông dân tập thể, thanh niên, liên hiệp các hội khoa học
kỹ thuật, phụ nữ, tôn giáo và người Hoa;
“Đảng Cộng sản Việt Nam vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác dân vận trong giai đoạn hiện nay (theo Hội nghị lần thứ 7 Khóa XI), Nxb Lao
động – Xã hội phát hành năm 2013 Cuốn sách đã khái quát tư tưởng Hồ ChíMinh về dân vận, đặc biệt cuốn sách đã phân tích khá sâu về sự vận dụng tưtưởng đó của Đảng Cộng sản Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp
và chống Mỹ cũng như trong công cuộc đổi mới đất nước Từ đó, cuốn sách đãrút ra những bài học kinh nghiệm đúc kết từ công tác dân vận của Đảng và của
Trang 12trích dẫn những câu nói và viết về dân vận và công tác dân vận của Chủ tịch HồChí Minh;
Công trình “Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác dân vận của Đảng trong thời kỳ mới” của Hà Thị Khiết (chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội, 2015 Trong công trình này, các tác giả đã trình bày khó rõ cơ sở lý luận,thực tiễn về dân vận, về nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác dân vận củaĐảng trong thời kỳ mới và trong những năm thực hiện đường lối đổi mới Đồngthời đưa ra những quan điểm, phương hướng và giải pháp nâng cao chất lượng,hiệu quả công tác dân vận của Đảng trong thời kỳ mới
Như vậy, cho đến nay, khối lượng các công trình nghiên cứu về dân vậnnói chung, cũng như tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận nói riêng và sự vận dụng
tư tưởng đó trong công tác tập hợp, vận động quần chúng ở Việt Nam là kháphong phú, khá đồ sộ, có giá trị lý luận và thực tiễn to lớn đối với công tác dânvận ở Việt Nam Tuy nhiên, chưa có công trình khoa học độc lập nào nghiên cứumột cách trực tiếp, có hệ thống về sự vận dụng tư tưởng dân vận của Hồ Chí
Minh vào công tác vận động phụ nữ ở tỉnh Bình Dương Do đó, tôi chọn vấn đề:
“Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận và vận dụng tư tưởng đó trong công tác vận động phụ nữ ở Bình Dương hiện nay” làm đề tài nghiên cứu và viết công
trình luận văn thạc sỹ của mình
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
Mục đích của luận văn là làm rõ một số vấn đề lý luận tư tưởng dân vậncủa Hồ Chí Minh, trên cơ sở đó chỉ ra những giá trị và việc vận dụng tư tưởng
đó trong vận động phụ nữ ở tỉnh Bình Dương ta hiện nay; làm rõ thực trạng côngtác vận động phụ nữ theo tư tưởng Hồ Chí Minh ở Bình Dương những năm qua
và xác định một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác vận động phụ nữtheo tư tưởng Hồ Chí Minh ở tỉnh Bình Dương hiện nay
Để đạt được mục đích trên, luận văn tập trung giải quyết một số nhiệm vụsau:
Thứ nhất, phân tích, làm rõ khái niệm về dân vận, những tiền đề cơ bản
cho sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác dân vận;
Trang 13Thứ hai, trình bày những nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về
công tác dân vận và ý nghĩa của tư tưởng đó ở nước ta hiện nay;
Thứ ba, phân tích và làm rõ thực trạng công tác vận động phụ nữ theo tư
tưởng Hồ Chí Minh ở Bình Dương những năm qua; xác định định một số giảipháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác vận động phụ nữ theo tư tưởng Hồ ChíMinh ở tỉnh Bình Dương hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu của luận văn được xác định là tư tưởng Hồ Chí
Minh về dân vận và việc vận dụng tư tưởng đó trong công tác vận động phụ nữ ởtỉnh Bình Dương
Phạm vi nghiên cứu của luận văn chủ yếu tập trung nghiên cứu là những
vấn đề lý luận chung về tư tưởng dân vận của Hồ Chí Minh và việc vận dụng tưtưởng đó trong công tác vận động phụ nữ ở tỉnh Bình Dương từ khi Tỉnh ủyBình Dương ban hành Chương trình hành động số 56-CTHĐ/TU ngày31/12/2007 về việc thực hiện Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 27/4/2007 của BộChính trị về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đấtnước
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu luận văn
Cở sở lý luận của luận văn là các nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác –
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối chính sách của Đảng vàNhà nước ta về công tác dân vận
Phương pháp nghiên cứu: Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương
pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, đồngthời luận văn có sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu cụ thể như:Phương pháp lôgích, lịch sử, phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu, diễn dịch,quy nạp, thống kê,… để nghiên cứu và trình bày luận văn
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Về ý nghĩa lý luận, luận văn làm sáng tỏ tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác
dân vận và ý nghĩa của tư tưởng đó ở nước ta hiện nay
Trang 14Về ý nghĩa thực tiễn, từ những kết quả nghiên cứu lý luận và thực tiễn,
luận văn cung cấp thêm nguồn tư liệu cho các chương trình vận động phụ nữ ởtỉnh Bình Dương trong bối cảnh hiện nay Ngoài ra, những kết quả nghiên cứucủa đề tài có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy vềvấn đề công tác dân vận
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn gồm 2chương và 5 tiết Trong đó:
Chương 1: Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận;
Chương 2: Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận trong vận độngphụ nữ ở Bình Dương hiện nay: thực trạng và giải pháp
Chương 1
Trang 15TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ DÂN VẬN
1.1 Khái niệm dân vận và những tiền đề cơ bản cho sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận
1.1.1 Khái niệm dân vận
Ngay từ khi mới thành lập, Đảng ta luôn coi dân vận là một công tác chiếnlược, đòi hỏi phải tiến hành thường xuyên trong mọi hoàn cảnh, trên mọi địabàn, đối với mọi tầng lớp nhân dân các dân tộc Vậy dân vận được hiểu như thếnào?
Hiểu khái quát nhất có thể nói dân vận là tuyên truyền, giáo dục, vận
động, thuyết phục mọi người dân thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng,chính sách, pháp luật của Nhà nước Dân vận còn có nghĩa là làm gương trước
dân Còn hiểu theo nghĩa thông thường thì, dân vận là công tác dân vận của các
tổ chức chính quyền, đoàn thể trong hệ thống chính trị nói chung và của cả hệthống xã hội nói riêng Còn trong cuốn Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ,
thì dân vận là “sự vận động trong dân chúng để lôi cuốn họ theo một đường lối
nào”[49, tr.211] Cũng với cách hiểu đó, trong cuốn Đại từ điển tiếng Việt củaNguyễn Như Ý (chủ biên), đã định nghĩa: “Dân vận là tuyên truyền vận động
nhân dân: Công tác dân vận – các tổ chức dân vận” [52, tr.190].
Còn theo Hồ Chí Minh: “Dân vận là vận động tất cả lực lượng của mỗi một người dân không để sót một người dân nào, góp thành lực lượng toàn dân,
để thực hành những công việc Chính phủ và Đoàn thể giao cho.”[27, tr.232]
Như vậy, trong các quan niệm trên, có thể nhận thấy, một trong nhữngnhiệm vụ quan trọng của dân vận đó là tập hợp và huy động cho được sức mạnhcủa toàn dân (mọi người, mọi nhà, mọi đối tượng) vào các phong trào cáchmạng Đó là công việc của nhà nước, của các tổ chức chính trị - xã hội trong hệthống chinh trị
Từ những định nghĩa nêu trên, dưới góc độ tiếp cận của luận văn này,
chúng tôi có thể quan niệm: Dân vận được xem là công việc (hay còn gọi là nhiệm vụ chính trị) của Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội nhằm vận
Trang 16động, tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục nhân dân thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
1.1.2 Bối cảnh kinh tế - xã hội và những tiền đề cơ bản cho sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tồn tại xã hội và ý thức xãhội có mối quan hệ biện chứng với nhau, trong đó tồn tại xã hội quyết định ýthức xã hội Còn ý thức xã hội có tính độc lập tương đối, nó tác động trở lại tồntại xã hội Do vậy, mọi tính chất, nội dung, khuynh hướng của ý thức xã hội suycho đến cùng đều chịu sự quyết định, chi phối của tồn tại xã hội Trong đó, tưtưởng là một bộ phận của ý thức xã hội, phản ánh và chịu sự quy định của tồn tại
xã hội Do đó, sự hình thành tư tưởng dân vận của Hồ Chí Minh cũng khôngnằm ngoài quy luật ấy Cho nên một mặt, tư tưởng dân vận của Hồ Chí Minhchịu sự chi phối bởi đặc điểm, yêu cầu lịch sử xã hội cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ
XX Mặt khác, nó là sự kế thừa những tiền đề thực tiễn, lý luận trước đó, cùngvới sự phản ánh, chắt lọc những tinh hoa giá trị văn hóa của dân tộc
1.1.2.1 Bối cảnh kinh tế - xã hội thế giới và Việt Nam với sự hình thành
tư tưởng dân vận của Hồ Chí Minh
Thứ nhất, về bối cảnh kinh tế - xã hội thế giới
Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX là một giai đoạn lịch sử có nhiều sự kiện
và chuyển biến quan trọng trên thế giới, tác động mạnh mẽ đến quá trình hìnhthành các nhà tư tưởng Việt Nam ở giai đoạn này Nổi bật nhất chính là bối cảnh
kinh tế - xã hội phương Tây, từ nửa sau thế kỷ XIX chủ nghĩa tư bản chuyển
nhanh từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang giai đoạn chủ nghĩa tư bản độc quyền(giai đoạn chủ nghĩa đế quốc) và đã xập quyền thống trị của chúng trên phạm vitoàn thế giới Trong đó, những biểu hiện nổi bật nhất về kinh tế - xã hội thế giớigiai đoạn này là:
Về kinh tế, giai cấp tư sản là giai cấp đầu tiên trong lịch sử đã áp dụng
khoa học – kỹ thuật vào trong quá trình sản xuất, thúc đẩy nền sản xuất pháttriển nhanh chóng và làm thay đổi diện mạo của đời sống xã hội Nền kinh tếhàng hóa phát triển mạnh, đã đặt ra yêu cầu bức thiết về thị trường Đó là
Trang 17nguyên nhân sâu xa dẫn đến các nước thực dân châu Âu đi xâm lược các quốcgia phong kiến phương Đông, Mỹ La Tinh, châu Phi nhằm biến các quốc gia nàythành thị trường tiêu thụ sản phẩm hàng hóa, mua bán nguyên vật liệu, khai thácsức lao động và xuất khẩu tư bản của các nước đế quốc Điều này đã tạo nên sựthay đổi sâu sắc các mặt của đời sống xã hội như kinh tế, chính trị, văn hóa, xãhội… của các dân tộc thuộc địa, tiêu biểu như đời sống của nhân dân ở các nướcthuộc địa hết sức khó khăn và cực khổ Họ phải làm việc quần quật cả ngày lẫnđêm mà cũng không đủ ăn, còn bị áp bức bóc lột nặng nề Chính điều đó đã tácđộng rất lớn đến nhà tư tưởng ở các nước thuộc địa lúc bấy giờ: đó là làm thếnào để giải phóng nhân dân lao động ra khỏi áp bức bóc lột, bất công, đưa nhândân lao động đến một cuộc sống tốt đẹp hơn.
Về chính trị, giải cấp tư sản thực hiện cuộc cách mạng xã hội lật đổ chế độ
phong kiến, thiết lập nên chế độ tư bản chủ nghĩa và xây dựng nên dân chủ tưsản, tạo nên bước chuyển từ chế độ quân chủ sang dân chủ, từ quân quyền sangpháp quyền Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản đồng thời kéo theo sự phát triểnnhanh chóng của giai cấp công nhân Đội ngũ giai cấp công nhân ở các nước nàytăng lên đến hàng triệu người, trở thành lực lượng xã hội rất quan trọng, đại diệncho lực lượng sản xuất mới, tiên tiến Sự thống trị, bóc lột của giai cấp tư sản đãlàm nổi dậy những cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư sản
để tự bảo vệ quyền lợi của mình Đặc biệt, đầu thế kỷ XX, phong trào dân chủ tưsản ở Đông Âu bắt đầu từ Cách mạng Nga 1905 đã tạo thành một cao trào thứctỉnh của các dân tộc phương Đông Hàng trăm triệu người hướng về một cuộcsống mới với ánh sáng tự do Năm 1917, Cách mạng Tháng Mười Nga thànhcông, các dân tộc thuộc địa của đế quốc Nga được giải phóng và được hưởngquyền dân tộc tự quyết, kể cả quyền phân lập, hình thành nên các quốc gia độclập và quyền liên hợp, dẫn đến sự sự ra đời của Liên bang Cộng hòa xã hội củanghĩa Xô Viết (1922) Chính biến động đó đã tác động rất lớn đến các nhà tưtưởng và nhân dân lao động đang bị áp bức bóc lột ở phương Đông là cần phảiđoàn kết, hiệp lực để tạo nên một sức mạnh to lớn, cùng nhau đứng lên chống kẻthù chung đó là chủ nghĩa đế quốc, thực dân
Trang 18Về cơ cấu xã hội, ở phương Tây thời kỳ này cơ cấu xã hội có sự biến đổi
mạnh mẽ Bên cạnh giai cấp tư sản, địa chủ quý tộc, nông dân thì sự ra đời vàphát triển mạnh mẽ của giai cấp công nhân cả về số lượng và chất lượng, đã dẫnđến hàng loạt những cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản chống lại mọi thủ đoạn
áp bức của giai cấp tư sản Như ở Anh, nhiều cuộc bãi công lớn đã nổ ra, đặcbiệt là cuộc đấu tranh của công khuân vác Luân Đôn đã buộc chủ phải tănglương (1889); ở Mỹ, đầu năm 1886 nhiều cuộc bãi công, đình công, xuốngđường biểu tình của công nhân đòi ngày làm 8 giờ… Phong trào cách mạng vôsản nhanh chống lan rộng khắc thế giới và ảnh hưởng mạnh mẽ đến phong tràoyêu nước, các nhà tư tưởng và quần chúng nhân dân lao động ở các nước thuộcđịa
Thứ hai, về bối cảnh kinh tế - xã hội Việt Nam
Vào năm 1858, thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta lần đầu tiên, Đếnnăm 1884 vua quan nhà Nguyễn đã ký Hiệp ước công nhận quyền bảo hộ chothực dân Pháp trên toàn cõi Việt Nam Điều này đã dẫn đến những thay đổi tolớn về mặt kinh tế, chính trị, xã hội nước nước ta lúc bấy giờ
Về kinh tế, do sự du nhập của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, đã
làm cho nền kinh tế Việt Nam có sự biến đổi: quan hệ kinh tế nông thôn bị phá
vỡ, hình thành nên những đô thị mới, những trung tâm kinh tế và tụ điểm dân cưmới Nhưng thực dân Pháp không đem một cách hoàn chỉnh phương thức tư bảnchủ nghĩa vào nước ta, mà vẫn duy trì quan hệ kinh tế phong kiến Chúng kết
hợp hai phương thức bóc lột tư bản và phong kiến trở thành chính sách kinh tế thực dân để thu lợi nhuận siêu ngạch Thực hiện chính sách trên, thực dân Pháp
thi hành thủ đoạn độc quyền kinh tế và thủ đoạn bóc lột phi kinh tế, đó là chế độthuế khóa vô cùng nặng nề và phi lý làm cho đời sống của nhân dân ta hết sứckhổ cực, lầm than và lâm vào cảnh bần cùng Điều này góp phần thúc đẩy tinhthần đoàn kết chống giặc ngoại xâm của quần chúng nhân dân để giải phóng chomình ra khỏi áp bức bóc lột đó; cũng như góp phần hình thành nên tư tưởng dânvận của Hồ Chí Minh
Trang 19Về chính trị, cơ cấu tổ chức, bộ máy cai trị của thực dân, phong kiến ở nước ta đã có những thay đổi lớn so với trước đó Thực dân Pháp thi hành chính sách chính trị chuyên chế Chúng dùng lối cai trị trực tiếp bằng bộ máy công
chức chuyên nghiệp người Pháp, thâu tóm mọi quyền hành Đứng đầu bộ máycai trị ở Đông Dương là một tên toàn quyền người Pháp Mỗi kỳ sẽ có mộtThống đốc, hoặc Thống sứ, Khâm sứ Mỗi tỉnh có một Công sứ Triều đình nhàNguyễn chỉ đứng vai trò bù nhìn Với bộ máy nhà nước thuộc địa như vậy,chúng thẳng tay đàn áp, không cho nhân dân ta một chút tự do, dân chủ nào.Cùng với chính sách đàn áp dã man phong trào cách mạng, chúng còn dùng
chính sách chia để trị Chúng chia nước ta thành ba khúc với ba tên gọi khác
nhau, ba hình thức cai trị khác nhau nhằm chia rẽ và gây thù hằn dân tộc Chúngcòn bóp nghẹt quyền tự do, dân chủ của nhân dân ta Chính những bối cảnhchính trị và chính sách cai trị đó đã làm cho nhân dân ta câm thù thực dân sâusắc, luôn có tư tưởng và phong trào phản kháng chống lại thực dân phong kiến;
đã tác động rất lớn đến việc hình thành tư tưởng dân vận của Hồ Chí Minh
Về cơ cấu xã hội, các cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp ảnh
hưởng mạnh mẽ đến tình hình xã hội Việt Nam Sự phân hóa giai cấp diễn ra
ngày càng sâu sắc hơn Nổi bật đó là: giai cấp địa chủ phong kiến bị phân hóa
thành ba bộ phận khá rõ rệt là tiểu, trung và đại địa chủ Có một số thì bị phásản Vốn sinh ra và lớn lên trong một quốc gia dân tộc có truyền thống yêu nướcchống giặc ngoại xâm, lại bị chính sách thống trị tàn bạo về chính trị, chèn ép vềkinh tế, nên một bộ phận không nhỏ tiểu và trung địa chủ không chịu nỗi nhụcmất nước, có mâu thuẫn với thực dân đế quốc về quyền lợi dân tộc nên đã tham
gia đấu tranh chống thực dân đế quốc và bọn phản động tay sai; giai cấp nông dân chiến khoảng 90% dân số Họ bị thực dân đế quốc, phong kiến địa chủ và tư
sản áp bức, bóc lột rất nặng nề Ruộng đất của nông dân đã bị bọn tư bản thựcdân chiếm đoạt Chính sách độc quyền kinh tế, mua rẻ bán đắt, tô cao, thuế nặng,chế độ cho vay nặng lãi… của thực dân đế quốc và phong kiến đã đẩy nông dânViệt Nam vào con đường bần cùng hóa không lối thoát Chính thực tế đó tạo rađộng lực rất lớn ở giai cấp nông dân Việt Nam là phải đoàn kết, thống nhất lại để
Trang 20cùng nhau đấu tranh giải phóng mình ra khỏi ách áp bức bóc lột, sự bần cùng đó.
Và, đồng thời cũng tác động rất lớn đến sự hình thành tư tưởng dân vận của HồChí Minh là cần phải tổ chức, giác ngộ cách mạng cho họ để cùng toàn dân thựchiện cuộc đấu tranh vì độc lập dân tộc, tự do, dân chủ và hạnh phúc cho nhân
dân; giai cấp công nhân là sản phẩm trực tiếp của chính sách khai thác thuộc địa
của thực dân Pháp và nằm trong những “mạch máu” kinh tế quan trọng do chúngnắm giữ Đời sống của họ hết sức khó khăn và khổ cực, phải làm việc quần quậtkhông có ngày nghỉ mà chỉ được trả lương với vài đồng xu rẻ mạt, không đủ ăn.Chính sự bóc lột nặng nề đó đã dẫn đến những phong trào đấu tranh tự phát của
giai cấp công nhân Việt Nam nhằm mục đích thay đổi cuộc sống hiện tại; giai cấp tư sản và tầng lớp tiểu tư sản cũng được hình thành trong quá trình khai thác
thuộc địa của thực dân Pháp Tuy nhiên, đó là lực lượng yếu ớt, lại ra đời trongđiều kiện bị tư bản Pháp chèn ép, thế lực kinh tế nhỏ bé, thế lực chính trị yếuđuối Chính vì vậy, bản thân họ cũng luôn sẵn sàng vùng dậy đấu tranh chống lại
“chính người anh em của họ” bất cứ lúc nào, để cùng dân tộc sống trong một xãhội tự do, hạnh phúc
Chính sự thống trị, áp bức bót lột ngày nặng nề đó của thực dân Pháp, đã
“châm lửa” cho nhân dân ta, các sỹ phu, các thanh niên, các tầng lớp yêu nướcthực hiện những cuộc nổi dậy chống thực dân đế quốc xâm lược, tiêu biểu như:Cuộc nổi dậy “búa rừu”, Phong trào do Phan Châu Trinh đứng đầu năm 1908,Phong trào Đông Kinh Nghĩa thục, Quả bom Hà Nội, Cuộc khởi nghĩa TháiNguyên, Cuộc mưu loạn Phan Xích Long, Cuộc tấn công khám lớn Sài Gòn,…Tuy nhiên, do những hạn chế về lịch sử và giai cấp nên tất cả các phòng trào đóchỉ diễn ra trong một thời gian ngắn đã bị dập tắt Nhưng, các phong trào đó đãgóp phần cổ vũ mạnh mẽ tinh thần yêu nước của nhân dân ta Trước tình hình
đó, thì yêu cầu đặt ra là cần phải tìm ra một hướng đi mới, phù hợp với điều kiện
ở nước ta và xu thế của thời đại Điều này đã thu hút được đông đảo những nhàyêu nước, đặc biệt là lớp thành niên trí thức trẻ tham gia tìm con đường cứunước mới để giải phóng dân tộc, trong đó có Nguyễn Tất Thành – Hồ Chí Minh
Trang 211.1.2.2 Những tiền đề cơ bản cho sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận
Có thể nói tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận được hình thành và phát triểndựa trên những tiền đề, cơ sở nhất định Trong đó, có thể khái quát, phân chiacác tiền đề, cơ sở đó thành tiền đề thực tiễn, lý luận và truyền thống quê hương,gia đình góp phần hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận
Thứ nhất, tiền đề thực tiễn hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về dân
Việc chủ nghĩa tư bản phương Tây chuyển từ giai đoạn tự do cạnh tranhsang giai đoạn độc quyền, đẩy lùi chế độ phong kiến vào quá khứ đã dẫn đến sựxuất hiện chủ nghĩa thực dân tiến hành các cuộc xâm lược thuộc địa, xác lậpquyền thống trị trên phạm vi toàn thế giới
Việt Nam, một quốc gia phong kiến nhỏ bé và lạc hậu ở phương Đông bịthực dân Pháp nổ súng xâm lược vào ngày 31 tháng 8 năm 1858 Triều đình nhàNguyễn nhu nhược trước sự xâm lược của kẻ thù, lần lượt ký các hiệp ướcÁcMăng (1883) và Patơnốt (1884) đầu hàng, thừa nhận nền bảo hộ của thực dânPháp trên toàn cõi Việt Nam
Tuy chịu cảnh nô lệ trước sự nhu nhược của triều đình nhà Nguyễn, songkhông vì thế mà tính cách dân tộc, truyền thống độc lập dân tộc của các thế hệthời đó bị mai một, trái lại tinh thần chấn hưng dân khí rất sôi nổi và rộng khắp
Trang 22Các cuộc khởi nghĩa của nhân dân ta xảy ra từ Bắc chí Nam.
Sự tác động của những sự kiện lớn trên thế giới đã làm cho các phong tràovận động cứu nước ở Việt Nam diễn ra theo xu hướng lấy tư tưởng mới của vănminh phương Tây để thay thế cho hệ tư tưởng phong kiến, từ đó chi phối đếnphong trào đấu tranh chống Pháp của nhân dân ta
Đầu thế kỷ XX, cùng với nhu cầu phải tìm ra một hệ tư tưởng mới cao hơn
hệ tư tưởng phong kiến nhằm soi sáng con đường giải phóng của dân tộc ta, thìnhu cầu tập hợp quần chúng nhân dân, đặc biệt là các sĩ phu yêu nước nhằm thựchiện một cuộc cách mạng cũng trở nên cấp thiết Thế hệ sĩ phu yêu nước, màtiêu biểu là Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh trong khi tiếp thu ảnh hưởng củamột số học thuyết tư sản phương Tây cũng đưa ra một số tư tưởng mới về vậnđộng quần chúng nhân dân, nhất là các thanh niên yêu nước tham gia cách mạng
Nhưng do chưa vượt ra khỏi phạm vi của các “cuộc cách mạng không đếnnơi” nên các sĩ phu yêu nước ở đầu thế kỷ này chưa hiểu rõ tiến trình phát triểncủa xã hội nước ta có những điều kiện lịch sử riêng biệt, xã hội Việt Nam chưatrải qua thời kỳ phát triển tư bản chủ nghĩa, trong khi chế độ phong kiến đã hếtvai trò lịch sử, còn chủ nghĩa tư bản ở phương Tây đã chuyển từ tiến bộ sangphản động, không còn là giai cấp đứng ở vị trí trung tâm của thời đại nữa, màtrong thời đại mới giai cấp giữ vị trí trung tâm quyết định phương hướng, nộidung phát triển của thời đại là giai cấp vô sản Do vậy, mọi nỗ lực để tìm kiếmphương thức nhằm làm thay đổi chế độ xã hội, và thực hiện cuộc cách mạng giảiphóng dân tộc trên lập trường dân chủ tư sản của các sĩ phu yêu nước lúc bấy giờkhông thể đem lại thành quả như mong muốn Lịch sử dân tộc không chỉ ghinhận một hiện thực đau xót trước sự chấm dứt khẩu hiệu “phò vua cứu nước”của phong trào Cần Vương (1885-1896) do Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết phátđộng với các cuộc khởi nghĩa tiêu biểu: Khởi nghĩa Bãi Sậy (1883-1892) củaNguyễn Thiện Thuật, khởi nghĩa Ba Đình (1886-1887) của Phạm Bành và ĐinhCông Tráng, khởi nghĩa Hùng Lĩnh (1887-1892) của Tống Duy Tân và CaoĐiển, khởi nghĩa Hương Khê (1885-1895) của Phan Đình Phùng, phong tràonông dân Yên Thế của Hoàng Hoa Thám, và sự dập tắt của phong trào Đông Du
Trang 23(1906-1908) của Phan Bội Châu; phong trào Duy Tân (1906-1908), phong tràoĐông Kinh nghĩa thục (1907) của Phan Châu Trinh, mà còn ghi nhận sự thất bạiliên tiếp của các phong trào yêu nước sau đó.
Bối cảnh quốc tế và trong nước cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đặt ratrước hết cho các nhà tư tưởng Việt Nam phải được trang bị phương pháp luậnkhoa học cho việc tìm hiểu, nghiên cứu và giải quyết đúng đắn mọi vấn đề củacách mạng giải phóng dân tộc, trong đó có những vấn đề tập hợp lực lượng cáchmạng Nhiệm vụ lịch sử đó được người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thànhtiếp nhận và thực hiện một cách triệt để, toàn diện, sâu sắc Và, đồng thời đócũng là yêu cầu của thực tiễn của các phong trào cách mạng Việt Nam đươngthời tác động cho sự ra đời tư tưởng dân vận của Người
Thực tiễn hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh sau khi trở về Tổ quốc
Qua hành trình vạn dặm đi tìm đường cứu nước khắp năm châu, bốn biển
từ năm 1911, Hồ Chí Minh đã tiếp thu, vận dụng sáng tạo tư tưởng của chủnghĩa Mác - Lênin về lực lượng cách mạng trên cơ sở đánh giá, nhìn nhận nhữngnguyên nhân thất bại của các phong trào yêu nước ở Việt Nam cuối thế kỷ XIX,đầu thế kỷ XX ở Việt Nam
Năm 1941, khi trở về Tổ quốc, trực tiếp tham gia và chỉ đạo cuộc khángchiến chống thực dân Pháp, rồi đến cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ Bằngviệc kịp thời tổng kết kinh nghiệm hai cuộc kháng chiến thần thánh của nhândân ta, Hồ Chí Minh hiểu sâu sắc bản chất hiếu chiến, ngoan cố, tàn bạo củathực dân Pháp và đế quốc Mỹ, đồng thời Người cũng hiểu sâu sắc thế phải lấyyếu thắng mạnh, chống lại kẻ thù có vũ khí tối tân và hiện đại, cho nên việc pháthuy sức mạnh toàn dân tộc là một vấn đề cực kỳ quan trọng
Có thể nói, nhận thức sâu sắc về thực tiễn cách mạng Việt Nam là mộttrong những nguyên nhân chủ yếu đưa đến việc Hồ Chí Minh coi trọng vị trí, vaitrò của công tác dân vận Chính trong công tác chuẩn bị cho cuộc Tổng khởinghĩa giành chính quyền 1945, Hồ Chí Minh đã đặc biệt chú tâm đến công táctuyên truyền, tổ chức quần chúng nhân dân ở thành thị và các khu công nghiệpđứng lên đấu tranh để giành lấy chính quyền Những điều này, nói là bài học
Trang 24cách mạng tháng 10 Nga quả không sai, nhưng cũng phải nhìn nhận rằng đây làsách lược của Vương Quốc Chính ở Bắc hồi cuối thế kỷ trước và của NguyễnHữu Trí ở Nam hồi chiến tranh thế giới thứ nhất, cả hai đều thất bại nhưng đã đểlại nhiều bài học lớn cho Hồ Chí Minh
Có thể nói, trong thời kỳ chuẩn bị cuộc Tổng khởi nghĩa giành chínhquyền Tháng Tám, “cán bộ đảng và mặt trận đã thành công trong sự hoạt động,
đã phát động được quần chúng”[16, tr.640], đặc biệt là ở Hà Nội, Huế, Sài Gòn.Trong đó, nỗi bật nhất là Đoàn Thanh niên tiền phong đã tập hợp, vận động, giácngộ thanh niên khắp các xí nghiệp, các công sở, các nhà thương và các khu phốtiến theo con đường cách mạng của đảng Có thể nói, chưa bao giờ ở Việt Nam
có một lực lượng công nhân và thanh niên đứng lên làm cách mạng lớn mạnhvới khí thế cách mạng bừng bừng như vậy
Năm 1949, Hồ Chí Minh viết tác phẩm“Dân vận” nhằm giáo dục cán bộ,
đảng viên về vị trí và vai trò cực kỳ quan trọng của công tác dân vận đối vớicách mạng Việt Nam Ngay những câu đầu tiên của tác phẩm, Người đã khẳng
định: “Vấn đề dân vận nói đã nhiều, bàn đã kỹ nhưng vì nhiều địa phương, nhiều
cán bộ chưa thấu hiểu, làm chưa đúng, cho nên cần phải nhắc lại”[26, tr 232]
Từ sau khi miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, bước vào thời kỳ quá độlên chủ nghĩa xã hội, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ đặc điểm của con đường đi lên chủnghĩa xã hội ở nước ta Do chỗ xuất phát từ nền kinh tế nhỏ, chủ yếu là nôngnghiệp lạc hậu, lại phải kết hợp hai chiến lược: vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội ởmiền Bắc, vừa tiến hành cuộc cách mạng giải phóng miền Nam Cách mạng xãhội chủ nghĩa ở miền Bắc, tất yếu là hết sức gian khổ, lâu dài, đòi hỏi nhiều hysinh to lớn về người và của Từ năm 1965 đến năm 1972, chúng ta lại phải đánhtrả chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ở miền Bắc Trong cuộc chiến tranhnày, kẻ thù đã sử dụng hầu như tất cả các loại vũ khí tối tân nhất của chúng,công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc càng khó khăn, gian khổ gấpbội lần Sự nghiệp cách mạng lúc này đòi hỏi phải có lực lượng cách mạng hùnghậu, vững chắc
Như vậy, qua mỗi chặng đường lịch sử, tùy theo từng thời kỳ cách mạng,
Trang 25từng bước phát triển của thực tiễn, Hồ Chí Minh đã đề ra những yêu cầu đối vớicông tác dân vận sát hợp để hoàn thành nhiệm vụ ngày càng nặng nề, khó khăn
và phức tạp hơn của cách mạng Việt Nam
Thực tiễn đấu tranh của nhân dân các nước thuộc địa và giai cấp vô sản trên thế giới
Dẫu biết rằng “Đất nước đẹp vô cùng nhưng Bác phải ra đi” Trên hànhtrình vượt đại dương tới Pháp, Nguyễn Tất Thành có dịp đến Xingapo, Aicập…và thấy ở tất cả xã hội đó có hai loại người: kẻ thống trị và người bị trị.Khi đặt chân lên đất Pháp, Nguyễn Tất Thành cũng chỉ thấy xuất hiện hai loạingười: người bị áp bức và kẻ áp bức Ở đây, Người đã phân biệt được ngườiPháp tốt là nhân dân lao động và người Pháp tàn ác là kẻ thống trị, và Ngườinhận thức được nỗi khổ đau của nhân dân lao động ngay ở chính quốc
Khi tiếp tục hành trình sang châu Phi, Người có dịp dừng chân lại nhiềunước như: Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Angiêri…và nhận thấy nhân dân laođộng vô cùng cực khổ, còn bọn thực dân thì ở đâu cũng gian ác như nhau.Còn tình cảnh của nông dân miền Tây châu Phi và châu Phi xích đạo thuộcPháp thì phải chịu cảnh đói nghèo, dịch bệnh, cướp bóc, giết chóc và tàn pháhết sức tàn nhẫn
Chưa dừng chân ở đây, Người tiếp tục sang Mỹ để tìm hiểu xem những
gì ẩn đằng sau những từ hoa mỹ của “văn minh phương Tây” mà khi còn ởquê nhà Người chưa thể hiểu rõ Hơn một năm ở nước Mỹ (cuối năm 1912đến cuối năm 1913), Người nhận thấy rằng ở Mỹ không chỉ có những tòa nhàchọc trời, những xe hơi bóng lộn nối đuôi nhau trên những con đường rộngthênh thang, các công ty tài chính khổng lồ, mà nước Mỹ còn có khu lao độngHáclem của những người da đen thất nghiệp Đằng sau những tòa nhà chọctrời của tầng lớp xa hoa là những con người khốn khổ, sống vật vờ dưới bóng
đổ của những tòa nhà ấy Khi đến tham quan tượng thần Tự do Người có nhậnxét sâu sắc về sự bất công: “Ánh sáng trên đầu thần Tự do tỏa rộng khắp trờixanh, còn dưới chân thần Tự do là người da đen đang bị chà đạp”[40, tr.16]
Không thể dừng chân ở nước Mỹ, cuối năm 1913 Người sang Anh, một
Trang 26nước tư bản có nhiều thuộc địa nhất trên thế giới, một nước được mệnh danh
“Mặt trời không bao giờ lặn trên lá cờ Anh” Bốn năm sống và lao động ở đó,Nguyễn Tất Thành đã nhận thấy rất rõ sự chuyển mình của nước Anh từ chủnghĩa tư bản sang chủ nghĩa đế quốc với chính sách mở rộng thuộc địa, gâychiến, tăng cường bóc lột đã làm nổ ra nhiều cuộc đấu tranh của giai cấp công
nhân Việc thành lập Công đảng vào năm 1905 đánh dấu một bước phát triển
của phong trào công nhân Anh
Hiện thực phong phú và mới lạ đó đã cuốn hút Người gia nhập vào phongtrào công nhân Anh, tham gia vào tổ chức công đoàn hải ngoại - một tổ chức bímật của những người lao động ở các nước thuộc địa sống trên đất nước Anh Sựkiện này về mặt tư tưởng đã “khai quang điểm nhãn” ở Nguyễn Tất Thành mộtnhân sinh quan mới, nhân sinh quan của giai cấp công nhân hiện đại
Cuối năm 1917 Nguyễn Tất Thành quay trở lại Pari Với lập trường giaicấp mới, năm 1919 Nguyễn Tất Thành tham gia Đảng xã hội Pháp Sự lựa chọn
đó của Người vì mục đích được bảo vệ quyền lợi, nền độc lập của dân tộc
mình Người có điều kiện theo đuổi lý tưởng cao quý: tự do, bình đẳng, bác ái.
Không để lỡ cơ hội, ngày 18 tháng 6 năm 1919, Nguyễn Tất Thành thaymặt những người Việt Nam yêu nước ký tên Nguyễn Ái Quốc gửi bản yêusách của nhân dân An Nam đến Hội nghị Vécxây đòi quyền tự do, dân chủ.Với bản yêu sách này, lần đầu tiên vấn đề về tự do, dân chủ của nhân dân ViệtNam được đặt ra trong Hội nghị quốc tế Nhưng Hội nghị Vécxây cũng chỉ lànơi để bọn đế quốc chia nhau “chiến lợi phẩm” sau chiến tranh thế giới lầnthứ nhất Từ đây, Nguyễn Ái Quốc hiểu rõ được bản chất thực sự đằng saunhững “lời tuyên bố của bọn đế quốc về quyền tự quyết cho các dân tộc chỉ làtrò lừa bịp”
Những năm tháng ở Pari, với sự nhạy bén về chính trị, Nguyễn TấtThành biết tin Cách mạng Tháng Mười Nga bùng nổ vào năm 1917 Với tinhthần giai cấp hữu ái, Người có cảm tình với Cách mạng Tháng Mười Nga
Tháng 7 - 1920 Người đọc được bản Luận cương của Lênin về vấn đề dân tộc
và thuộc địa Luận cương của Lênin đã giải đáp cho Nguyễn Ái Quốc con
Trang 27đường giành độc lập cho dân tộc, tự do cho đồng bào, đáp ứng những tìnhcảm, suy nghĩ, hoài bão được ấp ủ bấy lâu Từ đó Người quyết định đến vớicách mạng Tháng Mười và đến với Lênin.
Với việc bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế Cộng sản, tham gia thànhlập Đảng Cộng sản Pháp (12 - 1920), Người đã trở thành người cộng sản ViệtNam đầu tiên Những sự kiện này, đánh dấu sự chuyển biến về chất trong tưtưởng của Người, từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa Lênin, từ giác ngộdân tộc đến giác ngộ giai cấp, từ người yêu nước trở thành người cộng sản
Đứng trên lập trường của giai cấp công nhân và thế giới quan cộng sản,Nguyễn Ái Quốc không chỉ vạch trần tội ác của chủ nghĩa thực dân thông qua
các bài báo, tác phẩm sắc bén tính chiến đấu của mình như: Người cùng khổ, Nhân đạo, Đời sống công nhân, Bản án chế độ thực dân Pháp, mà còn tập
hợp, tổ chức, giác ngộ những thanh niên, trí thức, công nhân, binh lính ngườiViệt ở Pháp vào các Hội, các đoàn thể chống thực dân Pháp
Sáu năm ở Pháp (từ 1917 đến 1923) cũng là dịp để Người tìm hiểu nhữngtác phẩm nổi tiếng của các triết gia lỗi lạc thời Phục hưng và Khai sáng Pháp,trong đó có Vônte, Môngtexkiơ, Rút xô Những tư tưởng cao đẹp của những nhàkhai sáng Pháp đã khai mở cho các cuộc cách mạng Anh, Pháp, Mỹ Nhưng từnhững tư tưởng mới mẻ này Người đã trăn trở, suy tư vì sao các cuộc cách mạngAnh, Pháp, Mỹ sau khi thành công lại phản bội những giá trị đích thực của nó
Họ thừa nhận quyền tự do, bình đẳng, kêu gọi tinh thần bác ái nhưng lại bóc lộtcác dân tộc khác? Qua quá trình bôn ba tìm kiếm, học hỏi, bằng những dẫnchứng sự kiện cụ thể trong hoạt động thực tiễn sinh động và tư duy chính trị sắcbén, Người đã rút ra một kết luận hết sức khoa học: “Cách mệnh Pháp cũng nhưcách mệnh Mỹ, nghĩa là cách mệnh tư bản, cách mệnh không đến nơi, tiếng làcộng hòa và dân chủ, kỳ thực trong thì nó tước lục công nông, ngoài thì nó bóclột thuộc địa Cách mạng đã bốn lần rồi, mà nay công nông Pháp hẵng còn phảimưu cách mạng lần nữa mới hòng thoát khỏi vòng áp bức”[31, tr.274] Vì vậy,Người quyết tâm tìm đến mảnh đất đã diễn ra cuộc cách mạng Tháng Mười Nga
vĩ đại
Trang 28Thực tiễn cách mạng vô sản Nga và phong trào Quốc tế Cộng sản
Cách mạng Tháng Mười Nga có vai trò và ảnh hưởng to lớn đối vớicách mạng thế giới và tác động mạnh mẽ đến tư tưởng Hồ Chí Minh Nhậnthấy sức mạnh “kỳ diệu” của chiếc “cẩm nang” ấy trong việc giải phóng triệt
để con người khỏi sự áp bức, bóc lột Ngày 13 tháng 6 năm 1923, Nguyễn ÁiQuốc rời Pháp sang nước Nga, mở đầu một thời kỳ nhận thức và hoạt độngthực tiễn mới mẻ trên đất nước Xôviết và trong phong trào Cộng sản Quốc tế.Đây là một bước ngoặt lớn trong cuộc đời hoạt động của Người
Ở nước Nga, dưới sự lãnh đạo của Đảng Bônsêvích, giai cấp công nhânNga liên minh với nhân dân lao động, đứng đầu là Lênin đã tiến hành thắnglợi cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới
Khi Người tới nước Nga, là lúc chính sách kinh tế mới (NEP) của Lêninđang được triển khai rộng rãi, lúc này cả nước Nga đang bừng lên một sựchuyển đổi kinh tế đầy sôi động Tuy còn trong cảnh thiếu thốn nhưng nướcNga đã đem lại cho người dân lao động một cuộc sống tự do, bình đẳng thật
sự Nhà trẻ, trường học, bệnh viện, đường xá… ra đời để phục vụ cho cuộcsống đích thực của con người Tất cả, đã thôi thúc Người quyết tâm thực hiệnđộc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân
Do vậy, khi mới đặt chân đến Mátxcơva, Nguyễn Ái Quốc đã bắt tayngay vào hoạt động Tuy ở xa nước Pháp, nhưng Người thường xuyên viếtbáo để vạch trần tội ác của thực dân Pháp ở Đông Dương, gửi thư yêu cầuĐảng Cộng sản Pháp phải thực hiện đúng nghị quyết về vấn đề thuộc địa Tại
đây, Người tham dự Hội nghị lần thứ nhất Quốc tế nông dân, có những bài
phát biểu sâu sắc về tình cảnh của những người nông dân ở Đông Dương dưới
sự thống trị của thực dân Pháp và kêu gọi sự giúp đỡ của nông dân cùng giaicấp vô sản trên toàn thế giới
Một năm rưỡi ở nước Nga, Người rất nóng lòng muốn về gần Tổ quốc,nhưng tháng 4 năm 1924 Nguyễn Ái Quốc nhận quyết định của Ban PhươngĐông - Quốc tế Cộng sản vào làm cán bộ của Ban Quyết định đó đã làm thayđổi kế hoạch về nước của Người Nhận thêm nhiệm vụ mới, Nguyễn Ái Quốc
Trang 29phải tham gia trực tiếp vào các hoạt động của tổ chức này Trong quá trình thamgia hoạt động, Nguyễn Ái Quốc nhận thấy chính sách Phương Đông của quốc tếIII chưa chú ý đến Đông Dương thuộc Pháp Song bằng nhiệt huyết và tài năngcủa mình, Người đã gây được sự chú ý của Quốc tế III về vấn đề Đông Dương
và vai trò của các cuộc đấu tranh đòi giải phóng của nhân dân các nước thuộc địađối với cách mạng thế giới và giai cấp công nhân
Mặt khác, Người còn yêu cầu Ban Phương Đông chú trọng bồi dưỡng
để nâng cao trình độ lý luận cách mạng cho cán bộ Đảng và những người hoạtđộng cách mạng phương Đông tại các trung tâm đào tạo danh tiếng ở Liên xôlúc bấy giờ như Trường đại học Phương Đông, trường Quốc tế Lênin
Vì phải thực hiện những vấn đề của Phương Đông, Nguyễn Ái Quốcnhận nhiệm vụ của Quốc tế Cộng sản về Trung Quốc hoạt động dưới danhnghĩa cố vấn chính trị cho Tôn Trung Sơn
Trong những năm tháng hoạt động ở Ban Phương Đông của Quốc tếCộng sản, Nguyễn Ái quốc còn phải đối mặt với một thực tế vô cùng khắc
nghiệt, đó là trào lưu “biệt phái, tả khuynh” trong phong trào cộng sản, mà
phải nhờ vào bản lĩnh chính trị kiên định Người mới có thể chịu đựng và vượtqua được
Thực tiễn cách mạng Trung Quốc và những hoạt động của Hồ Chí Minh ở Quảng châu
Tháng 11 - 1924 Nguyễn Ái Quốc đặt chân đến Quảng Châu Về đây,Nguyễn Ái Quốc vừa làm nhiệm vụ của một cán bộ Quốc tế Cộng sản, vừa làmnhiệm vụ của một nhà cách mạng Việt Nam Vì thế, Người không chỉ xây dựnglực lượng cho cách mạng Việt Nam, mà còn giúp đỡ phong trào cách mạngTrung Quốc và các nước trong khu vực với tinh thần quốc tế vô sản trong sáng
Để làm nhiệm vụ cách mạng nước nhà, Nguyễn Ái Quốc bắt tay vàoviệc xây dựng lực lượng cách mạng, tổ chức cho việc truyền bá ánh sáng củaCách mạng Tháng Mười và chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam, chuẩn bịnhững điều kiện cần thiết cho việc thành lập Đảng Cộng sản thông qua việc
tập hợp các thanh niên Việt Nam yêu nước sáng lập Hội Việt Nam cách mạng
Trang 30Thanh niên vào tháng 6 năm 1925 Với sự ra đời của tổ chức này, tư tưởng
của Hồ Chí Minh về dân vận được thể hiện rõ nét
Sống, hoạt động ở Trung Quốc, Người có điều kiện tìm hiểu cuộc cáchmạng Tân Hợi năm 1911 do nhà cách mạng vĩ đại Tôn Trung Sơn lãnh đạo vànhận thấy ở học thuyết “Tam dân” của ông có những điều phù hợp với hoàncảnh nước mình Cơ sở này đã cung cấp cho Nguyễn Ái Quốc những kinhnghiệm quý báu, góp phần hình thành nên lý luận về độc lập cho dân tộc; tự
do, hạnh phúc cho nhân dân
Để thực hiện nhiệm vụ quốc tế đối với cách mạng Trung Quốc, Nguyễn
Ái Quốc đã tham gia vận động xây dựng Hội nông dân Trung Quốc, làm tốtcông tác giáo dục tuyên truyền trong nông dân Còn trên chiến trường, Người
đã sát cánh chiến đấu cùng giai cấp công nhân Trung Quốc trong cuộc đấutranh chống đế quốc và giai cấp tư sản như là một chiến sĩ quốc tế nồng nhiệt
Khi cuộc chính biến phản cách mạng của Tưởng Giới Thạch nổ ra vàotháng 4 năm 1927 Tại đây, Người lại phải chứng kiến sự truy bắt và sát hại dãman của chính quyền phản động Lý Tế Thâm ở Quảng Châu đối với nhữngngười yêu nước, trong đó có những thanh niên yêu nước Việt Nam, rồi sự thấtbại trong biển máu của chính quyền Xôviết Quảng Châu dưới sự lãnh đạo củaĐảng Cộng sản Trung Quốc Song, sự tổn thất này không làm cho Nguyễn ÁiQuốc phải lùi bước trong việc xúc tiến thành lập một chính đảng cho dân tộcmình Dưới sự chỉ đạo của Người, ở trong nước các tổ chức cộng sản đầu tiênlần lượt ra đời, đó là: Đông Dương cộng sản Đảng (tháng 6 - 1929); An Namcộng sản Đảng (tháng 9 - 1929); Đông Dương cộng sản liên đoàn (tháng
- 1 đến 8 - 2 - 1930 tại Cửu Long (Hương Cảng, Trung Quốc)
Trang 31Sau khi hoàn thành việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Nguyễn ÁiQuốc đến Xiêm, Malaixia, Xingapo, làm nhiệm vụ do Quốc tế Cộng sản giaophó Giữa năm 1931, Người trở về Hồng Kông, Thượng Hải để tiếp tục hoạtđộng thì bị thực dân Anh bắt tạm giam vào ngày 6 tháng 6 năm 1931, 15tháng sau Người được trả tự do
Mùa xuân năm 1934, Nguyễn Ái Quốc tới Mátxcơva Lúc này, Người bị
Quốc tế Cộng sản chỉ trích và phê phán vì cho rằng đã phạm sai lầm “hữu khuynh và dân tộc chủ nghĩa” từ việc đặt tên Đảng cho đến việc soạn thảo
Cương lĩnh cho Đảng Cộng sản Việt Nam
Từ đó, 4 năm liền từ 1934 - 1938, Nguyễn Ái Quốc phải thi hành chỉ thịcủa Quốc tế Cộng sản như một người phải đứng ngoài tổ chức Đến Đại hội
VII Quốc tế Cộng sản (7 - 1935) thì tư tưởng “biệt phái, tả khuynh” của tổ
chức này đã được nhận diện và nghiêm khắc phê bình
Đến những năm cuối của thập niên 30, thế kỷ XX, tình hình thế giới cónhiều biến động, Người chủ động đề nghị Quốc tế Cộng sản cho về nước hoạtđộng và được chấp thuận, từ Mátxcơva Người về đến Trung Quốc vào tháng
10 năm 1938 và chuấn bị cho việc trở về Tổ quốc của mình
Bằng sự từng trải của bản thân qua 30 năm tại chính các nước Pháp,
Mỹ, Anh, Đức và tại hầu khắp các thuộc địa châu Á, châu Phi, châu MỹLatinh, nhưng ở bất kỳ ở đâu, Người cũng thấy những cảnh người lao động cơcực đói khổ, bị bắn giết, bị đàn áp dã man Những người da đen đau đớn, quằnquại dưới sự đánh đập của những ông chủ da trắng, những người công nhânlàm việc kiệt sức trong các nhà máy và sống đói rét trong những căn nhà chậtchội, tối tăm Những con người gầy gò, rách dưới, bệnh tật trong túp lều đổnát…Tất cả, đã in sâu trong tâm trí và thường xuyên day dứt tâm can Người
Và Người lấy những nỗi đau khổ ấy làm nỗi đau của chính mình, Người nói:
“Mỗi người, mỗi gia đình đều có một nỗi đau khổ riêng và gộp cả những nỗiđau khổ riêng của mỗi người, mỗi gia đình thì thành nỗi đau của tôi”[30,tr.560 - 561] Từ đó, Người đã lên án chủ nghĩa đế quốc và chế độ thực dân là
“phi nhân tính” cần phải xóa bỏ và đặt con người vào trọng tâm mọi cuộc giải
Trang 32phóng Và, muốn giải phóng những người lao động nghèo khổ thì cần phải tậphợp họ lại, giác ngộ cách mạng cho họ, từ đó họ tự mình đứng lên giải phóngcho mình thoát ra khỏi ách áp bức bóc lột ấy.
Thứ hai, cơ sở lý luận hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận
Hồ Chí Minh tiếp thu và phát triển giá trị truyền thống dân tộc
Có thể nói rằng, tư tưởng dân vận của Hồ Chí Minh được hình thành vàphát triển dựa trên nhiều cơ sở lý luận, nhưng trong đó, việc tiếp thu và pháttriển giá trị truyền thống dân tộc, mà chủ yếu đó là giá trị tư tưởng về vai trò củanhân dân đối với sự tồn tại và phát triển xã hội, mà đặc trưng nhất đó là tinhthần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết toàn dân trong giá trị truyền thống của
dân tộc được coi là tiền đề quan trọng để hình thành nên tư tưởng dân vận của
Hồ Chí Minh
Trong truyền thống dân tộc Việt Nam, vai trò của nhân dân đối với sự tồntại và phát triển xã hội thể hiện trước hết ở sự xuất hiện nước Văn Lang Bởi vì,nước Văn Lang “xuất hiện trên cơ sở sự hợp nhất tự nguyện của 15 bộ lạc anh
em, gắn bó với nhau như anh em cùng một cha mẹ”[17, tr.173] Như vậy, nếukhông có sự đoàn kết, tập hợp “nhân dân” của các bộ lạc thành một “khối thốngnhất” thì không thể xuất hiện nước Văn Lang – nền tảng cho sự lớn mạnh, pháttriển của nước Việt Nam hôm nay
Vai trò của nhân dân còn thể hiện ở các cuộc đấu tranh chống giặc ngoạixâm đô hộ, bảo vệ độc lập cho dân tộc, tiêu biểu hơn nghìn năm Bắc thuộc, nhândân ta luôn nổi dậy, thực hiện những cuộc khởi nghĩa nhằm đánh đổ chính quyền
đô hộ như: Các cuộc khởi nghĩa của Bà trưng, Bà Triệu; cuộc khởi nghĩa của LýBí; Cuộc khởi nghĩa của Mai Thúc Loan;… Từ đó đến thế kỷ thứ IX, sáng thế
kỷ thứ X, thì những cuộc nổi dậy của nhân dân ta mỗi lúc thêm nhiều, thêmmạnh, như: Cuộc khởi nghĩa Phùng Hưng, cuộc binh biến Dương Thanh, cuộctrung hưng của Ngô Quyền Sức mạnh của nhân dân ta còn thể hiện ở các cuộcđại thắng quân Tống, Nguyên, Minh, Thanh xâm lược do các tướng lĩnh LêHoàn, Lý Thường Kiệt, Lê Lợi,… lãnh đạo nhân dân thực hiện Chính nhữngthắng lợi to lớn của các cuộc khởi nghĩa trên đã tác động rất lớn, cũng như góp
Trang 33phần hình thành nên tư tưởng của Hồ Chí Minh về vai trò của nhân dân, củacông tác dân vận.
Ngoài ra, tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của nhân dân, của công tác dânvận còn được hình thành dựa trên cơ sở kế thừa giá trị tinh thần đoàn kết, ý thứccộng đồng gắn kết toàn dân trong truyền thống của dân tộc Bởi tinh thần đoànkết, ý thức cộng đồng gắn kết toàn dân là một rong những giá trị tinh thần cốt lõicủa dân tộc Việt Nam Tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng trong con ngườiViệt Nam được hình thành do tác động của quá trình sản xuất Ban đầu ngườiViệt Nam sống chủ yếu ở đồng bằng sông Hồng, họ phải chung sức làm thủy lợi
để phát triển kinh tế và từ đó hình thành nên tinh thần đoàn kết, ý thức cộngđồng Như vậy, ban đầu do sống trong môi trường kinh tế lúa nước nên tínhcộng đồng dân cư được hình thành Cùng với sự phát triển của nền kinh tế này,vai trò của cộng đồng ngày càng được củng cố Vai trò ấy thích hợp trong mộtnền sản xuất tiểu nông và sống dựa vào môi trường Sau đó chủ nghĩa yêu nướcbồi đắp tinh thần đoàn kết bằng một sức sống vĩ đại hơn, nó buộc con người tasống với nhau trong cộng đồng bằng tinh thần của chủ nghĩa yêu nước Tình yêuquê hương, yêu lao động sản xuất, tinh thần chống xâm lăng khiến cho sức sốngtinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết toàn dân trở nên bền chặt hơn
Sự phát triển của chủ nghĩa yêu nước trong cộng đồng dân cư đã chi phốimạnh mẽ vai trò của các cộng đồng dân cư và tạo nên tính cố kết của mỗi ngườidân trong cộng đồng Tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết toàn dân, vớicác thế hệ người Việt Nam đã trở thành một triết lý nhân sinh,
“Một cây làm chẳng nên non
Ba cây chụm lại nên hòn núi cao”[41, tr.107]
Hay:
“Nhiễu điều phủ lấy giá gương
Người chung một nước phải thương nhau cùng”[10, tr.341]
Hoặc:
“Bầu ơi thương lấy bí cùng
Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn” [10, tr.341]
Trang 34Những giá trị nhân văn sâu sắc và quý giá đó không chỉ được phản ánhtrong kho tàng văn học dân gian, mà còn được người anh hùng dân tộc TrầnHưng Đạo đúc kết, nâng lên thành kinh nghiệm, thành phép trị nước và đánhgiặc: “Trên dưới đồng lòng, cả nước chung sức”, “Tướng sĩ một lòng phụ tử”.
Do vậy, ở con người Việt Nam, ý thức gắn kết toàn dân được hình thành từrất sớm và tồn tại lâu dài cùng với hành trình dân tộc Tinh thần đoàn kết, ý thứccộng đồng gắn kết toàn dân chính là sức mạnh bảo đảm cho dân tộc Việt Namtrường tồn, lớn mạnh và chiến thắng Trong lịch sử dân tộc Việt Nam khôngthiếu gì người yêu nước anh hùng lập đi lập lại câu nói bất hủ: dân như nước,vua như thuyền, nước đỡ thuyền mà có thể lật thuyền Đó là cách nói về vai tròcủa nhân dân trong cuộc đổi thay các thời đại “Việc làm cách mạng là việc dờinúi lấp biển, không huy động hàng triệu nhân dân thì không làm nổi, sự nghiệpgiải phóng không thành công, giỏi lắm chỉ thành danh người chiến đấu”[16,tr.206] Và, cũng chính tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết toàn dân làsợi chỉ đỏ xuyên suốt mà Hồ Chí Minh luôn đề cao và phát huy có hiệu quảtrong suốt quá trình hoạt động cách mạng, cũng như hình thành và phát triển nên
tư tưởng dân vận của mình
Hồ Chí Minh tiếp thu, kế thừa những giá trị tinh hoa phương Đông và phương Tây
Do vị trí địa lý của đất nước, do yêu cầu của sự phát triển, Việt Nam sớmgiao lưu văn hóa với bên ngoài, người Việt Nam không hẹp hòi, thủ cựu hay bàingoại cực đoan, mà người Việt Nam tiếp nhận văn hóa bên ngoài qua khúc xạlăng kính của mình để hình thành nên những nét đặc trưng riêng có của dân tộcViệt Nam
Trước khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, tư tưởng Việt Nam là hệ tưtưởng phong kiến thuần nhất, trong đó chủ yếu là Nho giáo và Phật giáo đã luônđồng hành cùng với truyền thống văn hóa và nhu cầu phát triển của dân tộc Dovậy, tư tưởng Nho giáo và Phật giáo ảnh hưởng không nhỏ đến việc hình thành
và phát triển tư tưởng dân vận của Hồ Chí Minh
Trang 35Về Nho giáo, được du nhập vào Việt Nam vào khoảng thế kỷ thứ I trướcCông nguyên, nhưng đến thời Lý – Trần thì Nho giáo mới thực sự phát triển, Và,chính thức thâm nhập sâu, rộng vào đời sống tinh thần của nhân dân Việt Nam ởthời Hậu Lê (Lê Thái Tổ) Từ thế kỷ XVI trơ đi, Nho giáo bắt đầu suy yếu Dướithời nhà Nguyễn, ở thế kỷ XIX, Nho giáo mới được phát triển trở lại Theo Nhogiáo, “Nhân” là quan hệ giữa người với người trong xã hội Khổng Tử giải thích
“Nhân” tùy theo từng trường hợp cụ thể Nhân là bỏ hết tư dục, là yêu người, làkhông làm cho người khác cái gì mà mình không muốn Chính tiếp thu tư tưởng
ấy mà trong suốt quá trình tìm đường cứu nước, cũng như quá trình lãnh đạocách mạng của mình, Hồ Chí Minh luôn nghĩ đến lợi ích nhân dân, mà trước hết
là quần chúng nhân dân lao động, những người nghèo khổ và nghĩ đến lợi íchcủa dân tộc Từ đó, Người luôn tìm mọi cách để tập hợp quần chúng nhân dânlao động, tìm cách để giải phóng họ ra khỏi áp bức, bóc lột, bất công
Về Phật giáo, được truyền bá vào nước ta khoảng thế kỷ thứ I, khi nước taphụ thuộc nhà Hán Ngay từ thời sơ khai, Phật giáo đã được người Việt tiếpnhận một cách tự nhiên, bởi triết lý Phật giáo có nhiều yếu tố phù hợp với vănhóa và đạo đức người Việt Một trong những điều đó theo Hồ Chí Minh là luônhướng con người đến chân, thiện, mỹ, luôn muốn giúp con người có cuộc sốngtốt đẹp hơn Chính những giá trị tốt đẹp đó cũng đã góp phần hình thành tưtưởng vì dân, dân vận của Hồ Chí Minh
Tư tưởng dân vận của Hồ Chí Minh không chỉ được hình thành trên nềntảng của Nho giáo, Phật giáo – tức những tinh hoa văn hóa phương Đông - mà
nó còn chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi thành tựu văn minh phương Tây
Hồ Chí Minh tiếp xúc và làm quen với nền văn minh phương Tây từ khicòn ở trong nước, nhưng Người chỉ thực sự hiểu và biết nhiều về nền văn minhphương Tây, đặc biệt là nền văn minh của nước Pháp khi Người sống, học tập vàlao động tại Pháp Đặc biệt khi Hồ Chí Minh tiếp cận được những tác phẩm nổi
tiếng là “Tinh thần pháp luật” của Montesquieu, “Khế ước xã hội”của Rousseau, “Bản sơ thảo lần thứ nhất về vấn đề dân tộc và thuộc địa” của
V.I.Lênin,… chính những tư tưởng về dân chủ, về quyền con người, về vai trò
Trang 36của quần chúng nhân dân lao động trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng mình,
về tinh thần đoàn kết,… đã được Hồ Chí Minh tiếp thu và phát triển thành những
tư tưởng về dân vận của mình
Hồ Chí Minh tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin
Đứng trên thế giới quan và phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa duyvật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, chủ nghĩa Mác - Lênin đã có những tưtưởng sâu sắc về quần chúng nhân dân và vai trò của quần chúng nhân dân
“Quần chúng nhân dân là chủ thể sáng tạo chân chính ra lịch sử, lực lượngquyết định sự phát triển của lịch sử Do đó, lịch sử trước hết và căn bản là lịch sửhoạt động của quần chúng nhân dân trên tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế -
xã hội”[8, tr.178]
Vai trò chủ thể sáng tạo ra lịch sử, quyết định tiến trình phát triển của lịch sửcủa quần chúng nhân dân thể hiện: Là lực lượng sản xuất cơ bản của mọi xã hội,trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất đáp ứng nhu cầu tồn tại và phát triển của conngười, của xã hội; là lực lượng trực tiếp hoặc gián tiếp sáng tạo ra các giá trị tinhthần của xã hội và kiểm chứng các giá trị đó; là lực lượng và động lực cơ bản củamọi cuộc cách mạng và các cuộc cải cách lịch sử Lịch sử nhân loại đã chứng minhrằng không có một cuộc cách mạng hay một cuộc cải cách xã hội nào có thể thànhcông nếu nó không xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng của đông đảo quần chúngnhân dân Như vậy, những cuộc cách mạng và cải cách xã hội cần đến lực lượcquần chúng nhân dân
Có thể nói, chính tư tưởng về quần chúng nhân dân và vai trò của quầnchúng nhân dân của chủ nghĩa Mác - Lênin là cơ sở lý luận quyết định cho sựhình thành, phát triển tư tưởng dân vận của Hồ Chí Minh Và cũng từ những tưtưởng đó, Hồ Chí Minh đã tiếp thu, phát triển để xây dựng nên tư tưởng dân vậncủa mình
Thứ ba, truyền thống quê hương, gia đình của Hồ Chí Minh
Hồ Chí Minh sinh ra trong một gia đình nhà nho yêu nước ở xã Kim Liên,huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An - một vùng quê vừa giàu truyền thống văn hóa,vừa giàu truyền thống lao động và đấu tranh chống ngoại xâm Ở tuổi ấu thơ của
Trang 37mình, Hồ Chí Minh là một học trò thông minh chăm học, thích tìm hiểu nhữngđiều mới lạ, được khai tâm bằng chữ Hán, Người ham đọc thơ ca yêu nước,thích nghe những câu chuyện về anh hùng dân tộc Những câu chuyện về thờicuộc thông qua sự giáo dục của người cha là phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, tinhthần cách mạng của chị gái Nguyễn Thị Thanh và anh trai Nguyễn Sinh Khiêm.Tất cả, đã nuôi dưỡng những tình cảm ban đầu của Hồ Chí Minh đó là thươngyêu và giúp đỡ mọi người, căm ghét sự bất công và tàn bạo Với nhãn quanchính trị sắc sảo, Nguyễn Tất Thành thấu hiểu được sức mạnh của ý chí độc lập
tự cường, tinh thần đoàn kết toàn dân tộc, từ đó đã hình thành trong Hồ ChíMinh tư tưởng dân vận trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Namtrong thời đại mới, mà nó còn phát huy sức mạnh trong cuộc đấu tranh chốngchủ nghĩa thực dân, vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ trên phạm vitoàn thế giới
1.2 Nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận
1.2.1 Nhân dân là chủ, nhân dân làm chủ
Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng của mình, Hồ Chí Minh luôn coicách mạng là sự nghiệp của nhân dân và vì nhân dân Bản chất của nhà nước ta
là nhà nước của dân, do dân, vì dân Ngay nội dung đầu tiên trong tác phẩm Dân vận, Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Nước ta là nước dân chủ”[26, tr.232] Chính
quyền là cơ quan đại diện cho nhân dân để quản lý mọi việc của dân, của xã hội.Cán bộ Chính quyền từ Trung ương, đến xã đều do dân cử ra, chịu sự giám sátcủa dân Mọi hoạt động của chính quyền xét đến cùng là phục vụ lợi ích chính
đáng của nhân dân Hồ Chí Minh khẳng định: “Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ”[27, tr.515] Hay trong tác phẩm Dân vận, Hồ Chí Minh viết: “Nước ta là nước dân chủ Bao nhiêu lợi ích đều vì dân Bao nhiêu quyền hạn đều của dân Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương do dân cử ra Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân
tổ chức nên Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”[27 tr.232].
Trang 38Như vậy, theo quan niệm của Hồ Chí Minh, mọi công việc đều do dân vàthành quả của nền dân chủ mới thuộc về đại đa số quần chúng nhân dân chứ
không phải bất cứ một số ít dân cư nào Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, nhà nước của dân là nhà nước trong đó dân là chủ; dân là người có địa vị cao nhất, có
quyền quyết định những vấn đề quan trọng nhất của đất nước Người khẳng
định: “Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”[28, tr.218]; Nhà nước do dân nghĩa là dân tổ chức ra nhà nước, Nhà nước từ nhân dân mà ra, dựa
vào dân mà hoạt động Nhân dân là người tổ chức nên các cơ quan nhà nước từTrung ương đến địa phương thông qua thực hiện chế độ bầu cử công khai, dânchủ Nhân dân có quyền bầu cử, ứng cử vào các cơ quan lãnh đạo của Nhà nướcnhư Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp; đồng thời thực hiện chế độ bãi miễn
những đại biểu không xứng đáng Người viết: “Chính phủ làm hại dân thì dân
có quyền đuổi Chính phủ”[25 tr.60] Dân phải có trách nhiệm, nghĩa vụ đóng
góp trí tuệ, sức người, sức của để tổ chức, xây dựng, bảo vệ và phát triển đấtnước Đồng thời nhân dân có quyền tham gia vào công việc quản lý Nhà nước,phê bình, kiểm tra, kiểm soát, giám sát hoạt động của các cơ quan Nhà nước, các
đại biểu do mình cử ra ; Nhà nước vì dân là Nhà nước phục vụ nhân dân, đem lại
lợi ích cho nhân dân Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo một mục tiêucao nhất là không ngừng cải thiện và nâng cao đời sống của nhân dân đúng với
phương châm: Việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại đến dân phải hết sức tránh Nhà nước phải chăm lo mọi mặt đời sống của nhân dân, thảo
mãn các nhu cầu thiết yếu nhất là làm cho dân có ăn, làm cho dân có mặc, làmcho dân có chỗ ở, làm cho dân được học hành, làm cho dân có điều kiện khámchữa bệnh, chăm sóc sức khỏe…
1.2.2 Phương thức làm dân vận
Phương thức làm dân vận là cách thức, phương pháp làm dân vận Bởi HồChí Minh khẳng định: “Dân vận không thể chỉ dùng báo chương, sách vở, míttinh, khẩu hiệu, truyền đơn, chỉ thị mà đủ”[27, tr.233] Do đó, trong tác phẩm
Dân vận, Hồ Chí Minh đã đưa ra cách thức làm dân vận, đó là: “Trước nhất là
Trang 39phải tìm mọi cách giải thích cho mỗi một người dân hiểu rõ ràng : Việc đó là lợi
ích cho họ và nhiệm vụ của họ, họ phải hăng hái làm cho kỳ được Điểm thứ hai
là bất cứ việc gì đều phải bàn bạc với dân, hỏi ý kiến và kinh nghiệm của dân,cùng với dân đặt kế hoạch cho thiết thực với hoàn cảnh địa phương, rồi độngviên toàn dân ra thi hành Trong lúc thi hành phải theo dõi, giúp đỡ, đôn đốc,khuyến khích dân Khi thi hành xong phải cùng với dân kiểm thảo lại công việc,rút kinh nghiệm, phê bình, khen thưởng”[27, tr.233]
Còn phương pháp làm dân vận, theo Hồ Chí Minh đó chính là những yêucầu rất cụ thể đối với người phụ trách dân vận Đó là: “Óc nghĩ, mắt trông, tai
nghe, chân đi, miệng nói, tay làm.”[27, tr.234] Trong đó: Óc nghĩ, điều này được Hồ Chí Minh đặt ở vị trí hàng đầu, cho thấy người đặc biệt đề cao trí tuệ
và yêu cầu về sự “động não” của người làm công tác dân vận Bác Hồ muốnkhẳng định, công tác dân vận không chỉ là những thao tác cụ thể, những công
thức có sẵn mà bản thân nó là một khoa học - khoa học về con người, một nghệ thuật - nghệ thuật tiếp cận và vận động con người, phải dày công tìm tòi suy
nghĩ để phân tích chính xác tình hình nhân dân, vận dụng sáng tạo lý luận vào
thực tiễn sinh động để vận động nhân dân có hiệu quả ; Mắt trông: Là quan sát
mọi sự việc, hiện tượng từ thực tiễn phong trào cách mạng của quần chúng, để
“trăm nghe không bằng một thấy” Với sự nhạy cảm, tinh tế trong quan sát, kếthợp với “óc nghĩ” xác định được đúng, sai, nhận rõ bản chất và hiện tựợng củatừng sự việc, từng vấn đề để làm đúng, tham mưu kịp thời cho Đảng và Nhànước để có cách giải pháp đúng đắn kịp thời đưa phong trào của quần chúng điđúng hướng Ở điểm này, Hồ Chí Minh muốn nhắc nhở cán bộ, đảng viên làmcông tác dân vận phải thường xuyên sâu sát cơ sở Vì chỉ có sát cơ sở mới có thể
“thấy” mọi sự việc, vấn đề Theo đó, muốn vận động quần chúng một cách thiếtthực, muốn làm tốt vai trò tham mưu phải “mục sở thị” được các sự việc và vấn
đề liên quan đến công tác dân vận; Tai nghe: là một phương pháp khoa học của
công tác dân vận, theo Hồ Chí Minh cũng với “óc nghĩ”, “mắt trông”, người làmcông tác dân vận còn phải đồng thời nắm bắt kịp thời các thông tin từ quầnchúng Đòi hỏi phải biết nghe dân nói, từ đó mà hiểu được những tâm tư, nguyện
Trang 40vọng chính đáng của dân; loại trừ những thông tin thiếu chân thực, chính xác.Nghe dân nói, cũng là để biết dân đã hiểu gì, hiểu đến mức như thế nào, đã làmnhư thế nào và làm được đến đâu Về bản thân, mình cũng thấy được những gì
cần phải bổ sung, điều chỉnh khi thực hiện công tác dân vận; Chân đi: là yêu cầu
gắn với cơ sở, một đòi hỏi bức thiết, luôn đặt ra đối với cán bộ dân vận, đâycũng là một yếu tố chống căn bệnh quan liêu, hành chính, làm việc theo kiểu
giấy tờ của các cơ quan Hồ Chí Minh là tấm gương mẫu mực luôn luôn hướng
về cơ sở và gắn bó với cơ sở Sinh thời, dù bận trăm công, nghìn việc nhưng chủtịch Hồ Chí Minh vẫn luôn dành thời gian đi cơ sở để khảo sát tình hình thực tế,lắng nghe ý kiến của dân và trực tiếp tháo gỡ những khó khăn nẩy sinh trongdân Xuống với dân như về gia đình mình, người tuyệt đối không muốn “cờrong, trống mở” xe đưa xe đón.Nhiều lần người đến thăm cơ sở nhưng khôngbáo trước người hết sức nghiêm khắc với bệnh tô vẽ, thổi phồng thành tích dẫntới lừa dân, hại dân, dối trên, lừa dưới của một số cán bộ mắc bệnh thành tích ;
Miệng nói: Là thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền, nhất là tuyên tuyền miệng, một
hình thức tuyên truyền không thể thiếu của người làm công tác dân vận Ngườicán bộ dân vận phải thường xuyên có trách nhiệm tuyên truyền, cổ động nhândân thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, pháp luật, văn hóa, xã hội và anninh quốc phòng Theo Hồ Chí Minh, để dân hiểu, dân tin, dân ủng hộ và làmtheo thì công tác tuyên truyền miệng phải đúng và phải khéo Nói với với dânphải đơn giản, rõ ràng, thiết thực và cụ thể, tránh mệnh lệnh, hơn thế, còn phải
có thái độ mềm mỏng; đối với người già, các bậc lão thành phải cung kính, lễ độ,với đồng chí, đồng bào phải đúng mực, nghiêm trang, với nhi đồng phải thương
yêu, quý mến ; Tay làm: là thể hiện quan niệm học đi đôi với hành, là gương
mẫu,làm gương trước cho quần chúng Nếu nói là để dân nghe, thì làm là để dânthấy, dân tin, dân học làm theo Lời nói đi đôi với hành độnglà một yêu cầu, mộtphương pháp hết sức quan trọng đối với cán bộ nói chung, cán bộ làm công tácdân vận nói riêng Sinh thời, Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến hai mặt củamột vấn đề này Người từng có hàng loạt bài viết, bài nói phê phán những cán
bộ, đảng viên “nói không đi đôi với làm”, “nói hay mà làm dở” hoặc “đánh trống