TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HOÀNG VĂN THANH Tên đề tài: NGHIÊN CỨU MỘT SỐ YẾU TỐ SINH THÁI –MÔI TRƯỜNG ẢNH HƯỞNG ĐÊN SỰ PHÂN BỐ CỦA CÂY PƠ MU FOKIENIA HODGINSII TẠI KHU BTTN HOÀNG LIÊN –
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
HOÀNG VĂN THANH
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ YẾU TỐ SINH THÁI –MÔI TRƯỜNG ẢNH HƯỞNG ĐÊN SỰ PHÂN BỐ CỦA CÂY PƠ MU (FOKIENIA HODGINSII) TẠI KHU BTTN HOÀNG LIÊN –
VĂN BÀN, HUYỆN VĂN BÀN TỈNH LÀO CAI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Khoa học môi trường
Niên khóa : 2010 - 2014
Thái Nguyên, năm 2014
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ YẾU TỐ SINH THÁI –MÔI TRƯỜNG ẢNH HƯỞNG ĐÊN SỰ PHÂN BỐ CỦA CÂY PƠ MU (FOKIENIA HODGINSII) TẠI KHU BTTN HOÀNG LIÊN –
VĂN BÀN, HUYỆN VĂN BÀN TỈNH LÀO CAI
Giảng Viên hướng dẫn : PGS.TS Nguyễn Ngọc Nông
Sinh viên thực hiện : Hoàng Văn Thanh
Trang 3Thực tập tốt nghiệp là một khâu quan trọng giúp sinh viên trau dồi, củng
cố, bổ sung kiến thức đã học tập được ở trường Đồng thời cũng giúp sinh viên tiếp xúc với thực tế đem những kiến thức đã học áp dụng vào thực tiễn sản xuất Qua đó giúp sinh viên học hỏi và rút ra kinh nghiệm từ thực tế để khi ra trường trở thành một cán bộ có năng lực tốt, trình độ lí luận cao, chuyên môn giỏi Đáp ứng nhu cầu cấp thiết của xã hội
Với mục đích và tầm quan trọng trên ,được sự nhất trí của Nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Môi trường - Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, em tiến
hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu một số yếu tố sinh thái – môi trường ảnh hưởng đến sự phân bố của cây Pơ mu (Fokienia hodginsii) tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên – Văn Bàn, huyện Văn Bàn tỉnh Lào Cai”
Để hoàn thành khóa luận này, em xin chân thành cảm ơn đến:
- Ban Giám hiệu trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên
- Ban chủ nhiệm khoa cùng tập thể thầy, cô giáo khoa Môi trường đã truyền đạt truyền đạt cho e kiến thức và giúp đỡ, tạo mọi điều kiện học tập cho
em trong suốt thời gian thực tập cũng như trong suốt quá trình học tập rèn luyện tại trường
- Tập thể tập thể cán bộ Ban Quản Lý Khu BTTN Hoàng Liên – Văn Bàn
đã tạo mọi điều kiện, tận tình chỉ bảo, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho
em trong quá trình thực tập tại Khu Bảo Tồn
- Đặc biệt em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Thầy giáo PGS.TS Nguyễn Ngọc Nông đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em thực hiện và hoàn thành tốt bài
khóa luận tốt nghiệp của mình
Với trình độ năng lực của bản thân và thời gian có hạn lần đầu tiên xây dựng khóa luận, mặc dù đã hết sức cố gắng song không tránh khỏi thiếu sót Em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy cô giáo và bạn
bè để bản khóa luận của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 5 năm 2014
Sinh Viên
Hoàng Văn Thanh
Trang 4IUCN Liên minh Bảo tồn thiên nhiên Quốc tế
BTTN Bảo tồn thên nhiên
WWF Quỹ Quốc tế bảo vệ thiên nhiên
TCVN Tiêu chuẩn Việt Nam
IBA Vùng chim Quan trọng
PCCC Phòng cháy chữa cháy
BTLSC Bảo tồn loài Sinh cảnh
ĐTQHR: Viện điều tra Quy hoạch rừng
ASEAN Hiệp hội các nước Đông Nam Á
MAB Chương trình Con người và Sinh quyển
CITES Công ước về thương mại Quốc tế các loài động, thực vật hoang
dã nguy cấp UNESCO Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc UNEP Chương trình Môi trường Liên Hiệp Quốc
UBND Ủy ban nhân dân
NTFPRC Trung tâm nghiên cứu Lâm sản ngoài gỗ
PTNT Phát triển Nông thôn
Trang 5Bảng 2: Hiện trạng diện tích các loại đất loại rừng 15
Bảng 4.1: Diện tích, dân số và mật độ dân số 24
Bảng 4.2 Sự phân bố các ngành thực vật bậc cao có mạch tại Khu bảo tồn 29
Bảng 4.3 Mười họ thực vật có số loài lớn nhất trong KBT 30
Bảng 4.4: Mười chi có số loài lớn nhất của khu bảo tồn 31
Bảng 4.5: Các loài có nguy cơ tuyệt chủng Khu BTTN Hoàng Liên 32
Bảng 4.6: Hệ động vật KBTTN Hoàng Liên Văn Bàn 34
Bảng 4.7: So sánh tài nguyên động vật Khu BTTN Hoàng Liên Văn Bàn và một số VQG và khu bảo tồn thiên nhiên khác 35
Bảng 4.8: Danh sách động vật quý hiếm Khu bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên Văn Bàn tỉnh Lào Cai 37
Bảng 4.9: Kết quả điều tra đất 51
Bảng 4.10: Một số chỉ tiêu đất tại khu vực nghiên cứu 52
Bảng 4.11: So sánh đặc điểm sinh thái – môi trường giữa các ÔTC 55
Bảng 4.12: Loài xuất hiện trong 8 Ô TC 56
Trang 6Hình 2 Bản đồ hiện trạng tài nguyên rừng và đất đai Khu BTTN Hoàng Liên –
Văn Bàn 14
Hình 4.1: Hình thái than cây Pơ mu 42
Hình 4.2: Hình thái lá cây Pơ mu 43
Hình 4.3: Nón hạt non và nón hạt chin Pơ mu 43
Hình 4.4: hình vẽ cành mang nón, lá và nón cây Pơ mu 44
Hình 4.5: Bản đồ phân bố cây Pơ mu ở Việt Nam 45
Hình 4.6: Hình ảnh về khai thác gỗ trái phép ở trong vùng lõi Khu BTTN 46
Hình 4.7: Sơ đồ phân bố một số loài thực vật theo đai độ cao……….… 50
Trang 7Phần 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục đích của đề tài 3
1.3 Mục tiêu của đề tài 3
1.4 Yêu cầu của đề tài 3
1.5 Ý nghĩa của đề tài 3
1.5.1 Ý nghĩa trong học tập 3
1.5.2 Ý nghĩa thực tiễn 4
1.5.3 Ý nghĩa trong nghiên cứu khoa học 4
Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5
2.1 Cơ sở lý luận của đề tài 5
2.1.1 Đa dạng sinh học và một số khái niệm liên quan 5
2.1.2 Các văn bản pháp lý liên quan 6
2.2 Cơ sở thực tiễn 7
2.2.1 Các nghiên cứu ngoài nước về cây Pơ mu 7
2.2.2 Các nghiên cứu về cây Pơ mu ở Việt Nam 8
2.2.3 Tổng quan về khu bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên – Văn Bàn 13
2.2.3.1 Lịch sử hình thành và phát triển 13
2.2.3.2 Tài nguyên rừng và đa dạng sinh học 14
Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 17
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 17
3.1.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 17
3.2 Nội dung nghiên cứu 17
3.3 Phương pháp nghiên cứu 17
3.3.1 Phương pháp thu thập số liệu 17
3.3.1.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 17
Trang 83.3.2 Phương pháp chuyên gia 18
3.3.3 Phương pháp tổng hợp, phân tích và đánh giá số liệu 18
3.4 Các chỉ tiêu nghiên cứu 19
Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 20
4.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội ảnh hưởng tới bảo tồn đa dạng sinh học và bảo tồn thiên nhiên, tác động đến sự phân bố của cây Pơ mu 20
4.1.1 điều kiện tự nhiên 20
4.1.1.1 Vị trí địa lý 20
4.1.1.2 Địa hình địa mạo 20
4.1.1.3 Khí hậu 21
4.11.4 thủy văn 22
4.1.1.5 Thổ nhưỡng 22
4.1.1.6 Địa chất 23
4.1.2 Điều kiện kinh tế – xã hội 24
4.1.2.1 Dân số, dân tộc và phân bố dân cư 24
4.1.2.2 Tăng trưởng, cơ cấu kinh tế và thu nhập 24
4.1.2.3 Cơ sở hạ tầng 25
4.2 Đặc điểm về đa dạng sinh học tại khu BTTN Hoàng Liên – Văn Bàn 27
4.2.1 Hệ sinh thái 27
4.2.2Thành phần loài cây Khu BTTN Hoàng Liên – Văn Bàn 29
4.2 3 Tài nguyên động vật rừng 33
4.2.4 Đặc điểm về cảnh quan 40
4.3 Nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh học và phân bố của cây Pơ mu 41
4.3.1 Đặc điểm hình thái 41
4.3.2 Đặc điểm sinh vật học 44
4.3.3 Đặc điểm phân bố và trữ lượng cây Pơ mu 45
4.4 Nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố sinh thái – môi trường tới sự phân bố của cây Pơ mu 47
Trang 94.4.2 Mối quan hệ của cây Pơ mu với các yếu tố sinh thái môi trường tại 8 ÔTC53
4.5 Đề xuất một số giải pháp bảo tồn cây Pơ mu tại Khu BTTN Hoàng Liên –
Văn Bàn 61
4.5.1Biện pháp kinh tế 62
4.5.2 Biện pháp quản lý 62
4.5.3 Biện pháp kỹ thuật 62
4.5.4 Biện pháp giáo dục 63
4.5.5 Biện pháp quy hoạch bảo tồn 63
Phần 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 64
5.1 Kết luận 64
5.2 Kiến nghị 65
TÀI LIỆU THAM KHẢO 66
Trang 10Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với sự phát triển kinh tế – xã hội thì những mất mát về đa dạng
sinh học cũng đã và đang diễn ra, đặc biệt là các loài cây quý hiếm có nhiều
giá trị như loài Pơ mu (Fokienia hodginsii (Dunn) A Henry et Thomas)[23]
thuộc họ Hoàng đàn (Cupressaceae) cũng đang đứng trước nguy cơ đó Trong tiến trình phát triển tiếp theo đòi hỏi chúng ta có nhận thức và hành động đầy
đủ hơn để đạt được sự bền vững, trong đó có nhu cầu nghiên cứu bảo tồn các loại đặc hữu, quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng và có nóhiều giá trị không chỉ
về sinh học, sinh thái môi trường mà còn cả trong kinh tế, đời sống xã hội, trong đó có loài cây Pơ mu
Chi Pơ mu (danh pháp khoa học là: Fokienia) là một chi trong họ Hoàng đàn (Cupressaceae) là trung gian giữa hai chi chamaecyparis và
Calocedrus, nhưng về mặt di truyền học chi Fokienia gần gũi hơn với chi thứ
nhất Chi này chỉ có một loài còn sống là cây pơ mu (Fokienia
hodginsii (Dunn) A.Henry & H.H.Thomas) trong các tài liệu bằng tiếng nước
ngoài như tiếng Anh gọi là Fujian cypress (tạm dịch là bách Phúc Kiến), và một loài chỉ còn ở dạng hóa thạch là Fokienia ravenscragensis (Bách khoa
toàn thư[23]) Ở trên thế giới loài Pơ mu hiện được đánh giá đang ở mức gần
bị tuyệt chủng theo tiêu chí IUCN 1994 Tuy nhiên, tại mỗi quốc gia Pơ mu đều bị khai thác với qui mô lớn và các quần thể trở nên bị phân cách và cô lập Hiện trạng quốc tế của loài đang được đánh giá lại Còn ở Việt Nam hiện đang được xếp vào mức đang bị tuyệt chủng
Hiện nay phần lớn số lượng loài Pơ mu còn lại tập trung ở các vùng núi
xa xôi của Lào Cai, Nghệ An và Lâm Đồng Hai quần thể tự nhiên tại Kỳ Sơn, Nghệ An và Văn Bàn, Lào Cai đã được đăng ký là nguồn giống quốc gia[20]
Do những giá trị về kinh tế mà cây Pơ mu đem lại nên trữ lượng của loài này ngày càng suy giảm nghiêm trọng
Rừng núi Hoàng Liên Sơn nói chung cũng như Khu bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên – Văn Bàn nói riêng không thể tránh khỏi tình trạng nói trên
Trang 11Tình trạng khai thác trái phép tài nguyên rừng quý giá ở Khu BTTN Hoàng Liên diễn ra ngày càng phức tạp với nhiều hình thức và thủ đoạn để che mắt
cơ quan chức năng Theo đó thì những cây gỗ có giá trị kinh tế cao hay quý hiếm, đặc hữu dần mát đi như Pơ mu, Bách tán Đài Loan, Dổi, Đinh, Lim,… Thậm chí ở nhiều nơi đã không còn Đây là mối đe dọa lớn đối với việc bảo tồn đa dạng sinh học nói chung và bảo tồn loài Pơ mu nói riêng ở Khu BTTN Hoàng Liên
Với tình trạng đó Khu bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên – Văn Bàn thuộc huyện Văn Bàn tỉnh Lào Cai đã được thành lập theo Quyết định số 702/QĐ –
UB ngày 27 tháng 3 năm 2007 của UBND tỉnh Lào Cai Với tổng diện tích là 25.669 ha, trong đó phân khu bảo vệ nghiêm ngặt là 21.629 ha Với nhiệm vụ chủ yếu là Khôi phục và bảo tồn nguyên vẹn các hệ sinh thái, bảo tồn tính đa dạng sinh học, các mẫu chuẩn hệ sinh thái rừng trên núi cao, nguồn gen động, thực vật rừng quý hiếm, đặc hữu, …
Khu BTTN Hoàng Liên – Văn Bàn là một khu có tầm quan trọng về bảo tồn cao Nó kết nối với Vườn Quốc gia Hoàng Liên Sơn (một khu di sản của ASEAN) và gần với Khu BTLSC Mù Căng Chải (tỉnh Yên Bái) Ngoài phong cảnh đẹp và ấn tượng, về đa dạng sinh học khu này có số lượng loài lớn nhất so với bất kỳ khu nào khác ở Đông Dương (Nguyễn Nghĩa Thìn, Nguyễn Thị Thời, 1998[10]) Chính điều này khiến nó được xếp làm một khu ưu tiên trong Kế hoạch[8] hành động ĐDSH quốc gia của Việt Nam (Chính phủ Việt Nam VIE/91/G31, 1995) và được Birdlife International xếp làm một Vùng chim quan trọng (IBA) Nhưng hiện tại, những áp lực do người dân ở vùng đệm (là chủ yếu) đang tác động tiêu cực đến đa dạng loài của KBT Tác động của con người lên các sinh cảnh có thể thấy được ở khắp nơi trừ những nơi quá cao, trong đó do cả canh tác du canh, cố định và ở những khu vực đã bị khai phá để sản xuất nông nghiệp hoặc bị đốt, cỏ và trảng bụi phát triển Những mối đe dọa đó không ngừng gia tăng làm cho nguy cơ mất đi hệ sinh thái rừng và tính đa dạng sinh học, nhất là loài Pơ mu của KBT là một thực tế không thể tránh khỏi Xuất phát từ thực tiễn đó, được sự đồng ý của Ban Giám Hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Môi trường dưới sự hướng dẫn của thầy giáo PGS.TS Nguyễn Ngọc Nông – Giảng
Trang 12viên khoa Môi trường, Phó Hiệu trưởng trường Đại học Nông Lâm Thái
Nguyên Em tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu một số yếu tố sinh thái – môi trường ảnh hưởng đến sự phân bố của cây Pơ mu (Fokienia hodginsii) tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên – Văn Bàn, huyện Văn Bàn tỉnh Lào Cai ”
1.2 Mục đích của đề tài
Đánh giá hiện trạng bảo tồn và nghiên cứu mối quan hệ giữa các yếu tố sinh thái – môi trường tới sự phân bố của cây Pơ mu tại Khu BTTN Hoàng Liên – Văn Bàn
1.3 Mục tiêu của đề tài
- Đánh giá hiện trạng đa dạng sinh học cây Pơ mu tại Khu BTTN Hoàng Liên – Văn Bàn
- Nghiên cứu đặc điểm sinh thái và sinh vật học của cây Pơ mu
- Nghiên cứu một số yếu tố sinh thái – môi trường ảnh hưởng đến sự phân bố của cây Pơ mu tại Khu BTTN Hoàng Liên
- Đề xuất một số giải pháp để bảo tồn cây Pơ mu
1.4 Yêu cầu của đề tài
- Đánh giá khái quát được điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của huyện Văn Bàn và ảnh hưởng của các điều kiện đó tới cây Pơ mu
- Nêu các yếu tố ảnh hưởng sự phân bố của cây Pơ mu và đánh giá các ảnh hưởng của chúng
- Số liệu phản ánh trung thực, khách quan
- Kết quả phân tích đạt được mục tiêu nghiên cứu
- Các giải pháp đưa ra có tính khả thi cao và phù hợp với điều kiện tại địa phương
1.5 Ý nghĩa của đề tài
1.5.1 Ý nghĩa trong học tập
Giúp em có cơ hội tiếp cận với cách thực hiện một đề tài khoa học, góp phần xây dựng phương pháp và kỹ thuật điều tra, nghiên cứu phục vụ nhu cầu bảo tồn và phát triển cây Pơ mu tại Khu bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên nói riêng và tại Việt Nam nói chung
Trang 131.5.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Áp dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn
- Hiểu và tiếp cận với phương pháp làm một đề tài nghiên cứu khoa học
- Xác định được ý nghĩa và tầm quan trọng của hệ sinh thái rừng
- Trang bị những kiến thức về môi trường và hệ sinh thái rừng
Trang 14Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Cơ sở lý luận của đề tài
2.1.1 Đa dạng sinh học và một số khái niệm liên quan
- Khái niệm môi trường: “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và
yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên
nhiên.” (Theo điều 1, Luật Bảo vệ Môi trường năm 2005)[27]
- Khái niệm hệ sinh thái: HST là hệ thống các quần thể sinh vật sống
chung và trong một môi trường nhất định, quan hệ tương tác với nhau và với
môi trường đó
- Khái niệm đa dạng sinh học: Theo công ước về ĐDSH thì “ ĐDSH
là sự phong phú của cơ thể sống có ở các nguồn trong HST trên cạn, ở biển
và các HST dưới nước khác, và mọi tổ hợp sinh thái mà chúng tạo nên;
ĐDSH bao gồm sự đa dạng trong loài (đa dạng di truyền hay còn gọi là đa
dạng gen), giữa các loài (đa dạng loài), và các HST (đa dạng HST)”[20]
- Bảo tồn đa dạng sinh học: Là quá trình quản lý mối tác động qua lại
giữa con người với các gen, các loài và các HST nhằm mang lại lợi ích lớn nhất cho các thế hệ hiện tại mà vẫn duy trì tiềm năng của chúng để đáp ứng nhu cầu và nguyện vọng của thế hệ tương lai Để có thể tiến hành các hoạt động quản lý nhằm bảo tồn ĐDSH, điều cần thiết là phải tìm hiểu những tác động tiêu cực, các nguy cơ mà loài hiện đang đối mặt và từ đó xây dựng các phương pháp quản lý phù hợp nhằm giảm đi các tác động tiêu cực của các
nguy cơ đó và đảm bảo sự phát triển của loài và HST đó trong tương lai
- Cơ sở bảo tồn đa dạng sinh học: Là nơi để chăm sóc, nuôi dưỡng,
cứu hộ, nhân giống hoang dã cây trồng, vật nuôi, vi sinh vật và nấm đặc hữu,
có giá trị; lưu giữ, bảo quản nguồn gen và mẫu vật di truyền phục vụ mục đích
bảo tồn và phát triển ĐDSH
- Khu bảo tồn thiên nhiên: KBTTN là khu vực địa lý được xác lập ranh giới và phân khu chức năng để bảo tồn ĐDSH
Trang 15- Loài bị đe dọa tuyệt chủng: Là loài sinh vật đang có nguy cơ bị suy
giảm hoàn toàn về số lượng cá thể
- Loài đặc hữu: Là loài sinh vật chỉ tồn tại, phát triển trong phạm vi
phân bố hẹp và giới hạn trong một vùng lãnh thổ của Việt Nam mà không
được ghi nhận là có ở nơi khác
- Loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ: Là loài hoang dã,
giống cây trồng, giống vật nuôi, vi sinh vật và nấm đặc hữu, có giá trị đặc biệt
về khoa học, y tế, kinh tế, sinh thái, cảnh quan, môi trường hoặc văn hóa –
lịch sử mà số lượng còn ít hoặc đe dọa tuyệt chủng
2.1.2 Các văn bản pháp lý liên quan
Các công ước quốc tế mà Việt Nam tham gia: Việt Nam đã tham gia
ký kết nhiều công ước quốc tế về ĐDSH như:
- Công ước CITES (Công ước về thương mại quốc tế các loại động thực vật hoang dã nguy cấp) được ký kết năm 1973, Việt Nam tham gia năm
đa dạng sinh học tháng 10/1994 và đã trở thành thành viên thứ 99 của công ước này Tất cả nội dung của công ước đưa ra 3 mục tiêu chính:
+ Bảo vệ đa dạng sinh học
+ Sử dụng bền vững đa dạng sinh học
+ Phân phối lợi nhuận của các sản phẩm mới lấy từ các loài hoang dại và các loài thuần dưỡng
Các văn bản quy phạm pháp luật của nhà nước
- Luật Bảo vệ môi trường năm 2005
- Luật Bảo vệ và phát triển rừng 2004 (có hiệu lực 1/4/2005)
Trang 16- Luật Đa dạng sinh học năm 2008
- Nghị định 65/2011/NĐ-CP ngày 11/06/2011 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều luật đa dạng sinh học
- Nghị định 32/2006/NĐ-CP ngày 30/03/2006 của Chính phủ về quản
lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm
- Nghị định 48/2002/NĐ-CP ngày 22/02/2002 của Chính phủ sửa đổi danh mục thực vật, động vật hoang dã, quý hiếm
- Quyết định số 62/QĐ-BNN, ngày 12/10/2005 của Bộ Nông nghiệp & PTNT về việc Ban hành bản quy định về tiêu chí phân loại rừng đặc dụng
- Nghị định 82/2006/NĐ-CP ngày 10/08/2006 của Chính phủ về quản
lý hoạt động xuất nhập khẩu, tái xuất, nhập nội từ biển, quá cảnh, nuôi sinh sản, nuôi sinh trưởng và trồng cấy nhân tạo các loại động vật, thực vật hoang
dã, nguy cấp, quý hiếm
- Nghị định 99/2009/NĐ-CP ngày 02/11/2009 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản
- Sách đỏ Việt Nam
- Sách đỏ IUCN
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Các nghiên cứu ngoài nước về cây Pơ mu
Cây Pơ Mu đã được nghiên cứu khá kỷ lưỡng về mặt phân loại thực vật
và phân bố trên thế giới: Chi Pơ Mu (danh pháp khoa học: Fokienia) là một chi trong họ Hoàng đàn (Cupressaceae) Trong các đặc trưng của nó, chi Fokienia là trung gian giữa hai chi Chamaecyparis và Calocedrus, mặc dù
về mặt di truyền học thì nó gần gũi hơn với chi thứ nhất Chi này chỉ có một loài còn sống là cây Pơ Mu (Fokienia hodginsii (Dunn) A.Henry & H.H.Thomas), trong các tài liệu bằng tiếng nước ngoài như trong tiếng Anh gọi là Fujian cypress (tạm dịch là Bách Phúc Kiến) và một loài chỉ còn ở dạng hóa thạch là Fokienia ravenscragensis[23]
Về phân bố sinh thái, yêu cầu nơi sống (Habitat) của cây Pơ Mu cho thấy Fokienia hodginsii là loài cây có nguồn gốc thực vật từ Đông Nam Trung Quốc đến Bắc Việt Nam (Hà Bắc, Hà Giang, Hà Tĩnh, Hòa Bình, Sơn
Trang 17La, Nghệ An, Lào Cai, Lai Châu, Thanh Hoá, Tuyên Quang, Yên Bái và Vĩnh Phú), đến Tây Nguyên (Đăk Lắk, Gia Lai, Lâm Đồng) và Bắc Lào[23] Đây
là loài cây không cần bóng che, sống trong điều kiện lượng mưa cao trong năm Xuất hiện trên đất mùn trên núi, đó là habitat của Pơ Mu Ở Việt Nam,
Pơ Mu xuất hiện trên đất hình thành trên đá limestone hoặc granite ở độ cao trên 900 m so với mặt nước biển[20]
Về yêu cầu sinh thái trong gieo trồng cây Pơ Mu cũng được nghiên cứu
ở Trung Quốc, cây con yêu cầu chế độ nhiệt ẩm khá khô vào mùa xuân, cần bóng che ở giai đoạn non Trong gây trồng nếu tưới quá nhiều cây sẽ chết Cây cao 12m trong điều kiện tự nhiên khi trồng với mật độ 2x1,8m trong 10 năm đầu[28]
Về nghiên cứu hệ sinh thái rừng và các mối quan hệ sinh thái giữa các loài cho thấy hệ sinh thái rừng là một tổng hợp phức tạp các mối quan hệ lẫn nhau của các quá trình, trong đó sự trao đổi vật chất và năng lượng với môi trường là quá trình cơ bản nhất Nhiều nhà khoa học đã dày công nghiên cứu
về sinh thái, đặc biệt là mối quan hệ giữa các loài thực vật, các quần thể đối với rừng mưa nhiệt đới, trong đó đáng chú ý là công trình cấu trúc rừng mưa
đã mang lại kết quả có giá trị như Baur G.N (1964)[5] đã nghiên cứu các vấn đề về sinh thái trong kinh doanh rừng mưa, phục hồi và quản lý rừng mưa nhiệt đới Odum E.P (1971)[31] đã nghiên cứu các vấn đề về sinh thái nói chung và sinh thái trong rừng mưa nhiệt đới làm cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu sinh thái loài và cấu trúc rừng Nghiên cứu tái sinh tự nhiên rừng nhiệt đới châu Á, Catinot (1965)[6] cho thấy dưới tán rừng nhiệt đới nhìn chung có đủ số lượng cây tái sinh Tuy nhiên, những nghiên cứu về tái sinh này chỉ chú trọng đến các phương thức tác động vào tái sinh nhằm thúc đẩy quá trình tái sinh rừng đối với những loài cây có giá trị kinh tế chưa chú trọng đến các đối tượng và mục tiêu bảo tồn Chưa tìm thấy công trình nào nghiên cứu về sinh thái quần thể có phân bố Pơ Mu và mối quan hệ về phân bố của
nó với các nhân tố sinh thái – Môi trường
2.2.2 Các nghiên cứu về cây Pơ mu ở Việt Nam
Nghiên cứu về cây Pơ Mu trong nước trong thời gian qua chủ yếu tập trung vào mô tả, phân loại thực vật; mô tả phân bố sin h thái; phân
Trang 18tích giá trị công dụng của nó về dược liệu và trong đời sống; và mới đây là một số nghiên cứu thị trường loài Pơ Mu , cụ thể:
Trong quyển sách “Cây cỏ Việt Nam”[11] trong đó có giới thiệu về cây
Pơ Mu (Fokienia hodginsii) là cây đại mộc cao 20 m; nhánh dẹp Lá ở nhánh trẻ là vảy dẹp, mỏng, đầu nhọn, lá ở nhánh già nhỏ hơn, cong vào thân Chùy tròn, to 1,5 – 2,2 cm, vảy hình khiên; hột 2, vàng rơm sậm, cao 6 mm, hai cánh một to, một nhỏ Chùy cái cần 2 năm mới chín Rừng có độ cao độ 900 -1.700 m; Gỗ làm hòm, đồ mỹ nghệ
Trần Hợp (2002) trong quyển sách “Tài nguyên cây gỗ Việt Nam” của tác giả đã mô tả cây Pơ Mu (Fokienia hodginsii ) cao tới 30 – 35 m, đường kính 1m Thân thẳng, có bạnh to Vỏ màu xám xanh, bong thành mảnh Mùi thơm dịu Cành nhỏ dẹt Lá hình vảy, cây non hay cành không mang nón có lá
to, hai bên xòe rộng, còn ở cành già hay cành mang nón lá nhỏ hơn, mặt dưới
lá màu trắng xanh Nón đực mọc ở nách lá dài 1cm Nón cái mọc ở đầu cành
có đế mập nhỏ Nón hình cầu, khi chín nứt, màu nâu đỏ Hạt hình trứng tròn,
có hai cánh không đều nhau Hai lá mần hình dải, lá mới sinh gần đối, 4 lá sau mọc vòng[19]
Về mô tả thực vật trong tài liệu ở Vườn Quốc gia Bi Đúp núi Bà[22] cho thấy Pơ Mu (Fokienia hodginsii ) là cây gỗ lớn, họ Hoàng đàn (Cupressaceae) Thân thẳng, cao 25 - 30 m, không bạnh vè Tán hình tháp
Vỏ nâu xám Cành non không mang quả Lá to hình mác, dài 0,7 cm, rộng 0,4
cm Nón đực hình trứng hay bầu dục, nón cái hình cầu Quả màu nâu, hạt có cánh Là loài cây đặc hữu ở Nam Trung Quốc, Việt Nam, Lào Ở Việt Nam, cây mọc tự nhiên ở Hà Giang, Tuyên Quang, Lào Cai, Yên Bái, Sơn La, Lai Châu, Hoà Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, Gia Lai, Kon Tum, Đắc Lắc, Lâm Đồng Thường mọc từng dải thuần loài theo các dông núi hay mọc hỗn loài trong rừng rậm mưa mùa cận nhiệt đới, ở độ cao 1.000 - 2.000 m Khả năng tái sinh kém, sinh trưởng chậm Gỗ màu nâu vàng, nhẹ, thớ thẳng mịn, vân đỏ có mùi thơm, gỗ tốt Dùng để làm cầu, xây dựng, cất tinh dầu làm hương liệu và làm dược liệu Là loài cây gỗ có giá trị, nên đã được xếp vào loại gỗ quý ở Việt Nam
Trang 19Đầu năm 2009, nhà khoa học người Mỹ Brendan Buckley ở Phòng thí nghiệm Vòng cây (Tree ring Laboratory) của cơ quan nổi tiếng Lamont-Doherty Earth Observatory đã cùng một đồng nghiệp Việt Nam tìm được trong rừng quốc gia Bidoup - Núi Bà gần Đà Lạt ở tỉnh Lâm Đồng nhiều cây thông đã sống cách 10 đây gần ngàn năm Các cây thông này thuộc một loài cây thông hiếm có nguy cơ tuyệt chủng (ghi trong Sách Đỏ) gọi là Fokienia hodginsii (cây Pơ Mu ) Từ các mẫu lấy ở thân cây Pơ Mu , ông Buckley đã tái tạo lại thời tiết gió mùa ở lục địa Á châu trong quá khứ đến tận thế kỷ 14 và từ đó chứng minh là nền văn minh Khmer rực rỡ ở Angkor đã sụp đổ vì nạn hạn hán và môi trường thủy lợi Đây là một khám phá quan trọng trong lịch sử khí hậu gió mùa và hiện tượng El Nino ở Đông Nam Á[24]
Mô tả thực vật học và phân bố cây Pơ Mu cho thấy cây mọc đứng, thân thẳng với tán tròn, cao tới 30 m và đường kính ngang ngực tới 1,5 m hoặc hơn Đây là loài duy nhất của chi này và rất biến động về dạng lá tuỳ theo tuổi của cây và của cành Pơ Mu gặp thành các khu rừng gần như thuần loài trên các dông núi đá vôi hoặc núi đất, có khi mọc từng cá thể hoặc thành các đám nhỏ rải rác trên các sườn núi và thung lũng trong rừng nguyên sinh rậm thường xanh cây lá rộng nhiệt đới gió mùa núi thấp và núi trung bình (nhiệt độ trung bình năm 13 -200C, lượng mưa trên 1800 mm) với các loài ưu thế thuộc họ Dẻ (Fagaceae), Re (Lauraceae) và Ngọc lan (Magnoliaceae) (Kuznetsov, 2001) Ở các tỉnh phía Nam loài này mọc cùng Hoàng đàn giả (Dacrydium elatum), Thông Đà Lạt (Pinus dalatensis) và Thông lá dẹt (P krempfii), ở các tỉnh miền Bắc và miền Trung loài này gặp cùng với
Sa mộc dầu (Cunninghamia konishii), và Thông Pà Cò (Pinus kwangtungensis) Trên các vùng núi đá vôi miền Bắc Việt Nam (Hà Giang, Bắc Kạn và Hoà Bình) loài Pơ Mu đôi khi hình thành các khu rừng thuần loài trên dông núi đá vôi ở độ cao 900 -1400 m so mặt nước biển[9]
Ở Việt Nam Pơ Mu gặp ở Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai, Sơn La, Yên Bái, Hà Giang, Bắc Kạn, Phú Thọ, Hoà Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh, Thừa ThiênHuế, Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc, Lâm Đồng, Ninh Thuận và Khánh Hoà Thông tin về sự có mặt của Pơ Mu ở Tuyên Quang cần được
Trang 20kiểm tra Trên thế giới loài có từ cực Nam Trung Quốc sang tới Lào Ở tất cả các nước này phạm vi của các khu rừng còn lại đều không được xác định Điều này làm cho việc ước lượng tỷ lệ các quần thể ở Việt Nam so với quốc tế trở nên khó khăn[9]
Hiện trạng bảo tồn quốc tế thì cây Pơ Mu ở mức gần bị tuyệt chủng theo tiêu chí IUCN, 1994[29] Ở Việt Nam loài này đã được xếp ở mức đang
bị tuyệt 11 chủng (Nguyễn Đức Tố Lưu & Thomas, 2004)[12] dựa trên mức suy giảm nơi sống do phát triển của các hoạt động khai thác Theo các chỉ tiêu mới (IUCN, 2001)[30] loài này có thể đáp ứng chỉ tiêu A2cd cho mức đang bị tuyệt chủng do mức độ khai thác mạnh
Về đặc điểm sinh học - sinh thái, hiện trạng và phương án bảo tồn loài cây Pơ Mu ở Việt Nam cũng đã được Nguyễn Hoàng Nghĩa (2004) đề cập khá đầy đủ Đặc biệt, tác giả cho rằng, cây Pơ Mu mọc với mật độ thưa, tái sinh tự nhiên kém, thiếu hẳn thế hệ trung gian để có thể thay thế những cây già cỗi Đồng thời cũng khẳng định cây Pơ Mu có thể nhân giống bằng hom với tỷ lệ ra rễ cao, có thể góp phần đắc lực vào công tác nhân giống phục vụ trồng rừng[16]
Trung tâm Nghiên cứu Lâm sản Ngoài gỗ (NTFPRC) (Than Van Canh 2002), thuộc Viện Khoa học Lâm nghiệp đã xây dựng một trạm thực nghiệm trồng rừng ở Lâm Đồng với 1000 cây Pơmu con để bảo tồn nguồn gen bằng việc sản xuất hạt (Nguyễn Hoàng Nghĩa 2000) Nghiên cứu được thực hiện ở đây và ở một số nơi khác (như Sa Pa) cho thấy rằng hiện vẫn
có sẵn thông tin về truyền giống và trồng loài cây này (kể cả thông tin về bảo quản hạt, thu hái hạt, kỹ thuật làm đất và trồng) và tỷ lệ thành công cao về sản xuất cây c on có thể thực hiện ngoại vi, cây con trồng ở Lâm Đồng năm 1997 đến năm 2003 đã cao 6 m Kết quả cho thấy rằng thành công về trồng cây con có tỷ lệ sống cao ở những vùng thông thoáng hơn những vùng bị che bóng
Gần đây, loài Pơ Mu cũng được nghiên cứu tại Khu Bảo tồn Thiên nhiên Xuân Liên, được Bùi Thị Huyền (2010) khẳng định: Cây Pơ Mu phân
bố rải rác ở độ cao trên 800 m so mực nước biển và thường mọc cùng với các loài Bách xanh (Calocedrus macrolepis), Vù hương (Cinnamomum balansae),
Dẻ tùng sọc trắng (Amentotaxus argotaenia), Chẹo tía (Engelhardtia
Trang 21chrysolepis), Phân mã (Archidendron balasae) và Sơn ta (Toxicodendron succedanea) Loài Pơ Mu tái sinh kém ngoài tự nhiên, mật độ tái sinh rất thấp, chỉ với 178 cây/ ha[15]
Với Dự án “Lồng ghép quản lý nguồn nước và đa dạng sinh học tại Vườn Quốc gia Chư Yang Sin, tỉnh Đắk Lắk”, Lê Văn Chẩm (2007)[7] đã nghiên cứu thành phần cây Hạt trần (Gymnospermae) trong các quần xã thực vật ở Vườn Quốc gia Chư Yang Sin, từ đây đã chỉ ra vùng phân bố loài
Pơ Mu tại VQG Chư Yang Sin, điểm thấp nhất (1379m) bắt gặp cây Pơ Mu tái sinh nhưng đến độ cao 1445m mới gặp cây trưởng thành và mọc tập trung hơn cả từ 1.500m đến 1800m Cấu trúc tổ thành loài cây Pơ Mu tại VQG Chư Yang Sin và các cây khác trong quần thụ: Chúng mọc hỗn giao với nhiều loài cây lá rộng thuộc họ Dẻ (Fagaceae), họ Re(Lauraceae), họ Chè (Theaceae), họ Ngọc lan (Magnoliaceae), họ Ngũ gia bì (Araliaceae), họ Ngũ liệt (Pentaphylacaceae), họ Sau sau (Hamamelidaceae), họ Hồ đào (Juglandaceae), họ Trâm (Myrtaceae), họ Đỗ Quyên (Ericaceae), họ Thích (Aceraceae), họ Hồi (Illiciaceae) và một số loài khác trong lớp Thông (Pinopsida) với mật độ thấp, gần như chúng không chiếm tỷ lệ tổ thành cao
để tạo thành quần thể thuần loài như một vài vùng khác
Về mặt thương mại và sử dụng cây Pơ Mu ở Việt Nam đã được Nguyễn Phi Truyền và Thomas Osborn nghiên cứu (2006, [32]); kết quả đã phản ảnh nhu cầu sử dụng cây Pơ Mu của các cộng đồng bản địa ở Lào Cai
và Sơn La trong đời sống, tập quán; ngoài ra còn đề cập đến yếu tố thương mại của nó trong giao dịch mua bán loài cây này ở vùng núi phía bắc trong thời gian qua
Về mặt dược liệu của cây Pơ Mu cũng được nghiên cứu[25]: Pơ Mu(Fokienia hodginsii (Dunn) A Henry et Thomas), thuộc họ Hoàng đàn(Cupressaceae) bộ phận dùng là Dầu (Oleum Fokieniae Hodginsii) Thành phần hóa học: Gỗ và nhất là rễ chứa tinh dầu, từ 2 - 3% Tinh dầu đặc sắc bởi một tỷ lệ rất cao của 1 rượu sesquiterpenic đơn vòng gọi là fokienol,
nó có mùi thơm rất dễ chịu Về gỗ Pơmu có vân mịn không mối mọt, dùng làm đồ mỹ nghệ, làm cầu, xây dựng, làm áo quan
Trang 22Về công dụng cây Pơ Mu cũng được mô tả: Người Lào và người Dao dùng gỗ cây Pơ Mu để làm nóc nhà hay vách ngăn phòng Trước đây, gỗ Pơ Mu còn được sử dụng để làm quan tài Tại Việt Nam, nó được coi
là một loại gỗ quý do mùi thơm đặc trưng, vân gỗ đẹp cũng như trọng lượng khác thường của nó và đặc tính không bị mối mọt phá hoại; vì thế nó được sử dụng để làm các đồ tạo tác mĩ thuật, các loại đồ gỗ gia dụng, cũng như trọng lượng khác thường của nó có độ tỏa nhiệt cao Nó là loài nguy cấp tại Việt Nam và được đưa vào Sách đỏ Việt Nam năm 1996 Sản phẩm chưng cất, đặc biệt là từ rễ Pơ Mu , là tinh dầu được dùng trong hóa mỹ phẩm và y học Các tên gọi khác của Pơ Mu trong tiếng Việt là Đinh Hương, Tô Hạp Hương, Mạy Vác (người thiểu số ở Lào Cai), Mạy Long Lanh (người Thái ở miền Tây Bắc và Thanh Hóa), Khơ Mu (Hà Tĩnh)[25]
Về nghiên cứu tinh dầu trong rễ cây Pơ Mu ở Việt Nam đã được Dominique Lesueur, Ninh Khac Ban, Ange Bighelli, Alain Muselli
và Joseph Casanova (2005)[28] nghiên cứu Cây cũng là nguồn tinh dầu có giá trị Hạt được biết là có thể dùng làm thuốc (Perry, 1980)[31] Dầu Pơ Mu được sử dụng làm hương liệu nước hoa Có mùi hương nồng nàn ấm áp rất dễ chịu Dùng để pha chế nước hoa cao cấp Dầu Pơ Mu cũng dùng làm thuốc sát trùng chữa sưng tấy, có tác dụng sát khuẩn
và giảm đau Trong trị liệu massage hoặc xông hơi tinh dầu Pomu giúp tăng cường sinh lực, làm khỏe mạnh gân cốt và làm giảm sự viêm da Khi xông hương giúp diệt khuẩn làm thanh lọc không khí, tẩy uế Có tác dụng đuổi muỗi và côn trùng[26]
2.2.3 Tổng quan về khu bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên – Văn Bàn
2.2.3.1 Lịch sử hình thành và phát triển
Khu bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên Văn Bàn được thành lập theo Quyết định số 702/QĐ – UB ngày 27 tháng 3 năm 2007 của UBND tỉnh Lào Cai Với diện tích 25.669 ha, khu BTTN Hoàng Liên nằm trong địa phận của các
xã Nậm Xé, Nậm Xây và một phần xã Liêm Phú Trụ sở làm việc ban đầu được đặt tại hạt kiểm lâm huyện Văn Bàn, đến năm 2009 thì chuyển lên Nậm Xé
Cơ cấu tổ chức: trực thuộc Chi cục Kiểm lâm tỉnh Lào Cai ban đầu gồm: 01 Trưởng ban, 01 Phó ban, 01 Kế toán, 05 cán bộ kỹ thuật và bảo vệ
Trang 23rừng Trong khu BTTN có 02 trạm Kiểm lâm trực thuộc Hạt Kiểm lâm huyện Văn Bàn Đến nay, cơ cấu nhân sự của BQL Khu BTTN đã được bổ sung thêm để công tác bảo tồn, bảo vệ rừng thuận lợi hơn BQL khu BTTN có nhiệm vụ:
- Khôi phục và bảo tồn nguyên vẹn các hệ sinh thái, bảo tồn tính đa dạng sinh học, các mẫu chuẩn hệ sinh thái rừng trên núi cao, nguồn gen động, thực vật rừng quý hiếm, đặc hữu
- Tổ chức nghiên cứu và phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học khu hệ thực vật rừng, khu hệ động vật rừng nhằm bảo tồn và phát triển các loài động, thực vật khu BTTN
- Tổ chức khoanh nuôi xúc tiến tái sinh các loài cây bản địa phục hồi các HST rừng và cảnh quan, tạo điều kiện cho các loài động, thực vật tồn tại và phát triển
- Giáo dục tuyên truyền về bảo vệ môi trường, bảo tồn và sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên, những kiến thức về động, thực vật rừng cho
du khách và cộng đồng địa phương
2.2.3.2 Tài nguyên rừng và đa dạng sinh học
Tài nguyên rừng
Hình 2: Bản đồ hiện trạng tài nguyên rừng và đất đai Khu BTTN Hoàng
Trang 24Căn cứ ranh giới, quy mô và diện tích hiện có của Khu bảo tồn; Căn cứ kết quả giải đoán ảnh vệ tinh Spot5 và kết quả điều tra, bổ sung thực địa tháng
10 năm 2012 của Phân viện ĐTQHR Tây Bắc Bộ
Tổng diện tích tự nhiên của Khu bảo tồn 25.093,20 ha, trong đó đất có rừng (chủ yếu là rừng tự nhiên) 23.525,1 ha, chiếm 93,8% Rừng tự nhiên gồm các loại rừng gỗ, rừng hỗn giao gỗ - Tre nứa, tre nứa Các loại rừng này phân bố đan xen nhau trong Khu bảo tồn, hình thành nhiều quần xã thực vật khác nhau cung cấp nguồn thức ăn cho nhiều loài động vật rừng hoang dã Diện tích đất chưa có rừng 1.568,1 ha chiếm 6,2% Gồm đất trống không có cây tái sinh là các trảng cỏ (IA), đất trống có cây tái sinh (IB, IC) nằm rải rác trong rừng tự nhiên Tuy không có rừng, nhưng những diện tích đất này là các bãi kiếm ăn của các loài thú ăn cỏ và là nơi cư trú của Gà rừng
và một số loài thú nhỏ…
Bảng 2: Hiện trạng diện tích các loại đất loại rừng
Khu BTTN Hoàng Liên Văn Bàn
Đơn vị tính: ha
cộng
PHÂN THEO XÃ Liêm
Phú Nậm Xây Nậm Xé Tổng diện tích 25.093,55 670,50 10.520,20 13.902,85 A.Diện tích đất lâm nghiệp 25.093,20 670,50 10.520,20 13.902,50
Trang 25Diện tích đất có rừng đã đáp ứng các quy định về tiêu chí đối với rừng đặc dụng (Quyết định số 62/QĐ-BNN, ngày 12/10/2005 của Bộ Nông nghiệp
& PTNT về việc Ban hành bản qui định về tiêu chí phân loại rừng đặc dụng)
Đa dạng sinh học
Khu vực Hoàng Liên - Văn Bàn thuộc dãy Hoàng Liên Sơn, nơi phân
bố đa dạng thực vật bậc nhất của dãy Hoàng Liên Sơn và là nơi hiện diện nhiều kiểu rừng kín thường xanh nhiệt đới núi thấp và rừng kín thường xanh nhiệt đới núi cao Khu vực Hoàng Liên cũng là nơi lưu giữ và cư trú của nhiều loài động, thực vật quí hiếm có tầm Quốc gia và Quốc tế như Bách tán Đài Loan, Hoàng liên Ô rô, Vượn đen tuyền, Chim trèo cây lưng đen, Cá cóc Tam
Đảo, Cu li nhỏ, Dơi tai sọ to, đặc biệt những loài Vượn đen tuyền, Chim trèo
cây lưng đen đang có nguy cơ tuyệt chủng ở Việt Nam
Đa dạng sinh học trong KBT có 891 loài thực vật thuộc 167 họ và 18 loài thực vật đặc hữu, quý hiếm ( Sách đỏ VN) như: Chò đãi, Trầm, Gù hương, Vù hương, Pơ mu, Hồi núi, Sến mật; loài đặc hữu Bách tán Đài Loan
(Cha nâu); Động vật có 486 loài, trong đó 52 loài đặc hữu, quý hiếm
Trang 26Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng: Cây Pơ mu và một số yếu tố sinh thái – môi trường tại Khu bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên – Văn Bàn
3.1.2 Địa điểm và thời gian tiến hành
- Địa điểm: Khu bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên – Văn Bàn, huyện Văn Bàn tỉnh Lào Cai
- Thời gian: Từ 15/01/2014 đến 30/4/ 2014
3.2 Nội dung nghiên cứu
1 Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội ảnh hưởng tới bảo tồn
đa dạng sinh học và bảo tồn thiên nhiên, tác động đến sự phân bố của cây Pơ mu: Vị trí địa lý, địa hình, địa mạo, khí hậu, thủy văn, thổ nhưỡng, dân số, trình độ văn hóa, kinh tế – xã hội, cơ sở hạ tầng,…
2 Đặc điểm về đa dạng sinh học tại khu BTTN Hoàng Liên – Văn Bàn
3 Nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh học và phân bố của cây Pơ mu: Đặc điểm hình thái, đặc điểm sinh học, đặc điểm phân bố và trữ lượng cây Pơ mu,…
4 Nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố sinh thái – môi trường tới sự phân bố của cây Pơ mu: Các yếu tố sinh thái ( đất, địa hình, cây,…)
5 Đề xuất một số giải pháp bảo tồn cây Pơ mu tại Khu BTTN Hoàng Liên – Văn Bàn
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Phương pháp thu thập số liệu
3.3.1.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
Áp dụng phương pháp thu thập số liệu thứ cấp để nghiên cứu nội dung sau: Điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội, các tài liệu về đa dạng sinh học của Khu BTTN Hoàng Liên, các thông tin liên quan đến vấn đề nghiên cứu,…
Qua sách, báo, internet, báo cáo khoa học,…
Trang 273.3.1.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp
- Phương pháp điều tra thực vật theo tuyến: Tuyến điều tra lập từ chân lên đến đỉnh núi, qua các trạng thái rừng Với mỗi kiểu hệ sinh thái rừng thì lập 1 ÔTC Tùy điều kiện thực tế có thể tiến hành lập các tuyến điều tra theo 4 hướng khác nhau: Đông, Tây, Nam và Bắc
- Phương pháp lấy mẫu các yếu tố môi trường
- Phương pháp lập ô tiêu chuẩn theo IUCN, WWF (số lượng 8 ô, 500m2/ô) Do điều kiện địa hình hiểm trở, khó khăn nên e chỉ lập các ÔTC theo một số hình cơ bản như hình chữ nhật 10x50m, 25x20m có diện tích 500m2
Dựa vào bản đồ địa hình và bản đồ quản lý khu vực của cán bộ quản lý
để xác định sơ bộ và lập ÔTC Các ô tiêu chuẩn đuoẹc thiết lập ở gần các tuyến tuần rừng (tuyến đường mòn) và tuyến khảo sát (cách đường tuần rừng trên 50m)
Điều tra các ô tiêu chuẩn để xác định về đặc tính sinh thái, tính đa dạng của hệ thực vật,… Các ô tiêu chuẩn được chọn ngẫu nhiên và đại diện cho các khu vực khác nhau trong phạm vi nghiên cứu Các chỉ tiêu đo đếm được ghi lại theo phiếu điều tra hệ thực vật tại các ô tiêu chuẩn
- Phương pháp lấy mẫu đất tại thực địa rồi đem đi phân tích: để xác định ảnh hưởng của đất đến sự phân bố, khả năng tái sinh, phát triển của loài cây Pơ mu, em đã tiến hành lấy mẫu đất tại khu vực nghiên cứu trong các trạng thái rừng khác nhau và xung quanh khu vực gốc và gần rễ cây Pơ mu
Để làm cơ sở cho việc nghiên cứu và xác định các chỉ tiêu cần thiết cho sự phát triển của cây Pơ mu Mẫu đất được kiểm tra, xử lý và phân tích tại Phòng thí nghiệm, Khoa Môi trường – Trường Đại học Nông lâm và Phòng thí nghiệm Viện khoa học sự sống – Đại học Thái nguyên
3.3.2 Phương pháp chuyên gia
Nhờ các thầy cô, chuyên gia lâm nghiệp có chuyên môn xác định tên loài, phân loại và đánh giá mức độ bảo tồn loài
3.3.3 Phương pháp tổng hợp, phân tích và đánh giá số liệu
- Sử dụng phần mềm word và exel để tổng hợp, mã hóa số liệu
Trang 283.4 Các chỉ tiêu nghiên cứu
- Phân tích các chỉ tiêu: mùn, pHkcl, N ts, P2O5 ts, K2O ts, … Mùn: theo phương pháp Tiurin
pHkcl: đo bằng máy đo pH Metller
Nts : theo phương pháp Kenđan
P205 ts: theo TCVN 6499:1999
K20 ts: theo TCVN 8660:2011
Trang 29
Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội Khu Bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên và thảo luận ảnh hưởng tới bảo tồn đa dạng sinh học và bảo tồn thiên nhiên, tác động đến sự phân bố của cây Pơ mu
4.1.1 điều kiện tự nhiên
Khu bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên Văn Bàn được thành lập theo Quyết định số 702/QĐ – UB ngày 27 tháng 3 năm 2007 của UBND tỉnh Lào Cai Khu bảo tồn có một số đặc điểm như sau:
Phía Bắc giáp xã Bản Hồ của huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai
4.1.1.2 Địa hình địa mạo
Địa hình của khu bảo tồn thuộc 2 xã Nậm Xé, Nậm Xây gồm hai dãy núi nằm liền kề vuông góc với nhau Dãy núi phía Bắc có nhiều ngọn núi cao trên 1.700m (thuộc địa hình núi cao), các dãy núi cơ bản thấp dần về hướng Đông Dãy núi phía Nam có dông núi hẹp tách biệt, chạy dài theo hướng Đông Tây Phần lớn địa hình khu vực này thuộc vùng núi cao và núi trung bình; có các thung lũng và hệ thống khe suối xen kẽ; mức độ chia cắt mạnh; nhiều nơi tạo thành vách đứng; độ cao trung bình 700 ÷ 2.913 m; độ dốc trung
Trang 30bình 20 ÷ 500 Trong vùng có một số đỉnh núi cao như Lang Cúng (2.913m), tiếp theo là Nam Kang Ho Tao (2.835m), Sinh Cha Pao (2.833m),
Địa hình của Khu bảo tồn nằm trên địa bàn xã Liêm Phú thuộc dạng địa hình vùng núi trung bình đến núi cao; đặc biệt có những đỉnh cao trên 2.000 m
4.1.1.3 Khí hậu
- Theo số liệu quan trắc của trạm khí tượng thủy văn Sa Pa thì Khu BTTN Hoàng Liên Văn Bàn chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa chuyển tiếp của vùng núi cao Đông Bắc và Tây Bắc, được chia làm 2 mùa rõ rệt; mùa mưa (tháng 4 ÷ 9) bị ảnh hưởng của gió Tây Nam nên khô và nóng; mùa khô (tháng 10 ÷ 3 năm sau) có gió mùa Đông Bắc lạnh và ít mưa
- Nhiệt độ: Khu BTTN Hoàng Liên Văn Bàn có nhiệt độ bình quân hàng năm là 22,90C, nhiệt độ cao nhất là 27,70C vào tháng 7, nhiệt độ thấp nhất 16,00C vào tháng 1
- Lượng mưa: Lượng mưa bình quân hàng năm là 1.764,4 mm Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10, lượng mưa chiếm 90,67% tổng lượng mưa cả năm, số ngày mưa bình quân 132 ngày/năm Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, lượng mưa chiếm 9,33% tổng lượng mưa cả năm
- Ẩm độ: Độ ẩm không khí bình quân hàng năm là 86%, thời gian có độ
ẩm thấp nhất trong năm từ tháng 12 năm trước đến tháng 4 năm sau, đặc biệt tháng có độ ẩm thấp nhất tuyệt đối vào tháng 2 là 25% rất dễ gây cháy rừng vào thời gian này
- Lượng bốc hơi trung bình hàng năm 832mm
- Gió: Nơi đây có hai hướng gió chính là Đông Bắc và Tây Nam, do địa hình núi đá bao bọc nên tốc độ gió bình quân nhỏ 1m/s
- Các đặc điểm khí hậu đặc trưng: Do trong vùng có những khu núi đá bức xạ nhiệt mạnh nên biên độ nhiệt thay đổi giữa ngày và đêm lớn Vì các triền núi của Khu bảo tồn Hoàng Liên Văn Bàn thường hướng về phía Bắc và phía Đông nên chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc gây ra sương mù dày đặc, khiến điều kiện ở đây luôn ẩm ướt Vào thời điểm lạnh nhất trong mùa Đông
có khi có tuyết hay băng giá trên núi Vào mùa khô Khu bảo tồn chịu ảnh hưởng rất lớn của gió Tây (gió Lào); khô hanh kéo dài, độ ẩm xuống rất thấp, tốc độ gió rất lớn nên dễ gây cháy rừng, cần có các biện pháp PCCC rừng
Trang 314.1.1.4 thủy văn
Trong Khu BTTN Hoàng Liên Văn Bàn có 2 hệ thống suối chính đó là suối Nậm Khóa và suối Nậm Xây Luông Hai hệ thống suối này có nhiều khe nhánh nhỏ và đón nước từ dãy Hoàng Liên Sơn ở ranh giới phía Tây rồi đổ về sông Nậm Chấn sau đó chảy ra Sông Hồng; lưu lượng nước biến đổi theo mùa Tuy nhiên, ở hệ suối chính thường có lưu lượng nước khá lớn, nhất là về mùa mưa
Trong khu vực có lượng nước ngầm khá nhưng do ảnh hưởng của hiện tượng Kaster nên mùa khô mực nước ngầm có thể xuống thấp, xong theo đánh giá thì đây là địa bàn giữ nước ổn định nhờ có độ che phủ cao của hệ sinh thái rừng trong vùng
4.1.1.5 Thổ nhưỡng
Căn cứ kết quả điều tra, xây dựng bản đồ thổ nhưỡng năm 1999 (Hội khoa học đất Việt Nam, năm 2000), bổ sung năm 2006 và kết quả điều tra thực địa tháng 10 năm 2012; Khu BTTN Hoàng Liên Văn Bàn có một số dạng đất như sau:
- N1IIIAa3: Phân bố trên núi cao (độ cao > 1.700 m), độ dốc từ 16 ÷
250, đất mùn Alit trên núi cao phát triển trên đá Mác ma axít kết tinh chua, tầng mỏng
- N1IVAa3: Phân bố trên núi cao (độ cao > 1.700 m), độ dốc từ 26 ÷
350, đất mùn Alit trên núi cao phát triển trên đá Mác ma axít kết tinh chua, tầng mỏng
- N1VAa3: Phân bố trên núi cao (độ cao > 1.700 m), độ dốc > 350, đất mùn Alit trên núi cao phát triển trên đá Mác ma axít kết tinh chua, tầng mỏng
- N2IIIXha1: Phân bố trên núi trung bình (độ cao 700 ÷ 1.700m), độ dốc
từ 16 ÷ 250, đất Xám mùn trên núi trung bình, phát triển trên đá Mác ma axít kết tinh chua, tầng trung bình
- N2IVXha3: Phân bố trên núi trung bình (độ cao 700 ÷ 1.700m), độ dốc
từ 26 ÷ 350, đất Xám mùn trên núi trung bình, phát triển trên đá Mác ma axít kết tinh chua, tầng mỏng
Trang 32- N2VXha1: Phân bố trên núi trung bình (độ cao 700 ÷ 1.700m), độ dốc
từ > 350, đất Xám mùn trên núi trung bình, phát triển trên đá Mác ma axít kết tinh chua, tầng trung bình
- N3III Xha3: Phân bố trên núi thấp (độ cao <700m), độ dốc từ 16 ÷ 250, đất Xám feralit phát triển trên đá Mác ma axít kết tinh chua, tầng mỏng
Nhìn chung đất đai trong khu vực còn tốt, còn tính chất đất rừng Kết cấu chủ yếu là viên hạt, một loại kết cấu mang lại cho đất nhiều ưu điểm Thành phần cơ giới nằm trong khoảng từ thịt nhẹ đến thịt nặng phù hợp với đặc tính sinh thái của nhiều loài thực vật Hầu hết đất có độ dốc lớn nên rất dễ
bị xói mòn nếu không có lớp phủ thực vật hợp lí
4.1.1.6 Địa chất
Địa chất mang tính đặc trưng của dãy Hoàng Liên Sơn Các dông núi chủ yếu là đá cứng và Mácma silicat cổ cuối kỷ Palacosoic - đầu kỷ Mesozoic
(Dovzikov và et al, 1965) Những vận động kiến tạo kỷ thứ ba đã đẩy những
dãy núi đá này lên độ cao như hiện nay và quá trình xói mòn sau đó đã tạo nên đặc trưng cảnh quan của Hoàng Liên Sơn, đỉnh núi nhọn và rất dốc (30 ÷ 900),
rất nhiều vách đá dựng đứng và suối hẹp, rãnh sâu (Fridland, 1961; Rundel,
1999; Averyanov et al)[33]
=> Nhận xét:
- Thuận lợi: KBT có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho công tác bảo tồn
Điều kiện khí hậu, địa hình, thổ nhưỡng phù hợp với nhiều loại cây trồng,
lương thực, đặc biệt là các loại cây thuốc có giá trị kinh tế cao Diện tích rừng tự nhiên còn nhiều, nhiều loại lâm sản và lâm sản ngoài gỗ có giá trị kinh tế và giá trị cho khoa học, Với vị trí gần với Vườn Quốc Gia Hoàng Liên Sơn nên công tác bảo tồn có nhiều thuận lợi hơn
- Khó khăn: Địa hình phức tạp, hiểm trở gây khó khăn cho công tác nghiên cứu khoa học và bảo tồn Khí hậu có mùa khô hanh vào tháng 2 và chịu ảnh hưởng của gió lào khô nóng gây khó khăn công tác Phòng cháy chữa cháy,
Trang 334.1.2 Điều kiện kinh tế – xã hội
4.1.2.1 Dân số, dân tộc và phân bố dân cư
Dân số: Khu BTTN Hoàng Liên Văn Bàn có 6.494 Khẩu, với 1050 hộ Tổng lao động là 3.274 người, chiếm 50,8 % tổng dân số Trung bình mỗi hộ
có 2 lao động Lao động trong khu vực chủ yếu làm nông, lâm nghiệp (Chiếm trên 90%), còn lại là các ngành nghề khác như: Thương mại, dịch vụ, tiểu thủ công nghiệp Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên toàn khu vực là 2,02%
Phân bố dân cư: Mật độ trung bình là: 11 người/km2, mật độ cao nhất là
xã Liêm Phú (24 người/km2) và thấp nhất xã Nậm Xé (3 người/km2)
Dân tộc: Khu bảo tồn có 4 dân tộc cùng chung sống ổn định, hòa đồng
đó là: Tày, Kinh, H’Mông và Dao, trong đó dân tộc thiểu số chiếm 98,7%
Trong tổng 03 xã trên, số hộ nằm trong vùng lõi Khu bảo tồn là: 14 hộ,
64 nhân khẩu với 29 lao động (Bản Nậm Si Tan thuộc xã Nậm Xé) Đây là đối tượng cần được đầu tư hỗ trợ phát triển sản xuất, khuyến khích đồng bào tham gia bảo vệ và phát triển rừng bền vững
Bảng 4.1: Diện tích, dân số và mật độ dân số
TT Thị trấn, xã Diện tích
(ha) Số hộ Số khẩu
Lao động
Mật độ (người/km
Trang 342 Cơ cấu kinh tế
Nông nghiệp là ngành sản xuất chủ yếu trên địa bàn, các hoạt động sản công nghiệp, xây dựng, thương mại dịch vụ hầu như không đáng kể (Cơ cấu các ngành kinh tế trong GDP: Nông, lâm nghiệp 95,0%; Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp - xây dựng 3,0%; thương mại - dịch vụ chiếm 2,0%)
Tuy nông nghiệp là ngành sản xuất chính nhưng hoạt động sản xuất vẫn còn ở mức giản đơn với hai ngành chính là trồng trọt và chăn nuôi Ngoài ra nhân dân thu hái lâm sản phụ, săn bắt chim thú, nhận khoán bảo vệ rừng để có việc làm và tăng thêm thu nhập kinh tế hộ
+ Diện tích đất sản xuất nông nghiệp bình quân là 2,1 ha/hộ; 1,02 ha/lao động; 0,46 ha/nhân khẩu Loài cây trồng chủ yếu là cây nông nghiệp ngắn ngày như: Lúa, sắn, khoai, ngô chiếm phần lớn diện tích đất sản xuất; cây ăn quả như: Táo mèo, Mận được trồng rải rác trong vườn nhà, chủ yếu phục vụ nhu cầu tại chỗ, chưa mang tính chất hàng hóa
+ Chăn nuôi gia súc gia cầm chủ yếu theo phương thức nuôi thả tự nhiên Các loài vật nuôi là: Trâu, bò, lợn, gà bình quân mỗi hộ có 2 ÷ 3 con lợn, 1 ÷ 2 con trâu hoặc bò
+ Phương thức sản xuất còn lạc hậu, mang nặng thói quen canh tác truyền thống nên năng suất cây trồng rất thấp, canh tác thụ động, còn phụ thuộc vào các điều kiện của tự nhiên Hệ thống kênh mương mới chỉ đáp ứng được một phần lượng nước cho trồng trọt
+ Công cụ phục vụ sản xuất thô sơ, người dân thiếu vốn, không có tiền mua giống mới, thuốc trừ sâu năng suất và hiệu quả lao động đang còn thấp
3 Thu nhập, đời sống
Năng suất bình quân trên 1 ha đất canh tác: Lúa 44,3 tạ/ha; ngô: 45,3 tạ/ha; sắn: 118,39 tạ/ha Tương đương với thu nhập bình quân 120.000 đ/người/tháng
Nhìn chung, tình hình sản xuất, đời sống, thu nhập đang còn yếu và thấp kém Tỷ lệ hộ nghèo trong khu vực theo tiêu chí mới tính đến tháng 12/2011 là: 54,72 %
4.1.2.3 Cơ sở hạ tầng
Trang 351 Giao thông
Hệ thống giao thông ở các xã trong vùng chỉ có đường bộ Mạng lưới giao thông các xã đều có đường ô tô đến trụ sở UBND xã Các tuyến giao thông chính được xây dựng là đường cấp 3 đã được rải nhựa mặt đường, đường hẹp, nhiều đèo cao, cua gấp nên rất nguy hiểm Các tuyến liên xã, liên thôn chủ yếu là đường cấp phối và đường đất, hệ thống cống rãnh và cầu cống chất lượng thấp, các phương tiện giao thông đi lại gặp nhiều khó khăn, nhất là trong mùa mưa lũ thường xảy ra ách tắc giao thông
2 Thuỷ lợi
Các xã, các bản làng định cư đều có khe, suối chảy qua; sử dụng nguồn nước này đưa vào các kênh dẫn Một phần tưới tiêu cho đồng ruộng, một phần dùng cho sinh hoạt hàng ngày Trong những năm qua, do nhu cầu về tưới tiêu, nhân dân và chính quyền địa phương các xã đã tự đầu tư, tu sửa và làm mới các công trình thuỷ lợi sẵn có trên địa bàn Để đáp ứng nhu cầu tưới tiêu của các xã trong thời gian tới cần phải đầu tư xây dựng thêm một số công trình thuỷ lợi, củng cố đập cũ, bê tông hoá các kênh đầu mối trên địa bàn từng thôn bản trong từng xã
3 Nước sạch
Bà con sử dụng nguồn nước tự nhiên từ các khe suối, nước mưa, giếng sâu Vì vậy, về mùa mưa thì nguồn nước cơ bản đáp ứng được nhu cầu, về mùa khô thường bị thiếu nước hoặc dùng nước không đảm bảo vệ sinh Tỉnh cũng đã có những công trình nước sạch nông thôn phục vụ nước sinh hoạt cho nhân dân nhưng cũng mới chỉ đủ nước dùng vào mùa mưa
Trang 366 Y tế
Hiện tại ở các xã đều có trạm y tế xã; các thôn đều có mạng lưới y tá thôn bản; tỷ lệ Y sĩ chiếm 15,7%, Y tá chiếm 35,3%, thành phần khác (hộ sinh, dược sĩ ) chiếm 49%
=> Nhận xét:
cho nhu cầu sinh hoạt của người dân Thêm vào đó, người dân địa phương chủ yếu là dân tộc ít người đã định cư ở đây từ lâu nên họ có truyền thống văn hóa lâu đời nhiều giá trị tốt đẹp Cùng với nhiều thành phần dân tộc anh
em cùng sinh sống nên có bản sắc văn hóa đa dạng và phong phú, những truyền thống đó còn nguyên giá trị rất am hiểu về rừng và các loài động -
thực vật tại khu vực
tác lạc hậu, tự cung tự cấp là chính, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn
Cơ sở hạ tầng, y tế, văn hóa xã hội cồn thiếu thốn, trình độ dân trí thấp do vậy, cuộc sống người dân chủ yếu dựa vào rừng, đốt nương làm rẫy, khai thác tài nguyên thiên nhiên từ củi đốt đến gỗ làm nhà, rồi đem bán, săn bắt động vật hoang dã, Các việc làm này do sự thiếu hiểu biết của người dân, do áp lực của cuộc sống và các chính sách yếu kém trong công tác quản lý, và dẫn
đến hậu quả là môi trường bị phá hủy, các loài động- thực vật đứng trước
nguy cơ bị tiêu diệt và thậm chí là tuyệt chủng
4.2 Đặc điểm về đa dạng sinh học tại khu BTTN Hoàng Liên – Văn Bàn
4.2.1 Hệ sinh thái
Khu BTTN Hoàng Liên Văn Bàn có 5 hệ sinh thái gồm: Hệ sinh thái rừng; Hệ sinh thái Đồng Cỏ; Hệ sinh thái Làng xóm; Hệ sinh thái ruộng nương; Hệ sinh thái đất ngập nước Các hệ sinh thái này có diện tích không đồng đều và bị chia cắt nhiều
1 Hệ sinh thái rừng
Là hệ sinh thái lớn chủ đạo có phân bố tập trung nhiều ở sườn Tây-Bắc
và Tây-Nam dãy núi, trên ranh giới giữa huyện Than Uyên - Văn Bàn Hệ sinh thái rừng trên núi cao đã tạo nên cảnh quan, môi trường rừng khu bảo tồn
và chi phối sự phát triển của các hệ sinh thái khác trong khu vực Các trạng
Trang 37thái rừng giàu và trung bình khá nhiều nhưng ở nơi xa, hẻo lánh, hiểm trở thuộc các tiểu khu 447, 462, 473, 488, 500, 506, 510, 518, 522, 526, 527, 528,
533, 534, 535 Tiểu khí hậu rừng khá ổn định, hệ sinh thái rừng ở đây đã làm giảm đáng kể các đợt gió nóng từ Than Uyên tràn sang Đặc biệt là số và chất lượng nguồn nước của suối Nậm Chăn là do hệ sinh thái rừng ở đây quyết định
Hệ sinh thái này có các kiểu rừng sau:
- Rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới
- Rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp
- Rừng kín thường xanh mưa ẩm ôn đới núi trung bình
- Rừng thường xanh trên núi cao và lạnh
2 Hệ sinh thái ao, hồ, suối
Hệ sinh thái này nhỏ về diện tích và tập trung chủ yếu dọc các suối Trong hệ sinh thái này rất nghèo các loài động vật tự nhiên sống dưới nước Thực vật trong hệ sinh thái này có các loài phổ biến như: Rành Rành suối, Kháo suối, Cỏ ba cạnh, Cỏ bợ, Các loài Nghể răm, Lác tràn, Rau Ngổ, Diếp
cá, Thuỷ xương bồ, một số loài khác trong họ Ráy và một số Rong suối Hệ sinh thái sông suối ao hồ ở sinh cảnh: Suối, hồ nước, đất ngập nước chân núi
3 Hệ sinh thái làng xóm
Hệ sinh thái này nằm rải rác trong các xã của Khu bảo tồn nhưng chủ yếu nằm ở chân và sườn các dông phụ, dọc đường quốc lộ 279 nơi có địa hình khá bằng, có các khe nước cho sinh hoạt Trong hệ sinh thái làng xóm, người dân thường chăn nuôi gia súc thả rông và trồng nhiều các loài cây nông nghiệp, cây ăn quả, cây làm thuốc như Nhãn, Vải, Cam, Bưởi, Chuối, Cây cảnh,…
4 Hệ sinh thái đồng ruộng, nương rẫy
Hệ sinh thái đồng ruộng, nương rẫy trong Khu BTTN Hoàng Liên Văn Bàn không rộng Ruộng nước ở gần khu dân cư, nương ngô, sắn ở rất xa và thường bám vào rừng phục hồi rất dễ gây cháy rừng khi dọn nương Hệ sinh thái đồng ruộng, nương rẫy phân bố dọc đường 279, dọc suối Nậm Xây Nương Thảo quả nằm rải rác và ở rất cao (từ 1.300m trở lên) và xa, thường
dưới tán các cây lớn của rừng già nên rất khó quản lý
5 Hệ sinh thái đồng cỏ
Trang 38Hệ sinh thái đồng cỏ ở Khu BTTN Hoàng Liên Văn Bàn gồm những bãi cỏ đã có từ trước đây khá lâu, phân bố trên một số đỉnh núi thấp dọc đường quốc lộ 279 lên Khau Co và dọc suối Nậm Xây Ngoài ra là một số diện tích do đốt nương làm rẫy hoặc bị đốt bỏ hàng năm để lấy cỏ non chăn nuôi trâu bò, những diện tích này phân bố trên những đường dông phụ và sườn núi cao tại các tiểu khu: 473, 488, 527, 532 và 537
Các loài cây phổ biến trong Hệ sinh thái đồng cỏ là: Cỏ tranh, Cỏ rác,
Cỏ lá tre cao, Cỏ lông lợn, Cỏ lau, Cỏ chít, Cỏ lào tím, Cúc lá bạc, Ngải cứu, Đơn buốt Cây bụi có Thẩu tấu, Mua, Tháo kén, Bồ cu vẽ, Hoắc quang tía, Quanh Châu, Đáng Do bị tàn phá nặng nên nguồn giống cây gỗ (cây mẹ) và nguồn cây gỗ tái sinh rất ít, khả năng phục hồi rừng rất chậm, dễ bị cháy rừng
4.2.2.1 Thành phần và số lượng các taxon thực vật
Hệ thực vật của khu BTTN Hoàng Liên Văn Bàn đã thống kê được 1.487 loài, thuộc 747 chi, 179 họ trong 6 ngành thực vật bậc cao có mạch Sự phân bố các taxon trong mỗi ngành được thể hiện trong bảng sau:
Bảng 4.2 Sự phân bố các ngành thực vật bậc cao có mạch tại Khu bảo tồn
(Nguồn: BQL Khu BTTN Hoàng Liên Văn Bàn[18])
Qua kết quả ở Bảng 4.2 cho thấy, hệ thực vật khu BTTN Hoàng Liên Văn Bàn đã có đầy đủ các ngành thực vật bậc cao có mạch của hệ thực vật Việt Nam; trong đó, ngành Khuyết lá thông (Psilotophyta) và ngành Cỏ tháp bút (Equisetophyta) là hai ngành kém đa dạng nhất (1 họ, 1 chi, 1 loài) Ngành
Trang 39Mộc lan (Magnoliophyta) đa dạng nhất với tổng số 1.369 loài, 679 chi và 147
họ, chiếm tỷ lệ tương ứng là 92,06% - 90,90% - 82,12% của cả hệ Các ngành còn lại là Dương xỉ (Polyodiophyta) với tỷ trọng 6,39% số loài, 6,83% số chi, 11,73% số họ Ngành Thông (Pinophyta) có tỷ trọng thấp hơn với tỷ lệ tương ứng là 1,01% - 1,61% - 3,91% Ngành Thông đất (Lycopodiophyta) chỉ chiếm 0,40% số loài, 0,40% số chi, 1,12% số họ
- Đa dạng về họ thực vật: Trong tổng số 179 họ thực vật, chọn ra 10 họ thực vật có số loài lớn nhất được ghi ở bảng 4.3:
Bảng 4.3 Mười họ thực vật có số loài lớn nhất trong KBT
10 họ đa dạng nhất (5,56% số họ) 508 34,2 239 31,9
(Nguồn: BQL Khu BTTN Hoàng Liên Văn Bàn[18])
Qua bảng 4.3 thấy rằng 10 họ đa dạng nhất của hệ thực vật ở Khu BTTN Hoàng Liên Văn Bàn mặc dù chỉ chiếm 5,56% tổng số loài của toàn hệ nhưng lại có 518 loài và 239 chi, chiếm các tỷ lệ tương ứng là 34,2% tổng số loài và 31,9% tổng số chi trong toàn hệ thực vật Trong số những họ đa dạng nhất phải kể đến như họ Lan-Orchidaceae (105 loài), họ Cúc-Asteraceae (67 loài), họ Hoa hồng-Rosaceae (55 loài),… Đây đều là những họ lớn và giàu loài nhất của hệ thực vật Việt Nam
Trang 40- Đa dạng chi thực vật: Qua thống kê 10 chi đa dạng nhất trong hệ thực vật Khu BTTN Hoàng Liên Văn Bàn cho thấy 10 chi này chiếm 1,34% tổng số chi với 135 loài chiếm 9,08% tổng số loài của hệ thực vật
Bảng 4.4: Mười chi có số loài lớn nhất của khu bảo tồn
(Nguồn: BQL Khu BTTN Hoàng Liên Văn Bàn[18])
Mười chi lớn nhất chiếm 1,33% số chi điều tra, và tổng số loài trong 10 chi là 135 loài, chỉ chiếm 9,08% số loài của khu hệ Như vậy, 10 chi này chưa phải là đại diện ưu thế cho các chi trong khu nghiên cứu, điều đó đã khẳng định tính đa dạng về chi của thực vật rừng Theo tác giả Tolmachop A.L
(1974): “ở vùng nhiệt đới, thành phần thực vật khá đa dạng thể hiện ở chỗ là
rất ít họ có số loài chiếm tới 10% tổng số loài của hệ thực vật và tổng tỷ lệ% của 10 họ giàu loài nhất chỉ đạt 40-50% tổng số loài của cả hệ thực vật” Khu
hệ thực vật có 10 họ có số loài nhiều nhất chiếm tỷ lệ < 50% được đánh giá là
đa dạng, còn trên 50% là không đa dạng về họ
Danh lục thực vật quý hiếm của Khu BTTN Hoàng Liên Văn Bàn được xây dựng dựa theo các căn cứ sau:
- Sách đỏ Việt Nam (2007)
- Căn cứ theo Nghị định 32 của chính phủ