Qua phân tích đánh giá những điểm bất cập và những thuận lợi, khó khăn, của chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với người dân bị Nhà nước thu hồi đất và kiến nghị giải pháp
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-HOÀNG VĂN HẬU
ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG MỘT SỐ DỰ ÁN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ GIANG, TỈNH HÀ GIANG GIAI ĐOẠN 2008-2013
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
Thái Nguyên, 2015
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-HOÀNG VĂN HẬU
ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG MỘT SỐ DỰ ÁN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ GIANG, TỈNH HÀ GIANG GIAI ĐOẠN 2008-2013
Chuyên ngành : Quản lý đất đai
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS LƯƠNG VĂN HINH
Thái Nguyên, 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu riêng của tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kì công trình nào khác
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc./
Tác giả luận văn
Hoàng Văn Hậu
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tạo điều kiện thuận lợi nhất, những ý kiến đóng góp và những lời chỉ bảo quý báu của tập thể và cá nhân trong và ngoài trường đại học Nông Lâm Thái Nguyên Đầu
tiên tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc tới PGS.TS LƯƠNG VĂN HINH là người
trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian nghiên cứu đề tài và hoàn thành luận văn Tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của Sở Tài nguyên
và Môi trường Hà Giang, Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất, Trung tâm phát triển quỹ đất tỉnh Hà Giang, phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố Hà Giang
và các cơ quan ban ngành khác có liên quan tạo điều kiện cho tôi thu thập số liệu, những thông tin cần thiết để thực hiện luận văn này
Tôi xin được bày tỏ lòng cảm ơn chân thành và sâu sắc tới sự giúp đỡ tận tình, quý báu đó!
Xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả luận văn
Hoàng Văn Hậu
Trang 5MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục tiêu của đề tài 2
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu 3
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Một số khái niệm 4
1.1.1 Đất đai 4
1.1.2 Thu hồi đất 5
1.1.3 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến công tác bồi thường giải phóng mặt bằng 7
1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 10
1.3 Kinh nghiệm bồi thường, giải phóng mặt bằng của một số địa phương và bài học cho thành phố Hà Giang 11
1.3.1 Kinh nghiệm của Hà Nội 11
1.3.2 Kinh nghiệm bồi thường giải phóng mặt bằng của tỉnh Vĩnh Phúc 12
1.3.3 Công tác bồi thường, GPMB của tỉnh Hà Giang 14
1.3.4 Những quy định về bồi thường khi thu hồi đất của UBN D tỉnh Hà Giang 16
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 22
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 22
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 22
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 22
2.3 Nội dung nghiên cứu 22
2.3.1 Đánh giá về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và công tác quản lý đất đai của thành phố Hà Giang 22
Trang 62.3.2 Giới thiệu khái quát 2 dự án nghiên cứu trên địa bàn thành phố Hà
Giang 22
2.3.3 Đánh giá việc thực hiện các chính sách bồi thường GPMB ở 2 dự án nghiên cứu 22
2.3.4 Một số bất cập (hạn chế) rút ra từ thực tiễn của công tác bồi thường, GPMB của thành phố Hà Giang trong thời gian qua 22
2.4 Phương pháp nghiên cứu 22
2.4.1 Tài liệu thứ cấp 23
2.4.2 Tài liệu sơ cấp 23
2.4.3 Phương pháp so sánh, phân tích tổng hợp 24
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 25
3.1 Đánh giá về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và công tác quản lý đất đai của thành phố Hà Giang 25
3.1.1 Đặc điểm về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội 25
3.1.2 Khái quát về công tác quản lí đất đai trên địa bàn thành phố Hà Giang, tỉnh Hà Giang 33
3.2 Giới thiệu khái quát 2 dự án nghiên cứu trên địa bàn thành phố Hà Giang 36
3.2.1 Dự án đầu tư xây dựng đường Cầu Mè – Công viên nước Hà Phương 36
3.2.2 Dự án bến xe khách phía Nam 37
3.2.3 Các văn bản, chính sách liên quan về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đã áp dụng đối với 2 dự án nghiên cứu 37
3.3 Đánh giá việc thực hiện các chính sách bồi thường GPMB ở 2 dự án nghiên cứu 40
3.3.1 Kết quả điều tra xác định các đối tượng và điều kiện được bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của 2 dự án 40
3.3.2 Về xác định giá bồi thường trên hai dự án 43
3.3.3 Về chính sách hỗ trợ và tái định cư 51
Trang 73.3.4 Tác động của việc thực hiện chính sách bồi thường GPMB đến đời
sống và việc làm của các hộ dân bị thu hồi đất 58
3.4 Một số bất cập (hạn chế) rút ra từ thực tiễn của công tác bồi thường, GPMB của thành phố Hà Giang trong thời gian qua 62
3.4.1 Thuộc về cơ chế chính sách 62
3.4.2 Thuộc về tổ chức thực hiện 63
3.4.3 Thuộc về các đơn vị sử dụng mặt bằng (Chủ dự án) 63
3.4.4 Thuộc về tác động của thị trường 63
3.4.5 Thuộc về người dân 64
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 65
1 Kết luận 65
2 Đề nghị 65
TÀI LIỆU THAM KHẢO 67
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU
Trang
Bảng 3.1: Cơ cấu kinh tế của thành phố giai đoạn 2011 - 2014 29
Bảng 3.2: Một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội 30
Bảng 3.3: Hiện trạng các loại đất và cơ cấu các loại đất 35
Bảng 3.4: Tổng hợp kết quả xác định đối tượng được bồi thường, hỗ trợ đất, tài sản gắn liền với đất 41
Bảng 3.5: Tổng hợp kết quả điều tra quan điểm của các đối tượng có đất bị thu hồi và ảnh hưởng tài sản trong việc xác định đối tượng, điều kiện được bồi thường, hỗ trợ 42
Bảng 3.6: Tổng hợp đơn giá bồi thường đất tại 02 dự án 44
Bảng 3.7: Tổng hợp giá trị bồi thường về đất 46
Bảng 3.8: Tổng hợp đơn giá bồi thường về tài sản tại 2 dự án 47
Bảng 3.9: Tổng hợp bồi thường về cây cối, hoa màu tại 2 dự án 48
Bảng 3.10: Ý kiến của người bị thu hồi đất trong việc bồi thường về tài sản gắn liền với đất 50
Bảng 3.11: Tổng hợp số hộ gia đình, cá nhân từ kết quả thực hiện chính sách hỗ trợ của 02 dự án bị thu hồi đất 51
Bảng 3.12: Tổng hợp đơn giá hỗ trợ về mồ mả tại dự án 55
Bảng 3.13: Tổng hợp kết quả bồi thường, hỗ trợ tại 2 dự án 58
Bảng 3.14: Kết quả phỏng vấn chi tiết về thu hồi đất và bồi thường, hỗ trợ đất nông nghiệp của các hộ dân tại 2 dự án 59
Bảng 3.15: Phương thức sử dụng tiền các hộ dân thuộc Dự án bến xe khách phía Nam 60
Bảng 3.16: Phương thức sử dụng tiền của các hộ dân thuộc Dự án Cầu mè – Công viên nước Hà Phương 61
Bảng 3.17: Tình hình an ninh trật tự xã hội sau khi thu hồi đất 62
Trang 9DANH MỤC HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ
Trang Hình 3.1: Bản đồ hành chính thành phố Hà Giang 25Hình 3.2: Bản đồ hiện trạng sử dụng đất thành phố Hà Giang năm 2014 36
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất
quản lí: Nhà nước giao đất, cho thuê đất cho các tổ chức, hộ gia đình và các cá nhân
sử dụng ổn định lâu dài hoặc có thời hạn theo quy định của pháp luật Vì vậy, việc sử dụng đất đai hợp lý, hiệu quả là nhiệm vụ của toàn xã hội (Luật Đất đai 2013) [14] Trong những năm gần đây, nền kinh tế của Việt Nam đều tăng trưởng ở mức khá, tốc độ đô thị hoá, công nghiệp hoá đất nước ngày càng diễn ra mạnh mẽ Điều đã đã tạo sự chuyển đổi về cơ cấu, thành phần và tỷ lệ các loại đất Việc phát triển các khu đô thị, khu công nghiệp chủ yếu lấy vào đất nông nghiệp, làm đất nông nghiệp bị giảm đi còn đất phi nông nghiệp tăng lên Hơn nữa, hiện nay khi Việt Nam đã là thành viên chính thức của tổ chức Thương mại thế giới (WTO) thì tốc độ phát triển kinh tế, mức thu hót đầu tư từ nước ngoài ngày càng tăng Do đã, gây sức ép ngày càng lớn đối với đất nông nghiệp Số lượng đất nông nghiệp phải chuyển sang đất phi nông nghiệp (xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị, xây dựng cơ sở hạ tầng,…) ngày càng nhiều Công tác giải phóng mặt bằng (GPMB) mang tính quyết định tiến độ của các
dự án, là khâu đầu tiên trong thực hiện dự án Có thể nói: “Giải phóng mặt bằng nhanh là một nửa dự án” Việc làm này không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của Nhà nước, của chủ đầu tư, mà còn ảnh hưởng đến đời sống vật chất cũng như tinh thần của những người bị thu hồi đất
Như chúng ta biết “Giải phóng mặt bằng” chính là quá trình thực hiện các công việc liên quan đến việc di dời nhà cửa, cây cối, các công trình xây dựng và một bộ phận dân cư trên một phần đất nhất định được quy hoạch cho việc cải tạo,
mở rộng hoặc xây dựng một công trình mới Quá trình giải phóng mặt bằng được tính từ khi bắt đầu thành lập Hội đồng giải phóng mặt bằng đến khi giải phóng xong, tạo quỹ đất sạch và bàn giao đất cho chủ đầu tư Đây là một quá trình đa dạng
và phức tạp thể hiện sự khác nhau giữa các dự án và liên quan trực tiếp đến các bên tham gia và của toàn xã hội
Trang 12Công tác GPMB là công việc rất quan trọng, đang được Nhà nước và toàn thể xã hội rất quan tâm Nó không chỉ ảnh hưởng trực tiếp tới quyền lợi của tổ chức, cá nhân và
hộ gia đình có đất bị thu hồi mà còn ảnh hưởng rất lớn tới tình hình kinh tế, chính trị - xã hội của địa phương sau khi tái định cư cho người dân, GPMB là một lĩnh vực nhạy cảm
và gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình thực hiện, như thương lượng giá bồi thường hợp lý với người dân, vì khung giá bồi thường đất và tài sản liên quan đến đất thường thấp hơn rất nhiều so với giá ngoài thị trường Ngoài ra, còn phải giải quyết vấn đề công
ăn việc làm, tái định cư và các hậu quả sau GPMB
Do gặp nhiều khó khăn như vậy, nên việc đánh giá công tác GPMB để thấy được những thuận lợi và hạn chế, nhằm đưa ra phương án khả thi để giải quyết các vấn đề khó khăn một cách có hiệu quả đang là một nhu cầu cấp thiết của xã hội
Xuất phát từ vấn đề đã tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Đánh giá công tác giải
phóng mặt bằng một số dự án trên địa bàn thành phố Hà Giang, tỉnh Hà Giang giai đoạn 2008 -2013”
2 Mục tiêu của đề tài
2.1 Mục tiêu tổng quát
Đánh giá công tác bồi thường giải phóng mặt bằng của hai Dự án: Dự án Đường đôi Cầu mè – Công viên nước Hà Phương và Dự án Bến xe khách phía Nam Thành phố Qua phân tích đánh giá những điểm bất cập và những thuận lợi, khó khăn, của chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với người dân bị Nhà nước thu hồi đất và kiến nghị giải pháp thực hiện cơ chế chính sách phù hợp trong thực tiễn của công tác bồi thường giải phóng mặt bằng
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá đặc điểm chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và công tác
quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn thành phố, từ đó đưa ra những thuận lợi khó khăn trong công tác này có ảnh hưởng đến công tác thu hồi bồi thường, giải phóng mặt bằng của hai dự án
Trang 13- Đưa ra những khái quát chung về hai dự án trên các mặt về vị trí địa lý, tầm quan trọng của hai dự án đối với mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội của thành phố
Hà Giang và các văn bản có liên quan đến hai dự án
- Đánh giá cụ thể hai Dự án bồi thường giải phóng mặt bằng: Đường Cầu Mè –
công viên nước Hà Phương và Dự án bến xe khách phía Nam của thành phố Hà Giang từ đã thấy được những điểm chưa hợp lý trong việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với người dân bị thu hồi đất từ đó đưa ra những đánh giá chung về ảnh hưởng của công tác bồi thường, GPMB đối với người dân sau khi bị thu hồi đất sản xuất và đất ở
- Đề tài phân tích một số bất cập trong công tác này và đề xuất một số giải pháp cho công tác thu hồi bồi thường trên địa bàn TP Hà Giang trong thực tiễn
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn
Thực hiện công bằng được lợi ích một cách hài hòa, giữa lợi ích xã hội và của người dân bị thu hồi đất, thực hiện công tác bồi thường GPMB một cách nhanh chóng và hiệu quả
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Một số khái niệm
1.1.1 Đất đai
1.1.1.1 Khái niệm đất đai
Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá của một quốc gia, là điều kiện tồn tại và phát triển của con người và các sinh vật khác trên Trái Đất
Theo Trần Văn Chính và Cs (2010) [4]: Đất là vật thể thiên nhiên hình thành
từ lâu đời do kết quả quá trình hoạt động tổng hợp của 5 yếu tố gồm: Đá, thực động vật, khí hậu, địa hình và thời gian Tất cả các loại đất đai trên Trái Đất được hình thành sau quá trình biến đổi trong thiên nhiên, chất lượng đất đai phụ thuộc vào đã
mẹ, khí hậu, sinh vật sống trên và trong lòng đất
Đất đai là lớp bề ngoài của Trái Đất, có khả năng cho sản phẩm cây trồng để nuôi sống con người Mọi hoạt động của con người gắn liền với lớp bề mặt đó theo thời gian
và không gian nhất định Chất lượng của đất đai phụ thuộc vào độ phì nhiêu của đất
1.1.1.2 Đặc điểm của đất đai
Đất đai có vị trí cố định không thể di chuyển được, với một số lượng lớn có hạn trên phạm vi toàn cầu, quốc gia và khu vực Tính cố định không di chuyển từ vị trí này sang vị trí khác của đất đai đồng thời quy định tính giới hạn về quy mô và không gian gắn liền với môi trường mà đất đai chịu chi phối (nguồn gốc hình thành, sinh thái với những tác động khác của thiên nhiên) Vị trí của đất đai có ý nghĩa rất lớn về mặt kinh tế trong quá trình khai thác và sử dụng đất đai
Độ phì là một thuộc tính của đất đai và là yếu tố quyết định chất lượng đái đai Độ phì là một đặc trưng về chất gắn liền với đất đai, thể hiện khả năng cung cấp thức ắn, nước cho cây trồng trong quá trình sinh trưởng và phát triển
Khả năng phục hồi và tái tạo của đất đai chính là khả năng phục hồi và tái tạo độ phì thông qua tự nhiên hoặc do tác động của con người
Trang 15Như vậy, đất đai có tính hai mặt (Không thể sản sinh nhưng có khả năng tạo) Tính hai mặt này có ý nghĩa quan trọng trong quá trình sử dụng đất đai Một mặt phải hết sức tiết kiệm đất đai, xem xét kỹ lưỡng khi bố trí sử dụng các loại đất đai Mặt khác phải chú ý ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật để tăng năng suất cây trồng cũng như tăng khả năng tái tạo và phục hồi độ phì nhiêu của đất đai (Đỗ Thị Lan và Cs, 2007) [7]
Ngoài tính hai mặt trên, đất đai còn có những đặc điểm như là: Sự chiếm hữu,
sở hữu đất đai và tính đa dạng phong phú của đất đai Về sự chiếm hữu và sở hữu của đất đai ở nước ta đã được quy định rõ trong bộ Luật Đất đai Còn tính đa dạng
và phong phú của đất đai thể hiện ở chỗ: Trước hết, do đặc tính tự nhiên của đất đai
và phân bổ cố định từng vùng lãnh thổ nhất định, gắn liền với điều kiện hình thành của của đất đai quyết định Mặt khác, tính đa dạng, phong phú còn do yêu cầu, đặc điểm và mục đích sử dụng khác nhau Đặc điểm này của đất đai đòi hỏi con người khi sử dụng đất đai phải biết khai thác triệt để lợi thế của mỗi loại đất một cách hiệu quả và tiết kiệm trên một vùng lãnh thổ Để làm được điều này, phải xây dựng một quy hoạch tổng thể và chi tiết sử dụng đất đai trên phạm vi cả nước và từng vùng khu vực
1.1.2 Thu hồi đất
1.1.2.1 Khái niệm về thu hồi đất
Theo Điều 4, Luật Đất đai năm 2003 [13] thì “Thu hồi đất là việc Nhà nước
ra quyết định hành chính để thu lại quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức, Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn quản lý”
Theo Điều 3, Luật Đất đai năm 2013 [14] thì “Nhà nước thu hồi đất là
việc Nhà nước quyết định thu lại quyền sử dụng đất của người được Nhà nước trao quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất của người sử dụng đất vi phạm pháp luật
về đất đai”
1.1.2.2 Các trường hợp thu hồi đất
Theo Điều 38, Luật Đất đai năm 2003 [13] thì:
Nhà nước thu hồi đất trong các trường hợp sau đây:
Trang 161 Nhà nước sử dụng đất vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, phát triển kinh tế;
2 Tổ chức được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất, được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất mà tiền sử dụng đất có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước hoặc cho thuê đất thu tiền thuê đất hàng năm bị giải thể, phá sản, chuyển đi nơi khác, giảm hoặc không còn nhu cầu sử dụng đất;
3 Sử dụng đất không đúng mục đích, sử dụng đất không có hiệu quả;
4 Người sử dụng đất cố ý hủy hoại đất;
5 Đất được giao không đúng đối tượng hoặc không đúng thẩm quyền;
6 Đất bị lấn, chiếm trong các trường hợp sau đây:
a) Đất chưa sử dụng bị lấn, chiếm;
b) Đất không được chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của Luật này mà người sử dụng đất do thiếu trách nhiệm để bị lấn, chiếm;
7 Cá nhân sử dụng đất chết mà không có người thừa kế;
8 Người sử dụng đất tự nguyện trả lại đất;
9 Người sử dụng đất cố ý không thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước;
10 Đất được Nhà nước giao, cho thuê có thời hạn mà không được gia hạn khi hết thời hạn;
11 Đất trồng cây hàng năm không được sử dụng trong thời hạn mười hai tháng liền; đất trồng cây lâu năm không được sử dụng trong thời hạn mười tám tháng liền; đất trồng rừng không được sử dụng trong thời hạn hai mươi bốn tháng liền;
12 Đất được Nhà nước giao, cho thuê để thực hiện dự án đầu tư mà không được sử dụng trong thời hạn mười hai tháng liền hoặc tiến độ sử dụng đất chậm hơn hai mươi bốn tháng so với tiến độ ghi trong dự án đầu tư, kể từ khi nhận bàn giao đất trên thực địa mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định giao đất, cho thuê đất đó cho phép
Luật Đất đai 2013 [14] đã cụ thể hóa các trường hợp thu hồi đất so với Luật Đất đai 2003 thông qua Điều 61, Điều 62, Điều 64, Điều 65
Trang 171.1.3 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến công tác bồi thường giải phóng mặt bằng
1.1.3.1 Khái niệm
a) Giải phóng mặt bằng
Trong Luật Đất đai và luật xây dựng hiện hành không có định nghĩa trực tiếp thế nào là giải phóng mặt bằng mặc dù có sử dụng cụm từ này có thể nói, giải
phóng mặt bằng hay giải tỏa mặt bằng (còn gọi tắt là giải tỏa) là một quá trình “làm
sạch” mặt bằng thông qua việc thực hiện di dời các công trình xây dựng, vật kiến trúc, cây cối, hoa màu và một bộ phận dân cư trên một diện tích đất nhất định nhằm thực hiện quy hoạch, cải tạo hoặc xây dựng công trình mới
b) Bồi thường
Theo Khoản 6 Điều 4 Luật Đất đai năm 2003 [13]: Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi cho người bị thu hồi đất Ta thấy khái niệm nêu trên chỉ xác định bồi thường
về đất, trong khi đó việc thu hồi đất không chỉ gây thiệt hại về đất, mà còn là những thiệt hại liên quan đến quyền sử dụng đất, công trình xây dựng, vật kiến trúc, cây trồng, vật nuôi trên đất, thậm chí là thiệt hại về sức khỏe do áp lực căng thẳng, lo âu của người sử dụng đất
Theo Khoản 12 Điều 3 Luật Đất đai 2013 [14], khái niệm bồi thường được
bổ sung như sau: “ Bồi thường về đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng
đất đối với diện tích đất thu hồi cho người sử dụng đất”
c) Hỗ trợ
Theo Khoản 7 Điều 4 Luật Đất đai năm 2003 [13] thì: “Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước giúp đỡ người bị thu hồi đất thông qua đào tạo nghề mới, bố trí việc làm mới, cấp kinh phí để di dời đến địa điểm mới” Định nghĩa này tuy có liệt
kê các trường hợp hỗ trợ, nhưng không đầy đủ Hỗ trợ là chính sách “mềm” nên ngoài các trường hợp hỗ trợ vừa nêu, còn có những trường hợp hỗ trợ khác do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định Chính vì vậy, Luật Đất đai 2013 đã rút gọn khái
niệm như sau [14]: “ Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trợ giúp cho người có đất thu hồi để ổn định đời sống, sản xuất và phát triển ”
Trang 18Sự khác nhau căn bản giữa bồi thường và hỗ trợ là: bồi thường là khái niệm xuất
phát từ ngành luật dân sự mang tính tương xứng với các nguyên tắc: (i) chủ thể nào gây thiệt hại, chủ thể đó phải bồi thường; (ii) thiệt hại đến đâu, bồi thường đến đó Trong khi
đó, khái niệm hỗ trợ (còn gọi là hộ trợ) là “giúp đỡ”, mang tính chính sách, thể hiện việc cộng thêm vào nên không đòi hỏi tính tương xứng như bồi thường Tuy nhiên, cho đến nay, pháp luật nước ta chưa thật sự “rạch ròi” hai khái niệm này và một số trường hợp mang bản chất “bồi thường” nhưng lại được xác định trong pháp luật là “hỗ trợ” Ví dụ điển hình là hỗ trợ về giá đất nông nghiệp đối với đất nông nghiệp là đất vườn ao, đất nông nghiệp trong khu dân cư và đất nông nghiệp tiếp giáp với khu dân cư Bản chất là bồi thường về đất, nhưng do pháp luật quy định là giá đất nông nghiệp định theo phương pháp thu nhập từ sản xuất nông nghiệp nên giá đất quá thấp, rồi áp dụng thêm khoản gọi
là “hỗ trợ” (Đặng Hùng Võ, 2013) [21] Hơn nữa, theo chúng tôi, một khi việc thu hồi đất làm người nông dân mất đất sản xuất, dẫn đến phải chuyển đổi nghề nghiệp từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp thì bản chất là đã gây ra thiệt hại do mất việc làm Nếu xác định như vậy thì chúng ta nên dùng cụm từ “bồi thường cho người nông dân do mất việc làm” thay vì “hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm” như hiện nay Điều này sẽ
khắc được tình trạng hỗ trợ nghề nghiệp bằng một khoản tiền qua loa, sau đó không quan
tâm đến việc người được chuyển đổi nghề nghiệp có việc làm hay không Mặt khác, điều này tạo ra một cách hiểu và thực thi pháp luật rằng, chi phí thiệt hại do mất việc phải được tính toán sòng phẳng, bảo đảm thực sự tái lập và cải thiện chất lượng cuộc sống người dân sau khi quá trình thu hồi đất
d, Tái định cư
Pháp luật Việt Nam không giải thích khái niệm tái định cư; tuy nhiên, nhiều
văn bản vẫn quy định về tái định cư Có thể khái quát rằng, tái định cư là việc bố trí chỗ ở mới cho người bị thu hồi đất mà không còn chỗ ở nào khác trong phạm vi cấp
xã nơi có đất bị thu hồi và phải di chuyển chỗ ở Hình thức tái định cư bao gồm: bằng nhà ở, bằng đất ở hoặc bằng tiền (Phan Trung Hiền, 2013 ) [6]
1.1.3.2 Mối quan hệ giữa bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
Trong công tác giải phóng mặt bằng thì chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đảm bảo việc bồi thường về đất đai và tài sản gắn liền với đất bị thu hồi đúng
Trang 19đối tượng, đúng chính sách, hơn nữa là đảm bảo ổn định đời sống cho người có đất bị thu hồi bằng những chính sách phù hợp để tạo hướng phát triển tạo việc làm và ổn định đời sống
Chính sách bồi thường, hỗ trợ hầu hết được thực hiện khi Nhà nước thu hồi một phần đất hay toàn bộ thửa đất cùng tài sản gắn liền với đất của người dân, cùng với đó là một số chính sách hỗ trợ khác để đảm bảo lợi ích cho người có đất
bị thu hồi
Mặt khác chính sách tái định cư đa phần được thực hiện khi Nhà nước thu hồi toàn bộ phần đất và công trình xây dựng, tài sản trên đất (hoặc phần còn lại không thể tiếp tục sử dụng được) Cùng với chính sách tái định cư là các chính sách hỗ trợ để phát triển tạo việc làm, ổn định đời sống cho người bị thu hồi đất phải di chuyển chỗ ở
Như vậy, tái định cư là quá trình bồi thường các thiệt hại về đất và tài sản gắn liền với đất, chi phí di chuyển, ổn định và khôi phục đời sống cho người có đất bị thu hồi Ngoài ra tái định cư còn bao gồm hàng loạt các chính sách hỗ trợ cho người có đất thu hồi bị tác động do việc thực hiện các dự án đầu tư gây ra, nhằm khôi phục và
cải thiện mức sống (Bộ giao thông vận tải, 2004) [1]
1.1.3.3 Đặc điểm của quá trình bồi thường giải phóng mặt bằng
Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất để xây dựng các công trình mang tính
đa dạng và phức tạp Nó thể hiện khác nhau đối với mỗi một dự án, nó liên quan trực tiếp đến lợi ích của các bên tham gia và lợi ích của toàn xã hội (Viện nghiên cứu địa chính, 2003) [20]:
- Tính đa dạng thể hiện: Mỗi dự án được tiến hành trên một vùng đất khác
nhau với điều kiện tự nhiên kinh tế, xã hội dân cư khác nhau Khu vực nội thành, mật độ dân cư cao, ngành nghề đa dạng, giá trị đất và tài sản trên đất lớn; khu vực ven đô, mức độ tập trung dân cư khá cao, ngành nghề dân cư phức tạp, hoạt động sản xuất đa dạng: Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại, buôn bán nhỏ; Khu vực ngoại thành, hoạt động sản xuất chủ yếu của dân cư là sản xuất nông nghiệp Do đó mỗi khu vực bồi thường GPMB có những đặc trưng riêng và được
Trang 20tiến hành với những giải pháp riêng phù hợp với những đặc điểm riêng của mỗi khu vực và từng dự án cụ thể
- Tính phức tạp: Đất đai là tài sản có giá trị cao, có vai trò quan trọng trong đời
sống kinh tế, xã hội đối với mọi người dân Đối với khu vực nông thôn, dân cư chủ yếu sống nhờ vào hoạt động sản xuất nông nghiệp mà đất đai lại là tư liệu sản xuất quan trọng trong khi trình độ sản xuất của nông dân thấp, khả năng chuyển đổi nghề nghiệp khó khăn do đó tâm lý dân cư vùng này là giữ được đất để sản xuất, thậm chí họ cho thuê đất còn được lợi nhuận cao hơn là sản xuất nhưng họ vẫn không cho thuê Mặt khác, cây trồng, vật nuôi trên vùng đó cũng đa dạng dẫn đến công tác tuyên truyền, vận động dân
cư tham gia di chuyển, định giá bồi thường rất khó khăn và việc hỗ trợ chuyển nghề nghiệp là điều cần thiết để đảm bảo đời sống dân cư sau này
Đối với đất ở lại càng phức tạp hơn do những nguyên nhân sau [15]:
- Đất ở là tài sản có giá trị lớn, gắn bó trực tiếp với đời sống và sinh hoạt của người dân mà tâm lý, tập quán là ngại di chuyển chỗ ở
- Nguồn gốc sử dụng đất khác nhau qua nhiều thời kỳ với chế độ quản lý khác nhau, cơ chế chính sách không đồng bộ dẫn đến tình trạng lấn chiếm đất đai xây nhà trái phép diễn ra thường xuyên
- Thiếu quỹ đất do xây dựng khu tái định cư cũng như chất lượng khu tái định cư thấp chưa đảm bảo được yêu cầu
- Dân cư một số vùng sống chủ yếu bằng nghề buôn bán nhỏ và sống bám vào các trục đường giao thông của khu dân cư làm kế sinh nhai nay chuyển đến ở khu vực mới thì điều kiện kiếm sống bị thay đổi nên họ không muốn di chuyển
Từ các điểm trên cho thấy mỗi dự án khác nhau thì tính phức tạp của công
tác GPMB cũng khác nhau
1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài
Đất đai là địa điểm, mặt bằng xây dựng cơ sở sản xuất kinh doanh, phân bổ lực lượng sản xuất và phân bổ dân cư, nhà xưởng, kho tàng, bến bãi, cửa hàng, xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng Đất là nền mãng, là mặt bằng diễn ra các hoạt động kinh tế, khi dân số không ngừng tăng lên, nhu cầu về đất càng lớn, với sự phát
Trang 21triển của thời kỳ công nghiệp hóa đất trở nên ngày càng khan hiếm so với nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội
Đất đai là môi trường con người xây dựng nhà ở, các công trình văn hoá, y tế, giáo dục, Chính vì thế đất là điều kiện để tạo dựng các điều kiện sinh hoạt trực tiếp như phân bổ dân cư, để tổ chức các hoạt động xã hội, xây dựng cơ sở quốc phòng, an ninh và các hoạt động khác phục vụ cuộc sống của con người
Cùng với sự phát triển của thế giới, Việt Nam bước vào thời kỳ phát triển công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất nước, nước ta có những đổi mới mạnh mẽ Nhu cầu về đất đai cho mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích xã hội, lợi ích công công ngày càng phát triển, vì vậy nhu thu hồi đất, giải phóng mặt bằng là một tất yếu khách quan nhằm đạt tới một sự phát triển rộng hơn, to đ ẹp hơn, phù hợp hơn nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của con người
Thành phố Hà Giang, tỉnh Hà Giang là Đô thị loại III là trung tâm chính trị hành chính của tỉnh, là địa bàn phân bổ dân cư đông đúc, có nền kinh tế phát triển đầu tàu của tỉnh Vì vậy so với các huyện khác trong toàn tỉnh, đất đai của thành phố có giá trị lớn hơn gấp nhiều lần Nhu cầu đất sử dụng cho các mục đích xây dựng đô thị, kết cấu hạ tầng nói chung là rất lớn Công tác thu hồi đất, BTGPMB luôn là Đề tài nóng bỏng trong thực tiễn quản lý đất đai của địa phương Công tác thu hồi đất , BTGPMB nếu thực hiện tốt sẽ góp phần quan trọng vào ổn định đời sống xã hội, góp phần vào sự nghiệp phát triển kinh-tế xã hội chung của Thành phố và của Tỉnh
Định hướng chung phát triển hệ thống giao thông trên địa bản tỉnh và thành phố
- Hệ thống hạ tầng giao thông có vị trí đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội cũng như tác động mạnh mẽ đến quá trình đô thị hóa trên địa bàn thành phố Quản lý và tổ chức tốt, nâng cấp giao thông đô thị
1.3 Kinh nghiệm bồi thường, giải phóng mặt bằng của một số địa phương và bài học cho thành phố Hà Giang
1.3.1 K inh nghiệm của Hà Nội
Dự án đường vành đai 1 (đoạn Ô Ðông Mác - Nguyễn Khoái) [5]
Theo thiết kế, tuyến đường 5 kéo dài có tổng chiều dài 13,32 km, mặt cắt ngang rộng 68,5 m Dự án được khởi công vào tháng 5-2005, dự kiến hoàn thành
Trang 22vào tháng 5-2008, nhưng cho đến năm 2013 sau hơn tám năm thi công dự án vẫn chưa hoàn thành 19 gói thầu của dự án mới đạt từ 50% đến 70% khối lượng công việc Theo Ban quản lý dự án hạ tầng Tả Ngạn - chủ đầu tư dự án
Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng dự án triển khai chậm trễ là do những vướng mắc trong công tác giải phóng mặt bằng Công tác GPMB dây dưa, kéo dài hàng năm trời, dẫn đến giá cả nguyên vật liệu xây dựng biến động, vượt xa dự toán ban đầu, khiến không ít nhà thầu nản chí, bỏ cuộc
Ðể tháo gỡ khó khăn, vướng mắc UBND thành phố ban hành quyết định về kế hoạch tổ chức thực hiện thu hồi đất, khảo sát, điều tra, kiểm đếm và các biện pháp thu hồi đất, giải phóng mặt bằng Trường hợp các cơ quan có thẩm quyền đã tuyên truyền, giải thích, vận động, thuyết phục nhưng hộ gia đình, cá nhân không nhận tiền bồi thường, hỗ trợ, không bàn giao mặt bằng thì tổ chức được giao nhiệm vụ giải phóng mặt bằng chuyển tiền bồi thường, hỗ trợ vào tài khoản tiền gửi tại Kho bạc Nhà nước và thực hiện các biện pháp hành chính để thu hồi đất theo quy định Cho phép nâng mức thưởng tiến độ bàn giao mặt bằng đối với chủ sử dụng đất
là hộ gia đình, cá nhân; khuyến khích các chủ đầu tư dự án sử dụng vốn ngoài ngân sách nhà nước tự nguyện hỗ trợ thêm cho tổ chức, cá nhân bị thu hồi đất ổn định sản xuất, kinh doanh và ổn định đời sống từ nguồn tài chính hợp pháp Cụ thể, mức thưởng đối với chủ sử dụng đất khi bị thu hồi toàn bộ đất ở hoặc thu hồi một phần đất ở, nhưng buộc phải phá dỡ toàn bộ nhà ở, đã nhận tiền bồi thường, hỗ trợ, bàn giao mặt bằng đúng tiến độ từ 10 đến 30 triệu đồng Chủ sử dụng đất khi bị thu hồi một phần đất ở, đã nhận tiền bồi thường, hỗ trợ, bàn giao mặt bằng đúng tiến độ thì được thưởng từ năm đến 15 triệu đồng
Kết quả đạt được đã tổ chức chi trả tiền đền bù cho 101 hộ dân, tổng cộng hơn
137 tỷ đồng Đối với 97 hộ dân còn lại đã chi trả trong tháng 2 năm 2014 Giải quyết tương đối triệt để các vướng mắc liên quan tới khâu GPMB của dự án
1.3.2 K inh nghiệm bồi thường giải phóng mặt bằng của tỉnh Vĩnh Phúc
Trong những năm gần đây, Vĩnh Phúc là một tỉnh có tốc độ phát triển công nghiệp, dịch vụ tăng rất nhanh, do đó diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi, chuyển mục đích sử dụng rất lớn, tỷ lệ lao động nông nghiệp bị mất việc làm ngày một
Trang 23cao Tuy nhiên, công tác thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất từ đất nông nghiệp sang đất công nghiệp, dịch vụ vẫn được Tỉnh triển khai, thực hiện nhanh gọn, thu hút được các nhà đầu tư vào địa bàn, các nhà đầu tư rất hài lòng, tin tưởng khi đầu tư vào Vĩnh Phúc Đạt được kết quả trên là nhờ Tỉnh uỷ, HĐND, UBND tỉnh có nhiều chủ trương, chính sách đúng đắn, cắt giảm nhiều thủ tục hành chính gây phiền hà cho doanh nghiệp, trong đó công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng được đánh giá là một Tỉnh có nhiều cách làm hay, sáng tạo, được
đa số nhân dân đồng tình cao
Để tạo được sự đồng thuận cao trong nhân dân về chủ trương thu hồi đất, bồi thường giải phóng mặt bằng phát triển công nghiệp, dịch vụ; trước khi triển khai qui hoạch, kế hoạch sử dụng đất, ban hành chính sách bồi thường GPMB, Tỉnh đều thực hiện công khai hoá và tổ chức lấy ý kiến của nhân dân đến từng khu dân cư, từng thôn xóm, chính vì vậy được nhân dân đồng tình cao
Tuy vậy, việc thu hồi đất để phát triển công nghiệp, dịch vụ, xây dựng kết cấu hạ tầng, đã dẫn đến có khoảng 45.000 lao động thiếu việc làm Để từng bước giải quyết vấn đề bức xúc này của nhân dân, ngoài việc khuyến khích các hộ sử dụng tiền bồi thường đầu tư chuyển đổi sản xuất kinh doanh, dịch vụ, tạo điều kiện cho lao động học nghề; tỉnh cũng yêu cầu các doanh nghiệp có dự án đầu tư vào địa bàn phải cam kết thu hút, bố trí lao động địa phương, đặc biệt là lao động có đất bị thu hồi vào làm việc trong các nhà máy UBND Tỉnh đã ban hành đề án dạy nghề cho lao động nông thôn, lao động trong các vùng có đất bị thu hồi để phát triển công nghiệp dịch vụ và đô thị giai đoạn 2005-2010 Với tổng kinh phí để thực hiện dự án gần 100 tỷ đồng, trong đó nguồn ngân sách địa phương hỗ trợ khoảng 65%, bình quân mỗi năm tuyển sinh, đào tạo nghề cho khoảng 23.000 người, riêng những đối tượng lao động có đất bị thu hồi được hỗ trợ 100% kinh phí đào tạo Từ đề án của UBND Tỉnh, địa phương đã hỗ trợ đầu tư nâng cấp qui mô đào tạo của 27 cơ sở dạy nghề hiện có, các cơ sở dạy nghề trên địa bàn tỉnh đã liên kết chặt chẽ với các doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh kịp thời nắm bắt thông tin mục tiêu đào tạo, gắn đào tạo với sử dụng lao động, nhờ đó mà hơn 2000 lao động, tuổi từ 18 - 30 đã được đào tạo và nhận vào làm việc trong các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh, đây chính là
Trang 24một trong những giải pháp giải quyết việc làm cho những lao động có đất bị thu hồi, góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp hoá - dịch vụ - nông nghiệp của tỉnh, nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo từ 26,4% năm 2008 lên 45% vào năm 2012
Tuy nhiên, công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng ở tỉnh Vĩnh Phúc, cũng
có những khó khăn, có một số dự án tiến độ giải phóng mặt bằng còn chậm, ảnh hưởng đến quá trình thu hút vốn đầu tư của địaphương Để giải quyết vướng mắc nêu trên, UBND tỉnh đã có những giải pháp chỉ đạo kiên quyết, kể cả biện pháp cưỡng chế để giải phóng mặt bằng Ví dụ như dự án mở rộng nhà máy sản xuất ô tô Xuân Kiên ở huyện Mê Linh Ngày 2/4/2004 Chính phủ có công văn số 436/CP-CV đồng ý cho Công ty cổ phần ô tô Xuân Kiên Vinaxuki, được đầu tư lắp ráp, sản xuất phụ tùng ô tô tại tỉnh Vĩnh Phúc UBND tỉnh Vĩnh Phúc đã có quyết định chấp thuận địa điểm cho dự án đầu tư nhà máy tại xã Tiền Phong, huyện Mê Linh với diện tích 8,6 ha Nhà máy đi vào hoạt động từ năm 2005, giải quyết việc làm cho 1.470 lao động, trong đó xã Tiền Phong có 300 lao động, thôn Do Thượng có 154 lao động Nhà máy đã ủng hộ thôn Do Thượng, Do Hạ gần 3,1 tỷ động để xây dựng kết cấu hạ tầng Do nhu cầu mở rộng nhà máy, tỉnh đã đồng ý thu hồi tiếp 6,53 ha đất tại thôn Do Thượng để giao cho công ty Trong tổng số 226 hộ dân, có 153 hộ dân đã nhận tiền bồi thường còn 73 hộ chưa nhận tiền Sau nhiều lần tuyên truyền, giải thích, thuyết phục, đã có 17 trong tổng số 73 hộ nhận tiền bồi thường Số còn lại kiên quyết không nhận Ngày 17/12/2009 UBND huyện Mê Linh quyết định cưỡng chế giải phóng mặt bằng 22.598,3 m2 đất của 56 hộ dân bàn giao cho công
ty Vinaxuki Như vậy, trong công tác thu hồi đất, bồi thường GPMB, khi đã thực hiện theo đúng các qui định của Nhà nước về chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng, nếu các hộ dân cố tình chống đối, không chấp hành thì việc tổ chức cưỡng chế GPMB là cần thiết để giữ nghiêm kỷ cương, phép nước
1.3.3 Công tác bồi thường, GPMB của tỉnh Hà Giang
Hà Giang là một tỉnh miền nói phía Bắc, cách Hà Nội hơn 320 km theo Quốc
lộ 2, nằm trong vùng tây bắc, điều kiện không có nhiều thuận lợi về giao thông vì tỉnh không có đường không, đường sắt, từ khi tái lập tỉnh năm 1991 đến nay, Hà
Trang 25Giang đang tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hàng năm tỉnh Hà Giang chuyển mục đích hàng trăm ha đất nông nghiệp sang các mục đích khác đã ảnh hưởng lớn đến đời sống, việc làm và thu nhập của một bộ phận lớn dân cư sau khi thu hồi đất, đây là vấn đề bức xúc chung của cả nước và của tỉnh Hà Giang nói riêng cần phải giải quyết
Tỉnh Hà Giang có 11 đơn vị hành chính, gồm: 10 huyện: Bắc Quang, Vị Xuyên, Quang Bình, Su Phì, Xí Mần, Bắc Mê, Quản Bạ, Yên Minh, Đồng Văn, Mèo Vạc và thành phố Hà Giang Theo Thống kê của Sở Tài Nguyên & Môi trường Tỉnh, trong giai đoạn từ: đầu năm 2008 đến 30/9/2009 (trước thời điểm Nghị định 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 có hiệu lực thi hành) toàn tỉnh có 378 dự án đầu tư, thu hồi 735,6 ha đất các loại của 7.925 lượt hộ gia đình, cá nhân, tổng kinh phí bồi thường, hỗ trợ 225, 65 tỷ đồng
Giai đoạn từ 01/10/2009 (thời điểm Nghị định 69 có hiệu lực thi hành đến 30/6/2012 toàn tỉnh có 464 dự án đầu tư, thu hồi 1037,58 ha đất các loại của 11.688 hộ gia đình, cá nhân, số tiền bồi thường hỗ trợ là 270, 206 tỷ đồng Trong đó: bồi thường về đất 104,205 tỷ đồng, bồi thường về tài sản, vật kiến trúc 83,567 tỷ đồng, hỗ trợ 82,32 tỷ đồng, 387 hộ gia đình được hỗ trợ tái định cư với diện tích là 15,86 ha
Hiện nay trên địa bàn toàn tỉnh còn tồn đọng hơn 69,3 tỷ đồng tiền bồi thường, hỗ trợ thực hiện các dự án đầu tư đã được thẩm định nhưng chưa có kinh phí chi trả
* Qua số liệu báo cáo tổng kết về công tác bồi thường giải phóng mặt bằng của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Hà Giang tổng hợp cho thấy, trên địa bàn tỉnh số dự án đầu tư cần giải phóng mặt bằng hàng năm với số diện tích thu hồi rất lớn, bình quân trên 300 ha/năm, Công tác bồi thường còn nhiều bất cập: Giá cả bồi thường về đất đạt khoảng 25% so với thị trường, nhất là đất ở; đơn giá bồi thường
về tài sản vật kiến trúc không được điều chỉnh theo từng năm, về kết cấu hạ tầng điện, đường giao thông, nước sinh hoạt và các dịch vụ công cộng khác thiếu đồng
bộ nên người dân không chịu di chuyển về vị trí mới Mặt khác với phong tục tập
Trang 26quán của người dân ngại sự thay đổi, bởi khi thay đổi chỗ ở thì các mỗi quan hệ trong cộng đồng dân cư và cuộc sống làm ăn sẽ kéo theo nhiều vấn đề cần phải giải quyết điều đó cần phải có thời gian dài người dân tái định cư mới thichs nghi được Một khía cạnh khác là dự án đầu tư thường kéo dài do thiếu nguồn vốn, thiếu kinh phí chi trả tiền bồi thường kịp thời vì vậy công tác bồi thường GPMB tỉnh Hà Giang cũng gặp nhiều khó khăn, đơn thư khiếu nại, khiếu kiện nhiều
1.3.4 Những quy định về bồi thường khi thu hồi đất của UBN D tỉnh Hà Giang
1.3.4.1 Bồi thường về đất
1 Nguyên tắc bồi thường:
Theo quy định tại Điều 14, Điều 16 Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13 tháng 8 năm 2009 của Chính phủ [3]
2 Đơn giá bồi thường:
Đơn giá các loại đất được bồi thường được tính theo Bảng giá đất tại thời điểm thu hồi đất do UBND tỉnh ban hành hàng năm
1.3.4.2 Bồi thường nhà và công trình xây dựng trên đất
1 Nguyên tắc bồi thường:
Theo quy định tại Điều 24 Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13 tháng 8 năm
2009 của Chính phủ [3]
2 Đơn giá bồi thường:
a) Đối với nhà ở, công trình phục vụ sinh hoạt của hộ gia đình, cá nhân, được bồi thường bằng giá trị xây dựng mới của nhà, công trình có tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương Mức bồi thường được tính theo Phụ lục số 1 ban hành kèm theo Quyết định này
b) Đối với nhà, công trình vật kiến trúc khác không thuộc đối tượng quy định tại điểm a, khoản 2, Điều này (đối với các tổ chức) được bồi thường như sau:
- Mức bồi thường nhà, vật kiến trúc khác bằng tổng giá trị hiện có của nhà, vật kiến trúc khác bị thiệt hại và một khoản tiền tính bằng tỷ lệ (%) theo giá trị hiện có của nhà, vật kiến trúc khác theo công thức: A = B + C
Trang 27Trong đó:
A: Là mức bồi thường nhà, công trình vật kiến trúc bị thiệt hại
B: Là giá trị hiện có của nhà, công trình vật kiến trúc khác bị thiệt hại
C: Là một khoản tiền được xác định = 50% x Giá trị đã khấu hao của nhà, công trình vật kiến trúc bị thiệt hại
Giá trị đã khấu hao = 100% giá trị xây dựng mới trừ (-) đi giá trị hiện có của nhà c) Đối với nhà, công trình xây dựng, vật kiến trúc khác bị phá đi một phần, mà phần còn lại không còn sử dụng được thì được bồi thường cho toàn bộ nhà, công trình, việc phá đi nhà, công trình làm ảnh hưởng đến công trình khác mà những công trình này không thể sử dụng được theo thiết kế, quy hoạch xây dựng ban đầu phải phá đi thì công trình phải phá đi được bồi thường toàn bộ, công trình
d) Nhà, công trình, vật kiến trúc khác không được phép xây dựng theo quy định của pháp luật nhưng xây dựng trên đất có đủ điều kiện được bồi thường về đất
và xây dựng trước ngày 01/7/2004 thì được bồi thường; nếu xây dựng từ ngày 01/7/2004 trở về sau, xây dựng không đóng với mục đích sử dụng đất theo quy định của pháp luật thì không được bồi thường nhưng được hỗ trợ; mức hỗ trợ bằng 80% giá trị nhà, công trình theo đơn giá xây dựng mới của nhà, công trình có tiêu chuẩn
kỹ thuật tương đương
1.3.4.3 Các khoản hỗ trợ
a Hỗ trợ đối với đất nông nghiệp trong khu dân cư và đất vườn, ao không được công nhận là đất ở
1 Hộ gia đình, cá nhân khi bị thu hồi đất vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà
ở trong khu dân cư nhưng không được công nhận là đất ở; đất vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở riêng lẻ; đất vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở dọc kênh mương và dọc tuyến đường giao thông thì ngoài việc được bồi thường theo giá đất nông nghiệp trồng cây lâu năm được quy định tại Bảng giá đất do UBND tỉnh ban hành công bố ngày 01 tháng 01 hàng năm còn được hỗ trợ bằng tiền theo tỷ lệ giá đất ở của thửa đất đã và diện tích được hỗ trợ bằng 4 lần hạn mức giao đất ở cho từng khu vực được UBND tỉnh ban hành tại Quyết định số 3011/2009/QĐ-UBND ngày 20 tháng 8 năm 2009 [19]
Trang 282 Hộ gia đình, cá nhân khi bị thu hồi đất nông nghiệp trong địa giới hành chính phường, trong khu dân cư thuộc thị trấn, khu dân cư nông thôn; thửa đất nông nghiệp tiếp giáp với ranh giới phường, ranh giới khu dân cư thì ngoài việc được bồi thường theo giá đất nông nghiệp được quy định tại Bảng giá đất do UBND tỉnh ban hành công bố ngày 01 tháng 01 hàng năm còn được hỗ trợ bằng tiền theo tỷ lệ giá đất ở trung bình của khu vực có đất bị thu hồi để thực hiện dự án; diện tích được hỗ trợ bằng 4 lần hạn mức giao đất ở cho từng khu vực được UBND tỉnh ban hành tại
Quyết định số 3011/2009/QĐ-UBND ngày 20 tháng 8 năm 2009 [19]
3 Diện tích đất được hỗ trợ theo diện tích thu hồi thực tế, trong trường hợp
diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này lớn hơn diện tích được hỗ trợ tối đa thì chỉ được hỗ trợ bằng mức tối đa quy định tại Phụ lục số 4 và Phụ lục số 5 ban hành kèm theo Quyết định này
b Hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm
1 Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp khi nhà nước thu hồi đất nông nghiệp không thuộc trường hợp quy định tại Điều 7 quy định này mà không có đất để bồi thường thì ngoài việc được bồi thường bằng tiền quy định tại Điều 3 Quy định này còn được hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm theo một trong các hình thức bằng tiền hoặc bằng đất ở hoặc nhà ở hoặc đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp như sau:
a) Hỗ trợ bằng tiền với mức từ 2,0 đến 4,0 lần giá đất nông nghiệp đối với diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi theo giá đất do UBND tỉnh công bố ngày 01 tháng
01 hàng năm
b) Hỗ trợ một lần bằng một suất đất ở hoặc một suất đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp theo quy hoạch, người được hỗ trợ có nhu cầu về đất ở hoặc đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp mà giá trị được hỗ trợ theo quy định tại điểm
a khoản 1 Điều này có giá trị bằng tiền lớn hơn hoặc bằng giá trị thửa đất ở, đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp; phần giá trị chênh lệch được hỗ trợ bằng tiền
2 Trường hợp người được hỗ trợ theo quy định tại khoản 1 Điều này có nhu cầu được đào tạo, học nghề thì được nhận vào các cơ sở đào tạo nghề thuộc tỉnh
Trang 29hoặc được tỉnh cử đi học tại các cơ sở đào tạo nghề ngoài tỉnh được miễn học phí
đào tạo cho một khóa học đối với các đối tượng trong độ tuổi lao động
c Hỗ trợ di chuyển
1 Hộ gia đình, cá nhân khi nhà nước thu hồi đất phải di chuyển chỗ ở thì được
hỗ trợ kinh phí để di chuyển Mức hỗ trợ được tính theo mục 1 và 2 Phụ lục số 7
ban hành kèm theo Quyết định này
2 Tổ chức được nhà nước giao đất, cho thuê đất hoặc đang sử dụng đất hợp pháp khi Nhà nước thu hồi mà phải di chuyển cơ sở sản xuất, kinh doanh thì được
hỗ trợ kinh phí để tháo đi, di chuyển và lắp đặt Mức hỗ trợ được tính mục 3, Phụ lục
số 7 ban hành kèm theo Quyết định này
3 Người bị thu hồi đất ở mà không còn chỗ ở khác thì trong thời gian chờ tạo lập chỗ ở mới được bố trí vào nhà ở tạm hoặc hỗ trợ tiền thuê nhà ở Mức
hỗ trợ được tính theo mục 4, Phụ lục số 7 ban hành kèm theo Quyết định này
d Hỗ trợ tái định cư
Đối với hộ gia đình cá nhân khi nhà nước thu hồi đất mà không có chỗ ở nào khác thì được giao đất ở, nhà ở tái định cư Hộ gia đình cá nhân nhận đất ở, nhà ở tái định cư mà số tiền được bồi thường hỗ trợ nhỏ hơn giá trị một suất tái định cư tối thiểu thì được hỗ trợ khoản chênh lệch đã; trường hợp không nhận đất ở, nhà ở tái định cư thì được nhận tiền tương đương khoản chênh lệch đã Cụ thể:
1 Suất tái định cư tối thiểu (bao gồm đất ở và nhà ở):
a) Đối với đất ở: Diện tích đất tái định cư tối thiểu được tính bằng 80% hạn
mức giao đất ở cho từng khu vực được UBND tỉnh ban hành tại Quyết định số 3011/2009/QĐ-UBND, ngày 20 tháng 8 năm 2009 [19]
b) Đối với nhà ở: Diện tích xây dựng nhà tối thiểu là 36 m2 cho một hộ gia đình có dưới 4 nhân khẩu, nếu hộ gia đình có từ 5 nhân khẩu trở lên thì cứ mỗi nhân khẩu được cộng thêm 9 m2 xây dựng nhà cho mỗi nhân khẩu
2 Giá trị một suất tái định cư tối thiểu: Gồm [Giá trị của suất đất tái định cư
tối thiểu cộng (+) với giá trị của nhà tái định cư tối thiểu]
Trang 30Giá trị của suất đất tái định cư tối thiểu được tính bằng diện tích đất tại điểm a khoản 1 điều này nhân (x) với giá đất khu tái định cư trong Bảng giá đất do UBND tỉnh công bố hàng năm
Giá trị xây dựng của nhà tái định cư tối thiểu được tính bằng diện tích xây dựng tại điểm b khoản 1 Điều này nhân (x) giá bồi thường về tài sản là vật kiến trúc của loại nhà 1 tầng có kết cấu tường xây gạch chịu lực, mái đổ bê tông cốt thép tại chỗ, nền lát gạch hoa (kích thước 300 x 300) do UBND tỉnh quyết định
3 Hộ gia đình, cá nhân khi nhà nước thu hồi đất ở phải di chuyển chỗ ở mà tự
lo chỗ ở thì được hỗ trợ một khoản tiền là 20 triệu đồng để làm đường đi, đường điện, đường nước sinh hoạt (trừ trường hợp đã được nhận khoản tiền hỗ trợ chênh lệch do tiền bồi thường nhỏ hơn giá trị một suất tái định cư tối thiểu)
e Hỗ trợ ổn định đời sống và ổn định sản xuất
1 Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp khi nhà nước thu hồi đất nông nghiệp (kể cả đất vườn, ao và đất nông nghiệp quy định tại khoản 1, khoản
2, Điều 7 Quy định này) thì được hỗ trợ ổn định đời sống
2 Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất do nhận giao khoán đất sử dụng vào mục đích nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản (không bao gồm đất rừng đặc dụng, rừng phòng hộ) của các nông, lâm trường quốc doanh khi nhà nước thu hồi mà thuộc đối tượng là cán bộ, công nhân viên của nông, lâm trường quốc doanh đang làm việc hoặc đã nghỉ hưu, nghỉ mất sức lao động, thôi việc được hưởng trợ cấp đang trực tiếp sản xuất nông, lâm nghiệp; hộ gia đình, cá nhân nhận khoán đang trực tiếp sản xuất nông nghiệp và có nguồn sống chủ yếu từ sản xuất nông nghiệp thì được hỗ trợ bằng tiền Mức hỗ trợ cao nhất bằng giá đất bồi thường tính theo diện tích đất thực tế thu hồi, nhưng không vượt hạn mức giao đất nông nghiệp tại địa phương
3 Hộ gia đình, cá nhân được bồi thường bằng đất nông nghiệp thì được hỗ trợ
ổn định sản xuất, bao gồm: Hỗ trợ giống cây trồng, giống vật nuôi cho sản xuất nông nghiệp, các dịch vụ khuyến nông, khuyến lâm, dịch vụ bảo vệ thực vật, thó y,
kỹ thuật trồng trọt chăn nuôi và kỹ thuật nghiệp vụ đối với sản xuất, kinh doanh dịch vụ công thương nghiệp, mức hỗ trợ tối đa là 7.000.000 đồng/ha
Trang 31f Mức bồi thường, hỗ trợ đối với vật nuôi (nuôi trồng thuỷ sản)
Đối với những tổ chức, hộ gia đình, cá nhân khi bị nhà nước thu hồi đất thuộc loại đất nuôi trồng thủy sản và đang nuôi trồng thủy sản thì tổ chức, hộ gia đình, cá nhân có trách nhiệm thu hồi sản phẩm và được bồi thường, hỗ trợ theo định mức giá thành quy định tại Quyết định số 3276/QĐ-BNN-KHCN ngày 24/10/2008 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Mức bồi thường, hỗ trợ được tính theo Phụ lục số 8 ban hành kèm theo Quyết định này
1.3.4.4 Quy định về tái định cư
a Đối tượng được bố trí tái định cư
- Hộ gia đình, cá nhân phải di chuyển chỗ ở do bị thu hồi hết đất ở mà không
có chỗ ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất bị thu hồi (trừ trường hợp hộ gia đình, cá nhân không có nhu cầu tái định cư)
- Hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất mà phần diện tích đất ở còn lại sau thu hồi không đủ điều kiện để ở theo quy định của UBND cấp tỉnh mà không có chỗ ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất bị thu hồi
- Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất ở nằm trong hành lang an toàn khi xây dựng công trình công cộng có hành lang bảo vệ an toàn phải di chuyển chỗ ở mà không có chỗ ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất bị thu hồi
- Trường hợp hộ gia đình có nhiều thế hệ (nhiều cặp vợ chồng) cùng chung sống đủ điều kiện tách hộ hoặc có nhiều hộ gia đình có chung quyền sử dụng một (01) thửa đất ở bị thu hồi thì UBND cấp tỉnh căn cứ vào điều kiện thực tế tại địa phương đê quy định diện tích đất, diện tích nhà ở để cố trí tái định cư
b Nguyên tắc tái định cư
Đối với dự án có hộ gia đình phải di chuyển hẳn chổ ở thì phải có đất để bố trí tái định cư trước khi trình cấp có thẩm quyền phê duyệt phương án bồi thường (trừ trường hợp hộ gia đình bị thu hồi đất để xây dựng khu tái định cư, nhưng được bố trí lại tại khu tái định cư)
Trang 32Chương 2
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Công tác bồi thường GPMB tại hai Dự án: Đường Cầu mè – Công viên nước
Hà Phương; Dự án Bến xe khách phía nam thành phố Hà Giang
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Nghiên cứu được tiến hành tại các xã Phương Thiện,
Phương Độ, phường Nguyễn Trãi thành phố Hà Giang, tỉnh Hà Giang
- Về thời gian: Nghiên cứu được tiến hành giai đoạn trong khoảng thời
gian từ 2008 đến 2013
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian: Từ tháng 8 năm 2014 đến tháng 9 năm 2015
- Địa điểm nghiên cứu: Nghiên cứu được tiến hành xã Phương Thiện,
Phương Độ, phường Nguyễn Trãi, thành phố Hà Giang, tỉnh Hà Giang, hoàn thiện tại Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên
2.3 Nội dung nghiên cứu
2.3.1 Đánh giá về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và công tác quản lý đất
đai của thành phố Hà Giang
2.3.2 Giới thiệu khái quát 2 dự án nghiên cứu trên địa bàn thành phố Hà Giang
2.3.3 Đánh giá việc thực hiện các chính sách bồi thường GPMB ở 2 dự án nghiên cứu
2.3.4 Một số bất cập (hạn chế) rút ra từ thực tiễn của công tác bồi thường, GPMB của thành phố Hà Giang trong thời gian qua
2.4 Phương pháp nghiên cứu
Các nội dung của để tài được thực hiện trên cơ sở tổng hợp, phân tích, đánh giá từ các tài liệu và số liệu đã thu thập qua công tác điều tra sau đó tiến hành đối soát với các quy định trong hệ thống các văn bản pháp quy hiện hành của Nhà nước, của tỉnh Hà Giang và TP Hà Giang để đưa ra các kết luận Nguồn tài liệu cụ thể như sau:
Trang 332.4.1 Tài liệu thứ cấp
Là các số liệu từ các công trình nghiên cứu trước được lựa chọn sử dụng vào mục đích phân tích, minh họa rõ nét về nội dung nghiên cứu Nguồn gốc của các tài liệu này đã được chú thích rõ trong phần “Tài liệu tham khảo” và được thu thập từ các cơ quan điều tra, cụ thể như sau:
a, Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội
Thu thập số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của thành phố tại phòng TN &MT TP Hà Giang
b, Đánh giá tình hình quản lý và sử dụng đất đai trên địa bàn thành phố Hà Giang
Thu thập số liệu về tình hình sử dụng đất giai đoạn 2009-2013 trên địa bàn TP Hà Giang tại phòng TN&MT TP Các tài liệu, số liệu về tình hình quản lý và sử dụng đất của thành phố từ khi áp dụng Luật Đất đai 2003 và đến nay khi có Luật Đất đai 2013 được thu thập tại phòng TN&MT TP, trung tâm phát triển quỹ đất tỉnh Hà Giang
c, Đánh giá công tác thu hồi bồi thường của hai dự án : Dự án Cầu Mè – Công viên nước Hà Phương và dự án Bến xe khách phía Nam
Đề tài tiến hành thu thập tài liệu thứ cấp về tình hình thực hiện công tác thu hồi bồi thường giải phóng mặt bằng trên hai dự án cụ thể như sau:
- Các văn bản liên quan đến hai dự án và quy mô của dự án:
Là các văn bản về phương án, thuyết minh của hai dự án, các quy định về thu hồi, bối thường hỗ trợ tái định cư khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố
Hà Giang giai đoan 2008-2013
- Các văn bản liên quan đến công tác thu hồi, bồi thường:
Các tài liệu được thu thập tài Phòng tài nguyên và môi trường thành phố Hà Giang, Sở tài nguyên môi trường tỉnh Hà Giang đó là các tài liệu liên quan đến công tác thu hồi, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của hai dự án
2.4.2 Tài liệu sơ cấp
- Phương pháp phỏng vấn trực tiếp
Mục đích của điều tra: Nắm bắt một cách tương đối chi tiết về tình hình thực hiện quy hoạch của hai dự án
Trang 34* Đối với công tác thu hồi đất và giải phóng mặt bằng:
Tìm hiểu ý kiến của người dân bằng cách phát phiếu điều tra đến các hộ dân tại hai khu vực của dự án:
Về tiêu chuẩn chọn hộ: Các hộ được chọn có diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi nhiều, các hộ phải di chuyển chỗ ở
Về cơ cấu: có tỷ lệ hộ giàu, khá, cận nghèo, nghèo
- Phát 24 phiếu cho dự án Bến xe khách phía Nam (5 hộ bị mất đất ở và 19
hộ bị thu hồi đất nông nghiệp)
- Phát 100 phiếu cho các hộ dân thuộc dự án Cầu Mè – Công viên nước Hà Phương (38 hộ bị thu hồi đất ở và 62 hộ bị thu hồi đất nông nghiệp)
- Phương pháp chuyên gia
Phương pháp thu thập dựa trên cơ sở thu thập ý kiến của các chuyên gia trong từng lĩnh vực, các nhà lãnh đạo, các cán bộ quản lý, các cán bộ về kỹ thuật thông qua các tài liệu hoặc trao đổi trực tiếp với họ để ta có kết luận chính xác (không tiến hành lập phiếu điều tra): đó là các cán bộ của Sở TN&MT nơi quản lý trực tiếp tình hình thực hiện quy hoạch của hai dự án (10 cán bộ) cán bộ và lãnh đạo của văn phòng đăng ký QSD đất thuộc Sở TN&MT nơi trực tiếp làm công tác chuyên môn (10 cán bộ); cán bộ và lãnh đạo của phòng TN&MT thành phố; cán bộ địa chính…
Trang 35Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1 Đánh giá về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và công tác quản lý đất đai của thành phố Hà Giang
3.1.1 Đặc điểm về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội
3.1.1.1 Điều kiện tự nhiên
Trang 36Nằm ở khu vực trung tâm của tỉnh Hà Giang, cách cửa khẩu Thanh Thuỷ 23
km và cách thành phố Tuyên Quang khoảng 153 km Trên địa bàn thành phố có Quốc
lộ 2 là tuyến giao thông huyết mạch trong trục trung chuyển giữa vùng kinh tế Tây Nam của Trung Quốc và các tỉnh miền Bắc Việt Nam
b Điều kiện địa hình
Nằm trong vùng chuyển tiếp của các thành phố nói đá vùng cao và các thành phố nói đất vùng thấp, thành phố Hà Giang có địa hình tương đối phức tạp theo hướng nghiêng dần từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông
- Địa hình đồi nói thấp: Tập trung nhiều ở khu vực phía Tây xã Phương Độ, một phần ở xã Ngọc Đường và phường Quang Trung Địa hình này có độ cao thay đổi từ 100 - 700 m, địa hình đồi bát óp hoặc lượn sãng thuận lợi cho phát triển các loại cây công nghiệp dài ngày và cây ăn quả
- Địa hình thung lũng: Gồm các dải đất bằng thoải hoặc lượng sãng ven sông
Lô và sông Miện Các loại đất trên địa hình này được hình thành từ các sản phẩm bồi tụ (phù sa và dốc tụ) Do địa hình khá bằng phẳng có điều kiện giữ nước và tưới nước nên hầu hết đất đã được khai thác trồng lóa và hoa màu Địa hình này tập trung nhiều ở phía Bắc xã Phương Độ, Phương Thiện dọc theo Quốc lộ 2, khu vực giáp ranh phường Ngọc Hà và xã Ngọc Đường (UBND TP Hà Giang) [16]
c Khí hậu, thuỷ văn
Đặc điểm chính về khí hậu thời tiết của thành phố như sau (UBND TP Hà Giang) [16]:
- Nhiệt độ bình quân cả năm 22,70C, nền nhiệt độ được phân hoá theo mùa khá râ rệt, trong năm có 5 tháng nhiệt độ trung bình nhỏ hơn 200C (tháng 12 đến tháng 4 năm sau); tổng tích ôn đạt trên 8.2000C
- Lượng mưa bình quân hằng năm 2.430 mm nhưng phân bố không đồng đều Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11 hàng năm, lượng mưa chiếm khoảng 90% tổng lượng mưa cả năm, đặc biệt tập trung vào các tháng 7, 8, 9 nên thường gây óng ngập cục bộ ở các vùng thấp trũng
Trang 37- Lượng bốc hơi bình quân của thành phố bằng 63,8% lượng mưa trung bình hàng năm Đặc biệt trong mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau lượng bốc hơi hàng tháng cao hơn lượng mưa từ 2 - 4 lần, gây khô hạn cho cây trồng
m3/giây Tốc độ dòng chảy lớn nhất là 1,29m/giây, tốc độ dòng chảy nhỏ nhất mùa cạn kiệt là 0,17m/giây Sông Miễn bắt nguồn từ Bát Đại Sơn suống thành phố Hà Giang đổ vào sông Lô tại phường Trần Phó, chiều dài sông khoảng 58 km, đoạn qua thành phố Hà Giang dài khoảng 9 km
d Các nguồn tài nguyên
Theo báo cáo của UBND TP Hà Giang về công tác quy hoạch kế hoạch sử dụng đất của thành phố [16] thì Hà Giang có những nguồn tài nguyên sau:
Tài nguyên đất
Đất đai của thành phố Hà Giang được hình thành do hai nguồn gốc phát sinh gồm: Đất hình thành tại chỗ do phong hoá đá mẹ và đất hình thành do phù sa sông bồi tụ Do đã có thể chia đất của thành phố thành 4 nhóm đất chính, 8 đơn vị đất và
15 đơn vị đất phụ
Tài nguyên nước
- Nước mặt: Tài nguyên nước mặt của thành phố bao gồm các con sông chính như sông Lô, sông Miện và hệ thống các suối, hồ, ao khác
Trang 38- Nước ngầm: Hiện nay thành phố đang có một số giếng khoan nước ngầm ở độ sâu trên 100 m với lưu lượng từ 0,1 - 0,3 l/s Nhìn chung mực nước ngầm của thành phố khá sâu, lưu lượng ít, hạn chế đến việc khai thác dùng cho sinh hoạt của nhân dân
Tài nguyên rừng
Thành phố Hà Giang có diện tích đất rừng 9.546,07 ha, chiếm 83,47% diện tích tự nhiên và nếu tính cả diện tích đất đồi nói chưa sử dụng có khả năng sử dụng vào mục đích lâm nghiệp thì thành phố có khoảng 9.640,00 ha, chiếm 71,99% diện tích tự nhiên Diện tích rừng hiện có của thành phố là 9.546,07 ha, trong đã rừng sản xuất có 4.597,83 ha, chiếm 48,16% tổng diện tích đất lâm nghiệp, chủ yếu là rừng trồng nguyên liệu giấy; rừng phòng hộ có 3.196,71 ha, chiếm 33,49%; rừng đặc dụng có 1.751,53 ha, chiếm 18,35% Mặc dù đất lâm nghiệp có tỷ lệ khá trong
cơ cấu sử dụng đất, song phần lớn các loại rừng của thành phố đều là rừng trồng và rừng tái sinh nên chất lượng và trữ lượng không cao Việc khai thác và kinh doanh các sản phẩm từ rừng còn nhiều hạn chế; rừng của thành phố hiện nay có vai trò quan trọng trong việc giữ đất và bảo vệ môi trường sinh thái
Tài nguyên khoáng sản
Kết quả điều tra cho thấy trên địa bàn thành phố Hà Giang không có tài nguyên khoáng sản nào có trữ lượng lớn; đáng quan tâm nhất là một số loại khoáng sản như: Mangan, sét, đá vôi… Hiện nay cơ bản mới chỉ thực hiện khai thác đá vôi, cát sỏi xây dựng ở quy mô nhỏ phục vụ nhu cầu tại chỗ; trong tương lai có thể khai thác sét, mangan theo phương pháp công nghiệp
Tài nguyên nhân văn
Thành phố Hà Giang có một nền văn hoá lâu đời thuộc niên đại đồ đồng Đông Sơn, với trên 20 dân tộc anh em cùng sinh sống đã tạo nên sự đa dạng về phong tục, tập quán, văn hoá truyền thống và lễ hội Nhân dân các dân tộc trong thành phố có tinh thần đoàn kết yêu quê hương, có đức tính cần cù, chăm chỉ, nỗ lực vượt qua mọi khó khăn để vững bước đi lên Đã là những nhân tố cơ bản và sức mạnh tinh thần để hướng tới sự phát triển kinh tế xã hội, trong xu hướng hội nhập với cả nước, khu vực và quốc tế; là thuận lợi để Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc trong thành phố vững bước đi lên trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá xây dựng thành phố Hà Giang giàu, đẹp, văn minh
Trang 393.1.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
a Tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Tăng trưởng kinh tế
Thực hiện Nghị Quyết Đảng bộ lần thứ 15 về nhiệm vụ phát triển kinh tế -
xã hội trờn địa bàn thành phố Hà Giang, trong 5 năm qua đã gặp khụng ớt những khó khăn thử thách Song dưới sự chỉ đạo sát sao của cấp uỷ đảng, chính quyền địa phương, sự phấn đấu vươn lên của các cấp, các ngành, nhân dân các dân tộc trong thành phố, nền kinh tế của thành phố vẫn tiếp tục tăng trưởng, đời sống của nhân dân trong thành phố cơ bản được ổn định về nhiều mặt
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Bảng 3.1: Cơ cấu kinh tế của thành phố giai đoạn 2011 - 2014
(Nguồn: Báo cáo chính trị Đại hội Đảng bộ thành phố Hà Giang lần thứ XX
và Báo cáo tình hình thực hiện kinh tế - xã hội năm 2011, 2012, 2013, 2014, và niên
giám thống kê năm 2014)[2],[ 17],[ 18]
Cơ cấu ngành kinh tế có sự chuyển dịch theo hướng sản xuất hàng hoá tích cực theo hướng tăng dần tỷ trọng trong ngành thương mại – dịch vụ và giảm dần tỷ trọng của ngành nông - lâm nghiệp; GDP của ngành nông, lâm thuỷ sản chiếm 5,81% giảm 6,19% so với năm 2011(năm 2011 chiếm 12,00%); GDP của ngành công nghiệp - xây dựng tăng từ 18,57% năm 2011 lên 23,00% năm 2012 Giai đoan 2011 – 2014 cơ cấu ngành công nghiệp phát triển chậm từ 23,00% năm 2011 lên 24,12% năm 2014; GDP của ngành thương mại - dịch vụ tăng từ 65,00% năm 2011 tăng lên 70,44% năm 2014
Đánh giá khái quát phát triển kinh tế tác động đến việc sử dụng đất
Trong 5 năm qua, cơ cấu kinh tế của thành phố có bước chuyển biến mạnh với sự tăng trưởng nhanh chóng của khu vực kinh tế thương mại - dịch vụ, với tốc
Trang 40độ tăng trưởng nhanh Khu vực kinh tế công nghiệp – xây dựng cũng có bước tăng trưởng nhưng chậm hơn, cụ thể:Khu vực kinh tế nông - lâm nghiệp – thuỷ sản cũng
có bước tăng trưởng chậm hơn dẫn đến cơ cấu kinh tế có sự thay đổi đã là giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp, tăng tỷ trọng ngành thương mại - dịch vụ
Bảng 3.2: Một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội
1 Tốc độ phát triển kinh tế % 17,22 17,86 18,08 18,52
2 Giá trị tổng sản phẩm Tỷ đồng 807,00 828,75 1.380 1.960
3.2 Công nghiệp – xây dựng % 29,32 24,01 23,97 24,12
3,73 (theo tiêu chí mới)
(Nguồn: Báo cáo chính trị Đại hội Đảng bộ thành phố Hà Giang lần thứ XX và Báo cáo tình hình thực hiện kinh tế - xã hội năm 2011, 2012, 2013, 2014, và niên giám thống kê
năm 2014)[2],[ 17],[ 18]
b Thực trạng phát triển các ngành kinh tế [16]
Khu vực kinh tế nông, lâm, ngư nghiệp
Khu vực kinh tế nông lâm ngư nghiệp vẫn giữ vai trò quan trọng trong Tập trung phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng nông nghiệp đô thị, đã đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi để phục vụ đô thị, đầu tư sản xuất
đã gắn liền với chế biến tiờu thụ sản phẩm