1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sự phản hồi của người đọc qua thơ trương đăng dungsự phản hồi của người đọc qua thơ trương đăng dung

137 322 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 137
Dung lượng 1,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

trực của mình sẽ phải có những đóng góp để góp phần thể hiện bản lĩnh, bản sắc dân tộc mình trong biến động ngày một phức tạp… Ta nhận thấy, các tác phẩm văn học nghệ thuật trong đó có

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS TÔN THẢO MIÊN

HÀ NỘI, 2015

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Với tất cả tình cảm của mình, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Tôn Thảo Miên, người thầy đã tận tâm hướng dẫn, chỉ bảo tôi trong suốt quá trình làm luận văn

Xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến PGS.TS Trương Đăng Dung, người đã trang bị cho tôi hệ thống những tri thức lý luận văn học và cho tôi những ý kiến đóng góp quý giá, cung cấp những tư liệu bổ ích trong quá trình tôi thực hiện đề tài

Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy giáo, cô giáo đã nhiệt tình giảng dạy và đặc biệt là các thầy cô trong Khoa Ngữ Văn, phòng sau Đại học trường Đại học Sư phạm

Hà Nội 2, các quý thầy cô của Viện văn học, các học viên lớp Cao học Lí luận văn học K17,gia đình và bạn bè, đồng nghiệp đã tạo điều kiện thuận lợi, động viên, khích lệ, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Xin cảm ơn các thầy cô giáo và các em học sinh lớp 10C9, 10C7, 10C5 trường THPT Mạc Đĩnh Chi, Hải Phòng đã giúp đỡ tôi thực hiện các thực nghiệm

Mặc dù rất cố gắng song bản luận văn không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế Tác giả rất mong nhận được sự chỉ dẫn, đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo, các nhà khoa học, các bạn đồng nghiệp và những người quan tâm đến vấn đề nêu trong luận văn này để luận văn được hoàn thiện và có giá trị thực tiễn hơn

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 28 tháng 6 năm 2015

Tác giả

Trần Minh Thư

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các dẫn chứng và kết quả nêu trong luận văn là chính xác, trung thực Luận văn này chưa công bố trong bất kỳ một công trình khoa học nào

Hà Nội, ngày 28 tháng 6 năm 2015

Tác giả luận văn

Trần Minh Thư

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 3

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

5 Giả thuyết khoa học 5

6 Phương pháp nghiên cứu 6

NỘI DUNG 7

Chương 1 VAI TRÒ CỦA LÝ THUYẾT TIẾP NHẬN ĐỐI VỚI VIỆC NGHIÊN CỨU VĂN HỌC VÀ THƠ VIỆT NAM THỜI KÌ ĐỔI MỚI 7

1.1 Từ mỹ học sáng tạo đến mỹ học tiếp nhận 8

1.2 Từ tác giả đến văn bản văn học 10

1.3 Từ văn bản đến tác phẩm văn học 13

1.4 Vấn đề người đọc trong lí thuyết tiếp nhận 16

1.4.1 Lý thuyết tiếp nhận 17

1.4.2 Người đọc trong quá trình sáng tác và tiếp nhận văn học 19

1.5 Thơ Việt Nam thời kì đổi mới – cái nhìn toàn cảnh 28

1.5.1 Đổi mới quan niệm thơ 29

1.5.2 Đổi mới về thi pháp nghệ thuật 29

1.5.2.1 Sự biến đổi về thể loại 29

1.5.2.2 Những động hình ngôn ngữ mới trong thơ 31

1.5.3 Sự thay đổi về thị hiếu thẩm mĩ công chúng thời đổi mới 31

Chương 2 DIỄN TRÌNH TIẾP NHẬN THƠ TRƯƠNG ĐĂNG DUNG 35

2.1 Sự xuất hiện thơ Trương Đăng Dung 35

2.2 Sự phản hồi của công chúng – người đọc lý tưởng 39

Trang 5

2.2.1 Người đọc trước cảm thức về thời gian trong thơ Trương Đăng Dung 43

2.2.2 Người đọc trước cảm thức về phận người trong thơ Trương Đăng Dung 53

2.2.3 Người đọc trước cảm thức về sự cô đơn trong thơ trương Đăng Dung 60

2.2.4 Người đọc trước cảm thức về cái chết trong thơ Trương Đăng Dung 68

2.2.5 Người đọc trước cảm thức về tình yêu trong thơ Trương Đăng Dung 77

2.3 Sự phản hồi của công chúng – người đọc phổ thông 87

Chương 3 VẤN ĐỀ CHỦ THỂ TIẾP NHẬN TRONG VIỆC TIẾP NHẬN THƠ TRƯƠNG ĐĂNG DUNG 91

3.1 Vai trò của chuẩn thẩm mỹ cộng đồng 93

3.2 Từ đặc điểm sáng tạo nghệ thuật đến tiếp nhận văn học 95

3.2.1 Nhan đề “Những kỷ niệm tưởng tượng” 96

3.2.2 Ngôn ngữ thơ Trương Đăng Dung 99

3.2.1.1 Hệ thống biểu tượng 100

3.2.2.2 Ngôn ngữ đời thường 105

3.2.2.3 Ngôn ngữ giàu chất tượng trưng siêu thực 106

3.2.3 Ngôn ngữ thân thể 108

3.2.3 Giọng điệu thơ Trương Đăng Dung 111

3.2.3.1 Giọng giễu nhại 111

3.2.3.2 Giọng điệu triết lý 112

3.2.4 Các thủ pháp nghệ thuật 115

3.2.4.1 Thủ pháp áp đặt 115

3.2.4.2 Thủ pháp phi lý 116

3.2.4.3 Thủ pháp thành phần phụ 119

3.2.4.4 Thủ pháp kết hợp Đông-Tây 120

3.2.5 Những ý nghĩa “thỏa thuận’’ giữa người đọc với Những kỷ niệm tưởng tượng 120

KẾT LUẬN 124

TÀI LIỆU THAM KHẢO 127 PHỤ LỤC

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Nghiên cứu văn học là để hiểu văn học, đối tượng cụ thể là tác phẩm văn học Cơ sở và xuất phát điểm của khoa học văn học là sự đối thoại với các văn bản văn học thông qua hoạt động đọc và hiểu chúng Lí luận văn học hiện đại ý thức rất

rõ về sự phức tạp mang tính chất triết học của vấn đề này Không có tác phẩm văn học nào tồn tại khép kín với một vẻ mặt duy nhất dành cho tất cả mọi người đến với

nó Tác phẩm văn học cũng “không phải là tượng đài kỉ niệm thể hiện tính chất phi thời gian trong hình thức độc thoại của nó”(H.R.Jauss)

Lý thuyết tiếp nhận, mĩ học tiếp nhận về các vấn đề triết học ngôn ngữ… thực

sự được hệ thống khi những công trình nghiên cứu uy tín của Trương Đăng Dung xuất hiện Ông đã có những công trình nghiên cứu về tác phẩm văn học, lý thuyết

tiếp nhận như: Từ văn bản đến tác phẩm văn học, Tác phẩm văn học như là quá trình, Phương thức tồn tại của tác phẩm văn học…cùng với những công trình dịch

thuật đầy tâm huyết, những bài viết, những chuyên luận của ông đã xác lập một

cách hệ thống lí thuyết tiếp nhận ở Việt Nam Công chúng tiếp nhận văn học là

thành tố quan trọng trong hệ thống văn học Lý thuyết tiếp nhận đã chỉ ra người đọc

là chủ thể tiếp nhận, có vai trò chủ đạo trong quá trình biến văn bản văn học thành tác phẩm văn học Lý thuyết tiếp nhận, mỹ học tiếp nhận đã đặt người đọc - công chúng văn học vào vị trí là một thành tố trung tâm trong hệ thống văn học Tiếp nhận văn học trong cái nhìn tích cực chính là sự tiếp nhận sáng tạo, để từ đó có được những sản phẩm nghệ thuật mới Công chúng văn học đã từng bước đặt chân vào vị thế của một thành tố quan trọng bên cạnh các thành tố khác đã được xác lập của hệ thống văn học Tác phẩm văn học là một quá trình của sự tương tác không ngừng nghỉ của chủ - khách thể với khách - chủ thể Hay nói cách khác đó chính là

tính chất mở của văn bản văn học, ở đó có “sự tương tác giữa mã của người gửi và

mã của người nhận trong tiếp nhận văn học” (Lê Thị Hồng Vân) Còn theo Paul Sartre “Tác phẩm như là một con quay kì lạ, chỉ có thể xuất hiện và vận động

Trang 7

Jean-Muốn làm cho nó xuất hiện cần phải có một hoạt động cụ thể gọi là sự đọc Và tác phẩm văn học chỉ kéo dài chừng nào sự đọc còn có thể tiếp tục Ngoài sự đọc ra,

nó chỉ là những vệt đen trên giấy trắng”

Như vậy, ta thấy thông qua sự cụ thể hóa (đọc) mà những chỗ trống trong tác phẩm được bù lấp, bộ xương được đắp thêm da thịt Ngôn ngữ như đám sương mù lảng bảng, luôn nhờ tâm hồn người sử dụng nó mà tỏa sáng và sưởi ấm Người đọc đến với cái mê cung của mọi sự liên kết, tạo nghĩa không ngừng Chính vì vậy mà văn bản tưởng như đã hoàn toàn khép kín vẫn luôn tạo ra khả năng có thể lí giải bằng nhiều cách khác nhau mà tính độc đáo, không lặp lại của nó vẫn không thay đổi Lịch sử tác phẩm văn học sở dĩ có được, một mặt do giá trị của chính tác phẩm, mặt khác là do sự tiếp nhận sáng tạo và năng động của công chúng

1.2 Trương Đăng Dung là một cây bút đa năng – có lẽ phải nói như vậy mới đủ

để đánh giá tài năng đa dạng của ông Ông không chỉ được biết đến là một trong những nhà khoa học uy tín của Việt Nam với nhiều công trình nghiên cứu khoa học

có giá trị như: Các vấn đề của khoa học văn học (chủ biên, 1990), Từ văn bản đến tác phẩm văn học (1998), Tác phẩm văn học như là quá trình (2004) Người đọc còn biết đến một dịch giả uy tín Trương Đăng Dung với những dịch phẩm như: Lâu đài (F.Kafka-1998), Đứa trẻ mồ côi (Móricz Zsigmond - 2009), Trên đường đến với ngôn ngữ (M Heidegger), Nghệ thuật và chân lí khách quan (G Lukács)… Đặc biệt là công trình chuyển ngữ Truyện Kiều sang tiếng Hungary được ông hoàn thành khi chưa tròn 30 tuổi… Năm 2011 khi tập thơ Những kỉ niệm tưởng tượng trình làng“bạn đọc từ đây sẽ quen với một Trương - Đăng - Dung - thơ, những chiều kích khác nhau của một con người” (Đỗ Lai Thúy) Những kỉ niệm tưởng tượng ngay từ khi ra đời đã gây tiếng vang lớn, được hiệu ứng xã hội cao, nhận

được sự phản hồi tích cực của giới nghiên cứu, phê bình và của công chúng yêu thơ trong và ngoài nước Sự xuất hiện của tập thơ đã phần nào làm cho đời sống thi ca Việt Nam sôi động lên; tập thơ và tác giả của nó đã xứng đáng nhận Giải thưởng của Hội Nhà văn Hà Nội năm 2011

Trang 8

Đã ba năm, kể từ khi tập thơ đó được xuất bản, đã có rất nhiều kiến giải thật sự

"thỏa lòng" để người đọc tâm phục khẩu phục những thành tựu và đóng góp của

Trương Đăng Dung trong địa hạt thi ca Đặc biệt là cuốn Những kỉ niệm tưởng tượng tác phẩm và dư luận ra đời năm 2014, tập hợp gần bốn mươi bài tiểu luận,

bài nghiên cứu, phê bình của các tác giả trong và ngoài nước về tập thơ được đăng tải trên các tạp chí trung ương và địa phương không chỉ khẳng định sức hấp dẫn của tập thơ đối với công chúng yêu thơ mà còn có ý nghĩa thời sự trong đời sống văn học Nếu bạn đọc hiện nay thường có thói quen đánh giá "cái tầm" của một người làm phê bình, lý luận chủ yếu trên các hoạt động bề nổi, những tiêu chuẩn nhãn tiền thì cá nhân tôi thiết nghĩ, điều cần chú tâm nhất là điểm gặp nhau trong kiến giải

của người làm phê bình với phản hồi thưởng thức của độc giả Với cuốn Những kỉ niệm tưởng tượng tác phẩm và dư luận chúng ta nhận thấy người làm phê bình

chân chính không cần những chiêu thức "làm màu", đồng thời độc giả phải kiên nhẫn hơn trong việc đọc tác phẩm, đọc bài viết phê bình để có sự soi chiếu, hướng tới có cái nhìn thỏa đáng hơn về người làm phê bình, lý luận Trương Đăng Dung

Đó là lý do tôi chọn “Sự phản hồi của người đọc qua thơ Trương Đăng Dung” làm

đề tài luận văn

2 Mục đích nghiên cứu

Chọn đề tài Sự phản hồi của người đọc qua thơ Trương Đăng Dung, người

viết không chỉ tìm hiểu phẩm chất nổi trội của nhà thơ, tìm hiểu sự cách tân của nhà thơ trong quá trình sáng tạo nghệ thuật, người viết còn muốn có cái nhìn toàn diện, thấu đáo, biện chứng về một nhà thơ - nhà khoa học Trương Đăng Dung, để từ đó khẳng định giá trị nghệ thuật của cây bút giàu khát vọng sáng tạo

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Trong cuộc sống đa diện nhiều chiều hôm nay, khi mà các giá trị sống, chuẩn

mực sống đang không ngừng có xu hướng mở rộng, trong đó có tương tác toàn cầu một cách toàn diện, thì thơ ca, một nét tiêu biểu của mỗi nền văn hóa sẽ phải đảm đương những chức phận ngày một lớn Tư cách nhà thơ, với sự nhập cuộc thường

Trang 9

trực của mình sẽ phải có những đóng góp để góp phần thể hiện bản lĩnh, bản sắc dân tộc mình trong biến động ngày một phức tạp…

Ta nhận thấy, các tác phẩm văn học nghệ thuật trong đó có thơ, khi đạt những tầm vóc khác nhau về giá trị nội dung, nghệ thuật, dù khiêm tốn hay có đóng góp nhất định với đời sống xã hội thì cũng dường như với người đọc ngoài việc thưởng thức những giá trị nội dung nghệ thuật mà tác phẩm mang lại, mấy ai hiểu biết sâu sắc và thấu đáo về hoàn cảnh ra đời, đời sống của người sáng tạo ra nó, hoặc những đoạn trường uẩn khúc, những thăng hoa nhất thời trong quá trình tác phẩm ấy được sinh ra Chính những điều dường như thường bị thờ ơ đó lại là những yếu tố thể hiện thái độ, sự nhập cuộc quyết liệt của nhà thơ với thời cuộc

Đời sống nhà văn nhà thơ, số phận mỗi tác phẩm, những thuận nghịch, tác động, những tâm tư, sự ràng buộc nhiều mặt trong xã hội nhiều biến động, hay tâm thế thời đại, sức mạnh dân tộc, sức mạnh nhân dân, cá tính sáng tạo, sự hy sinh, và ngay cả những uẩn khúc của các nhà thơ, các tác phẩm thơ là một vấn đề rất đáng được quan tâm, tìm hiểu, chia sẻ cũng luôn gắn chặt, bắt nguồn từ sự nhập cuộc của mỗi cá nhân Những trăn trở sáng tạo, những quan điểm thuận nghịch, những tâm

tư của nhà thơ là những gì rất cần được cảm thông, chia sẻ Và điều đó sẽ được thể hiện rõ nét qua sự phản hồi của người đọc qua tác phẩm Đó chính là tình cảm và

sự đồng điệu sáng tạo lên trên những tác phẩm của nhà văn với mục đích góp phần

để cho độc giả có cái nhìn mới hơn, đầy đủ hơn, gần gũi hơn về sự nhập cuộc của nhà thơ

Từ sau năm 1975, thơ ca nói chung và thơ Trương Đăng Dung nói riêng đã vận động ra sao khi công cuộc đổi mới mọi mặt của đời sống xã hội ngày càng sâu,

rộng Với đề tài sự phản hồi của người đọc qua thơ Trương Đăng Dung người viết

muốn nghiên cứu nhằm tổng kết những quan điểm tiếp nhận của giới nghiên cứu, phê bình về những tác phẩm đã khẳng định tài năng và tên tuổi của Trương Đăng Dung trong nền thơ ca Việt Nam hiện đại Qua đấy thấy chân dung của một nhà khoa học làm thơ – con người nghệ sĩ Trương Đăng Dung Nhìn lại các công trình

Trang 10

nghiên cứu của các nhà nghiên cứu phê bình tôi nhận thấy, các nhà nghiên cứu phê bình đã có những phát hiện đáng quý về thơ Trương Đăng Dung nhưng chưa có ai

tập trung bàn về sự phản hồi của người đọc qua tập thơ Những kỉ niệm tượng tượng

của ông Do đó việc hệ thống hóa những phản hồi của người đọc qua cuốn sách

Những kỉ niệm tượng tượng tác phẩm và dư luận là vấn đề mới mẻ, cần được khảo

sát, nghiên cứu để thấy được vai trò của công chúng trong việc tiếp nhận tác phẩm văn chương và tài năng thơ của Trương Đăng Dung

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là sự phản hồi của người đọc qua thơ

Trương Đăng Dung (tập Những kỉ niệm tưởng tượng tác phẩm và dư luận) và sự phản hồi của người đọc là học sinh phổ thông khi đọc tập thơ Những kỷ niệm tưởng tượng

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Thực hiện đề tài này, luận văn tập trung nghiên cứu sự phản hồi của người đọc

qua cuốn Những kỉ niệm tưởng tượng tác phẩm và dư luận (2014) Ngoài ra luận

văn còn tìm hiểu sự phản hồi của những người đọc không chuyên khác; cũng như một số tác phẩm của một số tác giả khác như một sự so sánh cần thiết để làm nổi bật vấn đề trọng tâm của luận văn

5 Giả thuyết khoa học

Luận văn sẽ hướng đến những đóng góp có ý nghĩa sau:

- Luận văn nghiên cứu có hệ thống các ý kiến và khuynh hướng tiếp cận thơ Trương Đăng Dung trên phương diện nội dung và nghệ thuật thể hiện

- Thấy được quan điểm nghệ thuật của Trương Đăng Dung trong hành trình khám phá thế giới nghệ thuật

- Có cái nhìn mang tính hệ thống về một hồn thơ thông tuệ, triết lí, nhiều suy tư, trăn trở, khắc khoải, hoài niệm về thời gian, phận người và thế giới nhân sinh

Trang 11

6 Phương pháp nghiên cứu

Để luận văn có thể triển khai một cách khoa học, người viết sử dụng những phương pháp nghiên cứu sau:

Trang 12

NỘI DUNG Chương 1 VAI TRÒ CỦA LÝ THUYẾT TIẾP NHẬN ĐỐI VỚI VIỆC

NGHIÊN CỨU VĂN HỌC VÀ THƠ VIỆT NAM THỜI KÌ ĐỔI MỚI

Tất cả mọi tác phẩm, dù được sáng tạo theo thi pháp tất yếu nào cũng mở theo các kiểu đọc, mỗi kiểu đọc mang tới cho tác phẩm một đời sống mới từ một triển vọng nào đó theo thị hiếu cá nhân của người đọc” Umberto’ Eco [22,23]

Thế kỉ XX là cột mốc quan trọng đánh dấu sự vận động, phát triển có tính bước ngoặt của lý luận văn học Mối quan hệ nhà văn, tác phẩm, người đọc là một vấn đề

lí thuyết mà mọi nền lí luận phê bình văn học đều quan tâm và được coi là mối quan hệ biện chứng của quá trình sáng tạo văn học Tuy nhiên nhận thức về mối quan hệ này luôn biến đổi theo sự vận động và phát triển của tư duy lí luận văn học

từ truyền thống đến hiện đại Nếu tư duy lí luận văn học tiền hiện đại chú ý đến vai trò của khâu sáng tác hoặc xem xét sáng tác tách rời với các quy luật tiếp nhận, hầu như không chú ý đến khâu tiếp nhận văn học, đồng thời đề cao vai trò của nhà văn, xem sáng tạo văn học là độc quyền của người nghệ sĩ, khi nhà văn viết xong tác phẩm coi như đã hoàn thành quá trình sáng tạo nên không quan tâm đến sự tiếp nhận của người đọc Tư duy lí luận văn học hiện đại và hậu hiện đại đã thấy được

sự khác biệt giữa văn bản và tác phẩm văn học, thấy được vai trò của người đọc trong quá trình hình thành các giá trị văn học Rất coi trọng vai trò người đọc, tư duy lí luận văn học hiện đại và hậu hiện đại xem người đọc là người đồng sáng tạo với nhà văn Chính nhờ sự tiếp nhận của người đọc, văn bản văn học mới trở thành tác phẩm Không có sự tiếp nhận của người đọc, những gì nhà văn viết ra không tồn tại như là một bức thư mà chỉ như một dấu tích, một bản thảo Tác phẩm chỉ có

được đời sống khi được tiếp nhận Như Mác nói: “Chỉ có sử dụng mới hoàn tất hành động sản xuất, mang lại cho sản phẩm một sự trọn vẹn với tư cách là sản phẩm” Vì vậy có thể xem tiếp nhận là một giai đoạn tồn tại của hình tượng nghệ

Trang 13

thuật, là một khâu không thể thiếu của sáng tạo nghệ thuật như “là một hoạt động sản xuất tinh thần”

1.1 Từ mỹ học sáng tạo đến mỹ học tiếp nhận

Giữa thế kỉ XX, với việc nhận ra sự khác biệt giữa văn bản văn học và tác phẩm văn học, lí luận văn học hiện đại đã vượt lên tư duy lí luận văn học tiền hiện đại Nếu như trước đó trong một thời gian dài tư duy lí luận văn học tiền hiện đại chỉ nhấn mạnh đến mối quan hệ nhân quả, đề cao yếu tố môi trường, tác giả … thì

lí luận văn học hiện đại đã nhận ra những yếu tố đặc thù của văn bản văn học và phương thức tồn tại của tác phẩm thông qua người đọc Từ chỗ lấy mỹ học sáng tạo làm cơ sở, tư duy lí luận văn học hậu hiện đại đã đưa vấn đề đọc lên tầm triết học Những thành tựu của lí luận văn học hiện đại đã có những bước tiến quan trọng trong việc khám phá văn bản văn học như là cấu trúc ngôn từ động Nhưng rồi tư duy lí luận văn học hậu hiện đại đã có những khám phá mới hơn về đặc trưng bản thể của văn bản văn học trong quan hệ với các yếu tố khác, với người tiếp nhận Các lí thuyết hậu hiện đại cho rằng nghĩa của văn bản văn học không ổn định, nó mang tính quan hệ và được tạo nên do một quá trình Tiếp theo khái niệm nghĩa đang tồn tại của lí luận văn học hiện đại là khái niệm nghĩa được thiết lập của lí luận văn học hậu hiện đại Câu hỏi phương thức tồn tại của tác phẩm văn học là gì?

Đã nêu lên hai vấn đề phải đề cập đến Một là tính chất ngôn ngữ, cái quyết định đặc trưng văn học của văn bản; hai là khả năng tạo lập một đời sống cụ thể của văn bản văn học Cả hai đều liên quan đến quá trình xâm nhập đời sống của văn bản văn học, nói chính xác hơn nó là quá trình tự tạo ra đời sống của văn bản văn học

“Như vậy là sau khi lí luận văn học hiện đại xác định được vai trò trung tâm tạo nghĩa của văn bản văn học độc lập với tác giả và môi trường ra đời của nó, lí luận văn học hậu hiện đại đã khám phá ra quá trình tạo lập đời sống của văn bản văn học trong quan hệ với sự tiếp nhận của người đọc Đây là cơ sở để lí luận văn học hậu hiện đại thể hiện tham vọng lấy mỹ học tiếp nhận thay cho mỹ học sáng tạo” [17,55]

Trang 14

Có thể nói, chỗ dựa lớn nhất của tư duy lí luận văn học hiện đại và hậu hiện đại

là những tư tưởng triết học Trong lí luận văn học hiện đại, Roman Ingarden một triết gia theo trường phái hiện tượng học trong cuốn sách “Tác phẩm văn học” của mình đã đưa triết học vào lí luận văn học Theo cách phân tích đối tượng của hiện tượng học, Roman Ingarden đã nhìn nhận tác phẩm văn học như là khách thể mang tính chủ ý, vì thế đời sống của tác phẩm văn học cũng phụ thuộc vào những hoạt động cụ thể hóa (đọc) văn bản có chủ ý của người đọc hướng tới nó

Sự xuất hiện của mỹ học tiếp nhận làm cho văn bản văn học mang thông điệp đối thoại có được vị thế mới đó là làm đối tác đối thoại - tức là không phải sự giải

mã thông điệp có trong văn bản làm xuất hiện nghĩa mà chính các hoạt động liên kết được thực hiện trong quá trình đọc tạo nên cấu trúc nghĩa có phương thức tồn tại Đây là đóng góp có ý nghĩa lí luận của mỹ học tiếp nhận nói riêng và lí luận văn học hậu hiện đại nói chung Mỹ học tiếp nhận đã bác bỏ tính chất khép kín của văn bản văn học mà mỹ học sáng tạo trước đây vẫn bảo vệ, thay vào đó là tính chất

mở và dấu ấn cá nhân Mĩ học tiếp nhận nêu lên những giá trị dễ thay đổi, trực tiếp gắn liền với cá nhân người đọc thông qua quá trình cụ thể hóa văn bản Tính chất của sự cụ thể hóa phụ thuộc vào người đọc (người đọc tiềm ẩn trong văn bản) Người tiếp nhận đối thoại và tái tạo tác phẩm và tác phẩm tái tạo người đọc Nhà văn khi viết đã có ý tạo ra khoảng trống từ những chi tiết, hình ảnh được miêu tả…người đọc sẽ thỏa sức dùng vốn tri thức, sự liên tưởng, tưởng tượng của cá nhân mình một lớp ý nghĩa riêng, điều đó nhà văn không kiểm soát được Hay nói cách khác nhà văn tạo cho văn bản văn học có tính chất mơ hồ để người đọc phải là người đồng sáng tạo, bằng cách cụ thể hóa văn bản để lấp đầy sự mơ hồ không chính xác đó Điều đó đã làm nên sức hút, sự mời gọi đầy quyến rũ của một tác phẩm văn học

H.R.Jauss, trong công trình“Lịch sử văn học như là sự khiêu khích đối với khoa văn học” (1967) cho rằng tác phẩm văn học như là một quá trình chứ không

phải sản phẩm cố định Nghĩa là dòng sông ngữ nghĩa không ngừng trôi, nghĩa của

Trang 15

tác phẩm không phụ thuộc vào chủ ý của tác giả, ý nghĩa của tác phẩm văn học có được trong tinh thần tiếp nhận của người đọc, vì thế nó vẫn là quá trình Đồng thời

Jauss cũng nhấn mạnh khái niệm “tầm đón đợi”, rằng mỗi người đọc sẽ có một

“tầm đón đợi” khác nhau trước tác phẩm Công trình này của ông được coi như là

tuyên ngôn của trường phái mỹ học tiếp nhận Đức

Như vậy “từ đây, lịch sử văn học không chỉ đơn giản là con số cộng các tác giả và tác phẩm mà còn được hiểu các tác phẩm và người tiếp nhận trong những biến chuyển của lịch sử của nó Và lí thuyết cộng đồng diễn giải xuất hiện trên cơ

sở mĩ học tiếp nhận đã kêu gọi người đọc suy nghĩ về văn học như nghĩ về cái thiết chế tập hợp các loại diễn giải khác nhau” [22,58]

1.2 Từ tác giả đến văn bản văn học

Sáng tác văn học nghệ thuật thuộc lĩnh vực sản xuất tinh thần theo phương thức cá thể, không thể có một quy trình công nghệ như sản xuất công nghiệp mà được diễn ra muôn màu muôn vẻ Tố Hữu nói “Mỗi người có cách làm của mình, cách sáng tạo của mình, không bắt chước của ai được” [61,209] Quả vậy, nói đến

thói quen trong sáng tác không ai giống ai…tuy nhiên trong sự đa dạng này ta có thể rút ra trạng thái tâm lí, cùng những khâu chung nhất trong quá trình sáng tác của nhà văn hay nói cách khác là mối quan hệ giữa tác giả với văn bản

Theo quan niệm của tư duy lí luận truyền thống (thuật ngữ truyền thống được hiểu là những quan niệm văn học trở nên quen thuộc, ăn sâu vào ý thức văn học, từng chi phối văn học qua nhiều thế hệ - tính từ thời cổ đại đến hết thế kỉ XIX), tác phẩm văn học là nơi để chuyển tải tư tưởng, kí thác tâm sự của tác giả, sự ý thức về mối quan hệ tác giả và tác phẩm dù chưa hiện diện như một hệ thống lí thuyết, nhưng cũng đủ để trở thành một truyền thống kiên cố và đầy tự giác trong tư duy văn học phương Đông, không chỉ ở thời trung đại mà thậm chí còn tồn tại dai dẳng cho đến tận ngày nay Khi đó, tác giả đóng vai trò quan trọng trong quá trình hình thành tác phẩm văn học

Trang 16

Nếu giai đoạn trước tác giả được xem như người thư kí trung thành của thời đại, là một thợ thủ công, thì càng về sau nó được quan niệm như chủ thể sáng tạo quan trọng của tác phẩm Vào đầu thế kỉ XIX, khi khoa học văn học thực sự hình thành ở phương Tây thì tác giả được chính thức “phát hiện” Người ta cho rằng tác phẩm chính là sản phẩm của tác giả Từ đây, câu hỏi tác giả là ai và quan hệ với tác phẩm như thế nào, đã được nhà phê bình văn học Pháp nổi tiếng trả lời bằng việc khởi xướng phương pháp phê bình tiểu sử, lấy việc nghiên cứu con người tác giả để tìm hiểu tác phẩm Đây cũng là phương pháp đầu tiên xuất hiện trong nghiên cứu văn học, khi khoa học văn học chính thức ra đời Mối quan hệ “cha” – “con” trong quan niệm này đã chi phối đến công việc nghiên cứu văn học trong một thời gian dài Quan niệm này đã dẫn đến những hệ quả tất yếu là tác phẩm văn học gần như

đã “yên phận” vì nó là sản phẩm tinh thần do nhà văn sáng tạo, đương nhiên, sự tồn tại và ý nghĩa của nó phải phụ thuộc vào nhà văn, do nhà văn quyết định Ý nghĩa của tác phẩm không nằm ngoài ý đồ mà nhà văn đã định sẵn từ trước, và “nghĩa của tác phẩm không thay đổi vì luôn luôn có một hoạt động ý thức cá thể nhất định chi phối nó trong một thời gian cụ thể nhất định nào đó” [13,172] Tư tưởng tác phẩm

vì thế cũng chính là tư tưởng của tác giả Với quan niệm này, tác phẩm đã và chỉ được nhìn trong mối quan hệ chi phối, ràng buộc bởi chính hành vi sáng tạo ra nó; tác phẩm là con đẻ của nhà văn, là “vật phụ thuộc”của tác giả, nó bị đồng nhất với quá trình sáng tạo, với ý đồ tư tưởng, với sự chủ ý của nhà văn Việc phân tích, đánh giá tác phẩm, vì vậy cần phải căn cứ vào tác giả, phải đi tìm và lĩnh hội cho được tư tưởng, tình cảm của nhà văn gửi gắm trong tác phẩm

Như một lẽ dĩ nhiên, trước vai trò tuyệt đối của tác giả, người đọc không có vai trò gì lớn đối với tác phẩm, bởi trước người đọc, mọi việc xem như đã “an bài”,

“xong xuôi” Nói khác đi, người đọc dường như không có mối liên hệ tất yếu nào với tác phẩm Như vậy, lí luận văn học và mỹ học truyền thống, lí luận văn học mác xít đã tiếp cận tác phẩm văn học trước hết bằng con đường tìm hiểu tác giả,

Trang 17

nhìn tác phẩm như một sản phẩm đã được hoàn tất, hầu như tách rời quy luật tiếp nhận, không xuất phát từ phía bạn đọc, từ chủ thể tiếp nhận

Đặt tác phẩm trong mối quan hệ với tác giả, lí luận tiền hiện đại đã xác lập quyền uy tuyệt đối của tác giả đối với tác phẩm, trao cho nhà văn quyền quyết định

ý nghĩa, tạo giá trị và đem lại đời sồng cho tác phẩm của mình Tác phẩm lúc này giống như một “phiên bản”, một “tồn tại khác” của tác giả Việc quá đề cao, thậm chí tuyệt đối hóa vai trò của tác giả đã dẫn đến việc không tôn trọng đúng mức tính độc lập tương đối của tác phẩm

Tóm lại, tác phẩm văn học trong quan niệm truyền thống như là một vật phụ thuộc trong quan hệ với hiện thực, với tác giả Tác phẩm bị cào bằng, thậm chí bị chìm đi trong những mối liên kết phi văn bản như hiện thực lịch sử, tiểu sử cá nhân, giai thoại văn học…Tìm hiểu tác phẩm vì thế mà căn cứ vào yếu tố ngoại văn như hiện thực, thời đại, tác giả - các yếu tố tham gia vào quá trình đánh giá giá trị của tác phẩm văn học Tác phẩm như vậy đã được lý giải từ quan hệ nhân quả thông qua những dữ kiện ngoài văn học Thậm chí, tác phẩm đôi khi không còn là mục đích nghiên cứu mà chỉ là phương tiện để tìm hiểu hiện thực xã hội hoặc con người tác giả Văn bản lúc này không phải là đối tượng để khám phá tác phẩm ở phương diện chất liệu, hình thức ngôn ngữ mà chỉ là cái vỏ ngoài để chuyển tải nội dung có sẵn trong ý đồ tác giả Ý nghĩa của tác phẩm vì vậy, là cái ổn định, bất biến mà người đọc hoàn toàn có thể nắm bắt được; và người đọc do đó cũng sắm một vai trò rất khiêm tốn, thụ động, là người khám phá ra cái ý nghĩa đã có sẵn trong tác phẩm Như vậy, đối với tư duy lí luận truyền thống, điều quan trọng không phải là tồn tại của tác phẩm văn học là gì, mà vấn đề là tác phẩm ra đời như thế nào Mỹ học sáng tạo đã hoàn toàn chi phối lý luận truyền thống

Thực chất, chúng ta không thể phủ nhận hoàn toàn sự chi phối của hiện thực và tác giả đến tác phẩm văn học Nó cũng đã góp phần tạo nên một cách lí giải về tác phẩm văn học, tồn tại trong thời gian dài và có những thành công nhất định Tuy nhiên, nghiên cứu, lí giải tác phẩm chỉ bằng vào mối quan hệ nhân – quả, bằng vào

Trang 18

hệ quy chiếu giản đơn, bằng vào những mối liên hệ bề mặt có thể cảm nhận được của thế giới, lí luận văn học truyền thống đã không tránh khỏi quan niệm sơ lược, một chiều về tác phẩm văn học, thiếu nhiều điểm nhìn, bỏ qua nhiều tiềm năng to lớn của tác phẩm, chỉ thấy mặt ổn định, chưa thấy mặt biến đổi, thấy cái trực tiếp, chưa thấy cái gián tiếp…cách tiếp cận này chỉ là cách ta tìm ra điều nhà văn muốn nói chứ không phải là điều mà tác phẩm thực sự nói được với người đọc, và nhiều hơn, với các thế hệ người đọc… Nói khác đi, sẽ không thể hiểu hết được tác phẩm văn học nếu chỉ dựa vào hành vi sáng tạo ra nó Tuy nhiên, cho đến nay, việc nghiên cứu tác phẩm một chiều trên đây đã tạo thành lối mòn trong suy nghĩ của nhiều người, ngay cả với những nhà nghiên cứu Vai trò tác giả luôn ngự trị trong các công trình nghiên cứu về tác phẩm văn học, đã làm mất ý nghĩa khách quan của tác phẩm được tiếp nhận từ phía bạn đọc Quan niệm truyền thống về tác phẩm văn học đã bộc lộ ngày càng rõ những hạn chế nhất định của nó Tiếp nối những quan điểm truyền thống là những quan niệm của tư duy lí luận văn học hiện đại, đã khám phá mới về đặc trưng bản thể của văn học nghệ thuật trong mối quan hệ với những yếu tố khác, với văn bản và người đọc

1.3 Từ văn bản đến tác phẩm văn học

Văn bản văn học tưởng như đã hoàn thành khi nhà văn đã hoàn thành và đặt dấu chấm hết và nhà xuất bản in thành sách, nhưng thực ra đó mới chỉ là bước đầu

tiên quan trọng để nó trở thành tác phẩm văn học “Với lớp lớp câu chữ phi vật thể

ẩn chứa nhiều nghĩa khác nhau, luôn biến động và không thể khoanh vùng, tác phẩm văn học có phương thức tồn tại riêng thông qua người đọc Một sáng tác văn học được gọi là tác phẩm văn học với điều kiện nó có giá trị văn học Nhưng giá trị văn học (nếu có) chỉ hình thành trong quá trình đọc và sau khi đọc mà thôi.”

[22,24] Vấn đề đặt ra là quá trình từ văn bản đến tác phẩm văn học diễn ra như thế nào? Thực chất giá trị của tác phẩm là gì? Việc nghiên cứu văn bản văn học trong mối liên hệ với chủ thể tiếp nhận sẽ cho ta câu trả lời một cách khoa học cho những câu hỏi đó

Trang 19

Đã gần một thế kỉ, vấn đề tác phẩm văn học được nhiều nhà lí luận đại diện cho các trường phái khoa học khác nhau nghiên cứu Trong số họ, nổi bật nhất là học trò của Edmund Husserl – triết gia và nhà mỹ học Balan, ông Roman Ingarden với

công trình tác phẩm văn học(1927) Theo Roman Ingarden, cùng một tác phẩm mà

có nhiều sự đọc khác nhau ông gọi đó là sự cụ thể hóa: “Một mặt, tồn tại một văn bản văn học như là sản phẩm sơ lược với những chỗ trống và những sự việc chưa xác định giống như một bộ xương Mặt khác thông qua sự cụ thể hóa (đọc) mà những chỗ trống trong tác phẩm đó được bù lấp, bộ xương được đắp thêm da thịt.”

[22,25] Tính chất của sự cụ thể hóa này phụ thuộc vào trình độ người đọc, và bản thân tác phẩm cũng hiện ra đúng với diện mạo của nó nếu gặp được sự cụ thể hóa lí tưởng Sự cụ thể hóa này ở mỗi người mỗi vẻ không ai giống ai Cũng theo Roman Ingarden khi phân tích đối tượng học của Hiện tượng học ông cho rằng tác phẩm văn học là vật có chủ ý Nguồn gốc sự tồn tại của nó có trong các hoạt động của ý thức sáng tạo nơi tác giả, còn cơ sở của sự tồn tại chất thể thì ở trong văn bản viết…

Vấn đề mối quan hệ giữa văn bản và tác phẩm cũng được nhiều nhà lí luận khác nghiên cứu Có người xem mối quan hệ này cũng giống như mối quan hệ giữa tác phẩm âm nhạc và nốt nhạc Jauss – nhà mỹ học tiếp nhận Đức đã phân biệt hai tầm đón nhận của tác phẩm: Một là ảnh hưởng được xác định thông qua văn bản, hai là sự tiếp nhận được xác định thông qua người đọc J.M.Lotman cũng nhấn mạnh sự khác nhau giữa văn bản và tác phẩm Theo ông , một trong những yếu tố cấu thành nên tác phẩm là văn bản, nhưng văn bản chỉ có được trong mối liên hệ với thực tại nằm ngoài văn bản, mối liên hệ này cũng có trong tác phẩm văn học Cùng một tập hợp các yếu tố của văn bản sẽ có mối liên hệ với thực tại nằm ngoài

văn bản của những người đọc khác nhau “Để hoạt động giao tiếp của nghệ thuật được thực hiện, cần phải tạo ra nhiều yếu tố cấu trúc giống nhau của mã tác giả

và mã người đọc, vì như vậy thì người đọc mới hiểu được cái ngôn ngữ tự nhiên mà người ta viết ra văn bản.” [22,28]

Trang 20

Theo Jan Mukaropxky thì tác phẩm văn học vừa là kí hiệu, vừa là sự việc Ông lưu ý đến yếu tố chủ ý của nhà văn trong sáng tác, nó làm cho nhà văn biết xử lí văn bản như một tác phẩm Sự chủ ý này Mukaropxky gọi là động thái ngữ nghĩa Ông còn lưu ý rằng tác phẩm văn học luôn có một tác động ngược chiều với sự chủ

ý, đó là sự vô tình, các yếu tố chủ ý và vô tình gặp nhau trong tác phẩm trên cơ sở

đề xuất và mong muốn chủ quan của người đọc Đây là cơ sở để chúng ta hiểu tại sao có sự suy luận, quy chụp nhiều khi rất tùy tiện của người đọc đối với một tác phẩm văn học nào đó Nếu lịch sử văn học là lịch sử của hệ thống quy ước khác nhau thì sự phát triển của văn học là sự thay đổi các hệ thống Tác phẩm văn học là

Dung bằng một niềm tin và một tình yêu mãnh liệt đã nhọc lòng chuyên tâm dấn thân quyết liệt trên con đường khoa học đầy thử thách chông gai dám làm cái việc khó ấy Trương Đăng Dung đã xác lập được hệ thống luận điểm khoa học của riêng mình, đồng thời ông đã đưa ra những kiến giải mới để làm cho lý luận văn học thực

sự trở thành khoa học với đúng nghĩa của nó Những ý tưởng học thuật về phương thức tồn tại của tác phẩm văn học đã được khai triển, đào sâu và làm phong phú

thêm trong công trình Tác phẩm văn học như là quá trình xuất bản năm 2004 Đọc công trình lý luận Tác phẩm văn học như là quá trình của Trương Đăng Dung, dễ

nhận thấy ông không chỉ tiếp thu, giới thiệu mà còn tiến hành đối thoại trên tinh thần khoa học Chính tinh thần đối thoại đã giúp cho Trương Đăng Dung đưa ra các kiến giải riêng của mình, trong đó, đáng chú ý là những kiến giải về tác phẩm văn học và tiếp nhận văn học Theo Trương Đăng Dung, mỗi một lần đọc văn bản là một lần người đọc lại “vấp ngã” Tính đa nghĩa và độ mở của văn bản khiến cho

Trang 21

những cách lý giải về nó đều có cơ hội tồn tại và trên thực tế, không thể có kết luận cuối cùng về giá trị tác phẩm Đây là cái nhìn thể hiện cảm quan hậu hiện đại khi nói về đời sống tác phẩm trong tương quan với chủ thể tiếp nhận Khi chỉ ra sự khác biệt giữa văn bản và tác phẩm, Trương Đăng Dung có cái nhìn mới về bản chất của tác phẩm văn học Nêu lên phương thức tồn tại của tác phẩm văn học, ông

đề cập đến hai vấn đề: một là tính chất ngôn ngữ, cái quyết định đặc trưng văn học của văn bản; hai là khả năng tạo lập một đời sống cụ thể của văn bản văn học thông qua người đọc Đây là những đóng góp đáng quý của Trương Đăng Dung vào ý thức đổi mới và hiện đại nền lý luận văn học nước nhà Những luận điểm này đã đi vào đời sống và được nhiều người vận dụng, nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước đánh giá cao hướng tìm tòi mới mẻ và hiện đại của ông:

- Văn bản là sản phẩm cuối cùng của sự sáng tạo nghệ thuật khi mà nhà văn đặt dấu chấm hết và in thành sách

- Văn bản là một hệ thống kí hiệu, nhưng chưa phải là tác phẩm, mà chỉ là bước đầu tiên quan trọng để nó trở thành tác phẩm văn học

- Văn bản tuy vậy không phải là một sản phẩm cố định, chết cứng bởi vì nó có khả năng sinh tạo nghĩa

- Tác phẩm là sự cụ thể hóa văn bản trong người đọc Chính người đọc, bằng toàn bộ kinh nghiệm thẩm mĩ của mình, khi chạm vào tác phẩm đã đánh thức

“nàng công chúa ngủ trong rừng”, và lúc đó, sinh thể nghệ thuật mới hiện lên toàn

vẹn và tác phẩm mới trở nên đầy đặn Như vậy, tác phẩm chỉ được hình thành thông qua sự đọc và chỉ thực sự trọn vẹn trong cảm nhận của người đọc mà thôi

Từ những khái niệm trên đây chúng ta nhận thấy giữa văn bản và tác phẩm có sự khác nhau về nguyên tắc: Văn bản chỉ trở thành tác phẩm khi người đọc xuất hiện 1.4 Vấn đề người đọc trong lí thuyết tiếp nhận

Từ cuối thế kỉ XX tư duy lí luận văn học đã có những khám phá quan trọng về bản chất, đặc trưng và phương thức tồn tại của tác phẩm Việc tiếp cận văn học từ tác giả, từ cấu trúc nội tại của văn bản dần dần đã bộc lộ những nhược điểm của nó

Trang 22

Nhiều vấn đề của tác phẩm văn học sẽ không giải thích được nếu chỉ dựa vào hai nhân tố tác giả và văn bản Tác phẩm văn học trong cách hiểu mới hơn không còn

là hiện tượng ngôn ngữ thuần túy, là cái văn bản cố định trong sáng tác của nhà văn như một thế giới khép kín nữa mà là một thế giới mở hướng về người tiếp nhận Tác phẩm văn học là quá trình đồng hành cùng thế giới người đọc sinh động Vấn

đề trung tâm của tác phẩm lúc này không còn là văn bản mà chính là người đọc Những phát hiện mới mẻ của lí luận về tác phẩm văn học có ý nghĩa khai mở một đường hướng mới để khám phá bản chất tác phẩm văn học: Nghiên cứu tác phẩm văn học trong mối quan hệ với người đọc, với hoạt động tiếp nhận

1.4.1 Lý thuyết tiếp nhận

Đề cập đến hành động tiếp nhận, xuất phát từ đặc trưng thẩm mỹ của nghệ

thuật ngôn từ, các tác giả cuốn Từ điển thuật ngữ văn học định nghĩa: “Tiếp nhận văn học là hoạt động chiễm lĩnh các gía trị tư tưởng, thẩm mỹ của tác phẩm văn học, bắt đầu từ sự cảm thụ văn bản ngôn từ, hình tượng nghệ thuật, tư tưởng, cảm hứng, quan niệm nghệ thuật, tài nghệ tác giả cho đến sản phẩm sau khi đọc: cách hiểu, ấn tượng trong trí nhớ, ảnh hưởng trong hoạt động sáng tạo, bản dịch, chuyển thể …” [10, 325]

Các tác giả cuốn giáo trình Lí luận văn học ( Phương Lựu chủ biên – NXB GD 2006), tập 1, Bản chất và đặc trưng văn học) cũng cho rằng: “Tiếp nhận văn học là hoạt động tiêu dùng, thưởng thức, phê bình văn học của độc giả thuộc nhiều loại hình, nhiều trình độ khác nhau”

Tiếp nhận là hoạt động nắm bắt thông tin trong quá trình giao tiếp Trong giao tiếp văn học từ trước đến nay, quan hệ giữa người đọc với tác phẩm thường được

gọi bằng các từ “đọc”, “cảm thụ”, “thưởng thức”, “phê bình”… Lí thuyết tiếp nhận đề xuất khái niệm “tiếp nhận văn học” nhằm chỉ phương diện chủ động của

người đọc trong việc lựa chọn thông tin, sáng tạo ý nghĩa của tác phẩm Với khái niệm này, vai trò của người đọc được đặt lên hàng đầu

Trang 23

Tiếp nhận văn học là một khâu quan trọng trong toàn bộ hoạt động văn học Hoạt động văn học không đơn thuần chỉ là hoạt động sáng tạo nên văn bản văn học

- tức là hoạt động sáng tác của nhà văn, mà còn bao gồm hoạt động tiếp nhận văn bản văn học của người đọc - tức là hoạt động đọc Hai hoạt động này liên quan đến nhau, quy định lẫn nhau, không thể thiếu một trong hai bởi chỉ có thể thông qua hoạt động tiếp nhận của người đọc - chủ thể cảm thụ, tiếp nhận văn học, văn bản văn học mới có thể chuyển hóa thành tác phẩm văn học

Lí thuyết tiếp nhận ra đời vào giữa thế kỉ XX đã khẳng định sự tiếp nhận của người đọc có vai trò vô cùng to lớn, quyết định sự sống còn, tồn tại hay không tồn tại của tác phẩm Khoa học nghiên cứu văn học thời kì này đã chứng kiến sự chuyển dịch trung tâm từ tác giả sang văn bản rồi đến người đọc Với quan niệm này, tác phẩm văn học vừa là sáng tạo của nhà văn, vừa là nơi hoạt động của ngôn ngữ, nhưng đồng thời vừa là nơi tiếp nhận những sáng tạo từ phía người đọc để tạo nên những nét nghĩa mới cho tác phẩm văn học như là hình thức đọc đặc trưng mà

lí luận văn học truyền thống không giải thích được Và như vậy, xét từ cách tiếp nhận này, việc nghiên cứu bản chất của tác phẩm văn học cũng chính là nghiên cứu mối quan hệ giữa tác phẩm và người đọc Do đó, hoạt động tiếp nhận văn học là một hoạt động mang tính sáng tạo, tác phẩm văn học là một thành tố trong quá trình tiếp nhận

Nhà nghiên cứu Roman Ingarden trong công trình nghiên cứu “Tác phẩm văn học” đã chỉ ra rằng: “Tác phẩm văn học như là khách thể mang tính chủ ý thì đời sống của tác phẩm văn học cũng phụ thuộc vào những hoạt động cụ thể hoá (đọc) văn bản có chủ ý của người đọc hướng tới nó…, mặt khác thông qua sự cụ thể hóa như là một hoạt động của ý thức hướng về nó mà bộ xương được đắp thêm da thịt

và tác phẩm hình thành”

Nhà nghiên cứu Trương Đăng Dung cũng khẳng định “Tác phẩm văn học như

là quá trình” mà hành trình của nó đi từ hoạt động viết của nhà văn để tạo nên văn

bản văn học và khi được người đọc tiếp nhận, mới trở thành tác phẩm văn học Cho

Trang 24

nên, có thể nói “lịch sử văn học không chỉ đơn giản là con số cộng các tác giả tác phẩm mà còn được hiểu là các tác phẩm và người tiếp nhận trong những chuyển biến lịch sử của nó” [22,167] Giá trị và ý nghĩa của tác phẩm văn học có đời sống

đa dạng, phong phú trong sự lĩnh hội và tiếp nhận của người đọc qua các thế hệ Tiếp nhận văn học khác với các hoạt động tiếp thu văn học với mục đích để thưởng thức, khảo cứu, giải trí … Tiếp nhận văn học chính là quá trình người đọc hòa mình vào tác phẩm, rung động với nó, đắm chìm trong thế giới nghệ thuật được dựng lên bằng ngôn từ, lắng nghe tiếng nói cuả tác giả, thưởng thức cái hay, cái đẹp, tài nghệ của người nghệ sĩ sáng tạo Bằng trí tưởng tượng, kinh nghiệm sống, vốn văn hóa và bằng cả tâm hồn mình, người đọc khám phá ý nghĩa của từng câu chữ, cảm nhận sức sống của từng hình ảnh, hình tượng, dõi theo diễn biến của câu chuyện, làm cho tác phẩm từ một văn bản khô khan biến thành một thế giới sống động, đầy sức cuốn hút Có thể nói, tiếp nhận văn học là một hoạt động tích cực của cảm giác, tâm trí người đọc nhằm biến văn bản thành thế giới nghệ thuật trong tâm trí mình

Như vậy, trong đời sống văn học, tiếp nhận văn học có ý nghĩa hết sức quan trọng, nó là “giai đoạn hoàn tất quá trình sáng tác – giao tế của văn hoc” Hans Robert Jauss nói: “Lịch sử văn học là lịch sử tiếp nhận” để khẳng định tầm quan trọng của tiếp nhận văn học bởi chỉ khi đến với độc giả, văn bản văn học mới trở thành yếu tố tinh thần, biến tác phẩm thành một yếu tố của đời sống ý thức xã hội

1.4.2 Người đọc trong quá trình sáng tác và tiếp nhận văn học

Nghiên cứu văn học là để hiểu văn học, đối tượng cụ thể là tác phẩm văn học

Cơ sở và xuất phát điểm của khoa học văn học là sự đối thoại với các văn bản văn học thông qua hoạt động đọc và hiểu chúng Lí luận văn học hiện đại ý thức rất rõ

về sự phức tạp mang tính chất triết học của vấn đề này Tác phẩm văn học ẩn chứa những thông điệp mang nhiều nghĩa khác nhau, luôn biến động và không thể khoanh vùng; khi chúng ta muốn đối thoại với nó nhưng có cái gì đó thường xuyên tạo ra khoảng cách và sự hiểu lầm, không cho ta ý nghĩa chung mong đợi Bởi vì

Trang 25

luôn luôn có cái gì đó thay đổi trong phương thức tồn tại của tác phẩm văn học liên quan đến người đọc, chính sự thay đổi này là nguồn gốc của những tranh luận về phương thức chiếm lĩnh thẩm mĩ tác phẩm văn học về nghĩa và ý nghĩa của nó Các tác phẩm văn học luôn luôn đòi hỏi hình thức lí giải mới Trước tác động và ảnh hưởng của những tác phẩm này, không chỉ chúng mà những tác phẩm khác trong quá khứ cũng có thể đọc lại một cách khác trước Không có tác phẩm văn học nào tồn tại khép kín, với một vẻ mặt duy nhất dành cho tất cả mọi người đến với nó

“Tác phẩm văn học cũng không phải là tượng đài kỉ niệm thể hiện tính chất phi thời gian trong hình thức độc thoại của nó.” H.R.Jauss [20,65] Nhưng mỗi cách lí

giải tác phẩm đều phản ánh những yếu tố chủ quan trong việc đọc và hiểu tác

phẩm Hoạt động đọc của chủ thể tiếp nhận là hoạt động của ý thức chủ quan hướng tới khách thể là văn bản học [20,65]

Lí luận tiếp nhận hiện đại nêu lên những nhận thức mới đối với văn bản tác phẩm Văn bản không phải là một sản phẩm bất biến và đơn giản, mà là có nội dung vô tận, đa nghĩa Tiếp nhận văn học chắc chắn không phải là sự tiếp nhận tiêu cực, bị động đối với tác phẩm văn học, mà là sự sáng tạo tích cực chủ động Nhà văn muốn tạo ra tác phẩm phải sáng tạo, người đọc thưởng thức tác phẩm cũng phải

sáng tạo Jauss đã nói: “Một tác phẩm văn học hoàn toàn không phải là một khách thể độc lập tự thân mà tất cả các thời đại, tất cả mọi người đọc đều có một cảm nhận giống nhau về nó Tác phẩm văn học cũng không phải là một tấm bia vĩnh cửu thách thức thời gian mà là một bản nhạc quản huyền, không ngừng làm rung lên những tiếng vọng mới trong lòng người đọc, đồng thời không ngừng giải phóng khỏi chất liệu ngôn từ để có được một sự tồn tại hiện thực”

Sự sáng tạo của người đọc xuyên suốt toàn bộ quá trình thưởng thức văn học Một biểu hiện nổi bật của nó là sự bổ sung và làm phong phú thêm hình tượng

trong tác phẩm Gorki nói: “Chỉ khi người đọc dường như được tận mắt nhìn thấy tất cả những gì mà nhà văn muốn biểu đạt, khi nhà văn khiến cho người đọc thông qua kinh nghiệm của bản thân họ, thông qua vốn tri thức và vốn sống của họ mà

Trang 26

tưởng tượng, bổ sung, thêm vào những tính cách, trạng thái mà nhà văn miêu tả, thì tác phẩm của nhà văn mới có thể tác động sâu sắc đến người đọc” Sự bổ sung

và làm giàu thêm hình tượng nghệ thuật của người đọc thể hiện tính năng động vốn

có của ý thức con người có mối liên hệ chặt chẽ với đặc trưng hình tượng văn học Trong quá trình tiếp nhận, độc giả còn phát hiện và làm giàu thêm ý nghĩa của tác phẩm Ý nghĩa của tác phẩm văn học luôn tiềm ẩn trong hình tượng văn học, hoàn toàn không lộ diện một cách trực tiếp trước mắt người đọc; hơn nữa, ý nghĩa

ấy lại luôn đa trị, mơ hồ, không xác định, khó có thể khái quát bằng những lời lẽ rõ ràng, giản đơn Người đọc phải tự mình tìm tòi, phát hiện, lĩnh hội ý nghĩa của nó, nếu không tác phẩm sẽ chẳng có ý nghĩa gì đối với anh ta Lí thuyết tiếp nhận ra đời đã khẳng định rằng: ý nghĩa của tác phẩm không hoàn toàn do một mình tác phẩm qui định, người đọc cũng là một lực lượng tích cực, không thể thiếu tham gia vào việc tạo nghĩa của các tác phẩm Chính vì người đọc tham gia vào quá trình tạo nghĩa cho tác phẩm cho nên ý nghĩa của tác phẩm không phải là một hằng số mà là một biến số Không thể có một cách giải thích duy nhất cho tác phẩm, mỗi lần tiếp nhận tác phẩm là một lần phát hiện, sáng tạo làm giàu thêm cho ý nghĩa của tác phẩm, làm lộ ra những vẻ đẹp mới

Tiếp nhận văn học là hoạt động chủ quan của người đọc, người đọc lí giải tác phẩm, bình giảng tác phẩm vì thế nó là một hoạt động tích cực Tùy vào tri thức, kinh nghiệm sống của mỗi người mà việc lý giải có thể sâu sắc, cũng có thể hời hợt, phiến diện tác phẩm của văn học khi mới đến tay người đọc tự bản thân nó mang những ý tưởng mà tác giả thể hiện Thế nhưng, khi ngườ đọc bắt đầu can thiệp vào tác phẩm bằng những suy nghĩ ca nhân thì tác phẩm không còn ý nghĩa như ban đầu nữa Công chúng tiếp nhận văn học không chỉ đọc tác phẩm, mà còn phân tích, bình giải những nội dung, ý tưởng của tác phẩm

Giáo sư Roman Ingarden phát biểu trong công trình “Tác phẩm văn học”:

“Mọi tác phẩm đều dang dở, luôn đòi hỏi sự bổ sung mà không bao giờ ta đạt tới giới hạn cuối cùng bằng văn bản” Đây là phát biểu nhận định về đời sống của tác

Trang 27

phẩm văn học có hàm ý nhấn mạnh tính “dang dở” của tác phẩm văn học, có thể hiểu đấy là tính không cố định, tính đa dạng, mơ hồ của tác phẩm văn học Sự tồn tại của nó không tĩnh mà động, không phải là sản phẩm cố định mà là quá trình Một nhà văn thật sự tài năng sẽ không bao giờ bày toàn bộ bức tranh đời sống ra trước mắt người đọc Ngôn ngữ mà nhà văn sử dụng trong tác phẩm là thứ ngôn ngữ giàu khả năng biểu hiện và mô tả khiến cho tác phẩm văn học có nhiều khoảng trống, điểm trắng để vẫy gọi, thôi thúc người đọc tham gia vào hoạt động văn học,

là điểm tựa để văn bản văn học được tiếp nhận và đồng thời có một đời sống thực

sự Nhờ vậy, tác phẩm có sức hấp dẫn lớn và thôi thúc người đọc lấp đầy những khoảng trống, điểm trắng đồng thời tự do giải thích và tưởng tượng, không ngừng cấu trúc lại ý nghĩa của tác phẩm Đời sống của tác phẩm văn học phụ thuộc vào nhiều nhân tố, đặc biệt sự bổ sung của người đọc quyết định sự tồn tại của văn học Tác phẩm văn học là không cố định, không tĩnh mà động, nó như là quá trình mà chính người đọc quyết định tính chất “mở”, “không có giới hạn cuối cùng” của tác phẩm văn học Nếu như sản phẩm của nhà văn được khai sinh, tức là văn bản văn học, nó sẽ hiện hữu ở giới hạn cuối cùng của nó là văn bản được in thành sách và xuất bản, thì sự tồn tại của tác phẩm văn học không có cái gọi là “giới hạn cuối cùng” như thế

Qua việc đọc, trong nhiều trường hợp có hai hoặc nhiều người đọc có nhận xét giống nhau về hệ thống nghĩa – giá trị tác phẩm Điều đó chứng tỏ sự đồng nhất tương đối của nghĩa và giá trị tác phẩm Cho nên mọi sự đánh giá và những khác biệt về ý kiến về một tác phẩm đều liên quan đến kiểu đọc Tác phẩm văn học không đồng nhất mọi sự đọc Vấn đề đặt ra là giữa rất nhiều kiểu đọc, cái gì bảo đảm sự đồng nhất của mọi tác phẩm với chính nó? Chúng ta có thể trả lời rằng

không có gì đảm bảo được điều đó “Ngôn ngữ như đám sương mù lảng bảng, luôn nhờ tâm hồn người sử dụng nó tỏa sáng và sưởi ấm Người đọc đến với văn bản văn học như đến cái mê cung của mọi sự liên kết, tạo nghĩa không ngừng Cái văn bản tưởng như đã hoàn thành và khép kín ấy vẫn luôn tạo ra khả năng để có thể lí

Trang 28

giải hàng ngàn cách khác nhau mà tính độc đáo, không lặp lại của nó không thay đổi” [22,34], hay nói cách khác “Tính chất mở là điều kiện của mọi sự thưởng thức thẩm mỹ, và tất cả mọi hình thức thưởng thức, nếu mang giá trị thẩm mỹ đều mở”

Umberto Eco

Theo Hankis Elemer nhà lí luận người Hung với mô hình di động, tác phẩm đã

được mã hóa toàn bộ những yếu tố quan trọng của quá trình trao đổi Ở những điểm gặp nhau giữa ý thức người đọc và tác phẩm đều diễn ra một quá trình chung, và ý thức người đọc di động giữa các cực, ấn tượng thẩm mỹ xuất hiện trong quá trình di động đó của ý thức Sự di động đó phản ánh, bổ sung, và làm sáng tạo lẫn nhau giữa tác phẩm và người đọc, nhờ đó mà tác phẩm văn học hình thành

Trong ý thức người đọc, tác phẩm văn học luôn luôn phải đối diện với một hiện thực đã được nhận biết Những người đọc lí tưởng thông thường chỉ dừng lại ở việc đánh giá Còn những người đọc không có khả năng đánh giá mà chỉ có khả năng cảm nhận nội dung (nghĩa) của tác phẩm là do họ thiếu hiểu biết về đặc trưng của sáng tạo nghệ thuật, và do họ không có được hệ thống các quan niệm về giá trị văn học khi tiếp cận với văn bản văn học Kinh nghiệm thực tiễn bao gồm cả kinh nghiệm thẩm mỹ của người đọc là chỗ dựa quan trọng trong việc đánh giá tác phẩm văn học Người đọc lí tưởng không để mình bị cuốn hút hoàn toàn bởi tác phẩm mà

luôn tạo một khoảng cách nhất định giữa họ và tác phẩm

Xuất phát từ quan điểm tác phẩm văn học như là quá trình Trương Đăng Dung cho rằng cần phải tiếp cận vấn đề tác phẩm văn học ở cả hai hướng: “hướng thứ nhất tiếp cận tác phẩm văn học như là quá trình từ phía người sáng tác, thế giới và hiện thực của người Sáng tác; hướng thứ hai tiếp cận tác phẩm văn học như là quá trình từ phía người đọc, thế giới và hiện thực của người đọc” [20,33] Như vậy quá trình nói trên của tác phẩm văn học gồm ba yếu tố: tác giả (nhà văn), tác phẩm (văn bản), và người tiếp nhận (người đọc) “Tác phẩm văn học chỉ thực sự tồn tại với đầy đủ ba yếu tố này và như vậy trong quá trình giao tiếp văn học giữa nhà văn và người đọc sẽ diễn ra hai quá trình: một là quá trình chiếm lĩnh nghệ thuật về hiện

Trang 29

thực mà kết quả là người đọc có văn bản văn học, sau đó là quá trình chiếm lĩnh thẩm mĩ về tác phẩm mà kết quả là trong người đọc hình thành nghĩa tổng thể của tác phẩm văn học Chủ thể của quá trình đầu là nhà văn, của quá trình sau là người đọc Nhà văn trước hết phải nhạy cảm với những vấn đề của hiện thực và mô tả chúng, sau đó mới đánh giá, giải thích hiện tượng theo cá tính sáng tạo của mình Xét từ phía người đọc thì quá trình này được thực hiện ngược lại: Khi đọc một tác phẩm đầu tiên anh ta đánh giá tác phẩm hấp dẫn hay không hấp dẫn Câu hỏi nông cạn thường nghe là “thế nào, có thích không?” nếu được đặt ra lúc này cho người đọc thì chỉ làm cho anh ta lúng túng, vì chỉ sau khi có khoảng cách với tác phẩm nhất định và ấn tượng về nó thì người đọc mới có khả năng để giải thích và mô tả

về ấn tượng đầu tiên.” [18, 38]

Bằng con đường ngôn ngữ nhà văn sáng tạo những mối liên hệ sự kiện bên trong văn bản để trên cơ sở đó người đọc mang đến một thế giới tưởng tượng Những dữ kiện của hiện thực khách quan thông qua lăng kính chủ quan của nhà văn, trở thành cái thế giới được tạo ra bằng văn bản Còn người đọc thì liên hệ thế giới văn bản này với thế giới thực của bản thân, sáng tạo lại thế giới văn bản, cái thế giới có thể Qua tác phẩm không phải là sự phản ánh, cũng không phải là sự nhận thức mà là sự giao tiếp thẩm mỹ xẩy ra giữa hai cái thế giới nhìn đặc trưng của nhà văn và người đọc Cái thế giới được xem như là khách thể không đồng nhất với một thế giới thực nào cả, nó được hình thành bằng con đường ngôn ngữ, liên chủ thể trong quá trình đọc và hiểu văn bản văn học

Như vậy: Quá trình văn học là quá trình tác động tương hỗ với hai yếu tố: ảnh hưởng thông qua văn bản và sự tiếp nhận thông qua người đọc Văn bản là mối quan hệ giao tiếp, sự đọc là quan hệ đối thoại Người đọc sáng tạo cùng nhà văn, anh ta lấp đầy các khoảng trống và chấm dứt tình trạng không chính xác của các tình huống có trong văn bản Sự tiếp nhận là quá trình có kịch tính sinh động, đi từ toàn thể đến bộ phận, từ bộ phận đến toàn thể Ý thức người đọc luôn vận động và không ngừng điều chỉnh vị thế của các văn bản trước đó Người tiếp nhận tái tạo

Trang 30

tác phẩm và tác phẩm tái tạo lại người đọc Từ đây lịch sử văn học không chỉ đơn thuần là con số cộng tác giả và tác phẩm mà còn được hiểu là các tác phẩm và người tiếp nhận trong những chuyển biến lịch sử của nó

Sự đọc và quá trình cắt nghĩa văn bản: Từ mối quan hệ bộ ba Văn bản - Tác phẩm – Độc giả làm nảy sinh một số vấn đề lí luận cần được giải quyết Đó là một văn bản có thể có nhiều tác phẩm Bởi vì khi đọc, văn bản được cụ thể hóa khác với điều mà tác phẩm đã chỉ ra, nó làm phong phú hoặc phương hại đến giá trị của tác phẩm Sự đọc là một sự bày tỏ quan điểm thường xuyên thay đổi, nó bắt rễ sâu xa trong bản chất của chủ thể sử dụng văn bản, kể cả khi người ta đã làm cho nó trở thành sự cắt nghĩa Người đọc nào cũng có sự giải cấu trúc của riêng mình Chẳng hạn khi đọc thơ Trương Đăng Dung mỗi người có cách đọc khác nhau và qua mỗi lần đọc mới người đọc lại chú ý đến lần đọc trước Có người đọc một lần thấy ngay

ý nghĩa tác phẩm, có người đọc đi đọc lại mới nhận ra ý nghĩa giá trị của nó, có người đọc đến vài ba lần vẫn không thấy được giá trị của tác phẩm

Với việc nhấn mạnh vai trò tạo lập ý nghĩa của mối quan hệ giữa văn bản với người đọc theo phương thức hậu hiện đại giải cấu trúc cho rằng tồn tại ba khái niệm đọc: đọc (reading); đọc sai (misreading); và không thể đọc (unreadablity) Nguyên nhân, một là ở văn bản ngoài phần chủ ý, tức ý đồ của tác giả trước và trong khi sáng tác, còn có một phần không chủ ý nằm ngoài ý muốn của tác giả đó là cái vô thức Chính phần không chủ ý này tạo ra một khoảng trống để người đọc được tham dự vào tác phẩm, trở thành người đồng sáng tạo với tác giả; hai là sự giải mã một văn bản rất tùy thuộc vào vốn văn hóa và kinh nghiệm sống, đặc biệt kinh nghiệm thẩm mỹ của người đọc Đọc là một đối sánh kinh nghiệm giữa độc giả và tác giả

Cả hai lí do trên đều liên quan đến người đọc mà theo lí thuyết tiếp nhận, người đọc đến với tác phẩm thường có một “tầm đón đợi” nào đó Đó chính là hệ quy chiếu thuộc về kinh nghiệm văn học của người tiếp nhận, là tầm hiểu biết về văn học, là nhu cầu, thị hiếu, trình độ thưởng thức kết tinh từ kinh nghiệm sống, hứng

Trang 31

thú, quan điểm và lí tưởng thẩm mỹ của người đọc có sẵn trước khi đọc tác phẩm

“Tầm đón đợi” của người đọc giúp họ phân biệt tác phẩm mới hay cũ, quen thuộc hay xa lạ Đây là một trong những thuật ngữ cơ bản của mỹ học tiếp nhận Từ thuật ngữ này làm nảy sinh hai kiểu người đọc: Thứ nhất là người đọc tầm thường (Trương Đăng Dung gọi là người đọc thơ ngây), gồm những người đọc có trình độ thấp, không chuyên Thứ hai, là người đọc đặc biệt (Trương Đăng Dung gọi là người đọc lí tưởng), có sự tiếp nhận khác giữa người đọc tầm thường và người đọc

lí tưởng ở tính chất nghề nghiệp và trình độ chuyên sâu Họ bao gồm nhà văn và người phê bình Và vì thế “tầm đón đợi” của hai kiểu người này là khác nhau Đối với kiểu người thứ nhất nếu tác phẩm cao hơn tầm đón đợi của họ thì họ thường sẽ chán chường, mệt mỏi, lúng túng do không hiểu tác phẩm viết về vấn đề gì Và vì

thế, đúng như Trương Đăng Dung đã nói: “Đối với một bạn đọc thơ ngây thì không tồn tại một văn bản văn học và tác phẩm văn học riêng Trong ý thức của họ, tác phẩm văn học là một khách thể Đối với họ từ một câu, một chữ, đến một cuốn sách

in đều rõ ràng, không có điều gì ẩn kín cần phải suy nghĩ Tác phẩm phản ánh cuộc sống thì nó phải như cuộc sống Người đọc ngây thơ luôn đối chiếu so sánh cái hiện thực khách quan với cái hiện thực có trong tác phẩm để thẩm định điều họ quan niệm đúng sai” [22,30] “Chúng tôi đã nhận định từ trước rằng do tác phẩm văn học có những hoạt động chủ quan, vì vậy chỉ có thể làm thay đổi hoặc huỷ diệt

nó bằng những hoạt động chủ quan tương tự… Trong những trường hợp này (ví dụ người ta cắt bỏ hoặc viết thêm một số câu khi tái bản – T.Đ.D) người ta làm thay đổi tác phẩm một cách có ý thức và chủ ý Nhưng tác phẩm văn học có thể thay đổi một cách không chủ ý Khi người ta đón nhận tác phẩm một cách đơn giản qua sự

cụ thể hoá nào đó, thì sự thay đổi như thế có thể xẩy ra, nếu người đọc - như vẫn thường xẩy ra - không ý thức được cho bản thân những khả năng của sự cụ thể hoá đó cũng như sự khác biệt thật sự (và cần thiết) của nó so với tác phẩm, và cuối cùng là không biết phân biệt sự cụ thể hoá và tác phẩm văn học Vì thế người đọc tuyệt đối hoá sự cụ thể hoá đó, đồng nhất nó với tác phẩm và ngây thơ để ý tới tác

Trang 32

phẩm được nghĩ ra này một cách có chủ ý Lúc này người đọc cho rằng những gì liên quan đến nội dung của sự cụ thể hoá đều là của tác phẩm…Tức là người đọc không làm sáng tỏ tác phẩm trước mọi sự hoen ố có thể bằng sự tiếp nhận thận trọng, phê phán, mà anh ta cưỡng ép và làm thay đổi nó”

Nhưng ngược lại, với kiểu người thứ hai, nếu tác phẩm thấp hơn “tầm đón đợi” thì họ sẽ không thích đọc vì quá tẻ nhạt, tầm thường Nếu tác phẩm cao hơn “tầm đón đợi” của họ sẽ buộc họ phải suy nghĩ, trăn trở để phân loại, tìm ra giá trị đích thực của tác phẩm văn chương và nâng cao thêm “tầm đón đợi” của mình Như vậy

có nghĩa, “tầm đón đợi” không phải bất biến Việc đọc tác phẩm mới và khó có tác dụng nâng cao “tầm đón đợi” của người đọc Đến lượt mình, “tầm đón đợi” mới đòi hỏi văn học phải không ngừng sáng tạo đổi mới Như vậy, tiếp nhận văn học không chỉ giúp khám phá nhiều mặt nội dung và nghệ thuật tiềm tàng trong tác phẩm mà còn góp phần nâng cao trình độ của người đọc, kích thích văn học sáng tạo cái mới Người ít đọc sẽ có “tầm đón đợi” nghèo nàn, sẽ tự mình tụt hậu so với tiến trình chung của văn học dân tộc và nhân loại

Theo H.R Jauss giải thích: “tác phẩm văn học trong hệ thống những mối liên kết có khách thể hóa của nhiều loại “đón đợi” và “tầm đón đợi” Chủ thể tiếp nhận không bao giờ là tờ giấy trắng, người đọc luôn có những hiểu biết về các chuẩn mực và quy tắc của thể loại cũng như về tác phẩm văn học khác Người đọc có khả năng đối chiếu sự hư cấu và hiện thực, các thi pháp bên trong tác phẩm và chức năng thực tiễn của ngôn ngữ” [18,121] Từ những lí giải trên ta thấy, không có một tác phẩm duy nhất trong bạn đọc Mỗi tác phẩm triển khai một hay nhiều ý nghĩa của văn bản là do cái nhìn của người đọc Từ thời đại này sang thời đại khác, từ cá nhân này sang cá nhân khác, với những con mắt khác nhau, tầm đón đợi khác nhau

sẽ nới rộng không gian thẩm mĩ của tác phẩm Tác phẩm mở ra vô tận những cái nhìn Vì vậy có thể nói rằng sử văn học là lịch sử của những cách đọc

Sự đọc đúng là một vấn đề phức tạp và quan trọng đối với các nhà nghiên cứu, phê bình văn học Lần đầu tiên, sau một thời gian dài chỉ chú ý đến tác giả, văn

Trang 33

bản, người ta đã quan tâm đến người đọc, nghiên cứu vai trò của người đọc đối với

sự tồn tại của tác phẩm văn học Lần đầu tiên, văn bản văn học được xem như là lời mời gọi bạn đọc “cụ thể hóa ” những cảnh tượng được mô thức hóa trong nó “Với

mỹ học tiếp nhận, có thể nói hành trình của một tác phẩm văn học chỉ thực sự bắt đầu khi ta đọc nó Đó là cuộc hành trình cho thấy không thể quan niệm một cách đơn giản truyền thống văn học như là lịch sử truyền thống của những giá trị văn học được sắp xếp ổn thỏa và nhất trí theo những tiêu chí bất biến nào đó.” [13 176] Dựa trên những thành tựu của tư duy lí luận văn học thế kỉ XX trên đây, luận

văn sẽ cố gắng soi vào diễn trình tiếp nhận tập thơ Những kỉ niệm tưởng tượng của

nhà thơ Trương Đăng Dung, đi sâu tìm hiểu vấn đề người đọc – sự phản hồi của người đọc để có thêm những nhận thức mới về phương thức tồn tại của tác phẩm văn học, về mối quan hệ giữa tác giả và người đọc Đồng thời thấy được những đóng góp của Trương Đăng Dung trong quá trình đổi mới văn học nước nhà

1.5 Thơ Việt Nam thời kì đổi mới – cái nhìn toàn cảnh

Công cuộc đổi mới được khởi xướng vào năm 1986 là một sự kiện trọng đại làm thay đổi cuộc sống nước ta vốn đã có lúc rơi vào khủng hoảng sâu sắc Từ sau thời kỳ Đổi mới, tính từ mốc 1986, chúng ta đã chứng kiến những đổi thay quan trọng trong đời sống văn học Tinh thần thời đại đã thổi vào đời sống văn học một không khí mới mẻ, tạo nên sự sôi nổi nhộn nhịp trong hoạt động sáng tác cũng như phê bình Có thể xem mười năm sau giải phóng là quãng trượt “quán tính” của thời

kì chiến tranh nhưng cũng là giai đoạn ấp ủ cho quá trình “tách vỏ”, “trổ mầm” ở giai đoạn sau

1.5.1 Đổi mới quan niệm thơ

Sự đa dạng về phong cách và sự phong phú về giọng điệu là đặc điểm nổi bật của thơ Việt sau 1986 Mỗi nhà thơ có cách thể hiện cái nhìn nghệ thuật của mình

“Chính sự đa dạng và sự “phân cực” về tư duy nghệ thuật, về khuynh hướng thẩm

mĩ, về bút pháp và ngôn ngữ là một dấu hiệu cho thấy thơ ca từ 1986 đang sải những bước chân mạnh mẽ trên con đường hiện đại hoá” [28,157]

Trang 34

Văn nghệ, trong tình hình mới đã dám “nói thẳng”, “nói thật” về nhiều vấn đề khúc mắc, nhiều sự thật đau lòng Theo đó, cá tính sáng tạo của nhà thơ cũng được giải phóng triệt để hơn Nhà thơ không phải là những người rao giảng đạo đức hay minh họa cho một tư tưởng sẵn có mà anh ta phải góp phần đánh thức những khát khao, những niềm trắc ẩn của con người trên cơ sở trình bày cảm nhận của mình về các giá trị Các nhà thơ nỗ lực khám phá sự phong phú của “cái tôi ẩn giấu”, dám phơi bày những bi kịch nhân sinh, hoài nghi những giá trị vốn đã quá ổn định để đi

tìm những giá trị mới Đây là lý do nhiều tác phẩm xuất hiện cảm hứng “giải

thiêng” và khát vọng muốn tìm đến những hình thức tổ chức ngôn từ mới lạ Các nhà thơ chú ý nhiều hơn đến tính đa nghĩa của ngôn ngữ thơ ca

Nhìn một cách tổng quát, thơ sau 1986 đã vận động một cách mạnh mẽ theo hướng hiện đại hóa Nó là những cú hích để phá bỏ những tín điều mòn cũ một cách triệt để; có ý nghĩa như một kinh nghiệm nghệ thuật để những người đi sau tìm cách điều chỉnh hoặc tạo ra một lối rẽ khác triển vọng hơn Với sự thay đổi về

tư duy nghệ thuật, sự nhận thức toàn diện hơn về bản chất thơ ca và cấu trúc thể loại, thơ Việt đã thực hiện một cuộc tạo đà mạnh mẽ cho những kết tinh nghệ thuật trong chặng đường tiếp theo

1.5.2 Đổi mới về thi pháp nghệ thuật

1.5.2.1 Sự biến đổi về thể loại

Sự nới lỏng cấu trúc các thể thơ truyền thống: Mặc dù thơ tự do và thơ văn xuôi

là hai thể thơ chiếm ưu thế trong đời sống thơ ca sau 1975 nhưng trên thực tế, các thể thơ truyền thống như thơ lục bát, thơ 5 chữ, 7 chữ vẫn tồn tại Chỉ có điều, so với trước đây, các thể thơ trên không còn “nguyên bản” mà đã có những thay đổi đáng kể về cấu trúc bên trong Nhiều cây bút lại có ý thức đưa ngôn ngữ đậm chất tượng trưng, siêu thực vào lục bát khiến cho thể loại này không chỉ hồn hậu mà còn

có khả năng biểu đạt những tâm thức sâu thẳm của người hiện đại

Thơ tự do và thơ văn xuôi : tính hiện đại trong thơ gắn liền với sự hiện diện

mang tính áp đảo của thơ tự do và thơ văn xuôi so với các thể thơ khác: đây là

Trang 35

những thứ thơ cho phép nhà thơ triển khai tự do hơn những phức hợp cảm xúc cá nhân; thể hiện sự giao thoa thể loại, trong đó đáng kể nhất là ảnh hưởng của chất văn xuôi vào thi ca; việc tìm đến thơ tự do và thơ văn xuôi khiến cho giọng điệu thơ không còn êm ái, mượt mà như trước mà trở nên thô ráp hơn, nhịp điệu thơ mang nhiều tính bất ngờ hơn Thơ tự do khiến cho các nhà thơ có khả năng tạo ra những cú vặn cấu trúc nhằm gây ấn tượng cho người đọc

Trước đây, các nhà thơ chủ yếu tập trung xây dựng những câu thơ ám ảnh, cấu trúc thơ chủ yếu xoay quanh nghệ thuật lập tứ và nghệ thuật dùng từ, xây dựng tính

nhạc nhằm tạo nên sức mê hoặc khiến cho thơ dễ ru người đọc Hiện nay, các nhà

thơ lại tập trung vào tổ chức cấu trúc chỉnh thể, xây dựng hàng chuỗi biểu tượng và các biểu tượng ấy nhiều khi không dễ nhận ra bằng sự cảm nhận thông thường Nó đòi hỏi người tiếp nhận vừa giàu trải nghiệm vừa phải có khả năng tiếp nhận

cái siêu nghiệm trong thơ Thơ ca sau 1975 vận động nhiều hướng nhưng chủ

trương đào sâu vào bản thể tâm linh là một hướng đi được nhiều người tìm đến Tại đây, nhiều khi nhà thơ không đứng ra làm nhiệm vụ giải thích, thuyết minh mà để cho người đọc tự khám phá những bí mật sau những cách nói ngỡ như không ăn nhập gì với nhau, cấu trúc thi phẩm nhìn qua hết sức lỏng lẻo nhưng thật ra lại hết sức chặt chẽ

Sự nở rộ của trường ca: Xét về mặt thể loại, trường ca xuất hiện từ lâu qua những áng sử thi đồ sộ Điều này không có gì lạ Thứ nhất, độ dài của trường ca

cho phép các nhà thơ có điều kiện miêu tả, tái hiện những vùng hiện thực rộng

lớn Thứ hai, các trường ca thường dung nạp trong nó yếu tố tự sự rõ nét, thông qua

các sự kiện, biến cố xảy ra trong đời sống để trình bày những suy ngẫm của nhà thơ

về dân tộc, con người Thứ ba, trong trường ca, các nhà thơ có “đất” để cùng lúc sử

dụng nhiều thể thơ khác nhau như một hình thức phô diễn các cung bậc của cảm xúc, tạo dựng tiết tấu và âm hưởng thơ Sự nở rộ của thể loại trường ca vào những năm cuối thế kỷ XX cho thấy thể loại này vẫn còn tiềm năng phong phú mặc dù đã

có dấu hiệu lặp lại người đi trước ở một số cây bút

Trang 36

1.5.2.2 Những động hình ngôn ngữ mới trong thơ

Thơ ca sau 1975 không còn êm mượt như thơ ca giai đoạn 1945 - 1975 mà trở nên trúc trắc hơn, ngôn ngữ thơ phong phú, giọng điệu thơ đa dạng hơn Thậm chí, tính trong suốt và sáng rõ của ngôn ngữ thơ nhiều khi được cố ý mờ hóa nhằm tạo

nên tính đa nghĩa trong thơ Chính sự đa dạng về tư duy nghệ thuật và sự phong

phú về giọng điệu đã khiến cho ngôn ngữ thơ có sự phân hoá và phân cực về cả bề nổi và về cả tầng sâu: bên cạnh thứ ngôn ngữ gần gũi với đời thường là loại ngôn ngữ mờ nhoè, đậm chất tượng trưng, siêu thực, bên cạnh thứ ngôn ngữ bình dị là những văn bản thơ ngôn ngữ chắp vá một cách cố ý nhằm tạo nên sự lạ hoá…Tuy nhiên, trên đại thể, có thể nhận thấy một số loại hình ngôn ngữ nổi bật như sau:

Ngôn ngữ đậm chất đời thường; Ngôn ngữ giầu chất tượng trưng; Những “trò chơi” ngữ nghĩa trong thơ; “Ngôn ngữ thân thể” trong thơ

1.5.3 Sự thay đổi về thị hiếu thẩm mĩ công chúng thời đổi mới

Con người sau đổi mới đang trên đường đi tìm lại cái bản thể của mình Đó là

sự hiện hữu của những “yếu tính” thuộc về con người cá nhân giữa thế sự đời tư, gắn với những giá trị phổ quát nhất Vũ trụ quan và giá trị quan thay đổi dẫn đến thị hiếu thẩm mĩ thay đổi Nền văn học mới vừa là phương tiện, phương thức, vừa là sản phẩm của con người bản thể sau đổi mới Trong tư cách là cá nhân, một bản thể

ý thức cao về giá trị của mình (đồng thời cũng hoài nghi về giá trị của mình, cộng đồng, thời đại ), con người sau đổi mới có những thị hiếu khác nhau cho thực đơn tinh thần Con người bây giờ là một bản thể quy chiếu với các giá trị phổ quát và đời sống như một con người toàn nguyên Trong sáng tạo và tiếp nhận văn học, sự chuyển biến này càng thể hiện một cách rõ nét Thị hiếu thẩm mĩ của người sáng tạo tương thông với thị hiếu thẩm mĩ của công chúng hướng tới cuộc sống trọn vẹn hơn cho con người Hiện thực phổ quát lúc này là thế sự đời tư biểu hiện mọi phương diện của đời sống cá thể và cộng đồng

Quá trình cá thể hóa và “xã hội hóa” đã thúc đẩy quyền thực thi nền dân chủ Đây chính là tiền đề cho những chuyển động tiếp theo của đời sống văn học nói

Trang 37

chung và thơ ca nói riêng Nhiều tác phẩm, nhiều đề tài biểu hiện của cuộc sống, nghệ thuật được thể hiện trong “kinh nghiệm thẩm mĩ” của chủ thể tiếp nhận Tiếp

nhận một cách tự do chính là sự tôn trọng đối với người đọc “Sau đổi mới đã hình thành một lớp công chúng mới của chính thời kì đổi mới văn học và lớp công chúng này hết sức đa dạng về thị hiếu” [2,16]

Cơ chế thị trường đã tác động rất lớn đến sự tiếp nhận của công chúng và sự sáng tạo của nhà thơ Trong cơ chế ấy, người đọc có được tư thế bình đẳng làm chủ đối với văn chương, nhà văn và người đọc như cùng song hành trên con đường nhận thức hiện thực và chân lí đời sống

Thơ thuộc thể loại trữ tình, là sự hiện diện thế giới nội tâm của con người, vì thế ta tìm thấy ở đó những diễn biến tinh thần của con người, thời đại Công chúng hôm nay không dễ gì bằng lòng với những tác phẩm viết một cách dễ dãi, thô sơ, minh họa, với ý đồ giáo dục tư tưởng một cách xơ xứng, áp đặt một chiều Người ta trông chờ những băn khoăn triết học về thực tại và những tiếng nói trữ tình thuộc

về con người bản thể “Công chúng đòi hỏi ở thơ một trường thẩm mĩ mới có thể tương thích, kiến tạo tinh thần, mỹ cảm thực tại Không chỉ có lời ca, tiếng hát, không chỉ có hoa và ánh sáng, không chỉ có vinh quang và chiến thắng mà còn có

cả tiếng khóc, sự thất bại, bóng tối, máu và cái chết Không chỉ có niềm tin, lý tưởng mà còn có biết bao hoài nghi Không chỉ có đoàn thể mà cốt thiết hơn, thơ phải đi vào đời sống của cái tôi bản thể…” [48,88] Đó là một thử thách để thơ tiến

nhanh hơn trong việc khẳng định đặc trưng loại hình, đáp ứng thị hiếu thẩm mỹ của công chúng Sự phân hóa sâu sắc về trình độ, nghề nghiệp, điều kiện kinh tế

Thơ ngay sau đổi mới cũng như các thể loại khác đã được tiếp nhận một cách

hồ hởi bởi tính cập nhật, sinh động và nhiều mặt của diễn biến tinh thần con người Mỗi lời thơ là một điệu hồn, một điệu sống hướng tới những giá trị người toàn diện

và sâu sắc hơn Thơ đã tìm lại con đường cá nhân bản thể đi lạc trong dòng thời gian, nói hộ những điều kín nhiệm từ lâu bị kiềm giữ, bị áp chế Được tiếp nhận trong tâm thế ấy thơ neo vào lòng người đọc những ấn tượng tích cực Sự tương

Trang 38

thông về khả năng biểu hiện của thơ với những chuyển biến quan trọng trong đời sống là cơ sở của sự tiếp nhận hồ hởi đối với thơ ca giai đoạn đầu đổi mới

Cuộc sống đã trở về thường nhật, thế tục, công chúng của thơ cũng thoát khỏi trạng thái say cảm để bước vào cuộc đời với phẩm chất thế sự nghiệt ngã Từ góc

độ người đọc, chúng ta nhận ra bi kịch của thơ đương đại Việt Nam Đó là bi kịch của sự bùng nổ rầm rộ sáng tác và sự im lặng đáng sợ của công chúng tiếp nhận Hầu như rất ít người tìm đến với thơ Đó là một thực trạng đáng sợ, đầy nghịch lí, một dấu hiệu “phá sản” của thơ Việt Nam đương đại? Một số bài thơ của Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Quang Thiều, Vi Thùy Linh…như níu kéo một chút ánh sáng trong mênh mông tối của đời sống tiếp nhận thơ ca Tựa như ánh sáng lóe lên phía cuối đường hầm, thơ chưa bị chìm khuất trong sinh hoạt tinh thần của cộng đồng Thơ Trương Đăng Dung không chỉ được nhận sự tôn vinh qua các giải thưởng mà cao hơn chính là sự tôn vinh của cộng đồng - của bạn đọc Thơ ông đã thực sự bước vào thánh địa của nghệ thuật khi trong thơ có họa, điện ảnh…Thơ ông đã xóa đi cái không khí ảm đạm, u ám của thơ Việt, thơ ông đã tạo ra cái khoảnh khắc cho riêng mình - cái khoảnh khắc trong tiến trình dài, rộng của diễn trình thi ca dân tộc từ khởi thủy đến hiện đại

Tóm lại, thơ ca Việt Nam đã đi được một đoạn đường dài trên con đường hiện đại hóa, hội nhập với thơ ca nhân loại “Thơ đa dạng hơn về giọng điệu, về phong cách nghệ thuật, những nỗ lực hiện đại thơ cũng diễn ra quyết liệt hơn, mạnh mẽ hơn Đã xuất hiện nhiều cách nói mới, nhiều giọng điệu lạ Cùng với đó để đạt được những đỉnh cáo, những kết tinh xuất sắc thơ Việt Nam cần tiếp nhận mạnh mẽ hơn với những tinh hoa văn học nhân loại, gạt bỏ mọi quy phạm, đồng thời cũng phải giữ được bản sắc và hồn vía của dân tộc trong thơ Đó là sự kết hợp giữa yếu

tố nội sinh và yếu tố ngoại sinh trong chiến lược phát triển văn hóa” [28,101] Đặt

Những kỷ niệm tưởng tượng của Trương Đăng Dung trong nền thơ Việt Nam

đương đại dưới cái nhìn của Lý thuyết tiếp nhận ở phương diện sự phản hồi của người đọc, luận văn không chỉ có cơ sở từ thực tiễn để hiểu về Trương Đăng Dung

Trang 39

– một hồn thơ khắc khoải đầy ám ảnh về thời gian, phận người mà còn hiểu hơn về phong cách nghệ thuật và thi pháp sáng tác của ông; Từ đó có nguồn minh chứng, soi sáng cho lý thuyết tiếp nhận và còn có cái nhìn mang tính hệ thống về sự phát triển của con đường thơ dân tộc

Trang 40

Chương 2 DIỄN TRÌNH TIẾP NHẬN THƠ TRƯƠNG ĐĂNG DUNG

2.1 Sự xuất hiện thơ Trương Đăng Dung

Trương Đăng Dung sinh ngày 8 tháng 5 năm 1955 tại một làng quê nghèo thuộc xã Diễn Trường, huyện Diễn Châu, Nghệ An Mảnh đất địa linh nhân kiệt giàu truyền thống yêu nước, hiếu học đã cho ông một nghị lực mạnh mẽ luôn vượt qua mọi khó khăn, nỗ lực học hỏi, chinh phục những ước mơ Bằng lao động âm thầm, miệt mài và cần mẫn, Trương Đăng Dung đã góp phần làm cho nền lý luận văn học hiện đại Việt Nam đổi mới bắt kịp với nền lý luận văn học trên thế giới Không chỉ là nhà nghiên cứu – lí luận văn chương mà tầm vóc học thuật được khẳng định, Trương Đăng Dung còn làm thơ như một kênh chữ nghĩa đáng nể phục Sau khi hoàn thành chương trình PTTH, ông sang học tập và tốt nghiệp khoa Ngữ văn thuộc Trường đại học Tổng hợp Budapest – Cộng hòa Hungari (Tốt nghiệp năm 1978) Ngay sau khi tốt nghiệp đại học, Trương Đăng Dung trở về đất nước và làm việc tại Viện Văn học Trong quá trình làm việc và nghiên cứu, ông tự nhận thấy phải tiếp tục nâng cao trình độ hơn nữa mới có thể phục vụ tốt nhất những yêu cầu cấp thiết của việc đổi mới và sáng tạo trong lĩnh vực khoa học nghiên cứu văn học, cần tích cực góp phần đưa khoa học dần tiến kịp với thế giới… Trương Đăng Dung trở lại Hungari làm nghiên cứu sinh rồi bảo vệ luận án Tiến sĩ tại đây (Năm 1984) Sau khi bảo vệ luận án Tiến sĩ, ông có đủ cơ hội và khả năng

để cống hiến nhiều hơn, năm 1996 được phong tặng học vị phó Giáo sư văn học Những nỗ lực của ông được thể hiện bằng các trọng trách quan trọng tại Viện Văn Học Với mong muốn truyền đạt những kiến thức học được từ nước ngoài và những kết quả mà mình nghiên cứu bằng tất cả tâm huyết cho thế hệ trẻ, Trương Đăng Dung tích cực tham gia giảng dạy sau đại học và nghiên cứu sinh ở Viện văn học, các trường đại học trên cả nước Đối với ông, đến với học viên luôn là một niềm hạnh phúc: “Khi đi dạy, được gặp gỡ những người trẻ như các em thầy cảm thấy rất hạnh phúc Hạnh phúc vì nhìn thấy các em học tập và nghiên cứu, thầy như trẻ lại,

Ngày đăng: 16/08/2016, 10:57

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[3] Vũ Tuấn Anh, (2006) Đổi mới văn học và tinh thần nhân văn mới trong sự hội nhập ý thức toàn cầu, Nghiên cứu văn học 12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới văn học và tinh thần nhân văn mới trong sự hội nhập ý thức toàn cầu
[4] Đào Tuấn Ảnh, Lại Nguyên Ân (2003), Văn học hậu hiện đại thế giới – Những vấn đề lí thuyết, NXB Hội nhà văn – Trung tâm văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học hậu hiện đại thế giới – Những vấn đề lí thuyết
Tác giả: Đào Tuấn Ảnh, Lại Nguyên Ân
Nhà XB: NXB Hội nhà văn – Trung tâm văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây
Năm: 2003
[5] Đào Tuấn Ảnh (2006), “Thơ Joseph Brodsky – cuộc đối thoại giữa các nền văn hóa”, Tạp chí nghiên cứu văn học (số 9), (số 10) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ Joseph Brodsky – cuộc đối thoại giữa các nền văn hóa
Tác giả: Đào Tuấn Ảnh
Nhà XB: Tạp chí nghiên cứu văn học
Năm: 2006
[7] Lại Nguyên Ân (2004), 150 thuật ngữ văn học, Nxb. Đại học quốc gia, Hà Nội, 488 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb. Đại học quốc gia
Năm: 2004
[9] Lưu Văn Bổng (chủ biên) (2001), Văn học so sánh lý luận và ứng dụng, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội 802 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học so sánh lý luận và ứng dụng
Tác giả: Lưu Văn Bổng
Nhà XB: Nxb. Khoa học xã hội
Năm: 2001
[11] Nguyễn Văn Dân biên soạn và giới thiệu (1991), Văn học nghệ thuật và sự tiếp nhận, TTKHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học nghệ thuật và sự tiếp nhận
Tác giả: Nguyễn Văn Dân biên soạn và giới thiệu
Năm: 1991
[12] Nguyễn Văn Dân (1999), Nghiên cứu văn học lí luận và ứng dụng, NXB Giáo dục [13] Trương Đăng Dung (2002), “Phương thức tồn tại của tác phẩm văn học”, Tạp chí văn học, số 7-8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu văn học lí luận và ứng dụng
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1999
[14] Trương Đăng Dung (2004), “Giới hạn của phê bình văn học”, Tạp chí nghiên cứu văn học, số 7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giới hạn của phê bình văn học”
Tác giả: Trương Đăng Dung
Năm: 2004
[15] Trương Đăng Dung (2004), “Tác phẩm văn học như là cấu trúc ngôn từ động”, Tạp chí văn học, số 10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tác phẩm văn học như là cấu trúc ngôn từ động”
Tác giả: Trương Đăng Dung
Năm: 2004
[16] Trương Đăng Dung (2004), “Văn bản văn học và sự bất ổn của nghĩa”, Tạp chí nghiên cứu văn học, số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn bản văn học và sự bất ổn của nghĩa”
Tác giả: Trương Đăng Dung
Năm: 2004
[17] Trương Đăng Dung (2004), “Trên đường đến với tư duy lý luận văn học hiện đại”, Tạp chí văn học, số 12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trên đường đến với tư duy lý luận văn học hiện đại”
Tác giả: Trương Đăng Dung
Năm: 2004
[18] Trương Đăng Dung (2004), Tác phẩm văn học như là quá trình, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác phẩm văn học như là quá trình
Tác giả: Trương Đăng Dung
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2004
[19] Trương Đăng Dung (2004), “Những giới hạn của cộng đồng diễn giải”, Tạp chí nghiên cứu văn học ,số 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những giới hạn của cộng đồng diễn giải
Tác giả: Trương Đăng Dung
Nhà XB: Tạp chí nghiên cứu văn học
Năm: 2004
[20] Trương Đăng Dung (2014), Tác phẩm văn học nhìn từ lý thuyết tiếp nhận, Tài liệu cho học viên cao học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác phẩm văn học nhìn từ lý thuyết tiếp nhận
Tác giả: Trương Đăng Dung
Năm: 2014
[21] Trương Đăng Dung (2014), Những kỷ niệm tưởng tượng tác phẩm và dư luận, Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những kỷ niệm tưởng tượng tác phẩm và dư luận
Tác giả: Trương Đăng Dung
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2014
[22] Trương Đăng Dung (1998), Từ văn bản đến tác phẩm văn học, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ văn bản đến tác phẩm văn học
Tác giả: Trương Đăng Dung
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1998
[23] Trương Đăng Dung (2006), “Những khả năng và giới hạn của văn học Việt Nam trong bối cảnh giao lưu văn hóa khu vực và quốc tế”, Nghiên cứu văn học(12), tr.9 – 18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những khả năng và giới hạn của văn học Việt Nam trong bối cảnh giao lưu văn hóa khu vực và quốc tế”
Tác giả: Trương Đăng Dung
Năm: 2006
[24] Trần Thanh Đạm(2010), Nhà văn – Văn bản / Tác phẩm người đọc ( Mấy vấn đề ‘Lý luận văn học hiện đại”, http://honvietquochoc.com.vn/Van-hoc/Ly-luan-phe-binh/Nha van-Van ban-Tac pham-Nguoi doc.aspx Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn – Văn bản / Tác phẩm người đọc ( Mấy vấn đề ‘Lý luận văn học hiện đại”
Tác giả: Trần Thanh Đạm
Năm: 2010
[25] Nguyễn Đăng Điệp (2001), Giọng điệu trong thơ trữ tình, Nxb Văn học Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giọng điệu trong thơ trữ tình
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp
Nhà XB: Nxb Văn học Hà Nội
Năm: 2001
[26] Nguyễn Đăng Điệp (2003), Vọng từ con chữ, Nxb Văn học Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vọng từ con chữ
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp
Nhà XB: Nxb Văn học Hà Nội
Năm: 2003

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w