1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các biện pháp nâng cao nhận thức cho sinh viên đhsp tp hcm về những nội dung cơ bản của gdds

138 563 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 138
Dung lượng 6,83 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hội nghị lần thứ IV Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VII tháng 211993 khẳng định: "công tác DS - KHHGĐ là một bộ phận quan trọng của chiến lược phát triển đất nước, là yểu tố cơ bản đ

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐAI HỌC SƯ PHẠM

NGUYỄN THỊ BÍCH HẠNH

Đề tài:

CHO SINH VIÊN ĐHSP TP.HCM VỀ NHỮNG

Trang 5

2.2.TH ỰC TRẠNG NHẬN THỨC CỦA SINH VIÊN ĐHSP TP HCM VỀ

M ỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA GDDS.0T 43

Trang 7

3.2.Th ử nghiệm biện pháp giáo dục nhằm nâng cao nhận thức của sinh viên sư

ph ạm về các nội dung cơ bản của GDDS.0T 83

PH Ụ LỤC 3:NỘI DUNG CUỘC THI TÌM HIỂU VỀ “GDDS”0T 126

Ụ LỤC 4:PHIẾU XIN Ý KIẾN (số 1)

Trang 8

PH Ụ LỤC 5:PHIẾU XIN Ý KIẾN (số 2)0T 137

Trang 9

NH ỮNG THUẬT NGỮ VIẾT TẮT ĐƯỢC SỬ DỤNG TRONG

1 DS: Dân số

2 GDDS: Giáo dục dân số

3 KHHGĐ: Kế hoạch hoá gia đình

4 GDĐSGĐ: Giáo dục đời sống gia đình

14 CNXHKH: Chủ nghĩa xã hội khoa học

15 GD-ĐT: Giáo dục và Đào tạo

Trang 10

Đất nước chúng ta đang phải đối đầu với những vấn đề lớn: thiếu lương thực,

thực phẩm, nhà ở, công ăn việc làm cho người lao động, thiếu trường học, dịch vụ y

tế, ô nhiễm môi trường và sự cạn kiệt tài nguyên Một trong những nguyên nhân cơ

bản của nó là sự "bùng nổ dân số" Sự gia tăng dân số là nguyên nhân của đói nghèo,

lạc hậu, làm giảm sút nghiêm trọng CLCS của mỗi người, mỗi gia đình và toàn xã hội Chính vì thế, ngay từ thập kỷ 60, nhà nước Việt Nam đã đặt vấn đề kiểm soát

việc gia tăng dân số (bằng việc ban hành hàng loạt chính sách DS -KHHGĐ) Hội nghị lần thứ IV Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VII (tháng 211993) khẳng

định: "công tác DS - KHHGĐ là một bộ phận quan trọng của chiến lược phát triển

đất nước, là yểu tố cơ bản để nâng cao CLCS của từng người"

Trong việc thực hiện chính sách dân số, biện pháp giáo dục được coi là biện pháp cơ bản bên cạnh các biệạ pháp y tế, kinh tế xã hội, pháp luật Bởi lẽ công tác giáo dục, tuyên truyền, vận động là một công tác tất yếu khách quan để thức hiên chính sách dân số, tham gia giải quyết tân gốc vấn đề gia tăng dân số vì lẽ đó mà nhà nước ta chủ trương đưa GDDS vào trong trường học

GDDS là một mặt quan trọng của giáo dục hiện đại trong nhà trường cũng như ngoài xã hội Nó có nhiệm vụ giúp cho con người chiến thắng được nghèo nàn và lạc

hậu; khắc phục tận gốc sự cân bằng sinh thái; xây dựng một cuộc sống văn minh, ấm

no, hạnh phúc cho mỗi gia đình, mỗi quốc gia và cho cả cộng đồng GDDS là nhiệm

vụ của toàn xã hội trong đó ngành Giáo dục -Đào tạo giữ vị trí nòng cốt

Lực lượng học sinh và sinh viên rất đông (15 triệu) chiếm gần 1/5 tổng dân số trong cả nước, nếu chúng ta làm tốt công tác GDDS cho các em thì ảnh hưởng từ các

em đến xã hội là rít lớn Chính các em sẽ là những tuyên truyền viên về DS - KHHGĐ

rất đắc lực trong xã hội mà trước hết là ở gia đình (với cha mẹ và những người thân

Trang 11

của các em)

Đặc biệt đội ngũ sinh viên nói chung và sinh viên sư phạm nói riêng là chủ nhân tương lai của xã hội, họ là những người sắp lập gia đình, họ là những ông bố bà mẹ,

họ là những thầy cô giáo tương lai gần, vị thế của họ, ảnh hưởng của họ đối với xã hội

là rất lớn Nếu như họ được trang bị những kiến thức, phương pháp GDDS, họ sẽ là

những tuyên truyền viên đắc lực và có hiệu quả

Thực tế cho thấy rằng sinh viên sư phạm phía Nam nói chung và sinh viên ĐHSP TP.HCM nói riêng cũng đã có một số hiểu biết nhất định về GDDS, song họ chưa có ý thức rõ ràng về vấn đề này và nhất là nhiều sinh viên chưa hiểu rõ những

biện pháp hợp lý để giải quyết vân đề GDDS Nếu chúng ta tìm ra được những biện pháp GDDS thích hợp với loại hình trường ĐHSP bằng việc huy động đội ngũ giảng viên tham gia vào công tác này sẽ có ý nghĩa lớn trong việc nâng cao nhận thức của sinh viên về GDDS

Những công tành nghiên cứu nhận thức của sinh viên sư phạm về các nội dung

cơ bản của GDDS lại tập trung ở các trường sư phạm phía Bắc Còn các trường sư

phạm thuộc các tỉnh phía Nam chưa có công tành nào nghiên cứu, nhất là những biện pháp GDDS thích hợp trong loại hình trường này

Để có thêm những cơ sở khoa học nhằm nâng cao chất lượng GDDS trong trường ĐHSP TP.HCM nói riêng và các trường ĐHSP các tỉnh phía Nam nói chung, tôi nhận thấy một yêu cầu cấp thiết là cần thiết khảo sát, đánh giá nhận thức của sinh viên sư phạm về các nội dung cơ bản của GDDS cũng như những biện pháp giáo dục thích hợp trong loại trường này Từ đó, đề ra những giải pháp, kiến nghị nhằm đẩy

mạnh công tác GDDS, chuẩn bị tốt cho sinh viên sư phạm các tỉnh phía Nam nói chung và sinh viên ĐHSP TP.HCM nói riêng bước vào nghề sư phạm của thế kỷ XXI

với hành trang về nhận thức dân số có chất lượng và hiệu quả cao hơn

Từ thực trạng và những bức xúc trên thôi thúc tôi nghiên cứu đề tài:

"Các bi ện pháp nâng cao nhận thức cho sinh viên ĐHSP TP.HCM về những

n ội dung cơ bản của GDDS"

Trang 12

2.M ục đích nghiên cứu:

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn nhằm phát hiện:

- Thực trạng nhận thức của sinh viên ĐHSP TP HCM về những nội dung cơ bản

của GDDS, cũng như những biện pháp GDDS thích hợp cho loại hình trường này, chính là cơ sở khoa học để đề xuất những giải pháp, kiến nghị hợp lý nhằm thực hiện GDDS cho sinh viên sư phạm phía Nam nói chung và sinh viên ĐHSP TP.HCM nói riêng đạt hiệu quả cao

3.Khách th ể và đối tượng nghiên cứu:

3.1.Mách th ể nghiên cứu:

Vấn đề GDĐS trong nhà trường

3.2.Đối tượng nghiên cứu:

Các biện pháp nâng cao nhận thức cho sinh viên ĐHSP TP.HCM về những nội dung cơ bản của GDDS

4.Gi ả thuyết khoa học:

Sinh viên ĐHSP TP.HCM đã có một số hiểu biết nhất định về GDDS Tuy nhiên

nhận thức của họ thiếu tỉnh tập trung, thiếu những định hướng rõ rệt và do đó chưa có

những biểu hiện dứt khoát trong thái độ và hành vi thực hiện GDDS Có thể và cần thiết phải phát hiện thực trạng nhận thức của họ và những biện pháp GDDS thích hợp

để từ đó đề ra những giải pháp hữu hiệu nhằm thực hiện tốt hơn GDDS trong nhà trường sư phạm

5 Nhi ệm vụ nghiên cứu:

5.1 Nghiên cứu những vấn đề lý luận liên quan đến GDDS trong nhà trường nói chung và trường sư phạm nói riêng

5.2 Đánh giá thực toang nhận thức của sinh viên ĐHSP TP.HCM về một số nội dung cơ bản của GDDS

5.3 Xác định các biện pháp và thử nghiệm các biện pháp GDDS cho sinh viên ĐHSP TP.HCM

Trang 13

5.4 Một số kết luận và giải pháp đề xuất về GDDS trong các trường sư phạm

6.Phương pháp nghiên cứu:

6 1.Phương pháp nghiên cứu lý luận:

Phân tích, tổng hợp và hệ thống những vấn đề lý luận có liên quan đến nhiệm vụ

của đề tài qua hệ thống sách báo và tài liệu

6 2.Phương pháp điều tra xã hội học:

Dùng phương pháp điều tra bằng (Anket) để nghiên cứu nhận thức của sinh viên ĐHSP TP.HCM về một số nội dung cơ bản của GDDS Hệ thống câu hởi bao gồm các

nội dung: mục tiêu, ý nghĩa của GDDS, những kiến thức cơ bản và các biện pháp GDDS cho sinh viên Câu hởi có câu hởi kín và câu hởi mở Câu hởi kín nhằm đo

mức độ nhận thức chính xác của sinh viên ĐHSP TP.HCM về các vấn đề cơ bản của

nội dung GDDS Câu hởi mở nhằm nắm được những ý kiến thật khách quan của sinh viên được hởi trước những vấn đề đặt ra

Cách tiến hành: in phiếu sẩn, phát cho sinh viên và yêu cầu họ trả lời đầy đủ và nghiêm túc

6.6 Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia:

Thông qua các buổi trao đổi trực tiếp với các nhà nghiên cứu có kinh nghiệm về GDDS (hay bằng phiếu xin ý kiến) để bổ sung cho vấn đề nghiên cứu

Trang 14

6.7.Các p hương pháp toán học sử dụng trong nghiên cứu KHGD

7.Giới hạn đề tài:

Đề tài chỉ đi sâu khảo sát mặt nhận thức về nội dung cơ bản của GDDS và những

biện pháp GDDS cho sinh viên ĐHSP TP HCM (thuộc một nhóm khoa học tự nhiên, khoa học xã hội ở năm đầu và năm cuối đặc biệt những khoa đã được học GDDS)

Trang 15

PH ẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1.1 L ịch sử GDDS trên thế giới

Thế giới đang đứng trước những vấn đề: hoà bình, công ăn việc làm cho người lao động, ô nhiễm môi trường, tài nguyên cạn kiệt Một trong những nguyên nhân

của các vấn đề trên là dân số

Khoảng vài chục năm trở lại đây, số lượng dân cư trên thế giới tăng với một nhịp

độ cực kỳ lớn Ngày 11 tháng 7 năm 1987 Liên Hợp Quốc đã tuyên bố ngày thế giới 5

tỷ người Dự báo đến ngày 11/ 6/ 1999 dân số thế giới sẽ là 6 tỷ

Đứng trước nguy cơ "bùng nổ dân số" mà hậu quả của nó không thể lường hết được đối với CLCS và chỉnh sự sống của nhân loại, hàng loạt các nước trên thế giới ngày càng quan tâm lo lắng đề ra những chính sách để giải quyết vấn đề trên - "chính sách dân số"

Công tác GDDS có một tầm quan trọng đặc biệt trong việc thực hiện các chính sách dân số Vì thế ngày càng có nhiều nước chấp nhận công tác này, đặc biệt các nước thuộc Châu Á - Thái Bình Dương Mặc dầu vậy, GDDS có lịch sử phát triển tương đối ngắn

Năm 1941 toong cuốn "Đất nước và gia đình" bà Alava Myldal đã nhấn mạnh

rằng: "một chính sách dân số sáng suốt tĩnh táo là cần thiêt cho việc thực hiện các chính sách xã hội; giáo dục có vai trò quan trọng trong việc phát triển một chính sách dân số mới"

Cũng vào năm này, Frank Lorimer và Eriedrich Obosous đã nêu ý kiến nhấn

mạnh rằng cần đưa vấn đề dân số vào chương trình môn "Xã hội học" ở Mỹ để góp

phần giảm tỷ lệ tăng dân số

Trang 16

Bẵng đi một thời gian dài (gần hai thập kỷ) không có sự chuyển biến đáng kể nào về việc kết hợp nội dung GDDS trong các chương tành giảng dạy

Mãi đến tháng 3 năm 1962 mới xuất hiện hai bài báo của Warre- s Thomson "sự bùng nổ dân số" và bài "sự vắng mặt kiến thức dân số trong chương trình học ở trường

phổ thông" của Philíp M Hauser (trên số tháng 3 thông báo của ĐHSP Viện đại học Colombia) Cả hai bài báo đều yêu cầu đưa nội dung dân số vào chương trình học ở trường phổ thông

Năm 1964 hai tài liệu "Giảng dạy các động lực dân số" và "Các giai đoạn mãn sinh sản" đã được biên soạn dưới sự chủ trì của Sloan Wayland - hai tài liệu này được dùng như tài liệu mẫu cho việc đào tạo chính khóa GDDS ở bậc trung học

Cùng với những nỗ lực tiến hành ở cấp độ cá nhân cố gắng đưa GDDS vào

chương trình học, tổ chức Liên Hiệp Quốc đặc biệt là UNESCO đã quan tâm và đề

xuất vấn đề theo hướng này

Năm 1948 tổng giám đốc UNESCO, ông Julian Huxlay đã nhấn mạnh rằng: dân

số quá đông có thể gây ảnh hưởng tiêu cực mạnh mẽ đến nền văn minh tương lai và

tốc độ phát triển của nó Ông cũng cho rằng, nhiệm vụ của UNESCO là giáo dục để

mọi người nhận thức được sự nghiêm trọng của các vấn đề trên

Năm 1968, Đại hội đồng UNESCO đã tuyên bố rằng mục tiêu các hoạt động của UNESCO trong lĩnh vực dân số là phải thúc đẩy sự hiểu biết và những trách nhiệm to

lớn mà sự gia tăng dân số đặt ra với những cá nhân, mỗi quốc gia và cả cộng đồng

quốc tế

Năm 1970 - 1972 UNESCO đã ủy nhiệm cho Tổng Giám đốc giúp đỡ các nước

hội viên trong việc soạn thảo chính sách dân số và KHHGĐ, tổ chức việc thực hiện các thông tin giáo dục để làm cho mọi người nhận thức rõ hơn về bản chất, nguyên nhân và hậu quả của các xu hướng gia tăng dân số cũng như việc tiếp tục đẩy mạnh GDDS

Hội nghị về dân số và giáo dục gia đình do UNESCO khu vực Châu Á bảo trợ được tổ chức tại Bangkok (Thái Lan) tháng 9 năm 1970 được xem là cái mốc lớn trong lịch sử GDDS Tại Hội nghị này các nhà giáo dục của 13 nước thành viên thuộc

Trang 17

Châu Á đã nhít trí cao trong chiến lược soạn thảo chương trình, nội dung GDDS đưa vào các bộ môn khoa "Học tự nhiên và xã hội trong nhà trường cũng như vạch ra mục tiêu của GDDS Đồng thời chính những đại biểu của Hội nghị đã đóng một vai trò chủ

chốt trong việc phát triển những chương trình GDDS ở đất nước của họ

Có thể nói Ấn Độ là quốc gia đầu tiên trên thế giới tiến hành GDDS có hệ thống Ngay từ năm 1935 Đại hội toàn quốc đã nêu rõ vấn đề: phải kiểm soát sự phát triển dân số Năm 1950 chương tành KHHGĐ ra đời Năm 1969 Hội thảo Quốc gia lần thứ

I về GDDS đã đánh dấu một bước tiến đáng kể toong việc đưa GDDS vào hệ thống trường phổ thông Năm 1970 thành lập ban chỉ đạo về GDDS Năm 1980 hình thành

đề án GDDS do UNFPA tài trợ và UNESCO giúp đỡ chuyên môn, chương trình này ngày càng mở rộng đối với hệ chính qui và không chính qui, giáo dục người lớn và các trường đại học

Không riêng gì Ấn Độ mà Thái Lan và Indonexia cũng triển khai GDDS rất sớm (1972), tiếp theo là Triều Tiên, Malayxia, Philippin, Sri- Lanca (1973) và hàng loạt các nước khác Hiện nay đã có tới 123 nước trực tiếp ủng hộ chương trình DS - KHHGĐ (trong khi hơn 10 năm về trước mới chỉ có 10 nước) Có thể nói từ đây,

những vấn đề liên quan tới dân số đã hiển nhiên mang tỉnh chất toàn cầu

1.1.2 Vài nét v ề lịch sử GĐDS ở Việt Nam

Việt Nam là một quốc gia có mức tăng dân số rất nhanh Trải qua hơn nửa thế kỷ (1939 - 1945) dân số Việt Nam tăng gấp 4 lần (từ 18 triệu lên 74 triệu) Với tỷ lệ tăng dân số hàng năm là (2.2%) thì mỗi ngày, dân số Việt nam tăng thêm một xã, mỗi tháng tăng thêm một huyện và mỗi năm tăng thêm một tỉnh Cứ nhịp độ này đến năm

2020, dân số Việt Nam sẽ đạt 120 triệu người Sự gia tăng dân số đã trở thành vấn đề gay cấn có ảnh hưởng tiêu cực đến CLCS nhân dân và môi trường đất nước

Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề, năm 1963, nhằm giải quyết vấn đề dân số, Đảng và Chính phủ ta đã tiến hành cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch với

mục tiêu hạ tỷ lệ phát triển dân số đến năm 1980 còn khoảng (2.0%) Thủ tướng Chính phủ đã ban hành chỉ thị 99-TTg ngày 16/10/1963 "về công tác hướng dẫn sinh

đẻ có kế hoạch nhằm làm cho dân số phát triển phù hợp với sự phát triển kinh tế xã ội"

Trang 18

Ngày 13 tháng 5 năm 1970 Hội đồng chính phủ ra quyết định số 94- CP về cuộc

vận động sinh đẻ có kế hoạch, đã nhấn mạnh tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động sinh đẻ trong tất cả các tỉnh, thành để có thể vài năm giảm tỷ lệ phát triển dân số ở miền Bắc

xuống (2,2%)

Chỉ thị 265- CP của Thủ Tướng Chính phủ tháng 10/1978 có nói: đẩy mạnh cuộc

vận động sinh đẻ có kế hoạch trong cả nước nhằm đạt mục tiêu hạ tỷ lệ phát triển dân

số còn khoảng (2.0%) một ít

Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng, trong báo cáo chính tri của Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã nhấn mạnh: " phải quyết định và thi hành

đẻ có kế hoạch "

Tại Hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VII (2/1993) lại

khẳng định: "Công tác DS - KHHGĐ là một bộ phận quan trọng của chiến lược phát

Rõ ràng, vấn đề dân số đang là một trong những vấn đề ưu tiên hàng đầu trong chiến lược phát triển kinh tế và xã hội của đất nước

Nghị định số 193 của Hội đồng Bộ trưởng ngày 19/6/1991 - giao nhiệm vụ cho ngành GD-ĐT phải đưa được GDDS- GDĐSGĐ vào giảng dạy cho học sinh các trường

Được sự giúp đỡ của UNFPA và UNESCO khu vực Châu Á- Thái Bình Dương, công tác GDDS của ngành GD-ĐT trong những năm qua đã phát triển ở nhiều ngành,

cấp học và triển khai trên cả nước Đặc biệt từ những năm 1987 đã đạt được những kết

Trang 19

- 60% tổng số trường trong cả nước, đấy là chưa kể những trường thuộc các tỉnh không trọng điểm Riêng khối sư phạm đã thực hiện ở 45 trường sư phạm đào tạo giáo viên cấp 1; 42 trường sư phạm đào tạo giáo viên cấp 2 và 8 trường ĐHSP

- Đã biên soạn tài liệu giảng dạy và học tập GDDS, xây dựng chương tành GDĐSGĐ và GDGT cho học sinh lớp 9 đến lớp 12 Chính thức hóa việc tích hợp GDDS vào chương trình 4 ngành học Thể chế hóa nội dung GDDS vào sách giáo khoa và vào hệ thống kiểm tra, thi cử Các tài liệu biên soạn đều đã được thẩm định qua thực nghiệm giảng dạy, vì thế khi đưa ra dùng đại trà đểu được đánh giá là phù

tới 200 ngàn lượt cán bộ quản lý giáo dục và giáo viên được bồi dưỡng GDDS

- Bộ GD-ĐT đã mở khóa đào tạo cao học về GDDS ở trường ĐHSP Hà Nội ì Đây là sự cố gắng rất lớn của Đảng và Nhà nước ta dưới sự giúp đỡ của UNESCO và UNFPA khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, đồng thời đây cũng là cái mốc quan

trọng đánh dấu sự phát triển của sự nghiệp giáo dục nói chung và GDDS nói riêng của nước ta

1.1.3 Vài nét v ề lịch sử vân đề nghiên cứu

Để đánh giá kết quả thực hiện GDDS trong nhà trường và những mong cải tiến công tác này ngày càng tốt hơn, trong thời gian qua đã có nhiều công trình nghiên cứu

về GDDS như:

- Điều tra cơ bản nhằm đưa GDGT và GDĐSGĐ vào trường sư phạm của khoa Tâm lý - Giáo dục, trường ĐHSP Hà Nội I

- Đề tài nghiên cứu "Nhận thức, thái độ của sinh viên trường sư phạm Phú Yên

về những nội dung cơ bản của KHHGĐ" của Đinh Thị Dậu

- Đề tài "Nhận thức, thái độ của sinh viên trường cao đẳng sư phạm mẫu giáo Trung Ương ì về giới tỉnh và GDGT" của Thái Lan Chi

Trang 20

- Đề tài "thực trạng nhận thức và việc thực hiện chính sách DS -KHHGĐ của cha

mẹ các cháu trường mầm non" của Dương Thị Minh Hiền

Gần đây nhất, để tìm hiểu kết quả tác động của GDDS lên nhận thức, thái độ của

học sinh và công tác GDDS trong nhà trường phổ thông trung học, năm 1997 đề tài

cấp nhà nước nghiên cứu: "Thực trạng GDDS trong trường trung học phổ thông" do GS-PTS Đặng Vũ Hoạt (chủ nhiệm đề tài) và nhiều tác giả khác cùng tham gia Như vậy, vấn đề nghiên cứu cũng như triển khai GDDS trong nhà trường đã được các cấp, các ngành và những nhà nghiên cứu rất quan tâm Song vân đề nghiên

cứu và triển khai GDDS trong các trường sư phạm, đặc biệt là các trường sư phạm phía Nam có vai trò rất lớn và cần được nghiên cứu sâu hơn, nhằm tìm ra những giải pháp tối ưu cho công tác GDDS trong loại hình trường sư phạm nói chung và ĐHSP phía Nam nói riêng - mà vấn đề này chưa được nghiên cứu thởa đáng

1.2.MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.2.1.Khái ni ệm "dân số"

- Theo "Sổ tay GDDS" thì dân số (population) là tổng số người sống trên một lãnh thổ nhất định được tỉnh vào một thời điểm nhất định

- Trong cuốn Một số vấn đề cơ bản về GDDS (Dự án VIE/94/P01) viết: dân số là

cộng đồng người sống trên một lãnh thổ tại một thời điểm nhất định Thuật ngữ dân số không chỉ hàm chứa số dân mà còn hàm chứa về mặt chất lượng của dân số như kết

cấu, sự phân bố, trình độ văn hóa

Vậy là khi nói tới dân số của một địa phương là nói đến 2 mặt - thứ nhất là số lượng dân số, kết cấu (theo tuổi, giới tỉnh, lãnh thổ) và mặt thứ hai là các vấn đề: sinh,

tử, di dân, mức sông, trình độ văn hóa Vì thế khi nghiên cứu về dân số' nhất thiết phải nghiên cứu cả hai mặt trên

- Giáo trình "GDDS- KHHGĐ" (Tài liệu văn bản pháp qui và bồi dưỡng kiến

thức cho cán bộ quản lý, Ban GDDS- KHHGĐ các cấp, các ngành thuộc GD- ĐT, Bộ

GD - ĐT, Hà Nội 1993) lại định nghĩa:

+ Theo nghĩa hẹp "dân số" của một khu vực (cộng đồng, quốc gia) là tổng số dân

Trang 21

sống trên khu vực đó (cộng đồng, quốc gia)

+ Theo nghĩa rộng "dân số" phải được xem trên hai mặt dân số và chất lượng của dân số đó thể hiện trên các mặt: thể lực, trí lực, trình độ, kỹ năng lao động sản xuất các sản phẩm vật chất và tinh thần

Quan điểm này cũng nhìn nhận vấn đề "dân số" trên 2 mặt: số lượng và chất lượng

Từ những tài liệu trên, các tác giả đều thông nhất quan điểm: nói tới "dân số" là nói tới mặt số lượng và chất lượng của nó, xem xét "dân số" với sự phát triển, mối quan hệ giữa dân số với CLCS

1.2.2.Khái ni ệm « GDDS »

GDDS ra đời vào những năm 80 của thế kỷ này, nhưng cho đến nay, mặc dù có

rất nhiều cố gắng nhưng người ta vẫn chưa đưa ra được một định nghĩa hoàn chỉnh,

trọn vẹn và được mọi người thừa nhận Nội dung của GDDS cũng thay đổi theo tiến tành lịch sử của chính bản thân nó, phụ thuộc vào các giá trị văn hóa, đạo đức, phong

tục tập quán, tôn giáo của các nước khác nhau Vì lẽ đó GDDS được hiểu một cách phiến diện hay không đầy đủ về nội dung

- Năm 1971 trong báo cáo "GDDS và gia đình" được trinh bày ở Băngkok (Thái Lan) - GDDS được người ta định nghĩa như sau: "GDDS là một chương trình giáo

và hành vi đối với tỉnh hình dân số và môi trường - mà mục tiêu chính là hạn chế dân

Trang 22

+ Đánh giá được những phương tiện hữu hiệu, mà nhờ đó xã hội nói chung và cá nhân nói riêng có thể đáp ứng và ảnh hưởng tới những quá trình này nhằm nâng cao CLCS hiện tại và tương lai

Với định nghĩa này, Viederman đã nêu ra vấn đề cốt tử của GDDS là nâng cao CLCS

- Tại Hội nghị Tư vấn khu vực năm 1979, mục tiêu của GDDS được bổ sung và điều chỉnh: GDDS nhằm trang bị cho người học những tri thức về mối quan hệ giữa

sự biến động dân số và sự phát triển kinh tế - xã hội thể hiện ở tỉnh hình CLCS

- Năm 1988, trong tác phẩm "Dân số, tài nguyên, môi trường, CLCS" R C

Sharma đưa ra định nghĩa về GDDS như sau: "Là một chương trình giáo dục giúp cho

người học hiểu được mối quan hệ qua lại giữa các động lực dân số và các nhân tố

lĩnh vực dân số, gia đình, cộng đồng, Quốc gia và thế giới"

Định nghĩa của S C Sharma (1988) đã nêu bật sự tác động giữa động lực dân số

và các yếu tố khác của CLCS, khẳng định mục tiêu chính của GDDS là nâng cao CLCS của nhân dân ở cấp vĩ mô và vi mô Ông nhấn mạnh quá trình GDDS phải giúp cho người học phát triển hiểu biết của họ về các vấn đề dân số, mở rộng tầm nhìn của

họ và phát triển những kỹ năng phù hợp trong việc phân tích và xác định vấn đề một cách có ý nghĩa về mặt cá nhân và phù hợp về mặt xã hội Theo ông, GDDS là cách

thức giáo dục mang lại cho con người sự hiểu biết về hiện tượng dân số trong mối quan hệ với CLCS Người học được phép quyết định hành vi cho bản thân sau khi đã được học, nghiên cứu, thảo luận về vấn đề dân số Như vậy phương thức GDDS không hoàn toàn là tuyên truyền, nhồi sọ áp đặt hành vi dân số một cách mù quáng mà

phải đi từ nâng cao nhận thức dẫn đế sự chuyển hóa từ bên trong ý thức tự giác lựa

chọn phương thức hành vi phù hợp trong vấn đề dân số của mỗi cá nhân

Trong cuốn "Một số vấn đề cơ bản về GDDS" (Hà Nội- 1995) đã định nghĩa:

GDDS là quá trình phát triển nhận thức và hiểu biết về tỉnh hình dân số, thái độ, hành

vi hợp lý đối với những tỉnh huống để có được cuộc sống có chất lượng đối với mỗi cá nhân, gia đình, cộng đồng, dân tộc và thế giới

Trang 23

Ngày nay, nhiều người thừa nhận GDDS là một chương tành giáo dục giúp người học hiểu được mối quan hệ giữa tỉnh hình dân số và những nhân tố khác của CLCS của mỗi người, mỗi cộng đồng, mỗi Quốc gia và toàn thế giới

Một khái niệm hay được đề cập trong định nghĩa về GDDS là "Chất lượng cuộc

sống"

1.2.3.Ch ất lượng cuộc sống:

Là điều kiện sống, được cung cấp đầy đủ nhà ở, giáo dục, dịch vụ y tế, lương

thực, vui chơi, giải trí cho nhu cầu của con người Điều kiện này làm cho con người

dễ dàng đạt được sự hạnh phức, an toàn, gia đình khoe mạnh về vật chất và tinh thần Trong cuốn "GDDS trong nhà trường phổ thông" tác giả Mai Xuân San định

nghĩa: CLCS được quan niệm một cách toàn diện, đầy đủ, nó bao gồm không chỉ mức

sống mà cả lẽ sống, lối sống và nếp sông Mức sống là những nhu cầu cơ bản về lương

thực, thực phẩm, quần áo, nhà cửa, điều kiện y tế, sức khoẻ, phương tiện đi lại, giáo

dục Lẽ sống: sống là để xây dựng xã hội tốt đẹp - xã hội XHCN Lối sống: sống lành

mạnh, giản dị, sống vì mọi người Nếp sống: sống văn minh, ngăn nắp, khoa học CLCS ở cấp độ vi mô là CLCS của mỗi người, mỗi gia đình CLCS ở cấp vĩ mô

là CLCS của toàn xã hội và trên bình diện khác rộng lớn hơn Trong cuốn "DS- tài

cầu tỉnh cảm và những nguyên vọng xã hội cũng như những khả năng đáp ứng được

những nhu cầu cơ bản về lương thực, năng lượng, không gian ở của xã hội Ông đưa

ra quan điểm khi xem xét CLCS cần đặt nó trong mối tương quan với các hệ thông: dân số - mức sống - nguồn tài nguyên - chính trị xã hội và sự phát triển

1.2.4.Bi ện pháp:

Theo từ điển tiếng Việt (Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Hà Nội 1992): “Biện pháp là cách làm, cách giải quyết một vấn đề cụ thể"

Trang 24

1.3.M ỤC TIÊU, NỘI DUNG CƠ BẢN VÀ PPDH GDDS

1.3.1.M ục tiêu GDDS

Làm cho người học hiểu được mối quan hệ qua lại giữa các động lực dân số và các nhân tố khác của CLCS để họ có những quyết định hợp lý, có hiểu biết về những hành vi thuộc về lĩnh vực dân số, nhằm cải thiện CLCS của bản thân, gia đình, cộng đồng, Quốc gia và thế giới

Năm 1948, tại Hội nghị Hiệp hội Tâm lý học Mỹ tổ chức ở Bơxtơn, các ban giám khảo các trường đại học đều nhất trí phân loại các mục tiêu giáo dục ra ba lĩnh

vực: nhận thức - tỉnh cảm - hành động Các mục tiêu nên trình bày dưới dạng hành vi

mà người ta có thể quan sát và mô tả được

Do đó các mục tiêu của GDDS cũng bao hàm ba lĩnh vực trên

- Lĩnh vực nhận thức gồm 6 mức độ (theo quan điểm Bloom): kiến thức; thông

hiểu; ứng dụng; phân tích; tổng hợp và đánh giá

Trong 6 mức nêu trên, thông thường 3 mức: kiến thức (biết), thông hiểu (hiểu)

và ứng dụng được xác định phổ biến và thực thi trong quá trình giáo dục hay dạy học + Kiến thức: Bao gồm những thông tin có tỉnh chất chuyên biệt mà học sinh có

thể nhớ hay nhận ra khi được đưa ra một câu hởi hay một câu trắc nghiệm thuộc loại điền thế, đúng sai hay nhiều lựa chọn Thí dụ, học sinh có thể lặp lại một định nghĩa

mà không cần giải thích hay sử dụng nó Hay họ có thể kể ra, liệt kê, phát biểu hay lựa

chọn một sự vật, hiện tượng trong những sự vật khác Đây là mức độ thấp nhất trong lĩnh vực nhận thức, vì nó chỉ đòi hởi sự vận dụng của trí nhớ mà thôi

+ Thông hiểu: bao gồm cả kiến thức nhưng ở mức độ cao hơn là trí nhớ Nổ liên quan đến ý nghĩa và những mối quan hệ của những gì học sinh đã biết, đã học Ví dụ, khi học sinh phát biểu một định nghĩa, điều đó chỉ chứng tở đã "biết" định nghĩa đó, nhưng để chứng tở sự thông hiểu, thì buộc học sinh đó phải giải thích được ý tưởng chính, mối quan hệ giữa các ý tưởng, thuật ngữ quan trọng được chứa đựng trong định

Trang 25

nghĩa, đưa ra ví dụ hay những lối minh họa chứng tở sự thông hiểu của mình Do đó,

ở mức độ này đòi hởi học sinh phải giải thích, minh họa, phân biệt sự kiện nào phù

hợp hay không phù hợp

+ Ứng dụng: mức độ này đòi hởi học sinh phải sử dụng kiến thức, phương pháp hay nguyên lý để giải quyết một vấn đề nào đó Đôi khi còn đòi hởi người học chuyển

di kiến thức từ bối cảnh quen thuộc sang một hoàn cảnh mới

- Lĩnh vực tỉnh cảm bao gồm thái độ- sở thích- giá trị- đánh giá và thưởng thức Dưới đây là mục tiêu cụ thể của GDDS:

+ Tỉnh hình dân số trong nước và trên thế giới

+ Các khái niệm và lỹ thuyết về Dân số học

+ Các quá trình biến đổi dân số

+ Quan niệm về CLCS

+ Mối quan hệ qua lại giữa sự biến đổi dân số và các khía cạnh của CLCS cuộc

sống ở cấp vi mô và vĩ mô

giữa CLCS với sự biến đổi dân số và sự tiêu thụ các tài nguyên hiện tại và tương lai đối với bản thân, quốc gia và thế giới

hành động có trách nhiệm với các vấn đề dân số và cải thiện CLCS

1.3.2.M ột số nội dung cơ bản của GDDS trong nhà trường

Trong hoàn cảnh nước ta hiện nay, nội dung GDDS trong trường sư phạm chủ

yếu nêu hai mối quan hệ cơ bản, đó là quan hệ giữa dân số với sự phát triển kinh tế -

xã hội và mối quan hệ giữa GDDS với GDĐSGĐ

Vấn đề sản xuất ra của cải vật chất và tái sản xuất con người là hai mặt gắn bó

hữu cơ với nhau trong nền sản xuất xã hội và cần được lãnh đạo, quản lý một cách cân

Trang 26

đối, có kế hoạch trong chiến lược kinh tế - xã hội

Nếu tỉnh từ khi loài người xuất hiện đến thế kỷ XIX, thế giới mới có 1 tỷ người

Một tỷ người này được đo bằng 1 triệu năm Nhưng đến tỷ thứ 2 được đo bằng 100 năm, còn tỷ người thứ 3 chỉ cần vài chục năm sau

Hiện nay tỷ suất gia tăng tự nhiên của dân số thế giới là 1.7% Với tỷ suất này,

mỗi năm dân số thế giới tăng thêm 93 triệu người, tương đương dân số của một nước đông dân

Số dân tăng thêm này phần lớn lại ở những nước đang phát triển hay kém phát triển Đây chính là nghịch lý Những nước kém phát triển về mặt kinh tế thì dân số lại tăng rất nhanh, còn những nước phát triển thì dân số ổn định hoặc giảm, kết quả là người nghèo ngày càng nhiều hơn và chiếm tỉ lệ ngày càng cao trong tổng dân số thế

giời Làm cho cán cân phát triển giữa các Quốc gia, giữa các khu vực trên thế giới càng trở nên cách biệt, làm mất sự ổn định và cân bằng cần thiết trên cục diện toàn

cầu Do đó, vấn đề tăng dân số được xếp ngang hàng với các vấn đề toàn cầu khác:

chống chiến tranh hạt nhân, ngăn chặn bệnh SIDA, bảo vệ môi trường

Đối với Việt nam, trước thế kỷ XX dân số tăng chậm do nền kinh tế lạc hậu,

cuộc sống của người dân luôn bị đe dọa bởi thiên tai, dịch bệnh và những phong tục

tập quán cổ hủ của chế độ phong kiến Đến đầu thế kỷ XX, dân số Việt nam đạt 13 triệu Thời kỳ tăng nhanh nhất là vào những năm 1939 - 1943 đạt 3.06% và tỉ suất gia tăng giảm đột ngột vào những năm 1943 - 1951 do trận đói năm 1945, do lữ lụt và chiến tranh Nhưng từ năm 1950 đến 1975 dân số Việt Nam tăng rất nhanh, tỉ lệ gia tăng luôn trên mức 3%, đây là thời kỳ "bùng nổ dân số" ở Việt Nam Nhưng giai đoạn sau đó, tốc độ tăng dân số có giảm do kết quả của cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch (tỉ suất sinh ở mức 2.1%) Với tỉ suất này, để tăng dân số gấp đôi Việt Nam chỉ cần 33 năm trong khi thế giới phải mít 41 năm Đến năm 1997 dân số Việt Nam đạt gần 76 triệu, trở thành nước có dân số đông thứ 2 ở Đông Nam Châu Á và thứ 13 trong tổng

Trang 27

số 200 nước trên thế giới

* Sự gia tăng dân số bị qui định bởi nhiều yếu tố, mà chúng liên quan tới quan

niệm, niềm tin, giá trị, phong tục tập quán của người dân nhất là ở những nước chậm

và đang phát triển:

- Lợi ích của con cái và giới tỉnh của con cái: con cái có thể đem lại lợi ích kinh

tế cho gia đình Nhiều nước Châu Á coi con cái là để nối dõi tông đường, thờ cúng tổ tiên hoặc có nhiều con để tăng sức mạnh gia đình, dòng họ trong làng xã

- Tỉnh trạng của người phụ nữ được thể hiện qua các mặt: trình độ học vấn, tài

sản, danh vọng, mức độ tham gia lao động trong xã hội, quyền quyết định trong hôn nhân Tuy nhiên, hai chỉ số được coi là quan trọng nhất là trình độ học vấn và sự tham gia lao động trong xã hội

* Các thuật ngữ:

- Môi trường là tất cả những yếu tố xung quanh bao gồm các nhân tố vô sinh và

hữu sinh, ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến cuộc sống, sự phát triển và sự sinh

sản của các sinh vật sống

- Ô nhiễm môi trường: là sự thay đổi không mong muốn về môi trường có nguy

hại ngay lập tức hoặc trong tương lai đến sức khoẻ và cuộc sống của con người, do

vậy ảnh hưởng đến các tiến trình sản xuất, tài sản văn hóa và các nguồn tài nguyên dự

trữ của nhân loại

- Bảo vệ môi trường: Là sự kết hợp nhận thức và hành động trong sự đấu tranh gìn giữ sự nguyên vẹn, ổn định và tươi đẹp của môi trường đối với sự phát triển vững

chắc và CLCS

*Quan hệ tương hỗ giữa dân số - tài nguyên - môi trường:

Tài nguyên thiên nhiên được chia làm 3 loại: loại không tái tạo được, loại có thể tái tạo được và loại tài nguyên vô tận

- Loại không tái tạo được gồm các loại khóang sản có ích (than đá, dầu mở và

Trang 28

các nguyên liệu khác) Để phục vụ cho cuộc sống, con người đã khai thác hàng trăm tỉ

tấn mỗi năm Chỉ tỉnh riêng dầu mở và than đá, mỗi năm loài người dùng hết 7 tỉ tấn Dân số tiếp tục tăng với qui mô ngày càng lớn và tốc độ ngày càng nhanh, thì mức khai thác càng tàn bạo hơn Cứ đà khai thác như thế này thôi, thì khoảng 200 năm nữa trái đất sẽ hết than đá, 100 năm nữa sẽ cạn kiệt dầu mở và chỉ 20 - 30 năm nữa sẽ hết các nguyên liệu khác (bạc, thiếc, chì, thủy ngân )

- Loại có thể tái tạo được như : thổ dưỡng, thế giới động thực vật Song trên thực

tế cũng đang bị nghèo đi, cạn kiệt và suy giảm Chỉ nói riêng về rừng, vào thế kỷ 18,

tổng diện tích rừng có khoảng 7, 8 tỉ ha đến nay còn 2, 8 tỉ ha Tại năm 1960, rừng che

phủ 1/4 diện tích địa cầu, nhưng đến năm 1980 chỉ còii bao phủ 1/5, dự tỉnh đến năm

2000 là 1/6 và năm 2020 sẽ còn là 1/7 Với nhịp độ khai thác như hiện nay chỉ trong vòng 60 - 80 năm nữa toàn bộ rừng của thế giới sẽ biến thành đồi trọc

Khi diện tích rừng bị thu hẹp làm biết bao thực vật quí không còn Rừng còn là ngôi nhà của các loài động vật hoang bị thu hẹp, khiến các chủ nhân của chúng đứng trước nguy cơ diệt vong

Mất rừng còn dẫn đến hạn hán và lũ lụt Do không có thảm thực vật, cây xanh che phủ, nên nước bốc hơi nhanh, bồi lắng các dòng sông gây ra lũ lụt

Ở Việt Nam, sự suy giảm nhanh chóng diện tích rừng đã làm biến đổi khí hậu, mùa hè thì nóng hơn, mùa đông thì rét đậm hơn, lũ lụt tăng cao Hàng năm, đất bị bào mòn khoảng 200 tấn/ha, khiến cho 40% diện tích đất tự nhiên (khoảng 13.2 triệu ha) thành đất trắng, đồi trọc, càng làm cho diện tích đất canh tác vốn đã bị thiếu, bị thu

hẹp nay càng thiếu trầm trọng hơn

- Loại tài nguyên vô tận (nước, không khí, khí hậu) là những yếu tố không thể thiếu đối với cuộc sống của con người Nhưng trớ trêu thay chúng lại đang bị chính con người làm nhiễm bẩn

+ Nhiễm bẩn đất: Để có đủ lương thực cung cấp cho dân số ngày càng tăng,

buộc con người phải thâm canh tăng vụ, phải tăng cường sử dụng phân khóang, thuốc

trừ sâu đã gây nhiều độc hại cho đất

+ Nhiễm bẩn nước: Nhu cầu về nước của con người ngày càng tăng khi dân số

Trang 29

không đi vào ổn định Hiện nay nguồn nước trên hành tinh của chúng ta vốn đã thiếu, trong khi đó nguồn nước sạch đang bị cạn dần do nước bị nhiễm bẩn ngày càng tăng

Sự nhiễm bẩn nước đã ảnh hướng lớn đến sự sống của những động, thực vật dưới nước nói chung và biển cả nói riêng, gây thiệt hại nặng nề về kinh tế và càng làm mất cân bằng sinh thái Đấy là chưa kể tác hại của việc nước bị nhiễm bẩn đã ảnh hưởng không nhở đến sức khoẻ của con người

+ Nhiễm bẩn khí: Hàng năm loài người đã đưa vào khí quyển hàng trăm tỉ tấn khí và bụi bẩn từ việc khai thác khóang sản, đốt cháy nguyên vật liệu trong các nhà máy công nghiệp và các phương tiện giao thông, động cơ khác đã làm thay đổi thành

phần khí quyển, dẫn đến tỉnh trạng trái đất nóng lên, tầng ôzôn bị suy giảm và bị

thủng đang là hiểm họa của nhiều nước trên thế giới

Do dân số tăng nhanh, buộc con người phải khai thác, sử dụng tối đa nguồn sông

tự nhiên phục vụ cho cuộc sống ngày càng tăng về số lượng và chất lượng, đã làm cho tài nguyên cạn kiệt, môi trường suy thóai Để đảm bảo sự phát triển bền vững, lâu dài

của đời sống trái đất, đòi hởi phải dóng lên tiếng chuông báo động toàn thể nhân loại suy nghĩ về mối liên hệ xuôi ngược giữa tài nguyên - dân số - môi trường và phát triển, thiết lập và giữ vững sự cân đối giữa các yếu tố này, đó là những vấn đề toàn

cầu Vì rằng nguyên nhân và hậu quả của vấn đề này không chỉ đóng khung trong

phạm vi một Quốc gia nào

Qui mô dân số và tốc độ dân số tăng nhanh đang là một sức nặng làm nghiêng cán cân, đẩy "tung lên" những vấn đề khó khăn về kinh tế xã hội, tài nguyên môi trường và đến hầu hết các mặt của đời sống xã hội, ảnh hưởng trực tiếp đến CLCS, đặc biệt ở những nước đang phát triển

Thế giới hiện còn 1 tỉ người mù chữ, trong đó 960 triệu là của các nước đang phát triển Riêng khu vực Châu Á Thái Bình Dương chiếm 666 triệu người Đến năm

2000 dự báo khu vực vẫn còn 645 triệu người không biết chữ

Việt Nam là nước có dân số trẻ, trẻ em dưới 14 tuổi chiếm 40% dân số cả nước

và lớn hơn 2 lần so với các nước phát triển Năm 1989, ở nhóm từ 7 -18 tuổi cả nước

Trang 30

có gần 18 triệu người, chiếm 27.2% dân số Con số này ngày càng tăng do sự tăng nhanh dân số Do đó, quốc gia không đủ sức bao cấp hết đội quân khổng lồ ăn học như vậy, làm cho nạn mù chữ và tái mù chữ có xu hướng tăng lên, chất lượng giáo

dục không cao Hiện nay nước ta có khoảng 8,3 triệu người mù chữ, trong đó 2,83 triệu người trong nhóm từ l0 đến 35 tuổi Mặc dù dân tộc Việt Nam là một dân tộc

vốn có truyền thống hiếu học Song đối với một xã hội có số thanh niên với qui mô quá lớn và tỉ lệ tăng quá nhanh như hiện nay thì chứng ta khó mà có thể làm tốt được công tác giáo dục Dân số tăng nhanh sẽ gây nhiều tác hại khôn lường đối với sự phát triển của nền giáo dục

- Tỉnh hình sức khoẻ của mỗi người phụ thuộc trước hết vào chế độ ăn, ở, điều

kiện làm việc, nghỉ ngơi, môi trường sống Thế nhưng những yếu tố này không thể đảm bảo được khi dân số tăng quá nhanh

- Dân số tăng nhanh đã ảnh hưởng đến sức khoẻ con người trên các bình diện:

tuổi thọ trung bình thấp, tỉ lệ bệnh tật và tử vong cao, điều kiện vệ sinh môi trường không đảm bảo gây nhiều bệnh tật, điều kiện phục vụ và dịch vụ y tế giảm (thiếu bệnh

viện, giường bệnh, thuốc men, dụng cụ y tế, đội ngũ y tá và bác sĩ)

Ngoài ra, sự gia tăng dân số còn ảnh hưởng đến nhiều khía cạnh khác nhau của CLCS (thiếu lương thực, thực phẩm, nhà ở và việc làm, dẫn đến sự bần cùng hóa cũng như các điều kiện sinh hoạt, giao thông và các dịch vụ xã hội khác bị giảm sứt nghiêm

trọng

- Qui mô gia đình được đo bằng số con trong gia đình

Qui mô gia đình hợp lý (qui mô gia đình hạt nhân, qui mô gia đình nhở) là gia đình chỉ có bố mẹ và từ 1 đến 2 con Cần lựa chọn gia đình có qui mô nhở vì:

+ Lao động của cha mẹ chỉ đủ đáp ứng cho cuộc sông tối thiểu của 3 đến 4 người

Trang 31

+ Cha mẹ cũng cần đảm bảo sức khoẻ và phát triển

+ Con cái cũng cần thởa mãn nhu cầu ăn, mặc, học hành

Như vậy, việc xây dựng qui mô gia đình hợp lý, xét đến cùng là vì đảm bảo cho

nền kinh tế xã hội và CLCS của mỗi cá nhân, gia đình và xã hội

Xây dựng qui mô gia đình hợp lý không tách rời vấn đề KHHGĐ, tuổi kết hôn

hợp lý, quan niệm về giá trị con trai, con gái, khoảng cách giữa hai lần sinh

- CLCS gia đình: CLCS gia đình thường được thể hiện ở việc đảm bảo mức lương thực và thực phẩm cần thiết, có đủ quần áo, đủ diện tích tối thiểu về nhà ở, con cái được học hành, có điều kiện tối thiểu để vui chơi giải trí, có trình độ văn hóa, có kinh tế ổn định

CLCS gia đình phụ thuộc trực tiếp vào qui mô gia đình và việc sử dụng tài sản

cửa gia đình

Trách nhiệm làm cha mẹ thể hiện:

- Xác định qui mô gia đình, khoảng cách giữa các lần sinh, vì nó ảnh hưởng đến CLCS của gia đình

- Đảm bảo sức khoẻ của mẹ và con Nuôi nấng dạy dỗ con cái khoẻ mạnh, ngoan ngoãn, học hành tốt

- Chăm sóc mẹ già, nêu gương tốt cho con cái

Để hoàn thành trách nhiệm làm cha mẹ, các bạn trẻ cần có những điều kiện:

- Trưởng thành về mọi mặt, biết cách ứng xử đứng đắn trong mọi mối quan hệ

của gia đình và xã hội, làm mẫu mực cho trẻ noi theo

- Có những hiểu biết về khoa học giáo dục và ứng dụng sáng tạo trong các tỉnh

huống giáo dục cụ thể, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý trẻ Bởi vì, cha mẹ ngoài ý nghĩa sinh thành, nuôi nấng, họ còn là thầy cô giáo đầu tiên, là người bạn tâm tỉnh, người cổ vũ, động viên đối với trẻ

- Biết thực hiện kế hoạch hóa gia đình để tạo điều kiện nuôi dạy con

Trang 32

1.3.2.2.3.Tu ổi kết hôn hợp lý

Luật hôn nhân gia đình nước ta qui định: nam từ 20 tuổi trở lên, nữ từ 18 tuổi trở lên mới được kết hôn Qui định như vậy đã có tỉnh đến sự trưởng thành về sinh lý và tâm lý, cũng như khả năng tự lập về kinh tế để có thể quyết định việc xây dựng gia đình Trong tỉnh hình kinh tế xã hội của nước ta, thanh niên cần lấy vợ, lấy chồng

muộn hơn tuổi qui định Phong trào vận động "gái 22, trai 26" không phải là việc làm trái luật Hôn nhân và Gia đình mà còn là việc làm cần thiết, bởi lẽ, nó xuất phát từ lợi ích của xã hội, gia đình và bản thân của mỗi thanh niên

- Đối với xã hội: Việc vận động kết hôn muộn sẽ đóng góp đáng kể vào việc hạ

tỉ lệ gia tăng dân số

- Đối với gia đình: Tạo điều kiện cho thanh niên có những tri thức cần thiết làm tròn trách nhiệm làm vợ, làm chồng, làm cha, làm mẹ và chăm sóc nuôi dạy con cái

- Đối với bản thân: Kết hôn ở tuổi trên, thanh niên sẽ có quãng thời gian sung

sức của đời người để học tập, lao động và phấn đấu

Để thực hiện qui mô gia đình hợp lý, tránh đẻ dày, đẻ nhiều, vấn đề chủ yếu là

phải biết cách làm chủ việc thụ thai và sinh đẻ Muốn vậy, các cặp vợ chồng cần phải

biết và sử dụng các biện pháp tránh thai

Theo tài liệu của UBQGDS- KHHGĐ có các phương pháp tránh thai sau:

- Dùng thuốc tránh thai: Có tác dụng ức chế rụng trứng, làm đặc niêm mạc cổ tử cung để ngăn không cho các tinh trùng lọt qua Phương pháp này có hiệu quả cao và

phải uống đều hàng ngày

- Dụng cụ tử cung: Được đặt trong tử cung và có tác dụng làm bất động tinh trùng, ngăn ngừa sự thụ tinh Phương pháp này không ứng dụng đối với phụ nữ có

bệnh lây lan qua đường tỉnh dục, có dị dạng tử cung

- Phương pháp phẫu thuật (triệt sản): Như thắt vòi trứng (đình sản nữ) và thắt ống dẫn tinh (đình sản nam), phương pháp này có hiệu quả cao, chỉ làm phẫu thuật

một lần, chi phí rẻ, có tác dụng lâu dài, nhưng chỉ dùng cho những ai không muốn có

Trang 33

con thêm nữa

- Phương pháp ngăn cách như dừng bao cao su, có tác dụng ngăn tinh dịch lọt vào âm đạo, giúp tránh được các bệnh lây lan qua đường tỉnh dục, kể cả bệnh HIV/AIDS Tuy nhiên, dùng phương pháp này tỉ lệ thất bại cao do bao cao su bị

thủng Ngoài ra còn có thể dùng màng ngăn âm đạo và mũ tử cung hay các chất diệt tinh trùng

- Phương pháp truyền thông (tránh thai tự nhiên): Kiêng giao hợp định kỳ (phải kiêng giao hợp từ ngày thứ 8 đến ngày thứ 23 của vòng kinh), thường áp dụng cho

những chị em có vòng kinh đều đặn, tỉ lệ thất bại cao, nên sử dụng kết hợp với phương pháp 'dùng túi cao su" trong những ngày không an toàn hay 'xuất tinh ngoài

âm đạo"

Bệnh tỉnh dục là một nhóm bệnh xã hội được lây truyền từ người này sang người khác chủ yếu qua sự tiếp xúc về tỉnh dục

Trong số các bệnh tỉnh dục, hai bệnh phổ biến nhất là "bệnh lậu" và "bệnh giang mai" AIDS (Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải) cũng là loại bệnh tỉnh dục nguy hiểm nhất mới được phát hiện gần đây

* Bệnh lậu:

- Tên khoa học là Gonocoocki (lậu cầu khuẩn),

- Triệu chứng phổ biến: Chảy mủ ở dương vật (đối với nam) hoặc ở âm đạo (đối

với nữ) và cảm giác buốt, rát khi tiểu

- Tác hại: Nếu không được chữa trị kịp thời sẽ dẫn đến khả năng vô sinh (ở nam) hay tắc một phần hay hoàn toàn ống dẫn trứng (ở nữ) và các biến trứng khác

Người mắc bệnh lậu cần sớm đến các trạm y tế để được điều trị bằng Peniciline

hoặc các thuốc kháng sinh khác

* Bệnh giang mai:

- Do xoắn khuẩn (Treponema Pallidum) gây ra

Trang 34

- Triệu chứng (qua 4 giai đoạn): Lúc đầu là những vết loét giang mai, sau đó là

những vết sần màu hồng như bị phát ban toàn cơ thể và ở giai đoạn cuối có các tổn thương ở tim, não và các phủ tạng khác làm cho bệnh trở nên nghiêm trọng

- Nếu không được chữa tri, bệnh giang mai có thể dẫn đến những tổn thương cho

hệ thần kinh, tuần hoàn và các cơ quan nội tạng khác Khi người mẹ mang thai mà

mắc bệnh giang mai có thể gây ra những khuyết tật, mù loà và tử vong ở trẻ sơ sinh

- Điều trị bằng Peniciline và các loại kháng sinh khác

*AIDS- (hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải) - một căn bệnh phá hủy hệ

thống miễn dịch của cơ thể do một loại vi rút HIV gây ra

- Virut HIV là một họ của virut mang cơ cấu di truyền là acit dezoxiribonucleic (AND)

- Người nhiễm HIV, thường mắc các căn bệnh cơ hội (viêm phổi, nấm họng, lao, viêm ruột, sốt, sụt cân nhanh, tiêu chảy hàng tháng mà không rõ nguyên nhân và có

thể bị ung thư)

- Cách phát hiện người bị nhiễm HIV: Phải dùng xét nghiệm để phát hiện ra sự

cố mặt của những kháng thể, điều đó chứng tở cơ thể đã bị nhiễm virut

- Đường lây truyền:

+ Sinh hoạt tỉnh dục với người bị nhiễm virut HIV mà không sử dụng bao cao su

hoặc sử dụng không đúng kỹ thuật

+ Dùng chung bơm, kim tiêm với người bị nhiễm virut HIV, nếu các dụng cụ này không được khử trùng tốt (qua tiêm chích xì ke, ma tuý, truyền máu ) hoặc dùng máu có virut HIV

+ Phụ nữ bị nhiễm virut HIV mà có thai, có thể sẽ truyền virut cho con

- Điều trị: Chưa tìm ra thuốc ngừa và thuốc chữa trị có hiệu quả

- Cách phòng tránh lây nhiễm virut HIV/SIDA:

+ Giữ gìn tỉnh yêu chung thủy, một vợ, một chồng Tránh quan hệ tỉnh dục với

những người mà mình không biết có nhiễm virut HIV hay không, phải sử dụng bao

Trang 35

cao su và sử dụng đúng kỹ thuật

+ Không tiêm chích xì ke, ma tuý

+ Đối với phụ nữ, nếu biết mình đã bị nhiễm virut HIV, không nên có thai, nếu

có thai phải đến ngay cơ sở y tế để phá thai

1.3.3.Ph ương pháp dạy học GDDS trong nhà trường

Quá trình dạy học GDDS trong trường sư phạm nếu được tiến hành bằng những phương pháp thích hợp sẽ góp phần nâng cao trình độ nhận thức của sinh viên về vấn

đề này

Phương pháp dạy học là tổng hợp những cách thức hoạt động của thầy và trò góp

phần tích cực vào việc thực hiện quá trình nhận thức độc đáo của người học

Phương pháp dạy học nào cũng có ưu điểm và nhược, mặt mạnh và yếu Không

có phương pháp nào là vạn năng Nhiệm vụ của giáo viên là phải lựa chọn những phương pháp dạy học căn cứ vào mục tiêu môn học, đặc điểm nội dung môn học, đặc điểm người học, khả năng của người dạy và cả điều kiện vật chất, trang thiết bị dạy

- Nội dung GDDS mang tỉnh chất liên môn, chứa đựng những giá trị và về bản

chất còn nhiều tranh cãi Những vấn đề dân số thường là những vấn đề mà mọi người đều có ít nhiều vốn sống hay nhận thức tày thuộc vào điều kiện sống và hoàn cảnh cụ

thể của mình Do đó, nó là những vấn đề cần được tranh luận, bàn cãi, phân tích, đánh giá và quyết định trên cơ sở lý lẽ Vì vậy, dạy GDDS không phải là đọc cho người nghe một cách thụ động những kiến thức, áp đặt một giá trị này hay giá trị khác buộc người học phải thừa nhận, mà tốt nhất là dạy thế nào để người học tự nguyện, tự giác

Trang 36

suy nghĩ, cân nhắc và rồi tự mình rút ra kết luận hay những bài học bổ ích

- Đối tượng học GDDS ở những trường sư phạm là những nam, nữ sinh viên, họ

đã có một vốn kiến thức và vốn sống nhất định, họ đã được chuẩn bị cách thức học tập

ở nhà trường phổ thông, hoạt động học tập của sinh viên mang tỉnh chất nghiên cứu cao, bản thân sinh viên vừa là học sinh vừa là một người nghiên cứu Vì thế phương pháp dạy học ở bậc đại học nói chung và phương pháp dạy học GDDS nói riêng chủ

yếu là dạy cho sinh viên phương pháp tiếp cận tri thức hơn là cung cấp khối lượng thông tin, dạy cho sinh viên cách thức, kỹ năng của một cán bộ nghiên cứu khoa học

Trong lý luận dạy học, thường có những quan điểm khác nhau xoay quanh vấn

đề vai trò của giáo viên và học sinh trong hoạt động dạy - học, chung qui chỉ theo hai hướng sau:

- Hướng thứ nhất là tập trung vào hoạt động dạy và người giáo viên, ta có kiểu

dạy học hướng tập trung vào giáo viên (còn gọi là "lấy giáo viên làm trung tâm")

- Hướng thứ hai là tập trung vào hoạt động học và người học, ta có kiểu dạy học hướng tập trung vào học sinh (còn gọi là "lấy học sinh làm trung tâm")

* Đặc điểm của kiểu dạy học hướng tập trung vào giáo viên

Giáo viên cung cấp thông tin, số liệu, dự kiện thông qua việc giảng giải, mô tả,

Học sinh nghe, ghi nhớ và tái hiện thông tin, học sinh lặp lại những câu trả lời đúng cho một tỉnh huống Học sinh thu nhận thông tin một cách thụ động, sự tham gia của

học sinh vào quá trình dạy - học chỉ hạn chế ở việc hởi và trả lời những vấn đề mà

thầy giáo đã giảng Khi chuẩn bị bài giảng, giáo viên chỉ tập trung vào việc thiết kế

hoạt động của mình, hoạt động của học sinh phụ thuộc vào hoạt động của giáo viên

Do đó, giáo viên luôn giữ vai trò chủ yếu trong quá trình dạy - học, có uy tỉn tuyệt đối trong lớp

Phương pháp chủ yếu của kiểu dạy học này là thuyết trình hay vấn đáp, dùng sách giáo khoa hoặc tài liệu khác để ghi nhớ, tái hiện bài giảng Phương tiện cơ bản để

thực hiện phương pháp này là lời nói sinh động của giáo viên

Trang 37

* Đặc điểm của kiểu dạy học hướng tập trung vào học sinh

Trong kiểu dạy học này, toàn bộ quá trình dạy học đều hướng vào nhu cầu, khả năng, quyền lợi của học sinh Chú trọng phát triển kỹ năng tự học, kỹ năng giải quyết

vấn đề Giáo viên và học sinh cùng tìm tòi, xem xét các khía cạnh khác nhau của vấn

đề hay chủ đề nghiên cứu Giáo viên hướng dẫn học sinh tích cực tham gia vào quá trình dạy học Người giáo viên không đơn giản chỉ nói cho học sinh giải pháp của vấn

đề mà tạo ra các tỉnh huống để phát triển vấn đề, thu thập tài liệu mà học sinh có thể

sử dụng được, giúp học sinh nhận biết các vấn đề, lập giả thuyết, thể nghiêm các giả thuyết và rút ra kết luận Do đó trong kiểu dạy học này, giáo viên là người định hướng, dẫn dắt, là cố vấn và là người trọng tài Còn học sinh là người chủ động, tự giác, tích cực, độc lập và sáng tạo lĩnh hội tri thức Họ không chỉ học những khái

niệm, thông tin mà chủ yếu là học phương pháp, học cách học, học cách giải quyết

vấn đề Nhờ vậy mà hình thành ổ học sinh tinh thần phê phán, tư duy linh hoạt và sáng

tạo, lòng khao khát tìm kiếm tri thức, sự say mê trong tìm tòi và khám phá, tinh thần làm việc cùng nhau và hàng loạt những phẩm chất tâm lý quan trọng khác Các phương pháp dạy học cụ thể của kiểu dạy học này là: phương pháp động não, phương pháp tìm tòi khám phá/giải quyết vấn đề, phương pháp thảo luận, xemina và phương pháp sắm vai

Tóm lại, có nhiều phương pháp dạy học GDDS Nhưng vấn đề lớn đặt ra trước

chứng ta là phải tìm cách dạy học GDDS như thế nào để học sinh luôn tích cực, chủ động, hứng thú học tập Học qua làm là học tốt nhất Mọi phương pháp đều có ích, nhưng nến lựa chọn những phương pháp trên là những phương pháp "học qua làm" để

tạo điều kiện cho sinh viên tham gia một cách tối đa vào quá trình lĩnh hội tri thức

Cần lưu ý rằng, một phương pháp không thể tự nó biến thành mục đích mà nên được sử dụng như là một phương tiện để đạt mục đích của việc dạy học Mặt khác, trong quá trình dạy học GDDS cần sử dụng phối hợp nhiều phương pháp khác nhau,

vận dụng chúng một cách linh hoạt phù hợp với tỉnh đa dạng của đối tượng, hoàn

cảnh, điều kiện của tỉnh huống cụ thể, phù hợp với nội dung kiến thức, phù hợp với

mục tiêu của chính sách dân số quốc gia

Trang 38

1.4.VAI TRÒ C ỦA TRƯỜNG ĐHSP TRONG CÔNG TÁC GDDS

1.4.1.M ục đích GDDS trong trường ĐHSP:

Nhiệm vụ của trường sư phạm là đào tạo giáo viên cho các bậc học, giáo viên

vừa là người công dân, là người tuyên truyền đường lối giáo dục của Đảng và Nhà nước, người có trách nhiệm tham gia vào đội quân tuyên truyền giáo dục chính sách dân số cho nhân dân, người trực tiếp thực hiện công tác GDDS cho học sinh trong nhà trường Do đó, việc triển khai GDDS là một việc làm thiết thực nằm trong quá trình

cải cách sư phạm

GDDS trong các trường sư phạm nhằm đào tạo giáo sinh và sinh viên nắm vững

bản chất, mục đích yêu câu, nội dung kiến thức, phương pháp, kỹ năng GDDS để sau khi ra trường có thể giảng dạy nội dung này đối với các ngành học phổ thông và sư

phạm

1.4.2.Nhi ệm vụ GDDS trong trường ĐHSP:

- Tiến hành GDDS cho sinh viên sư phạm

- Tham gia bồi dưỡng về GDDS cho giáo viên phổ thông, mầm non và chuẩn bị đội ngũ cán bộ về GDDS

- Tham gia nghiên cứu khoa học, thực nghiệm khoa học về GDDS và tham gia

phổ biến tuyên truyền về GDDS

1.4.3.Bi ện pháp GDDS trong trường ĐHSP:

- Một giáo trình chuyên đề "GDDS" để cung cấp cho người học những hiểu biết

về tỉnh hình dân số, những khái niệm cơ bản của "Dân số học", chính sách dân số của Đảng và Nhà nước, những nội dung và phương pháp GDDS trong trường học

- Kết hợp GDDS vào các môn học: Tâm lý học, Giáo dục học, Sinh lý học, Địa

lý học, Chính trị

- Tiến hành GDDS thông qua những hoạt động của tập thể sư phạm: Đoàn thanh niên và Công đoàn giáo dục (tổ chức nghe báo cáo chuyên đề về những vấn đề của GDDS, tổ chức các cuộc thi tìm hiểu về GDDS, sinh hoạt câu lạc bộ )

Ngoài ra, trong quá trình giảng dạy bộ môn, giảng viên có thể lấy ví dụ minh họa

Trang 39

bài giảng về GDDS, đưa ra những bài tập tỉnh toán về tỉnh hình gia tăng dân số Quá trình dạy học GDDS phải gắn chặt với thực tế sinh động của cuộc sống Giáo dục không phải chỉ là quá trình chuẩn bị cho học sinh bước vào cuộc sống mà là quá trình đưa học sinh vào cuộc sống

Do đó, ngoài việc tiến hành giảng dạy GDDS cho sinh viên, trường ĐHSP cần thiết tham gia các đề tài khoa học như: điều tra tỉnh hình GDDS, tìm hiểu quan hệ

giữa sự gia tăng dân số với việc phát triển kinh tế xã hội, với việc phổ cập giáo dục, nghiên cứu nội dung, phương pháp GDDS ở trường học, nghiên cứu những phong tục

tập quán của nhân dân về các vấn đề hôn nhân, gia đình, giá trị con trai, con gái Chúng ta có thể huy động sinh viên cùng tham gia nghiên cứu vừa sức tuỳ từng điều

kiện và mức độ khó của vấn đề nghiên cứu

Không những thế, trường ĐHSP thường xuyên tổ chức các buổi nói chuyện về

tỉnh hình dân số, chính sách dân số, kết hợp với các đợt thực tế giáo dục, thực tập sư

phạm để tổ chức tuyên truyền phổ biến về mặt công tác này, lực lượng thực hiện lĩnh

vực này là đội ngũ chuyên viên, cộng tác viên của trang tâm GDDS đặt tại trường Tóm lại, trường ĐHSP có vị trí hết sức quan trọng là luôn đi trước một bước ứong việc GDDS - một nhiệm vụ mới mẻ nhưng có ý nghĩa chiến lược cùng với việc đào tạo thế hệ trẻ cho tương lai

Trang 40

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NHẬN THỨC CỦA SINH VIÊN ĐHSP TP HCM VỀ MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA GDDS

Để tiến hành nghiên cứu, chúng tôi đã chọn mẫu khảo sát có các đặc điển sau:

mẫu không quá nhở (khoảng 200 sinh viên), cân đối giữa sinh viên nam và sinh viên

nữ đang học năm đầu và năm cuối của chuyên ngành - chứa đựng nhiều hay ít những thông tin của GDDS thuộc khoa học tự nhiên và khoa học xã hội Việc chọn mẫu như

vậy, nhằm tìm ra sự khác biệt về mức độ nhận thức giữa các đặc điểm của mẫu khảo sát

Trong trường ĐHSP TP.HCM, hai khoa có chương trình đào tạo mang những nét rất riêng biệt của khoa học tự nhiên hay khoa học xã hội và có số lượng sinh viên

lổn nhất ttong trường là khoa Toán (đại diện cho ban khoa học tự nhiên) và khoa Văn (đại diện cho ban khoa học xã hội)

Ở bậc đại học, sinh viên được đào tạo theo những chuyên ngành, nội dung kiến

thức của từng chuyên ngành mang những nét đặc thù nhất định Có những chuyên ngành, do đặc thù của môn học mà bản thân chứng đã chứa đựng những kiến thức

nhất định về GDDS như: chuyên ngành Sinh vật, Địa lý, Tâm lý - Giáo dục, Giáo dục chính trị (nhóm 2), trong khi đổ có những chuyên ngành đào tạo mà bản thân các môn

học cơ bản trong chương trình không gắn nhiều với tri thức của GDDS như: Toán học,

Vật lý, Hoá học, Văn học (nhóm 1) Nên trong mẫu điều tra, chúng tôi chọn chuyên ngành Toán và Văn (đại diện cho nhóm 1) với chuyên ngành Địa lý và Sinh vật (đại

diện cho nhóm 2)

Sinh viên trường ĐHSP phải trải qua 4 năm đào tạo, ứng với mỗi năm học, các

em được cung cấp khối lượng tri thức nhất định, chúng có ảnh hưởng đến trình độ

nhận thức nói chung, trong đó có nhận thức về GDDS của sinh viên Nếu sinh viên sư

phạm có được học môn (chuyên đề) "GDDS" thì sẽ học vào năm thứ 3 hay năm thứ 4

Vì thế trong mẫu điều tra chúng tôi chọn sinh viên năm thứ I và sinh viên năm thứ IV

để so sánh

Nhìn vào bảng 1 (trang 36) ta thấy:

Ngày đăng: 15/08/2016, 11:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w