1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN DI CƢ TẠI CÁC TỈNH THÀNH VIỆT NAM

48 338 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 48
Dung lượng 819,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài này sẽ khảo sát các đặc tính về kinh tế và chất lượng cuộc sống giáo dục, y tế của từng tỉnh, thành phố có tác động như thế nào đến số người di cư tại địa phương đó Mục tiêu nghiê

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN QUỐC TUẤN

NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN DI CƯ

TẠI CÁC TỈNH THÀNH VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SỸ

GVHD : TS Phan Nữ Thanh Thủy

TP HỒ CHÍ MINH, 06/2009

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

MỞ ĐẦU 3

Đặt vấn đề 3

Mục tiêu nghiên cứu 4

Mục tiêu tổng quát 4

Mục tiêu cụ thể 4

Câu hỏi nghiên cứu 5

Phương pháp nghiên cứu 5

Các số liệu được sử dụng 6

Phương pháp thu thập số liệu 7

Phạm vi nghiên cứu 8

Thời gian 8

Không gian 8

Nội dung 8

Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 8

Kết cấu của báo cáo đề tài 9

Chương 1 : CƠ SỞ LÝ THUYẾT 11

1.1 Các khái niệm về di cư 11

1.2 Các lý thuyết có liên quan đến di cư 13

1.2.1 Mô hình Harris – Todaro 13

1.2.2 Mô hình chuyển dịch lao động 15

1.2.3 Mô hình kinh tế của Di cư 17

1.2.4 Các yếu tố hút đẩy 18

Trang 2

1.2.5 Giới tính người di cư 20

1.3 Các nghiên cứu đã có liên quan đến chủ đề di cư 21

Chương 2 : PHÂN TÍCH DI CƯ TẠI VIỆT NAM 26

2.1 Thực trạng di cư 26

2.2 Các nhân tố tác động 32

2.3 Mô hình phân tích 41

2.4 Phân tích 44

2.4.1 Sự tương quan giữa các biến 44

2.4.1.1 Tương quan giữa các biến độc lập, biến phụ thuộc và hiệu chỉnh dị biệt 44

2.4.1.2 Tương quan giữa các biến độc lập 49

2.4.2 Kết quả mô hình hồi quy 52

2.5 Phân tích Kết quả 54

2.6 Kết quả trả lời các câu hỏi nghiên cứu 62

Chương 3 : KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 64

3.1 Kết luận 64

3.1.1 Kết quả nghiên cứu 64

3.1.2 Hạn chế của đề tài 65

3.2 Kiến nghị 66

PHỤ LỤC 74

TÀI LIỆU THAM KHẢO 74

MỞ ĐẦU

Đặt vấn đề

Di cư luôn là vấn đề kinh tế xã hội có tác động đến mọi khu vực trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng Từ xưa đến nay, hiện tượng di cư diễn ra lúc mạnh mẽ, lúc âm thầm và kéo theo nhiều hệ lụy tích cực lẫn tiêu cực tại Việt Nam Kể từ khi Việt Nam bắt đầu công cuộc cải cách, mở cửa kinh tế thì hiện tượng di cư càng diễn ra rõ ràng hơn

Hiện tượng di cư luôn chiếm nhiều mối quan tâm của các nhà kinh tế cũng như xã hội học do các vấn đền nảy sinh kèm theo Di cư kéo theo nguồn cung lao động giảm đi ở nơi người di cư ra đi và tăng lên ở nơi họ chuyển đến Bên cạnh sự thay đổi lực lượng lao động chân tay, di cư còn kéo theo sự di chuyển của lượng chất xám, nhân lực trí tuệ từ khu vực này đến khu vực khác Di cư giúp cân bằng hoặc giảm cầu lao động tại khu vực có người di cư đến, làm giảm chi phí lao động và góp phần tăng lợi nhuận cho người sử dụng lao động Tuy nhiên, di cư cũng làm gia tăng các vấn đề xã hội như bất ổn về an ninh, y tế, chính trị, …Lợi ích và chi phí của hiện tượng di cư tại nơi di cư đi

và nơi di cư đến luôn ở trạng thái thiên lệch

Đối với những khu vực tập trung đông người di cư đến, các chính sách về kinh tế, xã hội đều phải dành một sự quan tâm đến đối tượng này nhằm sử dụng họ tốt nhất đồng thời giảm thiểu các thiệt hại do họ gây ra Ngược lại, tại những nơi người di cư ra đi, các chính sách đưa ra cũng nhằm tận dụng tốt nhất sự ra đi của họ hoặc loại bỏ các tiêu cực mà sự ra đi của họ đem lại Tại Việt Nam, di cư giữa các tỉnh thành thường bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân khác nhau nhưng chủ yếu là do sự chênh lệch trong mức độ phát triển kinh tế Một số tỉnh, thành phố do nhiều hạn chế về địa lý, giao thông, … kinh

Trang 3

tế phát triển chậm, chủ yếu tập trung ở lĩnh vực nông nghiệp, thu nhập do đó

cũng thấp và không ổn định Ngược lại, một số tỉnh, thành phố phát triển

mạnh mẽ, là đầu tàu kinh tế của cả nước, tập trung nhiều doanh nghiệp hoạt

động sản xuất, thị trường hàng hóa dịch vụ phát triển mạnh và do đó, tạo ra

nhiều việc làm cộng với mức thu nhập cao hơn; đi kèm với kinh tế, các dịch

vụ về giáo dục, chăm sóc sức khỏe cũng phát triển tương ứng

Đề tài này sẽ khảo sát các đặc tính về kinh tế và chất lượng cuộc sống (giáo

dục, y tế) của từng tỉnh, thành phố có tác động như thế nào đến số người di cư

tại địa phương đó

Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát

Mục tiêu của nghiên cứu này là phân tích hiện tượng di cư diễn ra ở các tỉnh

thành tại Việt Nam và tìm ra những nhân tố có tác động đến khả năng di cư

tại các tỉnh thành này

Mục tiêu cụ thể

Tìm ra mối liên hệ giữa các vấn đề kinh tế như việc làm, thu nhập, các ảnh

hưởng về chất lượng cuộc sống như y tế, giáo dục với hiện tượng di cư tại các

tỉnh thành

Phân tích sự tác động của các yếu tố di cư đến cơ cấu lực lượng di cư theo

giới tính

Phân tích sự khác nhau của hiện tượng di cư chia theo vùng địa lý (Đồng bằng

sông Hồng, Đông Bắc, Tây Bắc, Bắc Trung bộ, Duyên hải Nam Trung bộ,

Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu long)

Trên cơ sở kết quả phân tích, đề xuất một số khuyến nghị nhằm phát huy những tích cực cũng như giảm thiểu mặt tiêu cực của hiện tượng di cư giữa

các vùng trong cả nước

Câu hỏi nghiên cứu

Để thực hiện được những mục tiêu trên, các câu hỏi nghiên cứu được đặt ra như sau:

1 Số lượng người di cư đến từng tỉnh thành như thế nào ? Các nhân tố về kinh tế và chất lượng sống như y tế, giáo dục có tác động như thế nào đến số

di cư tại từng tỉnh thành ?

2 Những tác động của các nhân tố trên đến số người di cư là nam và nữ khác nhau ra sao ? Nguyên nhân của sự khác nhau này là gì ?

3 Có hay không sự khác biệt trong di cư giữa các vùng địa lý trong cả nước ?

Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp được sử dụng trong nghiên cứu này bao gồm phân tích mô tả số lượng người di cư và các nhân tố tác động, phân tích mối tương quan giữa các biến số này Phương pháp hồi quy bình phương nhỏ nhất (OLS) sẽ được sử dụng để tìm sự tác động của từng nhân tố đến số người di cư tại từng tỉnh thành

Trên cơ sở dữ liệu thô, các dữ liệu sẽ được thay đổi thang đo phù hợp (chia theo tỉ lệ bình quân đầu người) Sau đó, sử dụng các phương pháp phân tích

mô tả và so sánh sự thay đổi, mối tương quan giữa di cư đến từng địa phương

và các biến số về khả năng tìm được việc làm, thu nhập, chất lượng cuộc sống (y tế, giáo dục), nhóm giới tính và thực hiện hồi qui theo phương pháp OLS

để khảo sát tác động của riêng từ nhân tố đến số di cư từng địa phương

Trang 4

Kết quả phân tích sẽ được so sánh với các nghiên cứu tương tự (thực hiện

theo phương pháp thống kê mô tả) nhằm tìm ra điểm khác nhau và giải thích

nguyên nhân của sự khác nhau này

Các số liệu được sử dụng

Số liệu về di cư sử dụng trong đề tài là số liệu di cư bình quân trong vòng 3

năm gần nhất (bao gồm 2005, 2006 và 2007) của tất cả 64 tỉnh thành trong cả

nước

Cụ thể, số liệu được lấy từ các điều tra biến động dân số hàng năm Hiện tại,

Tổng cục Thống kê đã thực hiện một (01) cuộc điều tra về di cư trong năm

2004 và bốn (04) cuộc điều tra biến động dân số tại thời điểm ngày 01/04

hàng năm từ 2004 đến 2007, trong đó số liệu điều tra biến động dân số của

ba năm 2004, 2005 và 2006 đã được công bố chính thức trên trang web của

Tổng cục Thống kê1

, riêng số liệu điều tra của năm 2007 chưa được công bố chính thức, trong nghiên cứu này số liệu năm 2007 được thu thập trên ấn

phẩm của Quỹ dân số Liên Hiệp Quốc (bản tiếng Anh)

Số liệu di cư sẽ lấy theo số di cư thuần, tức là hiệu số giữa số người đến và số

người đi một địa phương Ngoài ra, số lượng di cư cũng được phân theo giới

tính nam và nữ nhằm khảo sát sự khác nhau trong tác động của các nhân tố

đến hai đối tượng này

Các số liệu để khảo sát tác động đến di cư được lấy tại thời điểm trước khi sự

di cư thực hiện Các số liệu này cũng được tính bình quân trong vòng 3 năm

trước khi có kết quả di cư Do kết quả điều tra dân số được tiến hành tại thời

điểm 01/04 hàng năm nên các số liệu khảo sát các nhân tố tác động sẽ lấy

trong một năm trước đó Cụ thể số liệu các nhân tố tác động trong năm 2004

1 Xem Mục Các cuộc điều tra, phần Dân số và Lao động trên trang web : www.gso.gov.vn

sẽ được khảo sát cho di cư năm 2005, tương tự cho di cư năm 2006 và 2007 Các số liệu liên quan đến thu nhập và khả năng tìm được việc làm bao gồm : GDP từng địa phương; Giá trị sản xuất nông nghiệp; Diện tích cây lương thực

có hạt; Giá trị sản xuất công nghiệp ngoài Nhà nước, Giá trị sản xuất công nghiệp khu vực Nhà nước; Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

Số liệu liên quan đến chất lượng cuộc sống bao gồm:

Y tế : lấy đại diện theo Số giường bệnh ; Số cán bộ y tế bình quân

Giáo dục : lấy đại diện theo Số giáo viên, số sinh viên đại học và cao đẳng Ngoài ra, yếu tố địa lý giữa các vùng miền cũng được khảo sát, đại diện sẽ là khoảng cách ngắn nhất (tính bằng km) giữa các địa phương đến hai đầu đất nước (TP HCM và Hà Nội)

Phương pháp thu thập số liệu

Các số liệu được thu thập chủ yếu từ các nguồn sẵn có trên Internet Nguồn

dữ liệu thô thừa hưởng từ những cuộc điều tra, khảo sát, thu thập về biến động dân số của các cơ quan chuyên về lĩnh vực thống kê và dân số, cụ thể là Tổng cục Thống kê và Quỹ dân số Liên Hiệp Quốc Địa chỉ nguồn số liệu biến động dân số các năm như sau :

01/04/2005 : http://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=407&idmid=4&ItemID=4488 01/04/2006 : http://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=407&idmid=4&ItemID=6849 01/04/2007 : http://vietnam.unfpa.org/documents/2008/PCS%201.4.2007.pdf

Dữ liệu thô sau khi được thu thập sẽ được tính toán theo yêu cầu đề tài như tính theo mức bình quân, thay đổi thang đo, xử lý loại bỏ các biến dị biệt trước khi được phân tích và đưa vào mô hình kinh tế lượng

Trang 5

Phạm vi nghiên cứu

Thời gian

Số liệu di cư từng địa phương tính bình quân trong các năm 2005 - 2007 sẽ

được khảo sát theo các nhân tố tác động từ các năm 2004 – 2006 (cũng được

tính theo mức bình quân) Mặc dù thời gian khảo sát từ 2005 đến 2007, nhưng

về hình thức, ước lượng này mang tính chất tại một thời điểm hơn là ước

lượng theo thời gian

Không gian

Đề tài này nghiên cứu di cư trong phạm vi quốc gia Toàn bộ 64 tỉnh thành

trong cả nước sẽ được khảo sát các nhân tố tác động đến di cư từng địa

phương Do đó, 64 tỉnh thành này được xem như 64 biến số trong quá trình

khảo sát

Di cư quốc tế không thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài này

Nội dung

Nội dung của việc nghiên cứu này là nhằm tìm ra các nhân tố về kinh tế như

thu nhập, khả năng tìm được việc làm, các nhân tố về chất lượng cuộc sống

như y tế, giáo dục, có tác động như thế nào đến việc di cư tại từng tỉnh

thành

Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Trước khi quyết định di cư, người di cư luôn cần có thông tin về nơi mà họ sẽ

đến Rõ ràng là người di cư ở Việt Nam có nhiều nguồn thông tin và dựa trên

các thông tin mà họ xem là tin cậy để quyết định nơi mình sẽ đến Theo khảo

sát của Tổng cục Thống kê và Quỹ dân số Liên Hiệp Quốc (2004), phần lớn

thông tin đến từ họ hàng và bạn bè, khoảng 20% người di cư đã đến thăm nơi

mà họ sẽ chuyển tới, khoảng 14% có thông tin từ các phương tiện thông tin đại chúng và chỉ 1% là từ các cơ quan giới thiệu việc làm của chính phủ hoặc

tư nhân Vì thế, đối với các nhà làm chính sách về di cư, hiểu biết các thức quyết định di cư, tức thông tin về nơi họ sẽ đến cũng như nơi họ ra đi là rất quan trọng nhằm đưa ra chính sách phù hợp để quản lý dòng di cư một cách hiệu quả

Đề tài sẽ tập trung phân tích tác động của các đặc tính về sự tăng trưởng kinh

tế của từng địa phương đến số lượng người di cư đến địa phương đó thay vì

tập trung vào hành vi và phản ứng của người di cư như các nghiên cứu trước đây Bên cạnh việc tập trung khảo sát tác động của yếu tố kinh tế, các yếu tố liên quan đến chất lượng sống tại địa phương đến di cư cũng sẽ được xem xét Ngoài hai yếu tố về kinh tế và xã hội trên, đề tài cũng tìm hiểu và giải thích

mức độ tác động đến số lượng và giới tính người di cư từ các yếu tố khác

như khác biệt theo vùng địa lý trên cả nước và khoảng cách giữa các điểm di

Kết cấu của báo cáo đề tài

Báo cáo bao gồm 3 chương và phụ lục các mẫu biểu, số liệu kèm theo, cuối cùng là phần phụ lục tài liệu tham khảo

Chương 1 trình bày các cơ sở lý thuyết và một số nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài đã được thực hiện Mô hình phân tích sẽ được xây dựng dựa trên các cơ sở này

Chương 2 giới thiệu khung phân tích, các nhân tố tác động và mô hình dự kiến của đề tài dựa trên cơ sở lý thuyết trong Chương 1 Dựa trên phạm vi số liệu tìm được, chương này mô tả và phân tích dữ liệu bằng mô hình hồi quy,

lý giải kết quả và có sự so sánh với các nghiên cứu trước

Trang 6

Chương 3 trình bày phần kết luận tóm lược những vấn đề mà đề tài đã giải

quyết được Đồng thời, đưa ra một số khuyến nghị về những nghiên cứu tiếp

theo hoặc chi tiết hơn về di cư tại Việt Nam

Chương 1 : CƠ SỞ LÝ THUYẾT

1.1 Các khái niệm về di cư

Di cư thuần

Tại mỗi khu vực, trong một khoảng thời gian nhất định luôn có một lượng người đến và đi Vì vậy, để thống nhất trong việc xác định số người di cư tại một khu vực địa lý, khái niệm di cư thuần sẽ được sử dụng Số dân di cư thuần được định nghĩa như sau :

Di cư thuần (người) =

Số người đến từ các

Số người đi đến các

nơi khác Trong nghiên cứu này, khái niệm di cư thuần sẽ được đề cập đến một cách

ngắn gọn là di cư Số người di cư tại một địa phương sẽ được hiểu là số di cư thuần đến địa phương đó Nếu di cư âm (<0), số người đi nhiều hơn số

người đến, và ngược lại khi di cư dương (>0) có nghĩa số người đến nhiều hơn số người đi

Một số hiện tượng di cư thường đề cập đến được giới thiệu sau đây :

Di cư từ nông thôn ra thành thị

Đây là hiện tượng di cư phổ biến nhất trong mọi nghiên cứu về di cư Hiện tượng này mô tả số người di cư từ khu vực nông thôn ra khu vực thành thị do nhiều lý do khác nhau, từ tạm thời đến cố định và chủ yếu liên quan đến yếu

tố kinh tế (kỳ vọng một mức thu nhập cao hơn)

Di cư nội tỉnh

Di cư nội tỉnh là khái niệm được sử dụng trong các thống kê về dân số của Tổng cục Thống kê và Quỹ dân số Liên Hiệp Quốc Di cư nội tỉnh có thể bao gồm dòng di cư từ nông thôn ra thành thị trong phạm vi một tỉnh và ngược lại

Di cư nội tỉnh cũng bao gồm di cư từ các khu vực địa lý nhỏ hơn trong một

Trang 7

tỉnh như huyện, phường xã, thôn Do đặc thù đó nên hiện tượng di cư này

không làm thay đổi dân số trong tỉnh nhưng vẫn mang đầy đủ đặc tính của di

cư như thường gắn liền với nguyên nhân kinh tế và các yếu tố khác

Do nghiên cứu này được tiến hành với các đơn vị hành chính cấp tỉnh nên

luồng di cư trong phạm vi một tỉnh thành sẽ không thuộc đối tượng xem xét

Di cư trong nước

Di cư trong nước (Internal Migration) có ý nghĩa tương tự di cư nội tỉnh

nhưng ở cấp địa lý cao hơn, tức phạm vi một quốc gia Hiện tượng di cư này

cũng có thể bao gồm di cư từ nông thôn (ở tỉnh thành này) sang nông thôn (ở

tỉnh thành khác); từ nông thôn ra thành thị; từ thành thị sang thành thị Đây sẽ

là hiện tượng được nghiên cứu trong đề tài này với số lượng di cư ở từng tỉnh

thành được hiểu là số di cư thuần

Di cư giữa các nước với nhau (di cư quốc tế)

Di cư quốc tế (International Migration) là đối tượng được nghiên cứu rất

nhiều trên thế giới Những cuộc di cư từ nước này sang nước khác, từ châu

lục này đến châu lục khác là chủ đề thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên

cứu, trong đó có các nhà kinh tế học

Tại Việt Nam, hiện tượng di cư này ít phổ biến hơn do nhiều rào cản khác

nhau Các nghiên cứu về di cư quốc tế từ Việt Nam đến các nước khác và

ngược lại không nhiều, số liệu thống kê thường không đầy đủ

1.2 Các lý thuyết có liên quan đến di cư 1.2.1 Mô hình Harris – Todaro 2

Một trong những lý thuyết nổi tiếng nhất trong nghiên cứu di cư là mô hình di

cư nông thôn thành thị Harris – Todaro Mô hình này thể hiện căn bản tác động của động cơ kinh tế trong quyết định di cư Trong đó, yếu tố tiền lương

là nhân tố so sánh chính trong việc lựa chọn địa điểm (nông thôn hay thành thị) để di cư đến

Theo mô hình này, nếu gọi Mt là số lao động nông thôn di cư ra thành thị trong thời gian t, F là hàm hiệu suất, Wu là mức lương ở thành thị, Wr là mức lương ở nông thôn Theo mô hình Harris-Todaro, số người di cư từ thành thị

ra nông thôn trong thời gian t sẽ phụ thuộc vào một hàm có biến số là sự chênh lệch mức lương giữa hai khu vực nông thôn và thành thị, tức :

Mt = F(Wu – Wr) (1)

Do tại mọi nơi luôn tồn tại nạn thất nghiệp nên trong mô hình này, mức lương trung bình ở thành thị là mức lương được so sánh với mức lương ở nông thôn Mức lương ở thành thị là mức lương thực tế nhân với khả năng tìm được việc làm, hay :

Wu = p Wu (2) Trong đó, Wu là mức lương trung bình ở thành thị và p là khả năng tìm được việc làm tại thành thị, khả năng này có thể được tính như sau :

p = Eu/(Eu + Uu) Trong đó, Eu là số việc làm ở thành thị và Uu là số việc làm ở nông thôn

2 Malcolm Gillis at al., Kinh tế học của sự phát triển, Chương 8 : Vai trò của lao động

Trang 8

Để đơn giản, mô hình xem toàn bộ lực lượng lao động ở thành thị đều có cơ

hội ngang nhau về khả năng tìm kiếm việc làm sẳn có Vì vậy, có thể xem

Wu đơn giản bằng mức lương ở thành thị nhân với tỉ lệ thất nghiệp ở thành

thị Như vậy, công thức (1) có thể được biến đổi thành :

Mt = h(p.Wu – Wr), (3) Với h là mức độ hưởng ứng của những người có khả năng di cư hoặc độ nhạy

di cư

Công thức (3) cho thấy tại bất kỳ thời gian nào, sự di cư cũng phụ thuộc vào 3

yếu tố : mức chênh lệch về tiền lương giữa nông thôn và thành thị (Wu và

Wr), tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị (p) và sự hưởng ứng của những người có khả

năng di cư trước các cơ hội mà họ có thể nắm lấy (h)

Khi nào mà Wu còn lớn hơn Wr thì sự di cư từ nông thôn ra thành thị vẫn còn

tiếp diễn Theo mô hình này, sự di cư chỉ dừng lại khi tỉ lệ thất nghiệp tại

thành thị (p) tăng lên hoặc mức lương tại thành thị giảm xuống (Wu =p.Wu =

Wr) Trong trường hợp nếu Wu thấp hơn Wr thì sự di cư sẽ diễn ra ngược lại,

từ thành thị về lại nông thôn

Mô hình Harris – Todaro đã thành công trong việc đưa ra tác động của yếu tố

kinh tế (tiền lương) đến sự di cư, hay tóm lại, Harris và Todaro cho rằng mọi

sự di cư đều có liên quan đến nguyên nhân kinh tế

Hạn chế của mô hình này là sự cân bằng rất khó xảy ra cũng như việc di cư

ngược từ thành thị và nông thôn, hoặc di cư tuần hoàn không được giải thích

đầy đủ Ngoài ra, mô hình này chỉ đề cập đến yếu tố kinh tế (thu nhập) trong

khi nhiều nghiên cứu khác, điển hình như nghiên cứu của Malcom et al đã

chỉ ra rằng có những trường hợp di cư, yếu tố kinh tế không phải là tác động

quan trọng duy nhất3 Các yếu tố về khoảng cách, xã hội, cuộc sống, chính trị cũng đóng góp vai trò quan trọng trong quyết định di cư Đơn cử, tại Việt Nam là cuộc di dân trong thời kỳ chiến tranh từ Bắc vào Nam năm 1954, xa hơn nữa là sự di dân khai phá miền Nam từ thời Trịnh – Nguyễn phân tranh, các cuộc di cư này được thực hiện bắt nguồn chủ yếu từ nguyên nhân chính trị

và an ninh

1.2.2 Mô hình chuyển dịch lao động 4

Mô hình chuyển dịch lao động trong lý thuyết về kinh tế lao động của George J.Bonas đề cập đến việc di cư hết sức chi tiết và xem việc di cư như một sự dịch chuyển lao động nhằm phân bổ một cách hợp lý vốn con người Người lao động tính toán giá trị của những cơ hội làm việc trên mỗi thị trường khác nhau, trừ đi chi phí di chuyển và lựa chọn giải pháp nào tối đa hóa giá trị hiện tại của thu nhập trong đời

Xuất phát từ yếu tố cơ bản là : người lao động muốn cải thiện tình hình kinh

tế của họ và người lao động sẽ di cư khi có cơ hội tốt để thu hồi được sự đầu

tư của mình Quyết định di cư dựa trên sự so sánh giá trị hiện tại của thu nhập khi thực hiện di cư và không di cư

Giá sử người lao động đang làm việc ở Bình Định và đang cân nhắc việc chuyển đến TPHCM Anh ta tuổi j và có mức lương tại Bình Định là wtBD, nếu chuyển đến TPHCM và có việc làm với mức lương wt

TPHCM, Chi phí cho việc di chuyển này là M (bao gồm chi phí đi lại, chi phí phải xa nhà, chi phí tìm kiếm chỗ ở mới, …) Trước khi di chuyển người lao động sẽ thực hiện so sánh giá trị hiện tại của thu nhập cả đời (giả sử người lao động chỉ dự định

3 Tham khảo tại Malcolm Gillis at al., Kinh tế học của sự phát triển, Bài đọc Kinh tế phát triển, Chương 8 :

Vai trò của lao động, trang 17

4 Tham khảo tại George J.Bonas (2000), Kinh tế học lao động, Chương 9 : Chuyển dịch lao động

Trang 9

thực hiện di chuyển một lần trong đời) với những thu nhập tại những địa điểm

Trong đó, r là tỉ lệ chiết khấu của người lao động, tỉ lệ này khác nhau đối với

những người lao động khác nhau Đối với người lao động hướng về tương lai,

r sẽ nhỏ và ngược lại đối với những người lao động hướng về hiện tại

Trong công thức (1), số hạng đầu là giá trị hiện tại nếu người lao động chuyển

đến TPHCM, số hạng thứ hai là giá trị hiện tại của thu nhập nếu anh ta vẫn ở

lại Bình Định Mỗi số hạng được tính từ năm bắt đầu di cư (năm j) đến tuổi

nghỉ hưu (giả sử nghỉ hưu lúc 65 tuổi) Tóm lại lợi tức thuần của việc di cư là

hiệu của giá trị hiện tại nguồn thu nhập ở hai nơi (trước và sau di cư) trừ đi

chi phí di chuyển Sẽ có hai trường hợp xảy ra :

Nếu lợi tức thuần từ di cư > 0 : người di cư sẽ quyết định chuyển đến

TPHCM

Nếu lợi tức thuần từ di cư 0 : người di cư sẽ ở lại Bình Định

Dựa trên mô hình này và những nghiên cứu thực nghiệm về di cư tại Mỹ,

George J.Bonas mô tả một số tác động của đặc điểm vùng đối với di cư :

- Di cư rất tương ứng với sự khác biệt trong thu nhập giữa nơi đến và nơi

đi Chẳng hạn tại Mỹ, khác biệt tiền lương tăng 10% giữa tiểu bang sẽ

đến và tiểu bang đang ở sẽ làm tăng khả năng di cư khoảng 7% Điều

này chứng tỏ tính đúng đắn trong giả thuyết của Harris-Todaro

- Cơ hội làm việc và khả năng di cư cũng có sự tương quan thuận chiều

Tỉ lệ tăng trưởng việc làm tăng 10% tại tiểu bang đang ở sẽ làm giảm

khả năng di cư khoảng 2%

- Ngược lại, khoảng cách di chuyển có sự tương quan nghịch chiều với khả năng di cư Khoảng cách giữa nơi đi và nơi đến tăng gấp đôi sẽ làm giảm tỉ lệ di cư khoảng 50%

1.2.3 Mô hình kinh tế của Di cư 5

Đây là mô hình được giới thiệu bởi Harvey B.King, một giáo sư giảng dạy kinh tế tại ĐH Regina (Canada), trong quá trình nghiên cứu tình trạng di cư tại các bang ở Canada Theo mô hình này, nguyên nhân chủ yếu của hiện tượng di cư là kinh tế nhưng đây không phải là nguyên nhân duy nhất Di cư xảy ra khi độ thỏa dụng của việc di cư (sau khi đã trừ đi chi phí của việc di chuyển) cao hơn độ thỏa dụng của việc ở lại Độ thỏa dụng được tính theo tất

cả lợi ích quy về hiện tại (PV), quyết định di cư xảy ra khi giá trị hiện tại của việc chuyển đi lớn hơn giá trị hiện tại của chi phí chuyển đi, bao gồm tiền công bị mất tại nơi rời đi, chi phí của việc di dời và chi phí thỏa dụng của việc

di dời (hay còn gọi là chi phí tâm lý - psychic costs)

Theo nghiên cứu của Harvey B.King, xác suất di cư là một hàm phụ thuộc vào các biến như:

Khác biệt về thu nhập giữa các khu vực

Khác biệt thất nghiệp giữa các vùng

Rào cản ngôn ngữ hay các rào cản văn hóa khác

Khoảng cách giữa nơi đi và nơi đến (đại diện cho chi phí di dời và tình trạng không đầy đủ thông tin giữa nơi đi và nơi đến)

Trợ cấp thất nghiệp khu vực

5 Harvey B King, Lê Thủy (biên dịch), Di cư, Truy cập tại địa chỉ : http://acong.nld.com.vn/index.php , ngày

25/11/2007

Trang 10

Chi phí tâm lý (pychic costs) là một hàm của sự cách biệt về địa lý

và những khác biệt về văn hóa (sự khó hòa nhập giữa người di cư

và văn hóa nơi đến)

Độ tuổi của người di cư (những người trẻ tuổi có xu hướng di cư cao

hơn)

Tình trạng hôn nhân, độc thân dễ di cư hơn đã có gia đình

Trong lý thuyết của Harvey B.King về các nhân tố tác động đến xác suất di

cư ở trên, năm yếu tố đầu liên quan đến đặc điểm kinh tế, xã hội của vùng;

các yếu tố còn lại chủ yếu là xuất phát từ bản thân người di cư Xét tổng quan,

các mô tả về di cư của Harvey B.King cũng gần như tương đương với mô

hình được George J.Bonas giới thiệu

1.2.4 Các yếu tố hút đẩy

Các mô hình lý thuyết trên đều đề cập đến yếu tố kinh tế, cụ thể là sự khác

biệt thu nhập giữa các vùng miền, được xem như yếu tố chủ yếu quyết định

việc di cư Mô hình Harris-Todaro xem xét sự khác biệt trong thu nhập là yếu

tố chủ yếu bên cạnh xem xét các yếu tố khác một cách tổng quát trong hệ số

độ nhạy di cư (h) Hai mô hình còn lại của Harvey B.King và George J.Bonas

tiếp tục mở rộng hơn, ngoài lý do về khác biệt kinh tế còn đưa ra những yếu

tố theo đặc điểm của vùng di cư và yếu tố tác động từ chính bản thân người

di cư

Ngoài các yếu tố như đề cập trong các mô hình trên, các yếu tố về chất

lượng sống tại địa phương cũng có thể giảm thiểu hoặc tăng cường hoạt động

di cư Vấn đề này được Ali Mansoor và Bryce Quillin trình bày trong nghiên

cứu về di cư giữa các quốc gia ở Đông Âu và Liên Xô cũ6

như là những yếu

tố tác động khác, cụ thể bao gồm sự khác biệt trong ổn định chính trị, độ tự

do trong quyền con người, sự điều chỉnh và qui định của luật pháp Cần chú ý nghiên cứu của Ali Mansoor và Bryce Quillin tìm hiểu về di cư quốc tế, tuy nhiên trong phạm vi một quốc gia, các vùng miền dù có khoảng cách địa lý nhỏ hơn (so với giữa các nước) nhưng vẫn tồn tại sự khác biệt trong chất lượng cuộc sống giữa các vùng miền khác nhau Vì vậy, khi nghiên cứu đến

sự di cư giữa các vùng miền trong một quốc gia không thể bỏ qua các yếu tố này

Một cách tổng quát, Ali Mansoor và Bryce Quillin đã phân loại các yếu tố có tác động đến Di cư thành các yếu tố hút và đẩy như sau7

:

Bảng 1 – Tổng hợp các yếu tố hút và đẩy liên quan đến di cư Nhóm liên

quan

Kinh tế Nghèo đói; Thất nghiệp;

Lương thấp

Triển vọng có mức lương cao; Phát triển nghề nghiệp cá nhân

Dân số Mức sinh cao; Thiếu các

chăm sóc cơ bản về y tế và giáo dục

Khả năng nâng cao mức sống

Chính trị Xung đột; Tình hình an ninh

bất ổn; Bạo lực; Tham

Tình hình an ninh ổn định và

an toàn; Tự do chính trị

6 Ali Mansoor và Bryce Quillin (2006), Migration and Remittances : Eastern Europe and the Former Soviet

Union

7 Xem Chương 3 : Determinant of Migration, p78

Trang 11

Đoàn tụ gia đình; Hồi hương

Nguồn : Ngân hàng Thế giới (2006)

Các yếu tố hút và đẩy tác động đến quyết định di cư mang ý nghĩa tương đối,

một số có thể vừa là yếu tố hút vừa là yếu tố đẩy tùy theo đánh giá của người

di cư Ví dụ : tại Nha Trang, mức lương của một quản lý khách sạn trung bình

là 7 triệu đồng/tháng, tại Phú Yên ở mức 4 triệu đồng/tháng, tại TPHCM là

trên 20 triệu đồng/tháng Như vậy, mức lương ở Nha Trang có thể là yếu tố

hút đối với người lao động (là quản lý khách sạn) ở Phú Yên nhưng lại là yếu

tố đẩy nếu người lao động này làm việc ở Nha Trang và so sánh với mức

lương tại TPHCM

Tương tự, thị trường bán lẻ hàng hóa và dịch vụ cũng có thể vừa là yếu tố hút

vừa là yếu tố đẩy Đối với một người bắt đầu việc kinh doanh trong lĩnh vực

bán lẻ hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ, khi ở tại một địa phương ít giao dịch

buôn bán, cung cấp dịch vụ ít phổ biến hoặc nhu cầu không nhiều, không phát

triển thì họ có xu hướng tìm đến những nơi dễ làm ăn hơn để lập nghiệp

Ngược lại, yếu tố này trở thành yếu tố hút khi địa phương có thị trường bán

lẻ, cung ứng dịch vụ phát triển, tiềm năng, mọi doanh nghiệp đều muốn tìm

đến để phát triển qui mô mạng lưới, hệ thống kinh doanh của mình

1.2.5 Giới tính người di cư

Trong hầu hết các yếu tố tác động đến di cư được trình bày ở phần trên, mức

độ và sự khác biệt thường khác nhau khi tính theo giới tính của người di cư

Đối với các yếu tố kinh tế, sự khác biệt chủ yếu là do sự phân biệt đối xử trên

thị trường lao động theo giới tính Ngoài ra, do quá trình di cư đòi hỏi sự di

chuyển và lựa chọn việc làm khác nhau, sự khác biệt còn do sự khác nhau về

kỹ năng giữa nam và nữ George J.Bonas (2000) đã đưa ra mô hình phân tích Oaxaca8 mô tả hai tác động này dưới dạng một phương trình đại số như sau :

w = ( M F) ( M F)s F M(s M s F)Trong đó, M và F là mức thu nhập khởi điểm của mỗi nhóm lao động nam

và nữ, M và F là mức tăng trong thu nhập của cả nam và nữ khi có thêm một năm học vấn, sM và sF là học vấn trung bình của lao động nam và nữ, w là sự khác biệt về lương giữa lao động nam và nữ

Hai số hạng đầu là sự khác biệt do phân biệt đối xử, số hạng thứ ba là sự khác biệt do kỹ năng Mô hình của Oaxaca cho thấy: lao động nam luôn có khởi điểm thuận lợi hơn (được trả lương cao hơn phụ nữ) và thường được trả nhiều hơn khi có thêm một năm học vấn Kết quả vẫn tương tự khi mở rộng với các biến về tuổi, số năm tham gia thị trường lao động, địa phương người lao động sinh sống Tại Việt Nam, mặc dù các chỉ số về phát triển con người đã được cải thiện đáng kể nhưng sự phân biệt đối xử giới tính trên thị trường lao động vẫn tồn tại ở một mức độ nhất định Do đó, sự di cư giữa các vùng miền tại Việt Nam không thể bỏ qua sự khác biệt về giới tính

1.3 Các nghiên cứu đã có liên quan đến chủ đề di cư

Nghiên cứu tập trung và có quy mô nhất là các nghiên cứu được công bố bởi

World Bank Tại website của tổ chức này có hẳn một phần về Di cư quốc tế

và sự phát triển do một nhóm nghiên cứu về phát triển đảm trách9 Mục tiêu của nhóm nghiên cứu này là phân tích tác động của kết quả việc di cư (đặc

8 Được giới thiệu trong lý thuyết của George J.Bonas (2000), Kinh tế học lao động, Chương 10 : Phân biệt đối xử trên thị trường lao động

9 Xem http://econ.worldbank.org

Trang 12

biệt là nguồn kiều hối gởi về) đến đời sống của người thân, quê hương của

người di cư Theo như tên chuyên đề phụ trách của nhóm nghiên cứu

(International Migration and Development), các nghiên cứu về di cư được

công bố tại website này hầu hết tập trung vào di cư quốc tế Một số ít nghiên

cứu về di cư trong phạm vi một quốc gia như Forhad (2008) về di cư và bất

bình đẳng giữa các vùng miền do ngăn cách địa lý tại Bangladesh; nghiên cứu

về Việt Nam của Yoko Niimi, Thai Hung Pham và Barry Reilly (2008) phân

tích tác động của các nhân tố đến số tiền gởi về quê từ những người di cư,

được thực hiện dựa trên bộ số liệu năm 2004 của Tổng cục Thống kê

Các nghiên cứu trong nước dường như gần gũi với di cư nội địa hơn Nhiều

nhất và quy mô nhất là các cuộc nghiên cứu của Tổng cục Thống kê và Quỹ

dân số Liên Hiệp Quốc (UNFPA) dựa trên bộ dữ liệu hết sức phong phú trong

các cuộc điều tra hàng năm Trên cơ sở số liệu di cư năm 2004, Tổng cục

Thống kê và Quỹ dân số Liên Hiệp Quốc đã thực hiện một nghiên cứu về

Chất lượng cuộc sống của người di cư hàng năm Kết quả nghiên cứu này cho

thấy người di cư thường gặp khó khăn về nhà ở như khả năng sở hữu nhà

thấp, không ổn định nơi ở (do phải thay đổi địa điểm thuê mướn thường

xuyên), độ ổn định trong công việc không cao, mức thu nhập có tăng lên so

với nơi ở trước khi di chuyển (trong đó, nam có thu nhập cao hơn nữ) nhưng

vẫn thấp hơn người không thực hiện di cư, khả năng tìm kiếm việc làm không

quá khó khăn đặc biệt là trong khu vực tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu

tư nước ngoài, khoảng trên 50% lao động di cư được ký hợp đồng lao động

(tùy thuộc vào giới tính, số di cư nữ có hợp đồng chính thức nhiều hơn) và

hầu hết đều hài lòng sau khi di cư, nhất là đối với người di cư nữ Cũng trên

bộ số liệu năm 2004, Quỹ dân số Liên Hiệp Quốc có một nghiên cứu khác

thực hiện về sức khỏe của người di cư tại nơi họ di cư đến, bao gồm mức

uống bia, rượu, hút thuốc, sinh sản, khả năng phòng tránh bệnh, nơi khám bệnh, khả năng có thẻ BHYT

Tóm lại, các nghiên cứu trên đều tập trung vào người di cư, đối tượng chính

của hiện tượng di cư, khảo sát hành vi liên quan trực tiếp đến đối tượng này

và xảy ra sau khi sự di cư đã được thực hiện Đối với các nghiên cứu quốc tế,

mục tiêu nghiên cứu thường đề cập đến kết quả di cư (tiền gởi về) đối với

người thân tại quê nhà như cải thiện tỉ lệ đi học của trẻ em10

, FDI tại quê hương người di cư11, hoặc giảm nghèo đói trong gia đình họ12 Rất ít nghiên

cứu phân tích lựa chọn nơi di cư đến, các yếu tố thu hút, yếu tố đẩy của

thành phố/địa phương - nơi người di cư ra đi hoặc lựa chọn để di cư đến, nói

tóm gọn là các nhân tố của địa phương tác động đến quyết định di cư Do

đó, đây sẽ là nội dung mà nghiên cứu này muốn đề cập đến

Trong các Báo cáo của Tổng cục Thống kê và Quỹ dân số Liên Hiệp Quốc năm 200413, một số kết luận đáng chú ý và có liên quan đến nội dung đề tài nghiên cứu được tóm lược sau đây :

Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm của các hoạt động di cư, nơi tăng dân số do di cư là nhất, kế tiếp là Hà nội Cũng có các dòng di cư lớn tới các khu công nghiệp ở phía Bắc, Đông Nam Bộ và vùng đất nông nghiệp ở Tây Nguyên Những nơi bị mất dân do di cư chủ yếu

tập trung ở vùng Đông Bắc và Đồng bằng sông Hồng

Các khu công nghiệp và dịch vụ ở các thành phố lớn có nhu cầu cao

đối với lao động nữ di cư, đặc biệt là các khu công nghiệp ở các thành

10 Xem McKenzie và cộng sự (2006)

11 Xem Javorcik, Beata S và các cộng sự (2006); Lokshin, Michael và cộng sự (2007)

12 Xem Richard H Adams (2007); McKenzie và cộng sự (2007)

13 Xem Quỹ dân số Liên Hiệp Quốc (6/2007), Hiện trạng di cư trong nước ở Việt Nam

Trang 13

phố lớn và vùng phụ cận thường tạo ra nhiều việc làm thu hút phụ nữ

trẻ đến thành phố và họ thích tuyển đối tượng lao động nữ vào làm việc

hơn

Đối với địa phương thuộc khu vực Tây Nguyên, người di cư gặp nhiều

khó khăn hơn để thích nghi với nơi ở mới, mặc dù họ đã được các

chương trình tái định cư của chính phủ hỗ trợ

Các địa phương nơi tập trung nhiều doanh nghiệp có vốn đầu tư nước

ngoài thu hút khá đông nữ giới di cư đến làm việc (chiếm khoảng

25%), do đó khu vực này đóng vai trò khá quan trọng trong việc thu hút

lao động nữ từ các vùng nông thôn

Đối với các thành phố lớn, cách quản lý người di cư theo hộ khẩu đăng

ký dường như không là khó khăn đối với người di cư, trừ trường hợp

họ muốn tiếp cận các dịch vụ công, đặc biệt là các dịch vụ y tế và giáo

dục

Nói chung, các thành phố lớn, phát triển luôn có sự hấp dẫn và thu hút mạnh

mẽ hơn đối với người di cư, đặc biệt là người lao động trẻ và viễn cảnh thu

nhập tăng lên tại các thành phố này thường là nguyên nhân quan trọng thúc

đẩy người di cư ra đi Các biện pháp quản lý hành chính không có hiệu quả rõ

rệt trong việc tăng hoặc giảm dòng người di cư

Nghiên cứu của Yoko Niimi, Thai Hung Pham, Barry Reilly (2008)14

về di cư Việt Nam (dựa trên bộ số liệu của Tổng cục Thống kê năm 2004) lại cho rằng

chính những địa phương có khoảng cách trong chất lượng cuộc sống giữa

thành thị và nông thôn, sự bất bình đẳng trong phúc lợi xã hội giữa khu vực

14 [1] Yoko Niimi, Thai Hung Pham, Barry Reilly (2008), Các nhân tố tác động của tiền gởi : Các bằng

chứng gần nhất sử dụng số liệu di cư trong nước tại Việt Nam, Nhóm nghiên cứu phát triển - Ngân hàng Thế

giới

và nông thôn sẽ thúc đẩy sự di cư từ khu vực nông thôn ra thành thị Đối với

sự di cư trong nước, những địa phương có tỉ lệ dân số cao (khu vực Đồng bằng sông Hồng) và có thu nhập hộ gia đình thấp (khu vực đồng bằng Bắc và Nam trung bộ) sẽ có tỉ lệ di cư khỏi địa phương cao Nghiên cứu này cũng cho thấy các thành phố lớn như Hà Nội, Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh

là các điểm đến chính của người di cư

Tóm lại, từ những cơ sở trên, khung phân tích trong đề tài này như sau :

Hình 1 – Khung phân tích

Yếu tố đẩy Yếu tố hút

Số di cư thuần (Nam)

Số di cư thuần (Nữ)

62 tỉnh thành

Hà Nội

TP Hồ Chí Minh

Trong đó, các yếu tố hút và đẩy sẽ là các biến độc lập được khảo sát trong mô hình Số yếu tố này, tốt nhất, nên bao gồm tất cả các yếu tố đã nêu trong Bảng

1 kết hợp với các yếu tố khác được nêu trong các nghiên cứu và lý thuyết ở các phần trên

Trang 14

Chương 2 : PHÂN TÍCH DI CƯ TẠI VIỆT NAM

2.1 Thực trạng di cư

Bảng 2 tóm tắt kết quả phân tích thống kê số liệu di cư bình quân trong 3 năm

(từ 2005-2007) tại 64 tỉnh thành Trong đó, lưu ý một địa phương được coi là

có người di cư đi khi số di cư15

(đại diện cho số di cư thuần) âm, và di cư đến

khi số di cư dương Nếu một địa phương có số người di cư đi nhiều hơn số di

cư đến thì số di cư âm và ngược lại Do số dân di cư đi từ tỉnh thành này sẽ là

dân di cư đến tỉnh thành khác nên tổng số dân di cư trong 64 tỉnh thành bằng

0, và vì vậy số di cư trung bình cũng bằng 0 Độ lệch chuẩn và sai số chuẩn

của nữ cao hơn nam cho thấy có sự phân tán mạnh về số di cư nữ ở các tỉnh

thành Ngoài ra các hệ số Kurtosis và Kewness của cả nam và nữ tương

đương nhau cho thấy sự phân bố trong di cư giữa nam và nữ không có sự

15 Số di cư = Số dân di cư thuần = Số dân di cư đến – Số dân di cư đi

Trong 64 tỉnh thành, Thanh Hóa là địa phương có số dân di cư đi nhiều nhất, lần lượt trong 3 năm 2005, 2006, 2007 tương ứng là 13,674; 22,252 và 14,031 người Thanh Hóa cũng là tỉnh có số dân di cư nữ chuyển đi các tỉnh khác lớn nhất, tương ứng trong 3 năm là 9,233; 12,196 và 9,938 người Về số dân di cư nam chuyển đi tỉnh khác, Thanh Hóa chỉ có một lần đạt ngôi quán quân vào năm 2006, hai năm còn lại thuộc về Nam Định (năm 2005 với 4,945 người)

và Hà Tây (năm 2007 với 6,559 người) Tuy vậy, bình quân trong 3 năm, Thanh Hóa vẫn là địa phương có tổng số người di cư đi lớn nhất, cả về số di

cư là nam lẫn nữ

Địa phương có số người di cư đến lớn nhất trong mọi năm là TPHCM, số liệu tương ứng các năm là 82,017; 128,176 và 137,856 người TPHCM cũng là nơi có số dân di cư đến là nam và nữ nhiều nhất trong các năm Ở vị trí thứ 2

là Hà Nội trong hai năm 2005 và 2006, tuy nhiên đến năm 2007, Bình Dương mới là điểm đến ưa thích của người dân di cư sau TPHCM Điều này cho thấy

có thể các chính sách hạn chế nhập cư của TP Hà Nội đã phát huy ít nhiều tác dụng hoặc sự phát triển kinh tế của Bình Dương đã tạo thành miền đất hứa cho không ít lao động di cư

Bảng 3 – Số lượng di cư nam và nữ tại các tỉnh thành

Số lượng tỉnh thành Nữ > Nam Nam Nữ

(Nguồn : Tính toán từ nguồn số liệu khảo sát)

Nếu so sánh số di cư đi là nam và nữ ở từng địa phương, số lượng nữ bao giờ cũng lớn hơn so với nam Trong 47 địa phương cả nước có số dân di cư rời khỏi địa phương thì 25 địa phương trong số này có số lượng (di cư) nữ lớn

Trang 15

hơn nam; 17 địa phương có số dân di cư đến nhiều hơn thì 11 trong số này có

số lượng nữ chiếm nhiều hơn so với nam

Nếu tính số người di cư theo giới tính ở từng địa phương, 48 địa phương có số

di cư nam rời khỏi quê hương nhiều hơn (số di cư nam < 0) và 16 địa phương

có tình hình ngược lại (số di cư nam > 0) Đối với nữ, số di cư đi chiếm áp

đảo trong 51 tỉnh thành, trong khi số di cư đến chỉ chiếm ưu thế ở 13 tỉnh

thành còn lại (Bảng 3)

Bảng 4 – So sánh số di cư nam và nữ ở từng tỉnh thành

Địa phương Tổng số Nu>Nam Nu<Nam

(Nguồn : Tính toán từ nguồn số liệu khảo sát)

Không phải tất cả các địa phương đều đồng thời có số di cư nam và nữ đến

hoặc đi (Bảng 4) Có 44 địa phương đều có số di cư nam và nữ rời khỏi quê

hương, trong số này, 23 tỉnh thành có số lượng nữ nhiều hơn nam và 21 tỉnh

thành ngược lại Có 9 tỉnh thành là điểm đến của cả di cư nam và nữ; trong số

người di cư đến, 8 tỉnh thành có số lượng nữ nhiều hơn, trong khi chỉ có một

tỉnh thành (Đắc Nông) có số nam đến nhiều hơn Còn lại 11 địa phương là

những trường hợp hỗn hợp, 4 địa phương có tình trạng nữ di cư đến nhưng

nam lại di cư đi (Kon Tum, Hải Phòng, Bắc Ninh và Yên Bái) 7 địa phương

khác ngược lại, nữ di cư di nhưng nam lại di cư đến (Sơn La, Hòa Bình, Thái

Nguyên, Hưng Yên, Thái Bình, Phú Yên và Kiên Giang)

Hình 2 - Di cư nam bình quân (phân tích từ nguồn số liệu)

(Nguồn : Tính toán từ nguồn số liệu khảo sát)

Hầu hết người di cư đều chọn các địa phương có sự phát triển kinh tế cao của

cả nước để chuyển đến Căn cứ vào đồ thị phân tán về số người di cư là nam

và nữ (Hình 2 và Hình 3), có thể thấy số di cư đến các địa phương như Hà

Trang 16

Nội, Bình Dương và TPHCM rất lớn, đặc biệt là TPHCM, số di cư đến gấp

5-6 lần ở nam và nữ so với địa phương đứng thứ hai Trong khi đó, hầu hết

các tỉnh thành có số người di cư đi (nằm dưới trục 0), số lượng không chênh

lệch nhiều, vùng biến thiên từ 0 – 7,000 người (ngoại trừ trường hợp cá biệt là

Thanh Hóa ở di cư nữ) Để xem xét cụ thể tình hình di cư các tỉnh còn lại,

không tính các tỉnh thành có số lượng di cư đến quá lớn, Hình 4 và 5 xem xét

sự phân bố di cư ở các địa phương còn lại (không tính các Hà Nội, Bình

Dương và TPHCM)

Trung hoành trong các đồ thị phân tán (Hình 2, 3, 4 và 5) là các địa phương

sắp xếp theo chiều dài đất nước, từ Bắc vào Nam Căn cứ vào hình 4 và 5, sự

di cư ở nam và nữ có sự phân tán mạnh ở các địa phương thuộc khu vực Bắc

Trung Bộ và Nam Trung Bộ Thái Bình có số di cư nam thuần nam đến nhiều

nhất trong khi ở phía nữ là Đà Nẵng Thanh Hóa, như đã đề cập ở trên, luôn

chiếm số lượng di cư đi cao nhất ở cả nam và nữ

Các tỉnh thuộc khu vực Đồng bằng Sông Cửu long có sự phân tán ổn định hơn

nhưng hầu hết đều là di cư đi, Đồng Tháp là nơi có số di cư nữ đi nhiều nhất,

trong khi đó, chỉ riêng duy nhất Kiên Giang là có số di cư nam đến

Hình 4 – Di cư nam bình quân rút gọn

Di cư nam bình quân

Kiên Giang

Thanh Hóa Thái Bình

-8,000 -4,000 0 4,000

Trang 17

2.2 Các nhân tố tác động

Dựa trên cơ sở lý thuyết đã phân tích trong Chương I, giới hạn về số liệu thu

thập và phạm vi nghiên cứu của đề tài, các biến dự định đưa vào khảo sát như

sau :

- Các mô hình Harris-Todaro, mô hình chuyển dịch lao động của

George J.Bonas và mô hình kinh tế của di cư của Harvey B.King đều nhấn

mạnh đến yếu tố kinh tế trong tác động đến di cư Vì vậy, đây phải là biến số

cần khảo sát trước hết trong mô hình hồi quy Đại diện cho các yếu tố kinh tế

sẽ là thu nhập bình quân của từng địa phương, tính theo GDP bình quân đầu

người, biểu hiện cho mức độ phát triển và khả năng tạo ra thu nhập cho người

dân tại địa phương đó Bên cạnh đó, khả năng có việc làm/có thu nhập từ tình

hình kinh tế hiện tại tại địa phương cũng sẽ được tính đến, các yếu tố này

được khảo sát trên tình hình giá trị sản xuất kinh tế nông nghiệp, công nghiệp,

dịch vụ, kinh doanh bán lẻ, …tức một số lĩnh vực kinh tế chủ yếu có tạo ra

việc làm

- Trên cơ sở lý thuyết đã trình bày trong Chương 1, hai mô hình

chuyển dịch lao động của George J.Bonas và mô hình kinh tế của di cư của

Harvey B.King đều có nhắc đến chi phí khi thực hiện di cư và một trong các

yếu tố được nhấn mạnh liên quan đến chi phí này trong cả hai mô hình là

khoảng cách địa lý giữa nơi đi vào nơi đến Có thể hình dung sự đồng biến

mạnh giữa khoảng cách địa lý và chi phí di cư, khoảng cách càng cao thì chi

phí chi trả sẽ càng lớn, do đó bắt buộc người di cư phải cân nhắc trước khi

thực hiện việc ra đi Do đặc thù tại Việt Nam có hai địa phương đại diện là Hà

Nội và TPHCM có kinh tế phát triển vượt bậc so với các vùng khác, do đó

người dân sẽ có xu hướng đổ về hai nơi này, sao cho chi phí ra đi là thấp nhất,

tương ứng, họ sẽ chọn khoảng cách nào (đến hai khu vực trên) là ngắn nhất

Do đó, biến số khoảng cách khảo sát nhân tố này trong mô hình cần được lựa chọn sao cho minh họa rõ nét được điều này

- Bảng tổng hợp các yếu tố hút và đẩy do Ali Mansoor và Bryce Quillin trình bày trong nghiên cứu của mình cho thấy giáo dục và y tế có thể vừa là yếu tố đẩy vừa là yếu tố hút tác động đến quá trình di cư Do đó, trong

mô hình sẽ đưa các biến số đại diện cho sự khác biệt về chất lượng cuộc sống theo vùng miền như khả năng tiếp cận hệ thống giáo dục, y tế vào phân tích hồi quy

- Mô hình kinh tế của di cư do Harvey B.King tiếp tục nhắc đến sự khác biệt do phong tục tập quán, lối sống của vùng miền theo cộng đồng cũng

có thể làm ảnh hưởng đến sự di cư Do các tỉnh thành địa phương gần nhau thường có một tập quán tương đồng nhau ở một mức độ nhất định, nên để đưa yếu tố này vào khảo sát trong mô hình, toàn bộ 64 tỉnh thành sẽ được phân làm các vùng địa lý theo cách phân chia của Tổng cục Thống kê Phương pháp khảo sát bằng cách dùng biến giả sẽ được sử dụng để so sánh sự khác nhau trong di cư giữa các vùng địa lý

Tóm lại, các biến số cụ thể được mô tả và dự kiến sự tác động tương quan đến

số người di cư như sau :

Giá trị sản xuất nông nghiệp bình quân

Giá trị sản xuất nông nghiệp tính theo bình quân đầu người là biến số về giá trị các sản phẩm nông nghiệp tính bình quân tại từng địa phương Có hai luồng ý kiến về sự tương quan giữa giá trị sản xuất nông nghiệp bình quân đầu người và số người di cư ở từng địa phương Có ý kiến cho rằng khi thu nhập kiếm được từ làm nông không đủ trang trải cho cuộc sống hàng ngày, người lao động nông thôn có xu hướng tìm đến nơi khác có khả năng tìm kiếm thu nhập cao hơn Thông thường người nông dân thường chọn hướng di

Trang 18

cư từ nông thôn lên thành thị trong nội tỉnh hoặc cũng có thể di cư sang nông

thôn ở tỉnh khác hoặc thành thị ở tỉnh khác, do đó, biến số này cũng có tác

động nhất định đến số người di cư đi/đến một địa phương Hoặc cũng có thể

chính khoa học kỹ thuật về giống cây trồng, canh tác, … làm tăng năng suất

sản xuất nông nghiệp và do đó, làm giảm nhu cầu lao động trong lĩnh vực

này Lúc này, yếu tố giá trị sản xuất nông nghiệp có thể gián tiếp làm tăng lao

động dôi dư trong lĩnh vực nông nghiệp, biến điều này thành yếu tố đẩy người

dân tìm đến nơi khác có thị trường lao động rộng lớn hơn

Tuy vậy, cũng không thể loại trừ quan điểm : chính sản lượng sản xuất nông

nghiệp tăng lên làm tăng nhu cầu lao động trong lĩnh vực này, mà khu vực sản

xuất nông nghiệp tại Việt Nam chủ yếu dùng lao động thủ công, lao động tay

chân là chính do đó khi sản lượng nông nghiệp tăng sẽ thu hút nhiều lao động

từ các nơi khác đến

Theo quan điểm người thực hiện đề tài này, biến số Giá trị sản xuất nông

nghiệp bình quân đại diện hơn cho mức thu nhập của người dân tại khu vực

nông thôn và do đó, đối với những tỉnh thành có mức thu nhập bình quân từ

nông thôn thấp, số người di cư từ nông thôn địa phương này sang nông

thôn/thành thị địa phương khác sẽ tăng lên Do đó, sự thay đổi giữa hai biến

số này sẽ là ngược chiều nhau

Diện tích cây lương thực có hạt bình quân

Diện tích cây lương thực có hạt bình quân đại diện cho số diện tích đất canh

tác tạo ra nguồn lương thực (lúa, lạc, đậu, bắp, …) có thể đem lại thu nhập

cho người nông dân Trong những năm gần đây, diện tích nông nghiệp ở nước

ta liên tục bị giảm, số diện tích khai hoang mới không đủ để bù đắp cho số

diện tích bị mất đi do chuyển đổi công năng sang mục đích khác (như mở sân

golf, làm du lịch, khu công nghiệp,…) Theo ước tính16, bình quân mỗi năm

có từ 8000-10.000 nghìn ha đất nông nghiệp bị chuyển dụng sang những mục đích sử dụng khác, làm ít nhất 7 triệu lao động ở nông thôn không có đất canh tác, mất đi thu nhập và việc làm Mặt khác, vốn đầu tư vào khu vực nông thôn rất thấp, số lượng nông dân hưởng lợi từ việc chuyển đổi đất nông nghiệp không cao do trình độ hạn chế càng làm khả năng người lao động nông thôn không có việc làm tại quê hương Tất cả những điều này thúc đẩy người lao động nông thôn trở thành người di cư đến nơi khác Vì vậy, diện tích cây lương thực bình quân đầu người sẽ biến thiên cùng chiều với số người di cư đến địa phương đó Cụ thể, khi diện tích bình quân đầu người tăng sẽ làm giảm số người di cư rời bỏ quê hương, làm tăng số người di cư đến từ nơi khác tìm và ngược lại

Giá trị sản xuất công nghiệp ngoài Nhà nước bình quân

Khu vực ngoài nhà nước luôn là nơi tạo ra nhiều việc làm nhất Phần lớn các doanh nghiệp trong khu vực ngoài nhà nước đều hoạt động trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp hoặc cung cấp dịch vụ, rất ít doanh nghiệp chọn hoạt động trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp do lợi nhuận thấp Khu vực sản xuất công nghiệp ngoài Nhà nước bao gồm các doanh nghiệp hoạt động từ nhiều nguồn vốn khác nhau (ngoại trừ đầu tư nước ngoài), từ huy động vốn cổ phần, tư nhân, hợp tác, liên doanh Đây cũng là khu vực năng động và bao gồm nhiều ngành nghề, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, tạo ra hầu hết số việc làm mới hàng năm Theo Thời báo Kinh tế Việt Nam17, số người làm việc trong khu vực ngoài Nhà nước chiếm chiếm 88.2% tổng số lao động, gấp 8

16 Mạnh Hùng, Di dân : Bài toán đang tìm lời giải, Báo điện tử Đảng cộng sản Việt Nam, truy cập tại http://www.cpv.org.vn/print_preview.asp?id=BT18120779198 ngày 08/11/2008

17 Kết quả điều tra lao động, việc làm 2005 - Tỷ lệ thất nghiệp giảm, lao động qua đào tạo tăng, Thời báo Kinh tế Việt Nam số 231 ngày 21/11/2005

Trang 19

lần số lao động làm việc trong khu vực Nhà nước Trong năm 2004-2005,

mức tăng lao động ở khu vực ngoài Nhà nước cũng cao hơn nhiều so với khu

vực Nhà nước (1,022,000 so với 72,600 người) Qui mô hoạt động của các

doanh nghiệp khu vực này ở mức nhỏ và vừa, yêu cầu lao động không đòi hỏi

quá cao (đặc biệt là về giấy tờ, hồ sơ), chi phí để tìm việc trong khu vực này

thấp, vì thế việc làm trong khu vực này sẽ thu hút nhiều người lao động tìm

đến, trong đó có không ít là dân di cư

Ở những địa phương có khu vực ngoài Nhà nước đầu tư lớn hoặc hoạt động

mạnh, số việc làm tạo ra sẽ tăng tương ứng, đồng nghĩa với thu hút nhiều lao

động hơn Nếu lực lượng lao động ở địa phương không cung ứng đủ nhu cầu

của những Doanh nghiệp này, nguồn cung còn lại sẽ đến từ các địa phương

khác trên cả nước Người lao động (trong đó có người di cư) sẽ tìm đến nơi có

điều kiện tìm được việc làm dễ dàng hơn Do đó, số người di cư đến một địa

phương được cho là sẽ tỷ lệ thuận với giá trị sản xuất công nghiệp khu vực

ngoài Nhà nước (tính theo bình quân đầu người) ở địa phương đó

Giá trị sản xuất công nghiệp khu vực Nhà nước bình quân

Mang tính chất được bao cấp và hoạt động từ nguồn vốn Nhà nước, các doanh

nghiệp hoạt động trong khu vực Nhà nước vẫn phải theo đường lối phát triển

kinh tế do Nhà nước đề ra nhằm thực hiện các mục tiêu ổn định kinh tế, xã

hội, chính trị bên cạnh yếu tố lợi nhuận Một trong những mục tiêu đó là tạo

thêm công ăn việc làm cho người lao động, giảm tỉ lệ thất nghiệp, góp phần

phát triển kinh tế ở một địa phương gặp nhiều khó khăn Đôi lúc, mục tiêu tạo

ra việc làm còn lấn át cả các mục tiêu hiệu quả kinh tế Đơn cử như các

chương trình phát triển ngành công nghiệp mía đường, xi măng ở khắp cả

nước Một số nhà máy, xí nghiệp còn được đặt ở vùng sâu, vùng xa nhằm

mục đích “tận dụng nguồn nguyên liệu và lao động tại chỗ” Khi các công ty,

doanh nghiệp này ra đời, không kỳ vọng là nhu cầu lao động sẽ tăng cao tới

mức thu hút lao động di cư ở các tỉnh khác nhưng nó có thể có tác động tích cực trong việc giảm hiện tượng di cư đi nơi khác của cư dân tại tỉnh thành đó, gián tiếp làm tăng mức di cư đến hoặc giảm mức di cư đi của địa phương Vì vậy, biến số này có thể sẽ biến thiên đồng biến với số di cư của từng địa phương

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng bình quân

Khu vực bán lẻ hàng hóa và cung cấp dịch vụ là nơi tạo ra việc làm nhiều nhất trong các lĩnh vực kinh tế tại khu vực thành thị Phát triển khu vực bán lẻ hàng hóa, dịch vụ cũng nằm trong các mục tiêu ưu tiên phát triển kinh tế của Chính phủ

Nhờ mức độ ổn định trong hệ thống an ninh chính trị, cơ cấu dân số trẻ, tầng lớp dân chúng có thu nhập trung bình và cao ở Việt Nam gia tăng nhanh cộng với nền kinh tế phát triển gia tăng hàng năm, Việt Nam là một trong những nơi phát triển mạng lưới và hệ thống bán lẻ nhanh nhất thế giới Trong đánh giá về chỉ số phát triển bán lẻ chung (Global Retail Development Index - GRDI) của tập đoàn tư vấn hàng đầu thế giới AT Kearney, Việt Nam liên tục thăng hạng Từ hạng 8 trong năm 2005 lên hạng 3 năm 2006, hơi giảm xuống hạng 4 trong năm 2007 nhưng đã vươn lên đứng đầu trong năm 200818

Hàng loạt các tập đoàn đã đặt chân lên thị trường Việt Nam như Procter & Gamble, Unilever, Johnson&Johnson, Sony, Honda, Dairy Farm, Best Denki, METRO, Casio Group và Parkson Group… cho thấy sức thu hút của thị trường bán lẻ có qui mô hơn 80 triệu dân

Do đặc thù công việc trong lĩnh vực bán lẻ và cung cấp dịch vụ thường đơn giản, nhân công không đòi hỏi trình độ chuyên môn cao, vốn đầu tư ít, mức

độ linh hoạt cao, lĩnh vực hoạt động đa dạng cộng với sự phát triển rất nhanh

18 Xem GRDI 2005, 2006, 2007 và 2008 trên http://www.atkearney.com

Trang 20

tại các thành thị, nhu cầu lao động tại những địa phương có mức bán lẻ hàng

hóa và dịch vụ tiêu dùng bình quân cao thu hút nhiều lao động di cư tìm đến

Do vậy, mức di cư tại các địa phương sẽ tỉ lệ thuận với mức bán lẻ hàng hóa

và cung cấp dịch vụ bình quân

Ngoài những yếu tố về kinh tế, các yếu tố về y tế và giáo dục cũng sẽ được

khảo sát tác động lên số người di cư trong nghiên cứu này Các biến số này

bao gồm :

Số cán bộ ngành Y trực thuộc sở Y tế và Số giường bệnh trực thuộc sở Y

tế bình quân trên 100,000 dân

Biến số đầu đại diện cho nhân lực trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe cho

người dân, biến số thứ hai đại diện cho cơ sở vật chất trong lĩnh vực này Hai

biến số này cho thấy mức độ đáp ứng nhu cầu của người dân trong lĩnh vực

chăm sóc sức khỏe, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân Ở những

địa phương không đảm bảo khả năng chăm sóc y tế cho người dân (đặc biệt

đối với người già, trẻ em) hoặc khả năng chữa một số loại bệnh nan y có hạn,

nhu cầu được chăm sóc tốt hơn sẽ nảy sinh trong một số bộ phận người dân

Những bệnh nhân có nhu cầu chuyển viện sẽ kéo theo ít nhất một người thân

kèm theo để chăm sóc Đối với người chưa có nhu cầu về y tế, những địa

phương có hệ thống y tế đầy đủ, có nhiều tiện ích do dịch vụ chăm sóc sức

khỏe cung cấp sẽ là yếu tố thu hút người dân lựa chọn làm địa điểm di cư đến

Vì vậy, sự biến thiên giữa hai biến này với số di cư được kỳ vọng sẽ tỉ lệ

thuận với nhau

Số giáo viên, số sinh viên đại học và cao đẳng bình quân trong 100,000

dân

Đây là biến số đại diện cho khả năng đáp ứng việc đào tạo chuyên môn, nghề

nghiệp cho người dân Trong nền kinh tế ngày càng phát triển, nhu cầu tìm

kiếm một công việc phù hợp luôn là mục tiêu của người dân trong độ tuổi lao động (đặc biệt là tầng lớp lao động trẻ) Để hiện thực hóa điều này, nhu cầu được đào tạo chuyên môn, nghề nghiệp cũng ngày càng tăng Những địa phương ít trường học (đào tạo chuyên môn hoặc dạy nghề) sẽ là yếu tố đẩy người muốn được đào tạo chuyển đến nơi khác Mặt khác, do yếu tố cạnh tranh lẫn nhau, những địa phương có nhiều trường Đại học, cao đẳng, trung cấp dạy nghề, nhiều học viên theo học thường kéo theo chất lượng đào tạo cao hơn, do đó điều này góp thêm yếu tố hút đối với người có nhu cầu đào tạo Ví dụ ở Đà Nẵng cũng có trường Bách Khoa, Kinh tế nhưng hàng năm vẫn có một lượng lớn sinh viên ở Đà Nẵng khăn gói vào học tại các trường Bách Khoa, Kinh tế ở TPHCM Theo nhu cầu này, số người di chuyển khỏi một địa phương vì mục đích giáo dục sẽ luôn xuất hiện cho tới khi cung giáo dục và cầu giáo dục ở địa phương đó đạt được trạng thái cân bằng Trong thực

tế đây là điều rất khó xảy ra nên di cư vì mục đích giáo dục luôn xuất hiện hàng năm Hiện tượng di cư của một lượng lớn thanh niên ở độ tuổi tốt nghiệp trung học hàng năm sau các kỳ thi Đại học là một ví dụ cụ thể Đó là chưa kể không ít trong số này có đi kèm theo người thân để chăm sóc

Tóm lại, số giảng viên, sinh viên đại học và cao đẳng có thể có mức tăng đồng biến với số người di cư tại một địa phương

Khoảng cách giữa từng địa phương đến các trung tâm kinh tế cả nước

Đây là biến số được đề cập trong mô hình di cư của Harvey B.King Trong

mô hình của George J.Bonas, khoảng cách là một trong các chi phí gián tiếp tác động đến quyết định di cư Đối với mô hình Harris – Todaro, biến số này

có thể làm một yếu tố nằm trong hệ số h, đại diện cho mức độ hưởng ứng của

những người có khả năng di cư hoặc độ nhạy di cư của công thức :

Mt = h(p.Wu – Wr),

Trang 21

Các trung tâm kinh tế cả nước được tính trong nghiên cứu này là hai thành

phố Hồ Chí Minh và Hà Nội, hai nơi phát triển về kinh tế nhất nằm ở hai đầu

đất nước Hai trung tâm này luôn là đích đến của phần lớn người dân di cư

Do đó, hai địa phương này được chọn làm mốc đến để tính khoảng cách giữa

nơi đi và nơi đến

Khoảng cách từ các địa phương đến hai thành phố (được nhiều người di cư

lựa chọn nhất) đại diện cho chi phí di chuyển khi người dân quyết định di cư

đến Chi phí di chuyển bao gồm chi phí vật chất, thời gian và tinh thần do đi

lại và xa cách người thân, họ hàng tại quê hương Chi phí này càng cao sẽ là

động lực cản trở người di cư thực hiện việc chuyển đi Vì vậy, biến số này

được cho là tỉ lệ nghịch với số người di cư tại từng địa phương

Các biến giả theo vùng địa lý

Hiện nay, cả nước được chia thành 8 vùng địa lý bao gồm Đồng bằng sông

Hồng, Đông Bắc, Tây Bắc, Bắc Trung bộ, Duyên hải Nam Trung bộ, Tây

Nguyên, Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu long Cơ sở để phân chia các

vùng địa lý này dựa trên sự tương đồng về địa hình, đất đai và do đó, con

người ở các vùng miền này cũng có những đặc tính sinh hoạt, làm việc tương

tự Cộng với sự chênh lệch trong mức phát triển kinh tế, đặc tính di cư của

người di cư ở những vùng miền khác nhau cũng sẽ có sự khác nhau tương đối

Theo lý thuyết đã trình bày trong Chương I, hầu hết mọi sự di cư đều bắt

nguồn từ nguyên nhân kinh tế Vì vậy, đặc điểm tỉ lệ hộ nghèo sẽ được xem

xét trong việc dự đoán hướng di cư của từng vùng miền Căn cứ theo mức

khảo sát thống kê hộ nghèo trong năm 2006 (Hình 6), kỳ vọng các vùng địa lý

có tỷ lệ hộ nghèo cao sẽ có động lực thực hiện các cuộc di cư đến các vùng

miền khác nhằm tìm kiếm thu nhập cao hơn Vì vậy, các địa phương ở các

vùng Tây Bắc, Bắc Trung bộ và Tây Nguyên sẽ có mối tương quan nghịch

biến với mức di cư thuần, tức ở các vùng này số người di cư đến giảm nhưng

số người di cư đi tăng

Hình 6 – Tỷ lệ hộ nghèo theo vùng địa lý

Tỷ lệ hộ nghèo theo vùng địa lý

0 5 10 15 20 25 30 35 40 45 50

Đồng bằng sông Hồng

Đông Bắc

Tây Bắc

Bắc Trung Bộ

Duyên hải Nam Trung Bộ

Tây Nguyên

Đông Nam Bộ

Đồng bằng sông Cửu Long

Các biến độc lập

FoodSPer : Diện tích đất nông nghiệp bình quân (m2/người)

AgriVPer : Giá trị sản xuất nông nghiệp bình quân (ngàn VND/người)

IndustrialOoSPer : Giá trị sản xuất công nghiệp khu vực ngoài Nhà nước bình

quân (ngàn VND/người)

IndustrialSPer : Giá trị sản xuất công nghiệp khu vực Nhà nước bình quân

Trang 22

(ngàn VND/người)

MedicNPer : Số nhân viên y tế bình quân trên 100,000 dân

EducatedNPer : Số giảng viên, sinh viên đại học và cao đẳng bình quân trên

100,000 dân

MedicBedNPer : Số giường bệnh bình quân trên 100,000 dân

GoodSerVPer : Giá trị bán lẻ hàng hóa và dịch vụ bình quân (ngàn

VND/người)

GDPPer : GDP bình quân (ngàn VND/người)

Distance : Khoảng cách theo đường bộ từ địa phương đến hai trung

tâm kinh tế cả nước Bằng giá trị nhỏ nhất giữa khoảng cách từ địa phương đến Hà Nội và khoảng cách từ địa phương đến TPHCM (km)

Ví dụ : Khoảng cách theo đường bộ từ Phú Yên đi Hà Nội

là 1156 km, từ Phú Yên đi TPHCM là 560 km Như vậy, biến Distance của Phú Yên sẽ là min(1156,560) = 560 km

Các biến giả đại diện cho vùng địa lý của địa phương

Để tránh hiện tượng đa cộng tuyến hoàn hảo giữa các biến giả, chỉ sử dụng 7

biến giả để đại diện cho 8 vùng địa lý

FoodSPer Dtích đất NN bình quân (m2/người) - AgriVPer Giá trị SXNN bình quân (ngàn VND/người) - IndustrialOoSPer Giá trị SXCN khu vực ngoài NN bình quân

Distance Khoảng cách ngắn nhất đến hai đầu đất nước -

(Nguồn : Mô tả từ nội dung đã trình bày ở phần trên)

Với những biến số và giả thuyết về sự tương quan trên, mô hình phân tích trong đề tài như sau :

Migrant = FoodSPer AgriVPer IndustrialOoSPer

IndustrialSPer + GoodSerVPer + GDPPer+

MedicNPer + EducatedNPer + MedicBedNPer + Distance + 1Region1 + 2Region2 + 3Region3 +

4Region4 + 5Region5 + 6Region6 + 7Region7 + u

Trang 23

2.4 Phân tích

2.4.1 Sự tương quan giữa các biến

Phân tích sự tương quan giữa các biến sẽ cho thấy một cái nhìn tổng thể về

mối quan hệ về biến thiên của các biến số Bảng 9 và 10 thống kê các hệ số

tương quan giữa các biến Phần trong dấu ngoặc kép “( )” là kiểm định

Pearson mức ý nghĩa của các hệ số tương quan

2.4.1.1 Tương quan giữa các biến độc lập, biến phụ thuộc và hiệu chỉnh dị

biệt

Biến phụ thuộc trong mô hình nghiên cứu là số di cư nam và nữ bình quân

trong 3 năm (2005-2007) ở từng địa phương, tên biến là MigrantMMean và

MigrantFMean

Dữ liệu thường được chú ý nhất trong các đề tài di cư là các biến số liên quan

đến thu nhập Trong bảng 9 mô tả các hệ số tương quan của các biến phụ

thuộc của mẫu dữ liệu ban đầu (có 64 tỉnh thành), biến đại diện cho thu nhập

bình quân của người dân tại một địa phương (GDPPerMean) không có sự

tương quan chặt với số di cư nam và chỉ thể hiện tương quan rất thấp với số di

cư nữ Căn cứ vào điều này, có thể dẫn tới giả thuyết : ảnh hưởng của thu

nhập có tác động không rõ ràng hoặc không đáng kể trong mô hình này, trong

khi mối ảnh hưởng này đã được khẳng định trong các mô hình của Harris

Todaro, Harvey B King và các nghiên cứu khác

Tuy nhiên, có một điều cần chú ý là biến số GDP bình quân đầu người có thể

không phản ảnh đầy đủ thu nhập bình quân của người dân Một số tỉnh thành

có nguồn thu lớn bất thường do có ưu thế hơn hẳn về tài nguyên thiên nhiên

hoặc có những dự án, nhà máy tạo ra giá trị sản xuất lớn thường được tính vào

GDP cả nước Vì vậy, khi đưa vào tính toán, GDP bình quân có thể tạo ra

những dị biệt không phản ánh đúng thực chất thu nhập bình quân của địa

phương đó Để kiểm tra giả thuyết này, trước hết cần bắt đầu từ nguồn số liệu dùng để tính toán biến số này

Biểu đồ phân tán (Hình 7) mô tả mối quan hệ giữa số di cư nam và GDP bình quân đầu người Trong biểu đồ này, ta thấy rõ có một biến dị biệt là Bà Rịa – Vũng Tàu có GDP bình quân đầu người rất cao Nguyên nhân là nguồn thu nhập từ khai thác dầu khí được tính vào GDP của Bà Rịa Vũng Tàu, trong khi địa phương này có dân số thấp

Hình 7 – Đồ thị phân tán số di cư nam (có Bà Rịa – Vũng Tàu)

Bà Rịa - Vũng Tàu

-20,000 -10,000 0 10,000 20,000 30,000 40,000 50,000 60,000 70,000

Trang 24

Bảng 7 cho thấy Dân số bình quân của TP Hồ Chí Minh gấp 6.5 lần Bà Rịa

Vũng Tàu, nhưng GDP của TPHCM – địa phương cao nhất cả nước – chỉ cao

hơn GDP của Bà Rịa Vũng Tàu khoảng 10 nghìn tỷ Vì vậy, nếu xét theo tỉ lệ

GDP bình quân đầu người, Bà Rịa Vũng Tàu cao hơn TP Hồ Chí Minh gấp 6

lần Nếu dựa vào tỉ lệ này cho rằng, thu nhập người dân ở Bà Rịa Vũng Tàu

cao hơn TP HCM là hoàn toàn không chính xác

Về mặt số liệu, một số phần tử có đặc tính đặc biệt là điều bình thường trong

mẫu Những phần tử như vậy có thể xuất hiện một cách ngẫu nhiên trong bất

cứ một mẫu dữ liệu nào Tuy nhiên, sự khác biệt quá lớn của biến GDP bình

quân của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu có thể tạo nên sự phân cực lớn và làm ảnh

hưởng đến đặc tính chung của mẫu dữ liệu Hình 7 cho thấy, GDP bình quân

của Bà Rịa – Vũng Tàu cao nhất và cách rất xa GDP bình quân cao thứ hai

của mẫu (TPHCM)

Các phân tích thống kê mô mô tả tổng quát sự phân bố của mẫu dữ liệu GDP

bình quân của 64 tỉnh thành và mẫu dữ liệu GDP bình quân của 63 tỉnh thành

(không tính Bà Rịa – Vũng Tàu) tại Bảng 8 cho thấy khi có Bà Rịa – Vũng

Tàu, các hệ số Kurtosis và Skewness bị thay đổi rõ rệt, đặc biệt là Kurtosis19

Bảng 8 – So sánh mô tả thống kê di cư khi có và không tính

Bà Rịa – Vũng Tàu GDPPerMean Có BR-VT Không có BR-VT

Standard Error 2,048.09 591.02

Standard Deviation 16,384.69 4,691.05

19 Hệ số Kurtosis đại diện cho sự phân bố tập trung của các biến quanh giá trị trung bình của mẫu Kurtosis

càng lớn thì sự tập trung quanh giá trị trung bình càng nhiều Hệ số Skewness cho biết độ lệch xung quanh dữ

liệu trung bình, Skewness càng âm thì phân bố càng lệch phải, Skewness càng dương thì phân bố càng lệch

(Nguồn : Tính toán từ nguồn số liệu khảo sát)

Đây là sự dị biệt trong số liệu cần chú ý khi so sánh thu nhập giữa các địa phương với nhau thông qua biến số GDP bình quân Quảng Ngãi, nơi nhà máy lọc dầu Dung Quất chuẩn bị đi vào hoạt động cũng sẽ có hiện tượng tương tự trong tương lai, vì giá trị sản xuất công nghiệp của nhà máy này không hoàn toàn thuộc về toàn bộ người dân ở Quảng Ngãi mà phần lớn sẽ được tính vào GDP quốc gia Những dị biệt có ảnh hưởng quá lớn này có thể làm méo dạng kết quả phân tích trong mô hình hồi quy Do đó, để khắc phục hiện tượng này, biến số Bà Rịa – Vũng Tàu sẽ được loại khỏi mẫu quan sát Việc phân tích hồi quy trong phần kế tiếp sẽ chỉ thực hiện với mẫu còn lại 63 tỉnh thành

Bảng 10 mô tả hệ số tương quan của các biến số sau khi đã điều chỉnh mẫu quan sát (bỏ đi Bà Rịa – Vũng Tàu) Các hệ số không thay đổi nhiều so với trước khi điều chỉnh (Bảng 9), ngoại trừ thay đổi rõ rệt trong sự tương quan giữa GDP bình quân và các biến phụ thuộc Trong mẫu sau khi điều chỉnh, sự

tương quan này thể hiện mạnh nhất so với các hệ số còn lại Cả hai hệ số

tương quan của biến này với số di cư nam và nữ đều ở mức cao và đạt mức ý nghĩa <1% Điều này phản ánh thu nhập có liên quan chặt chẽ với số lượng người di cư ở từng địa phương

Cả hai biến MigrantMMean và MigrantFMean đều tương quan nghịch biến với diện tích đất nông nghiệp bình quân FoodSPerMean, sự tương quan có ý

nghĩa ở mức 0.05 Điều này cho thấy diện tích đất nông nghiệp ở các địa

Ngày đăng: 15/08/2016, 10:38

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình đƣợc George J.Bonas giới thiệu. - NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN DI CƢ TẠI CÁC TỈNH THÀNH VIỆT NAM
nh đƣợc George J.Bonas giới thiệu (Trang 10)
Hình  1 – Khung phân tích - NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN DI CƢ TẠI CÁC TỈNH THÀNH VIỆT NAM
nh 1 – Khung phân tích (Trang 13)
Bảng  2  tóm tắt kết quả phân tích thống kê số liệu di cƣ bình quân trong 3 năm - NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN DI CƢ TẠI CÁC TỈNH THÀNH VIỆT NAM
ng 2 tóm tắt kết quả phân tích thống kê số liệu di cƣ bình quân trong 3 năm (Trang 14)
Hình  2 -  Di cƣ nam bình quân (phân tích từ nguồn số liệu) - NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN DI CƢ TẠI CÁC TỈNH THÀNH VIỆT NAM
nh 2 - Di cƣ nam bình quân (phân tích từ nguồn số liệu) (Trang 15)
Hình  3 – Di cƣ nữ bình quân - NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN DI CƢ TẠI CÁC TỈNH THÀNH VIỆT NAM
nh 3 – Di cƣ nữ bình quân (Trang 15)
Hình  4 – Di cƣ nam bình quân rút gọn - NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN DI CƢ TẠI CÁC TỈNH THÀNH VIỆT NAM
nh 4 – Di cƣ nam bình quân rút gọn (Trang 16)
Hình  6 – Tỷ lệ hộ nghèo theo vùng địa lý - NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN DI CƢ TẠI CÁC TỈNH THÀNH VIỆT NAM
nh 6 – Tỷ lệ hộ nghèo theo vùng địa lý (Trang 21)
Bảng 5 - Bảng tổng hợp cách chọn các biến giả - NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN DI CƢ TẠI CÁC TỈNH THÀNH VIỆT NAM
Bảng 5 Bảng tổng hợp cách chọn các biến giả (Trang 22)
Hình  7 – Đồ thị phân tán số di cƣ nam (có Bà Rịa – Vũng Tàu) - NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN DI CƢ TẠI CÁC TỈNH THÀNH VIỆT NAM
nh 7 – Đồ thị phân tán số di cƣ nam (có Bà Rịa – Vũng Tàu) (Trang 23)
Bảng  7  cho thấy Dân số bình quân của TP. Hồ Chí Minh gấp 6.5 lần Bà Rịa - NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN DI CƢ TẠI CÁC TỈNH THÀNH VIỆT NAM
ng 7 cho thấy Dân số bình quân của TP. Hồ Chí Minh gấp 6.5 lần Bà Rịa (Trang 24)
Bảng 11 – Kết quả mô hình hồi quy của di cƣ nam - NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN DI CƢ TẠI CÁC TỈNH THÀNH VIỆT NAM
Bảng 11 – Kết quả mô hình hồi quy của di cƣ nam (Trang 27)
Hình Harris-Todaro, Malcom và Harvey B. King (mặc dù không phải là yếu tố - NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN DI CƢ TẠI CÁC TỈNH THÀNH VIỆT NAM
nh Harris-Todaro, Malcom và Harvey B. King (mặc dù không phải là yếu tố (Trang 28)
Bảng 14 - Kết quả phân tích hồi quy, biến phụ thuộc : MigrantFMean - NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN DI CƢ TẠI CÁC TỈNH THÀNH VIỆT NAM
Bảng 14 Kết quả phân tích hồi quy, biến phụ thuộc : MigrantFMean (Trang 31)
Bảng 15 - Tỷ lệ hộ nghèo năm 2004 và năm 2006   theo chuẩn mới của Chính Phủ giai đoạn 2006-2010 (%) - NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN DI CƢ TẠI CÁC TỈNH THÀNH VIỆT NAM
Bảng 15 Tỷ lệ hộ nghèo năm 2004 và năm 2006 theo chuẩn mới của Chính Phủ giai đoạn 2006-2010 (%) (Trang 39)
Bảng 19 – Các mô hình hồi quy của di cƣ Nữ   (biến phụ thuộc MigrantMMean)  Coefficients(a) - NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN DI CƢ TẠI CÁC TỈNH THÀNH VIỆT NAM
Bảng 19 – Các mô hình hồi quy của di cƣ Nữ (biến phụ thuộc MigrantMMean) Coefficients(a) (Trang 45)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w