Phương pháp đánh giá "Phân loại tiềm năng đất đai" của Mỹ tuy không đi sâu vào từng loại hình cụ thể đối với sản xuất nông nghiệp và xác định về mặt hiệu quả kinh tế - xã hội, song lại r
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
Thái Nguyên - Năm 2015
Trang 2ĐỖ QUỐC ĐÔNG
ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG THÍCH HỢP CỦA CÁC LOẠI HÌNH SỬ DỤNG ĐẤT SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP TẠI XÃ HỢP TIẾN, HUYỆN ĐỒNG HỶ,
TỈNH THÁI NGUYÊN
Ngành : Quản lý đất đai
Mã số : 60 85 01 03
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đàm Xuân Vận
Thái Nguyên - Năm 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chƣa đƣợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện nghiên cứu đã đƣợc cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đƣợc chỉ rõ nguồn gốc
Thái Nguyên, ngày 04 tháng 09 năm 2015
Tác giả
Đỗ Quốc Đông
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của nhiều cơ quan, nhiều tổ chức và cá nhân Tôi xin trân trọng bày tỏ lời cảm ơn với tất cả tập thể
và các cá nhân đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu Trước hết, tôi xin bày
tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo PGS.TS Đàm Xuân Vận, đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, các thầy cô giáo trong Khoa Tài Nguyên & Môi trường và Khoa Sau đại học trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã trang bị cho tôi những kiến thức quý báu và giúp tôi hoàn thiện luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của UBND xã Hợp Tiến, UBND huyện Đồng Hỷ, phòng thống kê, Hội nông dân tập thể đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập số liệu và kiểm nghiệm kết quả nghiên cứu
Tôi xin trân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã nhiệt tình giúp
đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu
Thái Nguyên, ngày 04 tháng 09 năm 2015
Tác giả
Đỗ Quốc Đông
Trang 5MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 2
2.1 Mục tiêu của đề tài 2
2.2 Yêu cầu của đề tài 3
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 3
Chương 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1 Vai trò của công tác đánh giá đất 4
1.2 Cơ sở lí luận về đánh giá đất 5
1.3 Tình hình nghiên cứu đánh giá đất ở nước ngoài 6
1.3.1 Đánh giá đất đai theo phân loại định lượng (Soil Taxonomy) của Mỹ 6
1.3.2 Đánh giá đất đai ở Liên Xô (cũ) 7
1.3.3 Đánh giá đất đai ở Anh 8
1.3.4 Đánh giá đất đai ở Canađa 9
1.3.5 Đánh giá đất đai ở Ấn Độ 10
1.3.6 Nghiên cứu đánh giá đất của tổ chức FAO 11
1.3.7 Nhận xét chung về các phương pháp đánh giá đất đai ở nước ngoài 17
1.4 Nghiên cứu về đánh giá đất ở Việt Nam 17
Chương 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
2.1 Đối tượng và địa điểm nghiên cứu 25
Trang 62.2 Nội dung nghiên cứu 25
2.2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội của xã 25
2.2.2 Xây dựng bản đồ đơn vị đất đai 25
2.2.3 Đánh giá hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp theo các đơn vị đất đai 26
2.2.4 Đánh giá hiệu quả của các loại hình sử dụng đất 26
2.2.5 Đề xuất những loại hình sử dụng đất có triển vọng 26
2.3 Phương pháp nghiên cứu 26
2.3.1 Phương pháp điều tra thu thập số liệu thứ cấp 26
2.3.2 Phương pháp điều tra số liệu sơ cấp 26
2.3.3 Phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng đất 27
2.3.4 Phương pháp xây dựng bản đồ đơn vị đất đai bằng công nghệ GIS 29
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 30
3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội 30
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 30
3.1.1.1 Vị trí địa lý 30
3.1.1.2 Đặc điểm khí hậu 30
3.1.1.3 Địa hình, địa mạo 31
3.1.1.4 Điều kiện thuỷ văn 31
3.1.1.5 Điều kiện thổ nhưỡng 31
3.1.2 Điều kiện kinh tế, xã hội 33
3.1.2.1 Dân số và lao động 33
3.1.2.2 Hiện trạng sử dụng đất của xã Hợp Tiến năm 2013 33
3.1.2.3 Tình hình phát triển các ngành sản xuất 37
3.1.2.4 Cơ sở hạ tầng 39
3.2 Xây dựng bản đồ đơn vị đất đai 41
3.2.1 Xác định các yếu tố và chỉ tiêu phân cấp bản đồ đơn vị đất đai 43
3.2.2 Xây dựng các bản đồ đơn tính 45
3.2.2.1 Cơ sở dữ liệu không gian 45
3.2.2.2 Cơ sở dữ liệu thuộc tính 46
Trang 73.2.3 Mô tả các đơn vị bản đồ đất đai (LMU) 55
3.3 Đánh giá hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp xã Hợp Tiến 61
3.3.1 Các loại hình sử dụng đất của xã Hợp Tiến 61
3.3.2 Các hệ thống sử dụng đất của xã Hợp Tiến 64
3.3.3 Xác định các yêu cầu sử dụng đất 65
3.4 Đánh giá hiệu quả của các loại hình sử dụng đất 67
3.4.1 Đánh giá hiệu quả kinh tế của các kiểu dụng đất 67
3.4.2 Phân tích hiệu quả môi trường của các loại hình sử dụng đất 72
3.4.3 Phân tích hiệu quả xã hội của các loại hình sử dụng đất 74
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 78
1 Kết luận 76
2 Đề nghị 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO
I Tiếng Việt
II Tiếng Anh
Trang 8FAO : Food and Agriculture Organization - Tổ chức Nông lương
Liên hiệp Quốc GIS : Geographic Information System - Hệ thống thông tin địa lý
LUT : Land Use Type - Loại hình sử dụng đất
LMU : Land Mapping Unit - Đơn vị bản đồ đất đai
LUS : Land Use System - Hệ thống sử dụng đất
THCS : Trung học cơ sở
THPT : Trung học phổ thông
TTCC : Tiểu thủ công nghiệp
XHCN : Xã hội chủ nghĩa
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 3.1 Các loại đất sản xuất nông nghiệp của xã Hợp Tiến 31
Bảng 3.2 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp xã Hợp Tiến năm 2013 34
Bảng 3.3 Hiện trạng sử dụng đất sản xuất nông nghiệp xã Hợp Tiến năm 2013 35
Bảng 3.4 Các chỉ tiêu phân cấp của bản đồ đơn vị đất đai 45
Bảng 3.5 Cấu trúc của bản đồ đất 46
Bảng 3.6 Thuộc tính của bản đồ đất 46
Bảng 3.7 Tổng hợp kết quả thuộc tính của bản đồ đất 47
Bảng 3.8 Cấu trúc của bản đồ độ dốc 47
Bảng 3.9 Thuộc tính của bản đồ độ dốc 47
Bảng 3.10 Tổng hợp kết quả thuộc tính của bản đồ độ dốc 48
Bảng 3.11 Cấu trúc của bản đồ thành phần cơ giới 49
Bảng 3.12 Thuộc tính của bản đồ thành phần cơ giới 49
Bảng 3.13 Tổng hợp kết quả thuộc tính của bản đồ thành phần cơ giới 50
Bảng 3.14 Cấu trúc của bản đồ độ dày tầng đất 50
Bảng 3.15 Thuộc tính của bản đồ độ dày tầng đất 51
Bảng 3.16 Tổng hợp kết quả thuộc tính của bản đồ độ dày tầng đất 51
Bảng 3.17 Cấu trúc của bản đồ độ phì 51
Bảng 3.18 Thuộc tính của bản đồ độ phì 52
Bảng 3.19 Tổng hợp kết quả thuộc tính của bản đồ độ phì 53
Bảng 3.20 Cấu trúc của bản đồ chế độ tưới 53
Bảng 3.21 Thuộc tính của bản đồ chế độ tưới 54
Bảng 3.22 Tổng hợp kết quả thuộc tính của bản đồ chế độ tưới 55
Bảng 3.23 Số lượng và đặc tính các đơn vị đất đai xã Hợp Tiến 56
Bảng 3.24 Các loại hình sử dụng đất xã Hợp Tiến 61
Bảng 3.25 Hệ thống sử dụng đất ở xã Hợp Tiến 64
Bảng 3.26 Hiệu quả kinh tế các loại cây trồng chính tính bình quân cho 1 ha 68
Bảng 3.27 Phân cấp mức độ đánh giá hiệu quả kinh tế sử dụng đất 69
Bảng 3.28 Hiệu quả kinh tế của các kiểu sử dụng đất tính bình quân cho 1 ha 71
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 1.1 Sơ đồ các bước chính trong đánh giá đất và quy hoạch sử dụng đất 13
Hình 1.2 Sơ đồ cấu trúc của phân hạng thích hợp đất đai theo FAO 15
Hình 3.1: Bản đồ đất xã HợpTiến - huyện Đồng Hỷ - tỉnh Thái Nguyên 32
Hình 3.2 Bản đồ hiện trạng đất trồng cây hàng năm xã Hợp Tiến – huyện Đồng Hỷ - tỉnh Thái Nguyên 36
Hình 3.3 Qui trình GIS trong xây dựng bản đồ đơn vị đất đai 42
Hình 3.4 Bản đồ đơn vị đất đai xã Hợp Tiến – huyện Đồng Hỷ - tỉnh Thái Nguyên 60
Hình 3.5 Cảnh quan LUT 2 màu - lúa 62
Hình 3.6 Cảnh quan LUT chuyên rau, màu và cây CNNN 62
Hình 3.7 Cảnh quan LUT 2 lúa 63
Hình 3.8 Cảnh quan LUT 2 lúa - màu 63
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá, không thể tái tạo được đối với mỗi Quốc gia Nó không chỉ là đối tượng lao động mà còn là tư liệu sản xuất không thể thay thế trong sản xuất nông nghiệp và lâm nghiệp Đặc biệt là đất nông nghiệp có hạn về diện tích, có nguy cơ bị suy thoái dưới tác động của thiên nhiên và
sự thiếu hiểu biết của con người trong quá trình hoạt động sản xuất Khi xã hội phát triển, dân số tăng nhanh, quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh, kéo theo những đòi hỏi ngày càng tăng về lương thực, thực phẩm, nhu cầu sinh hoạt, nhu cầu về đất sử dụng vào mục đích chuyên dùng Trên thực tế đã để lại những hậu quả nghiêm trọng do việc sử dụng đất chưa hợp lý như đất bị rửa trôi, xói mòn, đất bị sa mạc hóa Điều này đã tạo nên áp lực ngày càng lớn đối với đất sản xuất nông nghiệp, làm cho quỹ đất nông nghiệp luôn có nguy cơ bị suy giảm diện tích, trong khi khả năng khai hoang đất mới và các loại đất khác chuyển sang đất nông nghiệp rất hạn chế Việc thiếu đất sản xuất, an toàn lương thực không được đảm bảo đã và đang trở thành mức báo động toàn cầu Do vậy, việc nghiên cứu đánh giá tiềm năng đất đai, đặc biệt là đất sản xuất nông nghiệp để tổ chức sử dụng hợp lý, có hiệu quả trên quan điểm sinh thái và phát triển bền vững ngày càng trở nên cấp thiết, quan trọng đối với mỗi Quốc gia
Để giải quyết vấn đề trên, các nhà khoa học của nhiều nước trên thế giới đã tập trung nghiên cứu đánh giá đất từ rất lâu và ngày càng hiện đại hơn Đánh giá đất đai là một nội dung nghiên cứu không thể thiếu được trong chương trình phát triển một nền nông lâm nghiệp bền vững và có hiệu quả, vì đất đai là tư liệu sản xuất cơ bản nhất của người nông dân, họ phải tự tích lũy những hiểu biết hạn chế trong sử dụng đất của mình, đồng thời nắm được những phương thức sử dụng đất thích hợp Trong nền nông nghiệp ổn định và phát triển bền vững thì công tác đánh giá đất đai
là công việc đầu tiên mang tính nền tảng cho qui hoạch sử dụng đất hợp lý, có hiệu quả cao
Trang 12Việc đánh giá đúng mức độ thích hợp của các loại hình sử dụng đất để tổ chức sử dụng hợp lý, có hiệu quả đang trở thành một vấn đề có tính thiết thực với tất cả các địa phương Từ kết quả đánh giá tiềm năng đất đai phải đưa ra được các giải pháp mang tính chiến lược và định hướng sử dụng đất cho tương lai để tổ chức
sử dụng đất hiệu quả và lâu bền Những năm gần đây, phương pháp đánh giá phân hạng đất thích hợp theo chỉ dẫn của FAO đã được nhiều nước trên thế giới công nhận và áp dụng
Xã Hợp Tiến nằm ở phía Đông Nam của huyện Đồng Hỷ, cách trung tâm huyện 30km, có diện tích tự nhiên là 5447.39 ha có 6.008 người với 1.480 hộ bình quân 3,9 người/hộ, điều kiện địa hình phức tạp nhiều đồi núi có độ dốc cao, giao thông đi lại khó khăn Nền kinh tế của xã còn chậm phát triển, mức thu nhập thấp Tuy vậy, xã Hợp Tiến có quỹ đất nông nghiệp khá lớn, điều kiện thiên nhiên ở đây tương đối thuận lợi cho phát triển sản xuất nông nghiệp Vấn đề đặt ra là phải nghiên cứu đánh giá được tiềm năng đất đai và các tài nguyên thiên nhiên của huyện để chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng đa dạng hóa sản phẩm, đẩy mạnh sản xuất
hàng hóa, từng bước nâng cao đời sống của nhân dân trong huyện Vì vậy:“Đánh
giá khả năng thích hợp của các loại hình sử dụng đất phục vụ sản xuất nông nghiệp tại xã Hợp Tiến, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên” nhằm sử dụng đất
hiệu quả và lâu bền trên cơ sở xây dựng một nền nông nghiệp đa canh và mang tính thương mại là nhu cầu bức thiết trong phát triển nông nghiệp nông thôn ở xã Hợp
Tiến, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên
2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài
2.1 Mục tiêu của đề tài
+ Mục tiêu tổng quát
Đánh giá các loại hình sử dụng đất làm cơ sở phân hạng thích hợp đất đai sản xuất nông nghiệp của xã Hợp Tiến, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên theo hướng dẫn của FAO
+ Mục tiêu cụ thể
- Điều tra, đánh giá điều kiện tự nhiên về đất đai, đặc điểm kinh tế - xã
Trang 13hội của vùng nghiên cứu, phát hiện những tiềm năng và tồn tại trong sử dụng đất sản xuất nông nghiệp của xã
- Xây dựng bản đồ đơn vị đất đai của xã
- Xác định hướng phát triển trong sử dụng đất nông nghiệp của xã Hợp Tiến, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên
2.2 Yêu cầu của đề tài
- Điều tra, đánh giá điều kiện tự nhiên về đất đai, đặc điểm kinh tế - xã hội của vùng nghiên cứu, phát hiện những tiềm năng và tồn tại trong sử dụng đất sản xuất nông nghiệp của xã
- Xác định hướng phát triển trong sử dụng đất nông nghiệp của xã Hợp Tiến, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên thông qua yêu cầu sử dụng đất của các loại hình
sử dụng đất
- Trên cơ sở kết quả đánh giá các loại hình sử dụng đất, đề xuất được các loại hình sử dụng đất thích hợp phục vụ sản xuất nông nghiệp tại xã Hợp Tiến, huyện Đồng Hỷ
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
* Về khoa học
- Góp phần bổ sung và hoàn thiện cơ sở lý luận khoa học cho việc sử dụng đất nông nghiệp tại xã Hợp Tiến, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên và khu vực vùng đồi núi phía Bắc Việt Nam
* Về thực tiễn
- Kết quả nghiên cứu chỉ rõ thế mạnh và sự hạn chế của các đặc tính, tính chất đất đai và các loại hình sử dụng đất hiện tại trong sản xuất nông nghiệp ở khu vực nghiên cứu
- So sánh ưu thế của loại hình sử dụng đất đề xuất với loại hình sử dụng đất trước đây của xã
- Xây dựng các giải pháp sử dụng hợp lý, có hiệu quả và bền vững nguồn tài nguyên đất cho phát triển nông nghiệp trên địa bàn xã Hợp Tiến - huyện Đồng Hỷ - Tỉnh Thái Nguyên
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Vai trò của công tác đánh giá đất
Khoa học đánh giá đất đai ra đời và phát triển cùng với sự phát triển của khoa học nông nghiệp và các lĩnh vực khoa học khác Đánh giá đất đai là một phần quan trọng của việc đánh giá tài nguyên thiên nhiên và cũng là cơ sở để định hướng
sử dụng đất hợp lý, bền vững trong sản xuất nông, lâm nghiệp Đánh giá đất đai từ lâu đã được các nhà khoa học ở nhiều quốc gia và nhiều tổ chức quốc tế quan tâm nghiên cứu, những kết quả đánh giá đất đã được tổng kết và khái quát chung trong khuôn khổ hoạt động của các tổ chức liên hợp quốc như: FAO, unesco và được coi như tài sản tri thức chung của nhân loại
Đất đai đóng vai trò quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người,
nó là cơ sở tự nhiên, là tiền đề cho mọi quá trình sản xuất C.Mac đã nhấn mạnh
"Lao động là cha, đất đai là mẹ của mọi của cải vật chất xã hội" Đất đai là cội nguồn cung cấp lương thực, thực phẩm và vật chất khác cho con người Để sử dụng hợp lý và có hiệu quả nguồn tài nguyên đất đang là một vấn đề cấp bách đặt ra cho các nhà khoa học
Hiện nay trên thế giới có khoảng 3,3 tỷ ha đất nông nghiệp, trong đó đã khai thác được 1,5 tỷ ha, còn lại đa phần là đất xấu, sản xuất nông nghiệp gặp nhiều khó khăn [2] Trong 45 năm qua, theo kết quả đánh giá của Liên hợp quốc về "Chương trình môi trường" cho thấy: 1,2 tỷ ha đất đang bị thoái hoá ở mức trung bình hoặc nghiêm trọng do những hoạt động của con người Cho đến những năm đầu của thế
kỷ 21 này vẫn còn gần 1/10 dân số thế giới thiếu ăn và bị đe dọa hàng năm mức sản xuất so với yêu cầu sử dụng lương thực trên thế giới vẫn thiếu hụt từ 150 - 200 triệu tấn Mặt khác, hàng năm có khoảng 6 - 7 triệu ha đất nông nghiệp bị loại bỏ do xói mòn và thoái hoá Để giải quyết được nhu cầu về lương thực không ngừng gia tăng con người phải tiến hành thâm canh tăng vụ, tăng năng suất cây trồng và mở rộng diện tích đất nông nghiệp [8] Bên cạnh đó, việc ngăn chặn được những suy thoái về tài nguyên đất đai gây ra do sự thiếu hiểu biết của con người và hướng tới việc sử
Trang 15dụng và quản lý đất một cách có hiệu quả trong tương lai thì công tác nghiên cứu về đánh giá đất là rất quan trọng và cần thiết [3]
Đánh giá đất đai gắn liền với sự tồn tại của loài người và khoa học công nghệ; gắn liền với việc sử dụng đất hiện tại và tương lai; là cơ sở cốt lõi để sử dụng đất bền vững Việc đánh giá đất phải được xem xét trên phạm vi rất rộng, bao gồm
cả không gian, thời gian, các yếu tố tự nhiên và xã hội [18]
1.2 Cơ sở lí luận về đánh giá đất
* Đánh giá đất dựa vào điều kiện tự nhiên
Đánh giá đất đai dựa vào điều kiện tự nhiên là: Xác định mối quan hệ của các yếu tố cấu thành đất (sinh vật, địa hình, khí hậu, đá mẹ, thời gian và tác động của con người), các điều kiện sinh thái đất và các thuộc tính của chúng có tính quy luật hoặc không có tính quy luật ảnh hưởng (tốt hoặc xấu) tới hiệu quả và mục đích của các loại sử dụng đất
Theo FAO [26], [27]:
- Đánh giá đất đai về mặt tự nhiên chỉ ra mức độ thích nghi đối với sử dụng đất hoàn toàn dựa trên cơ sở các điều kiện tự nhiên mà không xem xét đến các điều kiện kinh tế
- Đánh giá đất đai về mặt tự nhiên nhấn mạnh các khía cạnh bền vững tương đối của sự thích nghi cuả các điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng… vì chúng ít thay đổi hơn so với các yếu tố kinh tế
- Đánh giá đất đai về mặt tự nhiên được sử dụng để chia các đơn vị đất đai thành các nhóm quản lý, phục vụ các nghiên cứu chi tiết và hoàn toàn có giá trị trong thời gian lâu dài vì các mức thích nghi về mặt tự nhiên thay đổi rất chậm
* Đánh giá đất đai dựa vào các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả về môi trường
- Đánh giá đất đai dựa vào hiệu quả kinh tế
Đánh giá kinh tế đất là các ước tính thực tế của sự thích nghi về kinh tế ở mỗi đơn vị đất đai theo các chỉ tiêu về kinh tế Các chỉ tiêu này cũng thể hiện mối liên quan tới các đặc tính của đất đai
Các chỉ tiêu kinh tế thường dùng trong đánh giá đất là:
Trang 16+ Tổng giá trị sản phẩm
+ Thu nhập thuần tuý
+ Hiệu quả sử dụng vốn
+ Giá trị ngày công lao động
- Đánh giá đất đai dựa vào hiệu quả xã hội
+ Giá trị sản xuất trên lao động nông lâm (nhân khẩu nông lâm)
+ Tỷ lệ giảm hộ đói nghèo
+ Mức độ giải quyết công ăn việc làm, thu hút lao động
+ Sản phẩm tiêu thụ trên thị trường
+ Đời sống người lao động, cơ sở hạ tầng
- Đánh giá đất đai dựa vào hiệu quả môi trường
+ Tỷ lệ che phủ
+ Mức độ xói mòn
+ Khả năng bảo vệ, cải tạo đất
+ Tỷ lệ diện tích đất trồng được trồng rừng
+ Tỷ lệ diện tích đất nông nghiệp, lâm nghiệp được giao sử dụng
1.3 Tình hình nghiên cứu đánh giá đất ở nước ngoài
Đánh giá đất đai đã được nghiên cứu từ lâu trên thế giới và trở thành một khâu trọng yếu trong các hoạt động đánh giá tài nguyên hay quy hoạch sử dụng đất Công tác đánh giá đất đai có vai trò rất lớn trong việc sử dụng tài nguyên đất đai bền vững và trở thành công cụ cần thiết cho việc quy hoạch, bố trí sử dụng đất hợp lý Hiện nay, những kết quả và thành tựu về đánh giá đất đai đã được người ta tổng kết trong phạm
vi hoạt động của các tổ chức Liên hợp quốc và coi đó như tài sản trí thức chung của
nhân loại Có thể khái quát một số phương pháp đánh giá đất đai trên thế giới như sau:
1.3.1 Đánh giá đất đai theo phân loại định lượng (Soil Taxonomy) của Mỹ
Tại Mỹ công tác phân hạng đất đai nhằm sử dụng hợp lý tài nguyên đất đã được quan tâm vào những năm 1950 Mặc dù công tác điều tra phân loại đất của Hoa Kỳ mang tính thực tiễn cao, nhưng việc thể hiện kết quả điều tra lại quá phức tạp do đó khó vận dụng trong thực tế sản xuất Vì vậy, Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ đã xây dựng một phương pháp đánh giá đất đai mới: "Phân loại tiềm năng đất đai" Cơ
Trang 17sở đánh giá tiềm năng sử dụng đất dựa vào các yếu tố hạn chế trong sử dụng đất những yếu tố hạn chế này được chia thành 2 nhóm:
- Nhóm các yếu tố hạn chế vĩnh viễn bao gồm những hạn chế không dễ dàng thay đổi và cải tạo được như: độ dốc, độ dày tầng đất, điều kiện khí hậu khắc nghiệt
- Nhóm những yếu tố hạn chế tạm thời có khả năng cải tạo được bằng các biện pháp quản lý và chăm sóc như: hàm lượng dinh dưỡng, điều tiết nước
Đất đai được đánh giá theo 3 cấp: Nhóm, nhóm phụ và loại Có 2 phương pháp đánh giá đất đai được áp dụng rộng rãi ở Mỹ:
- Phương pháp tổng hợp: Phân chia phức hệ lãnh thổ tự nhiên và đánh giá đất đai theo năng suất cây trồng trong nhiều năm (10 năm trở lên) Khi tiến hành đánh giá đất đai, các nhà khoa học đã tiến hành phân hạng đất đai cho từng loại cây trồng chính [18]
- Phương pháp yếu tố: Bằng cách thống kê yếu tố tự nhiên và kinh tế để so sánh, lấy lợi nhuận tối đa là 100 điểm để làm mốc so sánh với các đất khác
Ở mức tổng quát, Mỹ đã phân hạng đất đai bằng phương pháp quy nhóm đất phục vụ sản xuất nông, lâm nghiệp gọi là đánh giá tiềm năng đất Người ta chia đất đai trong lãnh thổ Mỹ thành 8 nhóm khác nhau: Bốn nhóm đầu là thích hợp cho sản xuất nông nghiệp và bốn nhóm sau là những nhóm không thích hợp cho sản xuất nông nghiệp được dùng vào các mục đích sử dụng khác
Phương pháp đánh giá "Phân loại tiềm năng đất đai" của Mỹ tuy không đi sâu vào từng loại hình cụ thể đối với sản xuất nông nghiệp và xác định về mặt hiệu quả kinh tế - xã hội, song lại rất quan tâm đến những yếu tố hạn chế bất lợi trong sử dụng đất và việc xác định các biện pháp bảo về đất có tính đến các vấn đề về môi trường là rất có ý nghĩa cho việc tăng cương bảo vệ môi trường sinh thái
1.3.2 Đánh giá đất đai ở Liên Xô (cũ)
Phương pháp đánh giá được hình thành từ đầu những năm 50, sau đó đã được phát triển và hoàn thiện vào năm 1986 nhằm tiến hành đánh giá và thống kê chất lượng tài nguyên đất đai để phục vụ cho mục đích xây dựng chiến lược quản lý
và sử dụng đất cho các đơn vị hành chính và sản xuất trên lãnh thổ Liên bang Xô Viết Phương pháp đánh giá đất ở Liên Xô cũ được ứng dụng theo hai hướng là
Trang 18đánh giá đất chung và riêng (theo hiệu suất cây trồng là ngũ cốc và cây họ đậu) Đơn vị đánh giá đất là các chủng, loại đất Quy định đánh giá đất cho cây có tưới, đất được tiêu úng, đất trồng cây lâu năm, đất trồng cỏ thâm canh và đồng cỏ chăn thả Chỉ tiêu đánh giá đất là năng suất, giá thành sản phẩm (rúp/ha), mức hoàn vốn, địa tô cấp sai (phần có lãi thuần tuý) [20]
Nguyên tắc đánh giá mức độ sử dụng đất thích hợp là phân chia khả năng sử dụng đất đai trên toàn lãnh thổ theo các nhóm và các lớp thích hợp
- Nhóm đất thích hợp được phân theo điều kiện vùng sinh thái đất đai tự nhiên trên phạm vi vùng rộng lớn
- Lớp đất thích hợp là những vùng được tách ra theo sự khác biệt về loại hình thổ nhưỡng như điều kiện địa hình, mẫu chất, thành phần cơ giới và chế độ nước Trong cùng một lớp sẽ có sự tương đồng về điều kiện sản xuất, khả năng ứng dụng
kỹ thuật cũng như các biện pháp cải tạo và bảo vệ đất
Việc phân hạng và đánh giá đất đai được thực hiện theo 3 bước:
- Đánh giá lớp phủ thổ nhưỡng (so sánh các loại thổ nhưỡng theo tính chất tự nhiên)
- Đánh giá khả năng sản xuất của đất đai (yếu tố được xem xét kết hợp với khí hậu, độ ẩm, địa hình…)
- Đánh giá kinh tế đất (chủ yếu đánh giá khả năng sản xuất hiện tại của đất đai)
1.3.3 Đánh giá đất đai ở Anh
Tại Anh đang ứng dụng hai phương pháp đánh giá phân hạng đất đai là dựa vào thống kê sức sản xuất tiềm năng của đất và căn cứ vào thống kê sức sản xuất thực tế của đất
Theo phương pháp thứ nhất, xác định khả năng trồng cây nông nghiệp của đất phụ thuộc vào 3 nhóm nguyên nhân chính sau đây:
- Những nguyên nhân hoàn toàn không phụ thuộc vào người sử dụng đất Đó
là các yếu tố tự nhiên như: khí hậu, vị trí địa lý, địa hình, độ dốc, thành phần cơ giới Người sử dụng đất phải lựa chọn phương thức tốt nhất để khai thác đất đai và hạn chế các ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên
Trang 19- Những nguyên nhân đòi hỏi các biện pháp đầu tư lớn mới khắc phục được như các công trình tưới tiêu, thau chua, rửa mặn
- Những nguyên nhân đòi hỏi người sử dụng đất thực hiện các biện pháp thông thường hàng năm là có thể khắc phục được như: cải tạo độ chua, cung cấp chất dinh dưỡng cho đất
Theo phương pháp thứ hai, việc đánh giá đất đai căn cứ hoàn toàn vào năng suất thực tế trên đất được lấy làm tiêu chuẩn, lấy năng suất bình quân nhiều năm ở trên đất tốt nhất hoặc đất trung bình so sánh với năng suất trên đất tiêu chuẩn
Trên cơ sở các phương pháp đánh giá đó, đất đai của nước Anh được chia thành 5 nhóm:
- Nhóm 1 gồm các loại đất thuận lợi nhiều mặt để sản xuất nông nghiệp, trồng được nhiều loại cây cho năng suất cao
- Nhóm 2 gồm các loại đất có một số yếu tố hạn chế nhưng mức độ ảnh hưởng không lớn lắm, có khả năng thích hợp với nhiều loại cây trồng
- Nhóm 3 gồm các loại đất có chất lượng trung bình, thích hợp với trồng cỏ và một số ít cây lương thực, tầng đất mỏng, địa hình không bằng phẳng, khí hậu quá lạnh
- Nhóm 4 gồm các loại đất nghèo dinh dưỡng, canh tác khó khăn, chỉ trồng được các loại cây ít đòi hỏi đầu tư thâm canh
- Nhóm 5 gồm các loại đất chỉ thích hợp làm đồng cỏ, chăn nuôi, không trồng được cây lương thực
Tóm lại, khi đánh giá đất đai theo phương pháp này còn gặp nhiều khó khăn
vì năng suất của cây trồng phụ thuộc vào loại cây được chọn, điều kiện đất đai và
khả năng đầu tư của người sử dụng đất [15]
1.3.4 Đánh giá đất đai ở Canađa
Canađa đánh giá đất đai theo các tính chất tự nhiên của đất và năng suất ngũ cốc nhiều năm Trong nhóm cây ngũ cốc lấy cây lúa mì làm tiêu chuẩn và khi có nhiều loại cây thì dùng hệ số quy đổi ra lúa mì Trong đánh giá đất đai các chỉ tiêu thường được lưu ý là thành phần cơ giới, cấu trúc đất, mức độ muối độc trong đất, xói mòn và đá lẫn Phẩm chất đất đai được đánh giá bằng thang điểm 100 theo tiêu chuẩn trồng lúa mì Trên cơ sở đó đất của Canađa được chia thành 7 nhóm:
Trang 20- Nhóm 1 gồm những loại đất có thể trồng được nhiều loại cây, địa hình bằng phẳng, tầng đất dày, khả năng giữ nước tốt, không bị xói mòn
- Nhóm 2 gồm những loại đất bị xói mòn do điều kiện khí hậu không thuận lợi, độ thấm nước kém, nghèo dinh dưỡng, có khả năng thích hợp với một số loại cây trồng Khi sử dụng cần đầu tư phân bón, lao động, có biện pháp chống xói mòn, rửa trôi đất
- Nhóm 3 gồm những loại đất có độ dốc lớn (250 - 300), thành phần cơ giới nặng, nghèo dinh dưỡng, những nơi thấp dễ bị ngập úng, tầng đất mỏng, có sỏi đá,
có thể bị nhiễm mặn, chỉ thích hợp cho một số cây trồng
- Nhóm 4 gồm những loại đất thích hợp với rất ít cây trồng, có nhiều trở ngại như nhóm 3, khí hậu khắc nghiệt, không có khả năng giữ nước, bị xói mòn mạnh, tầng đất mỏng, có nhiều sỏi đá, cây trồng trên đất này cho năng suất thấp, mặc dù đầu tư chăm bón nhiều [20]
- Nhóm 5 gồm những loại đất ít trồng cây hàng năm mà phải trồng cây lâu năm, nhưng cũng rất cần sự đầu tư chăm sóc và các biện pháp cải tạo đất
- Nhóm 6 gồm những loại đất chỉ dùng vào mục đích chăn thả gia súc, gia cầm, nếu trồng cây ngắn ngày cần có sự đầu tư lớn cho khâu làm đất
- Nhóm 7 gồm những loại đất không thể sản xuất nông nghiệp được
1.3.5 Đánh giá đất đai ở Ấn Độ
Tại Ấn Độ, một số bang đã tiến hành đánh giá đất đai, áp dụng các phương pháp tham biến, biểu thị mối quan hệ giữa các yếu tố dưới dạng các phương trình toán học sau:
Y = F(A) F(B) F(C) F(X) Trong đó: Y Biểu thị sức sản xuất của đất
Trang 21Kết quả phân hạng được thể hiện dưới dạng phần trăm (%) hoặc điểm Mỗi yếu tố được phân thành nhiều cấp và tính bằng %
Dựa theo nguyên tắc trên, đất đai của Ấn Độ được chia thành 6 nhóm:
- Nhóm thượng hảo hạng: đất đạt 80 - 100%, có thể trồng bất kỳ loại cây nào cũng cho năng suất cao
- Nhóm tốt: Đạt 60 - 79%, đất có thể trồng bất kỳ loại cây nào nhưng cho năng suất thấp hơn
- Nhóm trung bình: Đạt 40 - 59%, đất trồng được một số nhóm cây trồng không đòi hỏi đầu tư chăm sóc nhiều
- Nhóm nghèo: đạt 20 - 39%, đất chỉ trồng được một số loại cây cỏ
- Nhóm rất nghèo: đạt 10 - 19%, đất chỉ làm đồng cỏ chăn thả gia súc
- Nhóm cuối cùng: Đạt dưới 10%, đất không thể dùng vào sản xuất nông nghiệp được
1.3.6 Nghiên cứu đánh giá đất của tổ chức FAO
Đứng trước tình hình suy thoái đất đang diễn ra mạnh mẽ và ngày một gia tăng, ngay từ những năm đầu của thập kỷ 70 nhiều quốc gia thuộc các nước phát triển đã không ngừng hoàn thiện các hệ thống đánh giá đất của mình, vì đánh giá sử dụng đất thích hợp là cơ sở cần thiết cho quy hoạch sử dụng đất và phát triển sản xuất nông nghiệp
Trung tâm nghiên cứu phân loại đất quốc tế do UNESCO tài trợ, FAO thực hiện đã xây dựng được bản đồ đất toàn cầu tỷ lệ 1: 5.000.000 Để thống kê quỹ đất toàn cầu, FAO đã tập hợp trên 300 nhà khoa học thổ nhưỡng hàng đầu thế giới và làm việc trong nhiều năm, đã đưa ra được một bảng phân loại đất và bản đồ đất thế
giới (Soil map of the world, FAO - UNESCO, 1975, 1988, 1990)
Qua những hội thảo quốc tế người ta nhận thức được tầm quan trọng xuất phát từ yêu cầu cấp thiết của thực tiến sản xuất đặt ra đó là cần phải có những giải pháp hợp lý trong sử dụng đất nhằm hạn chế và ngăn chặn những tổn thất đối với tài nguyên đất đai
Trang 22Thấy rõ được tầm quan trọng của công tác đánh giá, phân hạng đất đai là cơ
sở cho việc quy hoạch sử dụng đất, tổ chức FAO đã tập hợp các nhà khoa học đất và các chuyên gia đầu ngành về nông nghiệp để tổng hợp các kết quả và kinh nghiệm đánh giá đất đai của các nước và thấy rõ cần phải có những nỗ lực không chỉ đơn phương ở từng quốc gia riêng rẽ, mà phải thống nhất các nguyên tắc và tiêu chuẩn đánh giá đất đai trên phạm vi toàn cầu Kết quả là Uỷ ban Quốc tế nghiên cứu đánh giá đất đã được thành lập tại Rome (Italia) của tổ chức FAO đã cho ra đời bản dự thảo đánh giá đất lần đầu tiên vào năm 1972 Sau đó đã được Blikman và Smyth biên soạn và cho in ấn chính thức vào năm 1973 Năm 1975, bản dự thảo đã được các chuyên gia đánh giá đất hàng đầu của tổ chức FAO tham gia đóng góp, đến năm
1976 "Đề cương đánh giá đất đai - A Framework for Land Evaluation, 1976” đã
được biên soạn [24]
Cơ sở của phương pháp đánh giá đất theo FAO là dựa trên phân hạng đất thích
hợp (Land suitability classification) Nền tảng của phương pháp này là so sánh, đối chiếu mức độ thích hợp giữa yêu cầu của các loại hình sử dụng đất (Land Use Type) với chất lượng đất và đặc tính vốn có của đơn vị bản đồ đất (Land Mapping Unit), kết
hợp với việc phân tích các khía cạnh kinh tế, xã hội và môi trường liên quan đến sử dụng đất để lựa chọn phương án sử dụng đất tốt nhất
Đánh giá đất theo FAO được ứng dụng rộng rãi để đánh giá khả năng của đất đai đối với các mục đích sử dụng đất của con người trong sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ lợi, quy hoạch vùng và bảo tồn thiên nhiên
- Đánh giá mức độ thích hợp của đất đai được đánh giá và phân hạng cho các loại hình sử dụng đất cụ thể Việc đánh giá đất đai đòi hỏi phải có sự so sánh giữa lợi nhuận thu được và đầu tư cần thiết trên các loại hình sử dụng đất LUT khác nhau (phân bón, lao động, thuốc trừ sâu, chi phí máy móc )
- Yêu cầu phải có quan điểm tổng hợp trong đánh giá đất, nghĩa là phải có sự phối hợp và tham gia đầy đủ của các nhà nông học, lâm nghiệp, kinh tế và xã hội học Việc đánh giá đất đai phải phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của vùng/ khu vực cần nghiên cứu
Trang 23- Khả năng thích hợp của các LUT đưa vào sử dụng phải dựa trên cơ sở bền vững, các nhân tố sinh thái trong sử dụng đất phải được cân nhắc để quyết định Đánh giá đất tập trung so sánh giữa các sử dụng đất của các LUT khác nhau [28].
* Nguyên tắc cơ bản trong đánh giá đất của FAO
- Đánh giá mức độ thích hợp của đất đai được đánh giá và phân hạng cho các loại hình sử dụng đất cụ thể Việc đánh giá đất đai đòi hỏi phải có sự so sánh giữa lợi nhuận thu được và đầu tư cần thiết trên các loại hình sử dụng đất LUT khác nhau (phân bón, lao động, thuốc trừ sâu, chi phí máy móc )
- Yêu cầu phải có quan điểm tổng hợp trong đánh giá đất, nghĩa là phải có sự phối hợp và tham gia đầy đủ của các nhà nông học, lâm nghiệp, kinh tế và xã hội học Việc đánh giá đất đai phải phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của vùng/ khu vực cần nghiên cứu
- Khả năng thích hợp của các LUT đưa vào sử dụng phải dựa trên cơ sở bền vững, các nhân tố sinh thái trong sử dụng đất phải được cân nhắc để quyết định Đánh giá đất tập trung so sánh giữa các sử dụng đất của các LUT khác nhau
* Quy trình đánh giá đất đai của FAO
Trong tài liệu “Đánh giá đất đai vì sự nghiệp phát triển” của FAO (1986) đã chỉ
dẫn các bước thực hiện đánh giá đất và quy hoạch sử dụng đất theo hình 1.1
Hình 1.1 Sơ đồ các bước chính trong đánh giá đất và quy hoạch sử dụng đất
1 Xác định
mục tiêu
2 Thu thập tài liệu
3 Xác định loại hình sử dụng đất
4 Xác định đơn vị đất đai
5 Đánh giá khả năng thích hợp
6 Xác định hiện trạng KT –
XH và môi trường
7 Xác định
LH sử dụng đất thích hợp nhất
8 Quy hoạch sử dụng đất
9 áp dụng
của việc đánh
giá đất
Trang 24Cả quy trình đánh giá đất đai và quy hoạch sử dụng đất gồm 9 bước, trong đó bước 7 là bước chuyển tiếp giữa đánh giá đất đai và quy hoạch sử dụng đất Cuối cùng là việc áp dụng đánh giá đất để triển khai thực hiện vào sản xuất cho vùng nghiên cứu
- Khái niệm về bản đồ đơn vị đất đai
Theo khái niệm của FAO "Đơn vị bản đồ đất đai (LMU)" là một khoanh/ vạt
đất được xác định cụ thể trên bản đồ đơn vị đất đai với những đặc tính và tính chất đất đai riêng biệt, thích hợp đồng nhất cho từng loại hình sử dụng đất, có cùng một điều kiện quản lý đất và cùng một khả năng sản xuất và cải tạo đất Mỗi đơn vị đất đai có chất lượng riêng và nó có khả năng thích hợp với một loại hình sử dụng đất nhất định (FAO, 1983) Tập hợp các đơn vị bản đồ đất đai trong khu vực/vùng đánh giá đất được thể hiện bằng bản đồ đơn vị đất đai
Theo đề xuất của FAO, việc xây dựng các LMU phải dựa trên những yếu tố đất đai có ảnh hưởng rõ đến khả năng thích hợp của các LUT
- Các đặc tính của đơn vị bản đồ đất đai
+ Các đơn vị đất đai được thể hiện trên bản đồ là những vùng với những đặc tính và tính chất đủ để tạo lên sự khác biệt với các đơn vị đất đai khác và đảm bảo
sự thích hợp với các loại hình sử dụng đất khác nhau
+ Các đơn vị đất đai có thể được mô tả theo các đặc tính và tính chất của chúng Đặc tính là tính chất tương đối đơn giản có thể đo đếm được như lượng mưa bình quân hàng năm, thành phần cơ giới khác biệt của đất, chế độ nhiệt, chế độ ẩm, khả năng thoát nước của đất, chế độ cung cấp chất dinh dưỡng cho đất
Phân loại đất thích hợp của FAO dựa trên hệ thống phân vị 4 cấp: Cấp Bộ (Order), hạng (Class), hạng phụ (Subclass) và đơn vị đất thích hợp (Unit)
+ Cấp thích hợp (Land Suitability Order): phản ánh loại thích hợp, nó chỉ ra
đất đai là thích hợp hay không thích hợp với loại hình sử dụng đất được xem xét (trong đó ký hiệu S: thích hợp và N: không thích hợp)
Trang 25
Hình 1.2 Sơ đồ cấu trúc của phân hạng thích hợp đất đai theo FAO
+ Hạng thích hợp (Land Suitability Class): phản ánh các mức độ thích hợp đối
với các LUT, hạng được ký hiệu bằng chữ số với 3 mức sau: S1 (rất thích hợp): cho
thấy các đơn vị đất đai không thể hiện những yếu tố hạn chế hoặc chỉ thể hiện ở mức
độ nhẹ, dễ khắc phục và không làm ảnh hưởng đến năng suất, lợi nhuận thu được ở
loại hình sử dụng đất đánh giá; S2 (thích hợp trung bình): chỉ các đơn vị đất đai có
những hạn chế ở mức độ trung bình đối với loại hình sử dụng đất đánh giá Những hạn chế này sẽ làm giảm sức sản xuất hay lợi nhuận thu được hoặc phải tăng mức đầu
tư để đạt được mức lợi nhuận cần thiết khi sử dụng; S3 (thích hợp thấp): đặc tính đơn
vị đất đai xuất hiện nhiều hoặc một số yếu tố hạn chế nghiêm trọng khó khắc phục đối với các loại hình sử dụng đất được xác định, lợi nhuận thu được kém và đòi hỏi chi phí đầu tư cao Tuy nhiên chưa đến mức phải loại bỏ các loại hình sử dụng đất đó + Hạng của cấp không thích hợp được chia ra làm hai loại: N1 (không thích hợp hiện tại): đặc tính của đơn vị đất đai không thích hợp với LUT hiện tại vì có các yếu tố hạn chế nghiêm trọng Tuy nhiên các yếu tố hạn chế đó có thể được khắc phục bằng biện pháp đầu tư rất lớn hay các giải pháp về khoa học và kỹ thuật áp dụng trong tương lai để có thể cải tạo được đất đai nhằm nâng hạng thích hợp lên; N2 (không thích hợp vĩnh viễn): đặc điểm của đất có những yếu tố hạn chế rất nghiêm
S2i-1S2i-2
S1
S2
S3
S2tS2iS2s
Trang 26trọng không thể khắc phục được bằng bất cứ biện pháp kỹ thuật hoặc kinh tế nào trong hiện tại cũng như trong tương lai
+ Hạng phụ (Sub-Class): hạng phụ thích hợp phản ánh các yếu tố đang hạn chế đến khả năng sử dụng đất của vùng nghiên cứu Các yếu tố hạn chế ở hạng phụ chủ yếu là các điều kiện tự nhiên và đất đai như: khí hậu (lụt: f, hạn hán: d…), điều kiện đất đai (địa hình: t, độ dốc: s…), tính chất đất (mặn: s, được tưới: i…) Hạng phụ thích hợp thường đi kèm các ký hiệu của yếu tố hạn chế đối với kiểu sử dụng đất nào đó (ví dụ: S2i, S2t ) Những hạng thuộc cấp không thích hợp N có thể được chia ra các hạng phụ tuỳ thuộc vào loại hạn chế chẳng hạn như N1i, N1e
+ Đơn vị thích hợp (Unit): đơn vị đất được phân ra theo các yếu tố hạn chế ở
hạng phụ trong sản xuất và đầu tư sản xuất Các yếu tố hạn chế về quản lý kinh tế phụ thuộc vào các nông hộ/ nông trại Để nhận biết các đơn vị thích hợp đất đai, việc quản lý chi tiết có thể được điều tra cụ thể trên đồng ruộng và cho từng nông
hộ [20]
Ngoài ra, năm 1986 FAO đã tổng hợp và phân chia các hệ thống đánh giá đất thích hợp khác nhau trên thế giới như sau:
- Hệ thống phân loại thích hợp đất đai chỉ dựa vào các tính chất đất
- Hệ thống phân loại thích hợp đất đai dựa trên các tính chất đất cùng với các thuộc tính về khí hậu và các tham số sinh học khác
- Hệ thống phân loại thích hợp đất đai dựa vào đất, các tham số sinh học cùng với các yếu tố kinh tế - xã hội
Vào năm 1996, tổng kết về các hệ thống đánh giá trên đây FAO đã có nhận định:
- Hệ thống phân loại dựa chủ yếu vào tính chất đất phù hợp cho việc áp dụng trong các vùng nghiên cứu nhỏ Chúng chỉ có thể áp dụng đối với vùng rộng lớn khi các điều kiện khí hậu và cảnh quan là tương đối đồng nhất
- Ở những vùng đa dạng về cảnh quan và khí hậu, việc đánh giá đất nếu chỉ dựa riêng vào tính chất đất thì không thể đảm bảo mức độ chính xác về mặt phương pháp Đối với phạm vi những vùng nghiên cứu rộng lớn, đa dạng về cảnh quan như: độ dốc, địa hình, mật độ sông suối, loại đá mẹ và lớp phủ thực vật thì việc tổng hợp các số
Trang 27liệu đất và khí hậu là cần thiết để giúp cho việc phân loại sử dụng đất chính xác hơn, đặc biệt trong những vùng rộng, có ít diện tích đất nông nghiệp và mật độ dân cư thấp
- Các nhân tố kinh tế - xã hội yêu cầu phải được cân nhắc kỹ trong những vùng sản xuất nông nghiệp đã được hình thành từ lâu và những vùng sản xuất nông nghiệp có mật độ dân cư đông đúc Phương pháp đánh giá đất đai thích hợp còn liên quan tới các số liệu sinh học cùng các yếu tố xã hội sở hữu đất đai, khả năng lao động, những quyết định về mặt chính sách, luật pháp, hệ thống giao thông, các cơ
sở chế biến, thị trường và khả năng có sẵn cho việc phát triển tài chính các nhân
tố kinh tế xã hội là những kết quả giúp cho việc đánh giá mang tính thực tiễn hơn
1.3.7 Nhận xét chung về các phương pháp đánh giá đất đai ở nước ngoài
Các phương pháp trên tiêu biểu cho những xu hướng đánh giá đất đai đang được áp dụng trên thế giới Bên cạnh sự khác nhau về mục đích, phương thức, phương pháp và hệ thống phân vị, các trường phái đánh giá đất đó có một số điểm giống nhau như sau:
- Xác định đối tượng đánh giá đất đai là toàn bộ tài nguyên đất của vùng lãnh thổ nghiên cứu
- Quan niệm đất đai là một thể tự nhiên bao gồm thổ nhưỡng và các yếu tố khác như địa hình, mẫu chất, khí hậu, thuỷ văn, thảm thực vật, động vật
- Đánh giá đất đai gắn với mục đích sử dụng nông nghiệp theo nghĩa rộng (bao gồm cả trồng trọt và chăn nuôi)
- Trong khi đánh giá đất đai, chú trọng tất cả các thành phần của đất có ảnh hưởng thực tế nhất đối với phẩm chất tự nhiên và khả năng sử dụng chúng trong sản xuất, biện pháp sử dụng, bảo vệ, cải tạo đất và môi trường, đồng thời cũng chú trọng tới các yếu tố vật lý khó khắc phục
- Hệ thống phân vị khép kín cho phép đánh giá từ khái quát đến chi tiết, trên qui mô lãnh thổ quốc gia, vùng, các đơn vị hành chính và cơ sở sản xuất
1.4 Nghiên cứu về đánh giá đất ở Việt Nam
Nghiên cứu về đánh giá đất đai ở Việt Nam mới thực sự được bắt đầu ở những năm đầu của thập kỷ 70, Bùi Quang Toản cùng nhiều nhà khoa học của Viện
Trang 28Nông hoá - Thổ nhưỡng như: Vũ Cao Thái, Nguyễn Văn Thân, Đinh Văn Tỉnh …
đã nghiên cứu và thực hiện công tác đánh giá, phân hạng đất đai ở 23 huyện, 286 hợp tác xã và 9 vùng chuyên canh Kết quả nghiên cứu bước đầu đã thiết thực phục
vụ cho công tác tổ chức lại sản xuất và xây dựng cấp huyện Từ kết quả nghiên cứu
và kiểm nghiệm trên thực tiễn, Bùi Quang Toản đã đề ra quy trình kỹ thuật phân hạng đất đai áp dụng cho hợp tác xã và các vùng chuyên canh
Khái niệm đánh giá, phân hạng đất đai đã có từ lâu Trong thời kỳ phong kiến thực dân, để thu thuế đất đã có sự phân chia "Tứ hạng điền, lục hạng thổ" Công tác đánh giá, phân hạng đất đai được nhiều cơ quan khoa học nghiên cứu và thực hiện như: Viện Nông hoá - Thổ nhưỡng, Viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp, Tổng cục địa chính (nay là Bộ tài nguyên & Môi trường), các trường đại học nông nghiệp và các tỉnh, thành [3]
- Đặc biệt, Viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp trong nhiều năm qua đã thực hiện nhiều công trình, đề tài nghiên cứu về đánh giá, phân hạng đất đai Công
tác được triển khai rộng rãi trên toàn quốc, từ phân hạng tổng quan toàn quốc đến
các tỉnh thành và các địa phương với nhiều đối tượng cây trồng, nhiều vùng chuyên canh và các dựa án đầu tư cả của trong nước và nước ngoài Đánh giá phân hạng đất đai đã trở thành quy định bắt buộc trong công tác quy hoạch đất đai của Viện Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn đã ban hành tiêu chuẩn ngành 10 TCN 343-98
về Quy trình đánh giá đất đai phục vụ nông nghiệp, quy trình được xây dựng dựa trên cơ sở vận dụng nội dung, phương pháp đánh giá đất của FAO theo điều kiện và tiêu chuẩn cụ thể của Việt Nam [4]
- Để thực hiện chỉ thị 299 - TTg về phân hạng đất trồng lúa, năm 1991 Tổng cục Quản lý ruộng đất (nay là Bộ tài nguyên & Môi trường) đã ban hành quy trình phân hạng đất trồng lúa áp dụng cho cấp huyện và hợp tác xã Quy trình đã đề ra 5 nguyên tắc cơ bản và 4 bước tiến hành cụ thể Công tác đã được triển khai rộng rãi
ở các vùng đồng bằng Đây là tài liệu mang tính khoa học gắn liền với thực tiễn
Phương pháp đánh giá sử dụng đất thích hợp của FAO bắt đầu được nghiên cứu ứng dụng ở Việt Nam vào những năm cuối của thập kỷ 80 Bước đầu vận dụng thử nghiệm phương pháp đánh giá đất của FAO ở nước ta đã thu được kết quả nhất
Trang 29định Sau đó phương pháp đánh giá đất của FAO dần được hoàn thiện, lần lượt được nghiên cứu và ứng dụng rộng rãi trên phạm vi đánh giá khác nhau:
* Đánh giá đất theo FAO trên phạm vi toàn quốc
- Trong chương trình quy hoạch tổng thể (Master Plan) vùng đồng bằng sông Cửu Long và sông Hồng đã áp dụng phương pháp phân hạng đất của FAO nhằm xác định khả năng thích nghi của đất đai đối với các loại hình sử dụng đất phổ biến Phương pháp này không những đánh giá toàn diện điều kiện tự nhiên mà còn xem xét đất đai ở khía cạnh kinh tế - xã hội
- Dự thảo Nghị định của Chính phủ về phân hạng đất tính thuế - 1993 với sự tham gia của các cơ quan chức năng và nhiều nhà khoa học đã đề ra chỉ tiêu và tiêu chuẩn phân hạng đất trồng lúa, cây trồng cạn ngắn ngày, nuôi trồng thuỷ sản, trồng cây công nghiệp lâu năm và cây ăn quả… Căn cứ để xác định hạng đất gồm 5 yếu tố: chất đất, vị trí địa hình, điều kiện khí hậu thời tiết, điều kiện tưới tiêu Kết quả nghiên cứu về đánh giá, phân hạng đánh giá đất đai ở Việt Nam này mới chỉ áp dụng đối với lĩnh vực sản xuất nông nghiệp
- Ở Đồng bằng sông Cửu Long, một số nghiên cứu chuyên đề (Casestudy) ở khu vực nhỏ đã bước đầu ứng dụng phương pháp đánh giá đất đai định lượng của FAO (Lê Quang Trí, 1989; Trần Kim Tính, 1986)
Trong khuôn khổ “Chương trình quy hoạch tổng thể Đồng bằng sông Cửu Long” (Mekong Delta Master Plan - VIE 87/031), một nghiên cứu nhằm khái quát hoá khả năng sử dụng đất toàn vùng đồng bằng đã được thực hiện (M.E.F Van Mansvoost, Nguyễn Văn Nhân, 1993) làm cơ sở cho việc xây dựng các phương án sử dụng đất toàn vùng Tuy nhiên, kết quả đánh giá đất chỉ dừng lại,ở việc xem xét các điều kiện tự nhiên liên quan đến mục tiêu sử dụng đất Bên cạnh đó, một nghiên cứu
về chuyên đề sử dụng đất phèn và mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long trong khuôn khổ
dự án nói trên (VIE 87/031) đã ứng dụng phương pháp đánh giá đất đai định lượng của FAO (1983), nhằm chỉ ra các khả năng thích nghi về sử dụng đất của các loại đất
có vấn đề ở Đồng bằng sông Cửu Long Đây là những thử nghiệm đầu tiên ở Việt Nam, bước đầu ứng dụng các phương pháp đánh giá đất đai định lượng gắn với yếu
Trang 30tố kinh tế của sử dụng đất, qua đó đánh giá khả năng đất đai không những ở phạm trù kinh tự nhiên mà còn xem xét đất đai ở khía cạnh kinh tế - xã hội
Những năm gần đây, công tác đánh giá đất đai ở nước ta đã và đang được nghiên cứu và triển khai nhằm phục vụ cho quy hoạch sử dụng đất theo hướng chuyển đổi cơ cấu kinh tế và phát triển nông nghiệp bền vững Các chương trình nghiên cứu về đánh giá đất đã được triển khai rộng trên phạm vi toàn quốc với nhiều đối tượng cây trồng và vùng đất chuyên canh khác nhau Các nhà khoa học đất của các cơ quan nghiên cứu và đào tạo về đất đai của Việt Nam đã phối hợp với nhau, đồng thời mở rộng mối quan hệ hợp tác với các tổ chức và nhà khoa học Quốc tế để nhanh chóng tiếp thu chương trình đánh giá phân hạng đất của FAO, vận dụng có kết quả do tình hình của Việt Nam Những kết quả ban đầu của chương trình ứng dụng những tiến bộ kỹ thuật trong đánh giá đất của FAO vào các vùng sinh thái nông nghiệp khác nhau của Việt Nam, đặc biệt đã vận dụng thành công về các bước đi trong đánh giá đất và vận dụng các chỉ tiêu phân cấp cụ thể cho vùng đã được ghi nhận khả quan Điển hình, năm 1993 Viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp đã chỉ đạo thực hiện công tác đánh giá đất trên cả 9 vùng sinh thái của cả nước với bản đồ tỷ lệ 1/250.000 Bước đầu đã xác định được tiềm năng đất đai của các vùng và khẳng định việc vận dụng nội dung, phương pháp đánh giá đất của FAO theo tiêu chuẩn và điều kiện cụ thể của Việt Nam là phù hợp trong hoàn cảnh hiện nay và đã kịp thời tổng kết và vận dụng các kết quả này vào chương trình đánh giá và đề xuất sử dụng tài nguyên đất phát triển nông nghiệp bền vững thời kỳ 1996
- 2000 và 2010 hoàn thành năm 1995 [17]
* Đánh giá đất thích hợp theo FAO trên phạm vi vùng sinh thái và các tỉnh
Vùng Tây Nguyên: Năm 1989 Vũ Cao Thái đã lần đầu tiên thử nghiệm đánh giá sử dụng đất thích hợp cho một số loại cây trồng như cà phê, cao su, chè, dâu tằm Tây Nguyên, trên cơ sở vận dụng phương pháp phân hạng thích hợp của FAO để đánh giá định tính và đánh giá khái quát tiềm năng đất Kết quả nghiên cứu tác giả đã đưa ra những tiêu chuẩn đánh giá phân hạng đất cho từng loại cây trồng Tuy nhiên các chỉ tiêu chỉ thiên về yếu tố thổ nhưỡng mà chưa đề cập đến yếu tố sinh thái và xã hội.[10]
Trang 31Các nghiên cứu của Nguyễn Khang, Phạm Dương Ưng, Nguyễn Văn Tân, Đỗ Đình Đài, Nguyễn Văn Tuyên (1995) đã xác định Tây Nguyên có 3 vùng, 18 tiểu vùng, 54 đơn vị sinh thái nông nghiệp và 195 đơn vị đất đai Trên bản đồ hiện trạng
sử dụng đất tỷ lệ 1/250.000 cho thấy Tây Nguyên có 5 hệ thống sử dụng đất chính và
29 loại sử dụng đất hiện tại Tiến hành phân tích hiệu quả kinh tế, xã hội, hiệu quả môi trường, mối quan hệ của các loại hình sử dụng đất với tiềm năng phát triển nông nghiệp của vùng và mục tiêu của cả nước đã xác định được các loại sử dụng đất sau đây thỏa mãn yêu cầu, đó là: lúa nước 2 vụ có tưới, hoa màu và cây công nghiệp ngắn ngày, điều, cà phê, tiêu, chè, cao su và dâu tằm
Vùng đồng bằng Sông Hồng: Nguyễn Công Pho (1995) đã tiến hành “Đánh giá đất vùng đồng bằng sông Hồng trên quan điểm sinh thái và phát triển lâu bền” theo phương pháp đánh giá đất của FAO (bản đồ tỷ lệ 1/250.000) đã xây dựng hướng sử dụng đất trên quan điểm sinh thái lâu bền, phục vụ cho công tác quy hoạch tổng thể của vùng Kết quả đánh giá đất đã xác định: Đồng bằng Sông Hồng
có 33 đơn vị đất đai (trong đó có 22 đơn vị đất thuộc đồng bằng, 11 đơn vị đất đai thuộc đồi núi) Loại hình sử dụng đất rất đa dạng với 3 vụ sản xuất chính là vụ xuân, vụ mùa và vụ đông Cây trồng bao gồm cây lúa nước, cây trồng cạn ngắn ngày, cây ăn quả, cây công nghiệp lâu năm, tổng cộng có 28 loại hình sử dụng đất Kết quả phân hạng đất thích hợp hiện tại và tương lai dựa trên cơ sở đầu tư thủy lợi cho thấy tiềm năng đa dạng hóa sản xuất nông nghiệp ở vùng đồng bằng Sông Hồng
là rất lớn Về hiệu quả kinh tế, nếu chỉ chuyên canh lúa thì cho mức thu nhập thấp, luân canh lúa với cây trồng cạn ngắn ngày thì cho thu nhập cao hơn [9], [10]
Năm 1995, Lê Hồng Sơn ứng dụng đánh giá đất vào đa dạng hoá cây trồng vùng đồng bằng sông Hồng, dựa trên cơ sở đánh giá, tác giả đã xác định và đề xuất các hệ thống cây trồng trên quan điểm sinh thái và phát triển lâu bền 100.000 ha đất bãi ven sông vùng đồng bằng sông Hồng
Vùng đồi núi phía Bắc: Lê Duy Thước (1992), Lê Văn Khoa (1993), Lê Thái Bạt (1995), khi nghiên cứu đánh giá đất vùng núi phía Bắc đã có những nhận định
Trang 32tổng quát về quỹ đất của vùng Nét nổi bật là sự hình thành quỹ đất theo đai cao gồm 6 nhóm và 24 loại đất với đặc điểm phát sinh và sử dụng đa dạng Các nhóm đất chính đươc nghiên cứu là đất đỏ vàng và đất mùn vàng đỏ trên núi đều suy giảm
về độ phì Trong vùng có 4 loại hình sử dụng đất chính (đất ruộng lúa, đất chuyên màu và cây công nghiệp ngắn ngày, đất trồng cây lâu năm và đất rừng) Kết quả đánh giá đất thích hợp cho thấy đất thích hợp cao chiếm 0,4%, đất thích hợp trung bình 17,2%, đất thích hợp thấp 33,0%, và không thích hợp 49,4% Việc tổ chức sử dụng đất hợp lý trong nông nghiệp cần đặt ra theo hướng bố trí cây trồng, vật nuôi phù hợp với từng tiểu vùng sinh thái, loại hình và hệ thống sử dụng đất được chọn phù hợp với mức độ thích hợp theo tiêu chuẩn sử dụng đất bền vững.[1], [11], [21]
Nguyễn Đình Bồng (1995) cũng đã vận dụng phương pháp đánh giá đất của FAO để đánh giá tiềm năng sản xuất nông, lâm nghiệp cho đất trống đồi núi trọc ở Tuyên Quang (bản đồ tỷ lệ 1/250.000) với tổng diện tích 3,9 triệu ha Kết quả đánh giá đã xác định 123 đơn vị bản đồ đất đai, 25 loại hình sử dụng đất chính (trong đó
có 21 loại hình sử dụng đất nông nghiệp, 3 loại hình sử dụng đất lâm nghiệp và một loại hình thủy sản) Tác giả phân lập được 57 hệ thống sử dụng đất trên 6 tiểu vùng đại diện chính và lựa chọn được 12 loại hình sử dụng có triển vọng trong vùng.[2]
Các kết quả nghiên cứu đánh giá đất ở vùng đồng bằng sông Cửu Long[13], [14], [16] đã khẳng định: trong việc sử dụng đất ở đồng bằng sông Cửu Long tài nguyên đất
và nước là hai yếu tố chủ yếu khống chế khả năng sử dụng đất
Vùng Đông Nam Bộ: Các công trình nghiên cứu của Phạm Quang Khánh, Trần An Phong, Vũ Cao Thái (1994) [10] về đánh giá đất thích hợp đã chia vùng nghiên cứu thành 54 đơn vị đất đai (bản đồ tỷ lệ 1/250.000) với 602 khoanh, có 7 loại hình sử dụng đất chính, 49 loại hình sử dụng đất chi tiết, 94 hệ thống sử dụng đất nông nghiệp, trong đó có 50 hệ thống sử dụng đất được chọn Ngoài ra, đánh giá đất thích hợp theo FAO còn được áp dụng ở phạm vi của một số tỉnh phía Nam như bình Định, Kon Tum… với mục đích xác định các hệ thống sử dụng đất, qua đó đề xuất các giải pháp sử dụng đất hợp lý, có hiệu quả đồng thời duy trì bảo vệ môi trường
Trang 33* Đánh giá đất thích hợp theo FAO trong phạm vi vùng chuyên canh hẹp
và phạm vi cấp huyện
- Nguyễn Khang, Phạm Dương Ưng (1995) “Kết quả bước đầu đánh giá tài
nguyên đất đai Việt Nam” với nghiên cứu: “Đánh giá đất đai vùng dự án đa mục
tiêu EaSoup, DakLak” đã thông qua cải tạo thủy lợi để phân hạng sử dụng thích hợp hiện tại và tương lai cho hơn 8.000 ha đất lúa nước, có ý nghĩa hết sức to lớn trong việc đảm bảo an ninh lương thực cho đồng bào dân tộc thiểu số tại huyện EaSoup
và huyện Buôn Đôn (DakLak).[8]
- Nghiên cứu đánh giá đất đai phục vụ định hướng quy hoạch nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp huyện Giao Lâm vùng đồng bằng sông Hồng” (Vũ Thị Bình, 1995) là một trong những ứng dụng đầu tiên về phương pháp đánh giá đất của FAO cho đánh giá chi tiết ở phạm vi cấp huyện nhằm mục đích phục vụ cho quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp Kết quả đánh giá đất thích hợp được sử dụng làm
cơ sở để xây dựng quy hoạch sử dụng đất trên quan điểm sinh thái và đa dạng hóa sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Gia Lâm.[18]
- Đỗ Nguyên Hải (2000) với đề tài: “Đánh giá đất và hướng sử dụng đất bền vững trong sản xuất nông nghiệp của huyện Tiên Sơn, Bắc Ninh” đã xác định đất canh tác huyện Tiên Sơn được phân chia ra thành 25 đơn vị đất đai (bản đồ tỷ lệ 1/25.000), có 5 nhóm đất khác nhau và 8 đơn vị phụ (trong đó có 7 đơn vị phụ được
sử dụng vào mục đích nông nghiệp) Kết quả đánh giá sử dụng đất thích hợp hiện tại và tương lai đã cho thấy bằng biện pháp cải tạo thủy lợi và cải thiện độ phì đất
có thể làm thay đổi mức độ thích hợp của các LUT Những đề xuất sử dụng đất thích hợp có thể khai thác một cách có hiệu quả thế mạnh tiềm năng đất đai và duy trì khả năng sử dụng đất bền vững cho huyện Tiên Sơn.[6]
- Nghiên cứu “Đánh giá đất đai phục vụ quy hoạch sử dụng đất nông lâm nghiệp huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên” của Đoàn Công Quỳ (2000) đã đánh giá trên diện tích đất 48.801,20 ha gồm 680 khoanh được chia thành 52 đơn vị đất đai
và 9 loại hình sử dụng đất chính Kết quả nghiên cứu đã khẳng định: Để phát triển nông lâm nghiệp theo quan điểm sinh thái bền vững, trong tương lai huyện Đại Từ
Trang 34cần tổ chức khai thác tiềm năng đất đai theo phương thức đa dạng hóa sản phẩm, tăng cường sản xuất sản phẩm hàng hóa, đặc biệt là cây chè, đồng thời đẩy mạnh công tác trồng rừng phủ xanh đất chống xói mòn, cải thiện môi trường sinh thái.[18]
- Ngô Thị Hồng Gấm (2010) với đề tài: “Đánh giá khả năng thích hợp của các loại hình sử dụng đất phục vụ sản xuất nông nghiệp tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên” đã xây dựng được bản đồ đơn vị đất đai huyện Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên đã xác định được 34 đơn vị đất đai gồm 993 khoanh đất Trung bình mỗi đơn vị đất đai bao gồm 229,50 ha Khoanh đất đai có diện tích lớn nhất là 1121,68
ha, khoanh có diện tích nhỏ nhất là 12,14 ha Đưa ra được những kiểu sử dụng đất
có hiệu của nhất cho địa bàn huyện.[5]
- Trần Thị Thu Hiền (2012) với đề tài: “Nghiên cứu xây dựng bản đồ đơn vị đất đai phục vụ cho đánh giá đất sản xuất nông nghiệp huyện Đồng Hỷ - tỉnh Thái Nguyên” đã xây dựng được bản đồ đơn vị đất đai của huyện Đồng Hỷ - tỉnh Thái Nguyên, mô tả các LUM trên toàn huyện, đồng thời đưa ra hướng cải tạo các LUM trên địa bàn huyện [7]
Những nghiên cứu đánh giá đất theo FAO ở tầm vĩ mô của nhiều tác giả
đã có những đóng góp rất lớn trong việc hoàn thiện quy trình đánh giá đất đai ở Việt Nam làm cơ sở cho những định hướng chiến lược về quy hoạch sử dụng đất toàn quốc và các vùng sinh thái Tuy vậy các nông hộ là những đơn vị sản xuất độc lập và sản xuất nông nghiệp đang phát triển theo cơ chế thị trường, do đó để định hướng cho việc quản lý và sử dụng đất đai đòi hỏi đánh giá đất còn phải tiếp cận ở phạm vi vùng chuyên canh hẹp và phạm vi cấp xã là những địa bàn gần gũi với thực tiễn sản xuất nông nghiệp ở nước ta Với những kinh nghiệm có trong đánh giá đất từ các vùng nghiên cứu cụ thể, chúng ta có thể đúc rút ra những lý luận cơ bản của công tác đánh giá đất theo FAO và áp dụng sáng tạo trong điều kiện thực tiễn Việt Nam
Trang 35Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng và địa điểm nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Đề tài chỉ tập trung đánh giá các loại hình
sử dụng đất trồng cây hàng năm trong sản xuất nông nghiệp trên địa bàn xã Hợp Tiến, huyện Đồng Hỷ - tỉnh Thái Nguyên
- Địa điểm nghiên cứu: Đề tài được tiến hành tại xã Hợp Tiến, huyện Đồng
Hỷ, tỉnh Thái Nguyên
2.2 Nội dung nghiên cứu
2.2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội của xã
Điều tra, thu thập về điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội của huyện có liên
quan đến sử dụng đất nói chung và ảnh hưởng đến sử dụng đất nông nghiệp nói riêng
- Điều kiện tự nhiên:
+ Vị trí địa lý + Địa hình + Đặc điểm khí hậu + Điều kiện thuỷ văn, thuỷ lợi + Điều kiện thổ nhưỡng + Thảm thực vật
- Điều kiện kinh tế - xã hội
+ Dân số và lao động + Hiện trạng sử dụng đất + Tình hình phát triển các ngành kinh tế: ngành nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ
+ Cơ sở hạ tầng: về văn hoá, giáo dục, y tế, về giao thông (đường sắt, đường bộ, đường thuỷ), về mạng lưới điện
2.2.2 Xây dựng bản đồ đơn vị đất đai
- Điều tra, xác định đặc tính và tính chất của các loại đất trồng cây nông nghiệp hàng năm
Trang 36- Xác định các yếu tố và chỉ tiêu phân cấp bản đồ đơn vị đất đai
- Xây dựng bản đồ đơn vị đất đai
2.2.3 Đánh giá hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp theo các đơn vị đất đai
- Xác định các loại hình sử dụng đất phổ biến của xã
- Các hệ thống sử dụng đất của xã
- Xác định các yêu cầu sử dụng đất
2.2.4 Đánh giá hiệu quả của các loại hình sử dụng đất
Trên các phương diện:
- Hiệu quả kinh tế
- Hiệu quả xã hội
- Hiệu quả bảo vệ và cải thiện môi trường đất đai
2.2.5 Đề xuất những loại hình sử dụng đất có triển vọng
Đề xuất những loại hình sử dụng đất có triển vọng để phân hạng thích hợp đất đai phục vụ sản xuất nông nghiệp của xã Hợp Tiến
- Đề xuất giải pháp thực hiện
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp điều tra thu thập số liệu thứ cấp
- Các số liệu về điều kiện đất đai (đặc điểm khí hậu, thổ nhưỡng, tình hình sử dụng đất đai…), điều kiện kinh tế - xã hội) (tình hình phát triển kinh tế, hạ tầng cơ
sở phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, dân số và lao động, tập quán canh tác, định hướng thị trường…) của vùng nghiên cứu được thu thập từ nguồn tư liệu có sẵn tại
Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Thái Nguyên, phòng Nông nghiệp, phòng Tài Nguyên và Môi trường, phòng thống kê, phòng kinh tế, trạm khí tượng thuỷ văn và một số cơ quan khác của huyện Đồng Hỷ và Xã Hợp Tiến
2.3.2 Phương pháp điều tra số liệu sơ cấp
- Số liệu sơ cấp: Là số liệu chưa được công bố, tính toán chính thức cho từng nông hộ cũng như cộng đồng thôn bản, nó phản ánh một cách toàn diện đời sống kinh tế, văn hóa xã hội đặc biệt là vấn đề sử dụng đất đai và các vấn đề khác
có liên quan
Trang 37Thông tin số liệu sơ cấp được thu thập chủ yếu từ các nguồn số liệu sau: + Các hộ nông dân trong và ngoài vùng nghiên cứu
+ Các cá nhân có kinh nghiệm trong sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là lĩnh vực sử dụng đất
Để thu thập được thông tin số liệu sơ cấp: Đề tài đã sử dụng các phương pháp khác nhau, cụ thể như sau:
+ Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (RRA): Thông qua việc đi thực địa
để quan sát thực tế, phỏng vấn không chính thức các cán bộ nông dân cơ sở tại địa phương để thu thập những thông tin số liệu liên quan đến tình hình đời sống và sản xuất nông nghiệp Phương pháp này thường được áp dụng trong giai đoạn đầu khi thực hiện đề tai để tìm hiểu sơ bộ vùng nghiên cứu
+ Phương pháp điều tra phỏng vấn hộ nông dân: Công việc này được tiến hành sau khi đã lựa chọn các hộ nông dân trong mỗi thôn xã
Mục đích của việc điều tra phỏng vấn hộ nông dân là nhằm thu thập các thông tin số liệu về tình hình đời sống, sản xuất cũng như các vấn đề liên quan như chính sách, đất đai, lao động việc làm, khó khăn trong sản xuất, mô hình, phương hướng sử dụng đất trong hiện tại và tương lai của từng hộ nông dân ở điểm nghiên cứu
Điều tra phỏng vấn các hộ nông dân với bộ câu hỏi đã được chuẩn bị được tiến hành thử trước với một số ít hộ, sau đó chỉnh sửa cho phù hợp với thực tế và cuối cùng sẽ phát phiếu điều tra phỏng vấn cho các hộ nông dân được chọn
2.3.3 Phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng đất
- Đánh giá hiệu quả kinh tế của các LUT qua các chỉ tiêu:
+ Giá trị sản xuất GO (Gross Output): Là toàn bộ giá trị sản phẩm được tạo
ra trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm)
Trang 38+ Chi phí trực tiếp Dc (Direct Cost); Đó là toàn bộ chi phí vật chất trực tiếp cho sản xuất như: giống, phân bón, bảo vệ thực vật, thuỷ lợi phí, thuê máy móc, chi phí công lao động…
+ Giá trị gia tăng VA (Value Added): Là giá trị tăng thêm hay giá trị sản phẩm mới tạo ra trong quá trình sản xuất VA=GO - Dc
+ Thu nhập hỗn hợp NVA (Net Value Added): Là phần trả cho người lao động (cả lao động chân tay và lao động quản lý) cùng tiền lãi thu được trên từng loại hình sử dụng đất Đây chính là phần thu nhập đảm bảo đời sống người lao động
và tích luỹ cho tái sản xuất mở rộng
Ta có: NVA = VA - Dp - T (Dp là khấu hao tài sản cố định, T là thuế sử dụng đất + Hiệu quả đồng vốn (hiệu quả trên một đơn vị chi phí) = NVA/Dc
- Đánh giá hiệu quả về xã hội
Để đánh giá khái quát khả năng thích hợp của các loại hình sử dụng đất phục vụ cho mục đích nông nghiệp về mặt xã hội đề tài sử dụng các chỉ tiêu sau:
+ Giá trị sản xuất trên lao động nghề nông và lâm nghiệp
+ Mức độ chấp nhận của xã hội
+ Mức độ giải quyết công ăn việc làm thu hút lao động
+ Tỷ lệ giảm hộ đói nghèo
+ Khả năng sản xuất hàng hóa
+ Sản phẩm tiêu thụ trên thị trường
+ Đời sống người lao động, cơ sở hạ tầng được cải thiện
- Đánh giá hiệu quả môi trường
+ Khả năng bảo vệ đất chống xói mòn, rửa trôi giữ dinh dưỡng đất
+ Chế độ tưới
+ Chế độ bón phân và sử dụng thuốc trừ sâu
+ Hạn hán và úng ngập
+ Bảo vệ nguồn nước cho cây trồng và nước sinh hoạt của con người
+ Ý thức của người dân trong việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật
Trang 392.3.4 Phương pháp xây dựng bản đồ đơn vị đất đai bằng công nghệ GIS
- Phương pháp chồng xếp bản đồ
Ứng dụng phần mềm Microstation số hoá bản đồ nền, sau đó chuyển sang phần mềm MapInfo để biên tập các bản đồ đơn tính (bản đồ loại đất, độ dốc, địa hình tương đối, thành phần cơ giới, chế độ tưới và chế độ tiêu) theo các mức chỉ tiêu đã phân cấp
Ứng dụng phần mềm ArcGIS để chồng xếp các bản đồ đơn tính tạo ra bản đồ đơn vị đất đai
Trang 40Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Hợp Tiến là xã miền núi có vị trí địa lý như sau:
- Phía Đông giáp với huyện Yên Thế tỉnh Bắc Giang
- Phía Tây giáp với Tân Lợi huyện Đồng Hỷ
- Phía Nam giáp xã Tân Thành huyện Phú Bình
- Phía Bắc giáp Cây Thị huyện Đồng Hỷ
Xã Hợp Tiến nằm ở phía Đông Nam của huyện Đồng Hỷ, cách trung tâm huyện 30km, tiếp giáp huyện Võ Nhai, huyện Phú Bình, Tỉnh Bắc Giang là điều kiện để lưu thông và trao đổi hàng hóa trên thị trường, tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân trong xã phát triển và giao lưu kinh tế - văn hóa - xã hội
Hệ thống giao thông: có đường tỉnh 269 chạy qua, đi sang tỉnh Bắc Giang có chiều dài là 4.5km và đường tỉnh 269B chiều dài là 2,7 km đường nhựa đi sang xã Tân Thành, huyện Phú Bình, còn lại chủ yếu là đường đất Nhìn chung xã đã có hệ thống giao thông liên kết với các huyện và tỉnh bạn đáp ứng được nhu cầu giao lưu hàng hóa, văn hóa xã hội với các vùng lân cận để học hỏi, tiếp thu những kinh nghiệm sản xuất, các hình thức phát triển sản xuất cũng như việc tiêu thụ sản phẩm
và phát triển ngành thương mại, dịch vụ, du lịch
3.1.1.2 Đặc điểm khí hậu
- Khí hậu: Hợp Tiến mang đặc điểm trưng của khí hậu vùng miền núi phía Bắc
đó là khí hậu nhiệt đới gió mùa (chia hai mùa rõ rệt mùa khô và mùa mưa)
Mùa mưa kéo dài từ tháng 4 đến tháng 10 chủ yếu mưa nhiều vào các tháng 6,7,8 lượng mưa chiếm 70% cả năm lượng mưa chung bình 207,15mm/tháng nhiệt độ trung bình ngày mùa nhiệt độ trùng bình ngày mùa 28,5oc, số giờ nắng TB 7,4 giờ/ngày