Văn học dân tộc thiểu số Việt Nam là một mảng ít người để tâm tới. Chuyên đề này đưa ra một số nhận định, phân tích, đánh giá về văn học thiểu số Việt Nam thời kì hiện đại. Đây là tài liệu cần thiết cho sinh viên, học viên cao học. Tài liệu có thu thập tuyển chọn những kiến thức chuyên sâu cần thiết.
Trang 1Em xin chân thành cảm cơn PGS.TS Trần Thị Việt Trung đã tận tình dạy dỗ, chỉ bảo giúp em hoàn thành tiểu luận này
Trang 2DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DTTS: Dân tộc thiểu số VHDTTS: Văn học dân tộc thiểu số VHDG: Văn học dân gian
THCS: Trung học cơ sở THPT: Trung học phổ thông
Trang 3MỤC LỤC
A PHẦN MỞ ĐẦU 2
B - PHẦN NỘI DUNG 6
I Văn học dân tộc thiểu số Việt Nam thời kì hiện đại – Một bộ phận văn học đậm đà bản sắc dân tộc 6
II Một số đặc điểm cơ bản của văn học dân tộc thiểu số Việt Nam thời kì hiện đại 9
2.1 Văn xuôi dân tộc thiểu số Việt Nam thời kì hiện đại – một số đặc điểm cơ bản 9
2.1.1 Các chặng đường phát triển của văn xuôi dân tộc thiểu số Việt Nam 9
2.1.2 Một số đặc điểm về nội dung 10
2.1.3 Một số đặc điểm về nghệ thuật 13
2.2 Thơ ca dân tộc thiểu số Việt Nam – một số đặc điểm cơ bản 16
2.2.1 Nhìn lại các chặng đường phát triển của thơ ca dân tộc thiểu số Việt Nam 16
2.2.2.Những đặc điểm cơ bản về nội dung 18
2.2.3 Những đặc điểm cơ bản về nghệ thuật 21
2.3 Một số tác giả, tác phẩm tiêu biểu 22
2.3.1 Nông Quốc Chấn – nhà thơ Tày xuất sắc 22
2.3.2 Đặc điểm lời văn nghệ thuật trong tiểu thuyết của Vi Hồng 24
III Văn học dân tộc thiểu số Việt Nam – Một số phận bên lề và một vài kiến nghị 28
C - KẾT LUẬN 30
THƯ MỤC THAM KHẢO 31
Trang 4A PHẦN MỞ ĐẦU
Chúng tôi xin được phép mượn một câu nói trong cuốn "Văn học dân tộc
và miền núi" (Nxb Văn hóa dân tộc 2002, tr.41) để làm lời mở đầu cho những suy nghĩ của mình về văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam: "Văn học viết các dân tộc thiểu số vẫn còn nằm bên lề của việc giảng dạy văn học, nằm bên lề của các sách giáo khoa, giáo trình và trong các diễn đàn văn học có nghĩa là nó vẫn nằm bên lề của cuộc sống văn học Việt Nam hiện đại" Câu nói đó từ cách đây hơn mười năm nhưng vẫn sẽ là
một lời cảnh tỉnh đối với chúng tôi và rất nhiều nhà nghiên cứu, nhà giáodục, độc giả cả nước về vai trò,vị trí của văn học các dân tộc thiểu sốViệt Nam trong cuộc sống văn học Việt Nam hiện đại Phải thú nhậnrằng, chúng tôi là những nhà giáo dục nhưng chưa thực sự để tâm đến bộphận văn học này của văn học Việt Nam Chúng tôi thấy thật vui mừngkhi trong chương trình đào tạo Thạc sĩ của Đại học Thái Nguyên có mônhọc Văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam do PGS TS Trần Thị ViệtTrung – người có bề dày nghiên cứu về Văn học các dân tộc thiểu sốViệt Nam giảng dạy Đây là một môn học cần thiết, không chỉ mang đếncho chúng tôi những cái nhìn sâu sắc về một bộ phận của văn học ViệtNam, mà còn là một cơ hội để chúng tôi nói lên những suy nghĩ củamình về bộ phận văn học này với thầy cô, các nhà nghiên cứu
So với nghiên cứu văn học Việt Nam hiện đại nói chung thì nhữngnghiên cứu dành cho mảng Văn học dân tộc thiểu số (VHDTTS) còn ởmức độ khiêm tốn Tuy nhiên, nhìn vào đại thể, có thể thấy tình hìnhnghiên cứu VHDTTS đã có nhiều khởi sắc, đặc biệt trong khoảng mườinăm gần đây Từ những bài viết nhỏ, lẻ đăng trên các tạp chí, đã cónhiều công trình nghiên cứu dày dặn, nhiều đề tài nghiên cứu khoa họccấp bộ về VHDTTS Từ những năm 70 - 80 của thế kỉ XX, nhà thơ
Trang 5Nông Quốc Chấn đã viết “Chặng đường mới” hay “Mấy suy nghĩ về Văn học các DTTS ở Việt Bắc”; Phong Lê viết “40 năm văn hóa nghệ thuật các DTTS 1945 – 1985”; Gần đây, có nhiều nhà nghiên cứu
VHDTTS đã tâm huyết và cho ra đời những công trình nghiên cứu cógiá trị học thuật cao Tiêu biểu có thể kể đến nhà nghiên cứu phê bình
Lâm Tiến với những công trình như “Văn học các DTTS Việt Nam hiện đại” (1995), Văn học các DTTS (1997), Về một mảng văn học dân tộc (1999); Văn học và miền núi (2002); Tiếp cận VHDTTS (2011)… Gần
đây nhất, có thể kể tới những công trình nghiên cứu khá bề thế, dày dặn,tương đối toàn diện về VHDTTS của PGS TS Trần Thị Việt Trung và
các cộng sự như “Bản sắc dân tộc trong thơ các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại (Khu vực phía Bắc Việt Nam)” (2010); Văn học dân tộc thiểu số Việt Nam thời kì hiện đại – Một số đặc điểm” (2015) Có thể
khái quát rằng, việc nghiên cứu VHDTTS Việt Nam đã được quan tâm
từ những năm 70 của thế kỉ XX Nhà nghiên cứu VHDTTS bao gồm cảnhững cây bút người Kinh và người DTTS, cả những nhà phê bìnhnghiên cứu chuyên nghiệp và những nhà văn, nhà thơ Tình hình nghiêncứu VHDTTS tuy còn nhiều khiêm tốn nhưng đáng mừng là có nhiềudấu hiệu khởi sắc trong những năm gần đây Sự vào cuộc đầy tâm huyếtcủa các nhà nghiên cứu đã có tác động tích cực đến nhận thức, tâm thếđọc, ý thức đọc VHDTTS của một bộ phận đông đảo các nhà nghiêncứu, nhà giáo dục và độc giả cả nước
Với tiểu luận này, chúng tôi không nghiên cứu một mảng cụ thể nàocủa VHDTTS thời kì hiện đại, cũng không dám nhận có những ý kiếnsâu sắc về một mảng văn học còn chưa được chú ý đúng mức của vănhọc Việt Nam, mà chỉ là những tổng hợp của chúng tôi về những đặcđiểm cơ bản của VHDTTS Việt Nam thời kì hiện đại, đồng thời đưa ra
Trang 6những suy nghĩ riêng, ý kiến riêng của mình – với tư cách một giáo viêndạy Phổ thông - về việc làm thế nào để VHDTTS đến gần hơn với họcsinh, với độc giả cả nước Thiết nghĩ, đây là một vấn đề rất quan trọng,nhất là trong bối cảnh hội nhập toàn cầu và yêu cầu giữ gìn bản sắc vănhóa dân tộc hiện nay.
Trang 8B - PHẦN NỘI DUNG
I Văn học dân tộc thiểu số Việt Nam thời kì hiện đại – Một bộ phận văn học đậm đà bản sắc dân tộc.
* Bản sắc dân tộc trong văn hóa, văn học nghệ thuật.
Có thể nói một cách hình ảnh rằng, bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam
là kết quả của một cuộc hôn phối giữa cơ tầng văn hóa bản địa Việt Nam vàvăn hóa một số nước trong và ngoài khu vực Giới Văn hóa học nước ta đã
thống nhất xác định mô hình cơ tầng văn hóa bản địa của Việt Nam là “Nông dân – Nông nghiệp lúa nước – Làng xã” Cơ tầng văn hóa bản địa này đã có
một quá trình tiếp xúc và tiếp biến với văn hóa Trung Hoa, văn hóa Ấn Độ vàvăn hóa phương Tây qua các thời kì lịch sử khác nhau Quá trình này diễn ratheo cơ chế: Thứ nhất, không tiếp nhận toàn bộ hệ thống mà chỉ lựa chọnnhững giá trị nào phù hợp; Thứ hai, có khi tiếp nhận cả hệ thống, nhìn từ hìnhthức bên ngoài, nhưng thực chất đã sắp xếp lại các thang bậc giá trị khácnhau; Thứ ba, tiếp thu và cải biến các hình thức mới về văn hóa, nghệ thuậtcủa thế giới để biểu đạt nội dung các giá trị văn hóa Việt Nam Quá trình tiếpxúc, tiếp biến đó diễn ra trong bối cảnh đầy mâu thuẫn, vừa kiên quyết đấutranh chống lại sự đồng hóa để bảo tồn và duy trì truyền thống, vừa phải tiếpnhận văn hóa của chính kẻ xâm lược để chống lại sự đồng hóa của chúng Nhờ
có “bộ lọc” là lòng yêu nước nồng nàn, tinh thần tự hào, tự tôn dân tộc mà quá
trình tiếp xúc, tiếp biến văn hóa đã diễn ra một cách có chọn lọc và hiệu quả, dẫnđến sự hình thành bản sắc dân tộc của nền văn hóa dân tộc Việt Nam
“Bản sắc” theo Từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê là “màu sắc, tính chất riêng, tạo thành đặc điểm chính”[tr31] Xét nghĩa từ nguyên tiếng Hán
thì bản sắc là màu gốc chưa bị pha trộn, là sắc thái hồn nhiên tự nhiên chưa bịđẽo gọt, trang điểm, tỉa tót Bản sắc dân tộc của nền văn hóa dân tộc ViệtNam chính là những nét riêng biệt độc đáo, bền vững, những tinh hoa của
Trang 9cộng đồng dân tộc được vun đắp nên từ lâu đời, “đó là hạt nhân của tinh thần sáng tạo giống nòi… là tính năng động thôi thúc bên trong của mọi tiềm năng sáng tạo” (Huy Cận) Theo tác giả Trần Thị Việt Trung thì “bản sắc dân tộc
là những nét riêng biệt độc đáo của một nền văn hóa, văn học bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa văn hóa, văn mạch của dân tộc được vun đắp nên qua lịch sử, tạo thành phong cách dân tộc”.
Bản sắc dân tộc được thể hiện ở nội dung và hình thức nghệ thuật của văn học Trước hết, bản sắc dân tộc thể hiện ở đề tài, chủ đề của tác
phẩm văn học, nghĩa là thể hiện ở đối tượng tác phẩm đề cập đến và tư tưởng
của nhà văn Bản sắc dân tộc còn được thể hiện ở hình thức nghệ thuật của tác
phẩm, từ việc sử dụng ngôn ngữ dân tộc để sáng tác đến sự vận dụng hệ thốngkết cấu, và các thể loại truyền thống Như vậy, mọi sự bứt phá thành côngtrong sáng tác nghệ thuật đều xuất phát từ cơ sở truyền thống Văn hóa, vănmạch truyền thống như một dòng thác chảy mạnh mẽ ở bề sâu tác động đếnnội dung sáng tác và phương thức biểu hiện nghệ thuật của nhà văn
* Bản sắc dân tộc trong văn học các dân tộc thiểu số.
Trong một quốc gia đa dân tộc như Việt Nam, ngoài dân tộc Kinhchiếm số lượng lớn, các dân tộc thiểu số khác cũng giữ một vai trò, vị trí quantrọng Mỗi dân tộc có một đặc điểm riêng về tâm lý, tình cảm, nếp nghĩ, cáchsống, được hình thành từ rất lâu đời Chính vì vậy, văn học do các tác giả dân tộcthiểu số sáng tác sẽ có bản sắc dân tộc rất riêng, vừa thống nhất với bản sắc dântộc trong văn học Việt Nam nói chung vừa có những nét độc đáo, đặc sắc
Bản sắc dân tộc được thể hiện trong VHDTTS qua nhiều phương diện Trước hết, bản sắc dân tộc thể hiện qua chủ thể sáng tác Nhà văn, nhà
thơ sáng tác văn học là người dân tộc thiểu số, vì vậy anh ta là một người concủa dân tộc mình, phát biểu quan niệm thẩm mĩ của dân tộc mình Họ có thếgiới quan thấm nhuần truyền thống văn hóa của dân tộc – cộng đồng mà họ
Trang 10sinh ra và lớn lên, nên mỗi sáng tác – mỗi sản phẩm tinh thần của họ đều nóilên tâm tư, tình cảm và mang phong cách thể hiện của dân tộc.
Bản sắc dân tộc còn được thể hiện qua đối tượng phản ánh Đó là đề tài, chủ
đề mà nhà văn, nhà thơ nhận thức, khám phá, từ sự tổ hợp những đặc điểm về
tự nhiên, xã hội, phong tục tập quán dân tộc Đối tượng phản ánh củaVHDTTS rất rộng lớn, đó là môi trường tự nhiên xã hội – nơi mà các nhà vănnhà thơ sinh ra, lớn lên và gắn bó Đó còn là những sinh hoạt văn hóa của dântộc, bao gồm cả những nếp sinh hoạt vật chất và những sinh hoạt văn hóa tinhthần của người DTTS Những điều này đã ăn sâu trong tiềm thức của các tácgiả người DTTS, bởi đó là cái nôi văn hóa nuôi dưỡng tâm hồn họ trưởngthành Đối tượng phản ánh của VHDTTS còn là đời sống tâm hồn và tínhcách của con người dân tộc Đó là tình cảm thuần hậu, chân mộc, có cái gì đónguyên sơ, mãnh liệt, táo bạo, sống tình nghĩa, yêu quý con người một cáchchân thành Tất cả những đối tượng phản ánh phong phú đó đều gắn bó vớiđời sống dân tộc, thể hiện bản sắc dân tộc
Bản sắc dân tộc còn được thể hiện ở phương thức phản ánh (cách thức, chất liệu để nhà thơ hiện thực hóa nội dung) Các nhà thơ DTTS sử dụng
tiếng mẹ đẻ để sáng tác Đó là biểu hiện sâu sắc nhất của bản sắc dân tộc, vìtiếng mẹ đẻ của DTTS đã thể hiện được sâu sắc, chân thực nhất về cuộc sống
và con người dân tộc Bản sắc dân tộc còn được thể hiện ở sự vận dụng các
hình thức thể loại thơ ca truyền thống như sli, lượn, phong slư…
Như vậy, có thể thấy rằng con đường khám phá bản sắc dân tộc trongVHDTTS chính là việc đi tìm cái độc đáo, riêng biệt không thể trộn lẫn trongthế giới hình tượng, trong cách thức thể hiện thế giới đó và tư tưởng nghệ
thuật của nhà thơ Theo PGS TS Trần Thị Việt Trung thì “Thực chất đây là việc khám phá điệu tâm hồn của dân tộc”, khám phá những nét riêng trong
cách cảm, cách nghĩ, lối sinh hoạt, tâm tư, tình cảm… của dân tộc
Trang 11II Một số đặc điểm cơ bản của văn học dân tộc thiểu số Việt Nam
thời kì hiện đại.
Văn học dân tộc thiểu số Việt Nam thời kì hiện đại chủ yếu được hìnhthành và phát triển từ sau Cách mạng tháng Tám 1945, đặc biệt là từnhững năm 60 trở lại đây Tuy xuất hiện muộn nhưng Văn học các DTTSthời kì hiện đại đã có những bước vận động, phát triển khá mau chóng từđội ngũ sáng tác (ngày càng đông đảo) đến thể loại (ngày càng phongphú), tới số lượng và chất lượng tác phẩm hái (ngày càng nhiều, hay vàhấp dẫn hơn) Có thể khái quát rằng đặc điểm nổi bật của nền VHDTTSthời kì này là một nền văn học phong phú, đa dạng, đặc sắc và đậm đà bảnsắc văn hóa dân tộc Văn học DTTS thời kì hiện đại có sự phát triển đadạng về thể loại Ở tiểu luận này, chúng tôi xin được trình bày một vài đặcđiểm cơ bản của hai thể loại phát triển mạnh nhất là văn xuôi và thơ
II.1 Văn xuôi dân tộc thiểu số Việt Nam thời kì hiện đại – một số đặc
điểm cơ bản.
II.1.1 Các chặng đường phát triển của văn xuôi dân tộc thiểu số Việt Nam.
Trước năm 1945, hầu như chưa có tác phẩm văn xuôi nào của tác giảngười DTTS, mặc dù từ những năm 30 của thế kì XX đã có một số tác
phẩm văn xuôi viết về miền núi của các tác giả người Kinh như Thế Lữ, Lan Khai… Từ sau 1945, theo định hướng đường lối văn nghệ của Đảng,
VHDTTS đã được quan tâm, tạo điều kiện phát triển Bởi vậy, một thế hệnhà văn trẻ người DTTD đã được hình thành và có những đóng góp quan
trọng vào sự phát triển của văn học nước nhà Đó là các tác giả Nông Viết
Toại với “Bỏong tàng tập éo” (1952), Nông Minh Châu với “Ché Mèn được đi họp” (1959), Y Điêng với “Em chờ bộ đội Awa Hồ” (1960)….
Sáng tác của họ luôn bám sát công cuộc cách mạng của dân tộc, thể hiện sâu
Trang 12sắc tình cảm, ý chí của người dân miền núi trong những tháng ngày gian khổ,đầy mất mát hi sinh nhưng cũng đầy oanh liệt, oai hùng của dân tộc.
Từ sau năm 1975, trong không khí hòa bình, thống nhất đất nước, khắcphục hậu quả chiến tranh và xây dựng cuộc sống mới, văn xuôi DTTS pháttriển một bước mới Đội ngũ sáng tác là người DTTS đông đảo hơn, thành tựusáng tác cũng rực rỡ hơn Văn xuôi DTTS phát triển mạnh về số lượng vàchất lượng, giúp chúng ta có thể nhận diện một cách rõ ràng, khẳng định nónhư một thực thể riêng, độc đáo trong đời sống văn học Việt Nam hiện đại
Các tác giả, tác phẩm tiêu biểu của VHDTTS giai đoạn này như: Vi Hồng với
Đất bằng (1990), Núi cỏ yêu thương (1984), Thung lũng đã rơi (1985), Người trong ống (1990)….; La Quán Miên với Hai người trở về bản (1996), Kha Thị Thường với tập truyện Lũ núi (2003), Hlinh Niê với tập truyện Con rắn màu xanh da trời (1997), Irasara với Chân dung cát (2006)… Các tác
phẩm của các tác giả đó đã đạt đến độ xuất sắc khi dựng cảnh, dựng ngườiđậm đà bản sắc dân tộc, nói lên tiếng nói tâm hồn của người dân tộc thiểu số.Trong thời kì đổi mới, văn xuôi DTTS đã có sự mở rộng về đề tài, chủ đề,phạm vi hiện thực đời sống, đề cập đến cả những vấn đề trước đây còn e ngại,
né tránh Tuy nhiên, nhìn chung, văn xuôi DTTS chưa có những tác phẩm đồ
sộ, một số vấn đề thời sự ở các vùng miền núi còn chưa được phản ánh sâusắc như vấn đề an ninh, quốc phòng vùng biên giới… Đó là những yêu cầu,thách thức đối với mảng văn học này, đòi hỏi văn xuôi DTTS ngày càng phảiphát triển và hoàn thiện hơn
II.1.2.Một số đặc điểm về nội dung
Trước hết, văn xuôi DTTS thời kì hiện đại hướng đến thể hiện hiện thực cuộc sống và con người miền núi.
Các tác giả người DTTS sinh ra và lớn lên trong môi trường tự nhiên và xãhội DTTS, trong nôi văn hóa DTTS Tự nhiên như hơi thở, mỗi tác phẩm của
họ hướng đến thể hiện hiện thực cuộc sống và con người miền núi Trước
Trang 13năm 1975, hòa vào dòng chung của văn học dân tộc, văn xuôi DTTS cũng đãchú ý đến việc phản ánh cuộc đấu tranh vệ quốc vĩ đại của dân tộc, tuyêntruyền cách mạng, ca ngợi quê hương, đất nước và con người miền núi tronggiai đoạn mới Sau năm 1975, đặc biệt là sau năm 1986, biên độ sáng tác củacác tác giả DTTS đã mở rộng hơn, đề cập đến nhiều vấn đề mang tính thời sự,
ca ngợi cái mới, cái tốt đẹp, phê phán cái xấu, cái lạc hậu, cái ác, cổ vũ, độngviên cái mới, đi sâu miêu tả thân phận con người miền núi với những số phậnmới, khát vọng mới Nếu như trong một số tác phẩm viết về dân tộc miền núicủa một số tác giả người Kinh trong những năm 30 của thế kỉ XX, hiện thựccuộc sống miền núi hiện lên là một thế giới kì lạ, bí ẩn, thiên nhiên dữ dội, bíhiểm nhưng đôi lúc cũng rất thơ mộng trữ tình thì trong sáng tác của các tácgiả người dân tộc thiểu số, hiện thực cuộc sống nơi đây hiện lên gần gũi hơnvới những vấn đề rất đời thường như những đức tính, phẩm chất tốt đẹp củangười miền núi (mộc mạc, chân thành, thủy chung đến tận đáy…), tình yêu vàhạnh phúc, cuộc sống đầy khó khăn gian khổ của những giáo viên, kĩ sư…bám làng, cắm bản… Có thể nói, hiện thực cuộc sống và con người miền núiđược các nhà văn DTTS đề cập đến rất phong phú và đa dạng Đó là nhữngvấn đề gắn liền với cuộc sống và sự sinh tồn của con người vùng cao Tuynhiên, mỗi tác giả đại diện cho dân tộc mình lại có một cách viết riêng, cáchthể hiện riêng với những trăn trở riêng, những tự hào riêng về con người, cuộcsống của dân tộc mình Văn xuôi DTTS đã phản ánh phần nào những vẻ đẹpđộc đáo, đa dạng hiện thực cuộc sống của mỗi cộng đồng DTTS Việt Nam
Văn xuôi DTTS còn thể hiện đời sống tinh thần phong phú, đa màu sắc văn hóa của các dân tộc.
Văn xuôi miền núi đi sâu vào miêu tả, khắc họa đời sống tinh thầnphong phú, đa dạng của con người miền núi Đó là những phong tục tập quánmang những nét đặc trưng của các DTTS Các tác giả là người DTTS đã tỏ rarất thành thạo và say sưa trong việc miêu tả các mặt đời sống tinh thần củacác dân tộc, làm rạng ngời lên những nét riêng, độc đáo trong các lễ hội, trong
Trang 14cách trang trí nhà cửa, hay trong các tập tục cuộc sống của đồng bào Các tácgiả cũng chỉ ra những hạn chế, những cái xấu chưa bị tiêu diệt đến cùng, cáitốt đang khởi sắc, cái đẹp đang dần bị mai một Đó còn là thực trạng về sự mêtín dị đoan trong đời sống tinh thần, đời sống tâm linh của đồng bào vùng cao
bị kẻ ác lợi dụng; đó là những luật tục mang tính vô nhân đạo còn tồn tại Bêncạnh dó là hình ảnh những con người miền núi chân thật, trong sáng, sâu nặngnghĩa tình luôn được hiện lên đậm nét Các nhà văn đã tập trung miêu tảnhững phong tục tập quán của các DTTS trong đời sống lao động, trong sinhhoạt và vui chơi, trong các hoạt động tín ngưỡng với những nét tâm lý riêngcủa mỗi cộng đồng dân tộc Các phong tục tập quán được đề cập đến trong
sáng tác của các nhà văn DTTTS như tục cưới hỏi, tang ma (Chồng thật vợ giả - Vi Hồng, Giấc mơ của làng – Hlinh Niê, Pơ thi mênh mang mùa gió – Hlinh Niê…), tục hát then (Chồng thật vợ giả - Vi Hồng), tục khai vài xuân (Súc hỷ - Cao Duy Sơn), ngày hội bắt cá (Mùa này hoa bằng lăng không nở - Hlinh Niê), lễ hội đâm trâu, lễ gọi hồn…Tóm lại, viết về các phong tục tập
quán là những dấu ấn đặc trưng nổi bật trong sáng tác của các nhà văn DTTS.Các tác giả đã đưa người đọc bước vào thế giới tâm linh của các tộc ngườiDTTS qua những hoạt động lễ hội, những tập tục trong cuộc sống tinh thần,trong cuộc sống sinh hoạt đời thường của họ
Một đặc điểm nữa trong nội dung của các tác phẩm văn xuôi DTTS
là thể hiện thế giới tự nhiên hoang dã, trữ tình.
Trong sáng tác của các nhà văn DTTS, thiên nhiên miền núi được hiệnlên thật chân thực và cũng đầy lãng mạn với sắc màu rực rỡ và âm thanh vangdội Đó là âm thanh của tiếng chim kêu, gió thổi, rừng cây xào xạc, của sông,suối, mưa nguồn, thác đổ Bên cạnh những âm thanh kì diệu ấy là những gammàu xanh lục và sặc sỡ của cỏ cây hoa lá, là ánh sáng lúc bình minh, khichiều tà, lúc trăng xế, khi sao khuya Sự đổi thay của thiên nhiên qua bốn mùatạo nên những khoảnh khắc thần tiên với một tấm áo màu rực rỡ mang vẻ đẹpkhỏe khoắn, trẻ trung vốn có từ ngàn đời của núi non Vẻ đẹp muôn hình vạn
Trang 15trạng ấy đã làm say đắm lòng người, vẻ đẹp trong sáng tràn đầy sức sống làm
ấm lòng người Có những lúc thiên nhiên miền núi hiện lên với dáng vẻ hoang
sơ, kì ảo, in đậm màu sắc bí hiểm của miền sơn cước với sức sống mãnh liệtcủa núi rừng và muông thú Cũng có khi khung ảnh thiên nhiên tươi sáng,
trong trẻo, chứa chan thi vị, đầy màu sắc lãng mạn Trong Pơ thi mênh mang mùa gió, Hlinh Niê viết “Trước khi trút hết tấm áo cũ xuống làm lá mục nuôi đất, toàn bộ cây rừng chắt chiu chút sức lực cuối cùng của mình hóa thân những chiếc lá thành màu đỏ, cố làm đẹp cho đời lần chót Rừng rực, rừng rực như màu tấm thổ cẩm ami dệt mỗi ngày… Một cơn gió mùa đông ào ạt cuốn hàng ngán chiếc lá đỏ bay tít lên cao rồi lại thả chúng chậm chạp liệng đáp xuống, phủ một tấm thảm đỏ lên nền rừng Cây bút kì diệu của thiên nhiên hoang dã đã dùng cảnh khô và lá đỏ vẽ nên một khung cảnh tuyệt vời” Trong Ngôi nhà xưa bên suối, Cao Duy Sơn lại tả “Mưa như bụi rắc xuống từ đỉnh núi len khắp khe ngách, lối mòn, ken sươn sướt quanh những gốc lê già trổ bông như tuyết” Nhìn chung, thế giới thiên nhiên miền núi đã được hiện
ra muôn màu muôn vẻ Thiên nhiên ấy không hoàn toàn hoang vu, huyền bí,càng không phải là rừng thiêng nước độc, là thế giới của ma quỷ, hùm beo,rắn độc, là kẻ thù đối lập với con người, mà đó còn là thế giới của thiên nhiêntươi đẹp, thơ mộng rực rỡ, trữ tình, tràn đầy sức sống và luôn hòa hợp vớicuộc sống con người Thiên nhiên ấy góp phần tạo nên bức tranh thiên nhiênmiền núi Việt Nam tươi đẹp và đa sắc
II.1.3.Một số đặc điểm về nghệ thuật
Trước hết, về nghệ thuật xây dựng nhân vật Hầu hết các nhà văn
DTTS khi xây dựng nhân vật trong tác phẩm của mình đều chịu ảnh hưởngcủa thi pháp dân gian, với quan niệm ở hiền gặp lành, ác giả ác báo Hệ thốngnhân vật thường được phân định thành hai tuyến rõ rệt là Tốt – Xấu, Thiện –
Ác Những nhân vật chính diện được miêu tả với vẻ lương thiện, nhân ái,sống chân thực còn những nhân vật phản diện thì xấu xa, ti tiện, độc ác Khimiêu tả nhân vật, các tác giả thường dùng thủ pháp so sánh, tương phản theo
Trang 16lối “vật hóa” (đối với nhân vật phản diện) hoặc “thần hóa”(đối với nhân vật chính diện), nhằm mục đích hạ thấp (với thủ pháp “vật hóa”) hoặc đề cao, ngợi ca (đối với thủ pháp “thần hóa”) đối tượng Các nhà văn DTTS cũng
thường chú ý khắc họa nhân vật qua những chi tiết đặc biệt về ngoại hình,hành động Cũng có khi, các tác giả DTTS lại mượn yếu tố thiên nhiên đểkhắc họa vẻ đẹp và tính cách nhân vật Đặc biệt, trong sáng tác của Vi Hồng,yếu tố thiên nhiên đã có một vị trí hết sức quan trọng khi diễn tả trạng thái,tâm lý, hành động của con người mà nhiều khi không thể diễn tả bằng hànhđộng hay lời nói của nhân vật
Về ngôn ngữ nghệ thuật Ngôn ngữ nghệ thuật được sử dụng chủ yếu
trong các tác phẩm văn chương có chức năng chủ yếu là xây dựng hình tượngnghệ thuật, tác động đến cảm xúc của người đọc, biểu hiện cái đẹp, khơi gợi
và nuôi dưỡng cảm xúc thẩm mĩ cho người đọc Các nhà văn DTTS thường
sử dụng với cường độ lớn thủ pháp so sánh, ví von, liên tưởng Những so sánhliên tưởng nhiều khi mang tính trực giác, gắn bó với sự vật, hiện tượng quenthuộc và gần gũi với cách cảm, cách nói của người miền núi Chẳng hạn, miêu
tả sức trai trẻ của chàng thanh niên đôi mươi, Cao Duy Sơn đã dùng hình ảnh
rất quen thuộc với lối cảm nghĩ của người nông dân miền núi: “Khơ khỏe như con trâu tơ đực chưa vực cày” Một số tác giả thường hay sử dụng thành ngữ,
tục ngữ của dân tộc mình trong sáng tác, thể hiện rõ sự ảnh hưởng của vănhóa dân gian trong cách viết của các tác giả, tạo cho tác phẩm giàu chất thơ,phù hợp với cách nói cách viết của người DTTS
Với một số đặc điểm cơ bản trên về nội dung và nghệ thuật, chúng ta cóthể khẳng định rằng: Văn xuôi DTTS đã và đang trên đà phát triển và đủ sức
để hội nhập với nền văn xuôi hiện đại của nước nhà Tuy nhiên, bản sắc vănhóa dân tộc vẫn luôn thấm đượm và luôn là một nét đặc trưng cơ bản của bộphận văn học này Cũng chính điều đó đã làm cho văn xuôi DTTS tồn tại vàphát triển một cách vững chắc trong đời sống văn học của nước nhà trong thời
kì hiện đại