1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tự sự lịch sử trong tiểu thuyết sông côn mùa lũ của nguyễn mộng giác (LV01652)

119 706 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 1,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các công trình nghiên cứu về tiểu thuyết lịch sử Tiểu thuyết lịch sử là một thể tài văn học mang tính đặc thù với những quy luật sáng tạo riêng của nó, một thể loại văn học mà người viế

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI II

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC KHOA NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học:TS Lê Trà My

Hà Nội 2015

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm

bảo độ tin cậy, chính xác, trung thực và được trích dẫn đầy

đủ theo quy định Những kết luận mới về khoa học của luận

văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình khoa

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 : VẤN ĐỀ TỰ SỰ LỊCH SỬ VÀ TIỂU THUYẾT SÔNG CÔN MÙA LŨ 12

1.1 Tiểu thuyết lịch sử và tư duy về những cái khả nhiên của lịch sử 12

1.2 Tự sự lịch sử như là diễn ngôn về lịch sử 16

1.3 Sông côn mùa lũ và dòng chảy tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đương đại 21 CHƯƠNG 2: SỰ KIỆN LỊCH SỬ VÀ NHÂN VẬT LỊCH SỬ TRONG TIỂU THUYẾT SÔNG CÔN MÙA LŨ 30

2.1 Các sự kiện lịch sử trong Sông Côn mùa lũ 30

2.2 Nhân vật lịch sử trong Sông Côn mùa lũ 45

CHƯƠNG 3: CÁC THỦ PHÁP TỰ SỰ LỊCH SỬ TRONG SÔNG CÔN MÙA LŨ 63

3.1 Không gian tự sự 63

3.2 Thời gian tự sự 68

3.3 Điểm nhìn tự sự trong Sông Côn mùa lũ 73

3.4 Giọng điệu tự sự 78

KẾT LUẬN 110

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 112

Trang 4

MỞ ĐẦU

1.Lý do chọn đề tài

Ngôn ngữ là ngôi nhà của hữu thể, ngôn ngữ mang tính chất kiến tạo, là

sự kiến tạo hữu thể Chúng ta không bao giờ chạm được vào hiện thực, chúng

ta chỉ có thể tiếp cận hiện thực thông qua các văn bản Với cách nhìn như vậy tiểu thuyết lịch sử được coi là văn bản của sự kiến tạo lịch sử

Tiểu thuyết lịch sử trong giai đoạn gần đây có sự phát triển nở rộ, thể tài này đã dành được sự quan tâm của đông đảo độc giả và các nhà nghiên

cứu Có thể kể ra đây các tác phẩm tiểu thuyết lịch sử như: Vằng vặc Sao

Khuê (Hoàng Công Khanh), Đất trời,Gió lửa (Nam Dao), Giàn thiêu (Võ Thị

Hảo), Mảnh trăng Tô Lịch (Siêu Hải), Đô đốc Bùi Thị Xuân (Quỳnh Cư), Hồ

Quý Ly (Nguyễn Xuân Khánh)…và không thể không nhắc đến Sông Côn mùa

lũ của Nguyễn Mộng Giác

Mỗi tác giả có một lối viết, một phong cách, một kĩ thuật tự sự khác nhau nhưng tựu chung họ đều hướng tới cái đích thể hiện lịch sử dân tộc thông qua thể tài tiểu thuyết lịch sử Mặc dù quan niệm về tiểu thuyết lịch sử đến nay vẫn còn nhiều ý kiến, nhiều quan niệm khác nhau, nó chưa có sự thống nhất nhưng ở lối viết nào, phong cách nào, ý định, mục tiêu nào thì tất

cả các tác phẩm tiểu thuyết lịch sử đều có một điểm chung là có chứa yếu tố lịch sử từ sử liệu Hàm lượng của yếu tố lịch sử trong mỗi tác phẩm ít hay nhiều, nó được tạo dựng như thế nào? Điều đó phụ thuộc vào tư tưởng, khả

năng và kỹ thuật diễn ngôn, kỹ thuật tự sự của mỗi nhà văn Đọc Tây Sơn bi

hùng truyện (Lê Đình Danh) ta thấy được sự tái hiện cả một giai đoạn bi hùng

Trang 5

đầy thăng trầm của lịch sử dân tộc, thấy được tên tuổi của những con người

đã được lịch sử ghi danh như Nguyễn Huệ, Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ, Trần Quang Diệu, Bùi Thị Xuân…thấy được các trận đánh, các sự kiện, các dấu mốc lịch sử được khắc hoạ khá rõ nét Lê Đình Danh có xu hướng để người đọc có ấn tượng về các sự kiện lịch sử vượt trội lên hẳn ấn tượng về sự kiện lịch sử, về con người

Trái lại đọc Đô đốc Bùi Thị Xuân (Quỳnh Cư) ta lại thấy tác giả có ý tập trung khắc hoạ yếu tố con người nhiều hơn yếu tố yếu tố sự kiện Ở Đô

đốc Bùi Thị Xuân tác giả đã đi sâu khắc họa vẻ đẹp bi tráng của nữ tướng tài

danh trong triều đại Tây Sơn Cuộc đời của nữ tướng gắn liền với những võ công oanh liệt, là người trợ thủ đắc lực của Quang Trung, bà cùng Quang Trung đánh dẹp nội phản, ngoại xâm thống nhất đất nước Ngay cả khi Quang Trung đã qua đời bà vẫn một lòng một dạ tận tâm, tận trung với việc nước Khi bị bắt và đưa ra hành hình bà vẫn bình thản, cái chết của vị nữ đô đốc đã được nâng lên tầm vóc sử thi Quỳnh Cư đã chú trọng khai thác về nhân vật lịch sử hơn là sự kiện lịch sử, tác giả đã tạo cho nhân vật trong tác phẩm của mình một vẻ đẹp toàn bích, gây được ấn tượng, cảm xúc kiêu hãnh, tự hào về nhân vật với độc giả

Bên cạnh đó lại có nhóm tác giả lấy con người, nhân vật làm trung tâm cho tác phẩm Con người, các nhân vật trong tác phẩm của nhóm tác giả kiểu này luôn làm chủ các sự kiện, các biến cố lịch sử Với các tác giả có quan niệm này họ cho rằng tiểu thuyết lịch sử là những câu chuyện tâm hồn, yếu tố chính sử được giảm bớt, yếu tố dã sử được gia tăng, họ kết hợp linh hoạt hai yếu tố tiểu thuyết và lịch sử Vì vậy nhóm tác giả này luôn tạo ra cho người đọc những cảm nhận tác phẩm của mình với nhiều trạng thái vui, buồn, sướng, khổ khác nhau Họ muốn lý giải tình cảm, những thôi thúc nội tâm, những suy tưởng, những quan hệ ứng xử giữa con người với con người qua

Trang 6

lịch sử và những biến cố của nó Điển hình cho nhóm tác giả này phải kể đến

Nam Dao với Gió lửa, Võ Thị Hảo với Giàn thiêu…và sẽ là một thiếu sót lớn nếu không kể đến Nguyễn Mộng Giác với bộ tiểu thuyết quy mô có tên Sông

Côn mùa lũ

Trong Sông Côn mùa lũ, Nguyễn Mộng Giác đã tái hiện lại lịch sử dân

tộc cuối thế kỷ XVIII, các sự kiện lịch sử cũng được nhà văn nhắc đến song dường như yếu tố này chỉ giữ vai trò thứ yếu Mục tiêu cốt yếu mà tác giả muốn gửi đến bạn đọc là cảm nhận được những lý giải về tình cảm con người

- nhân vật trong tác phẩm - về quan hệ ứng xử của họ, thấy được họ đã làm chủ các sự kiện lịch sử Qua đó độc giả có cái nhìn đa diện, đa chiều về nhân vật lịch sử Để đạt được mục tiêu đó Nguyễn Mộng Giác đã thể hiện tất cả khả năng văn chương của mình từ việc xây dựng kết cấu tác phẩm, xây dựng tuyến nhân vật, nghệ thuật tự sự, ngôn ngữ thể hiện và hình thức, cách thức diễn ngôn cho tác phẩm của mình

Từ những lý do trên, tôi quyết định chọn vấn đề tự sự lịch sử trong tiểu thuyết Sông Côn mùa lũ của Nguyễn Mộng Giác làm đề tài nghiên cứu

cho luận văn

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Các công trình nghiên cứu về tiểu thuyết lịch sử

Tiểu thuyết lịch sử là một thể tài văn học mang tính đặc thù với những quy luật sáng tạo riêng của nó, một thể loại văn học mà người viết vừa phải dựa vào những điều đã xảy ra trong quá khứ và được ghi chép lại từ những người thuộc chuyên ngành khác (lịch sử) vừa phải tìm hiểu, sáng tạo và vận dụng tố chất văn chương của mình để sáng tác Tác giả tiểu thuyết lịch sử vừa phải làm thế nào để tác phẩm của họ vừa chứa đựng yếu tố lịch sử có trong sử liệu vừa phải đảm bảo tính nghệ thuật và có đủ màu sắc văn chương của tiểu thuyết, vừa tái hiện khơi gợi được không khí thời đại trong quá khứ lại vừa soi rọi được các vấn đề cho hiện tại giúp cho độc giả nói chung và các nhà

Trang 7

nghiên cứu nói riêng thấy được sự sáng tạo cụ thể của tư duy lịch sử

Văn học Việt Nam đương đại nói chung và tiểu thuyết lịch sử nói riêng,

đã và đang đứng trước xu hướng đổi mới trong tư duy nghệ thuật Hàng loạt các tác giả đã thay đổi lối tư duy trong sáng tác của mình và họ đã đạt được rất nhiều thành công trong việc miêu tả và tái hiện thế giới đời sống, đặc biệt

là đời sống lịch sử trong quá khứ Với cách nhìn đa diện, đa chiều, do ảnh hưởng và tác động của chủ nghĩa hậu hiện đại nên các tác giả tiểu thuyết lịch

sử cũng có những thay đổi quan niệm về nghệ thuật, hình thức diễn ngôn, kỹ thuật tự sự trong sáng tác của mình Các tác giả tiểu thuyết lịch sử đã làm phong phú sinh động cả về nội dung và hình thức các tác phẩm, việc cách tân lối viết, lối tư duy như khoác cho thể loại này một tấm áo mới với đầy đủ màu sắc mới, diện mạo mới Sự phong phú, sinh động của các tác phẩm tiểu thuyết lịch sử đã trở thành động cơ thôi thúc các nhà nghiên cứu, lý luận, phê bình văn học phải xắn tay vào cuộc với nhiệm vụ nghiên cứu, phân tích… Điều đó đồng nghĩa với việc họ cho ra đời hàng loạt các công trình nghiên cứu, khảo chứng, đánh giá về tiểu thuyết lịch sử

Nhìn lại chặng đường hơn sáu mươi năm mà các nhà nghiên cứu đã dày công thực hiện, thành quả mà các bậc tiền bối để lại cho thế hệ đi sau là những kinh nghiệm nhận diện, cách nhìn vấn đề thuộc bản chất và quy luật phát triển của nó để lớp hậu thế chúng ta càng nhận thức rõ bước đi của tiểu thuyết lịch sử trong giai đoạn hiện nay Hàng loạt các công trình nghiên cứu

về tiểu thuyết lịch sử Việt Nam điển hình như : công trình “Tiểu thuyết lịch

sử Việt Nam đương đại với quan niệm nghệ thuật về con người” (Nguyễn Thị Kim Tiến, tạp chí Sông Hương 6/2010), bài “Một số khuynh hướng tiểu thuyết ở nước ta thời kỳ đổi mới đến nay” (Gs-Ts Nguyễn Thị Bình,16/10/2013), công trình “Mã hoá và mã hoá văn hoá trong tiểu thuyết lịch sử sau 1986” (Nguyễn Văn Hùng, 9/11/2013) Công trình “Tư tưởng cấp tiến và thủ pháp hư cấu trong kịch và tiểu thuyết” (Yến Nhi, 12/3/2008)

Trang 8

Công trình “Tiểu thuyết lịch sử trong vòng văn hoá dân tộc” (Thái Vũ), công trình “Lịch sử có quyền được biết đến một cách giản dị” (Đan Thành), công trình “Lịch sử phải là những bài học soi sáng đương đại” (Hoàng Quốc Hải), công trình “Lại bàn về chuyện đọc sử và đọc văn” (Nguyễn Hoà), công trình “Tiểu thuyết lịch sử của Hella S.Haasse” (Phan Cự Đệ), công trình “Bàn về tiểu thuyết lịch sử” (Hoài Nam), công trình “Mấy ý kiến về tiểu thuyết lịch sử nhân đọc Quận He khởi nghĩa” (Tiêu Dương), công trình

“Đọc tổ quốc kêu gọi, suy nghĩ về vấn đề khám phá và sáng tạo trong tiểu thuyết lịch sử” (Đoàn Thị Hương), công trình “Vài ý kiến về sự thực và hư cấu nghệ thuật trong truyện lịch sử phục vụ các em” (Hà Ân), công trình

“Ngòi bút tái hiện lịch sử của Hà Ân trong tiểu thuyết Người Thăng Long” (Nguyễn Phương Chi), bài “Đến với Nguyễn Trãi qua Vằng vặc Sao Khuê” (Trần Cư), bài “Hồ Quý Ly và những giải pháp mới cho văn học nước nhà” (Trung Trung Đỉnh), Bài “Hồ Quý Ly cách tân hay bạo chúa” (Đỗ Ngọc Hà), bài “Hội thảo về tiểu thuyết Hồ Quý Ly” (Hồ Anh Thái)…vv

Nói chung dù được khai thác, tìm hiểu, nghiên cứu ở nhiều khía cạnh khác nhau, mặc dù đã chỉ ra ít nhiều quy luật sáng tạo, sự vận động của tư duy

tự sự lịch sử trong tiểu thuyết lịch sử, chỉ ra những đóng góp đáng ghi nhận của thể loại tiểu thuyết lịch sử cho nền văn học nước nhà nhưng đến nay vẫn chưa có một công trình chuyên biệt, triệt để nào nghiên cứu toàn diện thấu đáo về thể loại tiểu thuyết lịch sử Ở đâu đó trên cánh đồng tiểu thuyết lịch sử này vẫn còn những “thửa ruộng hoang” cần đến bàn tay, khối óc của thế hệ kế cận cày xới, chăm sóc và tiếp tục khai hoá

2.2 Các công trình đã nghiên cứu về bộ tiểu thuyết Sông Côn mùa lũ

Từ khi bộ tiểu thuyết xuất hiện trên văn đàn sau một thời gian chờ đợi

sự phản hồi từ công chúng và giới chuyên môn thì cuối cùng vào những năm đầu của thế kỷ XXI bộ tiểu thuyết và tác giả của nó đã bắt đầu nhận được những ý kiến phản hồi có giá trị Và cũng bắt đầu từ đó các nhận xét đánh giá của cả độc giả, của giới chuyên môn đã lần lượt xuất hiện Có thể kể đến

Trang 9

những công trình nghiên cứu đã ít nhiều đề cập đến bộ tiểu thuyết này như:

Chuyên luận “Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau 1945” của tiến sĩ Nguyễn Thị Tuyết Minh (NXB Công an nhân dân 2012), các bài nghiên cứu: “Suy nghĩ về tiểu thuyết lịch sử”, (25/10/2012- Diễn đàn Gác nhỏ cho người yêu

sách) của giáo sư Trần Đình Sử Một số công trình trực tiếp nghiên cứu về bộ

tiểu thuyết Sông Côn mùa lũ như: “Sông Côn mùa lũ của Nguyễn Mộng Giác: Sự khám phá nhân cách văn hoá Việt” của (Đỗ Minh Tuấn, 13/07/2012, Văn hoá Nghệ An); công trình “Tiểu thuyết lịch sử nhân đọc Sông Côn mùa lũ” của Nguyễn Vy Khanh (18/09/2000); công trình “Cấu trúc hình tượng không gian trong Sông Côn mùa lũ” của Nguyễn Thị Kim Oanh; công trình “Sông Côn mùa lũ - bộ tiểu thuyết công phu” của Nguyễn

Khắc Phê (Tạp chí Sông Hương, số 134, tháng 10/1999)

Nhiều luận văn thạc sĩ đã nghiên cứu về Sông Côn mùa lũ như: Nguyễn

Thị Thanh Phương (2005,ĐHSP Hà Nội) với công trình Luận văn thạc sĩ có tên

“Đổi mới thể tài tự sự lịch sử qua tiểu thuyết Sông Côn mùa lũ”, Lê Anh Tuấn (2007, ĐHSP Vinh) với luận văn “Những đóng góp về nghệ thuật trong tiểu thuyết lịch sử Sông Côn mùa lũ”, Trần Thị Hương Giang (ĐHSP Hà Nội, 2008) với đề tài “Đổi mới thể loại tiểu thuyết lịch sử qua tiểu thuyết Sông Côn

mùa lũ”, hay Phạm Thị Kim Chi (ĐHSP Hà Nội, 2010) với đề tài “Thế giới

nghệ thuật trong tiểu thuyết lịch sử Sông Côn mùa lũ”, hay Luận văn “Hình tượng nhân vật anh hùng trong tiểu thuyết lịch sử hiện đại Việt Nam” của Nguyễn Văn Sang (ĐHKHXH & NV, 2012); Luận văn “Sông Côn mùa lũ của Nguyễn Mộng Giác dưới góc nhìn liên văn bản”, của Trần Vân Trang (ĐH

Đà Nẵng, 2014), Luận án “Con người trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam thời

kỳ đổi mới” của Nguyễn Thị Kim Tiến (ĐHKHXH & NV, 2012) v.v…

Đi sâu tìm hiểu các công trình nghiên cứu của cả giới chuyên môn và

những tác giả luận văn mới tập nghiên cứu về Sông Côn mùa lũ ta mới thấy

sức lan toả lớn của tác phẩm với những thành công của nó Giáo sư Mai Quốc Liên -Giám đốc trung tâm nghiên cứu Quốc học- nhận xét : “Tác phẩm rất

Trang 10

hấp dẫn, trước hết là chất văn học của nó…sự phong phú của nó, vẻ đẹp của

nó lôi cuốn ta, lôi cuốn những người yêu lịch sử dân tộc, yêu con người Việt

Nam quả cảm và nhân ái”, “Sự thành công trong Sông Côn mùa lũ là cách xây

dựng nhân vật đặc biệt là nhân vật Nguyễn Huệ” Anh hùng đến mức thiên tài, xuất sắc nhưng không phải anh hùng một cách đơn giản, tự nhiên nhi nhiên, mà có sự trăn trở, sự suy tưởng, có hàm lượng trí tuệ, triết học lịch sử cao” “Tôi ít đọc được trong tiểu thuyết mình một nhân vật nữ nào quyến rũ, thương mến, Việt Nam như An” “ tác giả đã gởi An vào rất nhiều những thể nghiệm, những suy tưởng…về con người phụ nữ Việt Nam - người gánh lịch

sử đất nước…chồng con trên đôi vai bé nhỏ yếu đuối của mình” … “Càng đọc tôi càng bị cuốn hút”… “Sông Côn mùa lũ là một nỗ lực tổng hợp với

một quan niệm mới cả về tiểu thuyết và về lịch sử” (Tết Quý Mùi 2003-trong

Lời giới thiệu của tập tiểu thuyết) [12]

Xuất phát từ một người yêu lịch sử dân tộc, tự hào về lịch sử dân tộc,

là người am hiểu lịch sử và văn hoá dân tộc, Mai Quốc Liên xót xa khi lịch sử của dân tộc trong con người Việt nam ngày bị lãng quên, bị xem nhẹ, bị bỏ rơi Ông cảm thấy việc bỏ mặc lịch sử tổ tiên, lịch sử dân tộc, việc hành động khiêm tốn, nhút nhát, rụt rè không xứng đáng với lịch sử, với những gì cha

ông ta đã làm khi trước Ông “quí cuốn tiểu thuyết này” (Sông Côn mùa lũ)

và ghi nhận: “một tác phẩm văn học rất cần có trong hành trang văn hoá của mỗi con người Việt Nam chúng ta ngày nay”…Cuốn sách có ý nghĩa thức dậy

“tình cảm cội nguồn với quê hương, đất nước, tổ tiên…”

Nguyến Vi Khanh trong bài viết “Về tiểu thuyết lịch sử” (18/09/2002) đã nhận xét về Sông Côn mùa lũ và Gió lửa của Nam Dao là: “có cố gắng nghệ

thuật và các tác giả đều có liên hệ đến những trôi nổi của các biến cố và chế độ

trong bốn, năm thập niên qua” Tác giả còn nhắc đến mặt mạnh của Sông Côn

mùa lũ đó là Nguyễn Mộng Giác đã thành công trong việc xây dựng nhân vật

Nguyễn Huệ Theo Nguyễn Vi Khanh “Sông Côn mùa lũ đại diện cho khuynh

hướng tiểu thuyết lịch sử muốn trình bày trung thực một thời đại bằng cách tiểu

Trang 11

thuyết hoá những tình tiết, những thái độ, trình độ tri thức, tâm tính, với những nhân vật có thật bên cạnh vài nhân vật tiểu thuyết có thể có thật, như một giả thuyết, một thể nghiệm văn chương cho đề tài lịch sử đã chọn”

Nguyễn Hưng Quốc trong bài “Phê bình phê bình” (30/04/2001) có những phát hiện mới mẻ, đặc sắc về Sông Côn mùa lũ: “đặc sắc của Sông Côn

mùa lũ không nằm trên cái cấu trúc vĩ mô gắn liền với các biến động lớn lao

của lịch sử, tức những mùa nước lũ, mà nằm trong những chi tiết nho nhỏ có

vẻ như thứ yếu, liên quan đến những đám bèo trôi dạt theo dòng nước lũ ấy Mất chúng bộ tiểu thuyết dường như mất tất cả” Khác với những nhà tiểu thuyết khác, Nguyễn Mộng Giác :“say mê đối với những chuyển động xã hội dẫn đến những cảm hứng nhân đạo và niềm đam mê đối với những chuyển động lịch sử sẽ dẫn đến cái nhìn đầy bi kịch” Đây là một nghịch lý [35] Kết luận trên của Nguyễn Hưng Quốc mang tính phát hiện và ông đã chứng minh

lý giải cho kết luận của mình Từ đam mê những chuyển động lịch sử đến tính chất nghịch lý trong những chuyển động ấy và cuối cùng là sự lựa chọn chi tiết như là một phong cách sáng tác của Nguyễn Mộng Giác

Bên cạnh những nhận xét mang tính khen ngợi tán thành nói trên còn

phải kể đến những nhận xét của Trần Hữu Thục với tiểu luận: “Nhân vật

Nguyễn Huệ trong Sông Côn mùa lũ” (18/01/2013- 05/04/2014) Trần Hữu

Thục cũng tìm các tác phẩm văn chương có xây dựng và mô tả về hình tượng

người anh hùng Nguyễn Huệ như “Phẩm tiết” của Nguyễn Huy Thiệp, “Gió

lửa” của Nam Dao, “Mùa mưa gai sắc” của Trần Vũ, “Mảnh trăng Tô Lịch”

của Siêu Hải vv Theo Trần Hữu Thục, Sông Côn mùa lũ của Nguyễn Mộng

Giác đã thể hiện được một Nguyễn Huệ “cũ, không gây sốc”, một Nguyễn Huệ như còn đang thăm dò những khía cạnh khác về người anh hùng, muốn được xem xét như một con người bình dị khác, một Nguyễn Huệ rất riêng, một Nguyễn Huệ có học, có tầm nhìn và tư tưởng vượt xa thời đại [53] Hay

Yến Nhi trong bài viết “Tư tưởng cấp tiến và thủ pháp hư cấu trong kịch và

Trang 12

tiểu thuyết lịch sử” (2008) tác giả đã lấy tác phẩm của Nguyễn Mộng Giác để

làm bằng chứng cho khả năng mở rộng biên độ tưởng tượng và hư cấu của thể loại tiểu thuyết lịch sử Tác giả đã nhận xét về lối viết, cách xây dựng nhân vật của Nguyễn Mộng Giác trong tác phẩm của mình rằng: tác giả đã thay đổi điểm nhìn, cách nhìn về nhân vật, nhân vật đã được “phóng tác trên hai bình diện tâm lý và hành động”, “nhân vật không minh hoạ cho một khái niệm có sẵn mà là một con người “đa tính cách, sống đích thực” Một Nguyễn Huệ được “thoát thai từ lịch sử” nhưng “bình dị trong đời thường”, một Nguyễn Huệ rất “anh hùng mà không khô cứng, đơn giản mà là con người có những suy tưởng, trăn trở đầy trí tuệ, vượt nên khỏi giới hạn “khởi nghĩa nông dân”

để trở thành người anh hùng dân tộc chân chính” [33]

Ngoài những thành công trong việc xây dựng nhân vật chính - Nguyễn Huệ - thì Nguyễn Mộng Giác cũng mang đến cho người đọc những nét mới

mẻ trong việc xây dựng các nhân vật khác như: Nhân vật giáo Hiến -nho sĩ trí thức thời loạn- một giáo Hiến hiểu mình, hiểu người, không rũ áo quay lưng

về với thú lâm tuyền mà sẵn sàng nhập cuộc vào bàn nhân thế sự Hay các nhân vật An, Thọ Hương, Ngọc Hân -những người phụ nữ trong xã hội phong kiến- họ trở thành những nạn nhân thương tâm nhất, bị cơn bão thời đại cuốn

đi, bị ném vào vòng lửa chính trị, vòng xoáy của uy quyền và ma lực cám dỗ của nó đã lôi kéo những người thân thiết của họ lao vào Số phận và nỗi niềm

có họ hiện lên thật ám ảnh, da diết Họ phải chứng kiến những toan tính, những thành, bại, nhục, vinh của những con người mang trong mình giấc mộng quyền lực.vv…

Mặc dù tác giả các công trình nghiên cứu, khai thác tác phẩm ở các khía cạnh khác nhau nhưng nói một cách khách quan ta cũng thấy được sức lan toả và sự tác động nhất định của tác phẩm đã ít nhiều chiếm được cảm tình và sự quan tâm của độc giả và của giới chuyên môn Sự xuất hiện của

Sông Côn mùa lũ như một ngôi sao mới lấp lánh góp phần toả ánh hào quang

Trang 13

trên bầu trời tiểu thuyết lịch sử của văn học nước nhà, sức ảnh hưởng của bộ tiểu thuyết vẫn là mảnh đất màu mỡ còn nhiều điểm cho các nhà nghiên cứu, tìm hiểu, khai thác và bình luận

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là phương cách tự sự trong bộ tiểu thuyết lịch sử

Sông Côn mùa lũ của Nguyễn Mộng Giác, tìm hiểu sự truyền tải dữ liệu lịch

sử bằng hình thức diễn ngôn tự sự của văn học thông qua thể loại tiểu thuyết

Phạm vi nghiên cứu là nghiên cứu về phương pháp, phong cách sáng tác, nghệ thuật xây dựng hình tượng nhân vật, ngôn từ tự sự, cách diễn ngôn của tác

giả trong bộ tiểu thuyết Sông Côn mùa lũ.(có sự tham chiếu với các tác phẩm

khác cùng thể loại)

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu cũng chính là tên đề tài “Tự sự lịch sử trong tiểu

thuyết Sông Côn mùa lũ của Nguyễn Mộng Giác” nên mục đích nghiên cứu

của tôi sẽ hướng vào nghiên cứu mục đích sáng tác, tư tưởng của tác giả, phương pháp sáng tác, hình thức diễn ngôn, xây dựng nhân vật, ngôn ngữ, giọng điệu của nhân vật, không gian, thời gian và tác động của tác phẩm với bạn đọc Nhiệm vụ mà tôi phải thực hiện trong luận văn là tìm ra những thủ pháp tự sự mới trong tác phẩm mà các công trình nghiên cứu trước chưa có

5 Phương pháp nghiên cứu

Là luận văn nghiên cứu một khía cạnh nhỏ trong sáng tác của thể tài tiểu thuyết lịch sử - khía cạnh tự sự lịch sử, xúc cảm sử liệu thành tác phẩm văn chương - nên tôi vận dụng một số phương pháp như: mĩ học tiếp nhận, phương pháp khảo chứng, phương pháp phân tích, so sánh …qua đó để thấy được sử sự sau khi có xúc cảm và cách diễn ngôn của nhà văn trở thành tác phẩm văn học nó được biểu hiện sinh động và gần gũi với độc giả như thế

nào

6 Đóng góp mới

Mục đích chính của luận văn này là đưa ra cách nhìn về tiểu thuyết lịch

Trang 14

sử Tiểu thuyết lịch sử là lịch sử được “viết lại”, là hình thức diễn ngôn về lịch sử Nhà văn viết tiểu thuyết lịch sử thực chất là thông qua tự sự lịch sử để đưa ra những khả năng của lịch sử Do đó tiểu thuyết lịch sử không phải là sử liệu, không nên đối sánh một cách máy móc các hình tượng văn học trong tiểu thuyết lịch sử với sử liệu

Trang 15

Chương 1 VẤN ĐỀ TỰ SỰ LỊCH SỬ VÀ TIỂU THUYẾT SÔNG CÔN MÙA LŨ

1.1 TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ VÀ TƯ DUY VỀ NHỮNG CÁI KHẢ NHIÊN CỦA LỊCH SỬ

1.1.1 Quan điểm về tiểu thuyết lịch sử

Trong học thuật nghiên cứu văn hoá nói chung và văn hoá dân gian nói riêng giai đoạn gần đây đều có sự thay đổi theo chiều hướng tiến bộ Qua hai cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc, nghiên cứu văn hoá dân tộc thể hiện ở lĩnh vực văn học các tác giả chủ yếu quan tâm các vấn đề chính trị, thế giới quan lập trường giai cấp Hiện nay, trong giai đoạn hoà bình, hội nhập quốc

tế, kinh tế thị trường, văn hoá xuống cấp, vấn đề văn hoá trở nên nổi bật, gay gắt

Trước đây ta cũng viết tiểu thuyết lịch sử nhưng đó là loại tiểu thuyết lịch sử cách mạng, lối viết phục vụ chính trị, viết về các tấm gương tranh đấu của các lãnh tụ thời trẻ, các chiến dịch, các cuộc khởi nghĩa… trong đó các sự kiện lịch sử diễn ra theo lối lập nhị nguyên, quy luật đấu tranh giai cấp, địch

ta, tiến bộ, phản động, nông dân với địa chủ, vô sản với tư sản, yêu nước và bán nước, ta thường tốt địch thường xấu, ta thắng địch thua, ta tổn thất ít, địch tổn thất nhiều, chủ yếu là ca ngợi chiến thắng, tạo thành những cuốn tiểu thuyết lịch sử phục vụ chính trị theo quan điểm chính đảng Loại tiểu thuyết này thường có tính hư cấu tô hồng, điểm nhìn ý thức hệ, diễn ngôn chính trị

và các thứ đối lập khác Tiểu thuyết lịch sử kiểu đó thường quan tâm đến hành động chiến đấu, những biểu hiện bên ngoài, ít đi sâu vào khai thác phương diện tâm lý, nhân tính, số phận con người thông qua nhân vật Quan điểm đó không tránh khỏi sự hẹp hòi về phương diện ý thức hệ chính trị, các vấn đề phong phú của văn hoá dân tộc hầu như bị bỏ qua Điều đó khiến cho người đọc khó bắt gặp được những sáng tác như của Nguyễn Xuân Khánh,

Trang 16

Nguyễn Mộng Giác, Nguyễn Huy Thiệp, Võ Thị Hảo v.v…

Gần đây quan điểm sáng tác cũng như lối nghĩ, cách viết của các tiểu thuyết gia đã có những thay đổi Sự chuyển hướng văn hoá của các nhà tiểu thuyết được coi là bước đột phá, một bước tiến, một hướng đi có tính phổ biến trên thế giới Trên thế giới xu hướng thay đổi trong sáng tác tiểu thuyết lịch sử là tiểu thuyết lịch sử phải gắn với sự thay đổi về quan niệm lịch sử Từ chủ nghĩa cấu trúc đến hậu cấu trúc, từ hậu cấu trúc đến tân lịch sử người ta

Chúng ta đều biết mối quan tâm hàng đầu của các cây bút viết về tiểu thuyết lịch sử là vấn đề quan hệ giữa sự thật và hư cấu Viết sự thật theo kiểu

sử liệu thì người đọc mất hứng thú vì nếu như thế thì đọc lịch sử còn hơn Nhưng nếu hư cấu mà bỏ qua, xem nhẹ sử liệu thì liệu có thu phục, cuốn hút được người đọc? sự thật và hư cấu đúng là hai vấn đề then chốt của tiểu thuyết lịch sử nhưng chúng không đối lập Lịch sử xét theo nghĩa gốc bao gồm sáu nghĩa: một là chuyện kể, hai là chuyện đã qua, ba là quá trình phát triển, bốn là đời sống con người trong xã hội, năm là quá khứ của hiện tại đã lùi xa, sáu là khoa học lịch sử và sử học Qua sáu nghĩa đó thì vấn đề đặt ra là quan hệ giữa tiểu thuyết và lịch sử hay nói cách khác là văn học và sử học Cũng qua mối quan hệ đó ta thấy tiểu thuyết và lịch sử có điểm chung giống nhau đó là cả hai đều là chuyện kể Đối tượng chung của cả hai đều là cuộc sống con người đã lùi xa về quá khứ trong đó có sự thật lịch sử Lukacs -nhà

Trang 17

Mac xit học Hunggari- từng nói: “tiểu thuyết lịch sử không chỉ phải đảm bảo được “không khí lịch sử trong việc miêu tả hoàn cảnh”, mà quan trọng hơn là

“miêu tả trung thực bằng nghệ thuật một thời kỳ lịch sử cụ thể” [9] Điều quan trọng ở đây là không khí lịch sử của hoàn cảnh và trung thực với một thời kỳ lịch sử cụ thể Không thể làm thay đổi những thứ đó Mỗi thời kỳ có một không gian, thời gian xác định, sự kiện, tin đồn, huyền thoại, mối lo, niềm vui, cung cách, tập quán, trang phục, lối nói không lẫn với các thời kỳ khác Cái chính của tiểu thuyết lịch sử là sáng tạo nhân vật và đời sống của một thời kỳ lịch sử cụ thể không lặp lại đó Người đọc, hậu thế tin vào lịch sử thực chất là tin vào sự ghi chép của văn bản, tin vào một kiểu diễn ngôn, lịch

sử khách quan vẫn có nhưng trước mắt ta chỉ có văn bản mà thôi Sách sử chỉ

là một cách ghi, một điểm nhìn , một lối tu từ, chỉ nhìn một phía, không phải

là bản thân lịch sử hoàn chỉnh với toàn bộ giá trị của nó, do đó việc đi tìm sự thật lịch sử là công việc của nhiều người trong đó có nhà văn Các hình thức, phương thức diễn đạt và sự thật lịch sử suy cho cùng cũng chỉ là thể hiện xử

sự bằng hình thức “diễn ngôn tự sự” Với tiểu thuyết lịch sử sự thật trong đó vẫn không phải là “sự thật” lịch sử Vì thế mà tiểu thuyết lịch sử (kể cả kịch lịch sử) trở thành nhu cầu của mọi xã hội để làm sống lại quá khứ

Nhu cầu tiểu thuyết lịch sử trước hết là nhu cầu diễn ngôn, nhu cầu đối thoại, phản biện lại với lịch sử, nhu cầu đi tìm lại những khả năng đã mất bằng những góc nhìn mới Tiểu thuyết lịch sử suy cho cùng là một hình thức diễn ngôn đặc thù về sự thật lịch sử chứ không phải là bản thân sự thật lịch sử Nhiệm vụ của tiểu thuyết lịch sử là sáng tạo ra diễn ngôn mới về lịch sử, nêu

ra cách nói mới, góc nhìn mới, phán xét mới, gợi mở khả năng mới, do đó người viết tiểu thuyết lịch sử cần có yếu tố hư cấu trong sáng tác của mình

Hư cấu trong tiểu thuyết lịch sử không phải là bỏ qua sự thật lịch sử mà là tưởng tượng lại sự kiện lịch sử theo những khả năng tài liệu mách bảo, hoặc

là đặt một nhân vật hư cấu vào trong một bối cảnh lịch sử để khám phá tư

Trang 18

tưởng, tình cảm hành động Tiểu thuyết lịch sử mang trong mình hai lần lịch sử: lịch sử của thời đã qua và lịch sử thời người viết đang sống Sức hấp dẫn của tiểu thuyết lịch sử là cách diễn giải mới đối với lịch sử bằng những khả năng diễn ngôn của nhà văn [41]

Như vậy ta có thể khẳng định tiểu thuyết lịch sử là một thể tài mang trong mình hai dòng chảy: dòng chảy của lịch sử trong quá khứ với những điều đã xảy ra và dòng chảy của xu hướng đổi mới trong sáng tác văn học bằng những cách diễn ngôn, tự sự của nhà tiểu thuyết Để tác phẩm của mình thuyết phục được người đọc chắc chắn các nhà tiểu thuyết phải thể hiện khả năng diễn ngôn của mình một cách tối đa, tối ưu nhất

1.1.2 Tiểu thuyết lịch sử nhƣ là tƣ duy về những cái khả nhiên của lịch sử

Nhà triết học Bertrand Russell trong cuốn Những vấn đề triết học

(1912) đã viết: “Mặc dù triết học không thể nói với ta một cách chắc chắn câu trả lời chân lý đối với mối nghi ngờ do triết học gợi lên thì nó cũng có thể đề xuất với ta nhiều khả năng, những khả năng ấy mở rộng tư tưởng của ta và giải phóng ta khỏi sự chuyên chế của thói quen Bằng cách đó, trong khi giảm bớt tình cảm tin cậy của ta đối với trạng thái sự vật như chúng ta đang có, triết học tăng cường mạnh mẽ tri thức của ta về những trạng thái mà chúng có thể xuất hiện…nó đánh thức sự kinh ngạc của ta bằng cách cho ta thấy những vật quen thuộc qua những bình diện khác lạ Cần nghiên cứu triết học nhưng không phải đưa ra những câu trả lời xác định đối với câu hỏi vì thông thường không có câu trả lời xác định nào có thể được coi là chân lý mà là vì bản thân các câu hỏi, bởi các câu hỏi đó mở rộng các quan niệm của ta về những gì có thể có, chúng làm phong phú sức tưởng tượng trí tuệ của ta” Qua đó ta thấy lí giải của triết học cũng hoàn toàn tương đồng phù hợp với bản chất của văn học Ta có thể nói những cái khả nhiên do tác giả sáng tạo nhằm mở rộng hiểu biết về cuộc sống, giải thoát con người khỏi mọi thói quen trì trệ, mọi cái nhìn

Trang 19

bề ngoài, kích thích mọi biến dị và đa dạng của cuộc đời

Nhìn nhận văn học từ phạm trù khả nhiên giúp chúng ta có cơ sở để nhận hiểu chức năng nhận thức đặc thù của nó, nhìn thấy cơ chế bên trong của

sự phản ánh thẩm mỹ và do đó có cơ sở đánh giá đúng đắn đối với văn học Tất nhiên văn học không chỉ là phản ánh các khả năng của hiện thực, làm như thế văn học sẽ chẳng khác gì tương lai học, xã hội học, chính trị học…Ta đều biết tư duy chẳng phải là cái gì khác mà là hành động xuyên qua hiện thực để tiến đến các khả năng bị che giấu trong đó Đặc điểm của văn học còn là sáng tạo những cái khả nhiên của đời sống Trong văn học cái khả năng đã trở thành cái khả nhiên do nhà văn sáng tạo dưới dạng hình tượng nghệ thuật, mọi hình tượng nghệ thuật trong tác phẩm văn học nói chung trong đó bao hợp cả tiểu thuyết lịch sử đều có chứa khả năng này mà ta gọi đó là hư cấu [42] Với vai trò vừa là nhà văn vừa là nhà nghiên cứu, nhà luân chuyển tri thức sử học các tác giả của tiểu thuyết lịch sử vừa tôn trọng, trung thành sử liệu vừa thực hiện nhiệm vụ cao cả của mình đó là đưa sử liệu đến với công chúng bằng hình thức văn học Bằng cách này hay cách khác hầu hết các tác giả đều có có trong mình những tư duy nghệ thuật đáp ứng những yêu cầu nghiêm ngặt của thể loại, họ đã vận dụng sử liệu một cách chủ động, kết hợp với hư cấu trong một chừng mực nhất định để tạo nên hình tượng lịch sử sinh động Do tiếp nhận được những âm hưởng sử thi của thời đại nên nhiều tác phẩm đã tạo dựng được bức tranh hoành tráng về lịch sử Có thể kể ra đây

một số thành công của một số nhà văn như Hà Ân với Tổ quốc kêu gọi và

Quận He khởi nghĩa, hay Thái Vũ với Cờ nghĩa Ba Đình và cụ thể là chính

với Nguyễn Mộng Giác qua Sông Côn mùa lũ

1.2 TỰ SỰ LỊCH SỬ NHƢ LÀ DIỄN NGÔN VỀ LỊCH SỬ

1.2.1 Quan niệm về diễn ngôn

Trong giới lý luận văn học Việt Nam hiện nay có tới ít nhất năm nhóm

quan niệm về diễn ngôn: Nhóm thứ nhất sử dụng quan niệm về diễn ngôn

Trang 20

(discourse) và văn bản (text) đồng nghĩa với nhau, hoặc phân biệt hai khái niệm này bằng cách đính kèm chúng vào một trong hai dạng tồn tại của ngôn

ngữ Nhóm thứ hai cho rằng diễn ngôn thuộc đơn vị của ngữ nghĩa, còn văn bản thuộc đơn vị của ngữ pháp Nhóm thứ ba quan niệm diễn ngôn chịu sự

phán xét của dụng học, còn văn bản trở thành đối tượng của ngôn ngữ học văn

bản Nhóm thứ tư đề nghị sử dụng tên gọi diễn ngôn để chỉ quá trình giao tiếp,

sự kiện giao tiếp có tính chỉnh thể và có mục đích, còn thuật ngữ văn bản

dùng để chỉ sản phẩm của quá trình giao tiếp sự kiện giao tiếp ấy Nhóm thứ

năm gồm chức năng luận chủ trương đặt diễn ngôn vào ngữ cảnh văn hoá xã hội, và cấu trúc luận thiên về mô tả cấu trúc độc lập của diễn ngôn

Theo giáo sư Trần Đình Sử: “Diễn ngôn là cách nói năng, phương thức biểu, đạt về con người, thế giới về các sự việc trong đời sống Diễn ngôn biểu hiện hình thức diễn ngôn, như các cuộc thảo luận, tranh tụng, phát biểu, diễn thuyết, diễn đạt thành khái niệm, cụm từ, hệ thống các từ ngữ, thuật ngữ, phạm trù từ then chốt, thể hiện hệ thống tri thức thịnh hành, chân lý phổ biến trong xã hội” [47] Diễn ngôn là hiện tượng tư tưởng, không phải là công cụ diễn đạt mà là bản thể tư tưởng, bản thân tư tưởng, mọi tư tưởng đều biểu hiện thành diễn ngôn…vv

Chức năng của diễn ngôn là kiến tạo bức tranh thế giới bằng ngôn ngữ,

là gọi tên các sự vật hiện tượng, là thực tiễn giao tiếp, diễn ngôn không phải

đi tìm bản thế thế giới, là vật chất hay tinh thần, là cấu tạo ngũ hành hay nguyên tử Diễn ngôn cũng không phải tiếp cận thế giới theo lối nhận thức luận, xem con người có khả năng nhận thức chân lý như thế nào Chức năng của nó là kiến tạo sự thật, chân lý theo các quy tắc, cơ chế của nó ví như thẩm quyền của chủ thể, của ngữ cảnh, của quan hệ giao tiếp của chiến lược, của trật tự nhất định Dựa vào quyền lực đó diễn ngôn có thể vẽ ra một bức tranh rất xấu, rất đen tối về một đối tượng Đồng thời nó cũng có thể vẽ ra một bức

Trang 21

tranh tươi sáng về đối tượng khác

Diễn ngôn còn là hiện tượng siêu văn bản, liên văn bản, nó thể hiện trong văn bản nhưng không đồng nhất với văn bản, không giới hạn trong các văn bản Là hiện tượng trong xã hội, có tính chỉnh thể, tính liên tục, tính thống nhất, tính hệ thống Nó gắn liền với ý thức hệ xã hội người ta có thể dùng ý thức hệ để gọi tên diễn ngôn như diễn ngôn vô sản, tư sản, diễn ngôn Macxit, diễn ngôn hiện đại, hậu hiện đại…vv [47]

Chúng ta đã biết lịch sử là những gì đã qua, đã diễn ra trong quá và nó

là bài học cho thế hệ đi sau học tập Tiếp xúc với lịch sử không chỉ là sự chiêm bái, ngưỡng vọng một cách đơn thuần mà phải xem lịch sử như là một phương tiện tuyên truyền giáo dục lòng yêu nước và tinh thần tự tôn dân tộc Tiểu thuyết lịch sử không chỉ đem đến cho độc giả những tri thức lịch sử bằng những số liệu khô cứng, những thắng lợi vinh quang hay thất bại đơn thuần Tiểu thuyết lịch sử mang đến cho độc giả những tri thức sử học bằng con đường tình cảm, độc giả tiếp nhận lịch sử như tiếp xúc với một con người hiện hữu, gần gũi, tiếp nhận bằng nhiều cung bậc cảm xúc: hỉ, nộ, ái, ố, bi, ai, lạc Hoàng Quốc Hải đã đưa ra quan điểm của mình về tiểu thuyết lịch sử:

“Tiểu thuyết lịch sử trước hết phải giúp người đọc nhận biết được gương mặt lịch sử của thời đại mà tác giả phản ảnh, nhưng những gì mà tác phẩm đó tái tạo đều không được trái với lịch sử Có thể có những quan điểm của các tác giả văn học độc lập, thậm chí trái ngược với quan điểm của các sử gia, song

nó phải đạt tới tính chân thực lịch sử mà người đọc đương đại chấp nhận” Có thể hiểu tiểu thuyết lịch sử là lấy việc tái hiện sự kiện lịch sử, không khí lịch

sử làm mục đích sáng tác, tất nhiên có hư cấu và vẫn chịu sự chi phối bởi cái nhìn chủ quan của nhà văn Cũng có khi nhà văn xem sự kiện lịch sử chỉ là phương tiện, thậm chí là chất liệu để họ viết tiểu thuyết và chất hư cấu đậm đặc hơn

Như vậy ta có thể thấy trong sáng tác của mình nhà văn, nhà tiểu thuyết chỉ “mượn” lịch sử để thể hiện quan điểm nào đó của mình hoặc để cắt nghĩa

Trang 22

vấn đề hiện thực hôm nay thông qua các hình thức diễn ngôn

1.2.2 Các diễn ngôn về lịch sử trong tiểu thuyết lịch sử

Trong cuốn Bước đầu nhận diện diễn ngôn, diễn ngôn văn học, diễn

ngôn thơ của Trần Thiện Khanh (03-2010) tác giả đã dựa trên những đặc thù

chức năng của ngôn ngữ và từ đó tác giả phân loại ra một số hình thức diễn ngôn cụ thể Chẳng hạn như: Diễn ngôn hành chức trong một ngữ cảnh văn hoá xã hội cụ thể; Diễn ngôn khảo sát mối quan hệ liên nhân và các định chế, quy ước phát ngôn; Diễn ngôn tạo lập tri thức nhất định về một thời đại, một con người, sự kiện nào đó; Diễn ngôn có tính chỉnh thể, nó được tổ chức, được thống nhất theo những quy tắc, trật tự nhất định; Diễn ngôn có tính quy chiếu…vv Tác giả đã dựa vào những đặc tính tri thức mà phân ra loại diễn ngôn, diễn ngôn viết, diễn ngôn văn học, diễn ngôn khoa học, kinh tế, chính trị, báo chí hành chính, đời thường, nghệ thuật, phi nghệ thuật, diễn ngôn pháp lý, diễn ngôn quân sự vv Hoặc dựa vào nội dung phát ngôn để có thể chia diễn ngôn thành các loại diễn ngôn kỳ ảo, diễn ngôn tính dục, diễn ngôn con người, diễn ngôn phủ thuật, diễn ngôn hiện thực, hậu hiện thực Dựa vào thể loại mà tác giả có thể chia ra thành diễn ngôn báo chí, diễn ngôn tin tức, diễn ngôn quảng cáo, diễn ngôn phóng sự điều tra, tường thuật Dựa vào cấp

độ mà có thể chia ra diễn ngôn và siêu diễn ngôn Dựa vào cấu trúc mà tác giả xác định đó là diễn độc lập thể hay diễn ngôn phụ thuộc, diễn ngôn nguồn, diễn ngôn phụ trợ, diễn ngôn bao chứa, diễn ngôn người kể chuyện hay diễn ngôn của nhân vật, diễn ngôn liên tục và diễn ngôn gián đoạn…vv

Đối với diễn ngôn trong văn học đặc biệt là diễn ngôn tiểu thuyết tác giả chỉ ra những đặc tính đặc thù của nó Theo tác giả diễn ngôn trong văn học tạo ra tri thức và quyền lực Diễn ngôn văn học có tính lịch sử, cách nhìn

về thế giới của nó do nó tạo ra sự biến đổi theo thời gian, nó mang trong mình tính quy chiếu, mô phỏng hành vi ngôn ngữ có thực, có tính hư cấu nhưng vẫn cung cấp cho chúng ta một tri thức về hiện thực con người, môi trường trong

Trang 23

đó có con người tồn tại [20]

Qua đó khi tiếp nhận tiểu thuyết lịch sử độc giả không chỉ biết kết quả của mỗi sự kiện lịch sử, mỗi trận đánh, mỗi chiến dịch, thành tích, công lao, tài năng của mỗi nhân vật lịch sử Đọc, nghe tiểu thuyết lịch sử độc giả còn thấy cả bối cảnh xã hội, xu hướng của xã hội trong lịch sử, phong tục, tập quán của nhân dân trong giai đoạn lịch sử đó Chẳng hạn khi ta đọc các tác

phẩm văn học:Hoàng Lê Nhất Thống Chí (Ngô Gia Văn Phái), Hội Thề (Nguyễn Quang Thân), Hồ Quý Ly (Nguyễn Xuân Khánh), ta sẽ dễ dàng hình

dung các sự kiện lịch sử ấy như đang xem một cuốn phim, thấy các nhân vật lịch sử đó hiện ra như một con người bằng xương bằng thịt gần gũi hiện hữu chứ không hề xa vời, lạ lẫm như ta đã nghe, đã gặp họ trong khoa học Lịch sử

Như vậy tiểu thuyết lịch sử đã bằng tình cảm của người sáng tác đã xúc cảm hoá những dữ liệu lịch sử để truyền lịch sử đến bạn đọc một cách hiệu quả và để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng độc giả với nhiều cung bậc cảm xúc khác nhau Chính từ sự chuyển hóa dữ liệu, sử sự bằng cảm xúc của mình, khác các hình thức diễn ngôn khác nhau mà hàng loạt các văn gia như:

Nguyễn Huy Thiệp với Kiếm sắc, Nam Dao với Gió lửa, Siêu Hải với Mảnh

trăng Tô Lịch, Võ Thị Hảo với Giàn thiêu, Nguyễn Xuân Khánh với Mẫu thượng ngàn, Trần Vũ với Mùa mưa gai sắc, Hoàng Quốc Hải với Thăng Long nổi giận đã đem đến cho độc giả không chỉ là những hiểu biết về lịch

sử, mà qua tác phẩm của mình các tác giả như mang đến cho độc giả những khoảnh khắc phục hiện về xử sự Họ như đã làm sống lại sự kiện lịch sử, xây dựng lại nhân vật lịch sử một cách hiện hữu, gần gũi đời thường, làm cho những nhân vật lịch sử ấy như xuất hiện bằng xương bằng thịt trước mắt độc giả, làm cho độc giả như nghe được tiếng nói, hơi thở, nhịp đập của trái tim, nhìn thấy diện mạo hành động, những nét sinh hoạt đời thường của nhân vật Cũng giống như Nguyễn Huy Thiệp, Nam Dao, Siêu Hải, Võ Thị Hảo… vv,

Nguyễn Mộng Giác với bộ trường thiên tiểu thuyết mang tên Sông Côn mùa

Trang 24

lũ cũng là một ấn phẩm đã mang lại cho bạn đọc những cảm nhận, những điều

như đã nói Trong Sông Côn mùa lũ, Nguyễn Mộng Giác đã “làm mới mình”

để thuyết phục bạn đọc và cũng là để chính ông theo kịp thời đại Bởi trong giai đoạn xã hội mới hiện nay việc tiếp cận mở rộng giao lưu nhiều nền, nhiều kênh văn hoá, kênh thẩm mỹ, sự tác động và ảnh hưởng của chủ nghĩa hậu hiện đại với những phương thức tự sự đa dạng, mới mẻ đã làm cho độc giả khi tiếp cận tác phẩm văn học không bị cảm giác “giáo huấn” hay lối viết

“phục vụ chính trị” đè nặng, ám ảnh Nguyễn Mộng Giác cũng giống như các nhà văn khác, với kỹ thuật tự sự mới mẻ thoát ly lối viết “thượng tôn phiến diện nhân vật lịch sử” trong tác phẩm của mình Nguyễn Mộng Giác đã làm cho tác phẩm của mình luôn vận động, không khép kín, ông nhìn nhân vật, sự kiện lịch sử ở nhiều toạ độ, nhìn một cách đa chiều và nhìn bằng nhiều cung bậc tình cảm khác nhau Hơn nữa trong lịch sử Việt Nam, triều đại Tây Sơn là một giai đoạn lịch sử hào hùng, một mốc son chói lọi trong sử sách với ánh hào quang là người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ, sau là hoàng đế Quang Trung cùng với các sự kiện trọng đại bốn lần vào Nam truy chúa Nguyễn, ba lần ra Bắc diệt vương tôn, đánh tan kẻ thù xâm lược Xiêm và kì diệu nhất là trận đại phá quân Thanh… những chiến thắng đó không thể không nhắc đến các danh tướng kiên trung, hào kiệt dưới trướng vị lãnh tụ tài ba

Như vậy bằng khả năng diễn ngôn theo lối nhận thức xã hội, với tư duy đổi mới về diễn ngôn lịch sử và bằng khả năng sáng tạo của mình Nguyễn Mộng Giác đã làm cho câu chuyện triều đại Tây Sơn đã trở thành đề tài hấp dẫn cho các nhà nghiên cứu, lý luận phê bình và lớp thế hệ đi sau tiếp nhận, khai thác

1.3 SÔNG CÔN MÙA LŨ VÀ DÒNG CHẢY TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI

1.3.1 Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đương đại

Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam từ khi xuất hiện cho đến nay có thể chia

Trang 25

ra làm hai giai đoạn chính là trước và sau 1945 Ở giai đoạn trước 1945 các nhà tiểu thuyết lịch sử thường có xu hướng dùng lịch sử để khơi gợi, liên hệ với những vấn đề hiện tại thông qua việc ca ngợi những cuộc kháng chiến chống xâm lược, tôn vinh những vị anh hùng cứu quốc mà đánh thức tinh thần dân tộc của thanh niên hoặc cảnh cáo bè lũ bán nước và cướp nước Ở giai đoạn này các tác giả tiểu thuyết lịch sử có khuynh hướng muốn dùng vinh quang lịch sử của dân tộc để thức tỉnh con người trong đó có một bộ phận sống cầu an hoặc bị thực dân mua chuộc, đánh lạc hướng Điển hình như cuốn

Trùng Quang tâm sử (Phan Bội Châu) Mặc dù mới chỉ được xem như là một

cuốn tiểu thuyết luận đề hơn là cuốn tiểu thuyết lịch sử nhưng ở hoàn cảnh đó tác giả cũng đã mang lại hiệu quả đáng ghi nhận cho dù đó không phải là thành công của một nhà tiểu thuyết đích thực

Ở giai đoạn sau 1945 cụ thể là từ 1945 đến 1985, đây là giai đoạn đất nước có nhiều biến cố lớn về cả về chính trị và lịch sử, điều đó tác động không nhỏ đến nhận thức luận, nhận thức xã hội của đội ngũ sáng tác Trong

đó một số không ít các tác giả vẫn đi theo lối mòn xưa cũ (trước 1945) các tác phẩm văn chương vẫn tập trung chủ yếu thể hiện nhãn quan giá trị và tư duy nghệ thuật của nền văn học sử thi Một số khác đã mạnh dạn cách tân lối nghĩ, lối viết Họ không đặt mục tiêu phục vụ chính trị lên hàng đầu như trước đặc biệt là các sáng tác sau 1975

Là một quốc gia có vị trí đặc biệt trong khu vực Đông Nam Á nên từ khi lập quốc đến nay, Việt Nam luôn phải đối đầu với những kẻ thù xâm lược hùng hậu, hung hãn Mật độ các cuộc chiến tranh tương đối dày, 2/3 thời gian lịch sử từ khi dựng nước tới nay là thời gian chông ngoại xâm Có thể nói lịch

sử dân tộc Việt Nam là lịch sử chống giặc ngoại xâm một cách hào hùng, oanh liệt Nhưng trong suốt mười thế kỉ văn học viết (từ thế kỷ X đến thể kỉ XIX) chúng ta chưa có một tác phẩm văn học nào tương xứng với truyền thống lịch sử hào hùng ấy, trừ một vài cuốn sử ký là những ghi chép lịch sử

Trang 26

của các sử quan thời phong kiến Đến thế kỷ XVIII mới xuất hiện những

truyện ký lịch sử theo lối truyện chương hồi như Hoàng Lê nhất thống chí,

Nam triều công nghiệp diễn chí, Việt Nam xuân thu, Hoàng Việt hưng long chí Chúng ta không có những cuốn tiểu thuyết chương hồi đồ sộ như của

Trung Quốc, càng chưa có những tiểu thuyết lịch sử tầm vóc kiệt tác như ở văn học Nga, văn học Anh hay văn học Pháp Điều này có nhiều nguyên nhân nhưng nguyên nhân cơ bản là văn xuôi tự sự của chúng ta chưa có bề dày thành tựu Do vậy, những tác phẩm viết về đề tài lịch sử cũng chưa có những tác phẩm xứng tầm với lịch sử dân tộc

Như vậy, tiểu thuyết lịch sử còn là “mảnh đất màu mỡ”, nhiều tiềm năng hứa hẹn cho những “mùa gặt bội thu” Bước sang thế kỉ XX, nền văn học Việt Nam được hiện đại hoá, tiểu thuyết hiện đại thu được nhiều thành tựu Dĩ nhiên trong những thành tựu ấy có thành tựu viết về đề tài lịch sử Nói cách khác, tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đến lúc này bắt đầu khởi sắc, các nhà văn viết về đề tài này đã gặt hái được những thành tựu đáng kể Tiêu biểu phải kể đến Nguyễn Tử Siêu, Ngô Tất Tố, Chu Thiên, Nguyễn Huy Tưởng, Thái Vũ, Hà Ân, Nguyễn Xuân Khánh, Hoàng Quốc Hải, Nam Dao, Nguyễn Mông Giác

Những năm gần đây, trong xu hướng đổi mới thi pháp tiểu thuyết, một

số nhà văn chú ý đến sử dụng các thủ pháp của tiểu thuyết hiện đại như yếu tố huyền ảo, dòng ý thức, lắp ghép các phiến đoạn tâm lý Khi viết tiểu thuyết

về đề tài lịch sử, các nhà văn như Võ Thị Hảo trong Giàn thiêu, Nam Dao trong Gió lửa, Đất trời đã dùng những thủ pháp của tiểu thuyết hiện đại

mang lại bộ mặt khác cho tiểu thuyết lịch sử Những nhà văn viết theo xu hướng này chỉ xem lịch sử như một cái khung, một phương tiện, thậm chí chỉ

là cái đinh để nhà văn “treo chiếc áo hiện thực” của mình Vì vậy, mức độ hư cấu ở loại tiểu thuyết này rất cao Bên cạnh những nhân vật hư cấu hoàn toàn, thì nhân vật lịch sử cũng được họ “nhào nặn” lại theo mục đích của nhà văn

Trang 27

Võ Thị Hảo viết Giàn thiêu có dựa vào tư liệu lịch sử của Đại Việt sử ký toàn

thư và Thiên tuyển tập anh Tác giả đã tiếp nhận những truyền thuyết về xuất

thân, quá trình tụ tập và hành đạo của Từ Đạo Hạnh Nguồn sử liệu này đã bị huyền thoại hoá thành gốc tích vua Lý Thần Tông (do Từ Đạo Hạnh đầu thai làm con của Sùng Hiền hậu) và chuyện vua bị hoá hổ, sau được sư Minh

Không chữa khỏi, ghi trong Đại Việt sử ký toàn thư Xem hai tiểu truyện ấy

như những kiếp sống của cùng một con người, “tuy nhiên, điều quan trọng nhất lại là đọc ra từ hai thiên tiểu sử vô tình buộc vào nhau này một vài nét nghĩa nhân sinh phổ biển” Yếu tố huyền thoại trong tiểu thuyết lịch sử này đã được Võ Thị Hảo thực hiện bằng “phá vỡ cốt truyện bằng kỹ thuật xáo trộn

thời gia tự sự” [1] Nam Dao trong tác phẩm Gió lửa cũng tiếp cận tư liệu lịch

sử và xây dựng tiểu thuyết bằng thù pháp của hiện thực huyền ảo Rất nhiều yếu tố huyền thoại được nhà văn đưa vào tác phẩm của mình Nhân vật lịch

sử đã được khoác lên một màu sương huyền bí về nguồn gốc (họ Hà là hậu thân của họ Hồ, là tiền thân họ Nguyễn nhà Tây Sơn), câu chuyện về cuốn Mật kíp phá đập nước, về nàng Mây, về Nguyễn Nhạc tìm nơi chôn hài cốt tổ tông để được phát đế, vương ở đây yếu tố huyền thoại đã làm cho hư cấu trở nên đậm đặc hơn Nhân vật lịch sử gần như chỉ còn lại cái tên, còn sự kiện lịch sử gần như bị “thiết kế” lại hoàn toàn để phục vụ cho tư tưởng luận đề của nhà văn Đó chính là những bước đi mới, hơi thờ mới của tiểu thuyết Việt Nam đương đại

1.3.2 Sông Côn mùa lũ một hướng tiếp cận lịch sử từ bi kịch đời tư

Cùng với dòng chảy của nền văn học nước nhà thời kỳ đổi mới tiểu thuyết lịch sử Việt Nam cũng có những chuyển biến đáng ghi nhận nhằm đáp ứng yêu cầu của thời đại, của đời sống văn học và của đông đảo độc giả đương đại Một cái nhìn khái quát về đội ngũ các tiểu thuyết gia và tác phẩm của họ trong không khí phóng khoáng, cởi mở của đời sống văn học cho thấy tiểu thuyết đã vận hành trong cơ chế vận động và đổi mới của văn xuôi đương

Trang 28

đại Người cầm bút cũng như đang sống ở bên ngoài bằng các tác phẩm của mình đã ít nhiều chứng minh được tiềm năng sáng tạo cùng với những nỗ lực đổi mới và hiện đại hoá ngòi bút của chính họ Các đề tài truyền thống hay hiện tại đều được đưa vào trường nhìn mới, hướng tới những gấp khúc trong đường đời và thân phận con người, thấm đẫm cảm hứng nhân văn Nhìn từ góc độ thể loại trong những năm đổi mới, tiểu thuyết nói chung và tiểu thuyết lịch sử nói riêng đã có những tìm tòi, cách tân thể hiện ở một số phương diện cốt truyện, nhân vật, ngôn ngữ Từ sau khi đất nước giải phóng (1975) thực tế văn học đã theo sự chi phối chung của thời bình, nghiêng về thể tài thế sự, đời

tư Không phải cốt truyện nào cũng chứa đựng những tình huống gay cấn với những xung đột gay gắt mà có cả những chuyện đời thường nhỏ nhặt Những bước ngoặt của trạng thái tâm linh, những xung đột cá nhân đã trở thành yếu

tố thúc đẩy việc hình thành cốt truyện Cốt truyện của tiểu thuyết nói chung

và tiểu thuyết lịch sử nói riêng từ sau 1975 một mặt vẫn kế thừa và phát triển những đặc trưng truyền thống, mặt khác đã phát triển theo hướng tiếp cận với những tiểu thuyết hiện đại thế giới ở những nét tinh tuý Không ít các tác giả

đã cố gắng đổi mới tư duy tiểu thuyết tìm một hướng đi mới trong sáng tạo như Phạm Thị Hoài, Ma Văn Kháng, Nguyễn Xuân Khánh, Võ Thị Hảo, Nguyễn Bình Phương, Tạ Duy Anh, Hồ Anh Thái, và đương nhiên có cả Nguyễn Mộng Giác Ý thức cách tân nghệ thuật, đổi mới tư duy tiểu thuyết là một nỗ lực sáng tạo đáng kể của các cây bút văn xuôi, nhằm biểu đạt con người thời đại Từ việc đổi mới trong kết cấu tác phẩm, việc áp dụng vận dụng thi pháp học xây dựng mô tuý nhân vật đến việc xây dựng thời gian, không gian, không khí thời đại, ngôn ngữ của nhân vật Đặc biệt yếu tố hình tượng nhân vật được các nhà tiểu thuyết chú ý thể hiện rất sâu sắc, từ việc miêu tả tiểu sử, ngoại hình, phong cách bên ngoài cho đến khắc hoạ tâm lý và đời sống nội tâm của nhân vật Như ta đã biết “ngay từ khi phôi thai ý định cho ra đời bộ tiểu thuyết Nguyễn Mộng Giác vừa chú ý đến tái hiện chân thực

Trang 29

lịch sử, không khí lịch sử lại vừa dày công xây dựng những nhân vật tiểu thuyết đích thực, tức là hoàn thành nhiệm vụ thực sự của tiểu thuyết là trình bày đời sống cá nhân con người, số phận của nó, tính cách của nó” Để làm được điều này, Nguyễn Mộng Giác đã chọn cho mình một lối viết riêng bằng cách xây dựng “những số phận đời thường và số phận lịch sử” (chữ dùng của Mai Quốc Liên).Trong tác phẩm của mình nhà văn đã chia thế giới nhân vật trong tiểu thuyết của mình thành hai tuyến: tuyến nhân vật lịch sử và tuyến nhân vật hư cấu

Ở tuyến nhân vật lịch sử, nhà văn tái hiện những sự kiện lịch sử, không khí lịch sử chỉ “thêm da thêm thịt” cho nhân vật bằng những hư cấu về quan

hệ đời thường Chủ trương viết tiểu thuyết của Nguyễn Mộng Giác là tìm được cùng kênh với bạn đọc, cốt sao cho bạn đọc thoả mãn nhu cầu “muốn biết chuyện” của mình mà hiểu được điều nhà văn “kể” trong tác phẩm Thảo luận với nhà văn Nam Dao (một tác giả hải ngoại định cư tại Canada) về tiểu thuyết lịch sử, Nguyễn Mộng Giác viết: “Trở lại thể loại tiểu thuyết lịch sử,

đề tài chúng ta thảo luận hôm nay Khi viết Sông Côn mùa lũ, tôi vẫn nghĩ

mình đang viết một cuốn tiểu thuyết - lịch sử, nghĩa là đang chịu những quy luật thành văn hay bất thành văn của hai thể loại “tiểu thuyết” và “lịch sử”[8] Tiểu thuyết nói cho cùng là một thể loại văn chương nhằm thoả mãn nhu cầu muốn nắm bắt chuyện thiên hạ của người đời Người viết tiểu thuyết là người

kể Người đọc tiểu thuyết là người muốn nghe kể Người kể chuyện, giống như ông thầy đứng trên bục giảng, giảng bài cho học sinh, sinh viên ngồi phía dưới Phải giảng thế nào, kể thế nào để cho người nghe hiểu được câu chuyện của mình, nghĩa là cả hai bên phải nói cùng một ngôn ngữ, dùng cùng một tần

số cho tín hiệu phát và thu, có chung một trục quy chiếu của lí luận và phương cách diễn đạt Mà theo tôi, căn bản của tiểu thuyết là chuyện thế sự,

là chuyện con người và cuộc đời” [8] Với quan điểm ấy, Nguyễn Mộng Giác

đã đưa vào Sông Côn mùa lũ không chỉ là lịch sử về câu chuyện của những

Trang 30

ông hoàng bà chúa và biên niên các trận đánh mà còn là cuộc sống muôn màu muôn vẻ của con người và thiên nhiên Vì vậy, bên cạnh dòng chính sử là tất

cả những gì của cuộc sống đời thường diễn ra trong bối cảnh lịch sử ấy

Tuyến nhân vật lịch sử, với ba anh em nhà Tây Sơn và các nhân vật

lịch sử khác Sông Côn mùa lũ đề cao vai trò của Nguyễn Nhạc, nhất là vào

những ngày đầu khởi dấy, ca ngợi Nguyễn Huệ với tài thao lược hơn người, nghĩa tình trong các mối quan hệ thầy trò, huynh đệ, tình yêu và sự thông minh quyết đoán trong mọi bước ngoặt lớn lao của lịch sử Các nhân vật lịch

sử khác như các võ tướng phò tá nhà Tây Sơn, các văn quan từ Bắc Hà cho đến Đàng Trong đều được tái hiện gia công xây dựng có cá tính riêng, sinh động và ấn tượng

Tuyến nhân vật hư cấu, từ thầy đạo như (Từ Huệ) ban phát niềm tin cho tín đồ đến thầy tu với thú chơi phong lan dày công tìm hiểu và phân loại các loại lan nào là hiển lan, u lan, mặc lan, từ những kẻ dân đen vốn nhút nhát

sợ quan như sợ cọp (người chèo đò dẫn đường đưa vợ chồng giáo Hiến về An Thái) nhưng cũng biết giảo hoạt cơ hội khi gặp người cùng đường như giáo Hiến đến những tên ác bá, bạo chúa như phó quốc Tần Cối - Trương Phúc Loan.Từ những kẻ tham lam hống hách, sốc nổi như vợ chồng Hai Nhiều (người anh cùng cha khác mẹ của bà giáo) đến những người kín đáo trầm tĩnh nhưng lại tốt tâm, tận tình với ngườì khác như Lợi khi chăm sóc vợ chồng ông giáo Hiến.Từ những kẻ lợi dụng chức vụ quyền hạn dù nhỏ mọn, nhãi nhép (những tên lính gác điếm - chương I) đến những kẻ có chút địa vị luôn ôm ấp giấc mộng quyền lực như (Nguyễn Hữu Chỉnh, Nguyễn Thung, Tập Đình, Lý Tài - chương XX) Từ cô Nguyệt gái goá đang độ hồi xuân sống phóng đãng với khách làng chơi đến cô Thọ Hương (con gái Nguyễn Nhạc) với khát vọng hạnh phúc cháy bỏng của lứa đôi tuổi trẻ nhưng bị cuốn vào vòng xoáy chính trị, bị xô đẩy một cách phũ phàng oan trái Đôi khi lịch sử dân tộc dường như được thu nhỏ lại vào một gia đình như gia đình giáo Hiến Mỗi con người mỗi

Trang 31

tính cách, có nhà nho tâm huyết, nhưng bảo thủ thành lỗi thời (giáo Hiến), có người bị động, bị lôi cuốn vào cuộc chiến (Kiên), có kẻ say sưa vào bạo lực đến sa đà và trở thành kẻ quy hàng phản bội (Chinh), có người yếu đuối nhưng trung thực rồi bị đào thải bởi lòng trung thực (Lãng), lại có một cô An

- người suốt đời sống trong nơm nớp lo âu của thời tao loạn …vv

Đọc Sông Côn mùa lũ của Nguyễn Mộng Giác, người ta còn nhận thấy

sự hoà trộn của ba nguồn cảm hứng lớn: cảm hứng phê phán, cảm hứng nhân

đạo và cảm hứng sử thi Một mặt nhà văn khẳng định ngợi ca những nhà nho

thức thời có đầu óc thực tế nên đã tiến kịp được với dòng chảy của lịch sử như Ngô Thời Nhậm, Trần Văn Kỷ nhưng cũng phê phán lớp nhà nho bảo thủ trì trệ, gàn dở ngu trung cố chấp như Nguyễn Đăng Trường, Lý Trần Quán, Trần Công Xán và phần nào đối với Trương Văn Hiến Cảm hứng nhân đạo với những trang viết về thân phận người phụ nữ thời bạo loạn Đáng lẽ được hưởng cuộc đời hạnh phúc nhưng trong cảnh chiến tranh họ trở thành những con bài chính trị, trở thành nạn nhân của cuộc binh đao Cảm hứng nhân đạo cũng thể hiện trên những trang viết về nạn đói, về sự thảm hại của tầng lớp trí thức Việt Nam thời bấy giờ Với cái nhìn khách quan về lịch sử, Nguyễn Mộng Giác cũng dành những trang viết về những chiến công lẫy lừng làm chấn động trong Nam ngoài Bắc của Nguyễn Huệ ở Phú Yên, Gia Định, Phú Xuân, Thăng Long Tuy nhiên, do nghiêng về tái hiện lại những số phận, những tính cách của con người đời thường trong cơn lốc lịch sử nên khi viết

về những trận đánh lẫy lừng ấy, nhà văn có phần nào lược bỏ những ghi chép vắn tắt của nhân vật Lãng, một chứng nhân lịch sử trong truyện

Nhà nghiên cứu Phan Cự Đệ nhận xét rằng: “Thông điệp của tác phẩm là lòng xót thương thân phận thời thế của những người tri thức nho học trong thời loạn” còn chính tác giả thì khẳng định: “càng tìm đọc sử liệu càng thấy hấp dẫn, càng thấy con người trong thời loạn nhất là giới nho sĩ, sao mà đáng thương Có

thể nói thông điệp của Sông Côn mùa lũ là lòng xót thương đó” [11]

Trang 32

Đi suốt tác phẩm, số phận của những con người nhỏ bé như ông giáo Hiến, Kiên, Lãng, An đã để lại cho độc giả một nỗi ám ảnh da diết Nhà văn

đã phân tích lịch sử từ giông bão của mỗi số phận như thế Trong cơn ba động của lịch sử số phận mỗi con người có một cách tham dự lịch sử khác nhau Kiên như một người thụ động, nhẫn nại chịu đựng lịch sử, cuối cùng phải tìm lối thoát bằng tôn giáo Lãng tham dự lịch sử như một trí thức nghệ sĩ, cố sống trung thực và bị đào thải bằng chính lòng trung thực ấy Ông giáo tiêu biểu cho lớp tri thức nho học “lạc thời”, trong cơn bão lửa của thời đại người trí thức ấy chỉ là một thân phận dạt trôi An là sự tổng hợp kì diệu của mọi thái độ, tiêu biểu cho người phụ nữ Việt Nam giữa thời loạn, người phải gánh lịch sử đất nước, chồng con trên đôi vai bé nhỏ của mình Người phụ nữ này lãng mạn và thực tiễn, tháo vát sáng suốt trước hoạn nạn mà cũng bền bỉ chịu đựng, cuối cùng An phải trải qua bao xót xa, mất mát

Như vậy Sông Côn mùa lũ của Nguyễn Mộng Giác không nhìn lịch sử

chỉ là số liệu hàn lâm, lịch sử không chỉ là sự bùng nổ trước đám đông đầy ngẫu hứng mà còn được lắng kết ở chiều sâu số phận mỗi con người Mỗi con người, mỗi nhân vật trong tác phẩm giống như một thế giới nhỏ trong một thế giới lớn đang bị cuốn theo cơn bão lịch sử

Trang 33

CHƯƠNG 2

SỰ KIỆN LỊCH SỬ VÀ NHÂN VẬT LỊCH SỬ TRONG TIỂU THUYẾT SÔNG CÔN MÙA LŨ

2.1 CÁC SỰ KIỆN LỊCH SỬ TRONG SÔNG CÔN MÙA LŨ

2.1.1 Vài nét về sử liệu trong tiểu thuyết Sông Côn mùa lũ

Đối với mỗi tác giả của thể loại tiểu thuyết lịch sử trong sáng tác của mình đều phải đi theo một khuynh hướng của đặc trưng thể loại đó là: tác phẩm của họ vừa phải đảm bảo yếu tố chân thực trong sử liệu, mặc dù họ có quyền hư cấu một số yếu tố như xây dựng tính cánh riêng, màu sắc riêng cho nhân vật của mình Với tiêu chí tái hiện lịch sử từ sử liệu thì mỗi tác giả của tiểu thuyết lịch sử phải dựng lại được các sự kiện trên cái xương, khung của

sử liệu đó là những biến cố, những thay đổi, những biến động của lịch sử Với tiêu chí thứ hai “xây dựng cho tác phẩm của mình hệ thống nhân vật theo mục tiêu sáng tác ban đầu” thì các tác giả phải phản ánh được nhiều khía cạnh của cuộc sống thông qua các nhân vật trong tác phẩm

Với những cơ sở nêu trên Nguyễn Mộng Giác trong Sông Côn mùa lũ

của mình tác giả đã thành công với việc xây dựng cho bộ trường thiên tiểu thuyết một hệ thống các biến cố, biến động của lịch sử dân tộc thế kỷ XVIII

và một hệ thống nhân vật đa sắc, đa cá tính, đa số phận

Ngay từ ban đầu, Nguyễn Mộng Giác có ý định “viết về tâm trạng trí thức thời loạn nói chung, trong đó có một phần tâm trạng mình trong những năm nhiều biến chuyển sau tháng 04 - 1975”, ông muốn ký thác trực tiếp những trải nghiệm tinh thần của bản thân vào tác phẩm Rõ ràng, chọn thời đại lịch sử nhiều biến động cuối thế kỉ XVIII, thời kì giới nho sĩ trí thức cả Đàng Trong lẫn Đàng Ngoài đều bị đặt trước những thử thách sinh tử Nguyễn Mộng Giác đã nhìn thấy ở đó có nét tương đồng với giai đoạn lịch sử nhiều biến động cuối thế kỉ XX - thời điểm mà nhà văn viết tác phẩm này Thời điểm nửa cuối thế kỷ XVIII nước Việt ta lúc đó đã được nối liền một dải

Trang 34

từ Quỉ môn quan (Lạng Sơn) đến tận Gia Định (Sài Gòn) ngày nay Nhưng từ thế kỷ XVI dải đất ấy đã bị chia cắt làm hai miền Nam - Bắc hay còn gọi là Đàng Trong - Đàng Ngoài lấy sông Gianh là danh giới phân chia Nam - Bắc gần như trở thành hai nước “mỗi ngọn cỏ, cọng rau bên bờ Nam sông Gianh cũng là của chúa Nguyễn” Thời kỳ này chính sự cả hai đàng đều hết sức bê bối rối ren Đàng Ngoài vừa có vua Lê vừa có chúa Trịnh mà chúa Trịnh thì

“chẳng thế, chẳng há quyền nghiêng thiên hạ” lấn át vua Lê Vua Lê tiếng là ở

vị trí tối cao nhưng thực chất chỉ là bù nhìn, quyền hành, chính sự rơi vào tay

họ Trịnh Đàng Trong hậu duệ của chúa Nguyễn bất tài để cho tập đoàn phong kiến - kẻ nghịch thần - Trương Phúc Loan lũng đoạn làm mưa làm gió Hắn cũng xưng hùng xưng bá làm đủ mọi điều càn quấy khiến cho thần dân điêu đứng khiếp đảm Ở Đàng Ngoài thời của thịnh vượng Trịnh Sâm (chúa Trịnh) đã sử dụng ưu thế của một lực lượng chiến đấu tinh nhuệ, có tổ chức chuyên nghiệp, đến từ đất Bắc ngàn năm văn vật, tiến vào Thuận Hoá chiếm được kinh đô của chúa Nguyễn Trong suốt mười năm họ chiếm giữ Phú Xuân Ở Đàng Trong phong trào Tây Sơn do ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ, Nguyễn Huệ lãnh đạo cùng với nhân dân lao động vùng lên lật

đổ ách thống trị của chính quyền phong kiến Họ tiêu diệt đám thống trị tham tàn của bè lũ loạn thần Trương Phúc Loan, diệt con cháu và diệt cả chúa Nguyễn (1777), họ làm chủ một địa bàn rộng lớn từ Hải Vân đến Gia Định Nguyễn Nhạc lên ngôi trở thành hoàng đế của vùng đất này Đàng Ngoài nhà Trịnh trải qua hơn hai trăm năm ngự ngôi giờ cũng đã đến lúc “trong nhà dấy vạ” Cuộc tranh giành ngôi chúa giữa các phe phái trong chính nội gia nhà Trịnh đã xuất hiện và ngày càng khốc liệt Phe con trưởng Trịnh Tông (Trịnh Khải) và phe con út Trịnh Cán đã dẫn đến nạn kiêu binh Đám lính cận vệ trong phủ Chúa - lính tam phủ - sau khi giúp Tông lên ngôi đã trở thành đám kiêu binh mà chính Trịnh Tông cũng không kiểm soát được Trong lúc ấy ở Đàng Trong theo lời khuyên của Nguyễn Hữu Chỉnh, Nguyễn Huệ đã lấy lại

Trang 35

được Phú Xuân, tranh thủ thời cơ thuận lợi đã tự ý vượt quyền vua anh tiến thẳng ra Thăng Long diệt luôn đám quan quân nhà Trịnh Vua Lê vốn đã đớn hèn, bạc nhược bất tài, bây giờ lại càng tỏ ra hèn hạ, tự từ bỏ vị trí tối thượng của mình chạy đi cầu cứu quân Thanh khiến lịch sử dân tộc lại dày thêm một trang máu đổ Với chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa và tại kinh thành Thăng Long - Nguyễn Huệ đã liên tục lập lên những chiến công vang dội, những chiến thắng giòn giã Bắc hà mảnh đất ngàn năm văn hiến giờ đây đã thuộc về Nguyễn Huệ, thuộc về Tây Sơn Như vậy sau mấy trăm năm loạn lạc, chia cắt với những biến động dữ dội của lịch sử, những rung chuyển của thời đại, thế

ổn định xưa cũ gần như đã được thiết lập thì cuộc chiến tâm lý, mâu thuẫn tình cảm tình người lại bắt đầu xuất hiện và ngày một thêm gay gắt cụ thể là mối quan hệ giữa anh em Nhạc và Huệ Mặc dù con người thời loạn không ngạc nhiên với sự thay ngôi đổi chủ, không bị xúc động bởi phải nhớ quá lâu một biến cố nào, tâm lý của họ luôn sẵn sàng đón nhận những khả năng còn

có thể tồi tệ hơn sẽ xảy ra trong kế tiếp Nguyễn Nhạc là người không có ý thôn tính Bắc hà (trong suy nghĩ của Nguyễn Huệ, Nguyễn Nhạc chỉ là “anh hùng nhất khoảnh”, “xưng đế một phương”, “biên giới không vượt qua Luỹ Thầy”) thì Nguyễn Huệ lại có tham vọng lớn hơn gấp bội Chính từ những biến động của thế sự và sự trái ngược nhau về quan điểm, lý tưởng chính trị, địa vị thống trị này mà tình huynh đệ Nhạc - Huệ vốn keo sơn, thậm chí như tình cha con giờ đây đã trở thành như người dưng xa lạ, thậm chí là kẻ thù của nhau Khi Nguyễn Huệ thu phục Bắc Hà quay đầu Nam tiến để thực hiện kế hoạch tiêu diệt triệt để con cháu chúa Nguyễn Phúc và thâu tóm tập trung quyền lực thì vấp phải sự cản trở của hoàng đế thành mà anh cả Nguyễn Nhạc của mình là thủ lĩnh Nếu lúc này mối bất hoà giữa anh em Nhạc - Huệ được xoá bỏ, hoặc Nguyễn Huệ không để cho tình cảm anh em lấn át lý trí, làm sao nhãng trách nhiệm với lịch sử thì có lẽ viễn tưởng thống nhất đất nước đã có thể trở thành hiện thực Đáng tiếc thay điều đó đã không xảy ra Thời gian anh

Trang 36

em Tây sơn bất hoà đã biến Quy Nhơn thành bức bình phong, thành lá chắn cho Nguyễn Ánh có đủ thời gian khôi phục lực lượng, khôi phục sức mạnh sẵn sàng trả mối thù với Nguyễn Huệ, mối thù Nguyễn Huệ đã tạo ra với Nguyễn Ánh khiến cho hắn bao năm, bao lần phải trốn chui trốn lủi, phải vượt biên lánh nạn hoặc phải náu thân nơi biển đảo hoang vu, đói khổ Gia Định trở thành mối nguy thực sự nhưng cũng là cơ hội cho anh em Nhạc - Huệ hàn gắn bất hoà Người ta lại một lần nữa hy vọng vào giấc mơ thống nhất, nhưng điều ấy vĩnh viễn không có được bởi sự ra đi đột ngột của Quang Trung - Nguyễn Huệ (16-09-1792)

Tác giả dừng lại ở thời điểm vua Quang Trung tạ thế, kết thúc một thời

kỳ lịch sử trong mơ khi một vị lãnh tụ xuất thân từ một người áo vải, một con người thuộc tầng lớp lao động khốn cùng vì giai cấp mình, vì công lý mà thay trời hành đạo Những việc làm của Nguyễn Huệ đã đem đến cho người dân lúc đó niềm hy vọng vào một cuộc sống sáng lạng, rạng rỡ Nhưng niềm hy vọng ấy của nhân dân bị dập tắt sau sự ra đi đột ngột của Quang Trung, sự nghiệp của ông và niềm vui của dân chúng giờ mãi mãi chỉ còn là dấu son tươi đẹp trong lịch sử Nhân vật Quang Trung mà nhà văn sáng tạo ít nhiều đều là sản phẩm của sự hiểu biết và tưởng tượng mang màu sắc cá nhân và chủ quan của một con người sống ở cuối thế kỉ XX Quang Trung hiện lên giản dị, mọi hành động và suy nghĩ đều gần gũi với đời thường Vấn đề nhà văn đặt ra trong tác phẩm là thân phận con người trong cơn biến động của lịch

sử, từ con người của chốn hoàng cung đến những người dân dưới đáy xã hội Kết thúc cuối cùng của mỗi số phận con người như thế đều là bất hạnh, khổ đau Thế mới biết, trong cơn vạn biến của lịch sử thân phận con người thật bé nhỏ, mong manh! Phải khẳng định rằng, khi chú trọng đến yếu tố tiểu thuyết thì lịch sử có thêm một sức sống mới Lịch sử không còn là sự kiện biên niên

mà đã được tái tạo và mang theo những vấn đề mà con người hiện tại quan tâm Lịch sử được xem như một chất liệu để phản chiếu những vấn đề của con người ở tầm phổ quát nhất

Trang 37

Phải chăng Nguyễn Mộng Giác đã tìm thấy sự tương đồng nào đó trong lịch sử Việt Nam nửa cuối thế kỷ XX với giai đoạn Tây Sơn tất cả những xáo trộn của lịch sử như sự chia cắt, sự chuyển giao quyền lực, tính giao thời, sự gieo rắc niềm tin và tính chất giới hạn của khả năng những hy vọng thành hiện thực… Hai giai đoạn tin tưởng, hy vọng rồi thất vọng giường như có sẵn trong con người nghệ sĩ vốn mẫn cảm với thời cuộc Nguyễn Mộng Giác Bản thân tác giả đã là người trải qua những kinh qua, khổ nạn thời loạn nên ông dễ dàng tìm thấy sự gặp gỡ đồng điệu của hai thời đại và điều đó đã góp phần tạo nên thành công của tác phẩm mà ông sáng tác

Trong tác phẩm của mình ông đã phản ánh những biến động chính trị, những biến cố thời cuộc bằng hàng loạt các chuỗi sự kiện thông qua cốt

truyện có thể đánh giá sơ lược như sau: Sông Côn mùa lũ là tác phẩm dài gần

2000 trang, được tác giả gọi là “trường thiên tiểu thuyết”, sau này in lại trong nước, người ta gọi là “tiểu thuyết lịch sử” Phan Cự Đệ, trong bài viết “Tiểu

thuyết lịch sử”, đã xếp Sông Côn mùa lũ vào thể loại “tiểu thuyết lịch sử”

Cốt truyện tiểu thuyết Sông Côn Mùa Lũ là cốt truyện đa tuyến Tác

phẩm đã dành nhiều trang tái hiện cuộc sống và bối cảnh lịch sử cuộc khởi nghĩa Tây Sơn ở Huế những năm cuối thế kỷ XVIII mà trọng tâm là những lần Nguyễn Huệ kéo quân ra Phú Xuân rồi lên ngôi hoàng đế tại núi Bân…

Quá trình diễn biến cốt truyện tập trung vào giai đoạn khởi nghiệp của

ba anh em Tây Sơn Diễn biến cuộc khởi nghĩa của ba anh em Tây Sơn là một giai đoạn lịch sử tao loạn đầy bi tráng của nước ta vào nửa cuối thế kỷ XVIII Thông qua số phận gia đình một nho sĩ (gia đình giáo Hiến), một chính khách của Trương văn Hạnh thất thế phải trốn khỏi Phú Xuân về ẩn cư ở đất võ Bình Định Câu chuyện dẫn đến cuộc gặp gỡ của người con gái nết na, thuần hậu tên An, với người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ mà tính cách nghĩa hiệp đầy cao vọng đã hình thành ngay từ thời niên thiếu, cắt nghĩa cho vai trò của Người qua những cuộc chinh phạt và chiến công vĩ đại mùa xuân năm Kỷ Dậu 1789 đánh tan đội quân xâm lược của nhà Thanh

Trang 38

Trong câu chuyện ấy là những ràng buộc của những mảnh đời những số phận với lịch sử, với thời đại Câu chuyện của ba anh em nhà họ Nguyễn từ vùng đất quê nghèo Tây Sơn đã lập được nên sự nghiệp từ Nam ra Bắc trên hai trăm năm trước Cùng với thân phận nổi trôi của bốn người con, ba trai, một gái của ông Giáo Hiến khi đất nước phải trải qua biết bao cuộc bể dâu của Vua Lê, Chúa Trịnh ở Đàng Ngoài và con cháu của Chúa Nguyễn là Nguyễn Ánh ở Đàng Trong

Tác phẩm tái hiện lại những sự kiện quan trọng của một cuộc khởi nghĩa nông dân mà người lãnh đạo là một Nguyễn Nhạc xuất sắc, một Quang Trung tài ba xuất chúng và một loạt tướng lĩnh lang bạt kiêu hùng Tất cả họ thuộc mọi tầng lớp có thể là những kẻ đi buôn như Huyền Khê, Phạm Ngạn, những nông dân nghèo khổ bị ức hiếp, đến cả những tên đầu trộm đuôi cướp như Nguyễn Thung, Tập Đình, Lí Tài và một tầng lớp không thể không nhắc đến là tầng lớp nho sĩ thất thế bất mãn với thời cuộc giáo Hiến, Trần Văn Kỷ, Ngô Thời Nhậm, Phan Huy Ích… mặt khác tác giả còn tập trung khai thác cuộc sống đời thường của gia đình, của xã hội, và cái lãng mạn của tình yêu tuổi trẻ: tình yêu của An và Huệ, tình yêu của Lãng với Thọ Hương, với Cúc vv

Tác giả đi sâu khai thác những quan niệm về chính trị, chính sách, tư tưởng trong quá trình khởi nghĩa của nhà Nguyễn Tây Sơn Đặc biệt là quan điểm chính thống hay ngụy triều, nó là sợi dây kết nối những sự kiện thiên về lịch sử Song song với nội dung về lịch sử là bức tranh phản ánh cuộc sống đời thường của con người trong xã hội lúc bấy giờ mà tiêu biểu là câu chuyện tình yêu giữa An và Huệ Theo Nguyễn Mộng Giác đây là “Một dây chuyền khác ở tầm thấp hơn, mối tình tưởng tượng giữa Nguyễn Huệ và cô con gái ông giáo Hiến Mối tình đó làm cho câu chuyện được thống nhất, qua đó tạo thêm những quan hệ khác làm sườn cho bộ truyện” [8]

Trang 39

Với cốt truyện trải dài nhiều tuyến sự kiện, có khi là những mâu thuẫn giữa các thế lực thù địch với quân Nguyễn Ánh, với nhà Trịnh, có khi là những mâu thuẫn nội bộ giữa anh em, giữa các tướng lĩnh, giữa những người trong gia đình, và cả trong tình yêu Mỗi sự kiện mỗi nhân vật quấn chặt lấy

nhau để tạo nên giá trị nghệ thuật và nội dung cho tiểu thuyết Sông Côn Mùa

2.1.2 Phong trào Tây Sơn và sự song chiếu tiểu thuyết với các văn bản sử học

Với đặc trưng và cũng là nhiệm vụ của thể loại tiểu thuyết lịch sử là

“nối liền quá khứ với hiện tại để người đọc nghiệm sinh về những vấn đề hiện tại” nên khi viết về đề tài này Nguyễn Mộng Giác đã chọn phong trào khởi nghĩa nông dân Tây Sơn để đưa lịch sử dân tộc từ hơn hai thế kỷ trước đến với hiện tại

Trong bối cảnh lịch sử Việt Nam thế kỷ XVIII, giai cấp thống trị phong kiến đi vào khủng hoảng và suy thoái nghiêm trọng đã đẩy đời sống của đại bộ phận nhân dân vào sự cùng cực của đói khổ Đã thế, thuế má nặng

nề, trưng binh gắt gao làm cho người dân càng khốn đốn hơn Vì vậy, phong trào nông dân khởi nghĩa diễn ra khắp nơi trong cả nước Phong trào Tây Sơn ban đầu cũng được xem là phong trào nông dân khởi nghĩa sau đó trở thành phong trào dân tộc Về tiểu tiết các sách có những chi tiết chưa thống nhất, nhưng nhìn chung ghi chép về phong trào Tây Sơn các nhà viết sử đều có điểm chung gặp gỡ nhau: tổ tiên Nguyễn Nhạc quê ở Nghệ An, người họ Hồ Tương truyền, quân chúa Nguyễn đánh ra Đàng Ngoài, gia đình họ Hồ bị bắt đem về ấp Tây Sơn Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ, Nguyễn Huệ và một người con gái út đều là con của ông Hồ Phi Phúc và bà Nguyễn Thị Đồng Lớn lên

ba anh em đều theo học thầy giáo Hiến một nho sĩ Thuận Hoá chạy nạn vào Quy Nhơn vì sợ bị quyền thần Trương Phúc Loan hãm hại Ở thời kì đầu của phong trào Tây Sơn, vai trò của Nguyễn Nhạc đặc biệt nổi bật Ông khéo léo

Trang 40

tổ chức, gây dựng phong trào, mưu trí khi đánh chiếm thành Quy Nhơn Lúc gặp khó khăn hai đầu thọ địch, Nguyễn Nhạc đã chủ động hoà hoãn với nhà Trịnh để rảnh tay đánh chúa Nguyễn ở phương Nam Sử sách nói nhiều đến thành phần xuất thân của anh em nhà Tây Sơn là “áo vải cờ đào”, Nguyễn Nhạc cũng thường nhận mình là dân núi, dân mán mọi Tuy nhiên, nguyên nhân ban đầu của cuộc khởi nghĩa được các sách sử ghi lại rất khác nhau Có tài liệu cho rằng: “Ông thân sinh Nguyễn Nhạc vốn làm nghề nông nhưng cũng có buôn bán kinh doanh nên thuộc vào hạng giàu có trong vùng, vì thế

cả ba anh em đều được học cả văn lẫn võ Lớn lên Nguyễn Nhạc có thời đi buôn trầu, kiêm nghề gá bạc và trở nên giàu có Nhạc xin làm một chân biện lại (nhân viên thu thuế) ở Vân Đồn nên cũng có lúc gọi là Biện Nhạc Nhạc là người hào phóng giao thiệp rộng nên có nhiều bạn bè Vụ thuế năm Tân Măo (1771) thu được bao nhiêu Nhạc đánh bạc thua hết, sợ bị tù nên cùng hai em vào trong núi thuộc ấp Tây Sơn để sống Nhạc tụ tập chân tay bộ hạ, bạn bè hơn một trăm người, lúc đầu đi đánh các ấp lân cận Nhạc có nhiều mưu mẹo, khiến quan quân chúa Nguyễn không thể nào đánh dẹp nổi Dân nghèo, nhất

là nông dân bị quyền thần Trương Phúc Loan bóc lột sức nặng nề nên oán giận mà theo Nguyễn Nhạc rất đông Phong trào Tây Sơn ngày càng phát triển Thấy lực lượng khởi nghĩa đã đủ mạnh, Nguyễn Nhạc cùng hai em giương cao ngọn cờ “Phù Nguyễn diệt Trương” nên quân Tây Sơn đi đến đâu

cũng được dân chúng, nhất là nông dân, ủng hộ” [48, tr.234, 235] Sách Nhà

Tây Sơn nói về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn là một quá trình chuẩn bị công phu

và kỹ lưỡng với vai trò nòng cốt ở buổi ban đầu là Nguyễn Nhạc Nguyễn Nhạc đã chuẩn bị rất công phu từ việc tìm ra long mạch đặt hài cốt tổ phụ để được phát đế vương đến việc lĩnh hội ý kiến tham mưu của thầy học Trương Văn Hiến trong việc tạo “chân mệnh đế vương”, lĩnh nhận “Ngọc Hoàng sắc mạng Nguyễn Nhạc vi Quốc Vương”, tìm ấn, kiếm và chuẩn bị về vật chất như “cho khẩn hoang nhiều diện tích rộng lớn từ An Khê, Thượng Giang,

Ngày đăng: 14/08/2016, 23:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lại Nguyên Ân (2005), “Tiểu thuyết và lịch sử”, tại trang http://vietnamnet.vn/, [truy cập ngày 15/10/2015] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết và lịch sử”, tại trang "http://vietnamnet.vn/
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Năm: 2005
2. Lại Nguyên Ân (1999), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1999
3. Nguyễn Quang Ân, Hà Vị Giang (2004), “Quang Trung – Nguyễn Huệ người anh hùng áo vải”, Báo điện tử ĐCS Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quang Trung – Nguyễn Huệ người anh hùng áo vải
Tác giả: Nguyễn Quang Ân, Hà Vị Giang
Năm: 2004
4. Nguyễn Lương Bích, Phạm Ngọc Phụng (1977), Tìm hiểu thiên tài quân sự của Nguyễn Huệ, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu thiên tài quân sự của Nguyễn Huệ
Tác giả: Nguyễn Lương Bích, Phạm Ngọc Phụng
Nhà XB: Nxb Quân đội nhân dân
Năm: 1977
5. M.Backtin (1998), “Một số vấn đề lý luận về tiểu thuyết”, tại trang http://vietnamnet.vn/, [truy cập ngày 25/10/2015] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề lý luận về tiểu thuyết”, tại trang "http://vietnamnet.vn/
Tác giả: M.Backtin
Năm: 1998
6. Lê Đình Danh (2006), Tây Sơn bi hùng truyện, Nxb Văn hóa - thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tây Sơn bi hùng truyện
Tác giả: Lê Đình Danh
Nhà XB: Nxb Văn hóa - thông tin
Năm: 2006
7. Nam Dao (2000), “Về tiểu thuyết Việt nam”, tại trang http://vietnamnet.vn/, [truy cập ngày 25/10/2015] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về tiểu thuyết Việt nam”, tại trang "http://vietnamnet.vn/
Tác giả: Nam Dao
Năm: 2000
8. Nam Dao, Nguyễn Mộng Giác (2002), “Thảo luận về tiểu thuyết lịch sử”, Văn học Cali, (197) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thảo luận về tiểu thuyết lịch sử”, "Văn học Cali
Tác giả: Nam Dao, Nguyễn Mộng Giác
Năm: 2002
9. Trương Đăng Dung ( 1994), “Tiểu thuyết lịch sử trong quan niệm mĩ học của G. Lucacs”, Tạp chí văn học, (5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết lịch sử trong quan niệm mĩ học của G. Lucacs”, "Tạp chí văn học
10. Phan Cự Đệ (2005), Văn học Việt Nam thế kỷ XX , Nxb Giáo dục, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Văn học Việt Nam thế kỷ XX
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2005
11. Phan Cự Đệ (2003), Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại , Nxb Giáo dục, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2003
12. Nguyễn Mộng Giác (2008), Sông Côn mùa lũ, Trọn bộ 3 tập, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sông Côn mùa lũ
Tác giả: Nguyễn Mộng Giác
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2008
13. Nhiều tác giả (1998), Lý luận văn học, tập 2, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
14. Lam Giang, Nguyễn Quang Trứ (2004), Vua Quang Trung, Nxb Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vua Quang Trung
Tác giả: Lam Giang, Nguyễn Quang Trứ
Nhà XB: Nxb Thanh niên
Năm: 2004
15. Nhiều tác giả (2006), Bão táp triều Trần - Tác phẩm và dư luận, Nxb Phụ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bão táp triều Trần - Tác phẩm và dư luận
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: Nxb Phụ nữ
Năm: 2006
16. Siêu Hải (1985), Mảnh trăng Tô Lịch, Nxb Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mảnh trăng Tô Lịch
Tác giả: Siêu Hải
Nhà XB: Nxb Thanh niên
Năm: 1985
17. Nguyễn Thái Hoà (2000), Những vấn đề thi pháp của truyện, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề thi pháp của truyện
Tác giả: Nguyễn Thái Hoà
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
18. Nguyễn Trung Hiến (2008), Xứ Nghệ triều Tây Sơn, Nxb Văn hoá Nghệ An, Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Xứ Nghệ triều Tây Sơn", Nxb Văn hoá Nghệ "An
Tác giả: Nguyễn Trung Hiến
Nhà XB: Nxb Văn hoá Nghệ "An
Năm: 2008
19. Chu Trọng Huyến (2005), Nguyễn Huệ với Phượng hoàng trung đô, Nxb giáo dục Nghệ An, Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Huệ với Phượng hoàng trung đô
Tác giả: Chu Trọng Huyến
Nhà XB: Nxb giáo dục Nghệ An
Năm: 2005
20. Trần Thiện Khanh (2012), Bước đầu nhận diện diễn ngôn và diễn ngôn văn học, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu nhận diện diễn ngôn và diễn ngôn văn học
Tác giả: Trần Thiện Khanh
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2012

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w