Tổng quát chung về rác thải điện tửmóc điện, điện tử cũ, hỏng, lỗi thời không được sử dụng nữa cũng như các phế liệu, phế phẩm thải ra trong quá trình sản xuất, láp ráp và tiêu thụ.. Đặc
Trang 1RÁC THẢI ĐIỆN TỬ
Click icon to add picture
Trang 2I Khái niệm rác thải điện tử
1 Khái niệm và cách phân loại RTĐT
3 Vấn đề môi trường và con người
IV Hướng giải quyết
1 Vấn đề quản lí CTĐT
2 Trách nhiệm đặt ra
Trách nhiệm của Chính phủ
Trách nhiệm của doanh nghiệp
Trách nhiệm của người tiêu dùngClick icon to add picture
Trang 4Mọi người làm gì với điện thoại cũ
Trang 5I Tổng quát chung về rác thải điện tử
móc điện, điện tử cũ, hỏng, lỗi thời không được sử dụng nữa cũng như các phế liệu, phế phẩm thải ra trong quá trình sản xuất, láp ráp và tiêu thụ.
1 Khái niệm và cách phân loại
1.1 Khái niệm
Trang 6Thiết bị sử dụng trong gia đình có kích thước lớn ( lò nướng, tủ lạnh )
Thiết bị sử dụng trong gia đình có kích thước nhỏ (máy nướng bánh, máy hút bụi, )
Thiết bị văn phòng, phương tiện thông tin liên lạc (máy tính, máy in, điện thoại, )
Trò chơi giải trí điện tử (TV, đầu đĩa, )
Thiết bị chiếu sáng( chủ yếu là các loại đèn)
Thiết bị điện ( máy khoan, máy cắt cỏ, )
Thiết bị thể thao và giải trí (trò chơi điện tử, máy tập thể dục, )
1.2 Phân loại
Trang 72 Đặc điểm của RTĐT
a) Rác thải điện tử có thành phần phức tạp và chứa nhiều chất độc hại
•) Dạng chất rắn không đồng nhất và phức tạp về vật chất và thành phần
•) Chứa hơn 1000 chất khác nhau, trong đó có nhiều kim loại nặng, chất phóng xạ và các chất độc thứ cấp
•) Để phát triển hệ thống tái chế thân thiện môi trường và hiệu quả cần phân loại và nhận dạng vật liệu có giá trị, chất nguy hại và đặc trưng vật lý của luồng rác thải điện tử
•) Sắt, thép là nguyên liệu phổ biến nhất trong các thiết bị điện và điện tử, chiếm hơn 50% tổng lượng Nhựa là thành phần nhiều thứ hai, chiếm 21% Ngoài ra có các kim loại hiếm ( Al, Zn, Cu, Pb, Cr, Au, Ag, ) chiếm xấp xỉ 13%
•) Ước tính có hơn 1000 chất khác nhau trong một chiếc máy tính, đa số là chất độc hại với môi trường
•) Một chiếc máy tính chứa khoảng 1,8->3,6kg chì Màn hình thủy tinh chứa khoảng 20% Chì về khối lượng
Trang 82 Đặc điểm của RTĐT
b) Sự gia tăng khối lượng rác thải điện tử hàng năm
• Năm 2014, có 41,8 triệu tấn rác điện tử - chủ yếu là tủ lạnh, máy giặt và thiết bị gia dụng khác hết hạn sử dụng bị bỏ đi Tương đương với 1,15 triệu xe tải nặng, tạo thành hàng dài 23.000 km và chưa đầy 1/6 trong số đó được tái chế thỏa đáng
• Năm 2013, tổng lượng rác thải điện tử ghi nhận là 39,8 triệu tấn, và sẽ đạt mốc 50 triệu tấn vào năm 2018
• Khu vực có khối lượng rác thải tính theo đầu người thấp nhất là châu Phi, với chỉ 1,7 kg Lục địa này thải bỏ tổng cộng 1,9 triệu tấn rác
• Xét về khối lượng, Mỹ và Trung Quốc là hai nước có lượng rác thải nhiều nhất Hai nước này chiếm tổng cộng 32% tổng lượng rác thải điện tử của thế giới, sau đó đến Nhật Bản, Đức và Ấn Độ
Trang 9Số rác thải tính theo đầu người các nước (kg)
28.4
26.3
Trang 102 Đặc điểm của RTĐT
c) Tốc độ tái chế thấp
• Ước tính ¾ số máy tính được bán tại các điểm lưu giữ chờ xử lý, khoảng 63 triệu máy tính cá nhân cũ, lỗi thời không sử dụng
cứ 1 máy tính cũ thay thế bằng 1 cái mới
• Kết quả điều tra 7527 gia đình và 2500 văn phòng tại Mỹ năm 2004 cho thấy 30,1% giữ các máy tính cũ trong nhà, 22% chuyển cho bạn bè, 17,1% lưu giữ trong kho, 8,9% cho tặng từ thiện và 8,6% đem bán rẻ hoặc bỏ đi Chỉ 3,6% được đem tái chế
• Tốc độ tái chế thấp do khách hàng thường bỏ các sản phẩm điện tử hết hạn cùng rác thải vì thuận tiện và chi phí rẻ
• Năm 1998, 11% trong 20 triệu máy tính lỗi thời được tái chế
• Năm 2004 hơn 7 triệu điện thoại di động được bán ra ở Australia tuy nhiên chỉ có 1,5 triệu chiếc được tái chế Thực tế, chỉ 100 000 điện thoại tái chế có thu hồi kim loại và phần nhựa bị loại bỏ không tái chế Một nghiên cứu cho thấy 8% máy tính cá nhân chôn lấp, 21% tái chế trong đó 72% lưu trong kho chờ thiêu hủy
Trang 112 Đặc điểm của RTĐT
điện tử (E-waste) dưới tên “tái chế” nhưng không quan tâm
đến chi phí và thực trạng của quá trình tài chế gây hại cho
người nghèo, phụ nữ và trẻ em ở các nước Châu Á
• Thực tế 60-80% rác thải điện tử thu gom tái chế tại
Mỹ nhưng lại chuyển lên các container xuất khẩu sang
châu Á chủ yếu là Trung Quốc Chỉ 25-75% thiết bị điện tử
lỗi thời nhập khẩu vào Nigeria được sửa chữa và bán lại
Phần còn lại chủ yếu là đốt và chôn lấp
• Ước tính tại Mỹ, mỗi tuần có khoảng 100 container
các thiết bị điện tử đã qua sử dụng được xuất đi.
d) Sự tăng mạnh xuất khẩu rác thải điện tử sang các nước đang phát triển
Trang 12Phần II Thực trạng hiện nay
Các thiết bị điện tử (ti vi, máy tính, điện thoại…) ngày càng đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống hiện đại Nhưng sau thời gian hữu ích, chúng bị
bỏ đi, trở thành rác thải Ngày nay, rác thải điện tử (e-waste) được coi là thảm họa mới đối với nhân loại.
Theo EEA, lượng rác điện tử thải ra trên thế giới là khoảng 40 triệu tấn/năm và tăng
nhanh gấp 3 lần so với các loại rác khác Một trong những lý do là lượng tiêu thụ loại
sản phẩm này liên tục gia tăng, đặc biệt là ở các nước đông dân và đang phát triển nhanh
như Trung Quốc và Ấn Độ.
Trang 13• Theo Greenpeace, năm 2008, số lượng người dung điện thoại di động trên thế giới đạt 2 tỷ, trong đó chỉ riêng Trung Quốc đã lên đến… 150 triệu chiếc Số sản phẩm điện tử
khác như máy vi tính, ti vi, máy chơi điện tử… bán ra tăng từ 10% – 400% mỗi năm Đến năm 2010, trong tổng số 710 triệu máy tính mới sản xuất trên thế giới, 178 triệu là ở
Trung Quốc và 80 triệu ở Ấn Độ
• Do công nghệ thay đổi liên tục, vòng đời các thiết bị điện tử ngắn hơn nên rác thải điện tử sẽ nhiều hơn Như vòng đời của máy tính đã giảm từ 6 năm (năm 1997) còn 2 năm
(năm 2005); còn của ĐTDĐ là dưới 2 năm.
• Vấn đề rác thải điện tử hiện đã đến mức báo động vì lượng rác quá lớn đang thải ra mỗi ngày trên thế giới Theo Silicon Valley Toxics Coalition (SVTC), mỗi năm có khoảng
từ 20-50 triệu tấn rác điện tử được thải ra, trong đó có khoảng 130 triệu chiếc ĐTDĐ; có từ 20 – 24 triệu ti vi và máy tính chưa được xử lý, vẫn đang được lưu giữ tại nhà ở và
Trang 142 Tại Việt Nam
• Ở Việt Nam không có bãi rác điện tử Và người Việt không có thói quen bỏ đồ điện tử ra bãi rác mà bán lại cho thu mua đồng nát Sau đó được các đầu mối thu gom, phân loại và chuyển cho các cửa hàng đồ điện tử tân trang rồi… bán lại cho người dùng
• Hiện tại hơn 60% số máy tính sử dụng tại Việt Nam đã qua sử dụng Số máy tính này có nguồn gốc chủ yếu từ Mỹ và châu Âu và nhiều các linh kiện điện tử đã qua sử dụng được nhập vào Việt Nam từ nhiều đường khác
• Lượng chất thải điện tử và điện dân dụng thải ra từ các đô thị như tivi, tủ lạnh, quạt điện, máy tính, đồ dân dụng, ngày càng tăng Kết hợp với xử lí không triệt để đã tạo nên một lượng lớn rác thải điện tử ra môi trường
• Mỗi năm Việt Nam thải ra khoảng 120.000-150.000 thiết bị điện và điện tử gia dụng (ti vi, tủ lạnh, máy giặt, điều hòa,…), khoảng 200.000-300.000 chiếc máy tính Đó là chưa kể đến số lượng điện thoại di động được thải ra khá lớn Đây là loại rác thải điện tử khá lớn ở Việt Nam vì vòng đời sử dụng ngắn chỉ 1-2 năm
Trang 15Giảm chi phí xử lý vừa đỡ ô nhiễm môi trường
Giảm 10 lần chi phí so với tái
Nguyên nhân Các nước phát triển không muốn tái chế rác thải điện
tử mà lại xuất khẩu ra nước ngoài ?
Trang 16Gây ô nhiễm môi trường
Khó khăn phát triển kinh tế
Trang 182 Vấn đề xã hội
Trang 193 Vấn đề môi trường và con người
• Thay vì tốn chi phí xử lý rác thải, các nước công nghiệp có thể dùng cho nhiều hoạt động khác như tăng an sinh xã hội hay phát triển bền vững Mọi vấn đề tiêu cực từ rác thải điện tử được đưa sang nước khác Các nước nhập khẩu nhiều
lượng hàng secondhand này là Trung Quốc, Ấn Độ và Nigieria.
• Chất độc trong rác thải điện tử như chì, thủy ngân và cadmium rò rỉ vào nước và không khí Một màn hình máy vi tính có thể chứa 1,8-3,8kg chì – một số lượng có thể gây nguy hại cho cả một cộng đồng nếu chúng bị thải ra môi trường
• Các bộ phận không thể tái chế được chất thành đống trong những bãi rác lộ thiên Hậu quả là môi trường và sức khỏe người lao động bị ảnh hưởng Hầu hết người lao động sử dụng các cách thức truyền thống: dùng búa, đèn xì và tay trần
để lấy kim loại, thủy tinh và các chất liệu có thể tái chế khác Nhiều rác thải, đặc biệt tro từ việc đốt than bị đổ xuống các con kênh và mương trong thị trấn, làm độc hại nước ngầm và giếng.
Trang 20Chất độc hại Nguồn gốc trong rác thải điện tử Tác hại đối với môi trường và con người
Các hợp chất halogen Polyclobiphenyl (PCB) Tụ điện, máy biến thế Gây ung thư, ảnh hưởng đến hệ thần kinh
Gây tổn thương lâu dài đến sức khỏe, gây ngộ độc sâu khi cháy
Polycloflocacbon (CFC) Trong bộ phận làm lạnh, bọt cách điện Khi cháy gây nhiễm độc, chất phá hủy tầng ozon
Polyvinylclorua (PVC) Cáp cách điện Cháy ở nhiệt độ cao sinh ra dioxin và furan
Trang 21Kim loại nặng và các kim loại khác
As Có trong bóng đèn hình đời cũ và lượng nhỏ ở dạng gali asenua, bên trong các diod phát quang Gây ngộ độc cấp tính và mãn tính
Ba Chất thu khí màn hình CRT Gây nổ nếu ẩm ướt
Be Bộ chỉnh lưu, bộ phận phát tia Độc nếu nuốt phải
Cd Pin Ni-Cd sạc lại, lớp huỳnh quang (đèn hình CRT), mực máy in và trống, trong bo
mạch và chất bán dẫn
Độc cấp tính và mãn tính
Cr(VI) Băng và đĩa ghi dữ liệu Độc cấp tính và mãn tính
Gali asenua Diod phát quang Tổn thương đến sức khỏe
Các nguyên tố đất
hiếm (Y, Eu)
Trang 22Quản lí hàng tồn kho
Cải tiến, thay đổi quá trình sản xuất
Giảm khối lượng
Phục hồi và tái
sử dụng
Phần IV, Hướng giải quyế
1 Quản lí chất thải điện tử
1.1, Giảm thiểu chất thải trong các ngành công nghiệp liên quan tới:
Trang 231 Kiểm soát chất lượng
số lượng chất thải phát sinh
thiết lập quy trình xem xét, kiểm soát vật liệu mua và hệ thống theo dõi hàng tồn kho.
2 Phát triển thủ tục đánh giá cho tất cả tài liệu được mua
yêu cầu tất cả tài liệu được phê duyệt trước khi mua
Đánh giá hàm lượng thành phần nguy hại và ước tính vật liệu không độc hại thay thế có sẵn.
3 Quy trình quản lý hàng tồn
kho
đảm bảo số lượng cần thiết của một loại vật liệu được đặt
thiết lập hệ thống theo dõi hàng tồn kho nghiêm ngặt
Thủ tục mua hàng phải thực hiện để các tài liệu được đặt hàng chỉ có trên một cơ sở và
số tiền cần thiết cho thời gian nhất định
a) Quản lí hàng tồn kho
Trang 24Cải t hiện
đ iều
hành
và qu
y tr ìn
h
bảo trì
h-thiế
t b
ị
sửa đổ
i.
b) Thay đổi quá trình sản xuất
Trang 251.1, Giảm thiểu chất thải trong công nghiệp
c) Giảm khối lượng
• Kỹ thuật giảm khối lượng chất thải dòng chia thành 2 loại: nguồn phân và nồng độ chất thải
• Tách riêng các chất thải là kỹ thuật đơn giản và kinh tế Chất thải chứa các loại khác nhau của các kim loại được xử lý riêng do đó giá trị kim loại có thể được phục hồi
• Nồng độ của một dòng thải làm tăng khả năng tái chế, tái sử dụng của vật liệu Phương pháp bao gồm trọng lực và lọc chân không, lọc cực, thẩm thấu ngược, đóng băng bay hơi,
d) Phục hồi và tái sử dụng
• Loại bỏ chi phí xử lý chất thải, giảm chi phí nguyên vật liệu và đem lại thu nhập từ một chất thải Xử lý chất thải được phục hồi trên trang web, hoặc cơ sở phục hồi off-site, hay thông qua trao đổi ngành liên công nghiệp Một số kỹ thuật vật lý và hóa học có sẵn lấy lại một vật liệu phế thải như thẩm thấu ngược, điện phân, ngưng tụ, phục hồi điện, lọc, ly tâm,
• Tuy nhiên tái chế các sản phẩm độc hại ít có lợi cho môi trường nếu nó chỉ đơn giản là di chuyển các mối nguy hiểm vào các sản phẩm thứ cấp mà cuối cùng phải được xử lí
Trang 261.2, Sản xuất sản phẩm bền vững
• Cần thiết kế sản phẩm với số lượng ít hơn các chất độc hại
• Sử dụng vật liệu tái tạo và năng lượng:
• chất dẻo sinh học dựa làm từ hóa chất thực vật hoặc các polyme nhà máy sản xuất không phải là từ hóa dầu
• Sử dụng vật liệu không tái tạo được an toàn hơn
• Thiết kế có thể đảm bảo sản phẩm được xây dựng để tái sử dụng, sửa chữa hoặc nâng cấp.
Trang 27Trách nhiệm được đặt ra
2.1, Trách nhiệm Chính phủ
• Thành lập cơ quan quản lý ở mỗi huyện, có trách nhiệm phối hợp và củng cố các chức năng quản lý của cơ quan chính phủ khác nhau liên quan đến các chất độc hại
• Có trách nhiệm cung cấp đầy đủ hệ thống pháp luật, kiểm soát và thủ tục hành chính cho quản lý chất thải nguy hại
• Pháp luật liên quan đến xử lý chất thải điện tử cần xem xét và sửa lại như cung cấp quy chế và quản lý, xử lý thích hợp chất thải nguy hại là bắt buộc
• Trao quyền cho cơ quan kiểm soát, giám sát và điều tiết hoạt động liên quan của cơ quan chính phủ.
• Thu thập thông tin về các nguyên vật liệu từ các nhà sản xuất, chế biến, nhập khẩu và duy trì hàng tồn kho của các tài liệu này Các thông tin có độc tính
và tác hại tiềm tàng.
• Xác định chất có hại và yêu cầu ngành công nghiệp kiểm tra chúng tác động lên môi trường và sức khoẻ Kiểm soát rủi ro từ sản xuất, chế biến, phân phối, sử dụng và xử lý chất thải điện tử.
Trang 282.1, Trách nhi m Chính ph ệ ủ
Khuyến khích tái sử dụng "chất thải điện tử" có lợi và hoạt động kinh doanh “sử dụng chất thải " Thiết lập
chương trình thúc đẩy tái chế giữa các công dân và doanh nghiệp Giáo dục phát thải điện tử vào tái sử dụng / tùy chọn tái chế
Khuyến khích nghiên cứu sự phát triển và tiêu chuẩn quản lý chất thải nguy hại, giám sát môi trường và quy
định chất độc hại thải xử lý.
Tìm hiểu cơ hội hợp tác với các nhà sản xuất và các nhà bán lẻ để cung cấp dịch vụ tái chế.
Trang 292.2, Trách nhiệm và vai trò của ngành công nghiệp
Các nguồn phát chất thải phải có trách nhiệm xác định đặc tính sản lượng và nên cung cấp các điều kiện quản lý thích hợp
Nhân viên tham gia xử lý chất thải điện tử trong các ngành công nghiệp Các công ty có thể áp dụng các chính sách riêng của họ trong khi xử lý RTĐT Một số gợi ý được đưa ra dưới đây :
• Chuẩn hóa các thành phần để dễ dàng tháo gỡ
• Đánh giá lại sử dụng " sản phẩm giá rẻ '
• Tạo linh kiện máy tính và thiết bị ngoại vi của vật liệu phân hủy sinh học
• Sử dụng chia sẻ công nghệ đặc biệt để sản xuất và để sản xuất
• Khuyến khích / thúc đẩy / yêu cầu mua sắm xanh cho người mua công ty
Áp dụng kỹ thuật giảm thiểu chất thải làm giảm đáng kể lượng chất thải điện tử và những tác động đến môi trường
Áp dụng kỹ thuật giảm thiểu chất thải, mà sẽ làm giảm đáng kể lượng chất thải điện tử được tạo ra
• Các nhà sản xuất có trách nhiệm giáo dục người tiêu dùng và công chúng về các mối đe dọa tiềm tàng đối với sức khỏe cộng đồng
và môi trường gây ra
Trang 30Tặng thiết bị điện tử tái sử dụng kéo dài cuộc
sống các sản phẩm có giá trị và giữ chúng ra
khỏi hệ thống quản lý chất thải trong một thời
gian dài hơn
được thực hiện với thành phần độc hại ít hơn
sử dụng vật liệu tái
chế
là năng lượng hiệu quả