1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Hình tượng tác giả trong tạp văn - Nguyễn Việt Hà

125 240 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 125
Dung lượng 917,75 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hình tượng tác giả trong tạp văn Nguyễn Việt Hà Hình tượng tác giả trong tạp văn Nguyễn Việt Hà Hình tượng tác giả trong tạp văn Nguyễn Việt Hà Hình tượng tác giả trong tạp văn Nguyễn Việt Hà Hình tượng tác giả trong tạp văn Nguyễn Việt Hà Hình tượng tác giả trong tạp văn Nguyễn Việt Hà Hình tượng tác giả trong tạp văn Nguyễn Việt Hà Hình tượng tác giả trong tạp văn Nguyễn Việt Hà Hình tượng tác giả trong tạp văn Nguyễn Việt Hà Hình tượng tác giả trong tạp văn Nguyễn Việt Hà Hình tượng tác giả trong tạp văn Nguyễn Việt Hà Hình tượng tác giả trong tạp văn Nguyễn Việt Hà Hình tượng tác giả trong tạp văn Nguyễn Việt Hà Hình tượng tác giả trong tạp văn Nguyễn Việt Hà Hình tượng tác giả trong tạp văn Nguyễn Việt Hà Hình tượng tác giả trong tạp văn Nguyễn Việt Hà

Trang 1

bộ giáo dục và đào tạo tr-ờng đại học s- phạm hà nội

- -

TẠ ANH NGỌC

hình t-ợng tác giả

trong tạp văn nguyễn việt hà

Luận văn thạc sĩ khoa học ngữ văn

Hà Nội - 2014

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Thị Bình, người

đã dành cho tôi sự quan tâm, sự hướng dẫn tận tình và những gợi ý quý báu trong quá trình thực hiện luận văn

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo chuyên ngành Văn học Việt Nam hiện đại, khoa Ngữ Văn, phòng Quản lý khoa học Trường Đại học

sư phạm Hà Nội đã quan tâm, tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Hà Nội, tháng 10 năm 2014

Tác giả

Tạ Anh Ngọc

Trang 3

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9

4 Phương pháp nghiên cứu 9

5 Đóng góp của luận văn 10

6 Cấu trúc luận văn 10

PHẦN NỘI DUNG 11

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ THUYẾT 11

1.1 Quan niệm về tạp văn 11

2.2 Quan niệm về hình tượng tác giả 17

1.3 Nhu cầu khẳng định kinh nghiệm cá nhân của người viết trong văn xuôi đương đại Việt Nam 24

CHƯƠNG 2: HÌNH TƯỢNG TÁC GIẢ QUA CẢM QUAN ĐÔ THỊ 34

2.1 Khái niệm “cảm quan đô thị” và cảm quan đô thị trong văn xuôi Việt Nam đương đại 34

2.1.1 Khái niệm “cảm quan đô thị” 34

2.1.2 Cảm quan đô thị trong văn xuôi Việt Nam đương đại 35

2.2 Hình tượng tác giả qua cảm quan đô thị 41

2.2.1 Cơ sở hình thành cảm quan đô thị của Nguyễn Việt Hà 41

2.2.2 Cảm quan đô thị của một thị dân 43

2.2.2.1 Về bản sắc văn hoá Hà Nội 43

2.2.2.2 Về đô thị Việt Nam thời hội nhập 55

2.2.2.3 Về đời sống văn hoá nghệ thuật đương đại 65

Trang 4

CHƯƠNG 3: HÌNH TƯỢNG TÁC GIẢ QUA GIỌNG ĐIỆU

VÀ CÁCH THỨC TỔ CHỨC NGÔN TỪ 75

3.1 Hình tượng tác giả qua giọng điệu 75

3.1.1 Giọng hài hước, giễu nhại 76

3.1.2 Giọng triết lí, chiêm nghiệm 85

3.1.3 Giọng trữ tình sâu lắng 91

3.2 Hình tượng tác giả qua cách thức tổ chức ngôn từ 95

3.2.1 Ngôn từ được tổ chức theo lối tự thuật 95

3.2.2 Phức hợp nhiều phong cách ngôn ngữ 98

3.2.2.1 Sử dụng khẩu ngữ đậm chất “phố” 99

3.2.2.2 Gia tăng thuật ngữ chuyên môn, tiếng nước ngoài, sử dụng nhiều điển tích, điển cố 103

3.2.3 Sự phóng túng, tự do trong cấu trúc cú pháp 108

KẾT LUẬN 112 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Tạp văn là một thể loại văn xuôi có lịch sử lâu đời nhưng ở Việt Nam, có một thời gian dài nó gần như không được chú ý vì nhiều người cho rằng đó là thể loại chỉ dành cho những cây bút nghiệp dư kể lể vài ba câu chuyện vụn vặt bông phèng, thổ lộ những cảm xúc, suy tư tản mạn…Nhưng

từ những năm 90 trở lại đây, vị trí của nó đã thay đổi nhanh chóng, từ khởi sắc đến bùng nổ Công chúng ngày càng ưa thích đọc tạp văn tạo ra động lực sáng tác tích cực Sở dĩ như vậy vì tạp văn có đặc trưng thẩm mĩ phù hợp với tâm lí và điều kiện sống của người đọc đương đại Trong bối cảnh công nghệ thông tin ngày càng phát triển, văn hoá đọc đang có nguy cơ bị lấn át bởi văn hoá nghe nhìn, nhịp sống công nghiệp hoá khiến quỹ thời gian của người đọc bị giảm thiểu Đấy chính là cơ sở cho sự lên ngôi của tạp văn Các tờ báo, tạp chí đều có mục dành cho tạp văn Nguyễn Việt Hà nhận xét: “Ngày hôm nay, số người mua và đọc tạp văn thường đông hơn hẳn số người mua và đọc tiểu thuyết Điều này chẳng hiểu nên lo hay mừng” [30; 76] Không ít người khẳng định thời nay là “thời của tản văn, tạp bút” (Trần Hoàng Nhân) Chắc chắn, đây

là mảnh đất giàu tiềm năng mời gọi người quan tâm khám phá, nghiên cứu 1.2 Nguyễn Việt Hà thuộc số những gương mặt được chú ý của văn xuôi Việt Nam đương đại Sau khi thành danh với tiểu thuyết, truyện ngắn, Nguyễn

Việt Hà chuyển sang viết tạp văn và đã đều đặn cho ra đời 4 tập sách Nhà văn

thì chơi với ai (2005), Mặt của đàn ông (2008), Đàn bà uống rượu (2010) và gần đây nhất là Con giai phố cổ (2013) Mặc dù nhà văn từng nói:“Tạp văn

đối với tôi không phải là thứ quan trọng so với truyện ngắn hay tiểu thuyết” nhưng thực sự anh đã dành nhiều hứng thú cho nó, và được nhắc đến như một

cây bút tạp văn “rất Hà Nội”, thông minh, dí dỏm hài hước với “chiêu thức tuý quyền” của một người tỉnh nói giọng say (như cách ví von của Nguyễn

Huy Thiệp) Tạp văn Nguyễn Việt Hà “níu chân” người đọc không chỉ bởi

Trang 6

tính chất đắc thời của thể loại mà bởi phong cách độc đáo, hấp dẫn, mỗi trang viết lại khiến độc giả phải lắng lại, suy nghĩ sâu hơn, tự vấn nhiều hơn về đạo đức, thế sự, về sự tồn vong của mỗi cá thể trong cộng đồng, về cái đẹp, cái tốt

và khắc khoải lo âu về sự mong manh của những giá trị truyền thống, làm dấy lên ở độc giả nỗi lòng ưu thời mẫn thế Thành công của tạp văn Nguyễn Việt

Hà đã góp thêm một căn cứ khẳng định những ưu thế và thành tựu của thể loại này trong dòng chảy của văn xuôi đương đại Việt Nam Qua tạp văn, cái tôi Nguyễn Việt Hà luôn in đậm dấu ấn riêng của một nghệ sĩ đầy bản lĩnh, có cái Tâm với cuộc đời, có trách nhiệm với nghề nghiệp, một cây bút mang cảm quan đô thị đậm nét, có nhiều đóng góp về mặt ngôn ngữ và Đông phương học Đến với tạp văn Nguyễn Việt Hà, độc giả yêu thích cái hài hước dí dỏm

mà bình dị của người viết và trân trọng học vấn uyên thâm, “nói có sách mách

có chứng” rất nghiêm túc Những vấn đề thường nhật, muôn thuở khi đi vào

tạp văn của anh lại dường như mới mẻ, ám ảnh

1.3 Hình tượng tác giả là một phạm trù thẩm mĩ, một nội dung quan trọng của thi pháp học, tồn tại với tư cách một nguyên tắc tạo cấu trúc, một trong những “mẫu số chung” của một mô hình chỉnh thể tác phẩm, “chẳng những cho phép nhận ra phong cách cá nhân mà còn giúp tìm hiểu tính hệ thống của văn bản tác phẩm, mối quan hệ của nó với ý thức về vai trò xã hội

và văn học của bản thân văn học” [32; 25] Không dễ xác nhận hình tượng tác giả trong văn bản bởi hình tượng tác giả là hình tượng chủ thể ẩn không lộ ra ngoài, nhà văn không khắc họa mình, chỉ tự biểu lộ mình qua cái nhìn riêng độc đáo, nhất quán có ý nghĩa tư tưởng, đạo đức thẩm mĩ, ở ngôn ngữ, giọng điệu, ở sự tự thể hiện thành hình tượng Việc tìm hiểu hình tượng tác giả giúp ta đi sâu khám phá thế giới nghệ thuật của nhà văn, nhận diện phong cách tác giả là chiếc chìa khóa thiết thực để giải mã tác phẩm

1.4 Việc nghiên cứu các sáng tác văn học của Nguyễn Việt Hà đã được một số người quan tâm, tuy nhiên mới chủ yếu tập trung vào hai thể loại: tiểu

Trang 7

thuyết, truyện ngắn, phần viết về tạp văn gần như vẫn còn bỏ ngỏ Trong phạm vi khoa Ngữ văn trường Đại học Sư phạm Hà Nội mới có một công trình nghiên cứu tạp văn Nguyễn Việt Hà trên một số đặc điểm nội dung và nghệ thuật nhưng chưa đầy đủ, đặc biệt là bỏ qua khảo sát hình tượng tác giả, trong khi đây lại là một vấn đề quan trọng, một đặc trưng cơ bản của thể loại tạp văn, nơi in đậm dấu ấn phong cách, cá tính sáng tạo, bộc lộ đầy đủ nhất

“chân dung tinh thần” của nhà văn

Bổ khuyết chỗ thiếu hụt này, chúng tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu Hình

tượng tác giả trong tạp văn Nguyễn Việt Hà với mong muốn làm rõ giá trị của

tạp văn Nguyễn Việt Hà từ đặc trưng thể loại, vận dụng cách tiếp cận của thi pháp học hiện đại nghiên cứu hình tượng tác giả để nhận diện chân dung tinh thần tác giả… Từ đó, có thể có cái nhìn toàn diện, đầy đủ hơn về cây bút này trong dòng chảy sôi động của tạp văn đương đại

2.1.Những nghiên cứu chung về sáng tác của Nguyễn Việt Hà

Tuy không trực tiếp bàn về tạp văn nhưng những nghiên cứu chung về sáng tác của Nguyễn Việt Hà có những chỗ gián tiếp liên quan đến phong cách viết tạp văn nên chúng tôi vẫn coi là những mách bảo gợi dẫn có ý

nghĩa Cuốn tiểu thuyết đầu tay “Cơ hội của Chúa” (1999) và tiếp theo đó là

“Khải huyền muộn” (2003) sau khi ra mắt công chúng đã có dư luận khá sôi nổi Bài tổng thuật “Về cuốn tiểu thuyết Cơ hội của Chúa” (1999) trên báo

Th thao văn hóa đã dẫn nhận xét của nhiều người Theo đạo diễn Lê Hoàng

Trang 8

thì “Cơ hội của Chúa là một món nộm ăn lạ miệng, hấp dẫn nhưng vài kẻ ăn

xong để một lúc lâu nghe ngóng bụng mình và bụng các bạn cùng mâm”, “lâu lắm rồi mới có một cuốn tiểu thuyết hấp dẫn đến thế, châm biếm đến thế và

lạy Chúa, trơ tráo đến thế” Đông La nhận xét Cơ hội của Chúa có “văn

phong chững chạc, biến hóa, đầy ấn tượng, mạch văn gọn, ý tưởng nhiều, những mảng hiện thực được phản ánh đúng”, một số nhân vật “có thể còn là hình mẫu cho khá đông một lớp người trong cuộc sống hiện nay Đó là những con đẻ của chủ nghĩa thực dụng, những thị dân lọc lõi, bon chen, giành giật, chơi trội Nhưng họ chưa phải là những kẻ lưu manh thực sự.(…) Chỉ có điều quan niệm của họ về đạo đức, tình yêu, tình dục, về cách thức làm ăn

có "thoáng" hơn lớp cha anh xưa” [51]

Hoàng Ngọc Hiến viết “Đọc Cơ hội của Chúa của Nguyễn Việt Hà”

phân tích nhiều mặt của tác phẩm với những phát hiện sắc sảo của lối đọc hiện đại Ông nhận xét: “Trong tác phẩm có những khái quát “xanh rờn” tất nhiên là không nên cả tin-không nên cả tin bất cứ điều gì những tiểu thuyết gia viết ra-nhưng trên thực tế có giúp người đọc hình dung và suy nghĩ về những thực trạng của xã hội, những vấn đề và những gì thực sự đương diễn ra

trong xã hội ta thời kì đổi mới”

Nguyễn Hòa cho rằng một số sáng tạo kỹ thuật trong Cơ hội của

chúa tiếp tục “tái xuất” trong Khải huyền muộn, nổi lên là “kỹ năng phá vỡ

mạch truyện bằng cách để cho nhân vật, chi tiết, tình huống, ngôn ngữ tràn

ra trên mặt giấy không theo một lớp lang, trình tự nào”, “phải chăng Nguyễn Việt Hà chủ ý “bày ra” một sự “hỗn mang” trong tác phẩm như là muốn đặt chúng trong mối tương ứng với sự “nhiễu loạn” một số giá trị, “nhiễu loạn”

một số tiêu chí trong các quan hệ xã hội - con người đương đại?” [41]

Phùng Gia Thế trong bài Ti u thuyết Nguyễn Việt Hà và thi pháp hậu

hiện đại có đánh giá khá sắc: “dưới một kiểu cảm quan đời sống đặc thù, tiểu

thuyết Nguyễn Việt Hà đã thể hiện khá sinh động những trạng thái tinh thần

Trang 9

tiêu biểu và câu chuyện tâm thức đặc thù của con người thời đại: xem đời sống như một sự hỗn loạn, như những mảnh vỡ, tâm thế hồ nghi tồn tại, đánh mất lý tưởng, loay hoay vô hướng, cõi nhân sinh thiếu vắng tính người, nhà

văn bất lực, không đi tìm chân lý, trật tự cho đời sống nữa, mà “chơi” cùng

nó, chung sống an nhiên cùng nó ” [95]

Nhận thấy điểm tương đồng giữa Nguyễn Việt Hà và Đỗ Phấn ở chỗ

cùng viết về đô thị với cái nhìn từ bên trong, Hoài Nam trong bài viết “Sống ở

phố, viết về phố” có nhận xét hình ảnh đô thị và chân dung người thị dân

đương đại trong những tác phẩm của họ không phải bao giờ cũng đẹp, có lúc

xấu xí, nhếch nhác, “nhưng không thể phủ nhận rằng bao giờ những cái viết

ấy cũng thể hiện một sự thân thuộc đô thị, bao giờ cũng đau đáu một tâm thế thị dân” [69]

Trong lời giới thiệu cho tiểu thuyết mới nhất Ba ngôi của người (2014) của Nguyễn Việt Hà, Nguyễn Trương Quý gọi đó là “không gian và thời gian của vô cùng Hà Nội”, nhân vật của Nguyễn Việt Hà là “những con người của phố phường Hà Nội, bải hoải trong nỗi bận rộn và ồn ã trong sự biếng lười”,

và không gian Hà Nội “có sự chông chênh giữa nét tinh tế nao nao với sự thô

nhám chao chát của đời sống thị dân nơi này”

Theo Lam Thu thì từng câu chữ trong Ba ngôi của người dù trực diện hay gián tiếp đều nói về Hà Nội,“và dù là những từ xấu xí với cái nhìn bi

quan về thủ đô, hay những đoạn miêu tả đẹp về không gian, con người đất Tràng An, vẫn luôn thấy một tấm lòng "xót xa yêu Hà Nội" của Nguyễn Việt Hà” [99]

Ngoài ra còn một số luận văn của trường Đại học Sư phạm Hà Nội:

Bước đầu tìm hi u một số phương diện đổi mới ti u thuyết “Cơ hội của Chúa” của Nguyễn Việt Hà của Hà Thu Nga (2004), Những th nghiệm ti u thuyết của Nguyễn Việt Hà qua “Cơ hội của Chúa” và “Khải huyền muộn”

của Nguyễn Thị Anh Đào (2007); Ngôn từ nghệ thuật Nguyễn Việt Hà của Vũ

Trang 10

Thị Thu Hương (2011); Cảm quan đô thị trong ti u thuyết Nguyễn Việt Hà

của Nguyễn Văn Phương (2012) cũng có một số phát hiện riêng về tiểu thuyết Nguyễn Việt Hà Nhìn chung từ những ý kiến này, chúng tôi thấy có sự tương đồng khá rõ giữa tiểu thuyết và tạp văn của Nguyễn Việt Hà, đó là tình yêu với Hà Nội, là cảm quan đô thị (hay tâm thế thị dân), là sự phá cách trong ngôn từ và cách nhìn trực diện về những vấn đề phức tạp của đời sống

2.2 Những nghiên cứu về tạp văn Nguyễn Việt Hà

Phạm Xuân Nguyên giới thiệu về cuốn tạp văn đầu tiên của Nguyễn Việt Hà: “đọc tạp văn của anh là không dửng dừng dưng được, người đọc bị cuốn theo những chi tiết bất chợt, những kiến thức bất ngờ, những lí giải bất chợt

Và cười, cười tủm tỉm hay cười phá Và thú, như uống trà xong còn đọng lại

dư vị nơi đầu lưỡi… các tạp văn của Nguyễn Việt Hà cho ta thấy cái nghe, cái thấy, cái cảm, cái nghĩ của anh vừa nhanh nhạy sắc bén, vừa tinh nghịch dí dỏm” [72]

Nguyễn Trương Quý nói khái quát ấn tượng về 2 tập tạp văn Đàn bà

uống rượu và Con giai phố cổ rằng: tạp văn Nguyễn Việt Hà “viết về tất cả

những chuyện xảy ra với những người ở đô thị ở thập niên đầu thế kỉ 21 này, chủ yếu ở một Hà Nội loay hoay định nghĩa bản sắc”, một không gian phố phường “đầy nông nổi” nhưng cũng “vừa bàng bạc cao cả siêu hình vừa da diết tinh tế cụ thể” Ông coi những trang viết này là “một thứ mạng xã hội riêng” của Nguyễn Việt Hà, tập trung vào con người đô thị trong đời sống đương đại với đủ thành phần “từ đám đàn ông, những gã khờ và mưu sĩ, rồi những nàng thơ của họ, đến những chuỵên tình ái đọc lên sực nức đùa giễu” Nét độc đáo trong phong cách tạp văn Nguyễn Việt Hà là “khả năng càn lướt

đề tài”, “sự thông minh dí dỏm đặc trưng”, “khi cần phải chứng minh kiến văn của mình, Nguyễn Việt Hà cũng có đầy ắp tra cứu Đông Tây từ chuyện

cũ rích đến chuyện gần đây” với “mạch viết nửa tin nửa ngờ” không theo đuổi một chân lý nào (mặc dù dẫn dụ rất nhiều sách vở từ chương) với những lời

Trang 11

đùa bỡn “như một người rất tỉnh nói bằng giọng có mùi rượu mà có người đã

gọi đó là chiêu thức tuý quyền” Những nhận xét khá sắc sảo, tinh tế này là

của một người cũng viết nhiều tạp văn Nguyễn Trương Quý đã gợi mở cho chúng tôi thấy được những nét đặc sắc của tạp văn Nguyễn Việt Hà từ nhiều góc độ khác nhau

Dương Phương Vinh nêu cảm nhận Nguyễn Việt Hà là “cây bút rất Hà Nội, hài hước, sự đọc thì thiên về phương Đông, có đóng góp về mặt ngôn ngữ” Với Đỗ Hoàng Diệu thì “Nguyễn Việt Hà là hài hước Một thứ thiếu hẳn trong văn học Việt Nam đương đại” Theo cô, nét nổi bật trong lối viết của Nguyễn Việt Hà là “trích chỗ này một tý chỗ nọ nhiều tý ghép lộn với nhau Tây Tàu láo nháo như một nồi lẩu cực ngon vừa ăn vừa xuýt xoa lại chảy nước mắt cười” [105]

Nguyễn Chí Hoan nhận xét tạp văn Nguyễn Việt Hà có phong cách nhại- nét phong cách đã định hình trong truyện ngắn và tiểu thuyết của anh với “các

ma trận những trích dẫn trực tiếp và gián tiếp, liên hệ qua lại với nhau bằng lời bình của người trích dẫn”,“ lấy những chuyện và cách ngôn xưa để nói về

những chủ đề đạo lý ngày nay - tức luôn có tính chất “thông điệp” - một cách mỉa mai hay trào lộng - tức là cách “nhại” điển hình” [43]

Quỳnh Vân nhận xét Nguyễn Việt Hà viết văn như một nhu cầu được giãi bày, được bộc lộ, viết về Hà Nội, về con người trong nhịp sống đô thị mà như viết về chính mình và sự sâu sắc của những trang viết, có lẽ được tạo nên bởi chính những trải nghiệm chân thực đó: “anh đang viết về chính anh, những câu chuyện cũ mới, lời lẽ trong đó vừa cợt nhả, vừa nghiêm túc, vừa thăm thẳm đớn đau và anh chính là một trong những gã "cao bồi già" của Hà Nội…" [104] Với Việt Quỳnh thì: “mỗi bài tạp văn của Nguyễn Việt Hà thường xinh xẻo trên dưới nghìn chữ Các góc đời sống cứ thế xoay vần nhuần nhuyễn và nhẹ nhõm với bằng ấy ngôn từ” [77] Theo cô, nét riêng của

tạp văn Nguyễn Việt Hà là cái chất hồn hậu bộc toạc lại ưa chiêm nghiệm

Trang 12

Còn Yến Hoa thấy tạp văn của Nguyễn Việt Hà gần gũi, đơn giản và chân thật, “câu từ thường dí dỏm, có phần trào lộng về những việc tai nghe mắt thấy đời thường Lại có phần bảo thủ cố hữu, rất tình” Tác giả tinh tế nhận ra

Nguyễn Việt Hà viết nhiều về Hà Nội nhưng khác với các cây bút cùng đề tài này, “dù có ti tỉ thứ bào mòn và làm cho rệu rã, Hà Nội trong mắt Hà, trong văn chương Hà, trong cái lang thang của Hà vẫn giữ nguyên những cốt cách

hồn vía như một ngàn năm trước” Theo tác giả, Hà Nội trong tạp văn Nguyễn Việt Hà “có phần xưa quá vả lại thiên về yêu hơn ghét ”[40]

Trong luận văn thạc sĩ Đặc sắc trong tạp văn Nguyễn Việt Hà (2014),

Trần Thị Hường đã đi sâu vào một số đặc điểm của tạp văn Nguyễn Việt Hà Luận văn tập trung nghiên cứu hình ảnh không gian đô thị và con người đô thị

nhưng chỉ giới hạn ở phạm vi Hà Nội xưa và nay: “Trong các tạp văn của anh

thường viết về con người, không gian phong tục tập quán, những biến động đổi thay của Hà Nội” Tiếp đó, tác giả khảo sát ngôn ngữ, giọng điệu và cấu

tứ Chị nhấn mạnh “lớp từ ngữ thông tục được sử dụng khá phổ biến trong văn của Nguyễn Việt Hà Đó là ngôn ngữ gắn với sinh hoạt đời thường,

không trau chuốt, gọt giũa thậm chí rất suồng sã, bỗ bã” [48], đồng thời chỉ ra

giọng hài hước, dí dỏm và tinh nghịch, giọng đay nghiến, sát phạt cùng lối cấu tứ dựa trên liên tưởng đối lập và thủ pháp liên văn bản của Nguyễn Việt

Hà Chúng tôi cho rằng luận văn đã làm rõ được một số nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của tạp văn Nguyễn Việt Hà nhưng bỏ quên một đặc trưng

cơ bản, nổi bật của thể loại tạp văn, đó là hình tượng tác giả và vì thế, nhiều vấn đề liên quan đến nó chưa được lý giải thấu đáo

Như vậy, đã có một số ý kiến, một số công trình nghiên cứu có giá trị về

sự nghiệp văn học của Nguyễn Việt Hà Tuy nhiên, các nghiên cứu hoặc chủ yếu tập trung vào tiểu thuyết, truyện ngắn hoặc mới chỉ dừng lại ở dạng điểm sách, nhận xét khái quát, chưa có những phân tích, diễn giải, khảo sát cụ thể,

hệ thống về toàn bộ tạp văn của tác giả này Hơn nữa những nhận xét đánh giá

Trang 13

đó chưa đề cập đến phương diện rất quan trọng làm nên đặc trưng thể loại cũng như định hình sắc nét, chân thực “chân dung tinh thần nhà văn”, đó là hình tượng tác giả Dù sao những nghiên cứu đã có cũng giúp chúng tôi nhiều gợi ý hết sức hữu ích để đi sâu nghiên cứu tạp văn của Nguyễn Việt Hà qua hình tượng tác giả

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Từ việc nhận diện đặc trưng thể loại tạp văn đến nhu cầu khẳng định kinh nghiệm cá nhân của người viết trong văn xuôi Việt Nam đương đại dẫn đến

sự phát triển của một số thể loại trong đó có tạp văn, chúng tôi sẽ đi sâu khảo sát hình tượng tác giả trong tạp văn Nguyễn Việt Hà trên các phương diện:

- Hình tượng tác giả qua cảm quan đô thị

- Hình tượng tác giả qua giọng điệu và cách thức tổ chức ngôn từ

Qua đó, chúng tôi cố gắng định hình phong cách, những đóng góp của nhà văn Nguyễn Việt Hà ở thể loại tạp văn

3.2 Phạm vi tư liệu

Chúng tôi tập trung khảo sát 4 tập tạp văn đã được xuất bản của Nguyễn Việt Hà:

- Nhà văn thì chơi với ai (Nxb Hội nhà văn, 2005)

- Mặt của đàn ông (Nxb Hội nhà văn, 2008)

- Đàn bà uống rượu (Nxb Trẻ, 2010)

- Con giai phố cổ (Nxb Trẻ, 2013)

4 Phương pháp nghiên cứu

Từ đối tượng và mục đích nghiên cứu, chúng tôi phối hợp một số

phương pháp nghiên cứu sau đây:

- Phương pháp phân tích theo thể loại: Từ đặc trưng thể loại tạp văn đi sâu nghiên cứu hình tượng tác giả trong tạp văn Nguyễn Việt Hà

Trang 14

- Phương pháp thống kê, phân loại: để tìm những yếu tố nổi bật về nội dung và nghệ thuật trong tạp văn Nguyễn Việt Hà

- Phương pháp so sánh, đối chiếu: Trước và cùng thời Nguyễn Việt Hà, rất nhiều người cũng viết tạp văn, sự so sánh sẽ giúp làm rõ nét độc đáo trong cách viết và phong cách tạp văn của Nguyễn Việt Hà (như tâm lí học sáng tạo, liên văn bản…)

5 Đóng góp của luận văn

- Trên cơ sở lí thuyết về thể loại tạp văn và quan niệm về hình tượng tác giả, về nhu cầu bộc lộ cái tôi cá nhân trong dòng chảy văn xuôi đương đại Việt Nam, luận văn nhận diện, miêu tả và lí giải toàn diện hình tượng tác giả trong tạp văn Nguyễn Việt Hà, chỉ ra dấu ấn phong cách và cá tính sáng tạo của nhà văn

- Chỉ ra nỗ lực định hình phong cách cá nhân, làm mới ngòi bút của Nguyễn Việt Hà cũng như có được một cái nhìn sâu hơn về đóng góp của anh cho văn xuôi Việt Nam đương đại

- Qua sáng tác của Nguyễn Việt Hà, giúp người đọc thêm căn cứ tin cậy

để nhận diện sự vận động của văn xuôi đương đại Việt Nam

6 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, nội dung chính của luận văn gồm

có ba chương:

Chương I: Một số vấn đề lí thuyết

Chương II: Hình tượng tác giả qua cảm quan đô thị

Chương III: Hình tượng tác giả qua giọng điệu và cách thức tổ chức ngôn từ

Trang 15

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ THUYẾT

1.1 Quan niệm về tạp văn

Cho đến nay, tạp văn vẫn còn là một khái niệm có nội hàm chưa được xác định rõ ràng, thể hiện ở những cách gọi tên khác nhau như tản văn, bút ký,

tạp bút, tạp cảm…Từ đi n Tiếng Việt của Bùi Quang Tịnh định nghĩa: “Tạp văn: nhiều loại văn lẫn lộn” Còn Đại từ đi n Tiếng Việt của Nguyễn Như Ý

giải thích: “Tạp văn gồm nhiều thể tài linh hoạt như đoản thiên, tiểu phẩm, tùy

bút” [106; 1495] Theo Từ đi n Tiếng Việt của Hoàng Phê thì: “Tạp văn là loại

văn có nội dung rộng, hình thức không gò bó, bao gồm những loại bình luận

ngắn, tiểu phẩm tùy bút…” [73; 892]

Cách hiểu khái niệm “tạp văn” thực sự đa dạng, thậm chí có những ý

kiến trái chiều Theo Từ đi n Văn học: “Tạp văn là những bài văn nghị luận có

tính nghị luận Phạm vi của tạp văn rất rộng, bao gồm tạp cảm, tùy bút, tiểu

phẩm bình luận ngắn gọn Đặc điểm nổi bật là rất ngắn” [37] Từ đi n thuật

ngữ văn học định nghĩa: “Tạp văn là những áng văn tiểu phẩm có nội dung

chính trị, có tác dụng chiến đấu mạnh mẽ Đó là một thứ văn vừa có tính chính luận sắc bén, vừa có tính nghệ thuật cô đọng, phản ánh và bình luận kịp thời các hiện tượng xã hội” Các nhà biên soạn sách dẫn ra một ví dụ: “Chẳng hạn như tạp văn của Lỗ Tấn, được ông gọi là dây thần kinh cảm ứng, là chân tay tiến công và phòng thủ, là dao găm và mũi lao, có thể cùng bạn đọc mở ra một con đường để sinh tồn” [32] Chính Lỗ Tấn từng viết: “Kỳ thực cái gọi là tạp văn cũng không phải là món hàng mới mẻ ngày xưa cũng đã có Phàm là văn chương, nếu xếp loại thì có loại để mà xếp, bất kể thể gì, mọi thể đều xếp vào một chỗ cả, thế là thành tạp” Lỗ Tấn đặc biệt đề cao vai trò tạp văn, bút ký, chính luận, ông xem tạp văn là loại “ngôn chí hữu vật” Tạp văn thể hiện chức năng của nghệ thuật, tham gia vào việc đấu tranh của xã hội

Trang 16

Đỗ Hải Ninh xem tạp văn là một dạng nhỏ của tản văn: “Chúng tôi quan niệm tản văn là một loại văn ngắn gọn, hàm súc với khả năng khám phá đời sống bất ngờ, thể hiện trực tiếp tư duy, tình cảm của tác giả, bao gồm cả tạp

văn, tùy bút, văn tiểu phẩm” (Kí trên hành trình đổi mới) Hoàng Ngọc Hiến

coi tạp văn là một tiểu loại của kí: “Trong nghiên cứu văn học Việt Nam đương đại, kí là một thuật ngữ dùng để gọi tên một thể loại văn học bao gồm nhiều thể hay nhiều tiểu loại, bút kí, hồi kí, du kí, chính luận, phóng sự, tùy bút, tản văn, tạp văn, tiểu phẩm (ét-xe)” [35]…Dương Ngọc Dũng cho rằng:

"Tạp văn là một thuật ngữ rất tạm thời vì chính bản thân tác giả không biết

dùng cụm từ nào để mô tả những bài viết đăng rải rác trên báo Tuổi trẻ chủ

nhật, Nguyệt san pháp luật, Sài Gòn tiếp thị" Tác giả nhận định thêm: "Tạp

văn chỉ là những đoản văn đọc cho vui, ngắn gọn, dễ hiểu, hơi gây sốc một chút nếu cần, không phải là những chuyên luận đăng trên tạp chí chuyên ngành Chủ đề thì không có gì nhất định, lan man từ những mẩu chuyện vụn vặt có thật trong đời sống xã hội Mỹ, đến một tiểu phẩm tưởng tượng hoàn toàn, hay các bình luận thoáng qua về Shakespesre, cổ sử Trung Quốc Độc

giả có thể mở sách ra, thích đâu đọc đấy, không cần phải quá bận tâm về độ

chính xác hay hàm lượng thông tin của bài viết" [16]

Phạm Thị Hảo quan niệm: "tạp văn là một loại tản văn, bao gồm nhiều hình thức: Tạp cảm, tạp đàm, tạp luận loại này yêu cầu phải có sự quan sát tìm hiểu và phân tích sâu sắc cuộc sống xã hội, phải nhạy bén phản ánh những

sự kiện xã hội và khuynh hướng xã hội, bằng ngòi bút sắc sảo, lão luyện, đánh trúng vào những chỗ yếu của sự việc Loại văn này, tác phẩm ngắn, thường mang tính tư tưởng cao, giàu tính chiến đấu đồng thời giàu tính nghệ thuật.(…) Cho đến nay thể loại tạp văn vẫn phát triển với diện mạo và nội dung ngày càng phong phú” [34]

Trần Đình Sử xem tạp văn là những tác phẩm “gắn rất chặt với đời sống đương đại, nó sống cùng dòng chảy cuộc đời Đặc trưng cơ bản nhất cuả tạp

Trang 17

văn là thể văn xuôi ngắn, vừa tự sự vừa trữ tình, vừa chính luận, cốt sao bày tỏ

tư tưởng, tình cảm, thái độ của người viết một cách sắc sảo, nổi bật, gây ấn tượng cho người đọc” [90]

Rõ ràng có sự “nhập nhằng”, mơ hồ khi sử dụng hai khái niệm tạp văn

và tản văn, có khi tản văn bao hàm tạp văn, khi khác thì ngược lại Cùng sáng tác của một tác giả, có người gọi là tản văn, người khác lại gọi là tạp văn Thực tế này xuất phát từ một quan niệm mở về tạp văn Tản văn và tạp văn đều là những thể có nguồn gốc Trung Quốc được du nhập vào Việt Nam, khó tìm thấy trong ngôn ngữ Châu Âu những khái niệm có nội hàm tương đương Trong quá trình phát triển của văn học Việt Nam, nội hàm khái niệm đã có sự biến đổi Khái niệm tản văn được sử dụng chủ yếu để xác định một thể thức tổ chức văn bản Dựa vào thể thức tổ chức văn bản, lí luận cổ Trung Hoa chia văn bản thành ba loại: vận văn (văn vần), tản văn (văn xuôi) và biền văn (văn biền ngẫu) Đỗ Đức Hiểu quan niệm tạp văn là một nhánh của tản văn, là một biến thể của văn nghị luận, có cả tính nghị luận lẫn tính trữ tình, thường rất ngắn, hình thức đa dạng, dùng đủ các loại thủ pháp tu từ để chuyển tải kiến

giải và tình cảm, ngôn ngữ linh động, uyển chuyển mà giàu tính châm biếm [37] Theo ông, tạp văn ngày nay phân thành 3 loại: văn châm biếm; văn

chương thông qua những sự việc thường nhật nói về lí tưởng nhân sinh; văn chương vừa có yếu tố ghi chép, vừa có yếu tố tình cảm như nhật kí, tùy bút,

bút kí Có thể thấy, tạp văn và tản văn có nhiều chỗ giao nhau

Nhìn chung, giới nghiên cứu có xu hướng cho tạp văn cũng giống như tản văn, kí đều là những thể loại trung gian, cận văn học, nằm giữa báo chí và văn chương Tạp văn là thể loại văn xuôi ngắn gọn, hàm súc, có sự kết hợp linh hoạt các loại văn phong, các phương thức phản ánh đời sống phù hợp với nhu cầu thưởng thức của độc giả hiện đại Nội dung tạp văn khá phong phú đa dạng, có thể là những thiên “tạp luận” liên quan đến các vấn đề chính trị - xã hội mang tính chính luận sắc sảo, cũng có thể là những thiên “tạp cảm” giàu

Trang 18

cảm xúc trữ tình, mang đậm dấu ấn phong cách cá nhân tác giả Tạp văn thường chớp lấy một ý nghĩ, một khoảnh khắc suy tư, một thoáng liên tưởng bất ngờ, độc đáo, đậm tính chủ quan, chứa nhiều ý tưởng ngầm trong một dung lượng ngắn

Các cây bút tạp văn cũng nhiều người phát biểu quan niệm riêng về thể loại Với Nguyễn Trương Quý, tạp văn ngày nay là một hình thức văn chương trên các phương tiện báo viết, nó phản ánh trung thực và trực tiếp tâm thế người viết khi đối diện với tất cả các vấn đề của đời sống xã hội, nhân sinh:

“Trong khi truyện ngắn hay tiểu thuyết đòi hỏi phải diễn đạt bằng nhiều thủ

pháp hư cấu chín để phản ánh hiện thực sống thì tản văn hay tùy bút dường

như sinh dưỡng ngay trên hiện thực đang diễn ra Dĩ nhiên nó không phải

món nộm hay gỏi trộn qua quýt” Nói về ấn tượng chủ quan của người viết, ông cho rằng: “họ chọn lấy những chi tiết hay đặc điểm theo họ là quan trọng

hơn cả để mô tả nhưng vẫn vẽ lại được khung cảnh toàn diện về đối tượng” [79] Nguyễn Vĩnh Nguyên thì quan niệm: “Trong lịch sử văn chương, triết học, lịch sử của nhân loại, ngay từ thời cổ đại, tản văn chưa bao giờ là bị coi

là “thứ văn” cả Lãnh địa sáng tạo, thể nghiệm ở thể loại này vẫn còn hết sức rộng mở với mọi người viết chuyên tâm” [10] Theo tác giả này, tạp văn gắn chặt vào hiện thực và mang đậm tính chủ quan trực tiếp của người viết Lý trí độc lập sẽ giúp người viết chọn lọc chi tiết, văn phong thể hiện, xử lý cấu trúc, lèo lái vấn đề một cách tỉnh táo, sắc sảo Trong khi đó, tính trữ tình, cảm xúc làm nên gia vị, sự linh hoạt, đem lại sức cuốn hút cho câu chuyện mà người ta vẫn gọi là “cái duyên”

Trong bài Đàn ông viết tạp văn Nguyễn Việt Hà nhận định rằng tạp văn như “một thứ quà vặt, nhí nhách chỗ hội thảo đông người hay lúc cô đơn chờ

tình đều vừa răng thích miệng Hoặc là ám ảnh về một cuốn sách vừa đọc Hoặc là nghẹn ngào của một mối tình vừa tan Hoặc bức xúc về những dung tục vừa mới thô bạo chợt xảy, đại loại là những ký ức vụn”, “nhưng với

Trang 19

nhiều đàn ông, ví như văn hào Lỗ Tấn (1881-1936) người Tầu chẳng hạn,

tạp văn là nghiêm ngắn Nó vừa có thể chở bao nhiêu đạo thuyền không

khẳm lại vừa đâm mấy thằng gian bút chẳng tà (thơ cụ đồ Chiểu) Lỗ tiên

sinh có công mặc định chữ tạp văn, trước ông, thiên hạ hay dùng tạp cảm

tạp lục hoặc tạp bút tạp ghi Văn nghiệp của tiên sinh có vô số tạp văn

tuyệt vời tới mức kinh điển” [30; 73] Tác giả gọi tạp văn là “vụn văn”, sống nhờ báo chí, đặc điểm của thể loại này là “bác tạp”, “tức thời”, một thứ “ăn ngay” nên ngày ngày bào mòn nội lực người viết Tạp văn ngày nay “được đất tha hồ cuồn cuộn chảy”, cũng có loại để kiếm tiền, loại không kiếm tiền,

có lẫn lộn hay dở, sang hèn… nhưng theo anh, thứ mẫu mực của tạp văn không kiếm tiền thường được tập hợp in thành sách hoặc thường thấy ở hình thức “entry” rưng rưng cảm xúc trên mênh mông các blog Đấy đều là “những đoản văn vô tư vô danh vô lợi không diêm dúa chẳng tu từ, nhiều khi bâng quơ nhỡ đọc bỗng dưng xót xa bật cười đau buốt ruột Nhìn kĩ lại màn hình, chợt thấy những vệt chữ sao mà giống y như những vệt nước mắt” [30; 75] Tạp văn gần giống như thơ lục bát rất dễ làm nhưng rất khó hay Vì vậy, nhiều người viết tạp văn nhưng không thành công vì không có cảm xúc Có điều người viết chuyên nghiệp mà chỉ trông vào cảm xúc thì hỏng vì cảm xúc không đều đặn mãi được

Trên cơ sở tập hợp, hệ thống hoá các ý kiến bàn về tạp văn, chúng tôi đi đến xác định một số đặc trưng thể loại cơ bản như sau:

Tạp văn là những tác phẩm văn xuôi ngắn gọn, hàm súc (dung lượng chỉ khoảng tám trăm đến một nghìn hai trăm chữ); vừa vặn một trang hay một cột báo Dung lượng nhỏ nhưng tạp văn có thể đề cập đến tất cả các khía cạnh của đời sống xã hội: đời sống vật chất, những góc khuất tinh thần, những bề nổi và mạch chìm của bộn bề những mối quan hệ đời thường đa sự, đa đoan phồn tạp

mà vĩnh hằng, những suy cảm và nỗi lòng người viết trước nhân tình thế thái… “từ những góc khuất riêng tư, những trạng thái linh diệu của hồn người

Trang 20

đến những sự kiện có tầm vóc quốc gia, quốc tế, từ những khoảnh khắc ngắn ngủi, sâu kín đến những vấn đề muôn thủa, muôn đời; từ những điều hiện hữu hôm nay đến những điều đã lùi sâu trong quá khứ hoặc những dự cảm về tương lai; từ những sự vật có hình hài, thanh sắc đến những ấn tượng vô hình trong thế giới của những ý niệm hay trực giác mơ hồ ” [68] Đời sống đầu tiên của tạp văn thời hiện đại là báo chí cho nên tạp văn gắn rất chặt với hiện thực đương đại, “nó như một thứ rượu được chưng cất, một thứ mật được chắt lọc Người viết giỏi là làm sao cho thứ rượu ấy không nhạt, thứ mật ấy đậm đà

và quyện hương của ngàn hoa" [35] Có khi tạp văn không phải là rượu cũng chẳng phải mật Nó như một cây kim đâm vào xương thịt, nhức nhối, thậm chí đau đớn, để người ta phải giật mình, hoặc thảng thốt rồi không sao quên được

Số đông cho rằng: “hiện nay là thời của tạp bút khi quỹ thời gian của người đọc không đủ dành cho tiểu thuyết dông dài Tạp bút, tản mạn đâu phải chuyện thiên tào, mà lại chuyện rất người” [70] Thường được cấu tứ quanh một hình ảnh, một chi tiết hoặc một tình huống để làm nổi bật tư tưởng chủ

đề, người viết viết tạp văn với mong muốn phản ánh, bộc lộ kịp thời, thậm chí ngay lập tức suy nghĩ, quan điểm, cách đánh giá của mình trước một vấn đề cuả cuộc sống cho nên cả tác phẩm chỉ tập trung làm nổi một âm sắc, một tình cảm cơ bản Theo đó, hệ thống hình ảnh, chi tiết được sử dụng cũng hết sức tinh lọc, ngắn gọn, sự liên kết các chi tiết, sự kiện thường đơn giản, không quá tản mạn như trong tùy bút nên người đọc dễ dàng nhận ra ẩn ý mà người viết gửi gắm Đây phải chăng là điểm khiến tạp văn phù hợp với báo chí và dễ thu hút người đọc?

Một đặc trưng cơ bản khác của tạp văn là tính chủ quan, cá nhân trong cách nhìn nhận, đánh giá vấn đề Có thể nói, tác giả vừa là chủ thể biểu hiện vừa là đối tượng miêu tả trung tâm “Cái tôi” nhà văn là “cái tôi” thể nghiệm, chiêm nghiệm, là con người của những suy tư, cảm xúc, ngẫm ngợi Sự thực đời sống trong tạp văn chỉ có vai trò như một trong những loại vật liệu dùng để cụ thể hóa,

Trang 21

hình tượng hóa cái chủ quan của tác giả Nhà văn “muốn góp những tiếng nói chân thực và biểu lộ chính kiến của chính họ về tất cả các vấn đề trong cuộc sống(…) bộc lộ trực tiếp cái tôi của người sáng tác” [68] Có thể nói, ở tạp văn, nhà văn lấy chính “sự sống” cuả mình tạo nên hình hài và giá trị cho tác phẩm, là nơi chân dung tinh thần anh ta hiện lên trực tiếp và chân thực nhất

Tính năng động linh hoạt của tạp văn cho phép kết hợp các loại văn, các phương thức nghệ thuật hết sức tự do, tạo nhiều cơ hội “phá cách” cho ngòi bút Nó kết hợp cả những yếu tố của văn nghệ thuật và văn thông tấn, dung nạp cả phương thức tự sự, trữ tình và nghị luận… Khả năng dung hợp thể loại đem lại cho tạp văn diện mạo phong phú, có độ co giãn, dễ thích ứng và giàu khả năng tạo ra cái mới Nói như Ngô Tất Tố thì: “Tạp văn là một lối văn đặc biệt Nếu xương thịt của nó là sự việc hàng ngày, thì tim óc của nó là tính khí của nhà văn, xu hướng của thời đại Nhẹ nhàng mà vẫn thâm thuý, thẳng thắn

mà vẫn kín đáo, cứng rắn mà không làm mất duyên dáng, nghiêm nghị mà không làm mất thân mật, bóng bẩy nhưng vẫn rõ ràng như cục đất ném vào mặt, với một chút gì, như chất phác, tinh nghịch, như dí dỏm, khóc hổ ngươi, cười ra nước mắt, đó là tạp văn” [45]

Những phân tích của chúng tôi trên đây nhằm xác định một cách tương đối bản chất thể loại tạp văn, giúp cho việc nhận diện sự vận động, phát triển của thể loại này trong dòng chảy của văn học Việt Nam hiện đại, từ đó chỉ ra đóng góp của một cây bút cụ thể là Nguyễn Việt Hà

2.2 Quan niệm về hình tƣợng tác giả

“Tác giả” cũng như “tác phẩm” là những khái niệm cơ bản, được sử dụng nhiều trong lịch sử văn học và phê bình văn học Nhìn từ góc độ thi pháp học thì văn bản không tự nhiên sinh ra mà phải có một chủ thể sáng tạo ra nó, đó

là tác giả “Tác giả là trung tâm tổ chức nội dung và hình thức cái nhìn nghệ thuật trong tác phẩm, là người mang cảm quan thế giới đặc thù và là trung tâm

tổ chức lại ngôn từ theo nguyên tắc nghệ thuật” [89; 126] Còn hình tượng tác

Trang 22

giả lại là cái mà độc giả cảm nhận được qua thế giới nghệ thuật tác giả tạo ra

Để hiểu đúng bản chất khái niệm cần có sự phân biệt khái niệm hình tượng tác giả với cái tôi tiểu sử, người kể chuyện và nhân vật xưng tôi với tác giả - nhà tư tưởng xã hội và thẩm mĩ Hình tượng tác giả có chỗ gần gũi nhưng không đồng nhất với nhân vật xưng tôi và người kể chuyện Đó là hai hình tượng khách quan mà nhà văn sáng tạo ra bằng tưởng tượng, hư cấu Tác giả không được đứng ra trực tiếp kể chuyện mà cần phải có người kể hộ, do đó hình tượng tác giả không phải là hình tượng người kể chuyện mà là con người do bạn đọc quy nạp, suy ra từ tác phẩm Hình tượng tác giả là một phạm trù của thi pháp học nên cũng không phải tác giả tiểu sử, tác giả- nhà tư tưởng xã hội và thẩm mĩ (là phạm trù ngoài thi pháp, đối tượng mà lịch sử văn học thường quan tâm)

Theo Từ đi n thuật ngữ văn học, hình tượng tác giả là “phạm trù thể hiện

cách tự ý thức của tác giả về vai trò xã hội và vai trò văn học của mình trong tác phẩm, một vai trò được người đọc chờ đợi ( ) Cơ sở tâm lí của hình tượng tác giả là hình tượng cái tôi trong nhân cách mỗi người thể hiện trong giao tiếp( ) Hình tượng tác giả có tính chất loại hình sâu sắc nhưng cũng mang đậm cá tính tác giả, khi vai trò của cá tính sáng tạo của cái tôi cá nhân được ý thức đầy đủ” [32; 149] Theo đó, hình tượng tác giả là “cái tôi” nhà văn thể hiện trong tác phẩm, mang dấu ấn chủ quan, cá biệt, không trộn lẫn Hình tượng tác giả giúp nhận ra trình độ tự giác của chủ thể sáng tạo

Trần Đình Sử cho rằng hình tượng tác giả được sáng tạo ra trong tác phẩm như hình tượng nhân vật nhưng theo một nguyên tắc đặc biệt, đó là tự biểu hiện

sự cảm nhận và thái độ thẩm mĩ đối với thế giới xung quanh Trong văn học, mỗi nhà văn thường biểu hiện mình như người phát hiện, người khám phá cái mới, người có nhãn quan cấp tiến, có cá tính nghệ sĩ Mỗi nhà văn phải tìm được một cách viết riêng, độc đáo, có cảm quan mới mẻ để phát hiện, lí giải những vấn đề của đời sống “Nếu một nhà văn không có gì mới, không có gì riêng thì có thể nói anh ta không phải là một tác giả đáng chú ý” [89; 128]

Trang 23

Chính vì được tạo ra theo một nguyên tắc riêng biệt mà hình tượng tác giả được tự do bộc lộ và in dấu ấn cá nhân trong sáng tạo Nói như I.W.Goeth thì: “Mỗi nhà văn, bất kể muốn hay không, đều miêu tả chính mình trong tác phẩm của mình Có nghĩa là cái tôi nghệ sĩ của nhà văn biểu hiện cảm nhận của mình về thế giới xung quanh, cách suy nghĩ và ngôn ngữ, cách diễn đạt của mình” [89; 128] Bakhtin cũng quả quyết rằng: “Không có hình tượng tác giả ngoài tác phẩm, tư tưởng nhà văn chỉ tồn tại trong tác phẩm” [46]

Hình tượng tác giả không chỉ là sự phản ánh “cái tôi” tác giả vào tác phẩm, thể hiện mối tương quan giữa người sáng tạo văn học và bản thân văn học mà còn là vấn đề của cấu trúc nghệ thuật, sự thể hiện của chủ thể Vì thế, việc nắm bắt được hình tượng tác giả sẽ giúp chúng ta dễ dàng hơn khi giải

mã thế giới nghệ thuật và khám phá những nét độc đáo, riêng biệt trong phong cách tác giả, thấy được “cái tôi thứ hai” của nhà văn (khác với “cái tôi thứ nhất” chính là người nghệ sĩ ngoài đời thực)

Hình tượng tác giả biểu hiện tập trung ở phương diện nào còn tuỳ thuộc vào cá tính sáng tạo của nhà văn và thể loại được lựa chọn Ở thơ trữ tình không thể không chú ý tới cái tôi trữ tình, còn với văn xuôi tự sự thì cần quan tâm tới người kể chuyện “Dù kể chuyện bằng ngôi thứ nhất hoặc ngôi thứ ba thì nhân vật người kể chuyện cũng là nơi tác giả gửi gắm những suy nghĩ của bản thân về thế giới xung quanh Vì thế nhân vật người kể chuyện thường có liên quan mật thiết với tác giả Và nghiên cứu hình tượng tác giả của một nhà văn khó có thể không chú ý đến nhân vật người kể chuyện” [1; 16]

Việc nhận diện các biểu hiện của hình tượng tác giả trong tác phẩm không hề dễ dàng Chúng tôi đồng tình với ý kiến của nhà nghiên cứu Trần Đình Sử khi ông cho rằng, hình tượng tác giả được biểu hiện chủ yếu ở: cái nhìn riêng, độc đáo, nhất quán có ý nghĩa tư tưởng, đạo đức, thẩm mĩ; giọng điệu của tác giả thâm nhập vào cả giọng điệu nhân vật; ở sự miêu tả, hình dung của tác giả đối với chính mình

Trang 24

“Cái nhìn” là một năng lực tinh thần đặc biệt của con người, có thể thâm nhập vào sự vật hiện tượng, phát hiện ra những đặc điểm, quy luật của nó mà vẫn ở ngoài sự vật, bảo lưu toàn vẹn tính thẩm mĩ của sự vật hiện tượng Khrapchenko nói: “Chân lí cuộc sống trong sáng tác nghệ thuật không tồn tại bên ngoài cái nhìn nghệ thuật có tính cá nhân đối với thế giới, vốn có ở từng nghệ sĩ thực thụ” [62; 66)] Nghệ thuật không thể thiếu “cái nhìn” “Cái nhìn”

vô cùng phong phú, muôn vẻ, muôn dạng, ở những nhà văn tài năng, có phong cách riêng thì “cái nhìn” càng mới mẻ, độc đáo “Đối với nhà văn cũng như đối với nhà hoạ sĩ, phong cách không phải là vấn đề kĩ thuật mà là vấn đề cái nhìn” (M.Proust) “Cái nhìn” thể hiện trong tri giác, cảm giác, quan sát, trong phạm vi các chi tiết đời sống mà nhà văn nắm bắt, trong “cái nhìn” có sự lựa chọn nên có thể phát hiện cái đẹp, xấu, hài, bi, cao cả… “Cái nhìn” xuất phát

từ một cá thể, mang thị hiếu và tình cảm yêu ghét, chịu tác động của trường liên tưởng, tưởng tượng, cảm giác nội tâm… Cái nhìn nghệ thuật bị quy định bởi khung tri thức văn hoá thời đại và cá tính nghệ sĩ, thể hiện rõ nét năng lực tinh thần, sự nhạy bén sắc sảo, chiều sâu tư tưởng, khả năng tiếp cận, khám phá của người nghệ sĩ trước cuộc sống “Cái nhìn” thường được khám phá ở hai phương diện: góc nhìn, cách nhìn và đối tượng, sản phẩm của cái nhìn, ở các chi tiết, cách miêu tả trong tác phẩm Vì vậy việc xác định được cái nhìn nghệ thuật, cảm quan đời sống của nhà văn là điều vô cùng quan trọng

Giọng điệu cũng là một yếu tố đặc trưng của hình tượng tác Mỗi tác giả, tác phẩm có một giọng điệu riêng, in dấu khuynh hướng tư tưởng thẩm mĩ của nhà văn Giọng điệu là một phương diện quan trọng biểu hiện chủ thể tác giả

“Giọng điệu phản ánh lập trường xã hội, thái độ tình cảm và thị hiếu thẩm mĩ của tác giả, có vai trò rất lớn trong việc tạo nên phong cách nhà văn và tác

dụng truyền cảm cho người đọc” [32; 112] Điểm nổi bật của giọng điệu là

tính “siêu văn bản” nhưng qua nó, nhà văn thể hiện sắc nét thái độ, tư tưởng, tình cảm Sự phong phú trong giọng điệu xuất phát từ mối quan hệ giữa chủ

Trang 25

thể và khách thể, từ sự lựa chọn thể loại, lời văn nghệ thuật và các motif, hình tượng… Sự đa dạng trong giọng điệu biểu hiện những cách nhìn, cách cảm, cách đánh giá đời sống… trong nhiều hoàn cảnh, nhiều thời điểm khác nhau của nhà văn Giọng điệu thể hiện rất rõ phong cách riêng của người nghệ sĩ và đặc biệt có khả năng truyền cảm cho độc giả Lê Ngọc Trà nhận định: “Trong giọng thể hiện cả nhận thức, thái độ, lối sống và cả nội lực của nhà văn (giọng nhiều khi cũng có nghĩa là hơi văn, văn khí) Đồng thời, giọng cũng là cái không lẫn được Chính tính tổng hợp và độc đáo ấy làm cho giọng trở thành

nhân tố mang phong cách rất rõ [103; 152]

Nói gọn lại, trong tác phẩm, “giọng điệu mang nội dung tình cảm, thái

độ, ứng xử trước các hiện tượng đời sống” [89; 12] Nền tảng của giọng điệu chính là cảm hứng chủ đạo của nhà văn, bên trong cảm hứng là thái độ của người nghệ sĩ với đối tượng miêu tả và đối với người đối thoại ở trong hay ngoài tác phẩm, là chất giọng bắt nguồn từ bản chất đạo đức của tác giả Tìm được cảm hứng sẽ nhận diện được giọng điệu Việc tìm hiểu giọng điệu là chìa khóa quan trọng để thâm nhập vào thế giới tinh thần của nhà văn

Phương diện thứ ba của hình tượng tác giả là sự tự thể hiện của tác giả Không phải bất kì tác phẩm nào nhà văn cũng có ý thức tạo lập hình tượng của mình mà chỉ có khi tác giả có nhu cầu tự bộc lộ “cái tôi” cá nhân Có những tác phẩm không có nhân vật xưng “tôi” nhưng tác giả vẫn hiện diện rõ nét Có khi hình tượng tác giả hình thành một cách vô thức hoặc có ý thức nhưng sự hiện diện của tác giả trong tác phẩm là không thể phủ nhận Có điều không được đồng nhất hình tượng tác giả với người nghệ sĩ có thực ngoài đời

để tránh suy diễn tùy tiện, áp đặt chủ quan, khiên cưỡng

Như vậy, cái nhìn nghệ thuật, giọng điệu và sự tự thể hiện của tác giả thành hình tượng là những phương diện cơ bản tạo nên hình tượng tác giả, hoàn thiện bức chân dung tinh thần nhà văn, giúp cho người đọc khám phá được những nét đặc sắc, độc đáo trong phong cách tác giả

Trang 26

Tạp văn, do đặc trưng thể loại, có hình tượng trung tâm là cái tôi tác giả

“Cái tôi” của nhà tiểu thuyết ẩn vào hình tượng nhân vật, vào cách nhìn nhận đánh giá đối với đời sống, được toát ra từ tương quan giữa cái nhìn, quan niệm đối với các chất liệu và các thành tố của tác phẩm Cái tôi nhà thơ được bộc lộ rõ hơn nhưng phải thông qua thao tác chuyển hoá thế giới nội tâm vào một nhân vật có tính hư cấu là nhân vật trữ tình Ở tạp văn, thường có cảm giác nhà văn là nhân vật duy nhất cất lên tiếng nói trực tiếp về những điều mình quan tâm, mình nghe, nhìn, cảm thấy hoặc trực tiếp trải nghiệm… bởi giữa chủ thể lời nói trong tác phẩm và bản thân tác giả có một sự thân cận đặc biệt Chủ thể lời nói nghệ thuật được cảm nhận như một hình tượng nhân vật

và hình tượng này rất gần gũi, như một phiên bản của tác giả Toàn bộ văn bản nghệ thuật được viết dưới cái nhìn, ý thức và giọng điệu của nhân vật này

So với các thể loại khác như tiểu thuyết hay thơ trữ tình thì sự gián cách giữa nhà văn và nhân vật này không quá lớn, hầu như khó nhận thấy Nó khiến cho người đọc cảm thấy như đang được đối diện trực tiếp với người viết Thậm chí một số cây bút tạp văn cho rằng viết tạp văn là cứ nguyên hình dạng vốn có mà bước vào trang sách “không hề trang điểm, trang sức mà cứ trần trụi ra mắt bạn đọc Hễ điều gì nói ra đều là những điều phát tự lòng mình, không một chút giả dối, điểm tô Tác giả dường như thủ thỉ tự nói một mình, tự thổ lộ nỗi niềm, hoặc như trút bầu tâm sự với người quen cũ lâu ngày gặp lại Qua tác phẩm của

họ, bạn đọc thấy ngay được bản sắc, bản tướng của họ” (Tiền Cốc Dung) Có lẽ vậy nên trong tạp văn, chủ thể nhà văn được hiện diện khá cụ thể về diện mạo tinh thần, bản lĩnh sáng tạo, cá tính, cuộc đời riêng

Ở phương diện hình tượng tác giả trong tạp văn, tự biểu hiện là nguyên tắc được đặt lên hàng đầu, do đó cái tạo nên sức mạnh của tạp văn là ở nhân cách, bản lĩnh, tầm tư tưởng, sự sâu sắc, sự uyên bác, tài hoa, lịch lãm của chính người nghệ sĩ “Cầm bút viết tản văn là người viết có ý thức về sự suy nghĩ độc lập và mạnh dạn trình bày những suy nghĩ và cảm xúc thật sự riêng

Trang 27

của mình” [35; 15] Với nguyên tắc tự biểu hiện, nhiều nhà văn lấy ngay “sự sống” của mình ra làm vật liệu để nhào nặn nên tác phẩm Anh ta trình bày những vấn đề liên quan trực tiếp đến cá nhân mình, những gì mình trải nghiệm bằng đôi mắt, trái tim, những suy ngẫm chiêm nghiệm Nguyên tắc tự biểu hiện khiến cho cái tôi nhà văn ít bị khúc xạ qua nhân vật này hay nhân vật kia và chân dung tinh thần của họ hiện ra sắc nét, trung thực

Các ngòi bút tạp văn thường dựa vào những sự vật, hiện tượng, những thông tin mang tính thời sự, cụ thể xác thực để nhân đó bộc lộ xúc cảm, chính kiến, triết lí về đời sống Chất liệu hiện thực đó không phải tồn tại như mục đích tự thân mà trở thành phương tiện giúp nhà văn tự bộc lộ “Thông qua người và việc để bạn phô bày cảm hứng của bạn đối với trời đất, vũ trụ, phô bày thể nghiệm của bạn đối với đời sống” (Giả Bình Ao) Từ chất liệu đó mà người đọc có thể thấy một sự phát hiện, một sự sống của chính chủ thể sáng tạo Tác giả có thể tái hiện và mô tả, có thể hư cấu các nhân vật, chi tiết, tình huống… song nổi lên như một hình tượng chính vẫn là con người suy cảm của anh ta Các chi tiết trong tạp văn thường không gắn kết thành một bức tranh đời sống mang tính khách quan như trong loại tác phẩm tự sự khác mà

là những tín hiệu biểu lộ chủ thể nhà văn, các mảng mảnh của hiện thực đời sống thường hoà hợp sâu sắc với sự thể nghiệm cuộc sống, quá trình sống của chủ thể, được liên kết trong một “trường cảm quan”, một ý tưởng mang đậm màu sắc tư duy cũng như cá tính riêng

Tạp văn là loại tác phẩm có khuynh hướng biểu lộ trực tiếp thế giới tinh thần của người viết, thông tin sự kiện không hẳn được coi trọng mà cốt ở cách nhìn, cách luận giải, ở sự thể nghiệm những phản ứng tinh thần của bản thân người viết trước các hiện tượng của đời sống Nói như Nguyễn Việt Hà, “khi

dịch tạp văn của tôi ra tiếng Tây, dịch giả dùng thuật ngữ essay, nôm na là một bài luận Và đại loại đã là một thứ luận thì chủ quan của người viết thường bộc

lộ trực tiếp, hình bóng của người viết thường in dấu trên đấy khá đậm”

Trang 28

Bởi vậy, khi tìm hiểu tạp văn, điều quan trọng là đi sâu tìm hiểu hình tượng tác giả và các phương diện biểu hiện của hình tượng ấy trong tác phẩm như thế nào mới thấy được những nét đặc sắc, nổi bật của phong cách tác giả

và diện mạo riêng trong sáng tạo của người nghệ sĩ

1.3 Nhu cầu khẳng định kinh nghiệm cá nhân của người viết trong văn xuôi đương đại Việt Nam

Văn học là hình thức nghệ thuật để nhà văn thể hiện sự tri nhận của mình

về thế giới, vì vậy ẩn đằng sau mỗi tác phẩm luôn tồn tại cái tôi của người viết và ý thức cá nhân của họ Cái tôi cá nhân được thể hiện rất phong phú đa dang, có thể bộc lộ đậm nhạt, hiển thị trực tiếp hay gián tiếp…Sự chuyển biến trong văn học bao giờ cũng xuất phát trước hết trong tư duy nghệ thuật, ở ý thức của người cầm bút Mỗi thời kì lịch sử tiếp nối, quan niệm về văn chương đều có những biến đổi, vừa để phù hợp với hoàn cảnh, đáp ứng tâm

lý, thị hiếu của công chúng, đồng thời thoả mãn khát vọng tự thân của người nghệ sĩ Nhà văn đích thực luôn có ý thức về cá tính của mình, “ý thức về cái riêng là ý thức về hư cấu như một phương tiện thể hiện đầy đủ nhất những điều muốn nói của nghệ sĩ; là ý thức về cách đánh giá, cảm thụ riêng đối với truyền thống và hiện tại” [89; 138] Trần Đình Sử nhấn mạnh ý thức cá nhân

là yếu tố quan trọng làm nên sự đổi mới văn học

Theo dõi quá trình vận động phát triển của văn học Việt Nam sau năm

1975, có thể thấy trong bầu không khí dân chủ của thời kì đổi mới, nhu cầu tự bộc lộ ý thức cá nhân, nhu cầu khẳng định những kinh nghiệm, trải nghiệm cá nhân trong thế đối thoại với kinh nghiệm cộng đồng trở nên mạnh mẽ hơn bao giờ hết Văn học 1945-1975, do áp lực của đời sống chiến tranh nên cái tôi cá nhân bị coi nhẹ, biên độ hiện thực được lựa chọn cũng bị thu hẹp, mục tiêu động viên, cổ vũ chiến thắng buộc người viết né tránh những nỗi niềm riêng

tư để nhìn bằng chân lý cộng đồng “tác giả phải ẩn giấu cá tính của mình đi, thậm chí phải làm trong suốt bản thân, không thể để cái chủ quan cá nhân làm

Trang 29

mờ đục, hay biến dạng cái khách quan của hiện thực” [101; 161] Do đó, cái tôi nhà văn hòa tan vào cái Ta dân tộc, giai cấp, ý thức cá nhân không được khuyến khích, không có cơ hội bộc lộ Khi đất nước trở lại quỹ đạo thời bình,

từ thập kỉ 80 (thế kỉ XX) văn học dần thay đổi hệ hình tư duy, tiệm cận với những vấn đề lớn của văn chương nhân loại, giá trị cá nhân được quan tâm trở lại như một nhu cầu tất yếu Hàng loạt tác phẩm ra đời với cái nhìn đa chiều, thể hiện mối quan hệ tự do của nhà văn đối với hiện thực, với chính mình Nhà văn chủ động lựa chọn hiện thực để khám phá, nghiền ngẫm và quan trọng hơn, chủ động bộc lộ cách nhìn, cách đánh giá riêng dựa trên bản lĩnh, trải nghiệm, kinh nghiệm cá nhân…Chính kinh nghiệm cá nhân giữ vai trò quyết định tạo ra sự độc đáo thẩm mĩ, làm nên giá trị của mỗi nhà văn “Tinh thần dân chủ hoá nằm ở chỗ kinh nghiệm cá nhân được quyền bình đẳng với kinh nghiệm cộng đồng Còn giá trị của kinh nghiệm ấy thế nào thì lại là chuyện khác Bên cạnh những trải nghiệm sâu sắc, những kinh nghiệm có khả năng thức tỉnh chân lí, có không ít kinh nghiệm sai lầm, chủ quan và cực đoan” [16; 18] Cuộc sống đời thường, công cuộc đổi mới đất nước với phương châm dân chủ hóa, lấy dân làm gốc, cộng với cơ chế thị trường, xu hướng toàn cầu hóa… đã tạo tiền đề cho ý thức cá nhân phát triển mạnh mẽ Xuất hiện nhu cầu nhận thức lại quá khứ, chiêm nghiệm lại những giá trị cũ từ các góc nhìn riêng Vượt qua tiêu chí “minh họa” chủ trương, đường lối sơ giản, đáp ứng lời kêu gọi “mạnh dạn thể nghiệm sáng tạo” trong các văn kiện của Đảng, nghệ sĩ thoả sức phát huy kinh nghiệm cá nhân và tiềm năng sáng tạo Viết, với nhà văn trở thành một sự tự ý thức, một nhu cầu tự biểu hiện, giãi bày, đối thoại Xu hướng dân chủ hoá thành dòng chảy chính trong văn học Sau thời kì nhà văn tự nguyện lãnh nhận sứ mệnh là người “chiến sĩ” trên

“mặt trận” văn hoá tư tưởng, chấp nhận hi sinh nghệ thuật cho những yêu cầu lịch sử cấp bách thì giờ đây, được tự do hơn với niềm tin của mình, được nói

Trang 30

ra những trải nghiệm riêng, được trung thực với mình, với bạn đọc Việc xác lập giá trị gắn chặt với yêu cầu có tư tưởng riêng, bút pháp riêng

Có thể thấy, sự thức tỉnh ý thức cá nhân trong văn xuôi thời kì đổi mới diễn tiến trên những đổi thay, biến động của đời sống xã hội và nền cảnh văn hóa đương đại Bầu không khí dân chủ đã giải phóng tư tưởng cho nhà văn, kích thích nhu cầu khẳng định cá tính sáng tạo Giá trị cá nhân được đề cao, cái tôi nhà văn được bộc lộ tự tin hơn, trực diện hơn và hiện thực trong văn học trở nên đa chiều kích Quan niệm về con người không còn phiến diện một chiều sẽ mở đường cho những thể nghiệm, thăm dò những miền sâu xa bí ẩn Văn chương từ xu hướng hướng ngoại thời chiến tranh chuyển mạnh sang

“hướng nội” Nhà văn lại có thể lấy mình ra để làm đối tượng khám phá Thông qua sự phân tích, mổ xẻ bản thân, qua những suy ngẫm, bộc bạch với nhu cầu được là mình, người viết lại có thể chạm đến được những vấn đề muôn thuở của cõi nhân sinh “Cái tôi cá nhân trong văn học đương đại thường được hiểu là sự nhấn mạnh những vấn đề của số phận cá nhân, nhu cầu được thể hiện tiếng nói của cá thể độc lập và nhu cầu thể hiện bản ngã và trong từng thể loại, từng tác phẩm, và bản thân người đọc, có thể tiếp cận nó ở các bình diện khác nhau” [71; 89]

Cùng với sự chuyển dịch trong tư duy nghệ thuật ấy là sự dịch chuyển của các khuynh hướng sáng tác, của cấu trúc các thể loại Nhu cầu công bố kinh nghiệm cá nhân, đề cao giá trị cá nhân đã làm khởi sắc các loại hình: tự truyện, tự thuật, tuỳ bút, tản văn, tạp văn (sau đó là sự phát triển ào ạt của văn học mạng) Lịch sử văn học rõ ràng gắn liền với sinh thái văn hóa của các thời đại, sự hình thành, biến đổi (có khi bị diệt vong) của các thể loại như một yếu

tố chịu tác động trực tiếp của môi cảnh này Thể loại văn học là một phạm trù mang tính lịch sử, sự vận động của chúng bắt nguồn từ mối tương quan giữa đặc trưng thể loại với những điều kiện, nhu cầu thời đại, với môi trường sinh thái văn hóa Có thể nói, môi trường sinh thái văn hóa đa chiều, rộng mở thời

Trang 31

đổi mới, sự thức tỉnh mạnh mẽ ý thức cá nhân thuận lợi cho nhiều thể loại phát triển mà ở tâm điểm vẫn là nhu cầu tự biểu hiện, tự trình bày kinh nghiệm cá nhân Tiểu thuyết, truyện ngắn sau 1986 gia tăng chất thế sự- đời tư đã chủ yếu thu nhận chất phóng sự, hồi kí để tạo nên xu hướng tổng hợp thể loại Các dạng tiểu thuyết hồi kí, tiểu thuyết có khuynh hướng tự truyện, những truyện ngắn khai thác cái tôi tiểu sử, truyện ngắn mang dáng dấp tùy bút, tản văn… có lẽ đều hướng tới “diễn đạt nhu cầu khẳng định cái tôi cá nhân- cá thể, khẳng định mối quan hệ tự do giữa hư cấu và hiện thực, giải phóng văn học khỏi những khuôn khổ chật chội để cổ vũ cho một cuộc chơi nghệ thuật phóng túng, sáng tạo.” [16; 130] Tiểu thuyết hư cấu lịch sử tạo ra ấn tượng mạnh nhờ dùng lịch

sử làm phương tiện để công bố tư tưởng cá nhân, tạo ra những “giả định lịch sử” để kích thích đối thoại Các chi tiết sử liệu ở đây chỉ là cái vỏ vay mượn để các nhà văn nhào nặn lại theo chủ ý riêng, chủ yếu là bày tỏ trăn trở về số phận con người trong những biến động của thời đại Đến những năm cuối thế kỉ XX đầu thế kỉ XXI, sự nở rộ của những thể loại hồi kí, tự truyện, tuỳ bút, tạp văn…

đã thu hút mạnh mẽ sự quan tâm của người đọc

Có thể thấy, trong văn xuôi thời kì đổi mới, cái tôi người viết được biểu hiện rất phong phú, đa dạng trong từng tác phẩm với mức độ đậm nhạt khác nhau Ở các cây bút thuộc thế hệ trước đổi mới, “cái tôi” chủ yếu bộc lộ trong cảm hứng “nhận thức lại”, trong sự điềm đạm đối sánh xưa-nay và nhu cầu đúc kết chân lí Còn ở các cây bút thuộc thế hệ sau là “cái tôi” truy vấn rốt ráo các vấn đề của thực tại, là nhu cầu thể nghiệm, cách tân để bứt phá, là cái nhìn hoài nghi, giễu nhại với mọi giáo điều cứng nhắc… M Proust từng khẳng định: “Cái tôi của nhà văn chỉ hiện ra trong các trang sách của anh ta” [64] Công chúng văn học tiếp nhận tác phẩm của người nghệ sĩ như một hành trình khám phá thế giới qua lăng kính và trải nghiệm của cá nhân, từ đó định hình chân dung tinh thần, tư tưởng, thấy được tài năng, phong cách, cá tính và giá trị những sáng tạo nghệ thuật của tác giả

Trang 32

Từ sau đổi mới, bước chuyển theo hướng dân chủ hóa đời sống là nền tảng để nhà văn tự tin bộc lộ đến tận cùng những nhu cầu đa dạng của cá nhân Thị hiếu thẩm mĩ của công chúng cũng đổi khác và có sự phân hóa rõ nét; đời sống báo chí sôi nổi, sự phát triển mạnh mẽ của các phương tiện truyền thông đại chúng, của internet; nhịp sống thời đại “số hóa”, thời đại tiêu dùng gấp gáp, năng động… đã có tác động rất lớn tới văn học Không gian sinh thái tinh thần rộng mở là môi trường thuận lợi cho sự khởi sắc của một số thể loại, trong đó có tạp văn Sự khởi sắc thể hiện ở số lượng sáng tác, chất lượng nghệ thuật, sự định hình phong cách tác giả, sự mở rộng phạm vi đề tài,

sự phong phú của các hình thức thể hiện… Có lẽ chưa bao giờ, tạp văn xuất hiện dồi dào đến thế, ngoài các tập sách xuất bản liên tục, tạp văn còn thường xuyên có mặt trên gần ngàn mặt báo và mười năm gần đây có vẻ át cả tiểu thuyết và truyện ngắn, truyện vừa Sự hỗ trợ của công nghệ thông tin khiến tạp văn được phổ biến nhanh và rộng rãi trong công chúng mạng internet (qua các blog, facebook) Đội ngũ sáng tác tạp văn ngày càng đông đảo Với nhiều cây bút, viết tạp văn đã trở thành một thói quen, một nhu cầu, một sở trường và ở mức độ nào đó cũng đã đạt được thành công Có thể kể tới những cái tên: Nguyễn Khải, Băng Sơn, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Đỗ Chu, Mai Văn Tạo, Lý Lan, Nguyễn Ngọc Tư, Dương Ngọc Dũng, Hoàng Thoại Châu, Tạ Duy Anh,

Hồ Anh Thái, Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Việt Linh, Lê Thiết Cương, Nguyễn Quang Lập, Nguyễn Nhật Ánh, Trần Nhã Thụy, Nguyễn Trương Quý, Nguyễn Việt Hà Và phong cách thì muôn hình muôn vẻ: “Nếu như Nguyễn Trương Quý giỏi lắt léo cộng gia vị giễu nhại thì Nguyễn Ngọc Tư đượm nồng như món sống “đưa cay”, Phan Cẩm Thượng thư thái, uyên thâm thì Nguyễn Quang Lập riết róng, hài hước Nguyễn Việt Hà cũng hài hước nhưng tung tẩy chuyện đời nhiều hơn Lê Giang viết tạp văn như lấy trong túi ra, chỉ lấy chuyện quanh mình

để viết mà vẫn thấy rất lạ kì Nguyễn Nhật Ánh viết tạp văn như người đi bộ, gặp

gì viết nấy, nhớ gì kể nấy, nhưng cái duyên chữ thì khó phai” [76]

Trang 33

Sự nở rộ của tạp văn từ thời đổi mới còn được biểu hiện ở sự phong phú,

đa dạng của các đề tài, các mảng màu của đời sống xã hội mà nó thể hiện Tạp văn đã thâm nhập vào mọi lĩnh vực của xã hội đương đại, từ những vấn đề mang tầm vóc quốc gia, quốc tế nóng hổi ý nghĩa thời sự, thời đại đến những

gì rất đỗi nhỏ bé, bình dị quen thuộc, từ những sự kiện sự việc hữu hình cụ thể tới những góc khuất sâu kín ảo diệu trong tâm hồn con người, những vấn đề muôn thuở của cõi nhân sinh Với âm hưởng chính là sự thiết tha với cuộc sống, hăm hở trên hành trình kiếm tìm, bảo tồn cái đẹp, cảm hoài quá khứ, âu

lo thời cuộc…, tạp văn thời này đã nhanh nhạy thỏa mãn tâm lý độc giả- những cái tôi đang rất cần được thư giãn đầu óc, cần có những giây phút lắng sâu “sống chậm” giữa tốc độ chóng mặt của cuộc sống hiện đại với bao biến

cố bất ngờ, khó hiểu, khó lường Tạp văn đã góp phần thức tỉnh và giúp con người hướng tới những giá trị nhân bản, nhân văn cao đẹp Một đặc điểm bao trùm của tạp văn giai đoạn này là hướng tiếp cận vấn đề từ góc độ thế sự - đời

tư, góc độ văn hóa (phong tục tập quán, truyền thống văn hóa bản địa, thú ẩm thực, tình cảm quê hương, gia đình…) Người đọc có thể tìm thấy ở đó những vui buồn, ấm lạnh của cuộc đời, những khía cạnh bí ẩn cõi tâm linh

Nhìn từ môi trường tồn tại và lan tỏa ảnh hưởng cuả tạp văn thời gian gian qua, có thể thấy diện mạo của nó là hợp lưu của mấy nhánh chính: từ blog cá nhân, từ báo chí (cả báo in và báo điện tử), trong các tuyển tập cá nhân hay tập thể Đa số tạp văn đăng trên các blog cá nhân là biến thể từ nhật

kí, hồi ức với lối dẫn dắt tự nhiên, giàu sắc thái trữ tình, đề tài chủ yếu xoay quanh công việc và các mối quan hệ cá nhân của tác giả Các tạp văn đăng trên báo, tạp chí sự kết hợp linh hoạt yếu tố văn và báo, nghệ thuật và thông tấn, thường tập trung vào những vấn đề xã hội, đặc biệt có tính cập nhật thời

sự, đang rất được dư luận quan tâm Các tập sách được xuất bản ngày càng nhiều tạo nên một “bữa tiệc” văn chương phong phú cho sự lựa chọn của độc giả, góp phần duy trì một đời sống văn học năng động, khẳng định chỗ đứng của thể loại tạp văn trong dòng chảy văn xuôi đương đại

Trang 34

Lựa chọn tạp văn, các cây bút đã thể hiện một nhu cầu được cất lên tiếng nói, cách nhìn nhận, đánh giá mang chủ kiến của “cái tôi” cá nhân trước mọi vấn đề của đời sống đương đại Chưa bao giờ “cái tôi” lại có nhu cầu bộc bạch một cách trực tiếp, tức thì những cảm nhận, suy nghĩ, thái độ, lập trường… của mình mạnh mẽ, dân chủ như thế Tính chất phi hư cấu, nửa văn nửa báo của tạp văn nhanh nhạy, chính xác rất cần cho độc giả đương thời nhưng sức hấp dẫn của thể loại này chủ yếu không phải ở thông tin thời sự mà

ở cái “duyên” của hình tượng tác giả Hiện thực anh ta nói tới không quan trọng bằng anh ta nghĩ gì, xúc cảm gì, đánh giá thế nào và sau hết, từ những quan tâm cá nhân, từ những vấn đề tưởng như bé mọn, vụn vặt đời thường lại khái quát lên được những bài học phổ quát mang tầm triết học, cái tức thời gợi được suy ngẫm tới cái muôn đời của cõi nhân sinh… Nguyễn Trương Quý cho rằng: “Một tản văn thành công là đẩy được những cái tứ tới tận cùng

từ những vấn đề nhỏ Tôi không nghĩ chuyện vấn đề be bé ngăn ngắn có ý

nghĩa quyết định mà nằm ở tinh thần quyết liệt và độ sắc cạnh của người viết Nếu tản văn không thể hiện được phẩm chất đó, người đọc sẽ quên ngay sau khi đọc Lựa chọn tản văn để chuyển tải những tứ của đời sống có cái hấp dẫn

là cho phép tôi thoải mái mổ xẻ và đưa ra quan niệm của mình trong vai trò một người đối thoại với người đọc - dĩ nhiên là những người đọc vô hình mà tôi phải phân thân đặt mình vào vị trí của họ” [93]

Với người viết tạp văn, những gì được chứng kiến, trải nghiệm với sự rung động sâu sắc tới mức ám ảnh, thành một thôi thúc tự thân, thành máu huyết tinh thần có ý nghĩa quyết định việc sáng tạo Sự trải nghiệm của chính anh ta sẽ là vật liệu để xây dựng tác phẩm, chất liệu đời sống chỉ là phương tiện để anh ta tự do gửi gắm những tình cảm, quan điểm cá nhân Những tác giả thành danh với các thể loại khác vẫn muốn coi tạp văn là thể loại mới để khai phá một vùng nghĩ của mình Người đọc đã đón nhận nhiều tập tạp văn định hình rõ nét cái tôi tác giả Đó là Băng Sơn với những trang văn thấm

Trang 35

đẫm chất thơ và tình yêu Hà Nội, với những kiến thức đầy lý thú về mảnh đất kinh kì, qua sự “công phu đào sâu vào từng góc nhỏ của xã hội” của một con mắt tinh tế, giàu cảm xúc Nguyên Ngọc để lại dấu ấn trong lòng bạn đọc hình tượng một cái tôi thâm trầm, luôn biết lắng mình để tự vấn, để chiêm nghiệm mọi điều Tạp văn Hoàng Phủ Ngọc Tường đặc sắc ở sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất trí tuệ và chất trữ tình, giữa nghị luận sắc bén với tư duy tổng hợp, là cái nhìn xuyên thấu về cuộc sống thực tại, về những vấn đề xã hội và thế thái nhân tình được chắt lọc qua lăng kính nhân văn sâu sắc “Cái tôi” Y Phương như cánh chim khắc khoải đêm ngày nhớ nhung đại ngàn gió chuyển mây bay với cách nhìn, cách cảm, cách nói của một nhà thơ dân tộc tài hoa làm toát lên cái lung linh, kì diệu của ngôn từ; cái ấm áp nồng nàn của tình người, của cuộc đời muôn mặt Và theo đó, văn hoá miền núi quê hương tác giả hiện ra, vừa duyên dáng e ấp, vừa lồ lộ, rỡ ràng Nguyễn Ngọc Tư đậm chất Nam Bộ, hồn hậu, đằm thắm với những câu chuyện da diết, chất chứa

nhiều ưu tư của một con người luôn “tựa vào quê nhà” để sống và để viết Nguyễn Trương Quý tung tẩy, dí dỏm chừng mực trong Tự nhiên như người

Hà Nội, Ăn phở rất khó thấy ngon, Hà Nội là Hà Nội, Xe máy tiếu ngạo

Nguyễn Quang Lập nói những Chuyện đời vớ vẩn, Ký ức vụn nhưng thật đặc

sắc với món “khẩu văn” rặt giọng “bọ” tưng tửng, tạo hứng thú nhờ sự kết hợp của các loại hương vị vừa quen, vừa lạ: châm biếm the cay, rưng rưng ngọt đắng, và không thể thiếu vị “mằn mặn phồn thực” mà một số người vẫn nhăn mặt chê là “tục” (số khác lại bảo đó là cái “tục” khỏe khoắn, thật hồn nhiên, có duyên) Tạp văn Phan Thị Vàng Anh đầy chất trí tuệ, logic sắc sảo, nhìn nhận vấn đề theo nhiều chiều, đầy cảm hứng đối thoại khiến ai đã đọc qua là bị chinh phục ngay…Ở những cây bút này, tạp văn đã thực sự phát huy được sức mạnh của thể loại trong việc thể hiện tâm thế, chủ kiến của tác giả, vừa giàu thông tin, vừa góp phần xây dựng được những hình tượng nghệ thuật đặc sắc, nhất là hình tượng tác giả Bên cạnh các cây bút đã định hình phong

Trang 36

cách, để lại dấu ấn trong lòng độc giả, còn rất nhiều cây bút thuộc thế hệ 8X, 9X xuất hiện trên các blog cá nhân được giới trẻ yêu thích Có thể kể tới những cái tên như Nguyễn Vĩnh Nguyên, Hamlet Trương, Quách Lê Anh Khang, Phan Ý Yên, Iris Cao… Tuy chưa có nhiều trải nghiệm nhưng những bài viết của họ là sự lên tiếng thành thực của cái tôi cá nhân- cá thể, là nỗ lực khẳng định gương mặt tinh thần lớp trẻ, mỗi trang viết là sự lắng đọng cảm xúc, với những quan sát suy ngẫm chân thành, những bài học bình dị từ cuộc sống “thay lời muốn nói” cho thế hệ mình

Nguyễn Việt Hà năng nổ nhập cuộc với khát vọng tìm tòi thể nghiệm, cách tân rất mạnh mẽ Anh được đánh giá là một trong những cây viết sắc, viết khỏe với hàng loạt sáng tác có chất lượng nghệ thuật, nội dung phong phú, liên tiếp ra đời trong khoảng thời gian từ 2004-2014 Anh viết về các vấn đề xã hội, đánh giá nó từ tiêu chí văn hóa của riêng anh, nhìn nhận sự việc trong mạch vận động lôgic của cuộc sống qua những phân mảnh, lắp ghép không có hồi kết Về bút pháp, có thể xem đây là một bước trưởng thành của nhà văn, chứng tỏ được năng lực bao quát đời sống và sự từng trải cùng trình độ nhận thức sâu sắc của nhà văn trong thời đoạn lịch sử nhất định Nguyễn Việt Hà có cơ hội được hưởng luồng sinh khí dân chủ trong văn học thời đổi mới, nơi anh có quyền nhìn thẳng vào sự thật và nói lên những suy nghĩ chủ quan của mình Nhân vật của anh là những “người đương thời”, được soi chiếu từ nhiều góc độ: những giá trị thiêng liêng, những điều trăn trở cùng bao bí ẩn xoay quanh tâm hồn họ, tạo nên một dòng chảy bất tận của sự sống nhân sinh

Là một nhà văn đặc biệt nhạy cảm trước những vấn đề của đô thị, Nguyễn Việt Hà đã chọn cho mình thể loại tạp văn để chuyển tải kịp thời thông điệp của mình về cuộc đời và nghệ thuật Sau sự thành công của hai

tiểu thuyết Khải huyền muộn, Cơ hội của Chúa, anh bắt đầu dành nhiều tâm

huyết cho tạp văn Mặc dù coi tạp văn là “bước nháp” cho tiểu thuyết nhưng Nguyễn Việt Hà rất thành công ở thể loại này Anh thường xuyên viết tạp văn

Trang 37

cho các báo Tuổi trẻ, Văn hóa, Đ p, Đàn ông , đã tuyển chọn và ra mắt độc

giả 4 tập tạp văn Tạp văn của anh như một thứ “mạng xã hội”, đề cập đến những câu chuyện xảy ra với những người đô thị ở thập niên đầu thế kỉ 21

“Tản văn Nguyễn Việt Hà chinh phục độc giả bởi sự đa dạng trong đề tài, những phát hiện tinh tế, thông minh, dí dỏm và triết lý mang đặc trưng tinh thần đường phố hòa quyện với các tra cứu Đông Tây kim cổ” (Hiền Đỗ) Tạp văn Nguyễn Việt Hà cung cấp một cái nhìn đa diện về cuộc sống Việc tác giả dùng tạp văn để làm mới lối viết, là con đường khá giống Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Ngọc Tư, Nguyễn Khải, Nguyên Ngọc, Đỗ Chu… Hơn nữa, như chúng tôi đã nói ở trước, tạp văn là nơi cái tôi tác giả có cơ hội diện rõ nhất, phóng túng nhất Nó được lựa chọn khi nhà văn coi trọng mục đích bộc lộ một cái tôi cá nhân giàu cá tính với cái nhìn hiện thực sắc sảo mang cảm quan đô thị của một thị dân; một “mảnh sành sứ có niên đại từ nhiều năm trước đương ẩn dật trong góc Nhà Chung, giữ trong mình tinh hoa xưa cũ”, hoài cổ nhưng cũng rất thức thời, một “gã cao bồi già” gắn bó máu thịt với Hà Nội; một cuốn “từ điển sống” với vốn kiến văn sâu rộng; một nghệ

sĩ với nỗi lòng ưu thời mẫn thế, luôn trăn trở trước đời sống đương đại, biết nghiêm khắc tự vấn về lối sống, về những ứng xử đạo đức, về sự tồn vong của mỗi cá thể trong cộng đồng, biết âu lo về sự mỏng manh của cái đẹp, cái tốt, biết trân trọng tinh hoa văn hóa truyền thống… Đó chính là chân dung tự họa cuả Nguyễn Việt Hà trong tạp văn, một gương mặt văn chương nổi bật của Hà Nội đoạn giao thời hai thế kỉ, của văn xuôi Việt Nam đương đại

Trang 38

CHƯƠNG 2 HÌNH TƯỢNG TÁC GIẢ QUA CẢM QUAN ĐÔ THỊ]

2.1 Khái niệm “cảm quan đô thị” và cảm quan đô thị trong văn xuôi Việt Nam đương đại

2.1.1 Khái niệm “cảm quan đô thị”

Thế giới xung quanh con người đa dạng, phong phú, nhiều màu sắc, luôn tồn tại ngoài ý thức chủ quan của con người và được ý thức của con người phản ánh vào nhận thức Mỗi con người có đời sống tinh thần, tư tưởng riêng nên luôn nhìn nhận, đánh giá thế giới xung quanh theo một cảm quan riêng mang rõ tính chủ quan “Cảm quan” không đơn thuần là nhận thức lý trí mà còn là cách cảm nhận mang tính trực giác, linh giác thuộc cái sâu xa bí ẩn trong mỗi bản thể người Cảm quan có sự hợp thành của trực giác, vô thức và

ý thức Nó là “hệ thống những cảm xúc, cảm nhận, nhận định của cá nhân

trước thế giới xung quanh”, là “ki u cảm nhận đời sống đặc thù th hiện trong trạng thái tinh thần của con người được lưu giữ, chuy n đổi trong vô thức và trong ý thức” [74; 15] Do đó, cảm quan vừa chịu sự chi phối của

hoàn cảnh khác quan vừa in đậm dấu ấn chủ quan cá nhân của mỗi người Với người nghệ sĩ, cảm quan càng sắc bén, tinh nhạy thì tác phẩm càng đạt tới chiều sâu tư tưởng Cảm quan của người nghệ sĩ luôn có sự hoà hợp giữa kinh nghiệm cá nhân và tinh thần thời đại Việc tìm hiểu cảm quan của nhà văn sẽ giúp hình dung rõ hơn những nền tảng sâu xa chi phối đến quá trình sáng tác,

tư tưởng về thế giới và con người của tác giả, định hình được “chân dung tinh thần”, cá tính sáng tạo nghệ thuật

Từ nội hàm khái niệm “cảm quan” như trên, có thể hiểu “cảm quan đô thị” là một cách tiếp nhận và biểu hiện trực tiếp về đô thị (cách quan sát, cảm nhận, cách thể hiện ấn tượng chủ quan về cuộc sống và con người đô thị) Đó thực chất là vấn đề cái nhìn, ý thức, thái độ, cách đánh giá mang tinh thần thị

Trang 39

dân Nó không hoàn toàn là “về đô thị” như với người ngoài cuộc mà là

“trong đô thị”, tức cảm nhận, đánh giá của người trong cuộc, người thấy mình

là một phần của đô thị Đô thị không chỉ là đối tượng phản ánh mà còn tạo nên trường thẩm mĩ, khuynh hướng tư duy riêng, tạo nên những rung động tâm hồn, cách chiêm nghiệm, phản ánh thế giới quan, nhân sinh quan của người nghệ sĩ

Cảm quan đô thị có vai trò quan trọng trong hệ thống các dạng cảm quan của văn học, có đặc thù riêng, được hình thành từ môi trường sống, từ ý thức

và bản năng cũng như cá tính của người nghệ sĩ Cảm quan ấy sẽ chi phối quá trình lựa chọn thể loại, đề tài, hình tượng, cách kết cấu, các phương thức, phương tiện nghệ thuật thể hiện, ngôn ngữ

2.1.2 Cảm quan đô thị trong văn xuôi Việt Nam đương đại

Mấy chục năm qua, ở Việt Nam, quá trình đô thị hóa đang diễn ra nhanh chóng đã tác động đến đời sống văn học, không chỉ thể hiện qua số lượng tác phẩm viết về đề tài đô thị mà còn qua sự thay đổi hệ hình tư duy –thẩm mĩ Khi tỉ trọng nền kinh tế nghiêng về nông nghiệp, đề tài nông thôn sẽ được ưu tiên lựa chọn Khi bước vào hiện đại hóa, công nghiệp hóa, tất yếu các vấn đề

về đô thị sẽ nổi bật lên trong mối quan tâm của mọi người Vì “đô thị mang trong mình quá nhiều câu chuyện cần phải viết ra” mà văn xuôi đương đại nước ta đang có xu hướng nghiêng về đề tài đô thị Nguyễn Việt Hà cũng không phải ngoại lệ

Cùng viết về đô thị nhưng có loại cảm quan về đô thị của người đứng ngoài cuộc nhìn nhận, đánh giá về nó và loại cảm quan đô thị của người trong cuộc, hòa mình vào dòng chảy của nó và thấy mình trở thành một phần hữu

cơ của đời sống đô thị Trong loại cảm quan về đô thị, khá đông người dị ứng với văn minh hiện đại Giống Nguyễn Bính trước đây, họ lo ngại đô thị phát triển sẽ tiêu diệt các giá trị truyền thống, nuôi dưỡng thói ích kỉ, vô cảm, vụ lợi Họ coi đô thị là chốn làm con người hư hỏng, đánh mất bản nguyên

Trang 40

Nguyễn Minh Châu, Lê Lựu, Ma Văn Kháng, Đoàn Lê, Hồ Anh Thái và nhất

là Nguyễn Huy Thiệp đã không ngại bày tỏ lo âu, phê phán những cái nhố nhăng tàn nhẫn của đô thị Dưới cái nhìn của Nguyễn Huy Thiệp, một người luôn “thương nhớ đồng quê”, cuộc sống càng hiện đại thì càng xuất hiện nhiều cảnh nhố nhăng, ba phèng, suy thoái nhân cách, con người trở nên thái

quá, quên cội nguồn, thờ ơ với mọi người xung quanh (Tướng về hưu, Không

có vua) Nhiều tác phẩm của ông mang đến thông điệp về sự biến đổi của đô

thị và những hệ lụy của nó: “Hạnh sống cô đơn Cuộc sống thành phố với bao lạc thú gây nên nhiều mơ ước Nhưng Hạnh biết rất rõ những lạc thú ấy chứa

đầy cạm bẫy” (Huyền thoại phố phường) Hồ Anh Thái miêu tả lối sống nhỏ

nhen, ích kỷ, tàn nhẫn, thói vô lương tâm của con người hiện đại qua cái nhìn

đầy chất “u mua đen”, âu lo những giá trị chân, thiện, mỹ truyền thống đã và

sẽ tiếp tục bị bóp méo, thậm chí hủy diệt (Chim anh chim em, Sân bay, Tờ

khai visa) Nhiều cây bút cũng thể hiện nỗi lo ngại trước thực trạng người

nông dân bất đắc dĩ phải trở thành thị dân bởi quá trình đô thị hóa (Cô gái

tính nhảy cầu Rạch Miễu - Nguyễn Quốc Trung); sự xâm lấn, mở rộng đô thị

làm biến đổi môi trường, cảnh quan (Cả một dây neo theo nhau đi - Hồ Anh

Thái, Hoa nở trên trời - Nguyễn Thị Thu Huệ); những “vết thương” ở các

làng quê bị đô thị hoá, những thân phận từ tỉnh lẻ tìm cách thích nghi với cuộc sống đô thị, những nhân vật gốc gác nông thôn phải bôn ba kiếm sống ở thành

phố lớn (Vết thương thành thị- Đỗ Tiến Thụy)

Những người mang cảm quan đô thị là những người ý thức mình trước hết như một thị dân, gắn bó với đô thị như môi trường đương nhiên được lựa chọn để sống Họ coi trọng sự phát triển, sự hiện đại, tiện nghi Họ thích tư duy năng động, thích lối sống công nghiệp khẩn trương, thích tự do sống theo

ý mình, ghét khuôn khổ, nghi lễ gò bó Những cái đó chỉ đô thị mới đáp ứng được Tuy nhiên, vì con người đô thị mang đậm ý thức cá nhân nên khả năng

tự phê, tự nghiệm cũng phát triển Họ không nương nhẹ những cái xấu, cái dở

Ngày đăng: 14/08/2016, 15:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hoàng Thị Anh (2008), Hình tượng tác giả trong sáng tác của Nguyễn Khải thời kì đổi mới, Luận văn thạc sĩ Ngữ văn, Đại học sư phạm Thái Nguyên, Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hình tượng tác giả trong sáng tác của Nguyễn Khải thời kì đổi mới
Tác giả: Hoàng Thị Anh
Năm: 2008
2. Phan Thị Vàng Anh (2011), Tạp văn, Nxb Trẻ, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp văn
Tác giả: Phan Thị Vàng Anh
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2011
3. Phan Thị Vàng Anh (2012), Tạp văn, Nxb Trẻ, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp văn
Tác giả: Phan Thị Vàng Anh
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2012
4. Vũ Tuấn Anh (1996), “Quá trình văn học đương đại nhìn từ góc độ thể loại”,Tạp chí văn học (9) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quá trình văn học đương đại nhìn từ góc độ thể loại"”
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Năm: 1996
5. Arnauđôp (1978), Tâm lí học sáng tạo văn học, NXB Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lí học sáng tạo văn học
Tác giả: Arnauđôp
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 1978
6. Lại Nguyên Ân (2003), 150 thuật ngữ văn học, NXB Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2003
7. Lê Huy Bắc (1998), “Giọng và giọng điệu trong văn xuôi hiện đại”, Tạp chí văn học (9) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giọng và giọng điệu trong văn xuôi hiện đại"”, Tạp chí văn học
Tác giả: Lê Huy Bắc
Năm: 1998
8. Vũ Bằng (1989), Thương nhớ mười hai, Nxb Văn học và Hội nghiên cứu giảng dạy Văn học, TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thương nhớ mười hai
Tác giả: Vũ Bằng
Nhà XB: Nxb Văn học và Hội nghiên cứu giảng dạy Văn học
Năm: 1989
9. Vũ Bằng (1994), Miếng ngon Hà Nội (tái bản), Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Miếng ngon Hà Nội (tái bản)
Tác giả: Vũ Bằng
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1994
10. Ngọc Bi (2013), “Nhìn thấu tâm tính người Việt qua… tản văn”, nguồn http:// thanhnien Online Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhìn thấu tâm tính người Việt qua… tản văn
Tác giả: Ngọc Bi
Năm: 2013
11. Hoàng Thị Thu Bình (2008), Cảm quan đô thị trong sáng tác của một số thi sĩ Thơ mới tiêu bi u, Luận văn thạc sĩ khoa học Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cảm quan đô thị trong sáng tác của một số thi sĩ Thơ mới tiêu bi u
Tác giả: Hoàng Thị Thu Bình
Năm: 2008
12. Nguyễn Thị Bình (2001), Cảm hứng trào lộng trong văn xuôi sau 1975, Tạp chí văn học, 349 (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cảm hứng trào lộng trong văn xuôi sau 1975, Tạp chí văn học
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Năm: 2001
13. Nguyễn Thị Bình (2007), Văn xuôi Việt Nam 1975-1995, những đổi mới cơ bản, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn xuôi Việt Nam 1975-1995, những đổi mới cơ bản
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
14. Nguyễn Thị Bình (2008), Một số khuynh hướng ti u thuyết ở nước ta từ thời đi m đổi mới đến nay (Đề tài cấp Bộ), Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số khuynh hướng ti u thuyết ở nước ta từ thời đi m đổi mới đến nay
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Năm: 2008
16. Nguyễn Thị Bình (2012), Văn xuôi việt Nam sau 1975, Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn xuôi việt Nam sau 1975
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội
Năm: 2012
17. Trịnh Bá Dĩnh, Đoàn Ánh Dương, Lê Thị Dương (2009), Văn học Việt Nam thế kỷ XX - Tạp văn và các th ký Việt Nam (1945-1975), Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam thế kỷ XX - Tạp văn và các th ký Việt Nam (1945-1975)
Tác giả: Trịnh Bá Dĩnh, Đoàn Ánh Dương, Lê Thị Dương
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2009
18. Nguyễn Thị Anh Đào (2007), Những th nghiệm ti u thuyết của Nguyễn Việt Hà qua hai cuốn Cơ hội của Chúa và Khải huyền muộn, Luận văn thạc sĩ Ngữ văn, Trường Đại học sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những th nghiệm ti u thuyết của Nguyễn Việt Hà qua hai cuốn Cơ hội của Chúa và Khải huyền muộn
Tác giả: Nguyễn Thị Anh Đào
Năm: 2007
19. Nguyễn Đăng Điệp (2002), Vọng từ con chữ, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vọng từ con chữ
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2002
20. Thu Hà (2014), “Nhà văn Nguyễn Việt Hà: Đã là văn chương thì không có biên giới!” nguồn: http://www.sggp.org.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn Nguyễn Việt Hà: Đã là văn chương thì không có biên giới
Tác giả: Thu Hà
Năm: 2014
70. Nguyễn Hồng Nga ( 2012), “Tản văn- Thể loại không dành cho người viết trẻ, nguồn http://phongdiep.net Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w