Các từ hô gọi trong Truyện Kiều của Nguyễn u xét trên ba bình diện: kết học – nghĩa học – dụng học MỤC LỤC MỞ ẦU .......................................................................................................... 1 1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI.................................................................................. 1 2. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ............................................................. 2 3. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU.............................................. 8 4. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU............................................. 8 5. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU................................................................. 9 6. ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI........................................................................... 9 7. CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN ................................................................... 9 Ch ơng 1: Ơ Ở LÍ LU N........................................................................ 10 1.1. ài nét về Nguyễn u và Truyện Kiều ................................................. 10 1.1.1. Nguyễn Du ............................................................................................ 10 1.1.2. Truyện Kiều .......................................................................................... 11 1.2. Khái niệm và vấn đề về hô gọi .............................................................. 13 1.2.1. Khái niệm về hô gọi .............................................................................. 13 1.2.2. Phƣơng tiện hô gọi ................................................................................ 15 1.2.3. Phƣơng thức hô gọi ............................................................................... 22 1.3. Lí thuyết ba bình diện: kết học, nghĩa học và dụng học .................... 24 1.3.1. Kết học .................................................................................................. 25 1.3.2. Nghĩa học .............................................................................................. 26 1.3.3. Dụng học ............................................................................................... 28 1.4. Tiểu kết.................................................................................................... 34 Ch ơng 2: Ừ Ô ỌI TRONG TRUYỆN KIỀU ÊN ÌN DIỆN KẾT HỌ N ĨA ỌC............................................................ 35 2.1. Kết quả khảo sát..................................................................................... 35 2.2. ác từ hô gọi trong Truyện Kiều trên bình diện kết học .................... 38 2.2.1. Cấu tạo................................................................................................... 38 2.2.2. Khả năng kết hợp và chức vụ cú pháp .................................................. 44 2.3. ác từ hô gọi trong Truyện Kiều trên bình diện nghĩa học............... 58 2.4. Tiểu kết.................................................................................................... 65 Ch ơng 3: Ừ Ô ỌI TRONG TRUYỆN KIỀU ÊN ÌN DIỆN DỤNG HỌC........................................................................................ 67 3.1. iá trị ngữ dụng của các từ hô gọi sử dụng trong Truyện Kiều ........ 67 3.1.1. Thể hiện sự căm ghét, khinh bỉ của ngƣời nói với ngƣời nghe ............ 69 3.1.2. Thể hiện tình cảm yêu thƣơng, trìu mến của ngƣời nói đối với ngƣời nghe74 3.1.3. Thể hiện sự đề cao, tôn trọng của ngƣời nói với ngƣời nghe ............... 79 3.1.4. Thể hiện sự nhỏ bé, yếu ớt, tầm thƣờng và cô độc của ngƣời nghe ..... 84 3.2. Tiểu kết.................................................................................................... 88 KẾT LU N .................................................................................................... 89 L ỆU THAM KHẢO ............................................................................ 92 1 MỞ ẦU 1. LÍ O ỌN Ề Ngôn ngữ ra đời đã đáp ứng đƣợc nhu cầu giao tiếp trong xã hội, con ngƣời dùng ngôn ngữ để trao đổi những thông tin, tƣ tƣởng, tình cảm với nhau. Nhƣng tùy hoàn cảnh, nội dung, mục đích giao tiếp khác nhau mà ngƣời giao tiếp lựa chọn các từ hô gọi cho phù hợp. Chính vì vậy, các từ hô gọi có vai trò quan trọng trong giao tiếp của con ngƣời, vì các lớp từ này thể hiện đƣợc thái độ tình cảm của ngƣời nói đối với ngƣời nghe hay đối tƣợng đƣợc nói tới. Truyện Kiều của Nguyễn Du đƣợc xem một kiệt tác nghệ thuật của nhân loại, là tác phẩm đƣợc giảng dạy trong trƣờng ở nhiều cấp học, lớp học. Với thế giới nhân vật phong phú, nhiều nhân vật trong Truyện Kiều đã trở thành điển hình trong xã hội cũ, từ đại diện cho thế giới thƣợng lƣu quý tộc cầm quyền cai trị, giới xã hội đen, những ngƣời đại diện tôn giáo đến giới trung lƣu thấp cổ bé họng sống trong cảnh trên đe dƣới búa, quan trên trông xuống nhòm ngó tài sản, xã hội đen nhìn vào thì tự do bắt nạt hiếp đáp và bộ phận dân làng đƣợc thể hiện qua hệ thống những nhân vật, nhƣ: Hồ Tôn Hiến, Hoạn thƣ, Tú bà, Từ Hải, Kim Trọng, Thúy Kiều, Thúy Vân, Vƣơng ông, Vƣơng bà, sƣ Giác Duyên, kẻ vô danh bàng quan đến nhà Tú bà coi Kiều tự sát cho thỏa lòng hiếu kì hoặc chỉ biết chép miệng ngấm nguýt chê tên Sở Khanh là bất nghĩa vô lƣơng hay ngƣời dân vô danh ở Hàng Châu kể cho Kim Trọng biết tin tức Thúy Kiều… thế giới đủ mọi hạng ngƣời, nhân vật này đã đƣợc Nguyễn Du sử dụng các lớp từ hô gọi khác nhau trong hội thoại giữa các nhân vật một cách phong phú và đa dạng, góp phần nâng cao giá trị của tác phẩm. Tuy nhiên, từ trƣớc tới nay chƣa có một công trình khoa học riêng biệt nào miêu tả thật chuyên sâu, chi tiết và đầy đủ về các từ hô gọi trong tác phẩm trên ba bình diện kết học, nghĩa học và dụng học, mà chỉ đi sâu vào một khía cạnh riêng lẻ nào đó. Vì vậy, vấn đề tìm hiểu các từ hô gọi trên ba bình diện kết học, nghĩa học và dụng học trong tác phẩm, thực sự là một hƣớng đi mới mẻ đối với những ngƣời muốn tìm hiểu một cách thấu đáo Truyện Kiều. Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi đã quyết định chọn vấn đề: “ ác từ hô gọi trong Truyện Kiều của Nguyễn u xét trên ba bình diện: kết học – nghĩa học – dụng học” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn của mình. 2 2. LỊCH SỬ N ÊN ỨU VẤN Ề 2.1. Lịch sử nghiên cứu các từ hô gọi trong tiếng Việt Việc nghiên cứu các từ hô gọi trong tiếng Việt đƣợc rất nhiều nhà Việt ngữ Các từ hô gọi trong Truyện Kiều của Nguyễn Du xét trên ba bình diện: kết học – nghĩa học – dụng học Các từ hô gọi trong Truyện Kiều của Nguyễn Du xét trên ba bình diện: kết học – nghĩa học – dụng học Các từ hô gọi trong Truyện Kiều của Nguyễn Du xét trên ba bình diện: kết học – nghĩa học – dụng học Các từ hô gọi trong Truyện Kiều của Nguyễn Du xét trên ba bình diện: kết học – nghĩa học – dụng học Các từ hô gọi trong Truyện Kiều của Nguyễn Du xét trên ba bình diện: kết học – nghĩa học – dụng học Các từ hô gọi trong Truyện Kiều của Nguyễn Du xét trên ba bình diện: kết học – nghĩa học – dụng học Các từ hô gọi trong Truyện Kiều của Nguyễn Du xét trên ba bình diện: kết học – nghĩa học – dụng học Các từ hô gọi trong Truyện Kiều của Nguyễn Du xét trên ba bình diện: kết học – nghĩa học – dụng học Các từ hô gọi trong Truyện Kiều của Nguyễn Du xét trên ba bình diện: kết học – nghĩa học – dụng học Các từ hô gọi trong Truyện Kiều của Nguyễn Du xét trên ba bình diện: kết học – nghĩa học – dụng học Các từ hô gọi trong Truyện Kiều của Nguyễn Du xét trên ba bình diện: kết học – nghĩa học – dụng học Các từ hô gọi trong Truyện Kiều của Nguyễn Du xét trên ba bình diện: kết học – nghĩa học – dụng học Các từ hô gọi trong Truyện Kiều của Nguyễn Du xét trên ba bình diện: kết học – nghĩa học – dụng học Các từ hô gọi trong Truyện Kiều của Nguyễn Du xét trên ba bình diện: kết học – nghĩa học – dụng học Các từ hô gọi trong Truyện Kiều của Nguyễn Du xét trên ba bình diện: kết học – nghĩa học – dụng học Các từ hô gọi trong Truyện Kiều của Nguyễn Du xét trên ba bình diện: kết học – nghĩa học – dụng học Các từ hô gọi trong Truyện Kiều của Nguyễn Du xét trên ba bình diện: kết học – nghĩa học – dụng học Các từ hô gọi trong Truyện Kiều của Nguyễn Du xét trên ba bình diện: kết học – nghĩa học – dụng học
Trang 1O Ụ O O ƢỜN Ọ Ƣ P M N
-o0o -
NGUYỄN THỊ MỸ LỆ
Ừ Ô ỌI TRONG TRUYỆN KIỀU
CỦA NGUYỄN U XÉ Ừ LÍ UYẾ A ÌN ỆN:
Trang 2LỜ AM OAN
Tôi xin cam đoan: Luận văn này là công trình nghiên cứu thực sự của cá nhân
tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS TS Nguyễn Thị L ơng
Các số liệu, những kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận văn này trung thực và chưa được công bố dưới bất cứ hình thức nào
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
Hà Nội, ngày 12 tháng 05 năm 2014
H viên
Nguyễn Thị Mỹ Lệ
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tôi xin chân thành cảm ơn PGS TS Nguyễn Thị L ơng, người đã
trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn Với những lời chỉ dẫn, những tài liệu,
sự tận tình hướng dẫn và những lời động viên của cô đã giúp tôi vượt qua nhiều khó khăn trong quá trình thực hiện luận văn này
Tôi cũng xin cảm ơn quý thầy cô giảng dạy chương trình cao học chuyên ngành Ngôn ngữ học, đã truyền đạt những kiến thức quý báu, những kiến thức này rất hữu ích và giúp tôi nhiều trong lĩnh vực nghiên cứu
Cảm ơn Ban giám hiệu, Phòng sau đại học, Ban chủ nhiệm Khoa Ngữ văn Trường Đại học Sư phạm Hà Nội và Trường Đại học Tây Nguyên đã tạo điều kiện thuận lợi, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập tại trường
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình và bạn bè những người luôn ở bên cổ vũ, động viên tôi trong quá trình thực hiện đề tài
Một lần nữa, tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 12 tháng 05 năm 2014
H viên
Nguyễn Thị Mỹ lệ
Trang 4DANH MỤ ẢNG BIỂU
Số bảng
1.1 Phân tích các đại từ nhân xưng trong tiếng Việt 16 2.1 Các từ hô gọi trong Truyện Kiều 36 2.2 Các từ hô gọi trong Truyện Kiều xét theo cấu tạo ngữ pháp 38 2.3 Phân loại các từ hô gọi trong Truyện Kiều có cấu tạo là
cụm từ
40
2.4 Mô hình cấu tạo cụm danh từ đầy đủ nhất 51 2.5 Nghĩa từ vựng của các từ hô gọi trong Truyện Kiều 59
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ẦU 1
1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 2
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 8
4 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 8
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 9
6 ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI 9
7 CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN 9
Ch ơng 1 : Ơ Ở LÍ LU N 10
1.1 ài nét về Nguyễn u và Truyện Kiều 10
1.1.1 Nguyễn Du 10
1.1.2 Truyện Kiều 11
1.2 Khái niệm và vấn đề về hô gọi 13
1.2.1 Khái niệm về hô gọi 13
1.2.2 Phương tiện hô gọi 15
1.2.3 Phương thức hô gọi 22
1.3 Lí thuyết ba bình diện: kết học, nghĩa học và dụng học 24
1.3.1 Kết học 25
1.3.2 Nghĩa học 26
1.3.3 Dụng học 28
1.4 Tiểu kết 34
Ch ơng 2: Ừ Ô ỌI TRONG TRUYỆN KIỀU ÊN ÌN DIỆN KẾT HỌ N ĨA ỌC 35
2.1 Kết quả khảo sát 35
2.2 ác từ hô gọi trong Truyện Kiều trên bình diện kết học 38
2.2.1 Cấu tạo 38
Trang 62.2.2 Khả năng kết hợp và chức vụ cú pháp 44
2.3 ác từ hô gọi trong Truyện Kiều trên bình diện nghĩa học 58
2.4 Tiểu kết 65
Ch ơng 3: Ừ Ô ỌI TRONG TRUYỆN KIỀU ÊN ÌN DIỆN DỤNG HỌC 67
3.1 iá trị ngữ dụng của các từ hô gọi sử dụng trong Truyện Kiều 67
3.1.1 Thể hiện sự căm ghét, khinh bỉ của người nói với người nghe 69
3.1.2 Thể hiện tình cảm yêu thương, trìu mến của người nói đối với người nghe74 3.1.3 Thể hiện sự đề cao, tôn trọng của người nói với người nghe 79
3.1.4 Thể hiện sự nhỏ bé, yếu ớt, tầm thường và cô độc của người nghe 84
3.2 Tiểu kết 88
KẾT LU N 89
L ỆU THAM KHẢO 92
Trang 7MỞ ẦU
1 LÍ O ỌN Ề
Ngôn ngữ ra đời đã đáp ứng được nhu cầu giao tiếp trong xã hội, con người dùng ngôn ngữ để trao đổi những thông tin, tư tưởng, tình cảm với nhau Nhưng tùy hoàn cảnh, nội dung, mục đích giao tiếp khác nhau mà người giao tiếp lựa chọn các
từ hô gọi cho phù hợp Chính vì vậy, các từ hô gọi có vai trò quan trọng trong giao tiếp của con người, vì các lớp từ này thể hiện được thái độ tình cảm của người nói đối với người nghe hay đối tượng được nói tới
Truyện Kiều của Nguyễn Du được xem một kiệt tác nghệ thuật của nhân loại,
là tác phẩm được giảng dạy trong trường ở nhiều cấp học, lớp học Với thế giới
nhân vật phong phú, nhiều nhân vật trong Truyện Kiều đã trở thành điển hình trong
xã hội cũ, từ đại diện cho thế giới thượng lưu quý tộc cầm quyền cai trị, giới xã hội đen, những người đại diện tôn giáo đến giới trung lưu thấp cổ bé họng sống trong cảnh trên đe dưới búa, quan trên trông xuống nhòm ngó tài sản, xã hội đen nhìn vào thì tự do bắt nạt hiếp đáp và bộ phận dân làng được thể hiện qua hệ thống những nhân vật, như: Hồ Tôn Hiến, Hoạn thư, Tú bà, Từ Hải, Kim Trọng, Thúy Kiều, Thúy Vân, Vương ông, Vương bà, sư Giác Duyên, kẻ vô danh bàng quan đến nhà
Tú bà coi Kiều tự sát cho thỏa lòng hiếu kì hoặc chỉ biết chép miệng ngấm nguýt chê tên Sở Khanh là bất nghĩa vô lương hay người dân vô danh ở Hàng Châu kể cho Kim Trọng biết tin tức Thúy Kiều… thế giới đủ mọi hạng người, nhân vật này đã được Nguyễn Du sử dụng các lớp từ hô gọi khác nhau trong hội thoại giữa các nhân vật một cách phong phú và đa dạng, góp phần nâng cao giá trị của tác phẩm Tuy nhiên, từ trước tới nay chưa có một công trình khoa học riêng biệt nào miêu tả thật chuyên sâu, chi tiết và đầy đủ về các từ hô gọi trong tác phẩm trên ba bình diện kết học, nghĩa học và dụng học, mà chỉ đi sâu vào một khía cạnh riêng lẻ nào đó Vì vậy, vấn đề tìm hiểu các từ hô gọi trên ba bình diện kết học, nghĩa học và dụng học trong tác phẩm, thực sự là một hướng đi mới mẻ đối với những người muốn tìm
hiểu một cách thấu đáo Truyện Kiều
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi đã quyết định chọn vấn đề: “ ác từ
hô gọi trong Truyện Kiều của Nguyễn u xét trên ba bình diện: kết học – nghĩa
học – dụng học” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn của mình
Trang 82 LỊCH SỬ N ÊN ỨU VẤN Ề
2.1 Lịch sử nghiên cứu các từ hô gọi trong tiếng Việt
Việc nghiên cứu các từ hô gọi trong tiếng Việt được rất nhiều nhà Việt ngữ quan tâm Mỗi tác giả đưa ra những quan điểm khác nhau
Nguyễn Kim Thản trong [60] có đề cập đến các phương tiện dùng hô gọi là đại
từ và các danh từ Ông đã khái quát và chia đại từ thành hai loại: Đại từ thể từ và đại từ vị từ Đại từ nhân xưng dùng hô gọi là một bộ phận của đại thể từ (bên cạnh đại từ qua lại, đại từ số từ và đại từ chỉ định) Ông cho rằng: “Đại từ nhân xưng dùng để trỏ người hay động vật, vật thể Đặc điểm ngữ pháp của nó giống đặc điểm ngữ pháp của danh từ ở chỗ không thể trực tiếp làm vị ngữ mà phải có hệ từ”
Ví dụ: Ta là ta, không thể là ai
Tác giả còn đưa ra vấn đề cần phân biệt đại từ (gồm cả những danh từ đã chuyển hóa thành đại từ) với những danh từ dùng để hô gọi Ông không đồng ý
quan điểm của các sách Ngữ pháp trước đây xếp danh từ dùng để hô gọi vào lớp
đại từ Nhưng ông cũng không phủ định việc dùng nhiều danh từ chỉ quan hệ thân thuộc để hô gọi trong gia đình và ngoài xã hội, là một trong những nét riêng biệt của tiếng Việt hiện đại Hơn nữa, ông còn cho rằng: Trong tiếng Việt, danh
từ hô gọi rất nhiều, ngoài những danh từ chỉ các thành viên trong gia đình và họ
hàng ra, còn có những từ như: nhà, đằng ấy, quân ấy, đồng chí… được dùng để
hô gọi Theo ông, cách dùng những danh từ để hô gọi ấy có thể có những tính từ
và danh từ làm định ngữ
Ví dụ: 1 Ông béo ơi!
2 Cái chị cao cao đây á?
Như vậy, Nguyễn Kim Thản chẳng những đề cập đến chức năng hô gọi của các danh từ thân tộc mà ông còn xem việc dùng các danh từ thân tộc trong hô gọi là nét riêng biệt của tiếng Việt hiện đại Ông cũng chú ý tới những danh từ có phần trung tâm là danh từ thân tộc và những danh từ, danh ngữ khác có chức năng hô gọi Tuy nhiên, quan điểm của ông khi cho rằng việc sử dụng các danh từ thân tộc trong
hô gọi là nét riêng biệt của tiếng Việt hiện đại là chưa chính xác Bởi vì, Truyện
Trang 9Kiều của Nguyễn Du ra đời khoảng cuối thế kỉ XVIII nửa đầu thế kỉ XIX, chúng ta thấy các nhân vật trong Truyện Kiều cũng đã sử dụng các yếu tố này để giao tiếp
trong phạm vi gia đình và xã hội
Công trình nghiên cứu [5] Diệp Quang Ban cho rằng, các phương tiện dùng hô gọi đều thuộc nhân xưng từ: “Nhân xưng từ là những từ không mang nghĩa, chúng thuộc vào số những từ dùng để quy chiếu… việc xưng hô theo ngôi trong tiếng Việt
có điểm riêng là không chỉ dùng nhân xưng từ mà còn dùng các lớp từ khác làm từ chỉ ngôi” Tuy nhiên, tác giả phân biệt lớp nhân xưng từ đích thực với các lớp từ khác được dùng làm nhân xưng từ Cụ thể ông đề cập đến các lớp từ sau:
và qui chiếu đến từ ngữ trong văn bản Trong tiếng Việt, việc dùng từ nhân xưng trong hô gọi không thật phổ biến, vì chúng đem lại sắc thái không kính trọng, chúng mang nhiều tính thân mật, suồng sã Vì vậy, trong hô gọi hàng ngày, thay vì việc sử dụng các nhân xưng từ đích thực thì người Việt sẽ sử dụng các danh từ thân tộc và danh từ chỉ chức vụ để hô gọi với nhau Theo tác giả việc dùng các danh từ thân tộc trong hô gọi không gây một trở ngại nào đáng kể vì một cách tự nhiên người Việt
đã sử dụng thành thạo với những sắc thái tế nhị đến mức khó tả của chúng Còn việc dùng các danh từ chức vị làm hô gọi chỉ dùng ngôi thứ hai Người Việt có thể dùng
từ chỉ chức vụ hoặc cương vị xã hội thay cho nhân xưng từ ngôi thứ hai
Ví dụ: 1 Giám đ c cho gọi em ạ?
2 Thưa giám đ c, giám đ c cho gọi em ạ?
3 Chào tr ởng phòng em về trước nhé
Trang 10Như vậy, Diệp Quang Ban đã đề cập đến việc dùng nhân xưng từ đích thực và các lớp từ khác được dùng trong hô gọi Ông chẳng những phân biệt nhân xưng từ đích thực với các lớp từ khác được dùng làm nhân xưng từ, mà ông còn chú ý đến sắc thái của các từ này trong hô gọi của người Việt
Bùi Minh Toán trong [62] cho rằng: “Các đại từ xưng hô, người nói tự xưng
(tôi, tao, chúng ta, chúng mình, chúng tớ), người nói gọi người nghe (mày, chúng mày, mi,…) hoặc chỉ người được nói tới (nó, hắn, thị, y, chúng, nó) Ngoài ra, trong
tiếng Việt, nhiều danh từ chỉ quan hệ thân tộc được dùng như đại từ xưng hô dùng
rộng trong giao tiếp xã hội, như: Ông, bà, anh, chị, em, cháu… trong đó, các đại từ
xưng hô của tiếng Việt cũng phân biệt theo ngôi và số Còn các danh từ thân tộc dùng để hô gọi trong gia đình và trong xã hội không phân biệt theo ngôi, cùng một
từ có thể dùng cả ba ngôi, tùy theo tình huống giao tiếp
Bùi Minh Toán cũng nhấn mạnh việc dùng đại từ và nhất là đại từ xưng hô, người Việt rất chú ý đến việc bày tỏ thái độ, tình cảm của mình đối với người khác
Đó cũng là một trong những sắc thái riêng của đại từ xưng hô sử dụng trong tiếng Việt
Bàn về các từ hô gọi, đó là lớp từ thuộc lớp từ xưng hô Đinh Trọng Lạc trong
[41] cho rằng: “Bên cạnh các đại từ nhân xưng (mày, nó, hắn, họ, chúng nó…) trong tiếng Việt còn dùng những từ chỉ quan hệ gia đình huyết tộc (ông, bà, cha,
mẹ, con, cháu) để xưng hô” Đinh Trọng Lạc chú trọng phân tích sắc thái biểu cảm
của hệ thống đại từ nhân xưng tiếng Việt Ông cũng nhấn mạnh một số điểm cần lưu ý là: “Các đại từ nhân xưng của tiếng Việt không có sắc thái trung tính như trong tiếng Pháp, Nga, Hán…”
Vì vậy, xét các từ hô gọi, ông cũng miêu tả cách sử dụng các từ hô gọi và đại
từ nhân xưng trong một số tình huống thân mật, tình huống xã giao và tình huống thông báo khách quan
Một là, tình huống thân mật là tình huống giao tiếp của những người quen thân trong gia đình, bè bạn… có thể dùng tên riêng, từ chỉ chức nghiệp, từ chỉ thứ bậc gia đình hoặc không dùng tên riêng và đại từ nhân xưng (đây là lối nói phổ biến
Trang 11trong gia đình, bạn bè thân quen, người trên nói với người dưới, còn người dưới cũng có thể dùng cách nói trống nhưng phải kèm theo từ ngữ chỉ sự kính trọng) để
hô gọi
Hai là, tình huống xã giao là tình huống giữa hai người đối thoại chưa quen biết, hoặc mới làm quen Thông thường có những cách biểu đạt: dùng các từ hô gọi
trong gia đình thể hiện thứ bậc vai vế, như: em, chị, ông, chú, bác và chú ý trong
tình huống này người nói không được dùng lối nói trống không, vì như vậy sẽ bị coi
là vô lễ, khiếm nhã và cũng không dùng các từ thân mật “mình” sẽ bị coi là suồng
sã Trong tình huống này, người Việt thường sử dụng lối “đài” (nâng cao hơn một bậc) và lối “khiêm” (người nói hạ thấp mình để đề cao, tỏ kính trọng người nghe)
Ba là, tình huống thông báo khách quan là tình huống mà ít liên quan đến người nói và người nghe Nếu có liên quan thì sử dụng đối với người được nói đến
Như vậy, Đinh Trọng Lạc đã đề cập đến màu sắc biểu cảm cực kì phong phú của hệ thống đại từ nhân xưng và lớp từ hô gọi của tiếng Việt Nó đòi hỏi người dùng phải xác định các yếu tố: Tình huống đối thoại, cương vị và thái độ, trong đó đường ranh giới phân chia bậc trên (tuổi tác), cương vị, giới tính (nam, nữ) và bậc dưới rất rõ ràng Sự chuyển đổi thái độ và cương vị là do tình huống đặt ra Vì thế, trong giao tiếp lựa chọn được từ hô gọi để thể hiện tính chất khách quan là điều không phải dễ dàng
Tô Thị Kim Nguyên [50] đã nghiên cứu các danh từ, danh ngữ được dùng làm phương tiện xưng hô trong tiếng Việt và giá trị ngữ nghĩa, ngữ dụng của các danh
từ, danh ngữ này trong các phong cách ngôn ngữ Tác giả cũng nhấn mạnh việc dùng các đại từ nhân xưng trong giao tiếp không thật phổ biến Do vậy, người
Trang 12Việt có xu hướng sử dụng các danh từ, danh ngữ làm phương tiện xưng hô Hơn nữa, các danh từ, danh ngữ khi thực hiện chức năng xưng hô thì sắc thái biểu cảm của chúng cũng rất đa dạng và phong phú Có được điều này còn tùy thuộc vào mục đích, hoàn cảnh, đối tượng giao tiếp, tức là ai nói, nói với ai và nói trong hoàn cảnh như thế nào
Nhìn lại những công trình nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy: Mỗi tác giả tuy có những quan điểm khác nhau về vấn đề hô gọi, nhưng cùng quan điểm khi cho rằng: Bên cạnh các đại từ nhân xưng đích thực, người Việt còn sử dụng các lớp từ khác dùng làm phương tiện hô gọi Các tác giả cũng có điểm chung là khi quan niệm về đại từ nhân xưng dùng trong hô gọi đều thống nhất cho rằng: Đại từ nhân xưng là lớp từ dùng để thay thế, chỉ trỏ đối tượng giao tiếp ở một ngôi xác định tương ứng với cương vị người nghe và cương vị người được nói đến Hơn nữa, việc sử dụng các đại từ nhân xưng và lớp từ dùng để hô gọi còn thể hiện thái độ, cũng như tình
cảm của người nói đối với người nghe hay đối tượng được nói đến
2.2 Lịch sử nghiên cứu các từ hô gọi trong Truyện Kiều
Truyện Kiều của Nguyễn Du là tác phẩm thu hút được sự quan tâm của rất nhiều học giả từ trước đến nay Khi nghiên cứu về Truyện Kiều các tác giả khai thác
ở nhiều góc độ và khía cạnh khác nhau
Nguyễn Tú Quyên [54] đã phân loại, miêu tả hệ thống các phương tiện ngôn ngữ đồng sở chỉ, giá trị sử dụng của các phương tiện ngôn ngữ đồng sở chỉ biểu thị
nhân vật trong Truyện Kiều, đồng thời thể hiện thái độ của tác giả qua cách gọi tên
mọi tuyến nhân vật trong tác phẩm Ở tuyến nhân vật chính diện, Nguyễn Du thể hiện thái độ ngợi ca, khi xây dựng nên những con người lí tưởng với nhiều phẩm chất tốt đẹp, con người hiện lên tất cả vẻ đẹp về hình thức lẫn tâm hồn Đối với những kẻ đại diện cho tầng lớp thống trị thái độ Nguyễn Du là sự lên án, tố cáo còn với Tú bà thái độ tác giả là khinh ghét, thiếu thiện cảm
Bài viết của Mai Văn Hoan [35] đã đi sâu khảo sát chữ “tôi” được thiên tài Nguyễn Du sử dụng trong Truyện Kiều Bài viết đã xét riêng việc sử dụng chữ “tôi”
theo nghĩa đại từ nhân xưng được các nhân vật trong tác phẩm tự xưng đến các
Trang 13nhân vật khác trong giao tiếp hoặc tự xưng với chính mình, thể hiện ý thức cá nhân mạnh mẽ của các nhân vật khi tự xưng và tài năng “bậc kì tài” Nguyễn Du, một đại thi hào đi trước thời đại
Trong báo cáo khoa học Đặng Thị Thu Hiền [31] đã chỉ ra các phương tiện
ngôn ngữ chiếu vật biểu thị thân phận người phụ nữ trong Truyện Kiều xét trên bình
diện ngữ pháp và bình diện ngữ nghĩa Trong báo cáo, tác giả không tìm hiểu các phương tiện đồng quy chiếu nhân vật với tư cách là các phương tiện cá thể mà khảo sát và tìm hiểu các phương tiện ngôn ngữ đồng quy chiếu biểu thị thân phận người
phụ nữ nói chung trong Truyện Kiều (nghĩa là những từ ngữ có ý nghĩa chiếu vật
biểu thị một tập hợp) Các từ ngữ này được xem xét ở cả ý nghĩa chiếu vật hiển ngôn và ý nghĩa hàm ẩn Do vậy, những từ ngữ vừa được dùng như phương tiện chiếu vật cá thể (nhân vật nữ cụ thể) lại vừa có ý nghĩa chiếu vật tập hợp (thân phận người phụ nữ nói chung) cũng được coi là đối tượng khảo sát trong báo cáo Kết quả báo cáo của Đặng Thị Thu Hiền “là một trong những bước đi đầu tiên để thử nghiệm một cách tiếp cận một trong các tác phẩm lớn nhất của văn học Việt Nam:
tiếp cận Truyện Kiều từ góc độ Ngữ dụng học nói chung và từ phương diện chiếu
vật và chỉ xuất nói riêng” [31; tr 10]
Đặng Thị Thu Hiền trong [33] đã tìm hiểu về các biểu thức chiếu vật có các từ
“thân”, “phận”, “số”, “kiếp” trong Truyện Kiều Hầu hết các biểu thức chiếu vật có các từ “thân”, “phận”, “số”, “kiếp” đều biểu thị những đặc trưng chung của thân phận con người trong xã hội Truyện Kiều, đó là đặc trưng về sự nhỏ nhoi, bé mọn,
thấp kém, yếu ớt, mong manh, phụ thuộc và đặc trưng lưu lạc, lận đận, truân chuyên, oan trái Tác giả cũng đã phân tích vai trò của các biểu thức chiếu vật có
các từ “thân”, “phận”, “số”, “kiếp” trong việc thể hiện nhân sinh quan, thế giới quan của Nguyễn Du trong Truyện Kiều
Khóa luận tốt nghiệp [66] của Nguyễn Phước Việt có khảo sát các phương tiện
xưng hô trong Truyện Kiều của Nguyễn Du về mặt ngữ nghĩa và ngữ dụng Tác giả
đã phân tích cái hay, cái độc đáo của các phương tiện này trong việc sử dụng ngôn ngữ của Nguyễn Du dưới ánh sáng của dụng học
Trang 14Nhìn chung, các nhà nghiên cứu các từ hô gọi trong Truyện Kiều được nhiều
nhà Việt ngữ quan tâm Các tác giả đều có ít nhiều đề cập đến các từ hô gọi trong
Truyện Kiều Mỗi công trình đều có giá trị cao đã được đưa vào trong giảng dạy và nghiên cứu Khảo sát về “Các từ hô gọi trong Truyện Kiều của Nguyễn Du xét trên
ba bình diện: kết học – nghĩa học – dụng học” là đề tài khá mới mẻ, cho đến nay vẫn chưa có nhiều công trình nghiên cứu một cách hoàn chỉnh và cụ thể, mà chỉ nói mang tính chất chung chung
3 Ố ƯỢN P M N ÊN ỨU
3.1 ối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các từ hô gọi trong trong Truyện Kiều
của Nguyễn Du
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Để giải quyết vấn đề mà đề tài đặt ra, chúng tôi tiến hành khảo sát các từ hô gọi trực tiếp giữa các nhân vật với nhau (chỉ xét ngôi thứ 2) Đó là các từ hô gọi thuộc từ loại trong hệ thống từ loại thuộc đại từ nhân xưng, từ loại danh từ (danh từ tên riêng, danh từ thân tộc, danh từ chỉ nghề nghiệp, danh từ chung chứa chỉ từ hoặc
đi kèm các từ cảm thán) Đề tài không tìm hiểu các từ hô gọi tự xưng các nhân vật (ngôi thứ nhất) và hô gọi các nhân vật được nói đến (ngôi thứ ba)
Văn bản Truyện Kiều mà chúng tôi làm tư liệu khảo sát là bản do Đào Duy
Anh khảo đính, được in trong tài liệu [3]
4 MỤ Í N ỆM VỤ N ÊN ỨU
4.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài: “Các từ hô gọi trong Truyện Kiều của Nguyễn Du xét trên
ba bình diện: kết học – nghĩa học – dụng học” nhằm thống kê một cách hệ thống các từ hô gọi trong tác phẩm để làm rõ những đặc điểm ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng của nhóm từ này Bước đầu chỉ ra được nét riêng của nhóm từ hô gọi trong tác phẩm với các từ hô gọi trong tiếng Việt
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên luận văn thực hiện những nhiệm vụ sau:
- Tổng quan những vấn đề lí thuyết có liên quan đến đối tượng nghiên cứu của
đề tài
Trang 15- Thống kê, phân loại các từ hô gọi trong tác phẩm
- Tìm hiểu các từ hô gọi trên ba bình diện để xác định vai trò, giá trị của nhóm
từ này trong Truyện Kiều
5 P ƯƠN P P N ÊN ỨU
Để nghiên cứu đề tài này, chúng tôi áp dụng một số phương pháp, thủ pháp nghiên cứu chủ yếu sau:
- Thủ pháp thống kê, phân loại: thủ pháp này được dùng để thu thập và làm rõ
tần số xuất hiện trong các khía cạnh khác nhau của các từ hô gọi trong Truyện Kiều
- Phương pháp phân tích: gồm phân tích nghĩa tố để nghiên cứu nghĩa từ điển của các từ dùng hô gọi Đồng thời, phân tích các đặc điểm ngữ pháp của các từ hô gọi trong tác phẩm
- Phương pháp so sánh: so sánh giá trị ngữ nghĩa, ngữ dụng của các từ hô gọi
trong Truyện Kiều với các từ hô gọi trong tiếng Việt, thấy được giá trị các từ hô gọi trong Truyện Kiều
Ngoài hai phần mở đầu và kết luận, nội dung luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận
Chương 2: Các từ hô gọi trong Truyện Kiều trên bình diện kết học và nghĩa học
Chương 3: Các từ hô gọi trong Truyện Kiều trên bình diện dụng học
Sau cùng là phần tài liệu tham khảo
Trang 16Ch ơng 1
Ơ Ở LÍ LU N
Truyện Kiều của Nguyễn Du - kiệt tác nghệ thuật của nhân loại, tác phẩm thu
hút được sự quan tâm của rất nhiều học giả từ trước đến nay Tác phẩm đã được nghiên cứu trên nhiều phương diện: khảo đính, chú giải, tìm hiểu khám phá những vấn đề nội dung và nghệ thuật, dịch và giới thiệu ra nước ngoài Trong quá trình tiến hành những nghiên cứu đó, các nhà nghiên cứu không ít thì nhiều đều có đề cập
hô gọi giữa các nhân vật trong giao tiếp Đề tài nghiên cứu các từ hô gọi trong
Truyện Kiều trên ba bình diện: kết học, nghĩa học và dụng học là sự thống kê hệ
thống các từ hô gọi này, được xét trên ba bình diện: kết học, nghĩa học và dụng học Xét lí thuyết, ở chương này, chúng tôi làm rõ các nội dung: vài nét về Nguyễn Du
và Truyện Kiều, những vấn đề chung về hô gọi và lí thuyết ba bình diện
1.1 ài nét về Nguyễn u và Truyện Kiều
1.1.1 Nguyễn Du
Nguyễn Du là nhà thơ nhân đạo tiêu biểu của văn học Việt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỉ XVIII nửa đầu thế kỉ XIX, với những đóng góp to lớn cho nền văn học của dân tộc, xứng đáng được gọi là “thiên tài văn học”
Nguyễn Du (1765 - 1820), tên chữ là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên Tổ tiên Nguyễn Du vốn từ làng Canh Hoạch, huyện Thanh Oai, trấn Sơn Nam (nay thuộc
Hà Tây) sau di cư vào xã Nghi Xuân, huyện Tiên Điền (nay là làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh) Cha Nguyễn Du là Nguyễn Nghiễm (1708 - 1775)
và mẹ là Trần Thị Tần (1740 - 1778), quê Bắc Ninh Vợ Nguyễn Du là con gái Đoàn Nguyễn Thục, quê ở Quỳnh Côi, trấn Sơn Nam (nay thuộc tỉnh Thái Bình) Nguyễn Du may mắn được tiếp nhận truyền thống văn hóa của nhiều vùng quê khác nhau, là tiền đề thuận lợi cho sự tổng hợp nghệ thuật của đại thi hào dân tộc, một danh nhân văn hóa thế giới
Nguyễn Du văn chương vượt hẳn bạn bè, nhưng học vị chỉ thi đỗ tam trường (tú tài) năm 1783 Cuộc đời gặp nhiều khó khăn, mười tuổi mồ côi cha, năm 13 tuổi
mồ côi mẹ, suốt đời trai trẻ ăn nhờ ở đậu: hoặc ở nhà anh ruột (Nguyễn Khản), nhà
Trang 17anh vợ (Đoàn Nguyễn Tuấn), có lúc làm con nuôi một võ quan họ Hà Do nhiều biến
cố lịch sử, từ năm 1789, Nguyễn Du đã rơi vào cuộc sống đầy khó khăn gian khổ hơn chục năm trước khi ra làm quan cho nhà Nguyễn Nhưng sau nhiều năm sống hết sức khó khăn chật vật ở các vùng quê khác nhau đến năm 1802 ra lại làm quan với triều Nguyễn nhưng lần này được thăng thưởng rất nhanh, từ chức Tri huyện lên đến Tham tri (1815), được cử làm Chánh sứ sang Trung Quốc (1813) Năm 1820, Nguyễn Du lại được cử làm Chánh sứ sang Trung Quốc nhưng lần này chưa kịp lên đường thì ông đã mất vào ngày 10 tháng 8 năm Canh Thìn (18 - 9 - 1820)
Nguyễn Du có nhiều tác phẩm Thơ chữ Hán như, Thanh Hiên thi tập, Nam trung tạp ngâm, Bắc hành tạp lục Cả ba tập này, hiện nay giới nghiên cứu đã sưu
tầm được 249 bài Các tập thơ này đã thể hiện tư tưởng, tình cả, nhân cách của ông
Đó là, tâm trạng buồn, day dứt nhưng đã cho thấy rõ khuynh hướng quan sát, suy ngẫm về cuộc đời và xã hội của tác giả
Tác phẩm tiêu biểu cho thiên tài Nguyễn Du là Đoạn trường tân thanh (Truyện Kiều) và Văn tế thập nhị chúng sinh (Văn chiêu hồn), đều viết bằng chữ Nôm Cả
hai tác phẩm đều xuất sắc, tràn trề tinh thần nhân đạo chủ nghĩa, phản ánh xã hội
bất công, cuộc đời dâu bể Đặc biệt, Truyện Kiều đã chứng tỏ khả năng chuyển tải
nội dung tự sự và trữ tình to lớn của thể thơ truyện thơ
Những tác phẩm của Nguyễn Du cũng cho thấy một trình độ nghệ thuật bậc thầy, với học vấn uyên bác, nắm vững nhiều thể thơ Trung Quốc, góp phần trau dồi ngôn ngữ văn học dân tộc, làm giàu cho tiếng Việt qua việc Việt hóa nhiều yếu tố ngôn ngữ ngoại nhập Năm 1965, Hội đồng Hòa bình thế giới đã công nhận Nguyễn
Du là danh nhân văn hóa thế giới và ra quyết định kĩ niệm trọng thể nhân dịp 200 năm năm sinh của ông
1.1.2 Truyện Kiều
Kiệt tác Truyện Kiều của Nguyễn Du (1765 - 1820) nguyên tên là Đoạn trường tân thanh nghĩa là “tiếng nói mới đứt ruột”, là một truyện thơ Nôm viết bằng
thể lục bát, gồm 3254 câu thơ, là một tác phẩm viết dựa theo tác phẩm cổ của Trung
Quốc tên là Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân Tuy nhiên, Nguyễn Du
Trang 18không lệ thuộc vào người xưa mà sáng tạo riêng theo phong cách của mình, với hệ thống tình tiết truyện được thêm vào những đoạn tả cảnh, tả tình nhằm nêu rõ tính cách và tâm trạng của nhân vật Dường như, hầu hết các cảnh thiên nhiên mỹ lệ, từ cảnh mùa xuân êm đềm, cảnh mùa hè gay gắt, cảnh mùa thu mơ màng trong sáng đến cảnh đêm trăng mới lên thơ mộng và huyền ảo, cảnh đêm tàn đầy hăm dọa đối với một người con gái trốn nhà ra đi tất cả mang dấu ấn sáng tạo của Nguyễn Du
Mọi cảm lại, nhận thức lại, sắp xếp lại của Nguyễn Du khi sáng tạo Truyện Kiều là
giữ lại những gì phù hợp với “những điều trông thấy”, từng trãi của mình và thể hiện nó bằng một ngòi bút đầy cảm xúc của một nhà thơ chân chính
Nội dung Truyện Kiều kể về cuộc đời của một người con gái bất hạnh có tên là
Vương Thúy Kiều Từ cuộc đời của Thúy Kiều, Nguyễn Du đã khái quát lên cuộc đời của con người trong xã hội lúc bấy giờ Vương Thúy Kiều là một người con gái
có tài, có sắc, xuất thân trong một gia đình bình thường, lớn lên nàng yêu một chàng trai là Kim Trọng, nhưng rồi tai họa đã xảy đến cho gia đình: cha và em của nàng bị bắt, bị đánh đập, nhà cửa bị cướp phá sạch sành sanh Thúy Kiều không có cách nào
để cứu nguy cho gia đình, nàng buộc lòng phải bán mình để chuộc cha và em; từ đó cuộc đời nàng trải qua không biết bao nhiêu là tai họa, mười lăm năm lưu lạc nàng
bị lừa lọc, hết bán vào kỹ viện, nhà chứa, rồi làm lẽ “thanh lâu hai lượt thanh y hai lần” có thể nói, đây là một câu chuyện bi thảm về số phận của một người con gái
“tài sắc mà lắm truân chuyên” Nhưng dưới ngòi bút của Nguyễn Du, câu chuyện bi thảm ấy lại không thuần túy chỉ là câu chuyện về số phận của một người con gái,
mà thông qua số phận của người con gái ấy nhà thơ đã nói lên số phận của con người nói chung trong một xã hội phong kiến lúc suy tàn Nhà nghiên cứu Hoài
Thanh cũng từng nhận định rằng “vấn đề đặt ra trong Truyện Kiều của Nguyễn Du
là vấn đề quyền sống của con người trong xã hội phong kiến”
Truyện Kiều là một tác phẩm văn chương kinh điển nhất trong lịch sử văn học
Việt Nam Tác phẩm mang chủ nghĩa nhân đạo cao cả là chống chế độ phong kiến thời đại của tác giả, xã hội đang suy thoái đã bộc lộ đầy đủ tính chất mục nát, vô nhân và các tầng lớp nhân dân phải bị dồn đến bước đường cùng
Trang 19Không khí thờ đại Nguyễn Du phản ánh tác phẩm là một xã hội quyền lực to nhất là ở trong tay bọn quan lại phong kiến, đầu mối của mọi cái xấu xa, tàn bạo trong xã hội Đồng thời, truyện đã phơi bày sự tha hóa đồng tiền Đồng tiền trong tay bọn quan lại, trong tay kẻ xấu đã gây ra tai họa cho con người, nhất là người phụ
nữ Không những vậy, giá trị Truyện Kiều còn là sự phá vỡ truyền thống để đi đến
chủ nghĩa hiện thực trong tính cách phổ biến của nó, cũng như đã đem lại lòng tin cho mọi người về khả năng phong phú của tiếng Việt, và tác phẩm đã có công khai sáng cho nhiều nhà văn, nhà thơ đời sau về phương diện sử dụng ngôn ngữ dân tộc
trong sáng tác văn chương
1.2 Khái niệm và vấn đề về hô gọi
1.2.1 Khái niệm về hô g i
Trước khi đi vào khái niệm hô gọi, chúng tôi điểm qua một số thuật ngữ liên quan đến các từ hô gọi
- Đỗ Hữu Châu đưa ra “biểu thức gọi” để phân biệt với “biểu thức xưng hô” [15] Gọi là dùng một biểu thức hướng về một người nào đó nhằm làm cho người
này biết rằng người gọi muốn nói gì đó với anh ta Trong tiếng Việt, ơi! và này! là
hai yếu tố chỉ dẫn hành vi gọi Có những từ vừa dùng để xưng hô vừa dùng để gọi
(kết hợp với ơi!, này!), có những từ chỉ dùng để xưng hô không thể dùng để gọi (đối với người trên, người Việt Nam không dùng ơi!, này! mà phải dùng biểu thức “thưa + X ” và không thể ở khoảng cách quá xa mà gọi Người lễ phép là phải chạy lại
gần người trên tới khi người đó có thể nghe đủ rõ thì mới dùng biểu thức đó để gọi)
- Tác giả Diệp Quang Ban trong [6] đưa ra thuật ngữ “từ gọi - đáp” là từ dùng
để thu hút chú ý của người khác hay đáp lại lời gọi của người khác Từ gọi - đáp không phản ánh tình cảm trực tiếp, nhưng vẫn gián tiếp diễn đạt được tình cảm khi người nói chọn dùng chúng
Những từ dùng để gọi thường gặp là hỡi, cùng, ơi, ới, bớ, nè, (Anh) kia, ê
Ví dụ: 1 Hỡi các bạn
2 Cùng các bạn
3 Tị ơi
Trang 20Ví dụ: 1 Th quý ông, quý bà
2 Báo áo giám đốc
3 Xin vâng ạ
- Nghiên cứu về tình thái ngữ, Nguyễn Thị Lương trong [45] phân biệt tình thái hô đáp (còn gọi là hô ngữ) Tình thái hô đáp là phần các nhân vật tham gia giao
tiếp dùng biểu thức ngôn ngữ để gọi hay đáp lời gọi nhằm thu hút sự chú ý với (lời
gọi) hay chứng tỏ sự “cộng tác” của mình với (lời đáp) người đối thoại Các biểu thức này thường mang tính quy ước
Biểu thức ngôn ngữ dùng để hô (gọi) thường là: các đại từ xưng hô, danh từ
riêng, danh từ chung + ơi/ ạ/ thưa/ bẩm
Trước biểu thức hô gọi, có thể thêm: thưa, bẩm, lạy (thể hiện thái độ kính trọng) Này, ê, nè (tỏ thái độ chân tình hay coi thường), hỡi, bớ
Biểu thức ngôn ngữ đáp lời thường là: vâng, dạ
Ví dụ: 1 Đồng bào ơi! Anh chị em ơi!
Theo Vũ Tiến Dũng [20; tr 328-329] cho rằng: “Xưng hô là hành động nói và
có mối quan hệ khá rõ ràng với phép lịch sự trong giao tiếp Xưng hô trong tiếng
Trang 21Việt chịu áp lực mạnh mẽ của chuẩn mực xã hội, chuẩn mực xã hội chi phối việc lựa chọn từ ngữ xưng hô của các cá nhân trong tương tác xã hội.”
Đức Nguyễn nhận định: “Xưng là tự gọi mình là gì đó khi nói với người khác, biểu thị tính chất mối quan hệ giữa mình với người ấy; Hô là gọi người nói chuyện với mình là gì đó, biểu thị tính chất mối quan hệ của mình với người ấy.” [51; tr 73]
Như vậy, qua những thuật ngữ liên quan phần hô gọi, có thể khái niệm hô gọi
là gọi người khác là gì đó khi nói chuyện với nhau để biểu thị tính chất của mối quan hệ Hô gọi ứng với ngôi nhân xưng thứ hai (hô gọi trực tiếp) và ngôi nhân xưng thứ 3 (hô gọi gián tiếp) dùng để quy chiếu đến người nghe (người đối thoại)
Đề tài chỉ xét những ngôi nhân xưng thứ hai, không xét ngôi nhân xưng thứ ba (người được nói đến)
1.2.2 Ph ơng tiện hô g i
Phương tiện hô gọi là những đơn vị từ, ngữ, những biểu thức dùng để hô gọi nhằm chỉ vai người nghe trong hoạt động giao tiếp Trong tiếng Việt phương tiện hô gọi gồm: đại từ nhân xưng, các lớp từ và biểu thức miêu tả
1.2.2.1 Đại từ nhân xưng (nhân xưng đích thực)
Theo những công trình nghiên cứu của các nhà Việt ngữ tên tuổi, như: Nguyễn Kim Thản, Diệp Quang Ban, Bùi Minh Toán đều phân biệt đại từ nhân xưng đích
thực và các danh từ, danh ngữ được dùng trong hô gọi
Đại từ nhân xưng theo từ điển Bách khoa Việt Nam ghi rõ: “Đại từ nhân xưng
(còn gọi là đại từ xưng hô) là đại từ dùng để xưng hô (ngôi thứ nhất), để gọi người đối thoại (ngôi thứ hai), để gọi người hay sự vật ngôi thứ ba (ngôi thứ ba) Đại từ nhân xưng gồm số ít và số nhiều” [36]
Nguyễn Kim Thản cho rằng: “Đại từ nhân xưng gồm có: tao, ta, mày, mi, nó, hắn, y, chúng và những đại từ gốc là danh từ: tôi, tớ, họ” [60; tr 276]
Theo Nguyễn Hữu Quỳnh quan niệm: “Đại từ xưng hô là đại từ được dùng để xưng hô hoặc thay thế và trỏ người Đại từ xưng hô trong tiếng Việt gồm có các đại
từ chuyên dùng để xưng hô và các đại từ xưng hô lâm thời, mượn các danh từ biểu thị quan hệ thân thuộc hay quan hệ xã hội” [56; tr 163]
Trang 22Còn Diệp Quang Ban [6; tr 333-334] nhận định: “Đại từ nhân xưng là từ dùng
để trỏ vào người hay vật tham gia quá trình giao tiếp, có sự phân biệt giới tính và số lượng Các đại từ nhân xưng hiện đang được dùng (không kể cả các từ cũ) được tác
giả nhận định theo bảng phân loại sau:
Bảng 1.1 Phân tích các đại từ nhân xưng trong tiếng Việt
Nhân vật
trong giao tiếp
Số đơn Số nhiều
Người nói: ngôi nhất tôi, tao,
tớ, (ta), mình
chúng tôi, chúng tao, chúng tớ, chúng mình
- ta số đơn có sắc thái thự tôn
- ta có thể dùng như chúng ta
- ta, chúng ta, chúng mình
có thể dùng là ngôi thứ nhất bao gộp chỉ gồm chung cả người nói và người nghe
Người nghe: ngôi
và ngôi thứ ba) và phân thành hai số (số ít và số nhiều):
- Ngôi thứ nhất (người nói)
- Ngôi thứ hai (người nghe)
- Ngôi thứ ba (người/ vật được nói tới)
Trong việc tìm hiểu các từ hô gọi trong Truyện Kiều chỉ xét những đại từ nhân
xưng dùng chỉ người đối thoại là người nghe (ngôi thứ hai), gồm đại từ nhân xưng
số ít và số nhiều, như: mày, mình, ngươi và đại từ “đấy” dùng chỉ trỏ hô ứng với
“đây” hay đại từ nghi vấn “ai” được dùng như đại từ mang nghĩa phiếm chỉ, được
dùng như một đại từ nhân xưng với cách chuyển ngôi hết sức tế nhị
Ví dụ: 1 “Đừng điều nguyệt nọ hoa kia,
Ngoài ra ai lại tiếc gì với ai.” (461 - 462)
Trang 23Ở hai câu thơ này, sử dụng đại từ “ai” dùng hô gọi một cách bóng bẩy để chỉ
ngôi thứ hai một cách kín đáo, đó là lời đối thoại Thúy Kiều ám chỉ đến Kim Trọng
2 Dạy rằng: “Hương lửa ba sinh,
Dây loan xin nối cầm lành cho ai.” (2581 - 2582)
Đại từ “ai” được Hồ Tôn Hiến sử dụng ám chỉ Thúy Kiều, trong hoàn cảnh Hồ
Tôn Hiến tiêu diệt được Từ Hải, tổ chức tiệc mừng liên hoan thắng trận, Thúy Kiều
bị bắt hầu rượu, đàn ca mua vui
3 “Làm chi tội báo oan gia,
Thiệt mình, mà hại đế ta, hay gì?” (1013 - 1014)
Trong lời đối thoại trên giữa Tú bà và Thúy Kiều, mụ Tú đã sử dụng đại từ
nhân xưng “mình” chỉ Thúy Kiều
Tuy nhiên, việc hô gọi các đại từ, nhất là đại từ nhân xưng trong tiếng Việt ít
có sắc thái trung tính, thường mang sắc thái thân mật, sỗ sàng hoặc không kính trọng Vì vậy, trong tiếng Việt còn sử dụng một số lượng lớn các từ và ngữ khác để
hô gọi
Diệp Quang Ban nhận định: “Việc xưng hô theo ngôi trong tiếng Việt có điểm riêng là không chỉ dùng nhân xưng từ, mà còn dùng các lớp từ khác làm từ chỉ ngôi.” [5; tr 519] và ông còn cho rằng: “Tiếng Việt ít sử dụng các đại từ nhân xưng đích thực trong việc xưng hô (thậm chí dùng chúng thường bị coi là khiếm nhã), mà thường dùng các danh từ chỉ người có họ hàng (danh từ thân tộc) và cả các từ chỉ chức vị để làm từ xưng hô.” [6; tr 334]
1.2.2.2 Các lớp từ dùng trong hô gọi
Diệp Quang Ban quan niệm: “Bên cạnh các nhân xưng từ đích thực, trong xưng hô người Việt còn sử dụng các lớp từ sau: Danh từ chỉ quan hệ thân tộc; danh
từ chỉ chức vụ; một số từ, tổ hợp từ khác” Ông cũng nhấn mạnh: “Trong xưng hô, chính lớp từ thứ hai, tức danh từ chỉ quan hệ thân tộc cho thấy rõ nhất nghĩa liên nhân của nhân xưng từ trong tiếng Việt” [5]
Nhận định của Cao Xuân Hạo về vấn đề này, ông cho rằng: “Bên cạnh nhóm đại từ nhân xưng đích thực dùng trong xưng hô, người Việt còn dùng các đại từ
Trang 24nhân xưng lâm thời gồm các danh từ thân tộc, danh từ chỉ chức vụ, nghề nghiệp để xưng hô” [28]
Thật vậy, trong giao tiếp, người Việt thường mượn các từ chỉ quan hệ gia đình, nghề nghiệp, chức vụ, học hàm, học vị… để mà xưng hay gọi, đặc biệt là các từ chỉ quan hệ gia đình chiếm số lượng lớn và xuất hiện trong nhiều môi trường hoạt động của con người Nên trong giao tiếp, người nói thường hướng tới người đối thoại với hai thái độ: lịch sự hoặc không lịch sự, gắn với các kiểu sắc thái biểu cảm (trang trọng; trung hòa; thân mật; suồng sã, thô tục và khinh thường) Trong khi đó, các đại từ nhân xưng đích thực trong tiếng Việt còn nhiều hạn chế về sắc thái biểu cảm khi sử dụng trong hô gọi Chính vì vậy, các lớp từ được dùng để hô gọi hướng đến người đối thoại được thể hiện gồm: tên riêng, danh từ thân tộc, các danh từ chỉ chức nghiệp và danh từ chung có kèm theo chỉ từ
- Tên riêng là tên đặt cho từng cá thể sự vật Tên riêng không phải hoàn toàn không có nghĩa biểu niệm Giả định rằng ở một dân tộc nào đó, tên riêng của người khác hẳn với tên riêng của đất đai, núi sông, khác hẳn với tên riêng của động vật thì chỉ cần nghe tên riêng người nghe sẽ không rơi vào tình trạng mơ hồ Lúc này phạm trù người, đất đai, sông núi mà tên riêng gợi ra (do sự khác nhau trong cách đặt tên) là nét nghĩa biểu niệm của tên riêng Nhưng trên thế giới, đặc biệt là ở Việt Nam, tên người, tên khu vực địa lí, núi sông có thể trùng nhau
Ví dụ: Hương Giang có thể là tên người, tên một khách sạn, là tên sông, cũng
có thể là tên một xã, một làng, và tên Hương Giang đã đi vào thơ ca, qua bài thơ
“Tiếng hát sông Hương” của Tố Hữu, khổ thơ đầu:
Trên dòng H ơng Gi ng
Em buông mái chèo Trời trong veo Nước trong veo
Em buông mái chèo
Trên dòng H ơng Gi ng
Trang 25Trong trường hợp trên, đã vi phạm về nguyên tắc đã đặt tên riêng thì mỗi cá thể phải có một tên khác hẳn với tên cá thể khác cùng loại Tuy nhiên, trong thực tế thì hiện tượng trùng tên là thường gặp và gây trở ngại cho sự nhận diện sự vật Do
đó, để tránh trùng tên gọi khi sử dụng tên riêng, người ta thường đem danh từ chung kèm tên riêng hoặc dùng định ngữ vào sau tên riêng Phương pháp này được
Nguyễn Du sử dụng khá nhiều trong tác phẩm: tên riêng chỉ người (Thúy Kiều, Thúy Vân, Kim Trọng, Từ Hải ) hay tên riêng chỉ địa danh (huyện Lâm Thanh, huyện Lam Kiều )
Ví dụ: 1 Rằng: “Ho Nô đủ mọi tài,
Bản đàn thử giạo một bài chàng nghe.” (1849 - 1850)
Hô gọi Hoạn thư là người chủ, vai trên gọi người ở bằng tên riêng “Hoa Nô”,
tên Thúy Kiều khi làm con ở cho nhà họ Hoạn
2 “Giá Duyên dù nhớ nghĩa nhau,
Tiền Đường thả một bè lau rước người.” (2691 - 2692)
Danh từ tên riêng “Giác Duyên” được sư Tam Hợp hô gọi đến Giác Duyên
Chức năng cơ bản của tên riêng là chỉ cá thể sự vật đúng với phạm trù của cá thể được gọi bằng tên riêng đó Tên riêng chỉ người có chức năng cơ bản là chỉ cá thể người trong phạm trù người, tên riêng của sông, núi có chức năng cơ bản là chỉ cá thể sông, núi trong phạm trù vật thể tự nhiên Tuy nhiên, trong sử dụng, tên riêng có thể được dùng theo lối dịch chuyển phạm trù theo phương thức chuyển nghĩa hoán dụ
Ví dụ: 1 Dùng tên địa phương để chỉ người, như là tên một làng thuộc huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, nay là xã Tiên Điền, là quê hương của đại thì hào Nguyễn
Du và nhiều danh nhân, nhà khoa bảng nổi tiếng Tên riêng này được sử dụng chỉ
tên người trong bài thơ “Vịnh cụ Tiên Điền” của Nguyễn Bính nhằm kính tặng Nguyễn Du và Truyện Kiều nhân kỉ niệm 200 năm ngày sinh Nguyễn Du
2 Dùng tên người để chỉ tác phẩm nghệ thuật, như trong câu:
Xem triển lãm Tô Ng Vân
“Tô Ngọc Vân” là tên một họa sĩ, nhưng lại được dùng chỉ tác phẩm hội họa do
Tô Ngọc Vân sáng tác
Trang 26Tuy là một phạm trù ngôn ngữ học phổ quát nhưng tên riêng mang đậm bản sắc dân tộc, cả về quy tắc đặt tên, quy tắc dùng và được sử dụng trong hô gọi trong giao tiếp con người Chức năng và cách dùng các tên riêng sẽ là cơ sở để lí giải các phương tiện hô gọi khác
- Danh từ thân tộc trong tiếng Việt, là các danh từ chỉ những người trong gia
đình, họ hàng thuộc các thế hệ, lớp tuổi, thứ bậc tôn ti (riêng bốn từ: vợ, chồng, dâu,
rể không dùng) Đó là các từ: “Ông, bà, bố, mẹ, anh, chị, em, chú, bác, cô, dì, con, cháu ” và cả một số danh từ chỉ bạn bè hay ngôi thứ như: “Bạn, đồng chí, ngài, vị ” được dùng trong hô gọi Khi trở thành từ để hô gọi, các danh từ thân tộc đã
nhằm thông báo gián tiếp về tuổi tác, vị thế xã hội, tình cảm của người nói đối với người nghe
Ví dụ: “Dầu em nên vợ nên chồng,
Xót người mênh bạc ắt lòng chẳng quên.” (737 - 738)
Đây là lời Thúy Kiều hô gọi Thúy Vân bằng từ “em” xét mối quan hệ thân tộc
trong gia đình, người trên (chị) gọi người dưới (em)
- Dùng các từ chỉ chức nghiệp để hô gọi, như: bác sĩ, giáo viên, kĩ sư, nhà báo, chủ tịch, giám đốc
Ví dụ: 1 Thưa bá sĩ
2 Chào giám đ c
3 Thưa giáo s , giáo s cho biết hướng phát triển du lịch của Buôn Ma
Thuột trong những năm gần đây ạ!
4 “Thật tin, nghe đã bấy lâu,
Pháp s dạy thế, sự đâu lạ dường!” (2983 - 2984)
Đối thoại gia đình Thúy Kiều với sư Giác Duyên thì người cha dùng danh từ
“pháp sư” gọi, đây là danh từ chỉ chức nghiệp chỉ nhà sư tu Phật giáo hay Đạo giáo
- Biểu thức để hô gọi là danh từ chung đi kèm chỉ từ hoặc các từ ôi, ơi, ạ, thưa, bẩm, hỡi
Ví dụ: “Con kia đã bán cho ta,
Nhập gia, phải cứ phép nhà tao đây.” (971 - 972)
Trang 27Trong hai câu thơ đã sử dụng biểu thức hô gọi là danh từ chung chứa chỉ từ
“con kia”, qua lời nhiếc móc, ra oai của Hoạn bà đối với Thúy Kiều
Ngoài ra, trước các từ được dùng hô gọi có thể thêm những từ, như: thưa, bẩm, lạy (thể hiện thái độ kính trọng); này, ê, nè (tỏ thái độ thân tình hay coi thường), hỡi, bớ
số cá thể hoặc tập hợp (loài)
Ví dụ: 1 “Đã cam chịu bạc với tình,
Chúa xuân để tội một mình cho hoa!” (1945 - 1946)
Biểu thức miêu tả là danh từ chung “hoa” được ẩn dụ chỉ người đàn bà đẹp, có
sắc đẹp Trong trường hợp này là cảm thông, day dứt của Thúc sinh hô gọi chỉ Thúy
Kiều (hoa là biểu thức hô gọi chỉ cá thể)
2 “Bạc tình nổi tiếng lầu xanh,
Một tay chôn biết mấy ành phù ung.” (1159 - 1160)
Biểu thức miêu tả “một tay” chỉ cá thể là Sở Khanh, còn biểu thức miêu tả
“mấy cành phù dung” chỉ nhóm người là các cô gái bị Sở Khanh lừa gạt
Biểu thức miêu tả có thể được dùng theo nghĩa gốc hoặc nghĩa chuyển và ở dạng nào chúng cũng được xác định nhờ ngữ cảnh Nghĩa chuyển được tạo ra nhờ lối nói ẩn dụ hay hoán dụ của người sử dụng nhằm đạt tới một hiệu quả giao tiếp nhất định
Ví dụ: “Một người dễ có mấy thân,
Ho xuân đ ơng nhị, ngày xuân còn dài.” (1005 - 1006)
Trang 28Trong ví dụ trên, biểu thưc miêu tả “hoa xuân đương nhị” đã được chuyển
nghĩa chỉ Thúy Kiều Đây là lời Tú bà khuyên Kiều khéo léo để nàng đừng hành động dại dột, khi nàng còn rất trẻ
Căn cứ vào các phương tiện ngôn ngữ được dùng, biểu thức miêu tả hô gọi, có thể dược chia thành các tiểu loại: biểu thức miêu tả hô gọi là một danh từ chung; biểu thức miêu tả là một cụm danh từ chứa định ngữ hạn định, có kèm theo chỉ từ hay không kèm theo chỉ từ
Ví dụ: 1 “Làm cho rõ mặt phi thường,
Bấy giờ ta sẽ rước nàng nghi gia.” (2223 - 2224)
“Nàng” là biểu thức hô gọi là một danh từ chung, chỉ Thúy Kiều, đây là lời Từ
Hải trong đoạn đối thoại Thúy Kiều trước lúc ra chiến trường
2 “Bây giờ khăng khít dải đồng,
Thêm người, ng i cũng chia lòng riêng tây.” (1341 - 1342)
Danh từ chung “người” vế thứ hai trong câu được Thúy Kiều hô gọi chỉ Thúc sinh
3 “Trông chừng thấy một văn nhân,
Lỏng buông tay khấu, bước lần dặm băng.” (135 - 136)
Biểu thức miêu tả “một văn nhân” là chỉ Kim Trọng (biểu thức miêu tả là một
cụm danh từ chứa định ngữ hạn định, không kèm theo chỉ từ)
4 “Ngọn đèn khi tỏ khi mờ,
Khiến ng i ngồi đó mà ngơ ngẩn sầu.” (485 - 486)
Nguyễn Du đã sử dụng biểu thức miêu tả là một cụm danh từ chứa định ngữ
hạn định, có kèm theo chỉ từ Biêu thức miêu tả “người ngồi đó” được dùng để chỉ
Kim Trọng
1.2.3 Ph ơng thứ hô g i
Theo Đinh Trọng Lạc trong [41; tr 34] cho rằng, trong hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, có sự tham gia của những nhân tố sau: người nói, người nghe, đối tượng được đề cập hay phản ánh ngôn ngữ, đường kênh giao tiếp và văn bản Những hiểu biết về các nhân tố và tình huống của hoạt động giao tiếp là rất cần thiết đối với cả người nói lẫn người nghe
Trang 29L.C Tômxơn chia ba yếu tố liên quan đến sự lựa chọn về phong cách diễn đạt của người Việt Nam khi nói hay khi viết dựa: Nghi thức của hoàn cảnh trong đó anh
ta nói hay viết; cương vị của người nói với người nghe hay người được nói đến và thái độ của người với người nghe và người được nói đến
Như vậy, phương thức để hô gọi là cách lựa chọn các phương tiện hô gọi sao phù hợp với mục đích nói năng, đối tượng, hoàn cảnh và nội dung giao tiếp nhằm mang lại hiệu quả diễn đạt trong giao tiếp của người nói với người nghe
- Đối tượng giao tiếp: Trong giao tiếp các nhân vật tham gia giao tiếp có sự khác nhau về lứa tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp, địa vị xã hội hay tâm lí khác nhau Do đó, việc lựa chọn các phương tiện hô gọi cho phù hợp đối tượng giao tiếp không chỉ thể hiện mối quan hệ liên cá nhân mà còn thể hiện chuẩn mực giao tiếp của người Việt
Ví dụ: Người Việt khi giao tiếp người có tuổi tác cao, có vị thế lớn, những người có mối quan hệ tương giao với người nói, như các bậc cao niên, cha mẹ, thủ trưởng thì hô gọi người dưới phải lễ phép, có chừng mực, thể hiện sự lịch sự tô trọng trong giao tiếp
- Hoàn cảnh giao tiếp là nhân tố có ảnh hưởng không nhỏ đến lựa chọn ngôn ngữ của người nói đến đối tượng giao tiếp nên theo Đinh Trọng Lạc: “Hoàn cảnh giao tiếp mang tính chính thức xã hội hay không mang tính chính thức xã hội; mang tính chất trang nghiêm (đòi hỏi phải chuẩn bị gọt giũa lời nói) hay mang tính chất thân mật (không phải chuẩn bị trước, được tự do, thoải mái)” [41]
Đỗ Hữu Châu trong [15; tr 23] nhận định: “Hoàn cảnh giao tiếp rộng bao gồm những hiểu biết về thế giới vật lí, sinh lí, tâm lí, xã hội, văn hóa, tôn giáo, lịch sử các ngành khoa học, nghệ thuật ở thời điểm và ở không gian trong đó đang diễn ra cuộc giao tiếp
Trong giao tiếp hoàn cảnh giao tiếp có vai trò hết sức quan trọng, vì mọi phát ngôn thường phải đặt ra trong hoàn cảnh giao tiếp cụ thể, thì đối tượng giao tiếp mới hiểu được nội dung, cũng như mục đích của hành vi ở lời này
Ví dụ: “Búa rìu bao quản thân tàn,
Nỡ đày đọa trẻ, càng oan khốc già.” (661 - 662)
Trang 30Đây là phát ngôn của Vương ông khi gia đình lâm vào cảnh “tai bay vạ gió” Nếu câu thơ không nằm trong hoàn cảnh gia đình Thúy Kiều bị kẻ xấu hãm hại, Vương ông phải đi tù và để cứu cha thoát khỏi tù tội, Kiều phải bán mình, chịu làm
lẽ cho Mã Giám Sinh Trước tình cảnh đó, Vương ông có những phát ngôn thể hiện tiếng than, phẫn uất, đau đớn của người cha khi chứng kiến cảnh con gái còn ngây thơ, nhỏ bé phải rơi vào hoàn cảnh làm lẽ người ta, tương lai mù mịt Thì người đọc
sẽ không hiểu được hô gọi Vương ông về từ “trẻ” là chỉ đến ai, cũng như không
thấy hết được tâm trang đau đớn một người cha phải bất lực trước khó khăn, để rồi chỉ biết trách cứ, đay nghiến ông trời tạo ra oan nghiệt khiến gia đình ông rơi vào cảnh oan ức, trái ngang, chia lìa
Hay trong câu:
“L ợng trên quyết chẳng thương tình,
Bạc đen thôi có tiếc mình làm chi!” (1401 - 1402)
Câu thơ đặt trong hoàn cảnh Thúc ông biết được Thúc sinh có vợ lẻ đến gặp khuyên con, giãi bày điều hơn lẽ thiệt theo ý ông với con Nhưng Thúc sinh đã cãi lời cha, chỉ muốn cùng Kiều nên vợ chồng, nếu không được cha bao dung chấp nhận sẽ tự vẫn Nếu người đọc không hiểu được hoàn cảnh giao tiếp của hai cha con
Thúc sinh, sẽ không hiểu được phát ngôn “lượng trên” là chỉ đến Thúc ông và cũng
không hiểu được mục đích, nội dung câu thơ Đó là, thái độ kiên quyết của Thúc sinh giữ một lòng sắt son không đổi dời với Thúy Kiều, ở đó còn chứa lời đe dọa người con với cha nếu cha không theo ý mình đã chọn
Trong lí thuyết về khái niệm và các vấn đề về hô gọi gồm khái niệm các từ hô gọi, các phương tiện và phương thức hô gọi, là những lí thuyết quan trọng giúp
chúng tôi có cơ sở lí luận để khảo sát và phân loại các từ hô gọi trong Truyện Kiều
1.3 Lí thuyết ba bình diện: kết học, nghĩa học và dụng học
Nghiên cứu câu trên ba bình diện cú pháp, nghĩa học và dụng học, ra đời từ lí thuyết về tín hiệu học của nhà ngôn ngữ nổi tiếng thế giới Charles Sanders Peirce, ông là người đầu tiên phát minh ra lí thuyết trên và sau này được nhiều tác giả nghiên cứu và hoàn chỉnh, như Charles William Morris hay A.G Smith Theo
Trang 31Charles William Morris: “Cú học nghiên cứu những quan hệ hình thức giữa các tín hiệu, nghĩa học nghiên cứu quan hệ tín hiệu với các sự vật mà tín hiệu có thể áp đặt được cho chúng và dụng học nghiên cứu quan hệ giữa tín hiệu với người dùng”
1.3.1 Kết h c
Kết học (syntax, syntaxe) là phương diện liên kết tín hiệu với tín hiệu trong một thông điệp Tuy nhiên, trong một hệ thống tín hiệu, không phải các tín hiệu liên kết với nhau theo bất kì quy tắc nào cũng cho ra một thông diệp có thể lĩnh hội được Ví dụ: Trong hệ thống đèn đường giao thông với ba tín hiệu “đỏ” (dừng lại),
“xanh” (đi), “vàng” (đi chậm) được tuân theo quy tắc kết hợp “đỏ” - “vàng” -
“xanh” - “vàng” - “đỏ” - “vàng” - “xanh” là quy tắc cho phép Nếu ba tín hiệu không tuân theo quy tắc trên mà kết hợp “đỏ” - “xanh” - “vàng” - “xanh” - “đỏ” -
“đỏ” thì sự đi lại trên đường phố sẽ rối loạn và xảy ra tai nạn giao thông Như thế, kết học là lĩnh vực của các quy tắc hình thức kết hợp tín hiệu thành một thông điệp (có thể là quy tắc tuyến tính hay quy tắc đồng thời tùy theo thể chất của từng hệ thống tín hiệu) Nói vắn tắt, kết học là lĩnh vực nghiên cứu quan hệ giữa tín hiệu với tín hiệu trong thông điệp
Trong ngôn ngữ học, tương ứng với kết học là lĩnh vực ngữ pháp, đặc biệt là
cú pháp Cú pháp là sự nghiên cứu các mối quan hệ giữa các hình thái ngôn ngữ, xem xét chúng được sắp xếp như thế nào trong chuỗi lời nói và những chuỗi này được coi là tổ chức tốt nhất Diệp Quang Ban nhận xét: “Kết học là bộ môn nghiên cứu những mối quan hệ giữa các kí hiệu ngôn ngữ trong chuỗi lời nói và nói chung
là trong trình tự trước sau về thời gian của chúng Trong ngôn ngữ, các kí hiệu đó trước hết là các từ và sau đó là các câu.” [5; tr 47]
Nguyễn Thị Lương cũng có quan điểm tương tự: “Bình diện ngữ pháp câu nghiên cứu các quy tắc, cách thức liên kết các từ thành cụm từ (gọi là cú pháp cụm từ) và thành câu, các kiểu câu (gọi là cú pháp câu).” [45; tr 26]
Nghiên cứu dưới góc độ kết học, từ chủ yếu được xem xét ở nội dung: cấu tạo, khả năng kết hợp và chức vụ ngữ pháp Như vậy, trên bình diện kết học, từ chủ yếu được xem xét như là một đối tượng ổn định, dựa trên một mô hình có sẵn Vì vậy,
Trang 32nghiên cứu các từ hô gọi trong Truyện Kiều dựa trên lí thuyết về kết học giúp chúng
tôi góp phần làm rõ đặc điểm ngữ pháp các từ hô gọi về cấu tạo, khả năng kết hợp
và chức vụ cú pháp, đó là những vấn đề được chúng tôi làm rõ ở chương hai của luận văn
1.3.2 Nghĩ h c
Nghĩa học (semantics) là phương diện của những quan hệ giữa tín hiệu với hiện thực được nói tới trong thông điệp, nói đúng hơn là giữa tín hiệu với vật được quy chiếu trong thông điệp Đây là lĩnh vực của chức năng miêu tả, của những thông tin miêu tả, thông tin sự vật Không nên đồng nhất nghĩa học của tín hiệu học với nghĩa học thông thường Nghĩa học của tín hiệu học chỉ bao gồm nội dung miêu tả, tức là nội dung có thể đánh giá theo tiêu chí đúng sai của logic Còn ngữ nghĩa học của ngôn ngữ học bao gồm tất cả nội dung tinh thần mà đơn
vị ngôn ngữ có thể gợi ra ở người sử dụng Như vậy, ngữ nghĩa học rộng hơn nghĩa học của tín hiệu học
Bình diện ngữ nghĩa của từ gọi chung là ý nghĩa của từ và nghiên cứu nghĩa học chính là nghiên cứu về các mối quan hệ giữa các hình thái ngôn ngữ với thực thể trong thế giới, đó là bằng cách nào các từ gắn kết đúng được các sự vật Vì vậy, khi phân tích nghĩa học cần thiết lập các mối quan hệ giữa những miêu tả bằng từ ngữ và các sự việc có trong thế giới để xem xét
Diệp Quang Ban nhận định: “Nghĩa học là bộ môn nghiên cứu về ý nghĩa và ý nghĩa được hiểu là cái gì ở giữa các từ, các câu, với cái mà các từ, các câu này diễn tả; nghĩa học cũng là phần nghiên cứu mối quan hệ giữa các câu xét ở mặt âm thanh
và các vật, việc, hiện tượng có liên quan mà các câu biểu hiện” [5; tr 51]
Nghĩa học còn được hiểu là bộ môn nghiên cứu ý nghĩa với tư cách là cái giữa các biểu thức ngôn ngữ và cái mà những biểu thức này miêu tả; việc nghiên cứu mối quan hệ giữa câu và các ý nghĩa mà câu biểu hiện
Ngày nay, cách hiểu phổ biến về ý nghĩa của từ: “Ý nghĩa của từ là một cấu trúc gồm một số thành phần nhỏ hơn, mỗi thành phần trong cấu trúc ý nghĩa đó tương ứng với chức năng của từ” Chẳng hạn, từ có chức năng gọi tên sự vật, hiện
Trang 33tượng và tương ứng với chức năng biểu thị quan hệ của từ với các từ khác là thành phần ý nghĩa ngữ pháp của từ Như vậy, có hai phạm trù ý nghĩa của từ là ý nghĩa từ vựng và ý nghĩa ngữ pháp Mỗi phạm trù ý nghĩa lại bao gồm một số thành phần nhỏ hơn Xét phạm trù ý nghĩa từ vựng có một số ý nghĩa sau:
- Ý nghĩa biểu vật: là thành phần ý nghĩa liên quan đến các sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan Ý nghĩa biểu vật mang tính khái quát và được trừu tượng hóa khỏi những biểu hiện cụ thể của sự vật, hiện tượng Sự khái quát của nghĩa biểu vật trở nên xác định khi từ được sử dụng Khi sử dụng, nghĩa biểu vật của từ tương ứng với sự vật, hiện tượng, tính chất cụ thể, xác định và sự tương ứng này gọi là
sự chiếu vật hay sự hiện thực hóa nghĩa của từ trong sử dụng Song, ngay cả khi sử dụng nghĩa của từ vẫn chứa những đặc điểm khái quát Chính vì vậy để có được tính hình tượng, hình ảnh cho câu văn, từ ngữ trong văn chương, phải nêu được cái biểu hiện cụ thể, chi tiết của sự vật, hiện tượng, cũng như các hành động, tính chất được nói đến trong tác phẩm
Rất phổ biến trong văn chương là hiện tượng sử dụng đa nghĩa, tức cách dùng một từ tương ứng nhiều nghĩa khác nhau
Ví dụ: 1 “Đã cam chịu bạc với tình,
Chúa xuân để tội một mình cho hoa!” (1945 - 1946)
2 “Ho tàn mà lại thêm tươi,
Trăng tàn mà lại hơn mười rằm xưa.” (3123 - 3124)
“Hoa” vừa chỉ bộ phận của cây của cây có màu sắc xinh đẹp, thường có hương
thơm và sinh quả Khi sử dụng trong văn chương, ở ví dụ (1) đã mang nghĩa rộng
chỉ người đàn bà đẹp, sắc đẹp Nhưng từ “hoa tàn” chỉ người phụ nữ đã hết nhan
sắc, trong trường hợp này hô gọi Kim Trọng chỉ đến Thúy Kiều
3 “Khen cho những miệng dông dài,
B m ong lại đặt những lời nọ kia.” (1585 - 1586)
Bướm ong là những con vật hay hút nhụy hoa và bông hoa là tượng trưng cho
người đàn bà, nên từ đặc điểm này dùng những từ “bướm ong” để ẩn dụ chỉ người
con trai theo đuổi sắc đẹp
Trang 34- Ý nghĩa biểu niệm: là thành phần ý nghĩa liên quan đến ý niệm hay khái niệm của sự vật, hiện tượng Nhưng thành phần ý nghĩa này không trùng với khái niệm trong logic học vì đó là ý niệm hay khái niệm gắn liền với đặc điểm ngôn ngữ
- Ý nghĩa dụng học: là thành phần ý nghĩa liên quan đến hoạt động của từ trong các tình huống giao tiếp Cho nê, chúng ta phải dựa vào ngữ cảnh để xác định thành phần ý nghĩa này Ý nghĩa này còn mang đặc điểm văn hóa của mỗi dân tộc Tiếng Việt là một ngôn ngữ không biến hình, nên ý nghĩa ngữ pháp của từ không được thể hiện trong nội bộ hình thức của từ mà chỉ có thể xác định được thông qua quan hệ của từ với những từ khác khi sử dụng Ý nghĩa từ vựng là cơ sở
để xác định ý nghĩa ngữ pháp cũng như chi phối hoạt động ngữ pháp trong cụm từ
và trong câu Mặt khác, ý nghĩa hoạt động ngữ pháp của từ lại là căn cứ để xác định
ý nghĩa từ vựng
Tóm lại, nghĩa của từ là một thể hợp nhất Tất cả các thành phần hợp với nhau
để tạo thành một giá trị biểu đạt nhất định Đề tài của luận văn là nghiên cứu các từ
hô gọi trong Truyện Kiều nên vấn đề xem xét nghĩa các từ hô gọi chỉ xét nghĩa từ
điển, nét nghĩa ổn định của từ
1.3.3 Dụng h c
1.3.3.1 Lí thuyết chung về dụng học
Dụng học là một bộ môn của ngôn ngữ học nghiên cứu việc sử dụng ngôn ngữ trong mối quan hệ với các nhân tố giao tiếp Tuy ra đời chưa lâu song bộ môn khoa học này đã phát triển mạnh mẽ cả về lí thuyết, cả về những nghiên cứu cụ thể, khiến ngôn ngữ học không còn nằm trong hệ thống khép kín của cấu trúc luận nội tại mà
đã đi vào thực tế đa dạng của đời sống ngôn ngữ Quá trình nghiên cứu bộ môn này bắt đầu quan điểm Charles William Morris
Charles William Morris là người đầu tiên đưa thuật ngữ “dụng học” để gọi tên cho một kí hiệu học vào cuối những năm 30 của thế kỉ XX Ông cho rằng: “Dụng học nghiên cứu quan hệ giữa tín hiệu với người lí giải chúng” [15; tr 11]
Dụng học với tư cách là một lĩnh vực nghiên cứu ngôn ngữ học, hình thành sau kết học và nghĩa học, đó là vào những năm 60 đầu những năm 70 của thế kỉ XX
Trang 35Dụng học được hiểu là bộ môn nghiên cứu việc sử dụng ngôn ngữ trong mối quan
hệ với ngữ cảnh xã hội, đặc biệt là những ý nghĩa của phát ngôn xuất hiện trong các tình huống
Bàn về dụng học A.G Smith nhận xét: “Dụng học nghiên cứu quan hệ giữa tín hiệu với người dùng” [15; tr 11]
Thuật ngữ “người dùng” theo A.G Smith trở nên phức tạp khi đặt trong hoạt động giao tiếp “người dùng” bao gồm “người phát” và “người nhận”, cả hai
“người” này quan hệ với nhau, thường xuyên tác động qua lại với nhau gắn trong một ngữ cảnh giao tiếp nhất định Vì vậy, định nghĩa Smith trở nên không đầy đủ Mặt khác, chính Charles William Morris về sau nhận thấy rằng định nghĩa ban đầu của mình đã tách rời ba lĩnh vực kết học, nghĩa học và dụng học Dường như, cho rằng dụng học tiền giả định kết học và nghĩa học, trong khi thực tế cho thấy kết học và nghĩa học đã có những yếu tố của dụng học Vì vậy, sau này khi xem xét ngôn ngữ dưới góc độ tín hiệu học ông đã có định nghĩa ngôn ngữ khác và đó cũng được xem là định nghĩa mở đầu cho tư tưởng thống hợp ba lĩnh vực Định nghĩa như sau: “Ngôn ngữ theo cách hiểu hoàn toàn tín hiệu học là mọi tập hợp liên chủ thể những tín hiệu mà cách sử dụng bị quyết định bởi các quy tắc kết học, nghĩa học, dụng học” [15; tr 11]
Trên cơ sở định nghĩa về ngôn ngữ của chính mình, sau này Charles William Morris đã đưa ra định nghĩa mới về dụng học và đã khẳng định đúng đắn rằng có những quy tắc thuần túy ngữ dụng trong ngôn ngữ Ông đưa ra định nghĩa như sau:
“Dụng học là bộ môn của tín hiệu học nghiên cứu nguồn gốc cách dùng và tác dụng của tín hiệu trong khuôn khổ hành vi, nghĩa học nghiên cứu ý nghĩa của tín hiệu xét theo mọi góc độ của nó, kết học nghiên cứu sự tổ hợp các tín hiệu mà không quan tâm tới ý nghĩa riêng biệt hay quan hệ của chúng với hành vi trong đó chúng xuất hiện.” [16]
Từ các trào lưu nghiên cứu ở châu Mĩ, châu Âu, đã lan tỏa sang các châu lục khác và “Hiệp hội ngữ dụng học quốc tế” được thành lập năm 1985 với tên gọi I
Pr A (International Pragrmatics Asociation)
Trang 36là lĩnh vực nghiên cứu mới của ngôn ngữ học, nghiên cứu quan hệ giữa ngôn ngữ và các sản phẩm của ngôn ngữ với ngữ cảnh, đặc biệt với nhân vật, với hoàn cảnh giao tiếp và với các hoạt động giao tiếp thực sự của ngôn ngữ trong xã hội.”
Hiểu một cách đơn giản, dụng học là sự nghiên cứu về những mối liên hệ giữa các hình thái ngôn ngữ và người sử dụng các hình thái đó
Như vậy, đối tượng nghiên cứu của dụng học rất rộng rãi và cũng rất phức tạp,
đó là những gì còn lại sau khi đã nghiên cứu bình diện kết học và bình diện nghĩa học của ngôn ngữ
Ba bình diện: kết học, nghĩa học và dụng học tuy mỗi bình diện có hướng nghiên cứu riêng, nhưng đều có mối liên hệ khăng khít về nội dung và hình thức, chúng tồn tại vì nhau và nhờ có nhau Không thể hiểu thấu đáo bất kì một bình diện nào nếu không xem xét hay đặt trong tương quan với những bình diện kia Vậy, ở bình diện dụng học xét ngôn ngữ trong mối quan hệ với người dùng chúng, tức là xét mặt chức năng xã hội của ngôn ngữ Ở bình diện kết học, cho dù xem xét mối quan hệ nội tại của các yếu tố thuộc hệ thống hình thức biểu đạt thuần túy, nhưng cũng thể không xem xét, không đặt trong mối quan hệ với mặt ngữ nghĩa Ngược lại, muốn xem xét nghĩa của một tín hiệu thì không thể không đặt trong một cấu trúc
cụ thể Vấn đề là lức này hay lúc khác giữa các mặt: cấu trúc, ý nghĩa hay chức năng, mặt nào được nhấn mạnh hơn mà thôi Cho nên đứng trên quan điểm này mà phê phán quan điểm khác là phạm với logic hình thức
Trang 371.3.3.2 Những khái niệm dụng học xung quanh vấn đề hô gọi
a Khái quát về chiếu vật
Thuật ngữ “chiếu vật” được dùng để chỉ phương tiện nhờ đó người nói phát ra một biểu thức ngôn ngữ, với biểu thức này người nói nghĩ rằng nó sẽ giúp cho người nghe suy ra một cách đúng đắn thực thể nào, đặc tính nào, quan hệ nào, sự kiện nào anh ta định nói đến [15; tr 61]
Sự chiếu vật là sự tương ứng của các yếu tố ngôn ngữ (của các tín hiệu) trong diễn ngôn với sự vật, hiện tượng đang được nói tới trong một ngữ cảnh nhất định Chiếu vật là dấu hiệu đầu tiên thể hiện quan hệ giữa các ngữ cảnh với diễn ngôn Giá trị đúng sai của một câu tùy thuộc vào sự chiếu vật của các từ tạo nên câu và sự chiếu vật của cả câu
Như đã biết, các nhà logic học chú ý đến việc xác định tính đúng sai của các mệnh đề logic được diễn đạt bằng ngôn ngữ
Ví dụ: 1 Con mèo màu xanh
Các nhà logic không thể kết luận nội dung của câu nói trên đúng hay sai nếu không xác định được chúng qui chiếu với sự vật nào đang được nói tới trong hiện
thực Tuy vậy, mệnh đề “Con mèo màu xanh” sẽ sai nếu “mèo” qui chiếu với các sinh vật được gọi là “mèo”, nhưng sẽ đúng nếu qui chiếu với các đồ chơi bằng nhựa
dành cho trẻ em
2 Tôi là vợ của Napoleon Bonarparte
Trong ví dụ trên, chỉ có thể kết luận là đúng hay sai tùy theo sự qui chiếu đại
từ “tôi” Bằng hành vi chiếu vật người nói đưa sự vật hiện tượng mình định nói tới
vào diễn ngôn của mình bằng từ ngữ, bằng câu
Kết cấu ngôn ngữ (từ, cụm từ, câu) được dùng để chiếu vật được gọi là biểu thức chiếu vật Sự vật tương ứng với một biểu thức chiếu vật là nghĩa chiếu vật (nghĩa sở chỉ) của biểu thức đó
b Chỉ xuất
Chỉ xuất là phương thức chiếu vật bằng ngôn ngữ dựa trên hành động chỉ trỏ Tất
cả các ngôn ngữ đều có hệ thống từ chuyên chiếu vật theo phương thức chỉ xuất
Trang 38Trong ngôn ngữ, những đại từ xưng hô ngôi thứ nhất, ngôi thứ hai có tính chất chỉ hiệu vì mỗi khi chúng được dùng là người nói, người nghe cũng có mặt trong
giao tiếp Chẳng những thế các từ “này, kia, ấy, nọ” cũng có tính chỉ hiệu Mặc dầu
những từ này không quy chiếu vào một vật cố định nhưng khi được dùng kèm với một danh từ nào đó, chúng đều cho chúng ta biết rằng cái vật mà danh từ biểu thị đang có mặt hay đang được nói tới trong cuộc giao tiếp đang diễn ra
Ba phạm trù chỉ xuất trong các ngôn ngữ là phạm trù ngôi (nhân xưng), phạm trù chỉ xuất không gian, phạm trù chỉ xuất thời gian Bàn về hô gọi chỉ liên quan lí thuyết phạm trù ngôi (nhân xưng)
* Phạm trù ngôi (phạm trù xưng hô)
Phạm trù ngôi còn gọi là phạm trù xưng hô bao gồm những phương tiện chiếu vật nhờ đó người nói tự qui chiếu, tức tự đưa mình vào diễn ngôn (tự xưng) và đưa người giao tiếp với mình (đối xưng) vào diễn ngôn
Phạm trù ngôi thuộc quan hệ vai giao tiếp ngay trong cuộc giao tiếp đang diễn
ra với điểm gốc là người nói khi vai trò người nói luân chuyển thì ngôi thứ nhất, ngôi thứ hai cũng thay đổi theo
Theo Benvensite thì chỉ có ngôi thứ nhất và ngôi thứ hai mới thực sự là các ngôi xưng hô bởi vì những người đang giao tiếp với nhau dùng chúng để chỉ
“nhau” Ngôi thứ ba trong thực tế được dùng để chiếu vật người hay sự vật được tới chứ không tham gia vào cuộc giao tiếp Điều đáng lưu ý là chỉ có thể dùng
Trang 39ngôi thứ ba cho sự vật, người, cái đã biết đối với cả ngôi thứ nhất và cả ngôi thứ hai [15; tr.73]
Trong chỉ xuất có sự phân biệt giữa nội chỉ và ngoại chỉ Biểu thức chỉ xuất ngoại chỉ khi sự vật – nghĩa chiếu vật của nó nằm ngoài diễn ngôn, trong thế giới thực tại Biểu thức chiếu vật nội chỉ khi sự vật – nghĩa chiếu vật của nó nằm trong diễn ngôn (tức đã nằm trong nhận thức của người nói, người nghe) Các ngôi thứ nhất và ngôi thứ hai luôn luôn là ngoại chỉ Còn ngôi thứ ba có thể là ngoại chỉ nhưng phần lớn là nội chỉ
Nhìn chung, sự định vị trong các ngôn ngữ đều dựa trên nguyên tắc “tự ngã trung tâm”, có nghĩa là dựa trên nguyên tắc người nói lấy mình làm gốc để quy chiếu và lấy tình thế giao tiếp mặt đối mặt giữa người nói và người nghe làm tình thế chuẩn Tuy nhiên, không phải bao giờ nguyên tắc này cũng được thực hiện Bởi
vì trong hội thoại đôi khi điểm gốc không phải ở người nói, mà là ở một đối tượng khác Đó chính là cách xưng hô thay ngôi Chẳng hạn, cha mẹ học sinh gọi giáo viên của con mình là cô là đã đứng ở ngôi con mình mà hô
c Người nói, người nghe
Nhân vật giao tiếp là những người tham gia vào một cuộc giao tiếp bằng ngôn ngữ, dùng ngôn ngữ để tạo ra các lời nói, các diễn ngôn qua đó mà tác động vào nhau Giữa các nhân vật giao tiếp có quan hệ vai giao tiếp và quan hệ liên cá nhân Trong một cuộc giao tiếp có sự phân vai: Vai phát ra diễn ngôn tức là vai nói (viết) và vai tiếp nhận diễn ngôn, tức nghe (đọc) Trong cuộc giao tiếp nói, mặt đối mặt, hai vai nói, nghe thường luân chuyển Giữa các nhân vật giao tiếp có quan hệ vai giao tiếp Quan hệ liên cá nhân giữa các nhân vật giao tiếp có thể xét theo hai trục, trục tung là trục vị thế xã hội (trục quyền uy), trục hoành là trục của quan hệ khoảng cách (trục thân cận)
Quan hệ liên cá nhân chi phối cả tiến trình giao tiếp, cả nội dung và hình thức của diễn ngôn Trong tiếng Việt, xưng hô chịu áp lực rất mạnh của quan hệ liên cá nhân Qua xưng hô mà SP2 (Speaker 2) nhận biết SP1 (Speaker 1) đã xác định vị thế và quan hệ thân cận giữa anh ta với mình như thế nào Chính bởi quan hệ liên cá
Trang 40nhân chi phối mạnh cách xưng hô cho nên những người đối thoại cũng thường thay đổi cách xưng hô để thử nghiệm hoặc bày tỏ ý muốn thay đổi quan hệ liên cá nhân Những lí thuyết về bình diện dụng học nói chung và những vấn đề dụng học xung quanh vấn đề hô gọi sẽ là cơ sở cho những nghiên cứu để xác định giá trị các
từ hô gọi trong tác phẩm, đó là thái độ của người nói đến đối tượng được hô gọi, thể hiện sự yêu thương hay sự căm ghét, coi khinh
1.4 Tiểu kết
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là “Các từ hô gọi trong Truyện Kiều của
Nguyễn Du xét trên ba bình diện: kết học – nghĩa học – dụng học” Để tìm hiểu các phương tiện hô gọi và vai trò của chúng trong tác phẩm, trong chương một chúng tôi đã trình bày cơ sở lí thuyết gồm các vấn đề sau:
Nghiên cứu những lí thuyết chung khái quát về tác giả Nguyễn Du cũng như
tác phẩm Truyện Kiều Đồng thời, làm rõ những lí thuyết về hô gọi và lí thuyết về
ba bình diện, trong đó các lí thuyết về hô gọi là cơ sở xác định chính xác các từ hô gọi trong tác phẩm, đồng thời phân loại phương tiện hô gọi: phương tiện hô gọi dùng đại từ, phương tiện hô gọi dùng các lớp từ và phương tiện hô gọi dùng biểu
thức miêu tả trong tác phẩm
Lí thuyết về ba bình diện trong nghiên cứu ngôn ngữ là vấn đề chủ chốt trong việc thực hiện đề tài Nắm được lí thuyết này thì việc tìm hiểu các từ hô gọi trong
Truyện Kiều sẽ đi đúng hướng Bình diện kết học sẽ nghiên cứu các từ hô gọi theo
mỗi phương tiện diễn đạt về phần cấu tạo, khả năng kết hợp và chức năng trong câu Bình diện nghĩa học sẽ tìm hiểu nghĩa từ điển của từ Bình diện dụng học phân tích giá trị của các từ hô gọi khi được các nhân vật sử dụng hô gọi với nhau
Các vấn đề về lí thuyết làm nền móng xây dụng đề tài này, sẽ được phân cụ thể theo chương như sau: lí thuyết về kết học và nghĩa học là cơ sở những nghiên cứu của chúng tôi ở chương hai Lí thuyết về dụng học là cơ sở cho chúng tôi nghiên cứu ở chương ba
Dựa trên những lí thuyết này, chúng tôi sẽ tìm hiểu, nghiên cứu các từ hô gọi
trong Truyện Kiều trên cả ba bình diện: kết học, nghĩa học và dụng học Đó là
những lí thuyết đóng vai trò rất quan trọng, là kim chỉ nam để giúp luận văn đi đúng
hướng và nhìn nhận vấn đề một cách sâu sắc hơn