1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

skkn vận DỤNG hệ THỐNG câu hỏi vào VIỆC dạy học TRUYỆN NGẮN CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA THEO đặc TRƯNG THỂ LOẠI

35 507 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 373,2 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Như một nhà phương pháp đã nói “ Nếu câu hỏi không phù hợp với việc phát huy chủ thể cảm thụ nghệ thuật của học sinh và thầy giáo thì sự không ăn khớp ấy có tác hại đáng kể, thậm chí có

Trang 1

VẬN DỤNG HỆ THỐNG CÂU HỎI VÀO VIỆC DẠY HỌC TRUYỆN NGẮN

CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA THEO ĐẶC TRƯNG THỂ LOẠI

I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

1 Yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học

Trước xu hướng đổi mới của nền giáo dục hiện đại trên thế giới có thể thấy, chưa bao giờ nền giáo dục và đào tạo ở nước ta đứng trước thử thách to lớn như hiện nay, nhất là khi nó được xem như một khâu của quá trình sản xuất, là bộ phận chủ yếu của nền kinh tế tri thức Những nghị quyết của Ban chấp hành trung ương Đảng về văn hóa giáo dục qua các nhiệm kì đã cho thấy nhiệm vụ quan trọng của ngành giáo dục là đào tạo nguồn nhân lực, nhân tài cho đất nước ở kỉ nguyên mới Đó là những con người có đủ trí tuệ và nhân cách, luôn năng động, sáng tạo, làm chủ bản thân và làm chủ xã hội Bộ môn văn trong nhà trường, với tư cách vừa là bộ môn nghệ thuật vừa

là một môn học nên nó cũng sẻ chia sứ mệnh đầy khó khăn và vẻ vang Đồng chí Phạm Văn Đồng cho rằng dạy văn là một quá trình rèn luyện toàn diện, là rèn luyện

bộ óc, rèn luyện phương pháp suy nghĩ, phương pháp học tập, phải tìm tòi những phương pháp vận dụng kiến thức, phải vận dụng tốt nhất bộ óc của mình

Gần đây, trong xu hướng phát triển của quan điểm dạy học hiện đại, tích cực, vai trò chủ thể của người học được đề cao, học sinh được xem là “nhân vật trung tâm” của giờ học Đối với quá trình dạy học văn, học sinh chính là chủ thể cảm thụ nghệ thuật Với quan niệm như vậy, các nhà lí luận, các nhà phương pháp cũng như đội ngũ những người làm công tác sư phạm luôn nỗ lực để tìm ra phương pháp, biện pháp tối

ưu nhằm tích cực hóa hoạt động phân tích, cảm thụ nghệ thuật của học sinh Cùng với một số phương pháp dạy học đã được đề xuất thì một vấn đề cần đặt quan tâm lên hàng đầu đó là xác định mối quan hệ giữa thầy và trò trên lớp, mối quan hệ ấy được biểu hiện trực tiếp qua hệ thống câu hỏi do thầy đưa ra Cách đặt câu hỏi, nội dung và việc sử dụng câu hỏi như thế nào trong giờ học văn không chỉ cho thấy bản lĩnh, trình

độ, tác phong sư phạm của người đứng lớp mà nó còn thể hiện phẩm chất nghệ sĩ của

Trang 2

người thầy giáo Hệ thống câu hỏi có hay, có đúng, phù hợp với đặc trưng thể loại của tác phẩm văn học thì mới kích thích hứng thú, cảm xúc của người học, trang bị cho họ những kiến thức, kỹ năng cơ bản khi tiếp nhận những thể loại ấy Như một nhà

phương pháp đã nói “ Nếu câu hỏi không phù hợp với việc phát huy chủ thể cảm thụ nghệ thuật của học sinh và thầy giáo thì sự không ăn khớp ấy có tác hại đáng kể, thậm chí có khi không gây được cảm xúc và ấn tượng mạnh như được lây lan trong phương pháp diễn giảng trước đây ”

2 Thực tế dạy học văn ở trường trung học phổ thông

Thực tế dạy học văn ở trung học phổ thông hiện nay còn nhiều vấn đề bất cập, trong đó có tình trạng phần lớn giáo viên thường gặp lúng túng, vướng mắc với việc chuẩn bị hệ thống câu hỏi trong giờ lên lớp Các câu hỏi được đưa ra rất sơ sài, chung chung, chủ yếu hướng người học đến chỗ ghi nhớ, tái hiện một cách rời rạc các kiến

thức Chẳng hạn như “ Để trở lại làm người, cô Tấm đã trải qua những lần hóa kiếp nào? ”, “ Trong truyện Hai đứa trẻ (Thạch Lam) có bao nhiêu nhân vật? ”, “Bài thơ Hương Sơn phong cảnh ca của tác giả Chu Mạnh Trinh diễn tả tình cảm gì? ”…Đôi

khi, giáo viên sử dụng những câu hỏi quá khó, yêu cầu quá cao, gây không ít trở ngại

cho học sinh khi trả lời, như kiểu các câu hỏi: “Cảm hứng bao trùm toàn tác phẩm này là gì? ”, “Ở đoạn thơ trên, tác giả đã sử dụng nghệ thuật trùng điệp một cách điêu luyện như thế nào? ” Cũng có nhiều trường hợp, giáo viên chưa nắm được

những đặc trưng cơ bản về thể loại của từng tác phẩm văn học nên gặp rất nhiều khó khăn khi xây dựng hệ thống câu hỏi cho bài học

Tình hình nói trên, cho thấy việc xây dựng một lí thuyết về hệ thống câu hỏi theo đặc trưng thể loại và vận dụng trong dạy học văn là vấn đề cần được quan tâm đúng mức Đó là một việc làm có ý nghĩa thiết thực nhằm phát huy tính tích cực của chủ thể học sinh, góp phần vào xu hướng đổi mới phương pháp dạy học tác phẩm văn chương trong nhà trường phổ thông hiện nay

II TỔ CHỨC THỰC HIỆN

1 Cơ sở lí luận

Trang 3

Đưa ra các câu hỏi cho giờ dạy học văn từ lâu đã là mối quan tâm của các nhà sư phạm lớn trên thế giới Mặc dù nó chưa trở thành một chuyên đề riêng biệt nhưng qua các hội nghị bàn về cải tiến phương pháp dạy học văn thì vấn đề này đã được các nhà

sư phạm ở Anh, Pháp, Mỹ, Nga (Liên Xô),Ý, Bungari, BaLan đề cập

Ở Việt Nam, vấn đề câu hỏi trong giờ học văn cũng đã được chú ý, nó từng được đúc kết và tìm hiểu qua công trình nghiên cứu của một số tác giả và có đóng góp đáng ghi nhận vào kho kinh nghiệm của dạy học văn Chẳng hạn như các tài liệu được phổ biến từ các hội nghị chuyên đề về dạy học giảng văn trước đây ở miền Bắc, các kinh nghiệm được đăng tải của một số giáo viên phổ thông về hệ thống câu hỏi Đến những thập niên gần đây, quan niệm về môn văn và công việc dạy học văn có những thay đổi Môn văn vừa là môn học trong nhà trường vừa là bộ môn nghệ thuật, dạy văn không chỉ là cung cấp kiến thức, rèn luyện kĩ năng một cách hệ thống, bài bản, khoa học mà còn phải khơi dậy, hướng người học đến những rung động, xúc cảm thẩm mĩ Đối với vai trò học sinh cũng vậy, từ chỗ được xem như đối tượng tiếp thu kiến thức một cách thụ động, áp đặt một chiều tới chỗ được nhìn nhận như một chủ thể có năng lực văn học và cảm xúc riêng, người ta bắt đầu chú ý tới những đặc điểm tâm lí của học sinh trong cảm thụ nghệ thuật, đặc biệt là sự say mê, hứng thú, khả năng tự ý thức, đánh giá và thái độ tích cực tự giác tiếp nhận tác phẩm ở các em Quan niệm mới này dẫn đến những chuyển biến tích cực trong phương pháp dạy học văn, nổi lên

là việc xây dựng hệ thống câu hỏi cho giờ lên lớp Câu hỏi nên hướng vào nội dung hay hình thức nghệ thuật, hoặc hướng đến xúc cảm, tình cảm của người học? Câu hỏi thuộc loại nào? Loại ghi nhớ, tái hiện, loại hiểu biết, loại xúc cảm hay đánh giá, nhận xét? Đó là những vấn đề được tiếp tục trao đổi qua các tài liệu biên soạn, qua các hội nghị chuyên đề về đổi mới dạy học văn trong thời gian qua

Trong giáo trình Phương pháp dạy học văn, tập 1 do Giáo sư Phan Trọng Luận

chủ biên, ở phần phân tích nêu vấn đề, tác giả có nêu quan niệm về đặt câu hỏi nêu vấn đề như thế nào Xuất phát từ cơ sở tâm lý học, tác giả đã phê phán loại câu hỏi tái

Trang 4

hiện, vụn vặt, rời rạc đồng thời cũng đưa ra những yêu cầu có tính nguyên tắc cho việc xây dựng hệ thống câu hỏi

Nhìn chung, trong lịch sử dạy học văn Việt Nam, do chưa đạt tới sự thống nhất quan niệm về môn văn cũng như công việc dạy học văn… nên chúng ta chưa có được một lí thuyết câu hỏi thực sự bài bản và khoa học Tuy nhiên, qua các công trình nghiên cứu của một số tác giả cho thấy vấn đề câu hỏi trong dạy học đã trở thành một trong những mối quan tâm hàng đầu và dần dần đi đến hệ thống hoàn chỉnh

Trong tài liệu bồi dưỡng giáo viên văn 10 của trường ĐHSP Hà Nội, xuất bản năm

1990 do tác giả Nguyễn Đình Chú làm chủ biên, các tác giả cũng có đưa ra những yêu

cầu dành cho hệ thống câu hỏi dạy văn đồng thời xem đó như là “một phương diện vô cùng quan trọng để nâng cao chất lượng dạy văn”

Gần đây, trong cuốn Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương (theo thể loại),

Tiến sĩ Nguyễn Viết Chữ có chú ý nêu hệ thống câu hỏi cảm thụ và vận dụng nó để dạy học tác phẩm văn chương theo đặc trưng thể loại, xem đây là một hướng nâng cao hiệu quả giờ học văn

Trong tài liệu Dạy học văn ở PTTH, Tiến sĩ Nguyễn Đức Ân cũng tiếp cận vấn đề câu hỏi trong giờ học văn của các nhà sư phạm Mỹ Từ đó, nêu bật mối quan hệ giao tiếp, đối thoại của giờ học văn trong nhà trường hiện đại

2 Xây dựng hệ thống câu hỏi trong giờ học tác phẩm văn chương ở trường

THPT

2.1 Một số yêu cầu khi xây dựng hệ thống câu hỏi

- Câu hỏi phải bám vào đặc trưng dạy học tác phẩm văn chương theo loại thể

- Câu hỏi phải bám sát nội dung và nghệ thuật của văn bản văn học

- Câu hỏi phải mang tính hệ thống liên tục

- Câu hỏi phải hợp với tác phẩm và khơi gợi hứng thú học tập của học sinh

- Câu hỏi phải vừa sức, phù hợp với một giờ học trên lớp ( 45 phút), vừa có khả năng gợi vấn đề suy nghĩ, tìm tòi, sáng tạo của học sinh

- Hệ thống câu hỏi phải chặt chẽ, logic giúp học sinh có thể thâm nhập, tìm hiểu

và chiếm lĩnh cái hay cái đẹp của tác phẩm văn học

Trang 5

2.2 Yêu cầu đối với GV

- Xác định loại thể của tác phẩm: trữ tình, tự sự, kịch

- Xác định trọng tâm bài học

- Xác định đối tượng học sinh để xây dựng hệ thống câu hỏi cho phù hợp

- Mục đích giáo dục tư tưởng, tình cảm

2.3 Hệ thống câu hỏi khi dạy học tác phẩm văn chương

Thông thường trong một tiết học văn, chúng ta bố trí khoảng 10 –> 15 câu hỏi Trong hệ thống câu hỏi ấy, chúng không phải hoàn toàn giống nhau mà có những chức năng, nhiệm vụ khác nhau Căn cứ vào mục đích, chức năng kích thích, phát huy năng lực đọc - hiểu, cảm thụ văn học ở học sinh, có thể phân chia hệ thống câu hỏi ấy

thành 3 loại: câu hỏi hiểu biết, câu hỏi hình dung tưởng tượng và câu hỏi cảm xúc

Tùy theo nội dung từng bài học, đối tượng học sinh, các tình huống sư phạm mà giáo viên có sự sắp xếp, lựa chọn và phân phối các câu hỏi này một cách hợp lí trong từng tiết học

2 3.1 Hệ thống câu hỏi hiểu biết

Đây là hệ thống câu hỏi nhằm kiểm tra mức độ hiểu biết tác phẩm của người học

Chúng ta có thể chia làm hai loại câu hỏi: loại câu hỏi hiểu biết về nội dung và loại câu hỏi hiểu biết về hình thức nghệ thuật của tác phẩm văn học

- Hệ thống câu hỏi hiểu biết về nội dung tác phẩm văn học:

+ Cấp độ đơn giản nhất, dễ nhất là kể lại, tả lại được Chẳng hạn như tóm tắt lại cốt truyện, kể lại một tình huống truyện, đọc thuộc lòng một đoạn hoặc một bài thơ nào

đó Đưa ra câu hỏi loại này thực chất là nhằm kiểm tra khả năng ghi nhớ của người học, thường chỉ thích hợp với học sinh nhỏ Đối với học sinh lớn, ta nên có sự hạn chế khi sử dụng loại câu hỏi này

+ Cấp độ cao hơn một chút của sự hiểu biết về nội dung của tác phẩm văn học là đòi hỏi người học phải có khả năng phân tích, lí giải được vấn đề Các câu hỏi dạng:

Hình ảnh cái lò gạch thoáng hiện trong đầu Thị Nở sau cái chết của Chí Phèo có phải

là hạn chế của tác phẩm hay không? Tại sao?

Trang 6

Cách kết thúc cuộc đời của Chí Phèo có phải là cách giải quyết tiêu cực hay không?

+ Loại câu hỏi khai thác mức độ hiểu biết cao nhất ở người học là loại câu hỏi yêu cầu người học trình bày sự cảm nhận của mình, phát biểu quan điểm của cá nhân về những vấn đề được đặt ra trong tác phẩm Như:

Trong truyện Kiều, Nguyễn Du đã đôi lần nhắc đến chữ “tài” và chữ “tâm”, Theo anh (chị), quan niệm ấy của tác giả có còn phù hợp với cuộc sống của chúng ta ngày hôm nay hay không?

Nếu được trả lời câu hỏi của Nguyễn Du, chúng ta sẽ nói với Nguyễn Du điều gì? Mỗi người hãy tìm chọn một câu để nói với Nguyễn Du?

Nếu là nhà văn Nam Cao em sẽ viết kết thúc của truyện Chí Phèo như thế nào?

Các câu hỏi phân tích, lí giải và phát biểu quan điểm mang tính trí tuệ rất cao,

nó kích thích tư duy thẩm mĩ của người học, trong dạy học văn chúng ta nên chú ý có

sự ưu tiên cho loại câu hỏi như thế này

- Hệ thống câu hỏi hiểu biết về hình thức nghệ thuật của tác phẩm văn học

Loại câu hỏi này nhằm gợi ý học sinh đi sâu khám phá các câu hỏi tiết nghệ thuật của tác phẩm và cấu trúc của nó Trong dạy học văn trước nay, loại câu hỏi này được sử dụng khá nhiều và cũng phát huy được hiệu quả Hiểu biết về hình thức tác phẩm không có nghĩa là chúng ta yêu cầu các em dàn trải, tiến hành tìm hiểu toàn bộ các chi tiết nghệ thuật của tác phẩm mà ở đây chỉ cần tập trung vào những chi tiết nghệ thuật được xem là đặc sắc nhất, nổi bật nhất của tác phẩm hoặc những cấu trúc độc đáo của tác phẩm…

Trang 7

Nhận xét về hình thức của câu thơ cuối trong bài “ Cảnh ngày hè” Tác dụng của nó trong việc bộc lộ tình cảm của tác giả?

Tác dụng của câu thơ toàn thanh bằng “ Nhà ai Pha luông mưa xa khơi” trong đoạn

1 của bài thơ Tây Tiến?

Để trả lời cho những câu hỏi này, người học phải đọc kỹ, phân tích, suy nghĩ có sự liên tưởng, so sánh các chi tiết nghệ thuật đặc sắc, cấu trúc độc đáo trong mối tương quan hệ thống, từ đó tìm ra ý nghĩa của chúng, chúng có vai trò, tác dụng như thế nào trong việc thể hiện tư tưởng, bộc lộ chủ đề, tư tưởng của tác phẩm Tất nhiên, những

ý kiến này của học sinh bước đầu không tránh khỏi trường hợp ít nhiều có tính chủ quan, suy diễn cá nhân Khi đưa các câu hỏi loại này, giáo viên nên có sự tính toán và cân nhắc định hướng, đặc biệt là phải xuất phát từ đặc trưng loại thể và đặc điểm tâm

lí học sinh

2.3.2 Hệ thống câu hỏi hình dung tưởng tượng

Trong cấu trúc năng lực văn học của học sinh, tưởng tượng là một trong những khả năng quan trọng hàng đầu Thiếu năng lực tưởng tượng thì ở người học không có quá trình cảm thụ văn học Ở lứa tuổi học sinh phổ thông, tưởng tượng luôn gắn liền với xúc cảm, tình cảm Người đọc sẽ đi từ vỏ ngôn ngữ của tác phẩm để nhận ra thế giới nghệ thuật do tác giả dựng lên trong tác phẩm đó Muốn cho thế giới nghệ thuật

ấy hiện hình, người học phải biết huy động khả năng tái hiện bằng hoạt động tưởng tượng Ở lứa tuổi học sinh phổ thông trung học, trí tưởng tượng của các em rất phong phú, vì vậy, người thầy phải tìm mọi cách để kích thích vào trí tưởng tượng ấy, làm thế nào để thông qua tưởng tượng tái hiện, thế giới nghệ thuật của tác phẩm hiện lên với nhiều bức tranh cuộc sống, nhiều con người khác nhau về diện mạo, tính cách

Theo TS Nguyễn Viết Chữ: “Hệ thống câu hỏi hình dung tưởng tượng là hệ thống câu hỏi thiên về sự hình dung của người đọc Những câu hỏi giúp người đọc xác nhận

sự hình dung của mình dưới tác động của hình tượng văn học” (9, tr.54)

Nếu như tiếng còi tàu không xuất hiện mỗi lúc về đêm, anh (chị) thử hình dung xem cuộc sống của con người nơi đây sẽ như thế nào?

Trang 8

Nếu được thay lời nhân vật Liên để nói lên một mơ ước, anh (chị) sẽ nói điều gì?

Em hãy thử hình dung nét mặt của viên quản ngục khi nghe lời khuyên của ông Huấn Cao và kể lại cho các bạn nghe?

Không chỉ dừng lại ở hoạt động tái hiện mà trong một chừng mực nào đó của

sự hình dung tưởng tượng, khả năng này có thể phát triển cao hơn ở tầm tái tạo các hình tượng nghệ thuật Đây là một hoạt động đặc biệt, thường có ở học sinh khá giỏi,

nó đòi hỏi khả năng sáng tạo rất nhiều Khi đưa ra những câu hỏi thiên về khả năng tái tạo như thế này, không nhất thiết chúng ta phải có sự dàn trải trên toàn bộ bề mặt của tác phẩm mà thường chỉ tập trung vào một vài điểm mấu chốt nào đó của bức tranh nghệ thuật mà thôi, đó có thể là một chi tiết trong cuộc đời của nhân vật, một xung đột của vở kịch, một nét vẻ của tâm trạng…để qua đó, người dạy phát hiện ra

sự sáng tạo của người học

Hãy hình dung anh (chị) là nhân vật Tnú và nói lên tâm trạng của mình lúc mười ngón tay bị bốc cháy?

Hãy hình dung và mô tả lại khuôn mặt của tể tướng Phôn Vante khi ông này bắt gặp Phecđinăng cũng có mặt ở nhà của nhạc công Minle?

Tóm lại, cũng như cảm xúc thẩm mĩ, tưởng tượng là một trong những năng lực không thể thiếu để có thể cảm thụ được tác phẩm văn học Đưa ra các câu hỏi nhằm kích thích khả năng này và đón nhận câu trả lời ở người học, giáo viên sẽ hiểu được học sinh của mình hơn, từ đó có phương pháp rèn luyện, phát huy hiệu quả quá trình dạy học của mình Thật ra, nếu được cân nhắc và lựa chọn một cách hợp lí các câu hỏi hình dung tưởng tượng thì giờ học văn sẽ trở nên sinh động, hấp dẫn, có sức lôi cuốn học sinh, Dĩ nhiên, ta cũng cần tránh, ngăn ngừa những trường hợp thái quá, tùy tiện, hướng theo cái chủ quan của người học Trong phương pháp dạy học hiện đại, người thầy càng phải quan tâm đến việc phát triển trí tưởng tượng của học sinh Nói như một nhà sư phạm của chúng ta “chỉ có thể bắt đầu giờ giảng văn khi ít nhất trong đầu

óc học sinh đã dựng dậy được thế giới nghệ thuật của tác phẩm”

2.3.3 Hệ thống câu hỏi cảm xúc

Trang 9

Cảm xúc được hiểu là những trạng thái, rung động có tính trực giác ở người học do sự tác động của các yếu tố nội dung và hình thức nghệ thuật của tác phẩm mang lại Các yếu tố nội dung bao gồm các nhân vật, sự kiện, biến cố, tình huống được gợi lên trong tác phẩm Đó là những bi kịch của xã hội và số phận con người có sức lay động mạnh mẽ đến tâm hồn của người học Các yếu tố hình thức nghệ thuật tác phẩm có thể là một kiểu kết cấu, cốt truyện, cách xây dựng nhân vật, lối miêu tả diễn biến tâm trạng, ngữ điệu, nhạc tính trong thơ… Sau khi đọc xong tác phẩm, ở người đọc có thể dâng lên những cảm xúc khác nhau, như yêu thương, căm phẫn, thông cảm, chê bai, vui sướng, đau buồn…Câu hỏi cảm xúc là loại câu hỏi giúp người dạy tìm và phát hiện ra những phản ứng trực giác này ở người học

Tác phẩm mở đầu bằng hình ảnh rừng xà nu và kết thúc tác phẩm cũng bằng hình ảnh của rừng xà nu bạt ngàn, xa tít đến cuối chân trời Kết cấu truyện kiểu ấy có tạo ở anh (chi) ấn tượng gì không?

Nhan đề bài kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông” gợi cho em suy nghĩ gì?

Trong dạy học truyền thống, khi mà cái chủ thể của người học chưa thực sự được quan tâm thì hầu như loại câu hỏi cảm xúc này ít được chú ý vận dụng Mặc dù chưa phát triển thành những tình cảm thẩm mĩ sâu sắc, được định hướng đúng đắn qua quá trình đọc - hiểu và phân tích dưới sự dẫn dắt của giáo viên nhưng những ấn tượng ban đầu của các em về tác phẩm là những phản ứng tình cảm rất chân thật, hồn nhiên, phát hiện ra những rung động ấy sẽ giúp người dạy thấy rõ hơn về đối tượng học sinh của mình, từ đó có những biện pháp giảng dạy hợp lí

3 Vận dụng hệ thống câu hỏi vào dạy học truyện ngắn hiện đại theo đặc trưng thể loại

3.1 Vấn đề phân chia loại thể

Tác phẩm văn chương là kết quả của quá trình sáng tạo của nhà văn, chứa đựng trong nó những giá trị độc đáo về nội dung và nghệ thuật Sáng tạo và giao tiếp nghệ thuật là hiện tượng diễn ra thường xuyên trong đời sống xã hội Muốn trao gửi thông điệp nghệ thuật đến người đọc, nhà văn phải trải qua việc tổ chức xây dựng những

Trang 10

yếu tố nghệ thuật (đề tài, chủ đề, kết cấu, lời văn…) để tạo nên chỉnh thể tác phẩm Sản phẩm của sự lao động nghệ thuật nói đó, vì thế, rất đa dạng phong phú, nhưng quá trình sáng tạo lại chịu sự chi phối bởi những nguyên tắc chặt chẽ của quy luật loại hình, “trong đó ứng với một loại nội dung nhất định, có một loại hình nhất định, tạo cho tác phẩm một hình thức tồn tại chỉnh thể”

Để nắm bắt quy luật tổ chức loại thể văn học, khoa nghiên cứu văn học đã tiến hành việc phân loại tác phẩm với những kiến thức ngày càng sâu sắc Đến nay, quan niệm về phân loại tác phẩm văn học đã có những lí giải tương đối thấu đáo, hợp lí Mặc dù, trong cách phân chia vẫn còn những điểm khác nhau, nhưng về cơ bản, lâu nay các nhà lí luận vẫn thường dựa vào cách chia thời Arixtốt theo ba phương thức

“mô phỏng hiện thực”, từ đó đi đến việc xác định ba loại văn chủ yếu: tự sự, trữ tình, kịch Tuy nhiên, lịch sử sáng tạo nghệ thuật cho thấy, sự phân chia này vẫn mang tính chất tương đối, bởi có hiện tượng thâm nhập lẫn nhau giữa các loại hình Trong thực tiễn văn học, người tiếp nhận có khi khó phân biệt rạch ròi ranh giới giữa ba loại thể này Bởi thực tế văn học mỗi ngày một phong phú và sản phẩm tinh thần do nhà văn tạo ra ngày càng trở nên đa dạng Trong khi đó, việc phân chia, sắp xếp nào cũng đều thể hiện sự nắm bắt chưa hoàn hảo trước đối tượng vốn là “một thực thể tinh thần đang biến động” Vì thế, không thể khẳng định rằng một tác phẩm cụ thể nào đó là thuần nhất thuộc tự sự, trữ tình hay kịch Chẳng hạn với Truyện Kiều, qua nội dung thể hiện, chúng ta dễ dàng nhận ra những nhân vật, sự kiện, tình tiết theo đường dây kết nối của phương thức tự sự khá rõ Tuy nhiên, nếu dạy học kiệt tác của Nguyễn Du

mà chỉ nhằm vào điều nhà văn lột tả về “những điều trông thấy” qua bút pháp tả thực

mà quên đi những nỗi niềm cảm xúc, những rung động về tình người, tình đời thì rõ ràng chưa nhìn thấy hết “nỗi đau nhân tình” chất chứa trong lòng nhà thơ, chưa nắm bắt trúng giá trị nghệ thuật thể hiện qua tác phẩm Đó là chưa kể tới những tình huống

éo le đầy chất kịch cuộc đời mà tác giả đã tái hiện một cách sống động, sắc sảo Khi dạy học “Mảnh trăng cuối rừng” chúng ta cũng gặp những cảnh huống tương tự Câu chuyện kể của người lính lái xe đưa người đọc trở về những đêm hành quân gian khổ

Trang 11

với lí tưởng xả thân của những nam nữ thanh niên trong cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc Nhưng cũng qua tình huống khốc liệt của chiến tranh, chúng ta thấy hiện lên câu chuyện tình lãng mạn của người lính lái xe và cô thanh niên xung phong trên chuyến xe xông trận giữa cảnh rừng đại ngàn với mảnh trăng chênh vênh đượm một

vẻ trong sáng, đầy chất thơ Ánh trăng và tính đa nghĩa của hình tượng trăng vốn là đặc trưng của bút pháp trữ tình Câu chuyện cũng tạo những cảm xúc hồi hộp khi tác giả đưa người đọc gặp những tình huống xảy ra đầy “kịch tính” Như vậy, người đọc

dễ nhận ra điểm khác biệt giữa tác phẩm tự sự thuần tuý với tác phẩm tự sự mang yếu

tố trữ tình Cho nên, về phương diện cấu trúc nội dung của tác phẩm văn học thì

“loại” là chất mà “ thể ” là hình thức biểu hiện cụ thể của “loại ”, không có “thể” thì

“loại” không biểu hiện ra được Nhưng khi đã biểu hiện thành “thể ” thì “thể ” vẫn có tính độc lập tương đối của nó “Điều quan trọng là chúng ta thường xuyên tỉnh táo với

ba loại tính chất ở từng tác phẩm Vì chính “tính chất loại thể” ấy mới làm ra diện mạo tinh thần của tác phẩm”

Nắm vững kiến thức về loại thể là một yêu cầu quan trọng của quá trình nghiên cứu giảng dạy tác phẩm văn chương Gần đây, trước yêu cầu đổi mới tư duy lí luận, nhờ tiếp cận với những thành tựu của khoa lí luận văn học hiện đại trên thế giới, chúng ta đã có sự chú ý đúng mức tới hiện tượng loại thể của tác phẩm văn chương Nhờ đó, trong dạy học văn, việc tìm hiểu, nắm bắt kiến thức về đặc trưng loại thể đã mang đến những chuyển động tích cực tới việc đổi mới phương pháp dạy học văn Đúng như Z.Ia.Rez đã nhận xét: “Nghiên cứu các tác phẩm khác nhau trong chương trình học ở nhà trường học sinh dần từng bước sẽ được luyện tập để nhận thấy rằng tác phẩm như thế đều có một hình thức đặc thù của nó và được nhà văn xây dựng với một ý đồ nhất định; rằng tác giả sáng tạo nên một tác phẩm trữ tình là để biểu hiện những thể nghiệm của mình, còn viết một vở kịch là để nhận thức các xung đột trong cuộc sống v.v…Thế nghĩa là học sinh sẽ học cách hiểu tác phẩm văn học như một hiện tượng của nghệ thuật ngôn từ, vốn có những quy luật riêng của nó và nhìn thấy ở

Trang 12

văn học một quá trình trong đó các hình thức, thể loại, phong cách…tồn tại và thay thế nhau”

Trong khuôn khổ đề tài này, người viết đi vào tìm hiểu những đặc trưng cơ bản của truyện ngắn hiện đại- một thể tiêu biểu của loại tự sự

3.2 Đặc trưng thi pháp truyện ngắn

3.2.1.Khái niệm truyện ngắn

Truyện ngắn là một hình thức của văn xuôi tự sự Trong một nền văn học phát triển, thể loại truyện ngắn có một vị trí xứng đáng Trước nay, khi định nghĩa truyện ngắn, hầu hết các nhà nghiên cứu đều dựa trên ý nghĩa dung lượng, sức chứa của nó

Chẳng hạn, từ điển văn học viết “ Hình thức tự sự loại nhỏ Truyện ngắn khác với truyện vừa ở dung lượng nhỏ hơn, tập trung mô tả một mảnh của cuộc sống” , hay theo cách xác định của các nhà lý luận văn học: “ Truyện ngắn là hình thức ngắn của

tự sự Khuôn khổ ngắn nhiều khi làm cho truyện ngắn có vẻ gần gũi với các hình thức truyện kể dân gian như truyện cổ, giai thoại, truyện cười, hoặc gần gũi với các bài ký ngắn Nhưng thực ra không phải Nó gần với tiểu thuyết hơn cả bởi hình thức tự sự tái hiện cuộc sống đương thời”

Trong thể loại truyện ngắn cũng có sự khác nhau giữa truyện ngắn truyền thống và truyện ngắn hiện đại, như truyện ngắn truyền thống thường nặng về kể, nhịp chậm, truyện phải có đầu có đuôi, kết thúc có hậu hoặc không có hậu, nhưng đọc xong đọc giả không cần phải tìm hiểu thêm,… Còn truyện ngắn hiện đại có rất nhiều thay đổi

về nhân vật, vai trò của người kể chuyện, cơ cấu giọng điệu, không gian và thời gian, cốt truyện không phải là vấn đề then chốt, nhiều khi lại là truyện không có chuyện Trong phạm vi bài viết này, người viết chỉ tập trung vào những vấn đề được coi là đặc trưng chủ yếu của truyện ngắn hiện đại trong phản ánh hiện thực cuộc sống như: dung lượng, kết cấu, cách xây dựng cốt truyện, miêu tả nhân vật, người kể chuyện, phương thức trần thuật và giọng điệu, tình huống truyện…

3.2.2 Đặc trưng thi pháp truyện ngắn

 Dung lượng và kết cấu

Trang 13

Truyện ngắn là hình thức tự sự cỡ nhỏ Do tính chất ngắn của thể loại mà truyện ngắn thường không có nhiều tuyến nhân vật, không bao quát cả một đời người,không

có quá nhiều sự kiện Tuy vậy, truyện ngắn hiện đại có nhiều thay đổi Nhà văn có

thể chỉ đi vào một lát cắt cuộc đời nhân vật, cũng có thể viết về cả đời người ( Phiên chợ Giát của Nguyễn Minh Châu là cả một đời người nông dân nhọc nhằn, đầy biến

động)

Về kết cấu truyện ngắn hiện đại không theo trật tự thời gian sự kiện mà theo trục thời gian tâm trạng Nhiều truyện ngắn bắt đầu từ đoạn giữa hay đoạn cuối, vận dụng hồi ức, độc thoại, vận dụng các hình thức ghép nối tạo hiệu quả cao

Truyện ngắn sống bằng nhân vật, Nguyễn Kiên có viết: “…đi vào câc yếu tố khiến một truyện thành công cũng không thể bỏ qua một khâu nữa: nhân vật Dù không thể xây dựng những nhân vật hoàn chỉnh như tiểu thuyết những truyện ngắn cũng phải có những nhân vật với động cơ bên trong, những khát vọng của nó Và đây là đầu mối của mọi truyện, bản thân các nhân vật phải mang vấn đề Nếu người viết chỉ dùng nhân vật làm một thứ phương tiện bất đắc dĩ, giữa chủ đề và nhân vật, hai cái không

ăn khớp nhau thì dù cả hai có hay ho, sinh động đến mấy cũng không tránh khỏi vô nghĩa.”

Trang 14

Nếu như nhân vật trong tiểu thuyết được miêu tả tỉ mỉ từ lai lịch xuất thân, ngoại hình đến nội tâm, mô tả số phận cá nhân trong sự phát triển phong phú và phức tạp của nó, cách mô tả mang tính chất rộng lớn, dàn trải thì nhân vật trong truyện ngắn thường chỉ xuất hiện trong một thời điểm, một tình huống hay khoảnh khắc nào đó của sự kiện nhưng chính khoảnh khắc ấy lại làm cho tính cách nhân vật bộc lộ rõ

nhất Sách lí luận văn học cũng ghi nhận “ nhân vật cũng chỉ hiện lên trong tác phẩm vào thời điểm có ý nghĩa quyết định tới số phận và thường chỉ gắn bó tới một hoặc hai sự kiện tiêu biểu” (17, tr 167) Chính vì vậy, khi đọc, từ những tình huống, sự kiện

được đề cập, người đọc phải có sự liên hệ, phải nhìn được chiều rộng, chiều sâu của hiện thực và tính cách nhân vật theo kiểu “ lấy nhỏ thấy lớn”

 Cốt truyện

Về cốt truyện, trong truyện ngắn, cốt truyện vẫn thường được nhà văn lấy làm cốt lõi để truyền đạt chủ đề, tư tưởng Truyện ngắn có thể có đầy đủ năm phần cơ bản cảu cốt truyện: mở đầu, thắt nút, phát triển, đỉnh điểm, kết thúc Phân tích các thành phần này của truyện giúp ta nắm chủ đề, tư tưởng của tác phẩm và đồng thời nắm được con đường phát triển tính cách của nhân vật trong tác phẩm Tuy nhiên không phải truyện ngắn nào cuãng có đủ năm phần trên Thực tiễn sáng tác truyện ngắn cho thấy, thường các nhà văn chú ý đến hai khâu quan trọng nhất khi xây dựng cốt truyện

là chi tiết và đoạn kết

Xây dựng cốt truyện của truyện ngắn đối với nhà văn đó là một nghệ thuật, nó đòi hỏi sự sáng tạo không ngừng Do dung lượng của một tác phẩm không nhiều, không gian bị co hẹp, thời gian bị rút ngắn ở mức có thể, chính vì vậy cốt truyện không cần dài dòng, phức tạp Đôi khi, với một cốt truyện đơn giản nhưng bằng nghệ thuật sáng tạo của nhà văn, nó lại có sức khái quát lớn, có khả năng phản ánh sâu sắc những biến động của hiện thực và diễn tả tinh tế chiều sâu tâm lý con người Chẳng hạn, câu chuyện xoay quanh một chuyến đi, một sự gặp gỡ tình cờ, một tình huống xung đột, thậm chí là một khía cạnh hết sức đời thường,…

Trang 15

Truyện ngắn hiện đại có nhiều xu hướng xây dựng cốt truyện khác nhau Có truyện thiên về cốt truyện sự kiện với những tình huống kịch tính bất ngờ, với cách thắt nút, gỡ nút tạo diễn biến cho mạch truyện ( truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan,

Vũ Trọng Phụng) Có truyện ngắn thiên về tâm trạng, nhà văn lược giản hành động bên ngoài, thiên về hành động bên trong của nhân vật Đây là những truyện ngắn không có cốt truyện đặc biệt, chất truyện nhạt, khó tóm tắt, khó kể( trước 1945 có truyện ngắn của Thạch Lam, Nam Cao, sau 1945 có truyện ngắn của Đỗ Chu, sau

1975 xuất hiện phổ biến dạng truyện ngắn này, trong đó có truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu

 Nghệ thuật trần thuật

Nghệ thuật trần thuật là một trong những bình diện cơ bản của loại tự sự Tự sự là

kể lại một câu chuyện có diễn biến, có nhân vật, có sự kiện Vì vậy, trong tự sự nghệ thuật trần thuật đóng vai trò quan trọng hàng đầu

Ở truyện ngắn, người kể chuyện thường đứng ở ngôi thứ nhất hoặc ngôi thứ ba Ở ngôi thứ nhất, truyện như một tự truyện, người kể đồng nhất với nhân vật, tự kể về mình và những người xung quanh, vì thế mà giọng kể thâm trầm, nội dung kể cũng trở nên tỉ mỉ, sâu sắc Kiểu truyện như vậy thường thấy trong các sáng tác của Nam

Cao, ở những câu chuyện mà nhân vật xưng “tôi” Trong trường hợp ở ngôi thứ ba thì

người kể chuyện cũng hiểu biết hết sức tường tận về nhân vật bởi người kể chuyện không chỉ là người quan sát, chứng kiến mà còn là người trong cuộc, giọng kể đầy cảm thông, tâm tình, chia sẻ,… Ngay cả khi cách kể có vẻ lạnh lùng, khách quan, nhân vật được gọi bằng “hắn”, “y”, “anh ta”,…nhưng người đọc vẫn cảm nhận được tấm lòng yêu thương, gần gũi của người kể bởi khoảng cách giữa người kể và nhân vật là không có

Cũng có những truyện ngắn kết hợp các phương thức trần thuật Câu chuyện không được kể bởi một người kể chuyện duy nhất mà được kể từ nhiều điểm nhìn, nhiều ngôi kể Điều này tạo nên sắc thái đa giọng điệu cho truyện ngắn hiện đại

 Tình huống truyện

Trang 16

Tình huống là một trong những yếu tố cơ bản của văn xuôi tự sự Tình huống tạo nên nét riêng của từng truyện, đồng thời thể hiện tài năng và cá tính sáng tạo của mỗi nhà văn Đặc biệt với truyện ngắn, tình huống giữ vai trò quan trọng trong nghệ thuật dựng truyện - có ý nghĩa đối với sự phát triển mạch truyện và thể hiện tư tưởng chủ đề tác phẩm

Ở truyện ngắn, tình huống thường ngắn liền với các biến cố của sự kiện, biến cố

của hành động nhân vật Theo Xtaylin” những tình huống này cần thiết đối với việc xây dựng những hình tượng nhiều mặt và sâu sắc, cũng như đối với việc xây dựng một

hệ thống tình tiết nhiều mặt, thống nhất và logic nội tại cho tác phẩm nghệ thuật.”

 Chi tiết nghệ thuật

Truyện ngắn có thể không có cốt truyện tiểu biểu nhưng truyện ngắn sống được là nhờ các chi tiết nghệ thuật, vì nhờ có chi tiết tiêu biểu mà không khí, cảnh huống, tính cách, hành động, tâm tư nhân vật được bộc lộ đầy đủ Trong nhiều tác phẩm có những chi tiết phát sáng nhờ đó mà chủ đề, tư tưởng thẩm mỹ được khắc sâu Về điểm này

nhà văn Nguyên Ngọc có viết: “ truyện ngắn có thể có cốt truyện, thậm chí cốt truyện

ly kì, gay cấn, kể được Truyện cũng có thể chẳng có cốt truyện gì cả, không kể được, nhưng truyện ngắn không thể nghèo chi tiết, nó sẽ như nước lã.”

Trong tác phẩm có nhiều chi tiết nghệ thuật nhưng không phải tất cả các chi tiết đều có giá trị ngang nhau, và việc tạo ra được các chi tiết có giá trị nghệ thuật cao, không phải là dễ Chi tiết tiêu biểu là những chi tiết nếu lược bỏ đi thì nhân vật trở

nên mờ nhạt, vô hồn, cốt truyện không tiếp tục được Chẳng hạn, chi tiết “bát cháo hành” trong Chí Phèo, qua ngòi bút của Nam Cao không còn là bát cháo bình thường

Với Chí Phèo, nó còn mang hương vị của tình yêu thương, tình người, tình yêu Nó có sức mạnh làm lương tri của Chí Phèo thực sự thức tỉnh Đó là những chi tiết không thể lược bỏ và khó lòng thay thế được

Nguyễn Công Hoan đã rất có lí khi cho rằng: “chi tiết nghệ thuật là những hòn gạch để xây nên truyện, không có chi tiết thì không có truyện sinh động gây cảm xúc

Nó là cảnh, là người, là tiếng nói, giọng nói, việc làm của nhân vật”

Trang 17

 Không gian và thời gian

Cũng giống bất kì một tác phẩm nghệ thuật nào, các sự kiện, hành động trong truyện ngắn đều diễn ra trong một không gian và thời gian nhất định Nhưng trong truyện ngắn không gian và thời gian vừa mang tính nghệ thuật vừa mang tính nội dung Việc lựa chọn và tổ chức không gian và thời gian có tác dụng góp phần thể hiện

ý nghĩa thẩm mỹ, chủ đề tư tưởng của tác phẩm Chẳng hạn không gian và thời gian

trong tác phẩm Hai đứa trẻ của Thạch Lam, gợi sự tối tăm, quẩn canh bế tắc trong

cuộc sống của con người nơi phố huyện nghèo trước cách mạng hay không gian sống của gia đình ngư dân vùng ven biển miền Trung đầy khó khăn, đói nghèo, lạc hậu

trong Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu

Truyện ngắn là một đề tài văn học khó, đòi hỏi sự dụng công lao động rất lớn song

nó lại có lợi thế mạnh trong việc thể hiện đời sống của thể loại và thích ứng nhanh với đời sống của con người Dung lượng ngắn, tốc độ xử lý tình tiết, sự kiện, cách thể hiện nhân vật,… là một ưu thế để truyện ngắn chiếm một vị trí quan trọng trên văn đàn kỷ nguyên hậu hiện đại

Nội dung, tư tưởng chủ đề của truyện được nhà văn thể hiện qua hình thức như xây dựng cốt truyện, kết cấu, nhân vật, sự kiện, biến cố…vì vậy khi dạy học truyện ngắn, chúng ta cần thiết phải cho học sinh nắm vững cốt truyện, biến cố trong cuộc đời, số phận của nhân vật chính Trong trường hợp này, các câu hỏi hiểu biết về nội dung theo kiểu kể lại, tả lại phải được vận dụng, dĩ nhiên là ở mức độ vừa phải, có tính dẫn dắt

Một điểm đặc biệt cần lưu ý đối với truyện ngắn hiện đại là sự phát triển và phân hoá phức tạp của nó Chính vì vậy mà các nhà làm phương pháp khuyên chúng ta trong dạy học nên có sự phân biệt” chất của loại” trong thể Cùng là truyện ngắn nhưng có truyện mang tính tự sự, có truyện lại mang tính trữ tình, rồi ngay trong loại trữ tình thì có trữ tình thế sự, trữ tình hiện thực, trữ tình lãng mạn…Xác định đúng

“chất của loại” ấy, chúng ta có sự lựa chọn câu hỏi thích hợp, khơi gợi và hướng học sinh đi đúng vào mạch cảm hứng chủ đạo của tác phẩm

Ngày đăng: 14/08/2016, 15:40

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Đức Ân (1996), Tài liệu, Một số vấn đề về dạy học giảng văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về dạy học giảng văn
Tác giả: Nguyễn Đức Ân
Năm: 1996
2. Nguyễn Viết Chữ (2003), Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương theo loại thể, NXB ĐHSP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương theo loại thể
Tác giả: Nguyễn Viết Chữ
Nhà XB: NXB ĐHSP
Năm: 2003
3. Nguyễn Viết Chữ (2003), Vấn đề câu hỏi trong dạy học văn (Tài liệu lưu hành nội bộ), Trường ĐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề câu hỏi trong dạy học văn
Tác giả: Nguyễn Viết Chữ
Nhà XB: Trường ĐHSP Hà Nội
Năm: 2003
4. Trần Thanh Đạm và một số tác giả (1971), Vấn đề giảng dạy tác phẩm văn học theo loại thể, NXBGD. HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề giảng dạy tác phẩm văn học theo loại thể
Tác giả: Trần Thanh Đạm, một số tác giả
Nhà XB: NXBGD
Năm: 1971
5. Nguyễn Trọng Hoàn, Câu hỏi liên tưởng và tưởng tượng trong hệ thống câu hỏi sáng tạo của quá trình giảng văn, Tạp chí Nghiên cứu giáo dục, số 8/1999, tr.17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Câu hỏi liên tưởng và tưởng tượng trong hệ thống câu hỏi sáng tạo của quá trình giảng văn
6. Phan Trọng Luận (1999), Đổi mới giờ học tác phẩm văn chương ở nhà trường phổ thông, (Sách bồi dưỡng thường xuyên chu kì 1997-2000 cho giáo viên THPT), NXB GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới giờ học tác phẩm văn chương ở nhà trường phổ thông
Tác giả: Phan Trọng Luận
Nhà XB: NXB GD
Năm: 1999
7. Phan Trọng Luận (Tổng chủ biên), Sách giáo khoa/ Sách giáo viên Ngữ văn 12, Tập 2 (Sách giáo khoa ban cơ bản) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo khoa/ Sách giáo viên Ngữ văn 12, Tập 2 (Sách giáo khoa ban cơ bản)
Tác giả: Phan Trọng Luận
10. Nguyễn Trọng Hoàn(2004) Nguyễn Minh Châu về tác giả và tác phẩm, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Minh Châu về tác giả và tác phẩm
Tác giả: Nguyễn Trọng Hoàn
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2004
11. Đỗ Đức Hiểu (2000), Thi pháp hiện đại, Nxb Hội nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp hiện đại
Tác giả: Đỗ Đức Hiểu
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 2000
13. Nguyễn Minh Châu tuyển tập truyện ngắn (2009), NXB văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: tuyển tập truyện ngắn
Tác giả: Nguyễn Minh Châu
Nhà XB: NXB văn học
Năm: 2009
14. Nhiều tác giả (1971), Vấn đề giảng dạy tác phẩm văn học theo loại thể, Nxb Giáo Dục.Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề giảng dạy tác phẩm văn học theo loại thể
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
Năm: 1971
16. Hà Minh Đức (chủ biên) (2008), Lý luận văn học, Nxb Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
Năm: 2008
8. Lê Thị Hường (2009) Chuyên đề dạy học Ngữ văn 12- Chiếc thuyền ngoài xa NXB Giáo dục Khác
9. Phan Trọng Luận (2010) Thiết kế bài học ngữ văn 12 tập 2, Nxb Giáo Dục Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng  so  sánh  số  liệu  trước  và  sau  khi  vận  dụng  hệ  thống  câu  hỏi  vào  dạy  học truyện ngắn hiện hiện đại theo đặc trưng thể loại ( năm 2012) - skkn vận DỤNG hệ THỐNG câu hỏi vào VIỆC dạy học TRUYỆN NGẮN CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA THEO đặc TRƯNG THỂ LOẠI
ng so sánh số liệu trước và sau khi vận dụng hệ thống câu hỏi vào dạy học truyện ngắn hiện hiện đại theo đặc trưng thể loại ( năm 2012) (Trang 32)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w