Lý do chọn đề tài Trong năm học 2007-2008 tôi đã là chuyên đề “ Một số kinh nghiệm sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học lịch sử ở Trường THPT”, năm học 2008-2009 tôi tiếp tục thực
Trang 1SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC
I THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN
1 Họ và tên: LƯƠNG TUYẾT MAI
2 Ngày tháng năm sinh : 30 - 10 - 1979
3 Nam, nữ: Nữ
4 Địa chỉ: Ấp 7, Thanh sơn, Định Quán, Đồng Nai
5 Điện thọai: hoặc 0976262570
6 Chức vụ: Giáo viên – Chủ tịch công đoàn
7 Đơn vị công tác: Trường PTTH Phú Ngọc, Định Quán, Đồng Nai.
II TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO
Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ: Đại học sư phạm
Năm nhận bằng : 2002
Chuyên ngành đào tạo: Lịch sử
III KINH NGHIỆM KHOA HỌC
Lĩnh vực chuyên môn có kinh nghiệm: Dạy học
Số năm có kinh nghiệm: 10
Các sáng kiến kinh nghiệm đã có trong 5 năm gần đây:
(1) : Phát huy tính tích cực của học sinh trong hoạt động phong trào ở trường THPT (2) : Kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học lịch sử ở trường THPT.
(3) : Nâng cao hiệu quả dạy học theo nhóm trong môn Lịch sử ở trường THPT
(4) : Một số biện pháp giáo dục tích cực của GVCN ở trường THPT
Trang 2MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Lí do chọn đề tài 3
2 Tính cấp bách của đề tài nghiên cứu 5
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài 6
4 Mức độ nghiên cứu đề tài 8
5 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu 8
6 Cơ sở lí luận thực tiễn và PP nghiên cứu 8
7 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 12
8 Kết cấu của đề tài 13
NỘI DUNG Phần I Nêu thực trạng của vấn đề 1 Thuận lợi khi thực hiện đề tài 13
2 Khó khăn khi thực hiện đề tài 14
Phần II Mô tả và giới thiệu các nội dung, biện pháp chính 1 Vài nét về áp dụng công nghệ trong dạy học 15
2 Khai thác và sử dụng internet vào bài giảng lịch sử 19
Phần III Kết quả và kinh nghiệm rút ra được từ SKKN 1 Kết quả đạt được 32
2 Bài học kinh nghiệm 33
Phần IV Khả năng ứng dụng và triển khai SKKN KẾT LUẬN……….….34
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO……… …… 35
Trang 3ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Lý do chọn đề tài
Trong năm học 2007-2008 tôi đã là chuyên đề “ Một số kinh nghiệm sử
dụng công nghệ thông tin trong dạy học lịch sử ở Trường THPT”, năm học
2008-2009 tôi tiếp tục thực hiện đề tài “Một số kinh nghiệm về việc nâng cao
hiệu quả học theo nhóm trong môn lịch sử ở trường THPT” bước đầu đã đạt
được một số kết quả và tích luỹ được kinh nghiệm trong quá trình tiếp tục đổimới phương pháp dạy học (PPDH) bộ môn lịch sử (LS) của mình ở đơn vịtrường THPT Phú Ngọc
Kết quả bước đầu đã làm thay đổi toàn bộ cách nghĩ và cách soạn giảng
mà tôi đã được học trước đây Sự thay đổi PPDH cũng đã tạo hứng thú trong HSnhiều hơn trong tiết học LS của tôi, bởi vì trong một tiết dạy tôi đã cung cấp chocác em nhiều hình ảnh, sơ đồ, biểu mẫu… và giới thiệu cho các em biết nhữngđiều mới lạ hơn trong SGK, cung cấp cho các em những kiến thức mới, tầm nhìnmới hơn về việc học lịch sử
Trong dịp hè 2007 tôi được tham dự lớp tập huấn giảng dạy theo phươngpháp mới do Sở GD-ĐT Đồng Nai tổ chức Sau khi dự lớp tập huấn nầy tôi cóthêm được thông tin bổ ích về việc đầu tư công nghệ ứng dụng vào dạy và học Tôi thấy khi sử dụng phương pháp mới này thì trong một tiết dạy, HS được làmchủ lớp học, tự tìm tòi và khám phá theo nội dung bài học đã được GV hướngdẫn cho HS Tiết học không quá máy móc bắt buộc HS phải ghi chép hết nộidung bài học có trong SGK như cách làm hiện nay của các trường phổ thông
Năm học tôi được nghe phổ biến chủ đề của năm học 2008-2009 là “Năm học
đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”.
Theo Ông Quách Tuấn Ngọc, Cục trưởng Cục Công nghệ thông tin BộGiáo dục và Đào tạo : “Năm 1998, ngay sau khi Internet được mở ra tại ViệtNam, Trung tâm CNTT của Bộ (nay là Cục CNTT) đã xây dựng đề án Mạng
Trang 4giáo dục EduNet, để nối mạng toàn ngành và phát triển dịch vụ thông tin giáodục.
Ý tưởng nội dung cơ bản của dự án Mạng giáo dục có thể tóm tắt nhưsau: Nối tất cả các cơ sở giáo dục và đào tạo vào Internet trên một xa lộ quốc gia(backbone), phát triển các dịch vụ thông tin và ứng dụng trên Internet, phát triểnthông tin (số) về giáo dục; đưa công nghệ dạy học trực tuyến lên mạng EduNet
để chia sẻ dùng chung, để mọi người có thể học mọi nơi, mọi lúc; mỗi trườngđại học (ĐH), cao đẳng (CĐ) phải có website riêng, mỗi giáo viên và học sinh
có email theo tên miền của trường
Năm học 2008-2009 sẽ là bước ngoặt lớn trong lịch sử Internet ở ViệtNam nói chung và trong giáo dục nói riêng Ngày 4/1/2008, Tổng công ty Viễnthông Quân đội Viettel đã ký văn bản hợp tác với Cục CNTT về triển khai mạnggiáo dục Theo đó, Viettel cung cấp dịch vụ kết nối Internet băng thông rộng, kếtnối kênh thuê riêng (leased line) qua đường cáp quang… nhằm giải quyết tìnhtrạng học sinh, sinh viên, giáo viên là những người cần dùng Internet nhất thì lạigặp khó khăn nhất do giá thành cao, do tốc độ kết nối quá chậm
Hiện nay tại Bộ đã kết nối đường cáp quang 34 Mbps trong nước và 2Mbps đi quốc tế Viettel cung cấp gói Net+ (gói chất lượng cao nhất) tới các cơ
sở giáo dục Kết nối cáp quang từ Bộ về các sở giáo dục và đào tạo với băngthông 4 Mbps Ba bên (Cục CNTT, các Sở GDĐT và Viettel) sẽ phối hợp lêndanh sách các cơ sở giáo dục khó khăn để có chính sách hỗ trợ kết nối Các cơ
sở giáo dục hưởng lợi từ dịch vụ ưu đãi này sẽ bao gồm cả các trường mầm non,mẫu giáo (các sở cung cấp PC), các trung tâm giáo dục cộng đồng, trung tâmgiáo dục thường xuyên, các trường dạy nghề, các phòng giáo dục
Đối với các trường vùng sâu, vùng xa, không thể rải cáp Internet và nếu
có điện, cần lên phương án kết nối khác (có thể là qua vệ tinh) Viettel cam kết
hỗ trợ cung cấp miễn phí qua sóng điện thoại di động và cần thời gian thửnghiệm vì địa hình các vùng này rất khó khăn Chúng tôi cũng đã đề nghị Vietteltài trợ miễn phí kết nối Internet cho một số điểm tỉnh như Điện Biên, Lai Châu,
Việc ứng dụng CNTT sẽ tạo ra bước ngoặt mới về việc làm bài giảngđiện tử theo công nghệ e-Learning Trong những năm qua, Cục CNTT đã xâydựng website e-Learning http://el.edu.net.vn để tuyên truyền phổ cập công nghệ,
Trang 5nghiên cứu thử nghiệm và tuyển chọn các phần mềm e-Learning thích hợp, đãViệt hoá phần mềm mã nguồn mở Moodle và đến nay đã có khoảng 70 trường
ĐH, CĐ sử dụng Cục CNTT sẽ tổ chức chuyển giao các phần mềm công cụ tạobài giảng đạt chuẩn quốc tế, phù hợp với yêu cầu Việt Nam cho các Sở
Bộ GDĐT (Cục CNTT chủ trì) sẽ tổ chức cuộc thi giáo viên làm bàigiảng điện tử theo công nghệ e-Learning, giáo viên dạy giỏi ứng dụng CNTT,nhằm mục đích khuyến khích động viên giáo viên tiếp cận công nghệ mới cũngnhư chia sẻ kinh nghiệm Khẩu hiệu của chúng ta là: Nếu mỗi giáo viên góp mỗinăm 1 bài giảng e-Learning, chúng ta sẽ có 1 triệu bài giảng điện tử trong 1 năm
và nếu bài giảng đó soạn thêm bằng tiếng Anh, chúng ta có thể chia sẻ với bạn
bè giáo viên ở các nước khác về công nghệ làm bài giảng e-Learning
Cục CNTT cũng sẽ tổ chức tuyển chọn các phần mềm dạy học khác đểphổ biến trên tinh thần tiết kiệm, hợp chuẩn quốc tế, dễ sử dụng và khai thác
Tại sao lại phải là công nghệ e-Learning? Đó là vì e-Learning có chuẩncông nghệ SCORM, AICC được thế giới công nhận, nên có thể chia sẻ bài giảnggiữa các nước với nhau, có nhiều công cụ xây dựng bài giảng hợp chuẩn, đápứng nhu cầu học tập mọi nơi, mọi lúc một cách mềm dẻo, có thể học trực tuyếnqua Internet, cũng có thể học ngoại tuyến qua đĩa CD Đổi lại, chúng ta cũng có
thể tận dụng các nguồn bài giảng của các nước khác.” (Theo Chinhphu.vn)
Từ những lí do nêu trên nên tôi đã tiếp tục ứng dụng đề tài : “Áp dụng
công nghệ thông tin trong giảng dạy lịch sử”
2 Tính cấp bách của đề tài nghiên cứu
“Áp dụng công nghệ thông tin trong học giảng dạy lịch sử” là việc làm
cấp bách và cần thiết Hiện nay nền kinh tế tri thức đang đóng vai trò quyết định
trong sản xuất vật chất Nhờ những phương tiện thông tin hiện đại mà khoảngcách về không gian được rút ngắn hơn Xu thế toàn cầu hóa yêu cầu con ngườiphải thay đổi nhịp sống của mình thì mới nắm bắt kịp những thay đổi nhanhchóng của nhân loại, mới thích ứng và phát triển theo nhịp sống đương đại
Khối lượng kiến thức của nhân loại ngày càng nhiều, thời gian và điềukiện tiếp thu lại có hạn mà yêu cầu của ngành GD về chất lượng đào tạo phảingày càng cao Chính vì thế việc đổi mới nội dung và PPDH LS có tầm quantrọng đặc biệt Làm thế nào để HS không bị nhồi nhét kiến thức, lo học tủ, họcvẹt để thi cử?
Với chủ trương vận động của Bộ GD&ĐT, càng đòi hỏi người GV DHLS
phải cải tiến PP soạn giảng, làm thế nào để HS có hứng thú, phát huy tư duy, óc
Trang 6phán đoán trong các vấn đề về các sự kiện LS để các em hiểu được nguyênnhân, ý nghĩa và bài học kinh nghiệm LS trong quá trình dạy học LS.
Qua ba năm giảng dạy SGK mới, về hình thức trình bày, cách thể hiệnnguồn kiến thức trong mối quan hệ giữa kênh hình và kênh chữ đã tạo điều kiệncho GV có thể tiến hành đổi mới PPDH LS
Từ công tác bồi dưỡng thay sách lớp 10, 11, 12 việc đổi mới PPDH LS ởtrường THPT đã trở thành một yêu cầu cấp bách của GV LS, vì không chỉ đểđáp ứng mục tiêu và nhiệm vụ của bộ môn LS ở trường THPT mà còn góp phầnlàm thế nào để thay đổi nhận thức của xã hội về vị trí, tầm quan trọng của bộmôn LS đối với việc GD thế hệ trẻ
Việt Nam đang bước vào hội nhập quốc tế và khu vực cho nên càng đòihỏi cấp bách việc GD phải đổi mới và nâng cao chất lượng để đáp ứng yêu cầutrên Trước tiên và quan trọng hơn cả là việc DHLS phải phấn đấu vươn tớichuẩn chung về chương trình đào tạo, về mô hình quản lý, đặc biệt là phải đạtchuẩn về chất lượng và các điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo Nhiều chuyêngia GD cho rằng tìm được lời giải cho vấn đề nầy cũng có nghĩa là tìm đượchướng cải cách chương trình, thay SGK, cũng chính là mục đích tìm ra mộthướng đi cho phù hợp tình hình hiện nay của đơn vị
Đề tài “Áp dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy lịch sử” nhằm giải
quyết vấn đề cấp bách của GV bộ môn LS và của công tác DHLS mà xã hộiđang quan tâm hiện nay
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Bộ môn LS ở trường THPT có ưu thế đặc biệt trong việc phát triển conngười toàn diện vừa có tri thức khoa học, có tư tưởng đạo đức đúng đắn, đậm đàbản sắc dân tộc, vừa có khả năng tự lập linh hoạt, sáng tạo … trong cuộc sống.Song muốn phát huy được ưu thế nầy, trước hết, HS phải nắm vững kiến thức
LS Vậy làm thế nào để HS nắm vững kiến thức trong DHLS ở trường THPT?
Căn cứ vào mục tiêu bộ môn LS ở trường THPT, đặc trưng của hiện thực
LS, đặc điểm nhận thức của HS và yêu cầu đổi mới GD hiện nay theo chỉ đạocủa Bộ GD – ĐT hiện nay, chúng ta thấy rằng, việc giúp HS nắm vững kiến thức
Trang 7là vấn đề hết sức cần thiết Song trước hết cần thống nhất khái niệm “nắm vững
kiến thức” của HS Xung quanh khái niệm nầy, các nhà GD, tâm lí và GDLS đã
đề cập đến nhiều khía cạnh
Trong những tài liệu PP DHLS, các nhà GDLS cũng khẳng định rằng,
nắm vững kiến thức trong DHLS là phải “biết”, “hiểu” LS và “ứng dụng” Đây
là con đường nhận thức biện chứng LS từ nắm sự kiện đến tạo biểu tượng, hìnhthành khái niệm để hiểu bản chất, rút ra bài học kinh nghiệm và quy luật LS
Trong đó, “biết” LS chưa phải là thước đo chất lượng của việc học tập, nghiên
cứu LS, mà điều chủ yếu là hiểu LS, vận dụng tri thức LS vào tiếp thu kiến thứcmới và hoạt động thực tiễn (Phan Ngọc Liên-Trịnh Đình Tùng-Nguyễn Thị Côi
PP dạy học lịch sử Tập II NXB ĐHSP, Hà Nội 2002, tr.134-135).
Các nhà tâm lí GD và GDLS về cơ bản đều thống nhất : nắm vững kiến
thức trong học tập nói chung, LS nói riêng là đòi hỏi HS phải “biết”, “hiểu” và
“vận dụng” được tri thức đã học.
Với quan điểm như trên, việc giúp HS nắm vững kiến thức có vai trò rấtquan trọng trong DHLS ở trường THPT Nó là yếu tố cơ sở đầu tiên của mụcđích học tập bộ môn Chỉ có nắm vững kiến thức LS, HS mới nảy sinh tư tưởngtình cảm đúng đắn và phát triển toàn diện con người các em Không giúp HSnắm vững kiến thức LS thì không thực hiện được mục tiêu môn học
Thành tựu của CNTT đã và đang được ứng dụng rộng khắp trong nhiềulĩnh vực, nhiều hoạt động, trong đó có HĐ DHLS Đây là một trong các điềukiện quan trọng để đối mới PPDH; là nhân tố đảm bảo cho HĐ DHLS đạt hiệuquả; là cơ sở quan trọng để hình thành những phẩm chất và năng lực, hình thànhnhân cách người GV trong thời đại mới - thời đại của khoa học kĩ thuật
4 Mức độ nghiên cứu đề tài
Từ năm học 2008-2009 đến nay trường THPT áp dụng chương trình
SGK mới cho HS THPT trong lộ trình cải cách GD Vì thế đề tài “Áp dụng công
nghệ thông tin trong giảng dạy lịch sử” là đề tài bản thân tôi tiếp tục nghiên cứu
thực hiện để nâng cao trình độ chuyên môn, và mang đến cho học sinh sự hiểubiết trực quan sinh động hơn về lịch sử
Trang 8Trong phạm vi nghiên cứu đề tài nầy, mức độ nghiên cứu chỉ giới hạn
trong vấn đề lớn : “Áp dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy lịch sử”
5 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
+ Đối tượng nghiên cứu : “Áp dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy lịch
sử”
+ Khách thể nghiên cứu : Môn lịch sử ở trường THPT.
+ Phạm vi nghiên cứu : Áp dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy lịch sử ở
trường THPT.
6 Cơ sở lý luận thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
Công nghệ mới có một số đặc trưng phù hợp với các nguyên tắc của PP
học tập mới
Các kết luận cơ sở :
Do tính chất tương tác của công nghệ mới, hiện nay người ta có thể dễdàng hơn trong việc tạo ra các môi trường cho HS có thể học tập thông qua thựchành, tiếp thu các ý kiến phản hồi, liên tục nâng cao vốn hiểu biết và tiếp nhậncác tri thức mới
Các công nghệ có thể giúp mọi chúng ta hình dung được những khái niệmkhó hiểu HS có thể sử dụng các phần mềm mẫu như các công cụ trong môitrường học tập ngoài trường học để tăng cường vốn hiểu biết dựa trên các kháiniệm và những vấn đề có thể xảy ra trong quá trình chuyển từ môi trường trong
ra môi trường ngoài trường học
Các công nghệ mới cho phép chúng ta tiếp xúc với hàng loạt các thông tinqua các thư viện điện tử, tài liệu của thế giới thực để tiến hành phân tích và kếtnối với những người sẽ cung cấp thông tin, ý kiến phản hồi và nguồn cảm hứng,tất cả những gì có thể tăng cường khả năng học tập của GV, cũng như quản líHS
Có nhiều cách sử dụng công nghệ để tạo ra môi trường học tập như vậy,dành cho cả GV và HS Tuy nhiên có nhiều vấn đề đặt ra nhằm xem xét đểhướng dẫn GV áp dụng công nghệ vào giảng dạy thế nào sao cho hiệu quả
Trang 9Đầu tư công nghệ tích hợp trong GD có thể đưa những người hoạch địnhchính sách vào thế khó Phần lớn họ đều đồng ý rằng trong thế giới hiện đạingày nay, công nghệ không phải là bộ phận trang trí, mà ngược lại, nó đóng vaitrò quan trọng trong bất kì quy trình giảng dạy nào Tuy nhiên, phí tổn cho nócũng là một vấn đề quan trọng Máy vi tính nói riêng là một mặt hàng đắc tiền,
GV và HS ngày cần có nó nhiều hơn Trong vòng một thập kỷ vừa qua, chi phí
bỏ ra để trang bị cho các trường khối phổ thông tại Mĩ tăng gấp ba lần trước đó,cho đến nay, chi phí đó đã lên đến hơn 6 tỉ USD Với thực tế này, những nhàhoạch định ở cấp quốc gia và địa phương đang đặt ra một câu hỏi có thể dự đoántrước : Liệu tiêu tốn một số tiền khổng lồ để đầu tư cho công nghệ như vậy cóthể làm thay đổi quá trình và kết quả học tập của HS hay không ?
Câu trả lời có được từ các công trình nghiên cứu cũng không mấy bấtngờ Tuy nhiên nó cũng phụ thuộc vào nhiều yếu tố Các trường học hiện nayđang sử dụng hàng loạt công nghệ theo các cách khác nhau và cho các mục đíchkhác nhau Giữa các GV trong ngành có sự chênh lệch lớn về vốn kiến thức và
kĩ năng, cũng như khả năng tổ chức để lên kế hoạch và thực hiện áp dụng côngnghệ một cách toàn diện và theo định hướng nhằm đạt được kết quả như đã định.Thông thường các trường đều có những phương pháp riêng để đánh giá về mức
độ ảnh hưởng của công nghệ tới hiệu quả dạy và học cả trong trường hợp chúngđược sử dụng đúng và sử dụng mục đich (Nếu không đạt được hiệu quả nhưmong muốn thì đó là do công nghệ hay do HS tiếp xúc và sử dụng công nghệcòn ít) Tại những nơi công nghệ được sử dụng như một công cụ hỗ trợ phươngpháp giảng dạy đạt tiêu chuẩn về cách tư duy phức tạp và giải quyết vấn đề,cùng với các phương pháp phù hợp để đánh giá sự tiến bộ của HS, thì hiệu quảthu được mới thực sự gây ấn tượng
Khi đó, người ta sẽ không còn đặt câu hỏi về việc công nghệ có thực sựlàm thay đổi quy trình dạy và học hay không, mà thay vào đó sẽ là các thay đổi
sẽ diễn ra như thế nào và trong trường hợp nào? Một số nghiên cứu điển hình đãcho rằng cần phải tập trung xây dựng các chính sách phát triển lớn để đạt được
Trang 10hiệu quả trong GD hơn là mất nhiều thời gian cho việc quyết định đầu tư vềtrang thiết bị.
Vậy việc học “từ” máy vi tính khác với việc học “bằng” máy vi tính nhưthế nào? Sử dụng công nghệ theo kiểu nào và chúng sẽ ảnh hưởng đến việcgiảng dạy của GV và học tập của HS như thế nào?
Phần lớn các nghiên cứu hiện tại về ứng dụng công nghệ máy vi tính vàochương trình giảng dạy của khối phổ thông đều đưa đến một thông điệp : côngnghệ chỉ là phương tiện chứ không phải là kết quả, chỉ là một công cụ hỗ trợ đạtđược mục tiêu học tập chứ bản thân nó không phải là mục tiêu Tuy thế vẫn cónhiều trường học và vùng miền thực hiện đầu tư về trang thiết bị trước cả khixây dựng những kế hoạch rõ ràng về sử dụng công nghệ hỗ trợ giảng dạy
Một vấn đề chính trong việc thực thi kế hoạch sử dụng công nghệ là xácđịnh rõ mục đích của nó, HS sẽ được học “từ” máy vi tính hay “bằng” máy vitính? Nói theo cách khác, máy vi tính có nhất thiết phải thực hiện vai trò giảngdạy, nhằm tăng thêm tri thức và các kĩ năng sử dụng? Hay chính công nghệ sẽ làmột phương tiện giúp HS phát triển các khả năng như tư duy trình độ cao, nănglực sáng tạo và kĩ năng nghiên cứu?
Máy vi tính đóng vai trò giảng dạy : Những cách sử dụng máy vi tính
thông thường để xây dựng các kĩ năng cơ bản bao gồm phương pháp giảng dạy
sử dụng máy vi tính và được hỗ trợ bởi máy vi tính, sử dụng các phần mềm rènluyện và thực hành, các hướng dẫn chung về máy vi tính Kết quả của mộtnghiên cứu nổi tiếng đã cho rằng việc hoàn toàn sử dụng máy vi tính trong rènluyện và thực hành môn Toán có ảnh hưởng tiêu cực đến kết quả học tập Tuynhiên 2 nghiên cứu quy mô lớn keo dài xuyên suốt những năm 1990 cùng vớinhững thành tựu đạt được từ một vài phép phân tích cao cấp trong khoảng thờigian từ năm 1895 đến 2000 lại cho thấy việc sử dụng phần mềm công nghệ vàorèn luyện và thực hành đem lại cho HS những tiến bộ vượt bậc Và kết quả đó đãủng hộ việc sử dụng máy vi tính hỗ trợ giảng dạy từ cấp trước tiểu học cho tớicấp GD cao hơn Một vài nghiên cứu còn tranh luận rằng việc đào tạo các kĩnăng về sử dụng CNTT còn mang lại hiệu quả về kinh tế, bởi nó chỉ đòi hỏi đào
Trang 11tạo GV ở mức tối thiểu và thường vẫn có thể được thực hiện ở các công nghệ ởmức độ thấp.
Máy vi tính là các công cụ giúp giải quyết vấn đề, phát triển về mặt nhận thức và tư duy : Tuy nhiên chỉ là thiển cận nếu chỉ sử dụng máy vi tính
như là trợ giúp nâng cao các kĩ năng cơ bản Sức mạnh của công nghệ được thểhiện rõ ràng nhất khi cả HS và GV có thể tận dụng được các chức năng tinh vi
và đa dạng của nó để hỗ trợ tư duy nâng cao và khái niệm hoá Ví dụ như cácứng dụng đa dạng có thể thể hiện các chức năng thực tiễn của các khái niệm toánhọc, hoặc cung cấp các công cụ phục vụ nghiên cứu, phân tích dữ liệu và viếtbáo cáo
Việc khai thác sử dụng công nghệ theo các cách này được minh hoạ sâusắc và rõ nét nhất thông qua hình thức tổ chức lớp học trong quá trình thực hiệncác dự án – đó là khi các nhóm HS phải tiếp xúc với thực tiễn, các vấn đề phứctạp như ảnh hưởng của mưa axit đối với nguồn nước hay tham gia bảo vệ cácloài vật bị đe doạ ở các khu vực Trong quá trình này, HS phải học và áp dụng đadạng các nguyên tắc, kiến thức thuộc nhiều môn học khác nhau từ toán học, vănhọc cho tới các nghiên cứu xã hội, khoa học và nghệ thuật Các nhóm thực hiện
dự án phải biết sử dụng thư điện tử và internet để liên tục cập nhật các tri thứccần thiết, các bảng tính, các bảng biểu, bản đồ và các dụng cụ vẽ biểu đồ để tổchức, phân tích dữ liệu và vạch ra phương hướng giải quyết, PowerPoint và máyquay phim để tạo ra dữ liệu phục vụ bài thuyết trình – Và chính các đề án đó sẽtạo điều kiện cho HS thực hành các kĩ năng giao tiếp và tiếp thu ý kiến từ cácbạn trong nhóm
Đánh giá sự tiến bộ về khả năng tư duy và giải quyết vấn đề từ các cáchtiếp cận như vậy cũng đặt ra nhiều thách thức Mặc dù các nghiên cứu vẫn chưađem lại kết quả cuốc cùng, song một vài nghiên cứu dài hạn – trong đó một sốđược thiết kế đặc biệt, đánh giá dựa trên quá trình thực hiện – đã cho thấy rằngdưới môi trường phù hợp, đối với các HS hàng ngày sử dụng các công cụ kĩthuật tinh vi thì có thể thấy sự phát triển rõ rệt trong kĩ năng làm việc Hơn thếnữa, những tiến bộ đó không hề gây ảnh hưởng xấu tới các kĩ năng cơ bản Đồng
Trang 12thời các báo cáo nghiên cứu cho thấy HS ngày càng có nhiều động lực thúc đẩyhọc tập, cũng như ngày càng đi học đầy đủ hơn, ít trường hợp bỏ học nửa chừnghơn.
7 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Ảnh hưởng của công nghệ đối với lớp học, trường học và khu vực :
Nếu được sử dụng đúng cách, công nghệ có thể có tầm ảnh hưởng làmbiến đổi hệ thống GD bởi nó có xu hướng đánh giá lại vai trò của GV và HS và
sự tín nhiệm đối với PPDH cũ Mỗi GV trở thành người hướng dẫn và cộng tácviên (với HS và các GV khác) không còn đơn thuần là người truyền đạt kiếnthức Và HS dựa trên các đề án sẽ tự học, tự tìm hiểu, phải tự quản lí và có tráchnhiệm đối với chất lượng học tập của mình Như vậy HS sẽ tự xây dựng nên vốntri thức của mình chứ không chỉ đơn thuần chỉ nghe và tiếp nhận Những thayđổi cũng chính là mục tiêu mà cải cách GD hướng tới, trong đó nhằm chuyển đổi
PP học tập truyền thống và mở rộng không gian học tập ra ngoài phạm vi lớphọc
Cấp đơn vị trường học :
Kiến thức và trình độ của GV là yếu tố then chốt để đạt được thành công,
vì vậy công tác đào tạo GV sẽ chiếm phần lớn trong ngân sách phát triển côngnghệ (theo quy tắc 30/70) Trong công tác đào tạo GV, người ta đã nhận thấymột mô hình đạt hiệu quả cao đó là tạo lớp học mẫu trong đó GV sẽ trực tiếptiếp thu sáng kiến và PPDH mới của những đồng nghiệp có kĩ năng tốt về côngnghệ và thường xuyên áp dụng công nghệ vào bài giảng
BGH trường THPT Phú Ngọc thiết kế 2 phòng nghe nhìn, 1 phòng vi tínhnối mạng internet, luôn động viên khuyến khích GV ứng dụng CNTT để đổi mớiPPDH Trong năm học các năm học từ 2007 đến nay có 100% các tổ đều có GV
sử dụng phòng nghe nhìn để giảng dạy bằng GAĐT
8 Kết cấu của đề tài sáng kiến kinh nghiệm
Ngoài phần đặt vấn đề, kết luận, tài liệu tham khảo, đề tài gồm có 3 phần :
-Phần I : Nêu thực trạng của vấn đề.
-Phần II : Mô tả và giới thiệu các nội dung, biện pháp chính.
Trang 13-Phần III : Kết quả và kinh nghiệm đạt được từ SKKN.
-Phần IV : Khả năng ứng dụng và triển khai SKKN.
NỘI DUNG
Phần I Nêu thực trạng của vấn đề
1 Thuận lợi khi thực hiện đề tài SKKN
1.1 Tình hình giảng dạy môn LS ở đơn vị
Trong hè 2006, 2007, 2008 GVLS được bồi dưỡng chuyên đề thay sáchcải cách môn LS lớp 10, 11 và 12 Trong tổ có 5 GV dạy LS, tôi được phân côngdạy sử lớp 12 và lớp 10 Trong tổ bộ môn thường xuyên dự giờ trao đổi kinhnghiệm giảng dạy, nhất là các thông tin liên quan đến giảng dạy và kinh nghiệmgiảng dạy các tiết dạy học bằng công nghệ thông tin
1.2 Tình hình trường, lớp, học sinh
Chất lượng học tập của HS tương đối đồng đều ở các bộ môn Tuy nhiêncũng không tránh khỏi tình trạng thiên về khối A,B Và địa bàn học tập là vùngsâu xa nên điều kiện tiếp cận nhiều với công nghệ thông tin của HS còn hạn chế
Đơn vị được Sở GD&ĐT Đồng Nai trang bị đầy đủ các TBDH và phươngtiện nghe nhìn có đầy đủ cán bộ chuyên trách sẵn sàng giúp đỡ GV trong các tiếtgiảng dạy khi cần sử dụng dụng cụ trực quan dạy học
1.3 Ưu điểm khi thực hiện đề tài SKKN
GV có thể sử dụng các hình ảnh, tư liệu, sự kiện LS từ các nguồn phimảnh đa dạng từ internet, băng ghi hình, tranh ảnh trong sách báo mà không phảimang theo đồ dùng DH cồng kềnh khi lên lớp
Các tư liệu LS được chuyển thể thành phim theo chủ đề bài học được cácđài truyền hình trong cả nước đưa lên màn ảnh và phổ biến rộng rãi trên phươngtiện thông tin đại chúng, GV có thể tìm từ trên mạng internet để phục vụ minhhọa cho bài giảng sinh động hơn
GV có thể trình chiếu các sơ đồ, bài tập nhóm, các câu hỏi trắc nghiệmkhách quan khi kiểm tra bài cũ hay kết thúc bài học để HS tiện theo dõi Việc sơ
Trang 14đồ hóa, hệ thống hóa toàn bộ kiến thức bài học cũ theo từng chương, từng chủ đềcũng thuận lợi hơn khi giảng dạy.
Khi soạn một GAĐT, GV có thể lưu lại để giảng dạy ở nhiều lớp khácnhau GV có thể bổ sung hoặc sửa đổi giáo án sau phần rút kinh nghiệm ở cáctiết dạy tiếp theo hoặc những năm học sau
2 Khó khăn khi thực hiện đề tài SKKN
GV phải thực sự yêu thích ứng dụng CNTT vào đổi mới PPDH, cần cóthời gian và kinh phí để thực hiện
Sự chuẩn bị trước lúc đầu sẽ gặp nhiều khó khăn vì cần có sự đầu tư nhiềucông sức của GV, nhưng bù lại tiết học sẽ thuận lợi hơn, giờ học sẽ trở nên sôinổi hơn, hiệu quả hơn HS sẽ thực sự chủ động quá trình DH, GV có thể hoànthành vai trò hướng dẫn HS tiếp thu kiến thức bền vững hơn
Phần II Mô tả và giới thiệu các nội dung, biện pháp chính
“Áp dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy lịch sử”
1 Vài nét về áp dụng công nghệ trong dạy học
Máy vi tính với các phần mềm phong phú đã trở thành một công cụ đanăng ứng dụng trong mọi lĩnh vực của nghiên cứu, sản xuất và đời sống Tuynhiên nếu như công dụng của máy là tính là có thể đo đếm được thì sự ra đời củamạng máy tính toàn cầu (Internet) đem lại những hiệu quả vô cùng lớn, khôngthể đo đếm được Chính vì vậy, ngày nay chúng ta thường nghe nói đến thuậtngữ CNTT&Truyền thông (ICT) thay vì CNTT (IT)
Một máy tính nối mạng không chỉ giúp chúng ta đọc báo điện tử, gửiemail mà nó là kênh kết nối chúng ta với cả thế giới Chúng ta có thể tiếp cậntoàn bộ tri thức nhân loại, có thể làm quen giao tiếp với nhau hoặc tham gianhững tổ chức ở cách xa nửa vòng trái đất Mạng máy tính toàn cầu thực sự đãtạo ra một thế giới mới, trong đó cũng có gần như các hoạt động của thế giớithực: thương mại điện tử (ecommerce), giáo dục điện tử (elearning), trò chơitrực tuyến (game online), các diễn đàn (forum), các mạng xã hội (socialnetwork), các công dân điện tử (blogger),
Thông qua các diễn đàn và mạng xã hội, tất cả mọi người có thể trao đổi,chia sẻ với nhau các tài nguyên số, cũng như các kinh nghiệm trong công việc,trong đời sống thường ngày Ví dụ mọi người có thể chia sẻ cho nhau các đoạn
Trang 15phim hoặc các bài hát, có thể chia sẽ các bài viết về những kiến thức khoa học,
xã hội,những suy nghĩ của bản thân về một vấn đề nào đó v.v Trong lĩnh vựcgiáo dục, các bậc phụ huynh trên cả nước có thể chia sẻ kinh nghiệm về cáchchăm sóc con cái;các giáo viên có thể chia sẻ các tư liệu ảnh, phim, các bàigiảng và giáo án với nhau, để xây dựng một " kho tài nguyên " khổng lồ phục vụcho việc giảng dạy của mỗi người Học sinh cũng có thể thông qua các mạng xãhội để trao đổi những kiến thức về học tập và thi cử
a Các hình thức ứng dụng CNTT trong dạy học
Hiện nay, trên thế giới người ta phân biệt rõ ràng 2 hình thức ứng dụngCNTT trong dạy và học, đó là Computer Base Training, gọi tắt là CBT (dạy dựavào máy tính), và e-learning (học dựa vào máy tính) Trong đó:
- CBT là hình thức GV sử dụng máy vi tính trên lớp, kèm theo các trang
thiết bị như máy chiếu (hoặc màn hình cỡ lớn) và các thiết bị multimedia để hỗtrợ truyền tải kiến thức đến HS, kết hợp với phát huy những thế mạnh của cácphần mềm máy tính như hình ảnh, âm thanh sinh động, các tư liệu phim, ảnh, sựtương tác người và máy
- E-learning là hình thức HS sử dụng máy tính để tự học các bài giảng mà
GV đã soạn sẵn, hoặc xem các đoạn phim về các tiết dạy của GV, hoặc có thểtrao đổi trực tuyến với GV thông mạng Internet Điểm khác cơ bản của hìnhthức E-learning là lấy người học làm trung tâm, người học sẽ tự làm chủ quátrình học tập của mình, người dạy chỉ đóng vai trò hỗ trợ việc học tập cho ngườihọc
Như vậy, có thể thấy CBT và e-learning là hai hình thức ứng dụng CNTTvào dạy và học khác nhau về mặt bản chất:
+ Một bên là hình thức hỗ trợ cho GV, lấy người dạy làm trung tâm và cơbản vẫn dựa trên mô hình lớp học cũ ( CBT )
+ Một bên là hình thức học hoàn toàn mới, lấy người học làm trung tâm,trong khi người dạy chỉ là người hỗ trợ ( E-learning )
b Sử dụng các bài giảng điện tử trong giảng dạy
Từ nhiều năm nay, trong các nhà trường đã sử dụng tương đối phổ biến
mô hình giảng dạy sử dụng bài giảng điện tử cùng với các trang thiết bị khácnhư máy tính, máy chiếu (projector), Bài giảng điện tử và các trang thiết bịnày có thể coi là những công cụ dạy học đa năng vì nó có thể thay thế cho hầuhết các công cụ dạy học khác từ truyền thống (tranh vẽ, bản đồ, mô hình, ) đếnhiện đại (cassette, ti vi, đầu video ) Hơn nữa, nếu các bài giảng điện tử được
Trang 16đầu tư xây dựng cẩn thận thì sẽ đem lại hiệu quả hơn hẳn, tạo được sự hấp dẫn
và HS có thể tiếp thu bài giảng dễ dàng hơn
Khác với các phần mềm giáo dục khác, bài giảng điện tử không phải làphần mềm dạy học, nó chỉ trợ giúp cho việc giảng dạy của GV (đối tượng sửdụng là GV, không phải là HS) Chính vì vậy, việc truyền đạt kiến thức vẫn dựatrên giao tiếp thầy-trò, chứ không phải giao tiếp máy-người Mặt khác, vì GV làngười trực tiếp điều hành việc sử dụng phần mềm nên có thể khai thác tối đađược những kiến thức cần chuyển tải trong phần mềm, tuỳ thuộc vào trình độcủa HS và phương pháp giảng dạy của GV
Việc sử dụng các bài giảng điện tử sẽ tăng hiệu quả đáng kể đối với cáctiết dạy của GV Có thể nói đó là sự kết hợp những ưu điểm của phương phápdạy học truyền thống và của các công nghệ hiện đại Để soạn các bài giảng điện
tử, hiện nay GV được khuyến khích học và sử dụng các phần mềm:
Microsoft Powerpoint: Phần mềm cho phép soạn các bài trình chiếu hấp
dẫn để làm bài giảng điện tử Powerpoint có thể sử dụng được các tư liệu ảnhphim, cho phép tạo được các hiệu ứng chuyển động khá hấp dẫn và chọn cácmẫu giao diện đẹp
Phần mềm Violet: Dùng cho GV có thể tự thiết kế và xây dựng được
những bài giảng điện tử sinh động, hấp dẫn, để trợ giúp cho các giờ dạy học trênlớp (sử dụng với máy chiếu projector hoặc ti vi), hoặc để đưa lên mạng Internet.Tương tự như Powerpoint nhưng Violet có nhiều điểm mạnh hơn như giao diệntiếng Việt, dễ dùng, có những chức năng chuyên dụng cho bài giảng như tạo cácloại bài tập, chức năng thiết kế chuyên cho mỗi môn học, và đặc biệt là khả nănggắn kết được với các phần mềm công cụ khác
Macromedia Flash: Đây là phần mềm cho phép vẽ hình, tạo ra hình ảnh
động, các hiệu ứng chuyển động và biến đổi, lập trình tạo ra các hoạt động môphỏng và tương tác sinh động, hấp dẫn Để sử dụng tốt Flash đòi trình độ người
sử dụng cũng phải ở mức khá và phải thực hành nhiều Thông thường khôngdùng Flash để tạo cả một bài giảng vì nó sẽ tốn khá nhiều công sức, mà chỉ dùng
để tạo ra các tư liệu rồi kết hợp với Violet hoặc Powerpoint để tạo thành một bàigiảng hoàn chỉnh
Ngoài ra, trong quá trình soạn bài, GV sử dụng các công cụ tìm kiếm trênInternet Trang web của Trung tâm hỗ trợ GV (http://giaovien.net) là nơi cungcấp nhiều công cụ hữu hiệu hỗ trợ cho GV trong quá trình soạn các bài giảngđiện tử có chất lượng cao
c Sử dụng Internet trong việc tìm kiếm các thông tin trực tuyến
Internet chính là một thư viện không lồ, là nơi lưu chứa tri thức của toàn nhânloại với hàng tỷ tư liệu và các bài viết của mọi lĩnh vực và luôn được cập nhật
Trang 17từng ngày, từng giờ Vấn đề quan trọng và bắt buộc đối với giáo viên là phải biếtkhai thác nguồn tài nguyên phong phú trên Internet để làm tốt việc ứng dụngCNTT trong dạy học.
Có 2 phương pháp để khai thác các thông tin phục vụ cho việc giảng dạy:
+ Truy cập các thư viện tài nguyên trực tuyến
- Wikipedia.org (trang tiếng Việt là vi.wikipedia.org) là hệ thống bách
khoa toàn thư khổng lồ, do hàng chục triệu tình nguyện viên trên thế giới đónggóp xây dựng Có thể tìm ở đây từ các kiến thức khoa học phổ thông đến cácnghiên cứu khoa học chuyên ngành, tìm hiểu về tiểu sử những người nổi tiếngcho đến những vấn đề thời sự được cập nhật hàng ngày v.v
- Youtube.com, là trang web chia sẻ video lớn nhất thế giới, ở đây chúng
ta có thể dễ dàng tìm được những tư liệu phim phù hợp với mục đích dạy học ỞViệt Nam cũng có trang chia sẻ video riêng ở địa chỉ Clip.vn
- Thư viện tư liệu giáo dục ( http://tulieu.violet.vn ) là trang web chia sẻ
các tư liệu phim, ảnh, flash phục vụ cho giáo dục và đào tạo của người ViệtNam
- Thư viện bài giảng điện tử ( http://baigiang.violet.vn ): Đây là trang
web cho phép GV chia sẻ các bài giảng và giáo án của mình, đồng thời thamkhảo các bài giảng và giáo án của rất nhiều GV khác trên cả nước
- Thư viện giáo trình điện tử ( http://ebook.edu.net.vn.) là trang web tập
hợp các giáo trình bậc đại học và chuyên ngành từ các dự án của Bộ GD&ĐTvới các trường Đại học lớn trên cả nước như Đại học Bách Khoa HN, ĐH Sưphạm HN, Đại học Cần Thơ
Thư viện tư liệu giáo dục và Thư viện bài giảng điện tử là các hệ thống
mở, không những giúp GV có thể download các tư liệu dạy học và các bài giảngmẫu mà còn cho phép GV có thể đưa các tư liệu và bài giảng của mình lên đểchia sẻ với mọi người Việc sử dụng các hệ thống mở như trên hiện nay đang là
xu hướng tất yếu của ngành CNTT, với những ưu điểm vượt trội là: Hoàn toànmiễn phí; Có hệ thống dữ liệu khổng lồ vì là do cộng đồng cùng xây dựng; Luônđược cập nhật thường xuyên, từng ngày, từng giờ; Các tư liệu cũng như bàigiảng có chất lượng cao vì được chọn lọc và tổng hợp từ nhiều nguồn khácnhau
+ Sử dụng các dịch vụ tìm kiếm như Google, Yahoo, Baamboo, Monava
( http://google.com.vn, http://yahoo.com.vn, http://baamboo.com ,http://monava.com )