Do đó,chúng ta không thể làm thí nghiệm đối với lịch sử giống các môn học khác, như vật lý,hóa học, sinh học để học sinh quan sát nhưng chúng ta hoàn toàn có thể gây hứng thúhọc tập lịch
Trang 1đến công nghệ thông tin trong dạy học môn Lịch sử
Nhưng hiện nay, môn Lịch sử ở trường phổ thông thường được học sinh xem đó
là môn học phụ, chỉ là những sự kiện, con số khô khan, rất khó hình dung Ngoài ra,một bộ phận không nhỏ phụ huynh và học sinh cho rằng học lịch sử sẽ không có nhiều
cơ hội lựa chọn ngành nghề cho tương lai, vì vậy học sinh không mặn mà lắm với mônhọc lịch sử, chỉ cần nghe và học thuộc bài một cách đối phó dẫn đến tình trạng hẫnghụt trong kiến thức về lịch sử Việt Nam và thế giới, để lại những hệ quả rất đáng longại
Lịch sử là khoa học nghiên cứu, tái hiện lại quá khứ của loài người Do đó,chúng ta không thể làm thí nghiệm đối với lịch sử giống các môn học khác, như vật lý,hóa học, sinh học để học sinh quan sát nhưng chúng ta hoàn toàn có thể gây hứng thúhọc tập lịch sử đối với học sinh bằng việc sử dụng đồ dùng trực quan (bao gồm: hìnhảnh, bản đồ, sơ đồ, hiện vật…) Có thể nói hiệu quả của việc sử dụng đồ dùng trựcquan trong dạy học lịch sử là rất lớn Do đó, một trong những nhiệm vụ trọng tâm củaviệc đổi mới phương pháp dạy học là sử dụng đồ dùng trực quan, là chống dạy chaytrong dạy học lịch sử Vì vậy, hiện nay các nhà trường đã được trang bị một số lượngthiết bị khá lớn bao gồm những tranh ảnh, lược đồ, bản đồ bao gồm cả bằng giấy vàdưới dạng những phần mềm để trình chiếu trên máy chiếu Tuy nhiên, số lượng trangthiết đó vẫn chưa đáp ứng hết được cho nhu cầu cần thiết của từng tiết dạy Thứ nhất:
số lượng tranh ảnh, lược đồ, bản đồ còn quá ít so với nhu cầu thực tế của bộ môn Thứhai: những thiết bị dưới dạng phần mềm được sử dụng để trình chiếu cũng rất ít, lại
Trang 2phụ thuộc vào điện năng Do đó, để đáp ứng nhu cầu sử dụng đồ dùng trực quan trongdạy học lịch sử, giáo viên phải tự thiết kế, tự làm rất nhiều Nếu giáo viên làm đượcđiều này bài giảng sẽ trở nên vô cùng sinh động và hấp dẫn
Hiện nay ngành giáo dục và đào tạo đang nỗ lực đổi mới phương pháp dạy họctheo hướng phát huy tính tích cực chủ động, sáng tạo của học sinh trong hoạt động họctập nhằm phù hợp với xu thế của thời đại Vấn đề này đã đặt ra yêu cầu cấp thiết đốivới giáo viên là phải đổi mới cách dạy: Giáo viên chỉ là người hướng dẫn, điều khiểnhọc sinh đi tìm kiến thức mới, vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn Chính vì vậyhọc sinh phải là người tự giác, chủ động, tìm tòi, phát hiện các kiến thức mới một cáchlinh hoạt, sáng tạo vào thực tiễn cuộc sống thông qua sự dẫn dắt điều khiển của giáoviên trong tiết dạy Muốn phát huy được tính tích cực của học sinh thì phải khơi dậy ởcác em hứng thú, động cơ học tập, với đặc trưng của môn Lịch sử, người giáo viênhoàn toàn có thể làm được thông qua việc khai thác các tài liệu tham khảo, khai tháckênh hình và tạo đồ dùng trực quan trong dạy học
Do vậy, việc lựa chọn phương pháp dạy học, thiết kế đồ dùng trực quan như thếnào, làm sao cho phù hợp với từng kiểu bài và phát huy được sự yêu thích môn học đốivới học sinh là một vấn đề rất quan trọng, đó cũng là một thủ thuật sư phạm của ngườigiáo viên
Xuất phát từ thực trạng nêu trên, chúng tôi mạnh dạn đưa ra một số ý kiến về
“Thiết kế và sử dụng đồ dùng trực quan từ thủ công đến công nghệ thông tin trong dạy học môn Lịch sử” Đây cũng là lý do tôi quyết định chọn đề tài này.
2 Lịch sử vấn đề.
Sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học nói chung và dạy học lịch sử nói riêngkhông còn là vấn đề mới mẻ, thiết kế và sử dụng đồ dùng trực quan theo ý đồ của mình
có lẽ cũng đã có nhiều người đã và đang làm Song đúc rút các việc làm trên thành đề
một số ý kiến kinh nghiệm của cá nhân để cùng các bạn đồng nghiệp cùng tham khảo,góp phần nâng cao chất lượng dạy, học môn Lịch sử trong trường THPT hiện nay
Trang 3đến công nghệ thông tin trong dạy học môn Lịch sử
PHẦN II:
CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN I/ Nội dung: Với đề tài của mình, tôi sẽ đưa ra một số đóng góp nhỏ về một số
mặt sau:
1 Thiết kế và sử dụng đồ dùng trực quan bằng thủ công.
2 Thiết kế và sử dụng đồ dùng trực quan trên máy tính.
II/ Phương pháp:
Đây là phương pháp chắc chắn đã có rất nhiều người làm vì không phải bài họcnào cũng có sẵn thiết bị Theo tôi phương pháp này có 2 dạng:
Thứ nhất: Phóng to những lược đồ, sơ đồ đã có sẵn trong sách giáo khoa nhưng
chưa có thiết bị Ví dụ: Hình 12 Lược đồ thuộc địa của các nước đế quốc ở châu Phi
đầu thế kỷ XX Đây là dạng lược đồ đã có sẵn chúng ta chỉ việc vẽ lại hoặc hiện đại và
chính xác hơn thì dùng máy Scan để scan lại hình ảnh Đối với dạng lược đồ này thìviệc tự làm của chúng ta khá đơn giản
Thứ hai: Những bài học chưa có sẵn thiết bị dạng được cấp và không có cả hình
ảnh thể hiện trong sách nhưng yêu cầu của bài dạy là phải có, đối với loại này chúng taphải tự thiết kế để trình bày theo nội dung của bài và theo ý đồ của chúng ta Ví dụ:Muốn cho học sinh thấy vị trí và vai trò của kênh đào Xuyê trong bài 5 “Châu Phi vàkhu vực Mĩ la tinh”, (phần lịch sử 11 cơ bản), sự phân chia Nam - Bắc triều và ĐàngTrong - Đàng Ngoài … đương nhiên giáo viên phải tự làm
Đối với cả hai dạng này chúng ta hoàn toàn có thể thiết kế phục vụ cho việctrình chiếu
III/ Cách thức thực hiện:
viên cũng phải làm Song trong đề tài này tôi chỉ giới hạn trong việc trình bày kinhnghiệm của bản thân về vấn đề thiết kế đồ dùng trực quan nói chung và một số bài cụthể như ví dụ ở trên
Trang 4
1 Thiết kế và sử dụng đồ dùng trực quan bằng thủ công.
a./ Sơ đồ, bảng biểu
thực ra chỉ là kiến thức được chuyển từ dạng kênh chữ sang dạng bảng biểu (bao gồm:niên biểu, bảng thống kê ) và sơ đồ Đây là dạng đồ dùng trực quan khá đơn giản vàdễ làm và chắc chắn có rất nhiều người đã từng làm
liên quan (các giáo trình) trình bày thành bảng biểu hoặc sơ đồ
* Sơ đồ:
xã hội phong kiến ở Trung Quốc (bài 5 “Trung Quốc thời Tần – Hán”), giáo viên có
thể chuẩn bị trước ra giấy A0 sơ đồ sau (đã có trong sách giáo viên)
xã hội cổ đại lên xã hội phong kiến ở Trung Quốc
sơ đồ này như: về sự tiến hóa của loài người, ở bài 1: “Sự xuất hiện loài người và bầyngười nguyên thủy” Sự hình thành các vương quốc phong kiến ở Tây Âu, bài 10, lớp
Nông dân lĩnh canh
Nông dân giàu Nông dân tự canh Nông dân nghèo
Trang 5đến công nghệ thông tin trong dạy học môn Lịch sử
+ Dạng sơ đồ thể hiện tổ chức bộ máy nhà nước: Ví dụ: để trình bày chức bộmáy nhà nước phong kiến thời nhà Nguyễn (cụ thể là thời Minh Mạng), giáo viên trên
cơ sở nghiên cứu tư liệu và kiến thức trong sách giáo khoa chuẩn bị trước sơ đồ sau:
Kèm theo sơ đồ này giáo viên có thể thuyết minh về sơ đồ như sau:
Đứng đầu nhà nước là vua, có quyền tối cao
Dưới vua là các cơ quan bao gồm:
- Nội các: giúp vua giải quyết giấy tờ, văn thư và ghi chép
- Viện cơ mật: lo việc quân quốc trọng sự
- Tôn nhân phủ: phụ trách các việc của Hoàng gia
Bên dưới nữa là các cơ quan:
Trang 6- Hàn lâm viện: phụ trách sắc dụ, công văn
- Đô sát viện: phụ trách việc thanh tra quan lại
- Ngũ quân đô thống: phụ trách quân đội
- 6 bộ (Lễ, Binh, Hình, Công, Lại, Hộ): chịu trách nhiệm chỉ đạo các công việcchung của nhà nước
- Phủ nội vụ: phụ trách kho tàng
- 5 tự: phụ trách một số công tác, sự vụ
- Quốc tử giám: phụ trách giáo dục
Hoặc như dạy bài 17, lịch sử lớp 10: Quá trình hình thành và phát triển của nhànước phong kiến (từ thế kỷ X đến thế kỷ XV) giáo viên có thể sơ đồ hóa bộ máy nhànước qua các thời kì:
Vua
Bộ máy Nhà nước Thời Ngô
Bộ máy Nhà nước Thời Đinh – Tiền Lê
Vua
Đạo (Lộ) Phủ Châu
Trang 7đến công nghệ thông tin trong dạy học môn Lịch sử
Thông qua các sơ đồ bộ máy Nhà nước các thời kì, học sinh sẽ nhận xét được:
Bộ máy Nhà nước được cải tiến và hoàn chỉnh dần qua các thời kì, hoàn thiện nhất làthời Lê sơ
Rõ ràng với sự cụ thể hóa bộ máy nhà nước thành sơ đồ như trên giúp học sinhthuận tiện hơn trong việc tiếp thu kiến thức và giáo viên tiết kiệm được thời gian.Ngoài các sơ đồ cụ thể này, trong chương trình sử 10 cơ bản và nâng cao còn có rấtnhiều bài đề cập đến nội dung nhà nước phong kiến như: Thời Tần, Hán, Đường,Tống, Minh, Thanh ở Trung Quốc … Giáo viên có thể diễn giải ở dạng như trên
* Bảng biểu, sơ đồ hóa:
bài, một chương hoặc của một vấn đề nào đó như diễn biến của các cuộc chiến tranh,
Bộ máy Nhà nước Thời Lý – Trần
Quốc sử viện
Ngự
sử đài
Lộ
Trấn
Phủ
Xã Châu Huyện
Hàn lâm viện
Lễ Binh Hình Công Hộ
Đô ti Thừa ti Hiến ti
Bộ máy Nhà nước Thời Lê
sơ
Trang 8các cuộc cách mạng hay một cuộc cách mạng cụ thể …Với việc chuẩn bị trước cácbảng biểu này giáo viên hoàn toàn có thể chủ động hơn về mặt thời gian, kiến thức trênlớp Sau đây tôi xin đưa ra một ví dụ cụ thể về các giai đoạn phát triển của thờinguyên thủy trên đất nước ta (bài 13: “Việt Nam thời nguyên thủy” Đối với vấn đềnày giáo viên có thể sử dụng bảng thống kê sau:
Các giai
đoạn
Thời gian
Địa bàn
cư trú
Công cụ lao động
Hoạt động kinh tế
Lạng Sơn, Thanh Hóa, Đồng Nai, Bình Phước
Đồ đá cũ Săn bắt, hái
lượm
Sống thành bầy đàn
Người Sơn
Vi
15 đến
20 vạn năm.
Sơn La, Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái, Bắc Giang, Thanh Hoá, Nghệ An, Quãng Trị
Đá cuội được ghè đẽo ở rìa cạnh tạo thành lưỡi sắc.
Săn bắt, hái lượm.
Sống thành các Thị tộc.
Người Hoà
Bình, Bắc
Sơn
6000 đến 12000 năm.
Hoà Bình, Sơn La, Lai Châu, Hà Giang, Ninh Bình, Bắc Giang, ThanhHoá, Nghệ An , Quãng Bình, Quãng Trị.
Đá được ghè đẽo hai mặt, xương tre gỗ.
Săn bắn, hái lượm, đánh cá, chăn nuôi, bắt đầu sản xuất nông nghiệp
Sống trong các thị tộc, bộ lạc.
Lạng Sơn, Sơn La, Lai Châu, Hà Giang, Hải Phòng, Quãng Ninh, ThanhHoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quãng Bình, Quãng Nam, Đắc Lắc, Đồng Nai.
Đá được mài cưa, khoan lỗ.
Nông nghiệp lúa nước.
Thị tộc, bộ lạc
Trang 9
đến công nghệ thông tin trong dạy học môn Lịch sử
Khi giảng về phần "Nội dung hiệp định Giơnevơ", giáo viên chuẩn bị trước ở
nhà về sơ đồ nội dung hiệp định Giơnevơ để giảng cho thuận tiện Sơ đồ này đượctrình bày như sau:
Sơ đồ nội dung hiệp định Giơnevơ
Ý nghĩa sơ đồ
• Ý nghĩa giáo dưỡng: Qua sơ đồ, giúp học sinh nắm được:
hòa bình ở Đông Dương là văn bản pháp lí chính thức chấm dứt cuộc chiến trang xâmlược của thực dân Pháp ở Đông Dương gần một thế kỉ Làm thất bại âm mưu của đếquốc Mĩ trong việc kéo dài, mở rộng, quốc tế hóa chiến tranh xâm lược Đông Dương
Di chuyển quân, tập kết
ở hai vùng: ỞViệt Nam lấy
vĩ tuyến 17 làm giới tuyến quân sựtạm thời; Ở Lào tập kết ở Phôngxali và Sầm nưa;
Campuchia khôngcó vùng tập kết
Cấm đưa quân đội, vũkhí, nhân viên quân
sự của các nước ngoài vào Đông Dương, các nước Đông Dương không thamgia vào các liên minh quân sự
Việt Nam tiến tới thống nhất đất nước bằng cuộc tổng tuyển cử
tự do trong cả nước được tổ chức vào (tháng 7/1956)
Trách nhiệm thi hành hiệp định thuộc
về những người
kí hiệp định và những người
kế tục họ
Trang 10• Ý nghĩa giáo dục: Giúp học sinh có được niềm tin vào sự lãnh đạo đúng đắn của
Đảng; tinh thần yêu chuộng hòa bình; phấn đấu học tập để xây dựng quê hương đấtnước
• Ý nghĩa phát triển: Rèn luyện kĩ năng vẽ sơ đồ, phân tích, tổng hợp
Khi giảng về phần III: "Nguyên nhân thắng lợi, ý nghĩa lịch sử của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp(1945-1954) ", ta có thể sử dụng sơ đồ nội dung về
nguyên nhân thắng lợi như sau:
(Sơ đồ chuẩn bị kĩ trước ở nhà)
Sơ đồ phản ánh nguyên nhân thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp
*Ý nghĩa sơ đồ
-Ý nghĩa giáo dưỡng: Qua sơ đồ giúp học sinh nắm được:
Nguyên nhân thắng lợi
Quân đội ta
có tinhthần chiến đấu dũng cảm vàsáng tạo
Có hệ thốngchính quyềndân chủ nhân dân,
có mặt trận dân tộc thống nhất,
có lực lượng vũ trang, hậu phương vững chắc
Có liênminh chiến đấu của ba nước Đông Dương
Có sự đồng tình ủng hộ của Liên
Xô, TrungQuốc và các nước XHCN, của nhân dân tiến
bộ trên thếgiới
Trang 11đến công nghệ thông tin trong dạy học môn Lịch sử
Những nguyên nhân thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đó là:
Có Đảng lãnh đạo;có hậu phương vững chắc qua đó học sinh hiểu được nguyênnhân nào là cơ bản nhất xuyên suốt trong cuộc kháng chống Pháp chống Mĩ và trong
cả giai đoạn xây dựng CNXH hiện nay
-Ý nghĩa giáo dục: Giáo dục cho học sinh hình thành lòng biết ơn, kính trọng
đối với nhân dân, chiến sĩ, có tinh thần đoàn kết quốc tế Đồng thời tin tưởng vào sựlãnh đạo của Đảng
-Ý nghĩa phát triển: Rèn luyện kĩ năng vẽ sơ đồ, phân tích, tổng hợp
thể sử dụng sơ đồ ý nghĩa lịch sử cuộc kháng chiến chống Pháp giai đoạn 1945-1954 ( Sơ đồ được chuẩn bị trước cho tiện sử dụng, rõ ràng, sạch đẹp.)
Sơ đồ ý nghĩa lịch sử cuộc kháng chiến chống Pháp(1945-1954)
Giáng đòn nặng nề vào tham vọng xâmlược của chủ nghĩa thực dân
cũ của Pháp và
âm mưu can thiệp Mĩ, Góp phần làm tan rã
hệ thống thuộc điạ của chúng
Cổ vũ mạnh
mẽ phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới, trước hết là các nước Á, Phi,
Mĩ latinh
Trang 12-Ý nghĩa giáo dưỡng: Qua sơ đồ giúp học sinh nắm được:
Ý nghĩa lịch sử to lớn và sâu sắc của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp(1945-1954) đối với trong nước cũng như thế giới
-Ý nghĩa giáo dục: Giúp học sinh nêu cao tinh thần yêu nước, quí trọng nền
hòa bình của đất nước ta, có niềm tin vào con đường cách mạng XHCN do Đảng vànhân dân ta đã lựa chọn
-Ý nghĩa phát triển: Rèn luyện kĩ năng vẽ sơ đồ, quan sát, phân tích, nhận xét
- Các nước ĐQ (Pháp – Mĩ) đều phải rútquân
Là hội nghị hai bên (VNDCCH
Và Hoa Kì), rồi 4 bên(VNDCCH, Hoa Kì, VNCH,
Trang 13đến công nghệ thông tin trong dạy học môn Lịch sử
CPCM lâm thời CHMNVN)Hiệp định về 3 nước Đông
Dương
Hiệp định về Việt Nam
Pháp rút quân từng bước sau 2 năm Mĩ rút quân 1 lần sau 2 thángQuân đội 2 bên tập kết ở 2 miền Quân đội 2 bên giữ nguyên tại
chỗ
Phản ánh không đầy đủ thắnglợi của ta trên chiến trường
Phản ánh đầy đủ thắng lợi của tatrên chiến trường
Hiệp định còn hạn chế, chỉ cóMiền Bắc được giải phóng
So sánh lực lượng có lợi cho ta
tạo điều kiện ta tiến lên
“đánh cho Ngụy nhào”
Sau khi thiết kế bảng so sánh, giáo viên dung giấy cắt dán, che các nội dung trênbảng so sánh và gọi học sinh so sánh, so sánh đến đâu giáo viên gỡ bỏ giấy dán ý đó vàcủng cố thêm cho học sinh
Về việc sử dụng các loại đồ dùng trực quan này: Giáo viên chuẩn bị trước ở nhàtrên giấy lớn khổ A0 Trong quá trình giảng dạy, căn cứ vào nội dung bài giảng, giáoviên yêu cầu học sinh thực hiện trước trên phiếu học tập (theo nhóm) hoặc trình bàytrực tiếp trên bảng Sau đó giáo viên đưa bảng biểu đã chuẩn bị sẵn ra để đối so sánh là
cơ sở để học sinh tự đánh giá kết quả của mình và các học sinh khác đánh giá kết quảcủa bạn
b./ Bản đồ, lược đồ.
- Dạng bản đồ, lược đồ có sẵn trong sách giáo khoa
Đối với dạng này giáo viên chỉ cần phóng to ra khổ giấy A0 như trong sách giáokhoa
Trang 14- Dạng bản đồ, lược đồ chưa có trong sách giáo khoa nhưng nội dung bài học cóliên quan đến
Ví dụ: Bài 33 “Chiến tranh phong kiến và sự chia cắt đất nước” (phần nângcao) Trong nội dung bài học đề cập đến nội chiến, phạm vi ảnh hưởng của Nam – Bắctriều, nội chiến Trịnh – Nguyễn và sự phân chia Đàng Trong - Đàng Ngoài, song trongsách không hề có một lược đồ nào thể hiện nội dung đó Vì vậy học sinh sẽ không nắmđược một cách cụ thể phạm vi ảnh hưởng, sự phân chia Nam – Bắc triều, Đàng Trong -Đàng Ngoài Do đó để bài giảng có hiệu quả, học sinh nắm chắc được vấn đề bắt buộcgiáo viên phải có sự chuẩn bị, phải vẽ được lược đồ thể hiện các nội dung trên
Để làm được việc này đòi hỏi giáo viên phải có những kiến thức nhất định vềđịa lý Việt Nam, nếu không thì phải có bản đồ hành chính Việt Nam
Thực hiện cụ thể các bước như sau:
- Vẽ lại lược đồ khu vực đó (phần thô)
- Dựa vào nội dung kiến thức trong sách giáo khoa xác định sự phân chia, phạm
vi ảnh hưởng Tức là hoàn thiện lược đồ theo ý đồ của mình
đồ Với việc làm này giáo viên hoàn toàn có thể chủ động được các lược đồ bản đồ màtrong sách không có nhưng yêu cầu của bài học phải có
Cũng như phần vừa trình bày ở trên chỉ khác là chuẩn bị các dạng bảng biểu, sơ
đồ, lược đồ trực tiếp trên máy tính (trong giáo án điện tử - powepoint)
a./ Bảng biểu, sơ đồ:
Thiết kế bảng biểu, sơ đồ trên Microsoft Office PowerPoint là những thao tác rấtđơn giản, những giáo viên đã soạn được giáo án điện tử hoàn toàn có thể làm đượcđiều đó Ở nội dung này, tôi xin phép không diễn giải cách thiết kế
b./ Bản đồ, lược đồ.
Như đã trình bày ở trên, bản đồ, lược đồ gồm có hai loại Loại có sẵn trong sách
và loại chưa có nhưng nội dung bài học cần phải có Vậy để thiết kế các loại lược đồ này trên máy như thế nào? Sau đây là một vài kinh nghiệm rất thủ công trên máy màtôi đã làm thấy có hiệu quả
* Dạng bản đồ, lược đồ có sẵn.