1. Tính thiết thực của đề tài: Xu thế hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng đến gần và đây là xu thế tất yếu không thể cưỡng lại được. Khi đó, các doanh nghiệp nước ngoài, các tập đoàn kinh tế quốc tế sẽ đổ xô vào thị trường Việt Nam, tạo nên một thị trường Việt Nam rất đa dạng về loại hình hoạt động và phong phú về lĩnh vực kinh doanh. Trong đó, lĩnh vực kinh doanh bán lẻ được xem là lĩnh vực kinh doanh khá béo bở mà các tập đoàn bán lẻ quốc tế và cả các doanh nghiệp trong nước đang hướng tới để đẩy mạnh đầu tư. Trước sức ép cạnh tranh gay gắt ngay trên sân nhà giữa các doanh nghiệp trong nước và các tập đoàn quốc tế trong lĩnh vực kinh doanh khá hấp dẫn đó, vấn đề xây dựng, phát triển mạnh và bền vững đã thật sự trở thành một thách thức không nhỏ đối với Việt Nam nói chung và hệ thống bán lẻ trên toàn quốc nói riêng. Mặc dù trong thời gian qua, thị trường bán lẻ có một phần đóng góp không nhỏ cho tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế nhưng bên cạnh đó là những yếu kém, trì trệ cần phải khắc phục một cách nhanh chóng. Từ đó, công tác xây dựng hành lang pháp lý của nhà nước cần được quan tâm và đầu tư một cách đúng mức. Đứng trước bối cảnh đó, để có đủ sức cạnh tranh và đứng vững trên thị trường nội địa và hướng ra thị trường quốc tế, các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam cần thiết phải có sự điều chỉnh và đầu tư mạnh hơn nữa cho công tác xây dựng thương hiệu trong tương lai. 2. Mục đích nghiên cứu: Đề tài “Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của thị trường bán lẻ Việt Nam trong xu thế hôi nhập WTO” nhằm hướng tới các mục tiêu cơ bản sau: • Giới thiệu một số cơ sở lý luận cơ bản của vấn đề gia nhập WTO Việt Nam nhằm làm nền tảng trong quá trình nghiên cứu, phân tích và ứng dụng. • Phân tích, đánh giá thực trạng quản trị kênh phân phối của thị trường bán lẻ Việt Nam. Qua đó, xác định được những khó khăn và thuận lợi để làm cơ sở cho việc đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động bán lẻ của Việt Nam. 3. Phương pháp nghiên cứu: Để thực hiện được những mục đích và phạm vi nghiên cứu này, nhóm chúng em đã sử dụng các lý trình nghiên cứu, phân tích và ứng dụng nhằm xác định được những gì đã làm được và những gì chưa làm được để làm cơ sở cho việc đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của thị trường bán lẻ Việt Nam.
Trang 1PHẦN I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ WTO VÀ
NỀN KINH TẾ VIỆT NAM
I Giới thiệu chung về WTO:
Tổ chức Thương mại Thế giới (World TradeOrganization, viết tắt WTO) là một tổ chức quốc tế
đặt trụ sở ở Genève, Thụy Sĩ, có chức năng giám
sát các hiệp định thương mại giữa các nước thành
viên với nhau theo các quy tắc thương mại
Hoạt động của WTO nhằm mục đích loại bỏ hay giảm thiểu các rào cảnthương mại để tiến tới tự do thương mại Ngày 1 tháng 9 năm 2005 ông PascalLamy được bầu làm Tổng giám đốc
Tính đến ngày 23 tháng 7 năm 2008, WTO có 153 thành viên Mọi thànhviên của WTO được yêu cầu phải cấp cho những thành viên khác những ưu đãinhất định trong thương mại
1 Cơ cấu tổ chức của WTO:
Tất cả các thành viên WTO đều có thể tham gia vào các hội đồng, ủy bancủa WTO, ngoại trừ Cơ quan Phúc thẩm, các Ban Hội thẩm Giải quyết Tranhchấp và các ủy ban đặc thù
Hội nghị Bộ trưởng (Cấp cao nhất):Cơ quan quyền lực cao nhất của
WTO là Hội nghị Bộ trưởng diễn ra ít nhất hai năm một lần Hội nghị có sựtham gia của tất cả các thành viên WTO Hội nghị Bộ trưởng có thể ra quyếtđịnh đối với bất kỳ vấn đề trong các thỏa ước thương mại đa phương của WTO
Đại Hội đồng (Cấp thứ hai): gồm 3 cơ quan
Đại Hội đồng: là cơ quan ra quyết định cao nhất của WTO tại
Geneva, được nhóm họp thường xuyên Đại Hội đồng bao gồm đại diện (thường
là cấp đại sứ hoặc tương đương) của tất cả các nước thành viên và có thẩmquyền quyết định nhân danh hội nghị bộ trưởng (vốn chỉ nhóm họp hai năm mộtlần) đối với tất cả các công việc của WTO
Hội đồng Giải quyết Tranh chấp: được nhóm họp để xem xét và
phê chuẩn các phán quyết về giải quyết tranh chấp do Ban Hội thẩm hoặc Cơquan Phúc thẩm đệ trình Hội đồng bao gồm đại diện của tất cả các nước thành
Trang 2 Hội đồng Rà soát Chính sách Thương mại: được nhóm họp để
thực hiện việc rà soát chính sách thương mại của các nước thành viên theo cơchế rà soát chính sách thương mại Đối với những thành viên có tiềm lực kinh tếlớn, việc rà soát diễn ra khoảng hai đến ba năm một lần Đối với những thànhviên khác, việc rà soát có thể được tiến hành cách quãng hơn
Các Hội đồng Thương mại (Cấp thứ ba)
Các Hội đồng Thương mại hoạt động dưới quyền của Đại Hội đồng
Có ba Hội đồng Thương mại là: Hội đồng Thương mại Hàng hóa, Hộiđồng Thương mại Dịch vụ và Hội đồng Các khía cạnh của Quyền Sở hữu Trí tuệliên quan đến Thương mại Các hội đồng bao gồm đại diện của tất cả các nướcthành viên WTO
Các Ủy ban và Cơ quan (Cấp thứ tư):
Dưới các hội đồng trên là các ủy ban và cơ quan phụ trách các lĩnh vựcchuyên môn riêng biệt
Dưới Hội đồng Thương mại Hàng hóa là 11 ủy ban, 1 nhóm côngtác, và 1 ủy ban đặc thù
Dưới Hội đồng Thương mại Dịch vụ là 2 ủy ban, 2 nhóm công tác,
2 Chức năng của WTO:
• Quản lý việc thực hiện các hiệp định của WTO
• Diễn đàn đàm phán về thương mại
• Giải quyết các tranh chấp về thương mại
• Giám sát các chính sách thương mại của các quốc gia
• Trợ giúp kỹ thuật và huấn luyện cho các nước đang phát triển
• Hợp tác với các tổ chức quốc tế khác
Trang 33 Nguyên tắc hoạt động: WTO hoạt động dựa trên hai nguyên tắc cơ
bản
a Đãi ngộ tối huệ quốc MFN (NGUYÊN TẮC KHÔNG PHÂN
BIỆT ĐỐI XỬ GIỮA CÁC THÀNH VIÊN – MOST_FAVORED_NATIONTREATMENT): Các ưu đãi thương mại của một thành viên dành cho một thànhviên khác cũng phải được áp dụng cho tất cả các thành viên trong WTO
• Tự do mậu dịch hơn nữa: dần dần thông qua đàm phán
• Tính Dự đoán thông qua Liên kết và Minh bạch: các quy định và quy
chế thương mại phải được công bố công khai và thực hiện một cách ổn định
• Ưu đãi hơn cho các nước đang phát triển: giành những thuận lợi và ưu
đãi hơn cho các thành viên là các quốc gia đang phát triển trong khuôn khổ cácchỉ định của WTO
• Thiết lập môi trường cạnh tranh bình đẳng cho thương mại giữa các
nước thành viên.
• Không phân biệt đối xử: về nguyên tắc, mọi ưu đãi thương mại mà một
quốc gia thành viên của WTO dành cho hàng hoá của một nước khác sẽ được ápdụng đối với hàng hoá tương tự của mọi thành viên khác của WTO một cách
“tức thì” và “vô điều kiện”
MFN chính là yếu tố quan trọng tạo nên sức hút của hệ thốngGATT/WTO Đối với các thành viên mới, nhờ vào MFN họ có thể ngay lập tứcđược hưởng những chính sách ưu đãi về thương mại từ các thị trường quantrọng, từ đó mở ra những cơ hội lớn cho việc đẩy mạnh xuất khẩu và mở rộng thịtrường Do đó, để có thể tận dụng thời cơ khi gia nhập WTO, các thành viên mớicần tập trung tối đa nguồn lực để phát triển các ngành nghề hướng đến xuấtkhẩu, đồng thời giảm thiểu việc sản xuất tại các ngành nghề thay thế nhập khẩu
b Đãi ngộ quốc gia NT (NGUYÊN TẮC KHÔNG PHÂN BIỆT ĐỐI
XỬ VỀ XUẤT XỨ HÀNG HOÁ - NATIONAL TREATMENT): Không đượcđối xử với hàng hóa và dịch vụ nước ngoài cũng như những người kinh doanhcác hàng hóa và dịch vụ đó kém hơn mức độ đãi ngộ dành cho các đối tượngtương tự trong nước
Trang 4Nguyên tắc này được hiểu như sau: Hàng hoá nhập khẩu vào một nướcphải được đối xử ở mức ưu đãi không thấp hơn so với hàng hoá nội địa tương tựtrên thị trường nước đó Cụ thể gồm 3 nội dung chính:
Hàng hoá nhập khẩu không phải chịu mức thuế hoặc các loại phí caohơn so với hàng nội địa cùng loại
Hàng nhập khẩu không phải chịu mức ưu đãi thấp hơn so với hàng nộiđịa cùng loại đối với các luật lệ, yêu cầu liên quan đến bán hàng, mua hàng, vậnchuyển, phân phối và sử dụng các hàng hoá đó
Các quốc gia thành viên không được đặt ra các yêu cầu về việc sử dụngmột lượng hay một tỷ lệ nhất định từ nguồn cung cấp nội địa đối với sản phẩm
Như vậy, nếu như MFN đề cập về việc không phân biệt đối xử giữa cácquốc gia thành viên thì nguyên tắc này nhấn mạnh đến chống phân biệt đối xửgiữa hàng nội địa và hàng nhập khẩu
II Việt Nam gia nhập WTO:
1 Tiến trình gia nhập WTO của Việt Nam:
Bước 1: Việt Nam nộp đơn gia nhập vào tháng 1-1995, Đại hội đồng
WTO đã thành lập Ban công tác về việc Việt Nam gia nhập WTO do ông Seung
Ho (Hàn Quốc) làm chủ tịch
Bước 2: Thành lập nhóm thẩm định đơn Việt Nam gồm 38 quốc gia
thành viên (Mỹ, Nhật, Canada, Ấn Độ, Singapore,…)
Bước 3: Việt Nam đã nộp Bị vong lục về Chế độ Ngoại thương (9/1996)
giới thiệu tổng quan về nền kinh tế, các chính sách kinh tế vĩ mô, cơ sở hoạchđịnh và thực thi chính sách, thông tin chi tiết về chính sách liên quan tới thươngmại hàng hoá, dịch vụ và quyền sở hữu trí tuệ
Bước 4: Việt Nam đã chuẩn bị và trả lời nhiều câu hỏi của nhằm làm rõ
nội dung chính sách, bộ máy quản lý và thực thi chính sách của Việt Nam đồngthời cung cấp nhiều thông tin khác theo các biểu mẫu do WTO quy định về hỗtrợ, trợ cấp trong công-nông nghiệp, các doanh nghiệp có đặc quyền, các biệnpháp đầu tư không phù hợp với quy định của WTO, thủ tục hải quan, hệ thốngtiêu chuẩn kỹ thuật, vệ sinh dịch tễ
Bước 5: Chủ tịch nhóm thẩm định đã tổ chức các phiên họp (7/1998,
Trang 5tại Genevơ, Thụy Sỹ để đánh giá tình hình chuẩn bị của Việt Nam và để ViệtNam có thể trực tiếp giải thích chính sách Hai phía đã cơ bản kết thúc giai đoạnlàm rõ chính sách chuyển sang đàm phán đa phương các điều kiện và điều khoảngia nhập của Việt Nam (gồm các cam kết tuân thủ các luật lệ và nguyên tắc củaWTO khi gia nhập và các giai đoạn quá độ để tiến hành các cải cách về thể chế
và luật pháp theo các cam kết này) Ngày 7/11/2007, Việt Nam trở thành thànhviên chính thức của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)
2 Thực trạng nền kinh tế Việt Nam:
Tiến bộ nhanh trong phát triển và cải cách kinh tế: Việt Nam thực sự
đã có một tiến bộ quan trọng trong phát triển và cải cách kinh tế Trong đó, đầu
tư và tiêu dùng mạnh mẽ đã tạo đà cho tăng trưởng kinh tế mạnh Sự gia tăngnhập khẩu, một phần liên quan đến đầu tư, đã nới rộng mức thâm hụt mậu dịchhơn dự kiến, nhưng đó chưa phải là một vấn đề quan ngại Mặc dù lạm phát giatăng sẽ đòi hỏi Chính phủ phải cẩn trọng, lạm phát vẫn ở trong tầm kiểm soát.Điều quan trọng nhất đối với Việt Nam vẫn là đẩy nhanh cải cách và thực hiệnkhẩn trương hơn các dự án phát triển thông qua việc đơn giản hóa các thủ tục
Có sự đóng góp to lớn từ công nghiệp và dịch vụ: Tăng trưởng kinh tế
Việt Nam hầu như hoàn toàn từ ngành công nghiệp, dịch vụ và sự năng động củakhu vực tư nhân được ghi nhận với mức tăng 20,5%, hơn gấp đôi tốc độ tăngtrưởng của các doanh nghiệp nhà nước Trong đó, ngành sản xuất công nghiệptăng mạnh 12,4% nhưng khai thác mỏ lại có mức tăng trưởng rất nhỏ vì có sự sụtgiảm 7,4% trong khai thác dầu thô do sản lượng khai thác tại mỏ dầu Bạch Hổ,
mỏ dầu lớn nhất Việt Nam, giảm sút Về dịch vụ, thương mại và tài chính tăng10,4% và khách sạn, nhà hàng do được lợi từ sự tăng mạnh tiêu dùng và du lịch,
đã tăng 12,7%
Thu hút đầu tư nước ngoài và xuất khẩu: Đây là những thành tựu nổi
bật nhất sau 1 năm Việt Nam chính thức gia nhập WTO Năm 2007, Việt Nam
đã thu hút trên 20 tỷ USD vốn FDI, bằng cả số vốn của 5 năm trước cộng lại.Kim ngạch xuất khẩu đạt xấp xỉ 48,4 tỷ USD, tăng trên 20% so với năm 2006.Năm 2008 lợi ích về mậu dịch có từ việc gia nhập WTO giữ mức tăng trưởngxuất khẩu nhanh là 22%
Trang 6Việt Nam gia nhập WTO và sẽ tiếp tục hội nhập nền kinh tế đất nước vàocác mạng lưới kinh doanh toàn cầu, khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài vàgiúp duy trì động lực cho cải cách trong nước, tăng trưởng kinh tế Việt Nam dựkiến tăng đến 8,5% trong năm 2008 Dịch vụ được khích lệ bởi tiêu dùng và dulịch, cũng như việc mở cửa dần dần của một số khu vực cho sự tham gia củanước ngoài, dự kiến sẽ tăng 8,6% vào cuối năm 2009
Trang 7PHẦN II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA THỊ
TRƯỜNG BÁN LẺ VIỆT NAM.
I Giới thiệu chung:
Hệ thống bán lẻ ở Việt Nam bao gồm nhiều loại hình:
Hệ thống phân phối tổng hợp hàng hóa tiêu dùng qua chợ và các loại hìnhcửa hàng bán lẻ nhỏ, độc lập của hộ kinh doanh: các chợ được phân bố chủ yếu
ở khu vực nông thôn với 6.401 chợ, chiếm 78,3% và là loại hình tổ chức thươngmại trong nước chủ yếu ở địa bàn này; ở khu vực thành thị có 1.772 chợ, chiếm21,7% Tỷ trọng phân phối hàng tiêu dùng qua chợ chiếm khoảng 40% Bêncạnh đó, số lượng 900.000 cửa hàng, loại hình cửa hàng bán lẻ nhỏ, độc lập của
hộ kinh doanh cũng đang chiếm thị phần bán lẻ hàng tiêu dùng tương đương vớichợ
Hệ thống phân phối tổng hợp hàng hóa tiêu dùng qua các loại hình tổchức bán lẻ hiện đại Loại này có khoảng 70 trung tâm thương mại - trung tâmmua sắm, 200 siêu thị tổng hợp, 200 siêu thị chuyên ngành, 8 cửa hàng hội viêndạng nhà kho và hàng trăm cửa hàng tiện lợi hiện đại Các cơ sở bán lẻ hàng hóahiện đại kiểu này đã có mặt ở 42/64 tỉnh, thành phố trong cả nước, trong đó tậptrung chủ yếu ở 2 thành phố lớn là Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội (chiếmkhoảng 70%) Hiện tỷ trọng phân phối hàng tiêu dùng qua các loại hình tổ chứcbán lẻ hiện đại chiếm khoảng 14% - 15% thị phần (nếu tính riêng ở các đô thịlớn thì tỷ trọng này khoảng 20% - 30%)
Hệ thống phân phối tổng hợp hàng hóa tiêu dùng qua một số doanhnghiệp phân phối lớn: cùng với sự phát triển của các loại hình tổ chức bán lẻhiện đại, ở Việt Nam đã xuất hiện một số doanh nghiệp phân phối tổng hợp hànghóa tiêu dùng lớn, tiêu biểu như:
Liên hiệp Hợp tác xã thương mại Thành phố Hồ Chí Minh (SaigonCo.op);
Tổng Công ty Thương mại Sài Gòn (Satra) và Tổng Công tyThương mại Hà Nội (Hapro) hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con
và kinh doanh đa ngành;
Trang 8 Công ty Kinh doanh hàng thời trang Việt Nam (thuộc Tập đoànDệt may Việt Nam) quản lý chuỗi khoảng 50 cơ sở bán lẻ hiện đại (gồm cửahàng thời trang, siêu thị tổng hợp, trung tâm thương mại và gian hàng đặt tại các
cơ sở bán lẻ của doanh nghiệp khác) mang thương hiệu VinatexMart , songsong đó là các tập đoàn lớn của nước ngoài như Metro, Tesco, Wal-Mart,Carrefour…
Một số ảnh minh họa về các doanh nghiệp bán lẻ nổi tiếng hiện nay
Trang 9II Phân tích thực trạng hoạt động của thị trường bán lẻ ở nước ta:
1 Tốc độ tăng trưởng:
Như vậy, qua các năm cùng với những biến đổi của nền kinh tế, thịtrường bán lẻ nước ta có những chuyển biến lớn Để làm rõ điều này, phân tíchbảng số liệu (Nguồn: Tổng cục thống kê) cụ thể như sau:
Biểu đBiểu đồ tốc độ tăng bán lẻ so với tăng trưởng kinh tế GDP và
chỉ số giá tiêu dùng CPI
a Tiền WTO:
Thị trường bán lẻ sau quá trình tụt dốc rất nhanh những năm đầu thập kỷ
90 là do “cơn khát” tiêu dùng kéo dài hàng chục năm trước đó đã rất nhanh chóng được thỏa mãn nhờ kinh tế tăng tốc nhanh chưa từng có, tốc độ tăng của tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ (dưới đây gọi tắt là thị trường bán lẻ) đã rơi tự do và hầu như liên tục nằm ở mức đáy trong nhiều năm liền do những tác động rất mạnh của cuộc khủng hoảng kinh tế khu vực
Cụ thể: Năm 1997, việc tốc độ tăng của thị trường bán lẻ đột ngột rơi tự
do xuống còn 10,99% là do “cơn khát” tiêu dùng đã được thỏa mãn trong nhiều năm trước đó cộng hưởng với những tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế khuvực mà nước ta phải đối mặt
Năm 1998 đạt tốc độ tăng vượt trội 14,64% chủ yếu do lạm phát đột ngột tăng cao trở lại vì giá gạo thế giới sốt nóng bắt nguồn từ “El Nino thế kỷ”, các năm còn lại chỉ dao động xung quanh ngưỡng 10%
Năm 1999 tổng mức bán lẻ “chạm đáy” chỉ với 8,26% và tốc độ tăng GDP cũng “chạm đáy” chỉ với 4,77%
Trang 10Có thể nói, việc thị trường bán lẻ trong những năm này rơi vào tình trạngtrầm lắng như vậy là do hai yếu tố chủ yếu sau đây cộng hưởng với nhau:
Thứ nhất, sau một chu kỳ phát triển, tốc độ tăng trưởng kinh tế rơi tự do đồng nghĩa với tốc độ tăng thu nhập của quảng đại các tầng lớp dân cư tăng chậm lại và sức mua xã hội cũng tăng chậm lại.
Các số liệu thống kê cho thấy, nếu như trong năm đầu tiên (từ năm 1993đến năm 1997) mặc dù phải đối mặt với cuộc khủng hoảng kinh tế khu vực thìtốc độ tăng trưởng kinh tế của nước ta giảm nhưng không nhiều (giảm từ 9,34%xuống còn 8,15%), nhưng năm 1998, khi khủng hoảng lên tới cao trào, thì tốc độtăng này chỉ còn 5,76%
Hơn thế, một điểm hết sức độc đáo nữa chính là, cho dù cuộc khủnghoảng kinh tế khu vực đã đi qua, nhưng năm 1999 nền kinh tế nước ta mới bắtđầu “chạm đáy” chỉ với tốc độ tăng 4,77%, tức là giảm đúng một nửa so với tốc
độ tăng kỷ lục 9,54% của năm 1995 và cho đến nay đây dường như vẫn còn làđiểm chưa thực sự được làm sáng tỏ một cách thấu đáo.
Thứ hai, sau cơn sốc khủng hoảng kinh tế khu vực, cho dù tốc độ tăng trưởng kinh tế đã phục hồi mạnh, nhưng thị trường bán lẻ vẫn hết sức trầm lắng, cho nên hiện tượng không mong muốn này chỉ có thể là do tâm lý “thắt lưng buộc bụng quá kỹ” của người tiêu dùng.
Sau khi “chạm đáy”, nền kinh tế đã phát triển với tốc độ khá ngoạn mục:6,79% trong năm 2000, năm 2001 tốc độ này vẫn tiếp tục nhích lên 6,89% (dophải đối mặt với tình trạng suy thoái kinh tế toàn cầu và sự kiện “ngày 11 tháng
9 đen tối của nước Mỹ”) nhưng tốc độ tăng của thị trường bán lẻ trong hai nămnày cũng chỉ nhích lên rất không đáng kể
Trang 11năm mới có một lần hiện nay, nhưng đây cũng chính là năm mà kinh tế nước ta
đã rơi tự do không kém năm 1998 bao xa
Điều trên có nghĩa là, trong điều kiện tốc độ tăng trưởng kinh tế sụt giảmmạnh như vậy, tốc độ tăng thu nhập của đại bộ phận các tầng lớp dân cư đươngnhiên cũng tăng chậm lại tương ứng, cho nên việc tốc độ tăng của thị trường bán
lẻ rơi tự do như những năm cuối thập kỷ trước là hợp quy luật, còn việc tăng kỷlục 31% năm 2008 là rất không bình thường
Nghịch lý ở hai yếu tố trên đã dẫn đến trong khi thu nhập tăng chậm mộtcách đáng kể thì tốc độ chi tiêu dùng hằng ngày lại tăng đột biến Có thể khẳngđịnh một cách chắc chắn rằng, cho dù điều đó không ảnh hưởng nhiều đến “túitiền” của một bộ phận nhỏ dân cư có thu nhập cao trong xã hội, nhưng đối với
bộ phận dân cư có thu nhập thấp, thậm chí có thu nhập trung bình, thì sức muachắc chắn bị ảnh hưởng nghiêm trọng Điều này có nghĩa là, những “di chứng”
mà lạm phát cao và kinh tế tăng trưởng thấp năm 2008 để lại cho thị trường bán
lẻ hiện nay là nặng nề chưa từng có
Nhìn chung, thị trường bán lẻ Việt Nam trong những năm qua phát triểnkhá mạnh, đặc biệt trong 3 năm gần đây mức tăng trưởng của thị trường bán lẻthường xuyên đạt trên 20% và đặc biệt trong năm nay theo ước tính sẽ đạt tới25% Dự báo mới đây của Tổng cục Thống kê khẳng định: Thị trường bán lẻ sẽtăng khoảng 15 - 18% trong năm 2009 Doanh thu từ bán lẻ dự báo đến năm
2010 sẽ là 53 tỷ USD Các nhà doanh nghiệp nước ngoài coi đây là cơ hội kinhdoanh lớn và đang chuẩn bị cho cuộc đổ bộ vào thị trường này
2 Các chính sách áp dụng trong thị trường bán lẻ Việt Nam sau khi gia nhập WTO:
2.1 Việt Nam cam kết cho phép các doanh nghiệp nước ngoài tham giathành lập các liên doanh phân phối bán lẻ với các doanh nghiệp trong nước từtháng 1-1-2009
2.2 DN có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) được quyền phân phối tại VN kể
từ ngày 1-1-2009 Trong đó, có một danh mục hàng hóa loại trừ mà vĩnh viễncác DN này không được tham gia phân phối trên lãnh thổ VN, đó là: thuốc lá, xì
gà, sách, báo, tạp chí, vật phẩm đã ghi hình, kim loại quý, đá quý, dược phẩm,thuốc nổ, xăng dầu, dầu thô, đường và gạo Bên cạnh đó là một danh mục loại
Trang 12trừ có thời hạn đến ngày 11-1-2010 như xi măng, clinke, lốp (trừ lốp máy bay),giấy, sắt thép, thiết bị nghe nhìn, rượu và phân bón…
2.3 Chính cách ENT (kiểm tra nhu cầu kinh tế) về việc cho phép nhà bán
lẻ nước ngoài mở điểm bán lẻ thứ hai tại Việt Nam theo cam kết WTO Các nhàbán lẻ nước ngoài được xét điều kiện ENT trong từng trường hợp cụ thể dựa trên
3 tiêu chí khách quan: Số lượng các nhà bán lẻ trên một địa bàn cụ thể; sự ổnđịnh của thị trường và quy mô địa lý của khu vực dân cư Tuy nhiên, nếu thịtrường cần thêm một điểm bán thì địa phương sẽ cấp phép còn nếu cho rằngchưa cần, nhà quản lý có quyền từ chối cấp phép
2.4 Vì thị trường bán lẻ là nơi tập trung các kênh phân phối từ nhiềunguồn khác nhau, bao gồm các nhà cung cấp trong và ngoài nước, điều này ảnhhưởng rất lớn đến việc hình thành giá thông qua biểu thuế sau:
Biểu 1: Diễn giải mức thuế bình quân cam kết của Việt Nam
Bình quân
chung và
theo ngành
Thuế suấtMFN hiệnhành(%)
Thuế suấtcam kết khigia nhậpWTO (%)
Thuế suấtcam kết vàocuối lộ trình(%)
Mức giảm
so với thuếMFN hiệnhành(%)
Mức cắt giảm thuếchung tại VòngUruguay
Trang 13Biểu 2: Tổng hợp cam kết cắt giảm thuế nhập khẩu trong đàm phán gia nhập WTO đối với một số nhóm hàng quan trọng đối với hàng bán lẻ thông dụng
Cam kết với WTO
TT Ngành hàng/Mức thuế
suất
Thuế suấtMFN
Thuế suấtkhi gia nhập
Thuế suấtcuối cùng
Thời gianthực hiện
quân)
Hàng dệt may (thuếsuất bình quân)
ngay khi gianhập
Trang 143 Thuận lợi của thị trường bán lẻ khi Việt Nam gia nhập WTO:
Trở thành thành viên của WTO, các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam sẽ có
cơ hội tận dụng được nhiều điều kiện thuận lợi do những nguyên tắc và quy địnhcủa tổ chức này đem lại để nâng cao khả năng cạnh tranh, mở rộng thị trườngbán lẻ và từng bước tham gia vào các chuỗi giá trị, dây chuyền cung cấp toàncầu, mở rộng ra nước ngoài
Việt Nam gia nhập WTO có cả tác động tích cực cũng như tiêu cực nhưngtác động tổng thể đến nền kinh tế Việt Nam là tích cực, cụ thể là:
Tiềm năng của thị trường bán lẻ Việt Nam là rất lớn, nền kinh tế có tốc độtăng trưởng liên tục cao, ổn định chính trị, đông dân, cơ cấu dân số trẻ (hiện có57% dân số có độ tuổi dưới 30)
Việt Nam liên tục được xếp thứ hạng cao về chỉ số phát triển kinh doanhbán lẻ (GRDI) Theo A.T.Kearney (hãng tư vấn Mỹ), năm 2007, Việt Nam xếpthứ 4/7 nước có thị trường bán lẻ hấp dẫn nhất thế giới; năm 2008 vượt lên dẫnđầu (tiếp theo là Ấn Độ, Trung Quốc, Ai Cập, Moroco, Ả rập Xê út…), có khảnăng thu hút nhiều nhà đầu tư vào khai thác thị trường này
Các mặt hàng như lúa gạo, đường, thuốc lá và xì gà, dầu thô và dầu đãqua chế biến, dược phẩm, thuốc nổ, sách, báo, tạp chí, kim loại quý và đá quý,vật phẩm đã ghi hình trên mọi chất liệu (đĩa, băng, các phương tiện đã lưu trữthông tin…) là những loại hàng hóa nhà đầu tư nước ngoài không được quyềnphân phối tại Việt Nam do nhà nước quy định
Tuy các tập đoàn bán lẻ lớn trên thế giới đã hội nhập vào thị trường ViệtNam nhưng kênh bán lẻ truyền thống nước ta hiện vẫn đang chiếm khoảng trên85% lưu chuyển hàng hóa Đây là dư địa cho các doanh nghiệp, hộ kinh doanhViệt Nam vì các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chủ yếu vào khai thácthị trường thông qua kênh bán lẻ hiện đại (trung tâm thương mại, đại siêu thị,siêu thị…)
Doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam gắn bó về văn hóa, hiểu biết về tập quán,nhu cầu của người tiêu dùng Việt Nam và có cơ hội để học tập kinh nghiệm quản