1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng và giải pháp đẩy mạnh tiêu thụ nông sản hàng hoá thông qua hợp đồng tiêu thụ sản phẩm theo quyết định số 802002qđ TTg ngày 2462002 của thủ t ớng chính phủ

139 450 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 139
Dung lượng 620,53 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ thực trạng đó, trước đòi hỏi cần có một phương thức kinh doanh hiện đại, đáp ứng được nhu cầu của cả phía người sản xuất lẫn các đơn vị, doanh nghiệp kinh doanh, chế biến, x

Trang 1

Bộ Thương mại – Viện nghiên cứu thương mại

Trung tâm Tư vấn và Đào tạo Kinh tế Thương mại (ICTC)

-*** -

báo cáo tổng hợp

hàng hoá thông qua hợp đồng tiêu thụ sản phẩm

Thủ tướng Chính phủ”

Mã số: 2004-78-012

Chủ nhiệm đề tài: CN Nguyễn Thị Quỳnh Hoa

Những người tham gia:

Trang 2

Mục lục

Danh mục những chữ viết tắt 4

Lời nói đầu 5

Chương I: Vị trí, vai trò của hợp đồng tiêu thụ NSHH theo Quyết định số 80/2002/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ; kinh nghiệm của một số nước trong khu vực 10

I Vị trí, vai trò của hợp đồng tiêu thụ NSHH theo Quyết định số 80/2002/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ 10

1 Bối cảnh ra đời và nội dung của Quyết định 80/2002/QĐ-TTg 10

2 Một số vấn đề cơ bản về hợp đồng tiêu thụ NSHH theo Quyết định

80/2002/QĐ-TTg 14

3 Vai trò của việc phát triển hợp đồng tiêu thụ NSHH ở Việt Nam 19

II Kinh nghiệm của một số nước trong khu vực về khuyến khích tiêu thụ

NSHH thông qua hợp đồng 24

1 Kinh nghiệm của một số nước 24

2 Những bài học rút ra từ kinh nghiệm tiêu thụ NSHH thông qua hình thức hợp

đồng của một số nước 27

Chương II: Đánh giá thực trạng tiêu thụ NSHH của Việt Nam thông qua hình thức hợp đồng tiêu thụ sản phẩm từ năm 1996

đến 2004 31

I Đánh giá thực trạng tiêu thụ NSHH của Việt Nam thông qua hình thức hợp

đồng tiêu thụ sản phẩm trước khi có Quyết định 80 (giai đoạn 1996-2002) 31

1 Thực trạng tiêu thụ NSHH của Việt Nam thông qua hình thức hợp đồng đối với

các mặt hàng giai đoạn 1996-2002 31

2 Những vấn đề đặt ra về tổ chức sản xuất, chế biến và tiêu thụ NSHH thông qua

hợp đồng ở Việt Nam giai đoạn 1996-2002 45

II Thực trạng tiêu thụ NSHH của Việt Nam thông qua hình thức hợp đồng tiêu

Trang 3

thụ sản phẩm sau khi có Quyết định 80 (giai đoạn 2002-2004) 48

1 Thực trạng tiêu thụ NSHH của Việt Nam thông qua hình thức hợp đồng đối với

các mặt hàng giai đoạn 2002-2004 48

2 Những nhân tố ảnh hưởng đến phát triển hợp đồng tiêu thụ NSHH ở Việt Nam 60 III Bài học kinh nghiệm về tổ chức sản xuất, chế biến và tiêu thụ NSHH thông qua hợp đồng ở Việt Nam 64

Chương III: các giải pháp chủ yếu đẩy mạnh tiêu thụ NSHH thông qua hợp đồng tiêu thụ sản phẩm theo Quyết định số 80/2002/QĐ-TTg ngày 24/6/2002 của Thủ tướng Chính phủ 67

I Dự báo cung- cầu một số mặt hàng nông sản chủ yếu đến năm 2010 và khả năng tiêu thụ thông qua hợp đồng 67

II Định hướng phát triển hợp đồng tiêu thụ sản phẩm đến năm 2010 72

1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp

và tiêu thụ nông sản đến năm 2010 72

2 Định hướng khuyến khích tiêu thụ NSHH thông qua hợp đồng đến năm 2010,

những mục tiêu tổng quát 75 III Các giải pháp chủ yếu đẩy mạnh tiêu thụ NSHH thông qua hợp đồng 77

1 Nhóm giải pháp chính sách vĩ mô của Nhà nước 77

1.1 Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cho các vùng sản xuất NSHH tập trung, hệ thống kho bảo quản NSHH, bến bãi, phương tiện vận chuyển, chợ bán buôn, các

trung tâm giới thiệu sản phẩm 77

1.2 Khuyến khích chuyển giao khoa học kỹ thuật, công nghệ tiên tiến, nhập khẩu

và ứng dụng giống mới (giống cây trồng, vật nuôi) trong sản xuất, bảo quản, chế

biến NSHH 79

1.3 Xây dựng và hoàn chỉnh quy hoạch các vùng sản xuất NSHH tập trung, tạo

điều kiện cho việc tổ chức sản xuất và ký hợp đồng tiêu thụ 82

1.4 ưu đãi cho thuê đất (về thủ tục, giá cả, thời hạn thuê) phục vụ sản xuất, chế

biến, tiêu thụ, xuất khẩu NSHH 84

1.5 Khuyến khích cho vay vốn ngân hàng với lãi suất ưu đãi, thành lập các Quỹ

bảo hiểm ngành hàng 84

Trang 4

1.6 Đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ và năng lực tổ chức của cán bộ quản

lý các cấp, các Bộ, ngành hữu quan trong việc chỉ đạo và kiểm tra, giám sát quá

trình ký kết và thực hiện hợp đồng 87

1.7 Hoàn thiện các chính sách nhằm thúc đẩy quá trình liên kết ngày càng chặt chẽ và hiệu quả giữa các khâu sản xuất, chế biến và tiêu thụ NSHH trong nông nghiệp 88

2 Nhóm giải pháp đối với các doanh nghiệp và hộ nông dân 91

2.1 Lập kế hoạch đàm phán, ký kết hợp đồng tiêu thụ NSHH và xây dựng một số mô hình mẫu về phương thức sản xuất- tiêu thụ theo hợp đồng 91

2.2 Thu thập thông tin về nhu cầu thị trường, giá cả, các chương trình xúc tiến thương mại, hội chợ triển lãm trong nước và quốc tế nhằm mở rộng thị trường tiêu thụ NSHH và tham gia thực hiện các hợp đồng thương mại của Chính phủ 92

2.3 Xây dựng quy hoạch ngành, chiến lược sản xuất- kinh doanh của doanh nghiệp 94

2.4 Tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền, đào tạo nguồn nhân lực và nâng cao nhận thức về phương thức sản xuất- tiêu thụ theo hợp đồng, ý thức chấp hành pháp luật của các doanh nghiệp và hộ nông dân 95

3 Nhóm giải pháp chế tài 95

3.1 Hoàn thiện các quy định pháp luật của Nhà nước về trọng tài, giải quyết tranh chấp, xử lý vi phạm hợp đồng và bồi thường thiệt hại, đảm bảo quyền lợi của các bên tham gia hợp đồng 95

3.2 Bổ sung, sửa đổi, hoàn thiện và nâng Quyết định 80/2002/QĐ-TTg ngày 24/6/2002 của Thủ tướng Chính phủ lên tầm Nghị định 80 để đảm bảo nâng cao tính pháp lý của các hợp đồng tiêu thụ NSHH được ký kết 97

Kết luận 98

Tài liệu tham khảo 101

Trang 5

Danh mục những chữ viết tắt

hàng

các loài nguy hiểm và động thực vật hoang dã nguy cấp

Trang 6

Lời nói đầu

Có thể nói, một trong những khâu then chốt của quá trình sản xuất hàng hoá, đóng vai trò trung gian giữa người sản xuất và người tiêu dùng là khâu tiêu thụ ở nhiều quốc gia trong khu vực và trên thế giới có thế mạnh về sản xuất nông nghiệp như Thái Lan, ấn

Độ, Trung Quốc , vấn đề tiêu thụ NSHH rất được coi trọng Hoạt động tiêu thụ nông sản phát triển và đạt hiệu quả cao góp phần đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hoá, hiện

đại hoá nông nghiệp nông thôn, tạo công ăn việc làm và nâng cao đời sống cho nông dân

ở Việt Nam, những năm gần đây sản xuất nông nghiệp đã đạt được những thành tích nhất định Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách khuyến khích phát triển sản xuất nông nghiệp, xây dựng một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực có lợi thế như lúa gạo, cà phê, hạt điều, thủy hải sản và đáp ứng ngày một tốt hơn nhu cầu tiêu dùng trong nước Tuy nhiên, chất lượng một số mặt hàng xuất khẩu chưa cao, giá trị xuất khẩu thấp do chủ yếu

là xuất khẩu sản phẩm thô, hàm lượng chế biến thấp, tỷ lệ tổn thất sau thu hoạch cao, giá thành còn cao nên sức cạnh tranh trên thị trường khu vực và thế giới kém Bên cạnh đó, vấn đề tiêu thụ NSHH cho nông dân vẫn đang là vấn đề thời sự nổi cộm

Trong xu thế mở cửa và tự do hoá thương mại, dưới tác động của cơ chế tự do cạnh tranh mà cao hơn cả là sức ép cạnh tranh quốc tế, các đơn vị sản xuất kinh doanh hàng nông sản của Việt Nam, ngoài việc đảm bảo sản xuất ra những sản phẩm NSHH đạt chất lượng, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng, thì việc nỗ lực tìm phương thức tiêu thụ cho những hàng hóa này còn gặp nhiều khó khăn Có thể kể ra các hình thức tiêu thụ nông sản theo phương thức truyền thống trước đây như bán lẻ trực tiếp

đến người tiêu dùng (thường chỉ số lượng ít), thông qua các HTX mua bán, mạng lưới các đại lý bán hàng, hay bán buôn qua các đầu nậu, nhà đầu cơ kinh doanh trên thị trường Hình thức tiêu thụ NSHH thông qua hợp đồng đã và đang tồn tại nhưng còn phân tán, tự phát rất khó kiểm soát với số lượng nông sản tiêu thụ không lớn Trong các phương thức tiêu thụ trước đây, người sản xuất khi làm ra sản phẩm mới lo tiêu thụ sản phẩm của mình, người kinh doanh thì khi có được nguồn thị trường tiêu thụ mới đi lo gom hàng về Điều này dẫn đến một hệ quả là, người sản xuất khi muốn bán hàng hóa của mình thì chỉ có thể bán được trong khoảng thời gian ngắn, do hàng nông sản không

để được lâu hoặc không đủ điều kiện bảo quản Có những trường hợp do chưa thiết lập

được các mối tiêu thụ ổn định và thiếu thông tin về thị trường, người sản xuất tuy sản xuất ra được số lượng lớn hàng hóa nhưng đành chịu ách tắc ở khâu tiêu thụ, sản phẩm làm ra không biết bán cho ai buộc phải chấp nhận để hỏng, hoặc nếu có bán thì bán với giá rẻ, thậm chí bán tống, bán tháo thấp hơn chi phí sản xuất do bị ép giá NSHH đến tay người tiêu dùng qua quá nhiều khâu trung gian nên giá thành khá cao, trong khi người nông dân là những người sản xuất trực tiếp thì bị thiệt thòi

Như vậy, việc tự tìm mối tiêu thụ sản phẩm là điều thực sự khó khăn đối với các

hộ nông dân, nếu như không có sự hỗ trợ trung gian của các doanh nghiệp chuyên kinh

Trang 7

doanh xuất khẩu, nhất là khi trình độ hiểu biết và các mối quan hệ với các đối tác trong nước của những người sản xuất trực tiếp này còn nhiều hạn chế Ngoài ra, do những hạn chế về vốn, kỹ thuật, công nghệ nên chất lượng sản phẩm sản xuất chưa cao, chưa đáp ứng tối đa yêu cầu ngày càng khắt khe của người tiêu dùng trong nước cũng như các nhà nhập khẩu nước ngoài, nhất là các thị trường nhập khẩu khó tính Còn đối với các doanh nghiệp thương mại chuyên kinh doanh hàng nông sản, hoạt động kinh doanh phụ thuộc rất nhiều vào nguồn cung hàng Nhiều khi họ không thể ký hợp đồng với các thị trường lớn do không đủ nguồn hàng đầu vào, nếu có đủ nguồn hàng thì cũng là do thu gom của nhiều người sản xuất khác nhau, dẫn đến chất lượng hàng hóa không đồng đều, không tạo được uy tín cho những lần cung cấp tiếp theo Những yếu tố giá cả, thời gian giao hàng, số lượng và chất lượng hàng hóa sẽ quyết định xem liệu các doanh nghiệp này có thực hiện được hợp đồng với các nhà nhập khẩu nước ngoài hay không Đối với những mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ yếu của ta như gạo, cà phê, thủy hải sản, thịt lợn , việc tìm kiếm và mở rộng thị trường xuất khẩu, thâm nhập những thị trường khó tính cũng đang gặp phải những sự cạnh tranh gay gắt, trở thành vấn đề rất đáng quan tâm đối với hầu hết các doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu

Có thể nói ngoài nguyên nhân do công tác quy hoạch các vùng sản xuất NSHH tập trung, quy hoạch vùng nguyên liệu còn nhiều bất cập, việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng,

đào tạo cán bộ quản lý và người lao động lành nghề còn chưa thoả đáng, thì một nguyên nhân quan trọng khác hạn chế hoạt động sản xuất và tiêu thụ NSHH chính là ở chỗ các chính sách hỗ trợ của Nhà nước (về cả tài chính, tín dụng, đầu tư, khoa học kỹ thuật, thông tin, xúc tiến thương mại ) đối với những người sản xuất trực tiếp cũng như các doanh nghiệp kinh doanh, xuất khẩu chưa kịp thời và đúng mức Hơn nữa, Nhà nước chưa có các chính sách khuyến khích và thu hút mọi thành phần kinh tế tham gia vào việc đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ NSHH Xuất phát từ thực trạng đó, trước đòi hỏi cần có một phương thức kinh doanh hiện đại, đáp ứng được nhu cầu của cả phía người sản xuất lẫn các đơn vị, doanh nghiệp kinh doanh, chế biến, xuất khẩu hàng nông sản, để gắn kết giữa sản xuất với chế biến và tiêu thụ NSHH nhằm phát triển sản xuất ổn định và bền

vững, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 80/2002/QĐ-TTg ngày 24/6/2002

về chính sách khuyến khích áp dụng hình thức ký kết hợp đồng khi tiêu thụ NSHH, góp phần đảm bảo quyền lợi cũng như trách nhiệm và nghĩa vụ của các bên tham gia ký kết

và thực hiện hợp đồng Trong đó đưa ra nhiều các giải pháp về chính sách và cơ chế khuyến khích người sản xuất đẩy mạnh tiêu thụ NSHH của mình thông qua hợp đồng

Thực hiện theo Quyết định này, một số doanh nghiệp có khả năng về tài chính và công nghệ hiện đại đã xây dựng quan hệ mua bán với người sản xuất bằng hình thức hợp

đồng Điều này tận dụng được những ưu điểm của cả hai phía là người sản xuất được áp dụng công nghệ hiện đại mà không phải lo về tài chính cũng như đầu ra của sản phẩm, sản xuất sản phẩm theo đúng nhu cầu thị trường, còn người kinh doanh thì có thể yên tâm

về chủng loại, chất lượng và số lượng mặt hàng Đồng thời, xã hội cũng thu được những lợi ích nhất định như hàng hóa được đưa từ sản xuất đến tiêu dùng bằng con đường ngắn nhất, thời gian nhanh nhất và chi phí thấp nhất, năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp

Trang 8

Việt Nam trên thị trường quốc tế được nâng cao Đối với một số nhà chế biến, xuất khẩu

có quy mô lớn cũng vậy, việc thực hiện theo Quyết định này đã góp phần tạo được quan

hệ ổn định với người sản xuất nông nghiệp, với các HTX dịch vụ, với các thương lái…, hình thành nên một hệ thống phân phối và tiêu thụ hàng nông sản đa dạng, có tác động tích cực đến sự phát triển thị trường Sự thành công bước đầu, cho dù còn rất nhỏ, của hệ thống phân phối và tiêu thụ này đã chứa đựng những tiền đề cơ bản của phương thức kinh doanh hiện đại, minh chứng cho xu thế phát triển tất yếu của chúng ở Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

Tuy vậy, xu thế phát triển này hiện đang gặp một số trở ngại nhất định, xuất phát

từ hiệu quả của hệ thống phân phối và tiêu thụ hàng nông sản chưa cao Nguyên nhân là

do còn có những hạn chế cả trong liên kết dài hạn lẫn trong phân công chuyên môn hóa, hợp tác hóa giữa các bên (giữa những người cung cấp nguyên liệu, người sản xuất trực tiếp và các doanh nghiệp chế biến, kinh doanh, xuất khẩu) Ngoài ra, các điều kiện cần

có của môi trường kinh doanh, cũng như trình độ và năng lực tổ chức của người thực hiện, các Bộ, ngành hữu quan… còn nhiều bất cập Việc thực thi Quyết định này còn gặp những khó khăn, vướng mắc do nhận thức của tầng lớp nông dân chưa cao, ý thức chấp hành pháp luật của các doanh nghiệp và hộ nông dân chưa tốt

Việc nghiên cứu đề tài: “Thực trạng và giải pháp đẩy mạnh tiêu thụ NSHH thông

qua hợp đồng tiêu thụ sản phẩm theo Quyết định 80/2002/QĐ-TTg ngày 24/6/2002 của Thủ tướng Chính phủ” giúp chỉ ra được những lợi ích của các bên tham gia trong một

phương thức tiêu thụ NSHH mới, hiện đại dưới hình thức ký kết các hợp đồng tiêu thụ sản phẩm, cũng như khắc phục những cản trở nói trên, tạo lập những yếu tố và điều kiện thuận lợi cho sự phát triển hệ thống phân phối và tiêu thụ nông sản ở nước ta Từ đó khẳng định vai trò quan trọng của việc phát triển hình thức hợp đồng tiêu thụ NSHH, góp phần đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ NSHH và làm sôi động thêm thị trường hàng nông sản Việt Nam Đồng thời, thông qua các hợp đồng tiêu thụ sản phẩm được ký kết làm căn cứ nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước đối với hoạt động lưu thông, phân phối, tiêu thụ và xuất khẩu các mặt hàng nông sản của Việt Nam Đề tài nghiên cứu sẽ là luận cứ khoa học góp phần bổ sung, hoàn chỉnh và nâng cao tính khả thi của Quyết định 80/2002/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ

Mục tiêu nghiên cứu:

Mục tiêu chính là góp phần nâng cao tính hiệu lực pháp lý và hiệu quả thực thi của Quyết định 80/2002/QĐ-TTg ngày 24/6/2002 của Thủ tướng Chính phủ, nhằm đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ NSHH thông qua hợp đồng ở Việt Nam, trong đó xác định 3 mục tiêu

cụ thể:

- Làm rõ vị trí, bản chất, vai trò của hợp đồng tiêu thụ NSHH theo Quyết định số 80/2002/QĐ-TTg

Trang 9

- Đánh giá khách quan, toàn diện thực trạng tiêu thụ NSHH của Việt Nam thông qua hình thức hợp đồng tiêu thụ sản phẩm từ năm 1996 đến 2004, nhấn mạnh đến thực trạng tiêu thụ NSHH thông qua hình thức hợp đồng giữa các thương nhân với nhau và giữa thương nhân với nông dân sau khi có Quyết định nói trên (giai đoạn 2002-2004)

- Đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh tiêu thụ NSHH thông qua hợp

đồng tiêu thụ sản phẩm theo Quyết định 80/2002/QĐ-TTg ngày 24/6/2002 của Thủ tướng Chính phủ, nhằm gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ NSHH, phát triển sản xuất nông nghiệp ổn định, bền vững và nâng cao đời sống nhân dân

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

* Đối tượng nghiên cứu:

Đề tài tập trung nghiên cứu các hình thức tiêu thụ NSHH thông qua hợp đồng theo Quyết định số 80/2002/QĐ-TTg, được ký kết giữa những người sản xuất trong nước (các

hộ nông dân) với các doanh nghiệp kinh doanh, chế biến và xuất khẩu thuộc mọi thành phần kinh tế (các thương nhân) và giữa các thương nhân với nhau, kể cả các hợp đồng xuất khẩu NSHH ký kết với nước ngoài

* Phạm vi nghiên cứu:

- Về nội dung: Nghiên cứu cả ở tầm vĩ mô lẫn vi mô về hợp đồng tiêu thụ NSHH,

tập trung vào 5 mặt hàng nông sản chủ yếu: gạo, cà phê, mía đường, thủy sản, thịt lợn

- Về thời gian:

+ Phần thực trạng: từ năm 1996 đến 2004, chia thành 2 giai đoạn: trước khi có

Quyết định 80/2002/QĐ-TTg ngày 24/6/2002 của Thủ tướng Chính phủ (1996-2002) và

từ sau khi có Quyết định này (2002-2004)

+ Phần giải pháp: từ nay đến năm 2010 và định hướng đến 2020

- Về không gian: Trong phạm vi cả nước, nhưng tập trung nghiên cứu những vùng

sản xuất NSHH chủ yếu (Đồng bằng sông Hồng, Đồng bằng sông Cửu Long, Bắc Trung

Bộ, Tây Nguyên )

phương pháp nghiên cứu:

- Phương pháp chung để triển khai nghiên cứu đề tài là khai thác và thu thập các tài liệu thứ cấp (từ kết quả các công trình đã có, Niên giám thống kê cả nước, các tỉnh, các báo cáo về tình hình thực hiện Quyết định 80/2002/QĐ-TTg của một số tỉnh), kết hợp với thu thập các tài liệu sơ cấp về điều tra, khảo sát những cơ sở sản xuất nông sản có quy mô tương đối lớn, điển hình trong cả nước

Trang 10

- Sử dụng phương pháp thống kê, so sánh, phương pháp mô hình hoá để xác định những ưu, nhược điểm khi áp dụng các hình thức tiêu thụ nông sản khác không phải dưới hình thức hợp đồng, những lợi ích kinh tế thu được đối với người sản xuất, các đơn vị, doanh nghiệp kinh doanh, chế biến và xuất khẩu nông sản khi tiêu thụ nông sản thông qua hợp đồng

- Các phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp để chứng minh rằng: việc áp dụng hình thức ký hợp đồng tiêu thụ NSHH là cơ sở pháp lý gắn quyền lợi với nghĩa vụ

và trách nhiệm của các bên tham gia hợp đồng

- Phương pháp chuyên gia, thực chứng: Tổ chức hội thảo, lấy ý kiến chuyên gia để

đề xuất các giải pháp nhằm phát triển hợp đồng tiêu thụ NSHH ở Việt Nam

- Các phương pháp khác

Nội dung nghiên cứu:

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung đề tài được

cấu tạo thành 3 chương lớn như sau:

80/2002/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ; Kinh nghiệm của một số nước trong khu vực

hợp đồng tiêu thụ sản phẩm từ năm 1996 đến 2004

tiêu thụ sản phẩm theo Quyết định số 80/2002/QĐ-TTg ngày 24/6/2002

của Thủ tướng Chính phủ

Trang 11

Tiêu thụ NSHH đã và đang là vấn đề thời sự nổi cộm và là thách thức đối với cả phía người sản xuất là các hộ nông dân và phía các doanh nghiệp kinh doanh, chế biến, xuất khẩu Nguyên nhân chính là ở chỗ người sản xuất và các doanh nghiệp tiêu thụ nông sản

chưa gắn kết chặt chẽ với nhau trong quá trình sản xuất và tiêu thụ NSHH Do đó, việc thực hiện ký kết hợp đồng giữa các doanh nghiệp kinh doanh, chế biến, tiêu thụ nông sản với người sản xuất là thực sự cần thiết hiện nay, là xu hướng văn minh của nền sản

xuất hàng hóa và có tính đột phá của chương trình chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp trong những năm tới

Để phát huy những thành tựu đã đạt được trong sản xuất nông nghiệp và khắc phục những yếu kém trong hoạt động lưu thông tiêu thụ NSHH, trong những năm từ 1996 đến nay, Nhà nước đã ban hành một số chủ trương, chính sách kinh tế- tài chính toàn diện từ sản xuất đến tiêu thụ theo hướng tăng hiệu quả

- Chính sách thị trường: Nghị quyết 06/NQ/TW ngày 10/11/1998 của Bộ chính trị (khoá VII) đã chỉ rõ: “Củng cố các tổ chức thương nghiệp Nhà nước trên địa bàn nông

thôn, khuyến khích tư nhân trong nước và các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư kinh doanh nông nghiệp, nhất là đầu tư vào công nghiệp chế biến và xây dựng cơ sở hạ tầng; khuyến khích mọi người có vốn, có kinh nghiệm quản lý kinh doanh tự đầu tư hoặc liên kết, liên doanh dưới mọi hình thức để phát triển ngành nghề, dịch vụ ở nông thôn, đa dạng hoá các hình thức liên kết giữa thương nghiệp Nhà nước với HTX và các thành phần kinh tế khác; bám sát thị trường, giải quyết tốt đầu ra, hạn chế đột biến về giá, chống ép cấp, ép giá nông dân khi mua vật tư và bán sản phẩm nông nghiệp”

Bên cạnh đó, Chính phủ cũng đã bãi bỏ nhiều thủ tục hành chính tạo điều kiện cho

tự do lưu thông NSHH; xoá bỏ một số loại giấy phép kinh doanh không cần thiết, rút ngắn thời gian đăng ký kinh doanh, ban hành điều kiện kinh doanh đối với các loại vật tư phục

vụ sản xuất nông nghiệp thay thế cho việc cấp phép; khuyến khích mọi thành phần kinh

tế, nhất là các thành phần kinh tế tư nhân tham gia vào hoạt động tiêu thụ và xuất khẩu đối với hầu hết các mặt hàng nông sản (theo Nghị định số 57/1998/ NĐ-CP ngày 31/7/1998

của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Thương mại về các hoạt động XNK và Nghị

định số 44/2001/NĐ-CP ngày 2/8/2001 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 57)

Trang 12

- Chính sách đầu tư: Đã từng bước có sự chuyển hướng sang đầu tư chiều sâu để

nâng cao chất lượng NSHH phù hợp với yêu cầu thị trường trong nước và xuất khẩu, khắc phục tình trạng chạy theo năng suất, sản lượng bằng mọi giá, dẫn đến cung vượt cầu và ứ

đọng sản phẩm Mọi hoạt động đầu tư đã bước đầu gắn với thị trường tiêu thụ, có tính

đến lợi thế so sánh, khả năng cạnh tranh và sức mua của thị trường Đặc biệt khuyến khích các hộ nông dân, các trang trại gia đình và các thành phần kinh tế liên kết kinh tế

để mở rộng quy mô sản xuất, địa bàn kinh doanh, thu hút và hỗ trợ các hộ gia đình còn khó khăn Đồng thời Nhà nước đã chú trọng đến việc đầu tư nâng cấp hoặc xây dựng mới các cơ sở chế biến để thu hút sản phẩm của kinh tế trang trại

- Chính sách khuyến khích tiêu thụ nông sản và chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng sản xuất hàng hoá: Nghị quyết 09/2000/QĐ-TTg ngày 15/06/2000 của

Chính phủ về chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp đã chỉ rõ:

“Việc lựa chọn cơ cấu, quy mô và chủng loại nông sản chủ lực phải khai thác lợi thế của từng vùng, bám sát nhu cầu thị trường trong nước và thế giới, phải có khả năng tiêu thụ

được hàng hoá, có hiệu quả cao về kinh tế- xã hội và sinh thái” Nghị quyết cũng định

hướng quy hoạch sản xuất các NSHH chủ lực như lúa gạo, ngô, mía đường, cà phê, cao

su, rau quả, thịt lợn, bò, gia cầm, lâm nghiệp, thủy sản đến năm 2010 trên cơ sở gắn với thị trường tiêu thụ trong nước và xuất khẩu

- Chính sách khuyến khích sản xuất NSHH lớn: Nghị quyết 03/2000/NQ-CP ngày

02/02/2000 của Chính phủ về kinh tế trang trại đã khẳng định: “Kinh tế trang trại là hình

thức tổ chức sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp, nông thôn, nhằm gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ NSHH, nâng cao thu nhập và đời sống nông dân” Nhà nước khuyến

khích phát triển và bảo hộ kinh tế trang trại với nhiều chính sách ưu đãi Thực hiện chính sách đó, trong những năm qua kinh tế trang trại gia đình đã phát triển mạnh và trở thành những mô hình sản xuất NSHH quy mô lớn và trung bình, khắc phục dần tình trạng manh mún, tự phát, tự túc tự cấp, quy mô nhỏ của từng hộ nông dân

- Các chính sách tài chính- tín dụng: Nhà nước khuyến khích các thành phần kinh

tế, nhất là các doanh nghiệp chế biến, các đơn vị quốc doanh thương nghiệp mua NSHH với giá có lợi cho nông dân nhằm tạo điều kiện cho người sản xuất tăng thu nhập và có lãi trong sản xuất và kinh doanh NSHH Đối với các mặt hàng nông sản thiết yếu, quan trọng như lúa gạo, cà phê , Chính phủ xem xét, quyết định các biện pháp cần thiết can thiệp có hiệu quả vào thị trường, giải quyết khó khăn cho nông dân và doanh nghiệp mỗi khi giá cả xuống thấp hay khi thị trường trong, ngoài nước có biến động như: cho vay ưu

đãi tín dụng lãi suất thấp, hỗ trợ lãi suất mua lúa, cà phê, tạm trữ xuất khẩu, giãn nợ, hoãn nợ, khoanh nợ quá hạn không phải trả lãi, chính sách ưu đãi thuế cho các mặt hàng xuất khẩu, miễn giảm 50% thuế năm 2001 đối với người sản xuất lúa, cà phê và các chính sách khuyến nông, khuyến lâm khác

Tuy nhiên, quá trình thực hiện các quyết định, chính sách nói trên còn phát sinh nhiều khó khăn, bất cập: Đa số các cơ chế, chính sách được ban hành còn mang tính chung chung, không cụ thể, nhất là các biện pháp và chế tài thực hiện; Việc xây dựng các

Trang 13

văn bản hướng dẫn chậm được triển khai, còn có sự chồng chéo, không rõ ràng trong việc phân công nhiệm vụ giữa cơ quan quản lý các cấp, ngành…, nên thường dẫn đến việc triển khai thiếu đồng bộ, hiệu quả thấp và gây phiền hà cho doanh nghiệp; Năng lực của các cơ quan quản lý liên quan đến lưu thông, tiêu thụ nông sản còn nhiều yếu kém cả về nguồn nhân lực lẫn cơ sở vật chất, trang thiết bị; Phương thức và tư duy phục vụ của các cơ quan quản lý vẫn còn nặng tính hành chính, chưa chuyển biến kịp theo hướng phục vụ

và tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp cũng như người sản xuất Bên cạnh đó, các chính sách hỗ trợ của Nhà nước (về cả tài chính, tín dụng, đầu tư, khoa học kỹ thuật, thông tin, xúc tiến thương mại ) đối với những người sản xuất trực tiếp cũng như các doanh nghiệp kinh doanh, xuất khẩu chưa kịp thời và đúng mức Nhà nước chưa có các chính sách khuyến khích và thu hút mọi thành phần kinh tế tham gia vào việc đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ NSHH

Hơn thế nữa, trong xu thế mở cửa và tự do hoá thương mại, dưới tác động của cơ chế tự do cạnh tranh mà cao hơn cả là sức ép cạnh tranh quốc tế, các đơn vị sản xuất, kinh doanh hàng nông sản của Việt Nam, nhất là những người sản xuất trực tiếp như các hợp tác xã sản xuất nông nghiệp, trang trại, hộ nông dân, ngoài việc đảm bảo sản xuất ra những sản phẩm NSHH đạt chất lượng, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng, cũng rất cần có sự hỗ trợ từ phía các cơ quan quản lý Nhà nước, chính quyền địa phương trong khâu tiêu thụ các sản phẩm hàng hoá này

Xuất phát từ thực trạng đó, để giải quyết cơ bản những tồn tại, ách tắc trong lưu thông, tiêu thụ hàng hoá nông sản, gắn trách nhiệm và nghĩa vụ của các bên, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp giữa người sản xuất nguyên liệu và các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh, chế biến và xuất khẩu, theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ NN&PTNT, căn cứ vào Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25/12/2001, ngày 24/6/2002 Thủ tướng Chính phủ đã

ban hành Quyết định số 80/2002/QĐ-TTg về chính sách khuyến khích tiêu thụ NSHH thông qua hợp đồng Trong đó Nhà nước khuyến khích các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế ký kết hợp đồng tiêu thụ NSHH (nông sản, thực phẩm, thủy hải sản, muối…) với người sản xuất, nhằm gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ NSHH

Sự liên kết, hợp tác giữa người sản xuất và các doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ nông sản thực chất là nhằm nâng cao giá trị sản phẩm, cùng phân chia lợi nhuận, chia sẻ rủi ro và tạo động lực cho sự phát triển Đây là quyết định quan trọng nhất của Chính phủ về tiêu thụ NSHH có nhiều nội dung mới mang tính pháp lý cao hơn, trách nhiệm và nghĩa vụ mỗi bên rõ ràng hơn, hợp đồng ký ngay từ đầu vụ sản xuất, đầu năm hoặc đầu chu kỳ sản xuất, hình thức đa dạng Đồng thời, đây là căn cứ để Bộ Kế hoạch và Đầu tư định hướng

đầu tư phát triển sản xuất nông sản, xây dựng quy hoạch và định hướng phát triển ngành công nghiệp chế biến, định hướng phát triển môi trường đầu tư Một số chính sách khuyến khích tiêu thụ NSHH thông qua hình thức hợp đồng chủ yếu được nêu ra trong Quyết định này như sau:

a/ Về đất đai- đầu tư: Nhà nước tạo mọi điều kiện thuận lợi để nông dân thực hiện

đầy đủ, đúng pháp luật các quyền về sử dụng đất, sử dụng giá trị quyền sử dụng đất để

Trang 14

góp vốn hoặc liên doanh, liên kết với các doanh nghiệp chế biến, kinh doanh XNK nông sản, cũng như dành những ưu đãi về thủ tục, giá cả cho thuê đất để hỗ trợ các doanh nghiệp nhận đất đầu tư xây dựng nhà máy chế biến hoặc kho tàng, bến bãi bảo quản, vận chuyển hàng hoá và hoàn chỉnh quy hoạch các vùng sản xuất NSHH tập trung gắn với các cơ sở chế biến Bên cạnh đó, Nhà nước dùng ngân sách hỗ trợ một phần vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, hệ thống chợ bán buôn, kho bảo quản cho các vùng sản xuất tập trung này

b/ Về tài chính- tín dụng: Các doanh nghiệp và người sản xuất nông nghiệp đã

tham gia ký hợp đồng tiêu thụ NSHH được đảm bảo nhu cầu vay vốn tại các Ngân hàng thương mại theo mức lãi suất thoả thuận với các điều kiện và thủ tục thuận lợi Đối với các dự án sản xuất, chế biến, kinh doanh hàng xuất khẩu được hưởng các hình thức đầu tư Nhà nước từ Quỹ Hỗ trợ phát triển, được vay vốn từ các Quỹ hỗ trợ xuất khẩu Ngoài

ra, UBND Tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương còn sử dụng ngân sách địa phương để

hỗ trợ lãi suất vốn vay ngân hàng cho từng dự án sản xuất, chế biến, tiêu thụ NSHH phù hợp với điều kiện cụ thể của từng địa phương

c/ Về chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ: Hàng năm, ngân sách

Nhà nước dành một khoản kinh phí để hỗ trợ các doanh nghiệp và người sản xuất áp dụng phổ cập nhanh các loại giống mới, tiếp thu những tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ mới trong sản xuất, bảo quản, chế biến NSHH

d/ Về thị trường và xúc tiến thương mại: Ngoài các chính sách hiện hành, đối với

vùng sản xuất hàng hoá tập trung, các doanh nghiệp xuất khẩu thuộc các thành phần kinh

tế có hợp đồng tiêu thụ NSHH với nông dân ngay từ đầu vụ được ưu tiên tham gia thực hiện các hợp đồng thương mại của Chính phủ và các chương trình xúc tiến thương mại do

Bộ Thương mại, các Bộ, ngành liên quan, Hiệp hội ngành hàng và địa phương tổ chức

Quyết định này cũng quy định rõ trách nhiệm của UBND các cấp huyện, xã, tỉnh, thành phố, các Bộ, ngành và tổ chức có liên quan (Bộ NN&PTNT, Bộ Thủy sản, Bộ Thương mại, Bộ Tài chính), các cơ quan quản lý Nhà nước, Liên minh HTX, Hội Nông dân Việt Nam, Hiệp hội ngành hàng trong việc chỉ đạo thực hiện các biện pháp thúc

đẩy quá trình tổ chức sản xuất, chế biến, tiêu thụ NSHH thông qua hợp đồng

Một số văn bản hướng dẫn, tổ chức chỉ đạo thực hiện Quyết định:

1 Quyết định số 77/2002/QĐ-BNN ngày 28/8/2002 của Bộ NN&PTNT hướng dẫn

về Mẫu hợp đồng tiêu thụ NSHH thực hiện Quyết định 80/2002/QĐ-TTg ngày 24/6/2002 của Thủ tướng Chính phủ

2 Thông tư số 05/2002/TT-NHNN ngày 27/9/2002 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hướng dẫn việc cho vay vốn đối với người sản xuất, doanh nghiệp ký kết hợp đồng tiêu thụ NSHH theo Quyết định 80/2002/QĐ-TTg ngày 24/6/2002 của Thủ tướng Chính phủ

Theo đó kể từ ngày 12/10/2002, các hộ nông dân, chủ trang trại, đại diện hộ nông dân sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản và làm muối được vay vốn

Trang 15

ngân hàng đến 20 triệu đồng để sản xuất nông sản, hoặc dưới 50 triệu đồng để sản xuất giống thủy sản mà không cần phải thế chấp tài sản Các doanh nghiệp, hợp tác xã đã ký kết hợp đồng tiêu thụ nông sản được vay dưới 50 triệu đồng không phải thế chấp tài sản Cũng theo hướng dẫn trên, các Ngân hàng thương mại thực hiện giảm 30% lãi suất so với lãi suất cho vay thông thường đối với những người sản xuất, doanh nghiệp ở khu vực 3 miền núi, hải đảo và khu vực 2 miền núi tại các tỉnh Tây Nguyên

3 Thông tư 04/2003/TT-BTC ngày 10/01/2003 của Bộ Tài chính hướng dẫn một số vấn đề về tài chính thực hiện Quyết định 80/2002/QĐ-TTg ngày 24/6/2002 của Thủ tướng Chính phủ

4 Công văn 886/HTPT-TDĐP ngày 16/5/2003 của Quỹ hỗ trợ phát triển về việc hướng dẫn thực hiện Quyết định 80/2002/QĐ-TTg ngày 24/6/2002 của Thủ tướng Chính phủ

5 Chỉ thị số 03/CT-NHNN ngày 09/02/2004 của Ngân hàng Nhà nước về việc cho vay vốn đối với nông, lâm trường quốc doanh, ban hành kèm theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/1999 và Nghị định số 85/2002/NĐ-CP ngày 25/10/2002 của Chính phủ về bảo đảm tiền vay

2 Một số vấn đề cơ bản về hợp đồng tiêu thụ NSHH theo Quyết định TTg

80/2002/QĐ-2.1 Khái niệm, chủ thể, đối tượng hợp đồng

Khái niệm hợp đồng kinh tế: Là sự thoả thuận giữa các pháp nhân hoặc cá nhân (2

bên hoặc nhiều bên) bằng văn bản trong một thời hạn nhất định (có hoặc không có chứng thực), trong đó quy định quyền hạn và nghĩa vụ của các bên ký kết trong việc thực hiện các mục đích kinh tế, có hiệu lực pháp lý kể từ ngày ký kết và tuân theo các quy định của

pháp luật về chế độ hợp đồng kinh tế (ở Việt Nam là theo Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế)

Hợp đồng tiêu thụ NSHH theo Quyết định 80/2002/QĐ-TTg là một loại hợp

đồng kinh tế giao sau được các doanh nghiệp ký kết với người sản xuất ngay từ đầu vụ sản xuất, đầu năm hoặc đầu chu kỳ sản xuất, nhằm tạo lập mối quan hệ lợi ích kinh tế

lâu dài giữa các doanh nghiệp và hộ nông dân, trong đó chủ thể và đối tượng hợp đồng

được xác định như sau:

Chủ thể hợp đồng: Hợp đồng tiêu thụ NSHH được ký kết giữa các doanh nghiệp

sản xuất, kinh doanh, chế biến và xuất khẩu thuộc mọi thành phần kinh tế (các Tổng công ty, công ty, doanh nghiệp, cơ sở chế biến) với người sản xuất nguyên liệu (HTX,

hộ nông dân, trang trại, đại diện hộ nông dân)

Đối tượng hợp đồng:

+ Đối với các hợp đồng thu mua nông sản thì đối tượng là các loại NSHH, ở đây

được hiểu là toàn bộ các mặt hàng nông sản nguyên liệu bao gồm: nông sản (gạo, cà

phê, chè, hồ tiêu, hạt điều, rau quả ), thủy sản (nuôi trồng và đánh bắt), lâm sản, các

mặt hàng thịt và muối, kể cả các sản phẩm chủ yếu để tiêu dùng trong nước có thông

Trang 16

qua chế biến công nghiệp như bông, mía đường, thuốc lá lá, cây rừng nguyên liệu cho

công nghiệp giấy, công nghiệp chế biến gỗ, sữa và muối

+ Đối với các hợp đồng bán vật tư hoặc ứng trước vốn, vật tư, hỗ trợ kỹ thuật, công nghệ và mua lại NSHH thì đối tượng hợp đồng ngoài các loại NSHH như trên còn bao gồm thêm cả các loại vật tư phục vụ sản xuất nông nghiệp (giống cây trồng, vật nuôi, phân bón, thuốc trừ sâu, thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y )

2.2 Nội dung chủ yếu của hợp đồng

Ngoài những căn cứ để xây dựng hợp đồng và một số thông tin cần thiết về các bên tham gia ký hợp đồng (tên, địa chỉ, điện thoại, mã số thuế, tài khoản, người đại diện ), nội dung chủ yếu của hợp đồng tiêu thụ NSHH gồm những điều khoản như sau:

• Tên hàng, chủng loại hàng, số lượng từng chủng loại, số lượng toàn bộ lô hàng

• Tiêu chuẩn chất lượng, quy cách hàng hoá và các tiêu chuẩn kỹ thuật (kích thước, màu sắc, mùi vị, độ ẩm, tỷ lệ tạp chất ), những quy định về bao bì đóng gói, bảo quản hàng hoá

• Đơn giá từng chủng loại mặt hàng, tổng trị giá NSHH được ký kết trong hợp đồng

• Đối với các hợp đồng bán vật tư hoặc ứng trước vốn, vật tư, hỗ trợ kỹ thuật, công nghệ và mua lại NSHH, cần nêu rõ:

+ Loại vật tư, số lượng, đơn giá, tổng trị giá vật tư ứng trước, phương thức giao vật tư

+ Vốn (tiền Việt Nam đồng hay ngoại tệ USD), tổng trị giá, thời gian ứng trước vốn

+ Hỗ trợ kỹ thuật, chuyển giao công nghệ: tùy từng ngành và tùy điều kiện, bên mua chuyển giao các bí quyết kỹ thuật và công nghệ cho bên bán để làm ra những sản phẩm có chất lượng đáp ứng đúng yêu cầu, trong đó ghi rõ nội dung chuyển giao và trách nhiệm của các bên liên quan trong việc hướng dẫn kỹ thuật, vận hành, sử dụng, bảo quản công nghệ

• Phương thức giao nhận NSHH: quy định rõ thời gian (theo lịch nhận hàng cụ thể

đã thoả thuận nhưng vẫn có thể điều chỉnh tuỳ theo thời gian thu hoạch thực tế sao cho có lợi nhất cho cả hai bên) và địa điểm giao nhận NSHH đảm bảo thuận lợi cho việc vận

chuyển và bảo quản Cần lưu ý: Lịch giao nhận hàng hoá phải được xác định cụ thể cả về

số lượng, địa điểm, phương thức giao nhận hàng hoá từng đợt hoặc trọn gói (có thể quy

định trong Phụ lục đính kèm hợp đồng)

Sau khi giao nhận hàng hoá, các bên phải cùng nhau lập biên bản giao nhận hàng hóa, xác nhận rõ số lượng, chất lượng hàng và có đầy đủ chữ ký của các bên Nếu có sự tranh chấp về số lượng hay chất lượng hàng hoá được giao phải lập biên bản tại chỗ có xác nhận chữ ký của các bên

Trang 17

• Phương thức thanh toán: trong đó quy định rõ hình thức thanh toán bằng tiền mặt (VND hoặc ngoại tệ) hoặc bằng cách khấu trừ vật tư, tiền vốn ứng trước; thời gian và tiến

độ thanh toán (từng đợt hoặc trọn gói)

• Về chia sẻ rủi ro bất khả kháng và biến động giá cả thị trường:

Các bên cần phát hiện và thông báo kịp thời những trường hợp bất khả kháng có thể xảy ra (như thiên tai, dịch bệnh, mất mùa) để cùng bàn cách phòng tránh và khắc phục hiệu quả nhất Khi đã xảy ra bất khả kháng, các bên phải tiến hành lập biên bản về mức độ tổn thất có xác nhận của UBND địa phương nơi xảy ra bất khả kháng để thoả thuận chia sẻ rủi ro, xem xét miễn trừ trách nhiệm khi thanh lý hợp đồng và tuỳ từng trường hợp được Nhà nước hỗ trợ một phần thiệt hại theo quy định của pháp luật Ngoài

ra, các bên có thể bàn bạc và thoả thuận điều chỉnh giá mua bán NSHH phù hợp với giá thực tế trên thị trường tại thời điểm giao nhận hàng hóa để đảm bảo hài hòa lợi ích giữa các bên

• Trách nhiệm của các bên trong thực hiện hợp đồng:

Hai bên cam kết thực hiện nghiêm túc các điều khoản đã thỏa thuận trong hợp

ký hợp đồng với doanh nghiệp khác

Trường hợp bán vật tư, ứng trước vốn và hỗ trợ kỹ thuật, doanh nghiệp cần thực hiện đúng các quy định đã ghi trong hợp đồng về tổng trị giá vốn, vật tư ứng trước, phương thức giao vật tư, thời gian ứng trước vốn và có trách nhiệm trong việc hướng dẫn

Bên nào thực hiện không đúng, không đầy đủ hoặc đơn phương đình chỉ việc thực hiện hợp đồng mà không có lý do chính đáng sẽ bị phạt bồi thường thiệt hại vật chất cho bên kia Mức phạt vi phạm hợp đồng do các bên thoả thuận ghi vào hợp đồng, cụ thể như sau:

Trang 18

+ Mức phạt về không đảm bảo chất lượng tính theo % giá trị hợp đồng hoặc một mức phạt quy định cụ thể Bên mua cũng có quyền từ chối nhận hàng nếu chất lượng hàng hóa không phù hợp và không đáp ứng đúng tiêu chuẩn quy định trong hợp đồng Khi đó bên bán phải thanh toán lại cho doanh nghiệp toàn bộ các khoản nợ vốn, vật tư ứng trước, bao gồm cả lãi suất vốn vay ngân hàng trong thời gian ứng trước

+ Mức phạt về không đảm bảo đủ số lượng tính theo % giá trị hợp đồng hoặc tính theo đơn giá tiền phạt trên một đơn vị số lượng hàng hoá

+ Mức phạt về không đảm bảo thời gian giao nhận hàng hoá:

- Nếu bên mua không đến nhận hàng theo đúng lịch đã thoả thuận thì phải chịu chi phí bảo quản nông sản với mức quy định cụ thể tính theo ngày do các bên thoả thuận, kể cả bồi thường thiệt hại do để lâu chất lượng hàng hoá giảm sút với mức phạt tính theo % giá trị sản phẩm bị hư hỏng

- Nếu bên bán không chuẩn bị đủ hàng để giao đúng thời gian quy định làm lỡ kế hoạch sản xuất và lỡ phương tiện vận chuyển của bên mua thì phải bồi thường thiệt hại vật chất với mức do các bên thoả thuận

+ Mức phạt về sai phạm địa điểm giao hàng:

+ Mức phạt về thanh toán chậm: do các bên thoả thuận và ghi trong hợp đồng Ngoài ra, tuỳ theo tính chất và mức độ của hành vi vi phạm của các bên mà có các biện pháp xử lý khác nhau, từ bồi thường toàn bộ thiệt hại vật chất do hành vi vi phạm đó gây ra theo quy định của pháp luật về hợp đồng, đến việc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đình chỉ hoặc tạm thời đình chỉ quyền kinh doanh đối với các mặt hàng nông sản

mà doanh nghiệp vi phạm và thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng về hành

vi vi phạm hợp đồng của doanh nghiệp

• Giải quyết tranh chấp hợp đồng:

Các bên phải chủ động thông báo cho nhau về tiến độ thực hiện hợp đồng và những vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện để cùng nhau tìm cách giải quyết kịp thời Trường hợp có tranh chấp xảy ra thì UBND Xã có trách nhiệm phối hợp với Hội nông dân Việt Nam cùng cấp và các Hiệp hội ngành hàng tạo điều kiện để hai bên cùng thương lượng, hòa giải Trường hợp có tranh chấp về chất lượng hàng hóa, hai bên mời cơ quan giám định có thẩm quyền tới và kết luận của cơ quan giám định là kết luận cuối cùng

Trường hợp việc thương lượng, hòa giải không đi đến kết quả thì cần có sự can thiệp của Tòa án kinh tế để giải quyết theo đúng pháp luật

• Hiệu lực pháp lý của hợp đồng:

Ngày có hiệu lực của hợp đồng phải được quy định rõ, hết hạn hiệu lực không quá

10 ngày các bên phải tiến hành lập biên bản thanh lý hợp đồng Mọi sửa đổi, bổ sung

Trang 19

(nếu có) liên quan đến hợp đồng đều phải được hai bên thoả thuận, nhất trí và ghi thành biên bản có chữ ký xác nhận của các bên

Hợp đồng sau khi được các bên ký kết phải có xác nhận của UBND Xã hoặc Phòng công chứng Huyện chứng thực

2.3 Các hình thức hợp đồng tiêu thụ NSHH theo Quyết định 80/2002/QĐ-TTg

Hợp đồng tiêu thụ NSHH được các doanh nghiệp ký kết với người sản xuất từ đầu

vụ sản xuất, đầu năm hoặc đầu chu kỳ sản xuất, theo các hình thức sau đây:

+ ứng trước vốn, vật tư, hỗ trợ kỹ thuật, công nghệ và mua lại NSHH: Hình thức này được áp dụng phổ biến trong ngành trồng trọt đối với những loại cây ngắn ngày (như lúa, rau màu, cây công nghiệp ngắn ngày) Còn đối với các loại cây dài ngày thường chỉ

áp dụng hình thức ký kết hợp đồng này khi bắt đầu trồng mới, còn khi có sản phẩm ổn

định thì doanh nghiệp chỉ ký hợp đồng trực tiếp tiêu thụ NSHH với người sản xuất Thông thường, các doanh nghiệp có đủ tiềm lực và điều kiện về vốn, vật tư, phân bón, giống, kỹ thuật, công nghệ và có các nhà máy chế biến xuất khẩu áp dụng hình thức ký kết hợp đồng có đầu tư này để đảm bảo sản xuất đạt năng suất cao, chủ động tạo ra các nguyên liệu đầu vào cho nhà máy đáp ứng tiêu chuẩn về cả số lượng và chất lượng (phẩm chất, kích cỡ) Cũng nhờ hình thức ký kết hợp đồng này mà các doanh nghiệp xuất khẩu

có thể áp đặt các điều kiện về tiêu chuẩn kỹ thuật, chất lượng đối với sản phẩm thu mua xuất khẩu

+ Bán vật tư mua lại NSHH: Hình thức này thường được áp dụng đối với các doanh nghiệp tham gia chế biến và tiêu thụ nông sản ngành trồng trọt và là các doanh nghiệp chưa đủ điều kiện để có thể áp dụng hình thức ứng trước vốn, vật tư, hỗ trợ kỹ thuật, công nghệ và mua lại NSHH như trên

+ Trực tiếp tiêu thụ NSHH: là hình thức doanh nghiệp trực tiếp ký kết hợp đồng thu mua NSHH với người sản xuất ngay từ đầu vụ, đầu năm hoặc đầu chu kỳ sản xuất nhưng không có sự đầu tư, ứng trước Căn cứ vào tình hình cụ thể của từng doanh nghiệp, từng

địa phương có thể triển khai áp dụng một hay đồng bộ nhiều phương thức hợp đồng kinh

tế, mà mỗi phương thức có hợp đồng riêng quy định các điều kiện pháp lý rõ ràng để hợp

đồng kinh tế đó phát huy hiệu quả cao nhất Bao gồm:

- Phương thức 1: Ký hợp đồng thoả thuận theo giá thời điểm (Thường áp dụng với

các doanh nghiệp và người sản xuất ở các tỉnh như An Giang, Cần Thơ, Vĩnh Long,

Đồng Nai, Bình Dương, Long An, Tiền Giang )

- Phương thức 2: Ký hợp đồng theo giá sàn, khi giá thời điểm cao hơn giá sàn thì

doanh nghiệp mua theo giá thời điểm trên thị trường Hầu hết các doanh nghiệp và người sản xuất đều áp dụng phương thức này vì có lợi cho người sản xuất

- Phương thức 3: Ký hợp đồng theo giá cố định (giá chết) ít doanh nghiệp áp dụng

theo phương thức này vì nó không đem lại hiệu quả khi giá cả thị trường luôn luôn biến

động

Trang 20

- Phương thức 4: Ký hợp đồng đầu tư và tiêu thụ với giá chuẩn theo cơ chế bù trừ

(hai bên cùng chịu rủi ro) (Thường áp dụng với các doanh nghiệp và người sản xuất ở các tỉnh như An Giang, Cần Thơ, Đồng Nai )

- Phương thức 5: Ký hợp đồng chăn nuôi gia công (Thường áp dụng với các doanh

nghiệp và người sản xuất ở các tỉnh như An Giang, Đồng Nai, Bình Dương )

- Phương thức 6: Ký hợp đồng theo giá bảo hiểm (Thường áp dụng với các doanh

nghiệp và người sản xuất ở các tỉnh An Giang, Cần Thơ )

Trên thực tế, hầu hết các doanh nghiệp không thể trực tiếp ký kết hợp đồng với hàng vạn hộ nông dân có quy mô sản xuất nhỏ bé để thu mua, chế biến một khối lượng nông phẩm lớn Vì thế, việc tổ chức sản xuất theo hợp đồng sẽ thúc đẩy sự ra đời của các

tổ hợp tác, tổ liên kết sản xuất và HTX nông nghiệp, cũng như mở rộng quy mô sản xuất của các trang trại Trên cơ sở đó, các doanh nghiệp thu mua, chế biến và tiêu thụ nông phẩm sẽ ký kết hợp đồng với các tổ hợp tác và HTX, mà sau đó các tổ chức này sẽ đứng

ra như một khâu trung gian để ký hợp đồng trực tiếp và thu mua nông sản của các hộ nông dân Mặt khác, các doanh nghiệp chế biến và tiêu thụ nông phẩm cũng có thể ký kết hợp đồng thông qua các doanh nghiệp hay các thành phần trung gian khác như thương lái, sau đó các doanh nghiệp trung gian này mới ký hợp đồng trực tiếp với hộ nông dân hoặc tổ hợp tác và HTX của họ để thu gom nông sản, dưới sự giám sát của UBND Xã để tránh sự ép cấp, ép giá

Như vậy, trong hình thức tiêu thụ NSHH này, các doanh nghiệp tham gia ký kết hợp

đồng bao tiêu nông sản có thể là đa cấp, đa thành phần và có thể trở thành xã viên của các HTX, cũng như lực lượng thương lái được khuyến khích tham gia vào các HTX nông nghiệp và tổ hợp tác để nâng cao năng lực hoạt động của tổ chức này Ngược lại, nông dân có thể trở thành thành viên hùn vốn vào các doanh nghiệp thu mua nông phẩm hoặc

là cổ đông của các doanh nghiệp này

+ Hình thức liên kết sản xuất:

Hộ nông dân được sử dụng giá trị quyền sử dụng đất để góp vốn cổ phần, liên doanh, liên kết với doanh nghiệp hoặc cho doanh nghiệp thuê đất để xây dựng nhà máy, kho tàng, trạm trại Sau đó nông dân được sản xuất trên đất đã góp cổ phần, liên doanh, liên kết hoặc cho thuê và bán lại NSHH cho doanh nghiệp, tạo sự gắn kết bền vững giữa nông dân và doanh nghiệp

3 Vai trò của việc phát triển hợp đồng tiêu thụ NSHH ở Việt Nam

3.1 Lợi ích đối với các chủ thể tham gia hợp đồng

* Đối với người sản xuất:

Việc áp dụng hình thức ký kết các hợp đồng khi tiêu thụ NSHH đem lại nhiều lợi ích thiết thực cho người nông dân là những người sản xuất trực tiếp vốn có nhiều hạn chế

về vốn, trình độ hiểu biết, thông tin thị trường, kinh nghiệm quản lý và kỹ năng buôn bán:

Trang 21

- Người nông dân có nhiều điều kiện để nâng cao khả năng tiếp cận thị trường cả trong nước lẫn xuất khẩu, nắm bắt các thông tin về nhu cầu, giá cả thị trường

- Sản phẩm sản xuất ra có nơi tiêu thụ ổn định: khắc phục được tình trạng không bán được phải đem về, bán rẻ chịu lỗ vốn để có vốn quay vòng do lúc ngày mùa thu hoạch rộ giá rất hạ, thậm chí có người phải bán lúa non hoặc đi vay nặng lãi để trang trải cuộc sống Do không phải lo về đầu ra của sản phẩm nông sản, người sản xuất yên tâm

đầu tư sản xuất, chi phí đầu tư giảm, giá thành sản phẩm hạ, thu nhập tăng, góp phần cải thiện đời sống

- Thông qua các hợp đồng tiêu thụ NSHH ký với các doanh nghiệp, người sản xuất trực tiếp nhận được các dịch vụ hỗ trợ, được đầu tư ứng trước vật tư, tiền vốn, ứng dụng giống mới, hướng dẫn áp dụng những thành tựu khoa học, kỹ thuật vào hoạt động sản xuất: Nhờ đó nông dân có vốn để sản xuất, nhất là các hộ nghèo có điều kiện mở rộng và thâm canh tăng năng suất, nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo điều kiện tăng hiệu quả sản xuất, kinh doanh và tăng thu nhập

- Việc vận dụng linh hoạt, sáng tạo các phương thức hợp đồng tiêu thụ NSHH phù hợp với đặc điểm từng loại NSHH và điều kiện kinh tế- xã hội của từng vùng sẽ giúp cho người sản xuất thực hiện tốt việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi nói riêng và cơ cấu kinh tế nói chung

- Hợp đồng tiêu thụ NSHH là căn cứ để người nông dân nhận được những hỗ trợ về vay vốn ngân hàng với lãi suất ưu đãi, được hưởng các chính sách ưu đãi của Nhà nước về

đất đai, tín dụng

* Đối với người tiêu thụ:

- Khi phát triển hợp đồng tiêu thụ NSHH, các thương nhân, các doanh nghiệp kinh

doanh, chế biến và xuất khẩu NSHH chủ động được nguồn nguyên liệu, có nguồn cung

ổn định, lâu dài, có đủ nông sản chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu cho chế biến và xuất khẩu: Thông qua việc ký kết các hợp đồng, doanh nghiệp có điều kiện giám sát chất lượng nguyên liệu ngay từ khâu đầu, giảm thiểu những rủi ro trong kinh doanh và có điều kiện thiết lập hệ thống thị trường ổn định và phát triển lâu dài, đủ sức cạnh tranh trên trường quốc tế

- Thông qua việc đưa tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất đến từng hộ nông dân, các doanh nghiệp có thể chủ động và nâng cao hiệu quả kinh tế, giảm giá thành, tăng lợi nhuận, từ đó phát huy hết lợi thế sẵn có và phát triển năng lực hoạt động thương mại

Tuy nhiên bên cạnh những lợi ích nói trên, việc áp dụng hình thức ký kết các hợp

đồng khi tiêu thụ NSHH còn biểu hiện những mặt tồn tại làm ảnh hưởng đến cả các bên tham gia hợp đồng Nguyên nhân chính là do các bên chưa thống nhất cùng bàn bạc trong khâu soạn thảo hợp đồng và chưa thực sự bình đẳng về quyền lợi, dẫn đến việc ép cấp, ép giá, người sản xuất luôn bị động và phải chịu thiệt thòi trong các hợp đồng ký kết Còn về phía doanh nghiệp nhiều khi phải chịu rủi ro trong việc thu hồi các khoản đầu tư,

Trang 22

ứng trước do phía người nông dân không tuân thủ hợp đồng hay do các nguyên nhân bất khả kháng khác

3.2 Vai trò của việc phát triển hợp đồng tiêu thụ NSHH ở Việt Nam

3.2.1 Vai trò của hợp đồng tiêu thụ NSHH trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn

Có thể thấy vai trò của hợp đồng tiêu thụ NSHH trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn thể hiện trên những điểm cơ bản sau:

Thứ nhất, phát triển hợp đồng tiêu thụ NSHH tạo nguồn hàng tích lũy quan trọng

bền vững và có tính chiến lược cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước mà trước hết là công nghiệp hóa, hiện đại hóa chính ngay nông nghiệp, nông thôn Nguồn vốn tích lũy từ nông nghiệp một phần thông qua các hình thức thuế nông nghiệp trực tiếp

đóng vào ngân sách, một phần từ việc cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến nông sản, nhưng phần chủ yếu vẫn là thông qua việc xuất khẩu nông sản để nhập vật tư, thiết bị, kỹ thuật, công nghệ cho việc phát triển công nghiệp, dịch vụ và cho chính ngay quá trình hiện đại hóa ngành nông nghiệp Thông qua hoạt động tiêu thụ nông sản nói chung và tiêu thụ nông sản thông qua hình thức hợp đồng nói riêng mà NSHH từ chỗ là sản phẩm để sản xuất và tái sản xuất sức lao động trở thành sản phẩm có giá trị thặng dư Giá trị thặng dư của NSHH được tích lũy để nhập vật tư, máy móc, thiết bị mở rộng sản xuất, phục vụ cho công nghiệp chế biến và nông nghiệp Sản xuất và tiêu thụ NSHH càng phát triển, kim ngạch xuất khẩu NSHH ngày càng tăng thì khả năng tích lũy cho quá trình phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa ngày càng cao

Đẩy mạnh phát triển hợp đồng tiêu thụ NSHH, thông qua đó đẩy mạnh xuất khẩu nông sản là nhân tố tạo việc làm, tăng thu nhập cho người sản xuất Mặt khác, các hoạt

động sản xuất, thu gom, vận chuyển, phân loại, chế biến nông sản ở các vùng, các địa phương sẽ thúc đẩy công nghiệp chế biến phát triển cả ở nông thôn và thành thị Việc thực hiện hợp đồng tiêu thụ NSHH sẽ góp phần thay đổi cơ cấu ngành nghề, cơ cấu lao

động, cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp, nông thôn theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp

và dịch vụ, giảm tỷ trọng nông nghiệp Đây cũng chính là quá trình “tích lũy cơ cấu” vốn theo chiều sâu, tạo cơ sở và động lực cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Ngoài ra, sự phát triển của công nghiệp nói chung và công nghiệp chế biến nói riêng, ở một mức độ rất lớn, phụ thuộc vào trình độ, quy mô, tốc độ phát triển của nền nông nghiệp hàng hóa cũng như tốc độ phát triển hợp đồng tiêu thụ NSHH

Thứ hai, phát triển hợp đồng tiêu thụ NSHH sẽ tạo điều kiện phát triển nông

nghiệp hàng hóa và thông qua đó cung cấp nguồn nhân lực cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Quá trình phát triển kinh tế ở hầu hết các nước đều gắn liền với sự chuyển dịch lao

động từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta đòi hỏi nguồn lao động không ngừng được bổ sung từ khu vực nông nghiệp Việc mở mang phát triển công nghiệp chế biến nông sản, các hoạt động dịch vụ

Trang 23

phi nông nghiệp trên địa bàn nông thôn có ý nghĩa quyết định đối với việc thu hút lao

động dư thừa trong khu vực nông nghiệp Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở thời

kỳ đầu không đòi hỏi tăng nhanh số lượng lao động vào các hoạt động thuần túy công nghiệp, nhưng nó đòi hỏi nhiều hoạt động hỗ trợ như vận chuyển, bao bì, đóng gói, phân loại sản phẩm, ngân hàng, tiếp thị, thông tin Khi các hoạt động này tăng nhanh cả về số lượng và năng lực thì nó đòi hỏi một lực lượng lao động rất lớn Cùng với phát triển nông nghiệp hàng hóa, thể lực và trình độ dân trí của lao động nông nghiệp được nâng cao, thói quen năng động, ý chí vươn lên và phong cách nghề nghiệp của người sản xuất được tôi luyện trong nền kinh tế thị trường, đáp ứng nhu cầu chất lượng lao động ngày càng tăng

3.2.2 Vai trò của hợp đồng tiêu thụ NSHH trong phát triển nông nghiệp bền vững

Phát triển hợp đồng tiêu thụ NSHH sẽ thúc đẩy quá trình chuyển đổi nền nông nghiệp nước ta từ một nền nông nghiệp mang nặng tính chất tự cấp, tự túc với cơ cấu sản xuất đơn điệu, chủ yếu là độc canh lương thực thành một nền nông nghiệp hàng hóa nhiều thành phần, với cơ cấu sản xuất và kinh doanh đa dạng; gắn sản xuất với công nghiệp chế biến, dịch vụ và phát triển các ngành nghề khác ở nông thôn; giúp cho việc tổ chức sản xuất và phân công lao động ngày càng hợp lý; những thành tựu khoa học kỹ thuật mới được áp dụng vào sản xuất NSHH ngày càng nhiều Phát triển hợp đồng tiêu thụ hàng hóa vừa đòi hỏi, vừa tạo điều kiện nâng cao trình độ của người sản xuất, làm thay đổi tập quán canh tác cũ kỹ, lạc hâu, tạo nên một nếp nghĩ và cách làm mới mẻ dựa trên năng suất, chất lượng, hiệu quả Trong môi trường vừa cạnh tranh, vừa hợp tác, sẽ khơi dậy tính năng động sáng tạo của người nông dân, hướng hoạt động sản xuất kinh doanh của họ vào thị trường, thích ứng với sự biến động của cơ chế thị trường Hợp đồng tiêu thụ NSHH phát triển sẽ góp phần quan trọng vào việc thực hiện thâm canh, tăng diện tích canh tác, tăng năng suất cây trồng và vật nuôi, nâng cao năng suất lao động, do đó làm tăng sản lượng NSHH và nâng cao hiệu quả kinh tế cho người sản xuất Nhờ đó sẽ kéo theo việc phát triển một nền nông nghiệp hàng hóa toàn diện, chuyên môn hóa theo ngành, vùng để có năng suất hàng hóa cao, nhịp độ tăng trưởng nhanh và bền vững

Phát triển hợp đồng tiêu thụ NSHH tạo nên sức mạnh tổng hợp giúp quá trình công nghiệp hóa toàn diện phát triển với tốc độ cao cả về số lượng và chất lượng Chuyên môn hóa theo ngành, vùng là cơ sở để tập trung hóa các nguồn lực, tạo ra những sản phẩm

đồng bộ, có khối lượng hàng hóa đủ lớn, chất lượng cao, thỏa mãn nhu cầu thị trường ở Việt Nam, muốn phát triển nhanh hợp đồng tiêu thụ hàng hóa phải tạo ra các vùng nguyên liệu tập trung, để có điều kiện đầu tư đồng bộ từ cơ sở hạ tầng (giao thông, thủy lợi, điện nước ) đến phát triển công nghiệp chế biến, bảo quản và hệ thống tiêu thụ sản phẩm, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu Phát triển vùng nguyên liệu cho sản xuất và chế biến NSHH là việc làm quan trọng để đẩy nhanh tiêu thụ sản phẩm hàng hóa theo phương thức hợp đồng Mặt khác, khi các vùng nguyên liệu được phát triển ổn định sẽ là cơ sở để giải quyết việc làm, tăng thu nhập, cải thiện đáng kể đời sống cho người sản xuất Phát triển tiêu thụ hàng hóa theo hợp đồng không những tạo ra khối

Trang 24

lượng hàng hóa nhiều, tốc độ tăng trưởng nhanh mà còn đảm bảo cho sự phát triển nông nghiệp bền vững

3.2.3 Vai trò của hợp đồng tiêu thụ NSHH trong việc tạo ra khối lượng, chất lượng NSHH cao, chủng loại phong phú, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu

Trong những năm qua, sản lượng và chủng loại hàng hóa nông sản đưa vào lưu thông đã tăng nhanh, nhưng trên thực tế thì việc tiêu thụ sản phẩm nông sản của nước ta còn nhiều bất cập Nhiều loại nông sản có giá trị kinh tế cao nhưng khối lượng còn nhỏ

bé, quy mô sản xuất thiếu ổn định Việc tiêu thụ NSHH theo hình thức hợp đồng của nước ta còn đơn điệu về chủng loại, khối lượng nông sản xuất khẩu chưa đủ lớn để chiếm lĩnh thị trường Nhu cầu tiêu thụ nông sản trên thế giới ngày càng cao và thị trường ngày càng mở rộng chính là một lợi thế cho việc phát triển hợp đồng tiêu thụ NSHH Nhưng để

có vị trí bền vững trên thị trường quốc tế, nông sản nước ta không chỉ cần phát triển về số lượng mà điều đặc biệt phải nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm, tăng cường khả năng cạnh tranh của hàng hóa nông sản Vì vậy, đòi hỏi cấp thiết là phải khắc phục được tình trạng sản xuất phân tán, manh mún, tức là phải xây dựng quy hoạch và có kế hoạch phát triển với quy mô nhất định để có nguồn nguyên liệu đảm bảo số lượng lớn, chất lượng tốt, làm nền tảng vững chắc cho các hợp đồng tiêu thụ sản phẩm

Ngành công nghiệp chế biến phải được ưu tiên phát triển nhằm nâng cao giá trị của nông sản, những sản phẩm có lợi thế cạnh tranh và hiệu quả cao được ưu tiên đầu tư thông qua hợp đồng tiêu thụ sản phẩm Để nâng cao số lượng và chất lượng hàng nông sản tiêu thụ qua hình thức hợp đồng, các vùng nguyên liệu phải được thâm canh cao, chọn giống tốt cho sản phẩm có năng suất cao, chất lượng tốt, đáp ứng nhu cầu của công nghiệp chế biến và thị trường Những giống này phải được phát triển trên diện tích rộng,

áp dụng các quy trình canh tác phù hợp, kỹ thuật tiên tiến để tăng năng suất và chất lượng sản phẩm Như trên đã nói, khi tham gia vào các hợp đồng tiêu thụ sản phẩm, người nông dân được hướng dẫn kỹ thuật sản xuất, thu hoạch, sơ chế, bảo quản, vận chuyển để giảm tối đa tổn thất, thất thoát Từ đó tạo nên vùng nguyên liệu, cung ứng sản phẩm vững chắc, ổn định lâu dài, đảm bảo sự liên minh hợp tác giữa sản xuất và chế biến các sản phẩm có chất lượng cao, giá thành hạ, đủ sức cạnh tranh chiếm lĩnh thị trường Việc phát triển hợp đồng tiêu thụ NSHH khiến chất lượng hàng hóa nông sản phụ thuộc ngay từ khâu giống, nguyên liệu, kỹ thuật công nghệ sản xuất và chế biến, đến khâu kiểm tra chất lượng sản phẩm, bao bì bảo quản, vận chuyển, thời hạn hợp đồng Tất cả các khâu này phải được chuẩn hóa, các quy trình, quy phạm phải được chấp hành nghiêm ngặt để tạo ra những sản phẩm NSHH có chất lượng cao, chủng loại phong phú, phục vụ nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu Điều đó đòi hỏi phải nhanh chóng phát triển hợp đồng tiêu thụ sản phẩm để đẩy mạnh việc tái sản xuất mở rộng theo chiều sâu cho nền nông nghiệp, từng bước công nghiệp hóa nông nghiệp theo nhịp độ phát triển của công nghiệp

3.2.4 Vai trò của hợp đồng tiêu thụ NSHH trong việc nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước đối với hoạt động sản xuất, lưu thông và tiêu thụ NSHH

Trang 25

Trong hoạt động sản xuất, lưu thông và tiêu thụ NSHH, sự quản lý của Nhà nước thông qua mối liên kết giữa nhà nông và nhà doanh nghiêp rất quan trọng Khi hợp đồng tiêu thụ NSHH phát triển bắt buộc Nhà nước phải xây dựng quy hoạch các vùng sản xuất NSHH, tạo nguồn hàng ổn định cho công nghiệp chế biến cũng như xử lý nghiêm minh những vi phạm hợp đồng của các bên đối tác theo pháp luật Đồng thời, khung pháp lý của các hợp đồng kinh tế nói chung và hợp đồng tiêu thụ NSHH nói riêng phải dần được hoàn thiện cho phù hợp với bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay

Phát triển hợp đồng tiêu thụ NSHH đòi hỏi chính quyền cấp xã phải hiểu rõ người sản xuất, đồng thời là người xác nhận tính pháp lý của hợp đồng, thể hiện vai trò là người chịu trách nhiệm chính trong việc chỉ đạo, kiểm tra, giám sát và đôn đốc việc thực hiện hợp đồng Điều này đòi hỏi chính quyền các cấp, các ngành luôn phải chú trọng đến việc nâng cao năng lực quản lý của mình để đáp ứng được nhu cầu sản xuất và tiêu thụ NSHH trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay

Bên cạnh đó, việc phát triển tiêu thụ nông sản theo hợp đồng sẽ giúp cho các nhà quản lý hoạch định được những chính sách thích hợp nhằm phát triển sản xuất ổn định, bền vững, thúc đẩy quá trình liên kết chặt chẽ giữa người sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm, thông qua sự phối hợp nhịp nhàng giữa nhà nông, nhà doanh nghiệp, nhà khoa học và Nhà nước, tạo sự gắn bó vì lợi ích chung của cả cộng đồng

II Kinh nghiệm của một số nước về khuyến khích tiêu thụ NSHH thông qua hợp

đồng

1 Kinh nghiệm của một số nước

1.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc

Nhằm nâng cao hiệu quả của hình thức tiêu thụ này, Chính phủ Trung Quốc thực hiện chính sách đa dạng hóa và chuyên môn hóa sản xuất, thông qua việc áp dụng hình

thức khoán sản phẩm đến hộ, khuyến khích nông dân đầu tư dài hạn phát triển sản xuất

nông nghiệp Chính sách này được thực hiện trên nguyên tắc lấy hộ làm đơn vị cơ sở, lấy kinh doanh làm mục tiêu, không lệ thuộc vào địa giới hành chính, chú trọng chuyên môn hóa sản xuất kinh doanh Nhờ thi hành chính sách này mà hoạt động sản xuất NSHH phát triển nhanh chóng, sản lượng NSHH được lưu thông bằng hình thức hợp đồng tiêu thụ sản phẩm chiếm tới 63% sản lượng NSHH sản xuất được

Bên cạnh đó, để khuyến khích phát triển việc sản xuất NSHH và tạo nguồn hàng ổn

định cho các hợp đồng tiêu thụ NSHH, Chính phủ Trung Quốc áp dụng các mức thuế khác nhau đối với từng loại diện tích, đất đai với nguyên lý chung là thuế sản xuất nông nghiệp phải thấp hơn các ngành khác hoặc miễn thuế và việc này được phân cấp cho địa

phương tự quyết định cụ thể Trung Quốc áp dụng chính sách tự do hóa từng bước giá nông sản, giảm dần số lượng các loại giá do Nhà nước quản lý

Chính phủ Trung Quốc luôn cố gắng tạo môi trường thuận lợi cho việc tiêu thụ

NSHH thông qua hợp đồng phát triển, trong đó nổi bật lên là chính sách phát triển các

xí nghiệp hương trấn ở khu vực nông thôn Ngoài ra, Chính phủ Trung Quốc còn tăng

Trang 26

cường định hướng thị trường cho người sản xuất NSHH, tập trung phát triển các loại

cây, con có lợi nhuận cao hơn, đảm bảo có thu nhập lớn hơn, kịp thời tác động vào thị trường, đặc biệt là chính sách giá, chính sách bảo hộ mậu dịch, tạo ra hàng rào hạn chế

áp lực cạnh tranh từ bên ngoài Các chính sách phát triển sản xuất nông sản của Chính

phủ luôn chú trọng đến việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ mới cũng

như chú trọng đến việc đầu tư một cách hợp lý để hỗ trợ phát triển sản xuất

1.2 Kinh nghiệm của Nhật Bản

Trong nhiều thập kỷ, việc phát triển hợp đồng tiêu thụ NSHH ở Nhật Bản đã được

thể hiện qua các biện pháp bảo hộ nông nghiệp Sự can thiệp của Nhà nước vào hoạt

động sản xuất, marketing, buôn bán trao đổi NSHH được thể hiện bằng việc thi hành các

chính sách bảo hộ qua giá nông sản; hạn chế mậu dịch đối với hàng hoá nông nghiệp;

trợ cấp cho các yếu tố đầu vào của nông nghiệp Để tạo nguồn hàng lớn và ổn định cho các hợp đồng tiêu thụ NSHH, Chính phủ Nhật Bản đã để cho người nông dân có quyền tự quyết định hoạt động sản xuất, điều này làm cho năng suất NSHH tăng lên nhanh chóng Nhà nước tổ chức và phát triển rộng khắp mạng lưới dịch vụ ngành nghề kinh tế kỹ thuật

ở nông thôn, dịch vụ tín dụng vốn, cung ứng vật tư kỹ thuật công cụ cho nông nghiệp, cung cấp hàng tiêu dùng, vật liệu xây dựng, dịch vụ mua bán, chế biến, tiêu thụ nông sản, bảo vệ thực vật, thú y Ngoài ra, việc phát triển mạnh mẽ các ngành nghề phụ góp phần trực tiếp nâng cao chất lượng NSHH, tăng thu nhập và khả năng tái đầu tư của nông dân

Cùng với việc ứng dụng rộng rãi các thành tựu khoa học về giống, phân bón, hóa chất phòng trừ sâu bệnh và gia súc, các công nghệ tiến bộ trong sản xuất nông nghiệp,

tăng cường thủy lợi hóa , Nhật Bản đặc biệt quan tâm tới cơ giới hóa nông nghiệp và

coi đây là yếu tố tác động trực tiếp tới việc tăng năng suất để phát triển hợp đồng tiêu thụ

NSHH Bên cạnh đó, Nhật Bản rất chú ý phát triển trang trại, từ thuần nông đến nông-

công nghiệp Các đơn vị sản xuất theo mô hình truyền thống của nông dân đã được chuyển đổi thành các nông trại kinh doanh hiện đại với tên gọi là các nông trại độc lập, dựa trên cơ sở các hộ gia đình Mục tiêu đặt ra là các nông trại này phải phát triển thành các cơ sở cung cấp nguồn hàng ổn định cho những hợp đồng tiêu thụ NSHH Các biện

pháp hoàn thiện cơ cấu nông nghiệp cũng được thực hiện theo hướng đẩy mạnh phát triển cơ cấu nông hộ và HTX, đặc biệt là những HTX có năng lực về canh tác và quản lý kinh doanh Nhật Bản cũng rất chú trọng xây dựng hệ thống các xí nghiệp chế biến nông sản vừa và nhỏ, các cơ sở công nghiệp gia đình ở nông thôn để tạo điều kiện cho các hợp

đồng tiêu thụ NSHH phát triển

1.3 Kinh nghiệm của Thái Lan

Sự thành công của tiêu thụ NSHH thông qua hình thức hợp đồng của Thái Lan đạt

được phải kể đến sự phát triển của công nghệ chế biến, bảo quản, nhất là đối với các

nông sản phục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu Các xí nghiệp chế biến nông sản

được lắp đặt các dây chuyền thiết bị, công nghệ tối tân, đảm bảo sản xuất sản phẩm có chất lượng cao, giá trị gia tăng của NSHH được nâng cao, nguồn cung hàng ổn định và tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới

Trang 27

Ngoài sự hỗ trợ bằng các biện pháp quản lý vĩ mô, Chính phủ Thái Lan cũng chú trọng đầu tư hỗ trợ cho nông nghiệp nông thôn qua việc cố gắng ổn định giá vật tư, cho vay vốn ưu đãi với lãi suất thấp để phát triển sản xuất NSHH; khuyến khích tiêu thụ

NSHH thông qua các biện pháp như bỏ chế độ hạn ngach, không thu thuế xuất khẩu

Khi cần thiết chính phủ có thể hỗ trợ việc xuất khẩu NSHH thông qua việc định hướng thị trường hoặc can thiệp để ký những hợp đồng lớn Cũng như các nước, nhằm phát triển tiêu thụ NSHH theo hình thức hợp đồng trong điều kiện xuất phát từ nông nghiệp lạc hậu,

Thái Lan đã ứng dụng các thành tựu khoa học- kỹ thuật tiên tiến, công nghệ sinh học

(giống), hóa học (phân bón, hóa chất), thủy lợi và điều quan trọng là cơ giới hóa các công đoạn sản xuất và chế biến nông sản

Chính phủ Thái Lan đã ban hành các chính sách và biện pháp cụ thể nhằm đảm bảo tín dụng cho những người tham gia thực hiện việc sản xuất và tiêu thụ NSHH bằng

hình thức hợp đồng, bằng cách thiết lập hệ thống tín dụng nông thôn, từng bước giúp nông dân tiếp cận chính thức thay vì tín dụng phi chính thức nhiều rủi ro để khuyến khích đầu tư chiều sâu vào sản xuất NSHH

Kinh nghiệm của Thái Lan còn cho thấy Chính phủ có vai trò rất quan trọng

trong quá trình thực hiện việc tiêu thụ NSHH thông qua hình thức hợp đồng Bên cạnh việc trợ giúp mối liên kết có tính chiến lược giữa các nhà sản xuất và tiêu thụ, Chính phủ còn xây dựng những luật lệ cơ bản, tiêu chuẩn và các yêu cầu cần thiết để hợp đồng tiêu thụ NSHH được thực hiện một cách chặt chẽ

1.4 Kinh nghiệm của Đài Loan

Cùng với mục đích hỗ trợ cho việc phát triển hợp đồng tiêu thụ NSHH, Đài Loan tiến hành công nghiệp hóa nông nghiệp nông thôn theo mô hình phân tán Chính phủ Đài

Loan rất chú trọng đến việc hỗ trợ những người tham gia hợp đồng thông qua các Hiệp hội và HTX Có thể nói rằng Đài Loan là quốc gia có nhiều kinh nghiệm trong việc thu hút và phát huy vai trò của các tổ chức nông dân, cung cấp các dịch vụ phục vụ sản

xuất, kinh doanh NSHH thông qua hình thức hợp đồng Các tổ chức này đã phát huy vai trò tích cực của mình trong chuyển giao kỹ thuật, công nghệ và đảm bảo một số dịch vụ cần thiết cho việc tiêu thụ NSHH Chính quyền Đài Loan rất coi trọng các hiệp hội này, coi đây là tổ chức đại diện cho nông dân, từ đó có những chính sách khuyến khích, hỗ trợ các tổ chức này hoạt động có hiệu quả hơn trong việc thực hiện những chính sách trợ giá sản xuất lương thực cho nông dân

Bên cạnh đó, việc thực hiện đồng bộ chương trình sản xuất và tiêu thụ NSHH của

Đài Loan đã đóng góp một phần đáng kể vào thành công của tiêu thụ NSHH thông qua

hình thức hợp đồng Trong chương trình này, Đài Loan đã hình thành và phát triển các xí nghiệp chế biến nông sản vừa và nhỏ ở nông thôn làm cơ sở phát triển việc tiêu thụ NSHH theo hình thức hợp đồng Hình thức sản xuất NSHH theo trang trại gia đình

ngày càng mở rộng, việc tiêu thụ nông sản có sự gắn kết giữa thị trường nông sản nội địa với thị trường nông sản thế giới

Trang 28

Nhằm tạo nguồn hàng có chất lượng cao đáp ứng yêu cầu của các hợp đồng tiêu

thụ NSHH, Chính phủ Đài Loan đã thực hiện chính sách trợ giúp kỹ thuật và vốn cho

người sản xuất NSHH Thực hiện chế độ quản lý sát sao việc trồng chuyên canh, thâm canh nhằm tìm ra các biện pháp để hỗ trợ có hiệu quả cho nông dân Thêm vào đó, Chính

phủ có những khoản trợ giá cho các hộ sản xuất nông sản lớn, có phần thưởng cho các

sản phẩm nông sản có chất lượng cao Khắc phục tình trạng các nhà máy cạnh tranh trong việc mua nguyên liệu dẫn đến việc một số nông sản không đủ phẩm chất tiêu

chuẩn, Đài Loan thực hiện chính sách giao hạn ngạch sản xuất cho từng nhà máy dựa

trên ước tính về thu hoạch nông sản và khả năng tiêu thụ của nhà máy đó Để giải quyết tình trạng phá vỡ hợp đồng do hiện tượng các nhà trung gian vì mục đích kiếm lời mua

"non" ngay cả khi nông sản còn xanh hoặc khi mới vào mùa, gây ảnh hưởng tới chất lượng và giá cả, Đài Loan đã hình thành việc ký kết những hợp đồng chung về thu mua nguyên liệu giữa các nhà máy chế biến nông sản xuất khẩu và phân phối nguyên liệu cho

các nhà máy dưới cùng một tổ chức "Hiệp hội ngành" Tổ chức này hoạt động trên

nguyên tắc phi lợi nhuận, chủ yếu đóng góp lợi ích cho công nghiệp chế biến Để quản lý

và phát triển hợp đồng tiêu thụ NSHH, Chính phủ Đài Loan đã ban hành lệnh nâng tiêu chuẩn của các nhà máy chế biến, bố trí các xí nghiệp chế biến NSHH ở các huyện lỵ, thị trấn, vừa gần các vùng nguyên liệu, lại vừa tận dụng được nguồn lao động dồi dào ở vùng nông thôn

2 Những bài học rút ra từ kinh nghiệm tiêu thụ NSHH thông qua hình thức hợp đồng của một số nước

Những kết quả và thành tựu kinh tế nông nghiệp nói chung và tiêu thụ NSHH thông qua hình thức hợp đồng nói riêng ở mỗi nước cho thấy mặc dù thực hiện vào những thời điểm và hoàn cảnh khác nhau, song nhìn chung về cơ bản các nước đều rất coi trọng việc sản xuất NSHH, tạo nguồn hàng ổn định cho hợp đồng có tính thực thi Qua việc nghiên cứu kinh nghiệm của một số nước trong việc phát triển tiêu thụ hàng hóa thông qua hình thức hợp đồng, có thể rút ra những bài học kinh nghiệm sau:

* Bài học về việc khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia vào việc tiêu thụ NSHH thông qua hình thức hợp đồng:

Kinh nghiệm của các nước cho thấy Nhà nước cần phải khuyến khích các thành phần kinh tế, kể cả các thành phần kinh tế cá thể và các nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào việc ký kết hợp đồng tiêu thụ NSHH Điều này sẽ tạo nên mối liên kết vững chắc, toàn diện giữa nhà sản xuất và tiêu thụ sản phẩm Nhà nước cần có các chính sách thỏa

đáng để khuyến khích các chủ trang trại, nông trại giao khoán một phần đất khai hoang, vườn cây hoặc gia súc cho người lao động; hỗ trợ giống, vốn, vật tư đầu vào, bao tiêu sản phẩm để hộ nông dân từng bước có liên kết với chủ trang trại lớn và hướng dẫn chủ trang trại ký kết hợp đồng lao động theo pháp luật trên cơ sở hai bên cùng có lợi Bên cạnh đó, cần có chính sách hợp lý nhằm khuyến khích mọi người có vốn, có kinh nghiệm quản lý

tự đầu tư hoặc liên kết, liên doanh dưới mọi hình thức để phát triển ngành nghề, đặc biệt

là công nghiệp chế biến NSHH với quy mô lớn; Liên kết với các thành phần kinh tế thực

Trang 29

hiện hợp đồng tiêu thụ NSHH theo từng dự án cụ thể để khai thác triệt để các vùng nguyên liệu Ngoài ra, cần học tập kinh nghiệm của Nhật Bản trong việc thực hiện hình thức liên doanh giữa Nhà nước và tư bản tư nhân trong lĩnh vực nông nghiệp ở một số địa bàn Khuyến khích các hộ gia đình, chủ trang trại liên kết với doanh nghiệp nhà nước xây dựng các cơ sở chế biến, tìm hiểu thị trường tiêu thụ nông sản

* Bài học về xây dựng và phát triển thị trường tiêu thụ NSHH:

Thị trường tiêu thụ NSHH là yếu tố quan trọng của việc phát triển hình thức tiêu thụ NSHH thông qua hợp đồng Nó hình thành và phát triển cùng với sự hình thành và phát triển của hoạt động sản xuất và tiêu thụ NSHH Sản xuất NSHH càng phát triển thì nhu cầu trao đổi, tiêu thụ NSHH càng tăng lên Ngược lại, thị trường NSHH càng phát triển thì việc tiêu thụ NSHH càng tăng và hoạt động sản xuất cũng được đẩy mạnh ở nước ta, việc tiêu thụ NSHH theo hình thức hợp đồng mới bước đầu phát triển, số lượng NSHH được tiêu thụ qua hình thức này chưa nhiều do sức mua của thị trường trong nước còn thấp, thị trường ngoài nước chưa được mở rộng Mặt khác, nhiều khi có thị trường tiêu thụ thì giá cả lại thấp, không có lợi cho người sản xuất Đó là chưa nói đến mạng lưới lưu thông hàng nông sản cũng còn nhiều bất cập nên cũng ảnh hưởng đến việc tiêu thụ NSHH Tất cả những điều này có tác động tiêu cực đến sự phát triển sản xuất nông sản qua đó làm giảm tính tích cực của việc tiêu thụ NSHH thông qua hình thức hợp đồng Kinh nghiệm của các nước cho thấy, để khắc phục những hiện tượng trên, tạo điều kiện cho sản xuất NSHH và tiêu thụ NSHH thông qua hình thức hợp đồng phát triển, Nhà nước cần bổ sung, nâng cao hiệu quả chính sách tiêu thụ NSHH cho nông dân, chủ yếu tập trung vào các vấn đề sau:

- Mở rộng thị trường tiêu thụ NSHH theo hướng: duy trì và phát triển quan hệ với thị trường truyền thống; tìm kiếm và phát triển thị trường mới; phấn đấu thiết lập thị trường lớn, ổn định lâu dài cho những mặt hàng quan trọng (gạo, cao su, cà phê, chè, tơ tằm, thịt, rau quả, thủy hải sản) Muốn vậy phải đầu tư vào phát triển sản xuất tạo ra khối lượng hàng lớn, ứng dụng công nghệ mới sản xuất và chế biến để nâng cao chất lượng hàng hóa theo yêu cầu của khách hàng; phát triển công nghiệp bao bì, bảo quản, đóng gói, sử dụng nhiều hình thức tiêu thụ khác nhau

- Phát triển mạng lưới lưu thông NSHH một cách hợp lý, bảo đảm lưu thông trong

và ngoài nước, khắc phục tình trạng tranh mua, tranh bán, ép cấp, ép giá hoặc bỏ trống thị trường để tư thương chèn ép nông dân Mở rộng việc giao lưu hàng hóa giữa các vùng trong nước, giữa thành thị và nông thôn, giữa trong và ngoài nước

- Đối với một số mặt hàng quan trọng nhưng trước mắt chưa có thị trường tiêu thụ, nếu để ứ đọng nông dân sẽ thu hẹp sản xuất, sau này sẽ khó phát triển lại, do đó Nhà nước nên có chính sách bao tiêu Về thực chất, đây là việc Nhà nước thiết lập một thị trường nông sản trung gian để đảm bảo cho sản xuất liên tục phát triển một cách bền vững

Trang 30

- Có chính sách bảo trợ hàng nông sản bằng nhiều cách khác nhau như hỗ trợ về giá đầu vào và đầu ra, hỗ trợ về vốn, ưu đãi về thuế, nghiên cứu xu hướng phát triển về thị hiếu tiêu dùng trong và ngoài nước Hình thành Quỹ hỗ trợ và bảo trợ phát triển sản xuất

và tiêu thụ NSHH như gạo, cà phê, thủy hải sản, Quỹ hỗ trợ phát triển các mặt hàng nông sản mới và nông sản đặc sản, Quỹ bảo hiểm rủi ro thiên tai và rủi ro thị trường Đây là những công cụ hết sức quan trọng và cần thiết mà hầu hết các nước, khi đẩy mạnh phát triển sản xuất và tiêu thụ nông sản xuất khẩu đều thiết lập để bảo vệ lợi ích người sản xuất và kinh doanh

- Thiết lập và phát triển hệ thống nghiên cứu, phân tích, dự báo, thông tin và giao dịch thị trường Trong đó đặc biệt coi trọng hệ thống phân tích, dự báo thị trường xuất khẩu trung hạn và dài hạn các mặt hàng nông sản mà Việt Nam có lợi thế, tìm kiếm các thị trường mới để phục vụ cho hoạch định chính sách phát triển sản xuất và tiêu thụ NSHH Hệ thống này sẽ cung cấp những thông tin cần thiết cho người sản xuất và tiêu thụ nông sản có định hướng chiến lược lâu dài

* Bài học về việc xây dựng và phát triển ngành công nghiệp chế biến nông sản, tạo điều kiện thúc đẩy việc tiêu thụ NSHH thông qua hình thức hợp đồng:

Đây là bài học quan trọng đối với các nước đang phát triển đông dân, đi lên từ nông nghiệp và có điều kiện phát triển các ngành sử dụng nhiều lao động Đối với Việt Nam, các ngành có sức cạnh tranh trong những năm tới là các ngành xuất khẩu nông, lâm, thủy sản chế biến như gạo, cà phê, chè, cao su Đẩy mạnh phát triển ngành công nghiệp chế biến nông sản, ngoài việc tăng cường thêm độ bền vững của phương thức tiêu thụ NSHH thông qua hình thức hợp đồng, Việt Nam có thể khai thác được những lợi thế

về lao động, tiền công và kỹ thuật phù hợp với trình độ phát triển còn thấp mà vẫn tiêu thụ được hàng hoá ở các nước có trình độ phát triển cao như Hoa Kỳ, Nhật Bản, EU

Trên thực tế, rất khó có thể tìm thấy sự đồng nhất trong các chính sách phát triển công nghiệp chế biến ở các nước Có sự khác biệt như vậy là do những khác nhau về quy mô và trình độ phát triển kinh tế thị trường trong và ngoài nước, các đặc điểm về điều kiện kinh tế, xã hội cũng như chính sách và thực tế sử dụng các nguồn lực ở từng quốc gia Tuy nhiên có những điểm gần như thống nhất ở thời kỳ đầu phát triển của nhiều nước là hầu hết các nước đều áp dụng chính sách bảo hộ công nghiệp trong nước và thay thế nhập khẩu trong một khoảng thời gian nhất định, sau đó chuyển sang chiến lược phát triển công nghiệp định hướng xuất khẩu và đầu tư ra nước ngoài Phát triển công nghiệp chế biến NSHH với quy mô vừa và nhỏ ở các vùng nông thôn, ven đô thị là đặc trưng phát triển của công nghiệp nông thôn ở hầu hết các nước vào các thời điểm khác nhau tuy cách tiếp cận và mức độ thành công khác nhau Chính sách đầu tư phát triển NSHH gắn với công nghiệp chế biến cần được cân nhắc, tính toán trên cơ sở quy hoạch phát triển cụ thể các vùng nguyên liệu, khả năng đầu tư của Nhà nước, tư nhân vào các ngành công nghiệp chế biến ở từng vùng, đối với từng ngành hàng Đồng thời, các chủ trương chính sách cũng cần tính đến các điều kiện cơ sở hạ tầng hiện có, triển vọng nâng cấp xây dựng

Trang 31

mới đường giao thông để tiếp cận thuận tiện với nguồn nguyên liệu, thị trường và thông tin bên ngoài

* Bài học về thi hành chính sách phát triển nông nghiệp, tạo nguồn hàng ổn

định cho việc tiêu thụ NSHH thông qua hợp đồng:

Để tạo nguồn hàng ổn định lâu dài cho các hợp đồng tiêu thụ hàng hóa, đa số các nước đều có những chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất NSHH ở thời kỳ đầu phát triển nhằm đảm bảo lương thực, thực phẩm tiêu dùng trong nước, xuất khẩu thu ngoại tệ, góp phần tích luỹ cho phát triển lâu dài Những hỗ trợ chính của các nước đều tập trung vào xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn, các công trình thủy lợi thủy nông, phúc lợi xã hội; trợ cấp một phần đầu vào và trợ giá nông sản, trợ giá lãi suất vay đối với một số ngành, hoạt

động đặc biệt giảm dần và đi đến miễn thuế khi cần thiết, nhưng đều có cân nhắc thay

đổi và rút dần ở các giai đoạn tiếp theo Hỗ trợ kinh phí nghiên cứu, triển khai, khuyến nông, áp dụng công nghệ mới có tác động tích cực đến phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hoá phục vụ xuất khẩu, tiến tới một nền sản xuất nông nghiệp hiện đại với các mặt hàng nông sản có giá trị xuất khẩu cao

* Bài học về giám sát việc thực thi các hợp đồng tiêu thụ NSHH: Một trong

những bài học không thể thiếu được đối với Việt Nam là cần phải có cơ chế, chính sách kiểm tra, giám sát việc thực hiện đường lối, chủ trương chính sách của Nhà nước nói chung và việc tiêu thụ NSHH thông qua hợp đồng nói riêng Đây là việc làm cần thiết để nâng cao trách nhiệm của các bên tham gia hợp đồng, nhằm thúc đẩy việc tiêu thụ NSHH thông qua hợp đồng và nâng cao tính khả thi của các hợp đồng đã ký kết Tuy nhiên để làm được điều này, theo kinh nghiệm của các nước cho thấy bên cạnh việc ban hành những cơ chế, chính sách phù hợp, thì việc đào tạo một đội ngũ cán bộ có đủ năng lực và phẩm chất thực hiện việc kiểm tra, giám sát là thực sự cần thiết

Tóm lại, từ những bài học kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới và trong khu

vực, Việt Nam có thể vận dụng một cách linh hoạt và sáng tạo vào thực tiễn, nhằm phát huy tốt các yếu tố vốn có, đổi mới tổ chức sản xuất, hình thành hệ thống ngành hàng, mặt hàng gắn chặt giữa các khâu sản xuất- chế biến- phân phối và tiêu thụ, làm cơ sở vững chắc cho hợp đồng tiêu thụ NSHH phát triển

Trang 32

điểm và các hình thức lưu thông, tiêu thụ mặt hàng này Nhiều cơ chế, chính sách của Nhà nước được đổi mới theo hướng xoá bỏ độc quyền và bao cấp lương thực, hình thành

xu hướng tự do lưu thông lúa gạo giữa các vùng, miền trong cả nước Nhà nước chỉ quản

lý bằng các công cụ vĩ mô như quy định giá sàn trong các giao dịch mua bán, hàng năm

có định mức số lượng gạo dự trữ trong lưu thông, Nhà nước cấp bù lãi suất, trợ giá cho nông dân… Nhờ đó từ một nước thiếu lương thực phải nhập khẩu, Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu gạo lớn thứ 2 thế giới (chỉ sau Thái Lan) với mức xuất khẩu bình quân hàng năm giai đoạn 1996-2002 đạt khoảng trên 3,6 triệu tấn Số lượng xuất khẩu hàng năm cũng tăng dần và đạt đỉnh cao vào năm 1999 là 4,5 triệu tấn, trị giá đạt trên 1 tỉ USD

(Xem bảng dưới đây)

Bảng 1: Sản lượng lúa sản xuất, lúa hàng hoá và xuất khẩu gạo từ 1996-2002

Đơn vị: Triệu tấn

hóa

SL gạo xuất khẩu

Trang 33

Nguồn: Niên giám thống kê 2003

Bên cạnh đó, vấn đề tổ chức sản xuất, tiêu thụ và xuất khẩu lúa gạo được Nhà nước

đặc biệt quan tâm, theo hướng tiêu thụ dưới hình thức hợp đồng là chủ yếu, trong đó sự liên kết giữa các khâu thông qua hoạt động thu mua lúa hàng hoá có vai trò đặc biệt quan trọng, nhất là trong điều kiện sản xuất nhỏ, phân tán theo quy mô hộ gia đình nông dân

và các trang trại nhỏ của nước ta thời kỳ này Những kết quả đạt được trong việc tổ chức sản xuất, chế biến và tiêu thụ lúa gạo thông qua hợp đồng thời kỳ 1996-2002 (trước khi

có Quyết định 80/2002/QĐ-TTg ngày 24/6/2002 của Thủ tướng Chính phủ) tuy chưa nhiều vì thiếu cơ sở pháp lý rõ ràng ràng buộc trách nhiệm và quyền lợi của các đối tác, song bước đầu đã thể hiện khá rõ nét trên nhiều lĩnh vực: sản xuất lúa, thu mua lúa hàng hoá, nhất là thu mua phục vụ xuất khẩu và chế biến gạo Xuất phát từ yêu cầu thực tế, nhiều doanh nghiệp kinh doanh lương thực, xuất khẩu gạo và nhiều địa phương trong cả nước đã thực hiện các hình thức liên kết kinh tế thông qua hợp đồng theo các hình thức

và mức độ khác nhau để giải quyết vấn đề tiêu thụ lúa hàng hoá cho nông dân

Tình hình này diễn ra khá sôi động, trước hết ở các tỉnh trọng điểm lúa hàng hoá vùng ĐBSCL Qua kết quả thu thập được từ các báo cáo điều tra, khảo sát thực tế, chúng tôi thấy có 3 hình thức hợp đồng tiêu thụ lúa hàng hoá được các doanh nghiệp và bà con

nông dân vùng ĐBSCL vận dụng phổ biến, đó là:

* Hình thức thứ nhất: Doanh nghiệp Nhà nước đầu tư ứng trước vật tư, phân bón,

thuốc bảo vệ thực vật cho hộ nông dân sản xuất lúa hàng hoá dưới hình thức trả chậm với một mức lãi suất nhất định, nhưng không gắn với nội dung bắt buộc về tiêu thụ lúa hàng hoá (nếu có là do đôi bên thoả thuận về giá cả từ đầu vụ gieo cấy) Theo hình thức này, thông thường các công ty ký hợp đồng với hộ nông dân đầu tư ứng trước, trả chậm sau 4 tháng với lãi suất 1%/ tháng Do không gắn với tiêu thụ lúa hàng hoá nên các hợp đồng này chỉ thực hiện trong phạm vi hẹp ở một số ít địa phương, còn các hộ nông dân thì không mặn mà Hình thức này thường được áp dụng trong các công ty vật tư nông nghiệp

ở các tỉnh: Long An, Tiền Giang, Cần Thơ, An Giang, Đồng Tháp… trong nhiều năm qua, nhưng kết quả khảo sát ở tỉnh Tiền Giang cho thấy: chỉ khoảng 3-4% sản lượng lúa gạo được tiêu thụ thông qua các hợp đồng đầu tư ứng trước, trả chậm được ký giữa các HTXNN, tổ hợp tác làm đại diện cho các công ty vật tư và lương thực tỉnh với hộ nông dân ở huyện Cái Bè, các HTX chỉ ký hợp đồng với công ty vật tư nông nghiệp về cung ứng vật tư mà không gắn với bao tiêu lúa hàng hoá cho hộ nông dân

* Hình thức thứ hai: Các doanh nghiệp kinh doanh lương thực và xuất khẩu gạo,

thông qua đại diện là các HTXNN, tổ hợp tác, chính quyền xã, ấp… ký hợp đồng đầu tư ứng trước vật tư, giống, phân bón dưới hình thức trả chậm với hộ nông dân có gắn với tiêu thụ lúa hàng hoá của hộ sau khi thu hoạch Đây là hình thức hợp đồng kinh tế hai chiều gắn đầu tư với tiêu thụ lúa hàng hoá nên được các doanh nghiệp và hộ nông dân

đồng tình Một số hợp đồng đã được thực hiện trong giai đoạn từ năm 1996 đến 2002 có thể kể đến như sau:

Trang 34

+ Sau khi có Luật HTX kiểu mới ban hành ngày 20/3/1996, công ty lương thực Long An đã ký hợp đồng cung ứng vật tư (giống, phân bón) và mua lại lúa hàng hoá cho

hộ nông dân, xã viên thông qua HTX Kết quả bước đầu công ty đã ký hợp đồng hai chiều với 10 HTXNN, với số vốn lưu động ứng trước thông qua cung ứng vật tư là 50 triệu đồng/1 HTX Trong những vụ đầu, các hợp đồng này được thực hiện khá tốt, khắc phục được tình trạng nông dân thiếu vốn và khó tiêu thụ lúa hàng hoá, còn doanh nghiệp thừa vật tư nhưng thiếu lúa gạo để cung cấp cho khách hàng như trước đây Thông qua hình thức hợp đồng này, các HTXNN mới thành lập có thể phát triển hoạt động và đảm bảo kinh doanh có lãi với mức hàng chục triệu đồng/ HTX/ năm

+ Công ty TNHH Thương mại- Dịch vụ Tấn Hưng ở TP Hồ Chí Minh ký hợp

đồng hỗ trợ phân bón, giống, dịch vụ kỹ thuật và bao tiêu lúa hàng hoá xuất khẩu trên quy mô 20.000 ha với các hộ nông dân ở Long An và Tiền Giang theo phương thức ứng trước vật tư trả chậm và bao tiêu lúa hàng hoá với giá cả thoả thuận từ đầu vụ phù hợp với giá thị trường, được nông dân trồng lúa hàng hoá chấp nhận và thực hiện khá nghiêm túc,

đem lại hiệu quả và lợi ích cho cả hai phía Phát huy kết quả đã đạt được, để thực hiện dự

án “Đồng lúa vàng Việt Nam xuất khẩu”, trong vụ Đông xuân 2001-2002 Công ty Tấn

Hưng đã ký 15.064 hợp đồng tiêu thụ nông sản (chủ yếu là lúa gạo xuất khẩu) trực tiếp với các hộ nông dân 4 tỉnh trọng điểm lúa: An Giang, Tiền Giang, Long An và Đồng Tháp, trên tổng diện tích 22.052 ha với sản lượng 132.200 tấn lúa hàng hoá chất lượng cao Tổng giá trị Công ty đã đầu tư trực tiếp cho hộ nông dân thông qua hợp đồng là 16,5

tỷ đồng Tuy nhiên đến vụ thu hoạch, Công ty chỉ mua được 2.000 tấn lúa, bằng 1,56% sản lượng ký theo hợp đồng Vì vốn đầu tư nợ đọng còn nhiều với tỷ lệ thanh toán nợ của các hộ tại các tỉnh cao (An Giang 61%, Tiền Giang 96%, Long An 58%, Đồng Tháp 61%), nên vụ Đông xuân 2002-2003 vừa qua đã không triển khai tiếp việc ký kết hợp

đồng

+ Các doanh nghiệp Nhà nước tỉnh An Giang đã ký hợp đồng tiêu thụ lúa hàng hoá cho hộ nông dân thông qua tổ hợp tác, HTXNN, câu lạc bộ khuyến nông An Giang là tỉnh có sản lượng lúa sản xuất và lúa hàng hoá nhiều nhất cả nước nên trước khi có quyết

định 80 của Thủ tướng Chính phủ, lãnh đạo địa phương đã rất quan tâm chỉ đạo các ngành, các cấp, các doanh nghiệp Nhà nước triển khai nhiều biện pháp để ký kết các hợp

đồng tiêu thụ lúa hàng hoá cho hộ nông dân Kết quả ngay từ đầu năm 2002, các doanh nghiệp đã ký hợp đồng tiêu thụ lúa hàng hoá chất lượng cao với tổng diện tích 45.000 ha

vụ Đông xuân, 6.000 ha lúa Hè thu và nhiều nông sản khác Giá lúa theo hợp đồng 1.300

đồng/ kg lúc đó là phù hợp với giá thị trường, được doanh nghiệp và hộ nông dân đồng tình nên các hợp đồng được triển khai thuận lợi

Nguyên nhân của những kết quả đó là do UBND Tỉnh có quyết tâm cao trong việc quyết định sớm chủ trương, đồng thời tổ chức chỉ đạo chặt chẽ việc ký kết và thực hiện các hợp đồng tiêu thụ lúa hàng hoá với nhiều giải pháp đồng bộ và tích cực Các giải pháp chủ yếu là: cho các huyện mở rộng kho; đầu tư trang thiết bị máy sấy, máy xay xát; cho các doanh nghiêp kinh doanh lương thực vay vốn 3 năm không lãi suất; đánh giá cao

Trang 35

và sử dụng có hiệu quả mạng lưới thương lái trong hoạt động thu gom và tiêu thụ lúa gạo hàng hoá của hộ nông dân

* Hình thức thứ ba: Các doanh nghiệp, thường là các nông trường, xí nghiệp, nhà

máy chế biến lúa gạo đầu tư ứng trước, trả chậm, hỗ trợ kỹ thuật cho hộ nông dân trồng lúa và bao tiêu sản phẩm trọn gói

Đơn vị điển hình thực hiện hợp đồng theo hình thức này ở vùng ĐBSCL phải kể

đến đó là nông trường Sông Hậu tỉnh Cần Thơ Đây là doanh nghiệp Nhà nước trong nhiều năm qua đã thực hiện ký kết hợp đồng sản xuất và tiêu thụ lúa hàng hoá cho các hộ nông trường viên, HTX và hộ nông dân trên địa bàn với số lượng trên 60.000 tấn lúa hàng hoá mỗi năm Phương thức đầu tư là ứng trước giống, phân bón, hỗ trợ chuyển giao khoa học- kỹ thuật thâm canh, đầu tư xây dựng nâng cấp cơ sở hạ tầng và tiêu thụ lúa hàng hoá chất lượng cao của các hộ để chế biến tiêu dùng nội địa và xuất khẩu gạo Phương thức

đầu tư ứng trước, khép kín từ sản xuất đến tiêu thụ với lãi suất ưu đãi 1%/năm, thực hiện liên tục trong nhiều năm đã tạo được sự liên kết khá bền vững giữa các hộ trồng lúa hàng hoá với nông trường, góp phần tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và nâng cao thu nhập cho các hộ nông dân trồng lúa trong địa bàn Năm 2000, nông trường

đã ký hợp đồng đầu tư ứng trước và bao tiêu lúa hàng hoá cho hộ nông dân thông qua 31 HTXNN với doanh số 4 tỷ đồng Nông trường còn ký hợp đồng bảo hiểm giá và bao tiêu lúa hàng hoá cho hộ nông dân trong vùng, nhằm mục đích đảm bảo nguồn nguyên liệu

ổn định cho hoạt động chế biến và xuất khẩu gạo của nông trường, đồng thời tăng cường liên kết kinh tế bền vững với các hộ nông dân trên địa bàn

Nông trường đã phân loại các đối tượng tham gia ký kết và thực hiện hợp đồng tiêu thụ lúa hàng hoá, với các quy định cụ thể về chất lượng và giá cả hàng hoá trong hợp

đồng:

+ Đối với hộ nông trường viên, hình thức hợp đồng như sau: Nông trường giao đất,

đầu tư toàn bộ các khâu làm đất, thủy lợi, giống lúa, vật tư nông nghiệp, hướng dẫn quy trình sản xuất, cung cấp tiến bộ kỹ thuật cho hộ nông trường viên Trách nhiệm của hộ là chăm sóc thu hoạch lúa và hoàn trả toàn bộ chi phí đầu tư cho nông trường bằng sản phẩm lúa hoặc bằng tiền Phần chênh lệch giữa giá trị thu hoạch và đầu tư hộ nông trường viên được hưởng toàn bộ Vấn đề tiêu thụ lúa hàng hoá do nông trường viên lựa chọn, nông trường chỉ can thiệp khi giá lúa bấp bênh, giảm xuống dưới mức giá thuế sử dụng đất nông nghiệp Hình thức can thiệp là nông trường bao tiêu lúa hàng hoá cho hộ với giá bảo hiểm cao hơn giá tính thuế nông nghiệp 100 đồng/ kg Từ năm 1997, khi có quy định của Chính phủ về giá sàn thì nông trường mua lúa theo giá sàn, còn khi giá lúa thị trường cao hơn giá sàn thì nông trường mua theo giá thị trường, nhằm đảm bảo lợi ích của hộ nông trường viên trong mọi điều kiện biến động của thị trường và giá cả lúa gạo Nhờ vậy hộ nông trường viên rất yên tâm trồng lúa và thực hiện tốt các quy định trong hợp đồng của nông trường, về phía nông trường thì luôn chủ động nguồn nguyên liệu để phục vụ chế biến gạo xuất khẩu, có khi thu hút cả các nguồn hàng từ ngoài nông trường Bên cạnh đó, nông trường còn rất chú trọng đến việc xây dựng kế hoạch sản xuất- kinh

Trang 36

doanh và định hướng thị trường, bước đầu tiên là tìm thị trường, thương thảo để coi người

ta đặt hàng với yêu cầu chất lượng, giá cả thế nào rồi mới về mời các nhà khoa học, anh

em cán bộ kỹ thuật trong nông trường khảo nghiệm, xem xét giống cây trồng phù hợp, sau đó mới ký hợp đồng đầu tư và tiêu thụ với nông dân Tuy nhiên trong thực tế sản xuất nông nghiệp, việc đợi có được hợp đồng tiêu thụ với bên ngoài rồi mới điều chỉnh cơ cấu mùa vụ, chủng loại giống cho phù hợp là điều khó thực hiện được

+ Đối với hộ nông dân trồng lúa trên địa bàn ngoài nông trường, hình thức hợp

đồng là: Nông trường đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, hệ thống nhà xưởng chế biến lúa gạo xuất khẩu, hướng dẫn kỹ thuật thâm canh, áp dụng các giống lúa chất lượng cao, tăng cường các biện pháp bảo vệ thực vật, phát triển mạng lưới khuyến nông Vấn đề bao tiêu sản phẩm cũng được thực hiện với các điều kiện tương tự như đối với hộ nông trường viên Chính điều này đã tạo được sự liên kết kinh tế giữa nông trường với các hộ nông dân trồng lúa trong vùng vì lợi ích của cả hai bên

+ Đối với các HTX, tổ kinh tế hợp tác và các doanh nghiệp nhỏ, các trang trại, hình thức hợp đồng bao tiêu lúa hàng hoá chỉ đặt ra khi nông trường có hợp đồng xuất khẩu gạo với số lượng lớn hơn số gạo của nông trường có vào thời điểm đó Nông trường

có trách nhiệm hỗ trợ kỹ thuật và kinh nghiệm tổ chức sản xuất và quản lý Hình thức hợp đồng kinh tế đối với các đối tượng này không chặt chẽ như đối với các hộ nông trường viên và hộ nông dân trồng lúa trên địa bàn

Tuy nhiên những năm qua, quá trình thực hiện các hợp đồng kinh tế với ba loại đối tượng trên của nông trường Sông Hậu cũng gặp nhiều khó khăn: Việc thu hồi vốn đầu tư ứng trước đối với các đối tượng là hộ nông dân thường rất chậm và không đều; Khi giá lúa trên thị trường lên cao, nhiều hộ nông dân phá vỡ hợp đồng bán lúa đã ký với nông trường, trong khi đó nhiều đơn vị ngoài nông trường lại tham gia vào mua lúa hàng hoá của hộ nông dân dù không đầu tư ban đầu; Vai trò của chính quyền địa phương và một số chính sách của Nhà nước chưa có tác động tích cực đến việc thực hiện hợp đồng bao tiêu lúa hàng hoá, gây khó khăn cho nông trường

Đối với các vùng trọng điểm lúa khác trong cả nước, kể cả vùng ĐBSH, do lượng lúa hàng hoá không lớn, quy mô sản xuất nhỏ, phân tán, hoạt động xuất khẩu gạo không sôi động nên việc ký kết hợp đồng tiêu thụ lúa gạo cho hộ nông dân không phổ biến Người mua trực tiếp với nông dân phần lớn vẫn là tư thương chứ chưa phải là quốc doanh lương thực, với hình thức tiêu thụ lúa gạo hàng hoá nhỏ lẻ chủ yếu là mua đứt, bán đoạn không thông qua hợp đồng khi đến vụ thu hoạch trên cơ sở thoả thuận giữa các doanh nghiệp với từng hộ nông dân trồng lúa Sau đó thông qua hoạt động thu mua của các công ty TNHH, tư nhân mới đến quốc doanh lương thực hay các công ty xuất khẩu của Nhà nước

Bên cạnh các kết quả đáng ghi nhận còn nhiều những tồn tại trong quá trình thực hiện hợp đồng sản xuất và bao tiêu lúa hàng hoá thời kỳ này cần khắc phục Tỷ lệ sản lượng lúa gạo tiêu thụ qua hợp đồng còn rất thấp ở vùng ĐBSCL chỉ 3-4% lúa hàng hoá

được tiêu thụ thông qua hợp đồng giữa HTX, tổ hợp tác và hộ nông dân, còn 96-97% sản

Trang 37

lượng lúa hàng hoá trong vùng vẫn chưa có địa chỉ tiêu thụ ổn định Mạng lưới thu mua, vận chuyển lúa hàng hoá vẫn phụ thuộc quá lớn vào thương lái, chưa có sự tham gia tích cực của các doanh nghiệp lương thực Nhà nước, tập thể, do đó tính bền vững chưa cao Tình trạng ép cấp, ép giá đối với người sản xuất vẫn diễn ra (rõ nét nhất là vào các năm

1997, 2000, 2001), dẫn đến hậu quả là nhiều hợp đồng bị phá vỡ Việc lúa hàng hoá trong hộ nông dân tồn đọng nhưng các doanh nghiệp không thể thu mua buộc Nhà nước mỗi năm phải chi hàng nghìn tỷ đồng bù lãi suất mua lúa tạm trữ xuất khẩu, khi đó nông dân trồng lúa vẫn bị thiệt thòi, còn các doanh nghiệp xuất khẩu gạo lâm vào tình trạng xuất càng nhiều lỗ càng lớn

Nguyên nhân của tình trạng trên có nhiều, trong đó các khâu từ quy hoạch, sản xuất, đến thu gom, vận chuyển, bảo quản, chế biến và đưa ra tiêu thụ trên thị trường đều còn bất cập Sản xuất NSHH phát triển chưa đều, quy mô sản xuất quá bé lại manh mún, phân tán theo từng hộ nông dân riêng lẻ, sản xuất nông nghiệp vẫn mang nặng tính tự cấp, tự túc, chạy theo số lượng, coi nhẹ chất lượng và hiệu quả Hơn nữa, cơ sở vật chất

kỹ thuật phục vụ chế biến, bảo quản lúa gạo của Việt Nam còn nghèo nàn lại phân bố không đều Những vùng và địa phương có nhiều lúa hàng hoá phục vụ xuất khẩu như các tỉnh ĐBSH, ĐBSCL, An Giang, Đồng Tháp, Sóc Trăng, Long An không có các nhà máy chế biến và đánh bóng gạo xuất khẩu hiện đại, đối với các tỉnh phía Bắc và miền Trung, mạng lưới thu gom, vận chuyển, xay xát lúa gạo lại càng thiếu và yếu đã và đang

là vấn đề lớn cần sự quan tâm đầu tư của Nhà nước

1.2 Cà phê:

Là mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực lớn thứ hai sau gạo nên vấn đề tiêu thụ sản phẩm cà phê có vai trò quan trọng đặc biệt Trong giai đoạn 1996-2002 tình hình tiêu thụ cà phê ở nước ta phụ thuộc vào hai yếu tố: sản xuất trong nước và thị trường cà phê thế giới Khác với lúa gạo, khoảng gần 95% sản phẩm cà phê sản xuất trong nước là để phục vụ xuất khẩu Trong những năm qua, thị trường cà phê thế giới biến động phức tạp theo hướng cung vượt cầu đã tác động lớn đến tình hình sản xuất và tiêu thụ cà phê, kể cả việc sụt giảm giá cà phê xuất khẩu của Việt Nam

Bảng 2: Tình hình sản xuất và xuất khẩu cà phê Việt Nam thời kỳ 1996-2002

Trang 38

2002 776,4 722 400

Nguồn: Niên giám thống kê 2003

Sản lượng cà phê sản xuất trong nước tăng nhanh, nhưng trên thực tế thị trường tiêu thụ và giá cả trên thị trường thế giới không ổn định đã đặt ra hàng loạt vấn đề về quy hoạch sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm cà phê nước ta, cũng như gây khó khăn cho việc thực hiện ký kết các hợp đồng cung ứng vật tư và bao tiêu sản phẩm cà phê như các mặt hàng nông sản khác Hơn nữa, cà phê do hộ gia đình, các trang trại sản xuất chiếm tỷ trọng lớn Ví dụ, trong tổng số 522.000 ha cà phê năm 2002, các nông trường và doanh nghiệp Nhà nước chỉ nắm giữ và quản lý khoảng 15%, còn lại 85% do các hộ nông dân và các trang trại nắm giữ Trong khi đó, quy mô sản xuất của các hộ không lớn, phổ biến từ 0,5 đến 1 ha, mỗi trang trại cũng chỉ có từ 2-5 ha cà phê Cà phê được sản xuất chủ yếu ở Tây Nguyên, tập trung ở Đắc Lắc và Gia Lai cũng chỉ một phần nhỏ do các Công ty cà phê quốc doanh sản xuất và sơ chế Tới 75-80% sản lượng cà phê tiêu thụ và xuất khẩu vẫn do các doanh nghiệp ngoài Nhà nước và tư nhân chi phối, cả vấn đề thị trường, giá cả và phương thức tiêu thụ Đối với các doanh nghiệp Nhà nước, vai trò của Tổng công ty cà phê Việt Nam (VINACAFE) có ý nghĩa quan trọng trong khâu tiêu thụ

và xuất khẩu cà phê VINACAFE là doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước và là hội viên lớn nhất của Hiệp hội cà phê- ca cao Việt Nam (VICOFA) Cả nước có khoảng 150 doanh nghiệp tham gia tiêu thụ và xuất khẩu cà phê, trong đó có 78 doanh nghiệp thuộc VINACAFE, chiếm 20-25% sản lượng cà phê xuất khẩu hàng năm của cả nước

Chính vì vậy, trong những năm 1996-2002 tình hình thực hiện các hợp đồng tiêu thụ cà phê ở nước ta chủ yếu diễn ra giữa các doanh nghiệp sản xuất cà phê với các doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu cà phê, còn hợp đồng giữa các doanh nghiệp kinh doanh, chế biến và xuất khẩu cà phê với các hộ nông dân, trang trại sản xuất cà phê không đáng

kể Phương thức hợp đồng giữa các doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu với các công ty, nông trường, trang trại sản xuất cà phê là mua đứt, bán đoạn theo giá cả thoả thuận vào

vụ thu hoạch Hình thức hợp đồng đầu tư ứng trước và tiêu thụ sản phẩm có diễn ra nhưng trên phạm vi hẹp, thông qua liên kết kinh tế giữa một số doanh nghiệp Nhà nước, nông trường với các hộ, trang trại sản xuất cà phê quy mô vừa và nhỏ

ở Tây Nguyên, công tác quản lý, tổ chức thu mua, chế biến và xuất khẩu cà phê trong giai đoạn này cũng còn rất lộn xộn, nguyên nhân là do tư thương chi phối gần như toàn bộ, cả vấn đề thị trường tiêu thụ, giá cả và phương thức tiêu thụ nhưng lại không

được tổ chức, quản lý chặt chẽ Người sản xuất cà phê, các hộ nông dân, các trang trại chỉ biết sản xuất, còn các khâu thu gom, sơ chế, chế biến, bảo quản và tiêu thụ xuất khẩu hoàn toàn do doanh nghiệp và tư thương lo liệu nên người sản xuất phải trả thêm các loại chi phí phát sinh khác như vận chuyển, quản lý phí Kết quả là sản xuất tăng nhanh, cung vượt cầu gây ứ đọng sản phẩm, một số năm từ 1998 đến 2000 Nhà nước phải bù lỗ lãi suất ngân hàng để mua cà phê tạm trữ xuất khẩu Đến vụ thu hoạch cà phê thường có quá nhiều thương nhân nằm ngoài kênh phân phối, nhiều cấp trung gian tham gia mua bán,

đầu cơ cà phê làm rối loạn thị trường Trong khi đó, phương thức tiêu thụ sản phẩm cà

Trang 39

phê của các hộ và trang trại nhỏ ở Tây Nguyên chủ yếu thông qua hệ thống đại lý, thương nhân và các doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu, hoặc sử dụng phương thức mua đứt, bán

đoạn không thông qua hợp đồng dù bị thiệt thòi về giá để trả nợ gấp vốn vay ngân hàng,

do đó thường bị ép cấp, ép giá… Nông trường Thắng Lợi ở Đắc Lăk (nay là công ty Thắng lợi), là một doanh nghiệp Nhà nước sản xuất và xuất khẩu cà phê, nhiều năm liền

đã ký hợp đồng đầu tư ứng trước, trả chậm và bao tiêu 100% sản phẩm cà phê với các trang trại và hộ gia đình trên địa bàn Hình thức đầu tư là nông trường ứng trước giống, phân bón, hướng dẫn, chỉ đạo kỹ thuật và đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, nhà kho, sân phơi, đường xá, hệ thống thủy lợi cho các hộ và trang trại trồng cà phê, đến vụ thu hoạch bao tiêu sản phẩm theo giá thoả thuận từ đầu vụ Tuy nhiên, do giá cà phê biến động (thường cao vào tháng 4, 5 và thấp vào tháng 9, 10) nên ảnh hưởng rất lớn đến việc thực hiện hợp đồng đã cam kết Mặc dù Nhà nước đã sử dụng Quỹ bình ổn để hỗ trợ người sản xuất cà phê, song do biên độ giao động giá quá lớn nên sự hỗ trợ đó không thể bù đắp thiệt hại cho cả người sản xuất và các doanh nghiệp tiêu thụ, xuất khẩu cà phê Do vậy, hình thức hợp đồng đầu tư ứng trước và bao tiêu sản phẩm theo giá từ đầu vụ rất khó thực hiện và hiện tượng phá vỡ hợp đồng thường diễn ra là một tất yếu Nhất là khi phần lớn các vườn cà phê đã được tư nhân hoá hoặc giao khoán cho các hộ gia đình thì chỉ các công ty chuyên doanh đủ mạnh về tài chính mới có thể ký kết các hợp đồng đầu tư ứng trước cho hộ trồng cà phê Tuy nhiên đó lại là các công ty liên doanh hoặc 100% vốn nước ngoài nên mục tiêu lợi nhuận đã chi phối các hợp đồng này và phần thiệt thòi vẫn là

hộ nông dân và các trang trại sản xuất nhỏ

Hơn nữa, các doanh nghiệp xuất khẩu cà phê chủ yếu tập trung ở TP Hồ Chí Minh

và Nha Trang (Khánh Hoà), trong đó có 4 doanh nghiệp lớn có sức mạnh về tài chính, xuất khẩu từ 60.000-120.000 tấn cà phê, chiếm 45% lượng cà phê xuất khẩu/ năm Trong khi các doanh nghiệp, trang trại sản xuất cà phê lại phần lớn ở Tây Nguyên, sản phẩm cà phê lại khó bảo quản, lượng cà phê dự trữ của các doanh nghiệp xuất khẩu ít Chính vì vậy, mối liên kết giữa sản xuất và tiêu thụ theo phương thức hợp đồng đầu tư ứng trước gắn với bao tiêu sản phẩm rất khó thực hiện Khi giá cà phê thế giới biến động mạnh như các năm 2000-2002 theo hướng sụt giảm (năm 2002 giảm 60-75% so với năm 1998, xuống đến mức 400 USD/ tấn so với 1.554 USD/ tấn), thì sản lượng cà phê tồn kho chủ yếu là của các doanh nghiệp, trang trại sản xuất, không phải của các doanh nghiệp xuất khẩu Trước tình hình đó, phần thiệt thuộc về người sản xuất cà phê, buộc họ phải giảm bớt quy mô sản xuất Tình trạng hàng chục nghìn ha cà phê ở Tây Nguyên bị chặt phá trong năm 2002 là thực tế chứng minh cho mối liên kết lỏng lẻo giữa sản xuất và xuất

khẩu cà phê nước ta thời kỳ này

Đối với những vùng trồng cà phê khác, tuy sản lượng không lớn nhưng một số địa phương đã bước đầu thực hiện theo phương thức hợp đồng đầu tư ứng trước và bao tiêu sản phẩm Công ty cao su- cà phê Thanh Hoá năm 2001 đã đầu tư cho các hộ nông dân với mức 4 triệu đồng/ ha cà phê qua cây giống, phân bón các loại và một phần tiền công

đào hố trước khi trồng, sản phẩm khi thu hoạch công ty sẽ mua toàn bộ Năm 2001, công

ty đã mua trên 121 tấn cà phê của hộ nông dân, năm 2002 mua trên 600 tấn và trả hết

Trang 40

tiền mua theo hợp đồng cho hộ nông dân nên các hộ rất yên tâm và tin tưởng vào công ty Tuy nhiên, số hợp đồng đầu tư ứng trước, trả chậm và bao tiêu sản phẩm như trên chưa phổ biến cho các doanh nghiệp và địa phương khác

Tóm lại, đối với sản phẩm cà phê, vấn đề tiêu thụ theo hợp đồng đầu tư ứng trước

vật tư và bao tiêu sản phẩm trong thời kỳ 1996-2002, tức là trước khi có Quyết định 80 của Chính phủ là rất khó thực hiện Do vậy kết quả đạt được là rất nhỏ, chủ yếu theo phương thức mua đứt, bán đoạn giữa các doanh nghiệp, trang trại sản xuất và doanh nghiệp tiêu thụ, chế biến xuất khẩu Ngay tại Tây Nguyên cũng chưa có mô hình liên kết giữa các doanh nghiệp kinh doanh, chế biến và xuất khẩu cà phê với các đơn vị sản xuất

cà phê theo đúng nghĩa hợp đồng kinh tế Tình trạng này xảy ra ngoài các nguyên nhân khách quan từ phía quản lý Nhà nước và công tác tổ chức gắn sản xuất với tiêu thụ còn nhiều bất cập, còn có nguyên nhân chủ quan khác là do đặc điểm của sản phẩm cà phê là phục vụ xuất khẩu chứ không phải để tiêu dùng nội địa, phụ thuộc quá lớn vào nhu cầu

và giá cả trên thị trường thế giới

1.3 Mía đường:

Mía đường là mặt hàng nông sản phục vụ nhu cầu về nguyên liệu đầu vào cho công nghiệp chế biến đường trong nước, nên việc liên kết kinh tế để tiêu thụ sản phẩm thông qua hình thức hợp đồng đầu tư ứng trước gắn với bao tiêu sản phẩm không chỉ cần thiết mà trên thực tế là có khả năng thực hiện Trong thời kỳ 1996-2000, sản xuất mía tăng nhanh cả về diện tích, năng suất và sản lượng Song trong ba niên vụ mía kể từ năm

2000 sau khi kết thúc Chương trình mía đường, diện tích trồng mía cả nước có chiều hướng giảm: đạt 300.000 ha niên vụ 2000-2001, giảm còn 291.000 ha vụ 2001-2002 và chỉ tăng đôi chút lên 315.000 ha vụ 2002-2003 Năng suất, sản lượng mía cây cũng có xu hướng chững lại trong 3 niên vụ vừa qua: 49,8 tấn/ ha với tổng sản lượng khoảng 15 triệu tấn niên vụ 2000-2001; 49,2 tấn/ ha và 14,6 triệu tấn vụ 2001-2002; 49,8 tấn/ ha và 15,7

triệu tấn vụ 2002-2003 (tăng gần 60% so với niên vụ 1995-1996) (Theo số liệu Niên

giám thống kê 2003). Thực hiện chương trình 1 triệu tấn đường nên nhiều nhà máy chế

biến đường được xây dựng mới hoặc mở rộng quy mô, hiện đại hoá máy móc, thiết bị và quy trình công nghệ Vì vậy, sự liên kết kinh tế giữa sản xuất với tiêu thụ sản phẩm được thực hiện thông qua hợp đồng giữa các doanh nghiệp với hộ trồng mía đã có những khởi sắc, tuy chưa nhiều Các nhà máy chế biến đường đều thực hiện phương thức ký kết hợp

đồng đầu tư vật tư và tiêu thụ mía cây cho hộ nông dân trồng mía thông qua các HTX, tổ

hợp tác theo các hình thức và phạm vi khác nhau Qua số liệu khảo sát ở một số vùng sản

xuất mía nguyên liệu tập trung như Lam Sơn (Thanh Hoá), vùng nguyên liệu mía đường

cho nhà máy đường Phụng Hiệp (Cần Thơ), chúng tôi thấy có những đặc điểm sau đây:

Công ty Cổ phần mía đường Lam Sơn đã thực hiện ký kết hợp đồng đầu tư ứng trước vật tư và bao tiêu mía cây cho HTX và hộ nông dân trồng mía trong vùng thông qua Ban nông nghiệp xã, Chính quyền thôn từ năm 1996 nhằm mục đích xây dựng vùng nguyên liệu mía ổn định Hình thức hợp đồng là công ty đảm bảo dịch vụ làm đất (hoặc cho vay 900 nghìn đồng/ ha để hộ tự làm đất), đồng thời ứng trước vốn, phân bón, thuốc

Ngày đăng: 13/08/2016, 10:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Quyết định số 80/2002/QĐ-TTg ngày 24/6/2002 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách khuyến khích tiêu thụ NSHH thông qua hợp đồng Sách, tạp chí
Tiêu đề: 80/2002/QĐ-TTg ngày 24/6/2002
9. Báo cáo khoa học: “Hợp đồng sản xuất - tiêu thụ NSHH” - 2001, Viện kinh tế Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hợp đồng sản xuất - tiêu thụ NSHH
10. Bộ NN&PTNT: Báo cáo những vấn đề nảy sinh khi triển khai thực hiện Quyết định 80/2002/QĐ-TTg ngày 24/6/2002 của Thủ tướng Chính phủ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo những vấn đề nảy sinh khi triển khai thực hiện Quyết
12. Bộ NN&PTNT: Báo cáo về xây dựng mối “liên kết bốn nhà”giữa nhà nông, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp và Nhà n−ớc trong sản xuất, chế biến và tiêu thụ NSHH, một số đề xuất về giải pháp và chính sách Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo về xây dựng mối “liên kết bốn nhà
13. Sở NN&PTNT An Giang: Báo cáo tham luận về tình hình triển khai thực hiện việc tiêu thụ NSHH thông qua hợp đồng theo Quyết định 80/2002/QĐ-TTg ngày 24/6/2002 của Thủ tướng Chính phủ trên địa bàn Tỉnh An Giang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tham luận về tình hình triển khai thực hiện việc tiêu thụ NSHH thông qua hợp đồng
24. Đề tài: “Nghiên cứu chính sách và giải pháp phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ trong bảo quản, chế biến và tiêu thụ một số nông sản”, chủ nhiệm TS. Lê Thế Hoàng, Bé NN&PTNT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu chính sách và giải pháp phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ trong bảo quản, chế biến và tiêu thụ một số nông sản
25. Đề tài: “Nghiên cứu đề xuất những chính sách chủ yếu nhằm phát huy lợi thế cạnh tranh của một số mặt hàng nông sản xuất khẩu của Việt Nam: gạo, cà phê, cao su”, chủ nhiệm TS. Nguyễn Đình Long, Bộ NN&PTNT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đề xuất những chính sách chủ yếu nhằm phát huy lợi thế cạnh tranh của một số mặt hàng nông sản xuất khẩu của Việt Nam: gạo, cà phê, cao su
26. Đề tài: “Một số giải pháp chủ yếu để đẩy mạnh xuất khẩu gạo trong thời gian tới ở Việt Nam”, chủ nhiệm TS. Phạm Quốc Doanh, Văn phòng Chính phủ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số giải pháp chủ yếu để đẩy mạnh xuất khẩu gạo trong thời gian tới ở Việt Nam
27. Đề tài cấp Nhà n−ớc: “Chính sách và giải pháp phát triển thị tr−ờng hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam thời kỳ 2001-2010, tầm nhìn đến năm 2020” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách và giải pháp phát triển thị tr−ờng hàng hoá "xuất khẩu của Việt Nam thời kỳ 2001-2010, tầm nhìn đến năm 2020
28. Đề tài: "Ph−ơng thức tiêu thụ nông sản vùng Đông Nam Bộ- thực trạng và giải pháp đổi mới phù hợp yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Việt Nam "- 2002, Trường Cao đẳng kinh tế đối ngoại Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ph−ơng thức tiêu thụ nông sản vùng Đông Nam Bộ- thực trạng và giải pháp đổi mới phù hợp yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Việt Nam
29. Đề tài: "Một số giải pháp chủ yếu phát triển thị tr−ờng tiêu thụ NSHH miền núi nước ta thời kỳ đến 2010 "- 2002, Vụ PTTTMN Bộ Thương mại Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số giải pháp chủ yếu phát triển thị tr−ờng tiêu thụ NSHH miền núi nước ta thời kỳ đến 2010
1. Nghị quyết 06-NQ/TW ngày 10/11/1998 của Bộ Chính trị về một số vấn đề phát triển nông nghiệp nông thôn Khác
2. Nghị quyết 09-NQ/CP ngày 15/6/2000 của Chính phủ về chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp Khác
3. Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ IX (2001) và NQTW lần thứ V (khoá IX) về đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn Khác
5. Quyết định số 77/2002/QĐ-BNN ngày 28/8/2002 của Bộ NN&PTNT hướng dẫn về Mẫu hợp đồng tiêu thụ NSHH thực hiện Quyết định 80/2002/QĐ-TTg ngày 24/6/2002 của Thủ t−ớng Chính phủ Khác
6. Thông t− số 05/2002/TT-NHNN ngày 27/9/2002 của Ngân hàng Nhà n−ớc Việt Nam hướng dẫn việc cho vay vốn đối với người sản xuất, doanh nghiệp ký kết hợpđồng tiêu thụ NSHH theo Quyết định 80/2002/QĐ-TTg ngày 24/6/2002 của Thủ t−ớng Chính phủ Khác
7. Thông t− số 04/2003/TT-BTC ngày 10/01/2003 của Bộ Tài chính h−ớng dẫn một số vấn đề về tài chính thực hiện Quyết định 80/2002/QĐ-TTg ngày 24/6/2002 của Thủ t−ớng Chính phủ Khác
8. Công văn số 886/HTPT-TDĐP ngày 16/5/2003 của Quỹ hỗ trợ phát triển về việc hướng dẫn thực hiện Quyết định 80/2002/QĐ-TTg ngày 24/6/2002 của Thủ tướng Chính phủ Khác
11. Bộ NN&PTNT: Báo cáo sơ kết một năm thực hiện Quyết định 80/2002/QĐ-TTg ngày 24/6/2002 của Thủ t−ớng Chính phủ Khác
14. Nông tr−ờng sông Hậu với việc tiêu thụ NSHH cho nông dân (2002) Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Sản l−ợng lúa sản xuất, lúa hàng hoá và xuất khẩu gạo từ 1996-2002 - Thực trạng và giải pháp đẩy mạnh tiêu thụ nông sản hàng  hoá  thông  qua  hợp  đồng  tiêu  thụ  sản  phẩm theo  quyết  định  số  802002qđ TTg  ngày  2462002 của thủ t ớng chính phủ
Bảng 1 Sản l−ợng lúa sản xuất, lúa hàng hoá và xuất khẩu gạo từ 1996-2002 (Trang 32)
Bảng 3: Tình hình sản xuất, chế biến và xuất khẩu thủy sản giai đoạn 1996-2002 - Thực trạng và giải pháp đẩy mạnh tiêu thụ nông sản hàng  hoá  thông  qua  hợp  đồng  tiêu  thụ  sản  phẩm theo  quyết  định  số  802002qđ TTg  ngày  2462002 của thủ t ớng chính phủ
Bảng 3 Tình hình sản xuất, chế biến và xuất khẩu thủy sản giai đoạn 1996-2002 (Trang 43)
Bảng 4: Tình hình sản xuất và xuất khẩu mặt hàng thịt lợn giai đoạn 1996-2002  N¨m Sè  l−ợng lợn nuôi - Thực trạng và giải pháp đẩy mạnh tiêu thụ nông sản hàng  hoá  thông  qua  hợp  đồng  tiêu  thụ  sản  phẩm theo  quyết  định  số  802002qđ TTg  ngày  2462002 của thủ t ớng chính phủ
Bảng 4 Tình hình sản xuất và xuất khẩu mặt hàng thịt lợn giai đoạn 1996-2002 N¨m Sè l−ợng lợn nuôi (Trang 45)
Bảng 5: Tỷ lệ tiêu thụ lợn thịt của các hộ chăn nuôi (%) - Thực trạng và giải pháp đẩy mạnh tiêu thụ nông sản hàng  hoá  thông  qua  hợp  đồng  tiêu  thụ  sản  phẩm theo  quyết  định  số  802002qđ TTg  ngày  2462002 của thủ t ớng chính phủ
Bảng 5 Tỷ lệ tiêu thụ lợn thịt của các hộ chăn nuôi (%) (Trang 58)
Bảng 6: Dự báo cung- cầu một số mặt hàng nông sản chủ yếu đến năm 2010 - Thực trạng và giải pháp đẩy mạnh tiêu thụ nông sản hàng  hoá  thông  qua  hợp  đồng  tiêu  thụ  sản  phẩm theo  quyết  định  số  802002qđ TTg  ngày  2462002 của thủ t ớng chính phủ
Bảng 6 Dự báo cung- cầu một số mặt hàng nông sản chủ yếu đến năm 2010 (Trang 72)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w