Hội đồng tự quản học sinh: Hội đồng tự quản học sinh là một biện pháp giáo dục nhằm thúc đẩy sự phát triển về đạo đức, tình cảm và xã hội của học sinh thông qua những kinh nghiệm hoạt độ
Trang 1Chuyên đề :
MỘT SỐ KỸ THUẬT DẠY HỌC TÍCH CỰC THEO MÔ HÌNH TRƯỜNG HỌC MỚI VIỆT NAM
1.Những vấn đề chung về Mô hình trường học mới Việt Nam (VNEN)
1.1 Hội đồng tự quản học sinh:
Hội đồng tự quản học sinh là một biện pháp giáo dục nhằm thúc đẩy sự phát triển về đạo đức, tình cảm và xã hội của học sinh thông qua những kinh nghiệm hoạt động thực tế của các em trong nhà trường và mối quan hệ với những người xung quanh Hội đồng tự quản học sinh được thành lập vì học sinh và bởi học sinh để đảm bảo cho các em tham gia một cách dân chủ và tích cực vào đời sống học đường, khuyến khích các em tham gia một cách toàn diện vào các hoạt động của nhà trường và phát triển lòng khoan dung, sự tôn trọng, bình đẳng, tinh thần hợp tác và đoàn kết cho học sinh Hội đồng tự quản giúp học sinh phát triển kỹ năng ra quyết định, kỹ năng hợp tác và kỹ năng lãnh đạo đồng thời cũng chuẩn bị cho các em ý thức trách nhiệm khi thực hiện những quyền và bổn phận của mình Với sự hướng dẫn của giáo viên và sự giúp đỡ của phụ huynh, Hội đồng tự quản học sinh sẽ lập kế hoạch
và thực thi các hoạt động Hội đồng tự quản học sinh gồm có: Chủ tịch Hội đồng, các Phó Chủ tịch hội đồng, các trưởng ban và thư kí ban như ban Học tập, Thư viện, Văn nghệ và thể dục thể thao, Lao động, Sức khỏe và vệ sinh, Đối ngoại, Quyền lợi của học sinh Thành viên Hội đồng tự quản học sinh được luân phiên trong từng năm học để đảm bảo các học sinh đều có cơ hội hoạt động
Thành viên Hội đồng tự quản do học sinh bầu Hội đồng tổ chức xây dựng nội quy trường/lớp học và sử dụng các công cụ hoạt động như cuốn sổ hoặc hộp thư “Điều em muốn nói” để các em lưu lại những ý kiến, suy nghĩ
Trang 2cá nhân hoặc bày tỏ những mong ước, nguyện vọng của mình; bảng theo dõi
sĩ số do các em tự đánh dấu và tổng hợp số ngày đi học; câu lạc bộ tập hợp các em có cùng sở thích; góc sinh nhật để các em quan tâm đến nhau Các công cụ trên do tự tay các em làm hoặc do giáo viên, cha mẹ học sinh giúp đỡ được thực hiện với nhiều ý tưởng sáng tạo và phù hợp về hình thức
1.2 Trang trí, bố trí phòng học:
Mô hình trường học mới tập trung vào phương pháp dạy học lấy học sinh làm trung tâm, chú trọng tự học của học sinh, học sinh hỗ trợ lẫn nhau (học nhóm) và giáo viên hướng dẫn và hỗ trợ các em học tập Để thực hiện tốt việc tự học của học sinh và nhu cầu học nhóm cần có sự bố trí các điều kiện
cơ sở vật chất phù hợp đặc biệt là việc sắp xếp vị trí ngồi học và giúp học sinh
sử dụng các tài liệu và dụng cụ học tập ngay trong lớp học để phục vụ nhu cầu của mình
Thay vì sắp xếp theo hàng ngang, bàn ghế trong phòng học mới được sắp xếp theo nhóm học sinh (nhóm 4 hoặc nhóm 6) Sự thay đổi trong cách sắp xếp bàn ghế tạo ra sự thay đổi về vị trí chỗ ngồi cùng với cách tổ chức dạy học mới của giáo viên tạo ra sự thay đổi về tâm thế học tập và quan hệ tương tác của các em với thầy cô và các bạn Với vị trí ngồi học theo nhóm, học sinh không chỉ được học chữ mà học sinh có cơ hội hình thành các năng lực cần thiết ở con người xã hội trong tương lai Nhờ quan hệ tương tác được
mở rộng, đa chiều: tương tác giữa học sinh (chủ thể của quá trình học tập) với tài liệu (đối tượng của quá trình học tập) dưới sự điều hành của nhóm trưởng
và vai trò cố vấn của giáo viên; tương tác giữa học sinh với các dụng cụ học tập (tranh ảnh, đồ dùng, vật thật ); tương tác giữa học sinh với học sinh (hai chủ thể với nhau) thông qua vai trò điều khiển của nhóm trưởng, của giáo viên; tương tác giữa học sinh và giáo viên và ngược lại
Phòng học dành không gian đủ để kê xếp bàn ghế theo nhóm và bố trí các góc: Góc học tập, Góc thư viện và Góc cộng đồng Góc học tập gồm Góc
Trang 3Toán, Góc Tiếng Việt, Góc Tự nhiên - Xã hội, Góc Nghệ thuật được đưa vào các tài liệu, dụng cụ học tập, thiết bị dạy học hoặc sản phẩm của học sinh Góc thư viện do học sinh tự quản, giáo viên hướng dẫn các em sử dụng sách báo hàng ngày ngay tại lớp Góc cộng đồng có bản đồ cộng đồng mô tả một cách đơn giản bằng hình vẽ trên giấy khổ to hoặc chất liệu phù hợp đường đi lại, những công trình chính của địa phương (làng, xóm, xã) và vị trí gia đình từng học sinh trong lớp Trong Góc cộng đồng còn thể hiện được các thông tin chính về cộng đồng địa phương như phong tục tập quán, nghề nghiệp, sản phẩm địa phương, văn hóa lễ hội bằng hiện vật hoặc hình vẽ
Việc trang trí, bố trí trong phòng học yêu cầu cao sự sáng tạo, phù hợp, thân thiện và hướng tới phục vụ cho nhu cầu học tập và nhu cầu xã hội của học sinh
1.3 Tài liệu Hướng dẫn học tập:
Trong trường học truyền thống, học sinh và giáo viên sử dụng Sách giáo khoa làm tài liệu học tập, giáo viên được hỗ trợ bởi Sách giáo viên hay còn gọi
là Thiết kế bài học, cha mẹ học sinh muốn hỗ trợ con em học tập phải tự tìm hiểu nội dung và cách thức hướng dẫn Mô hình trường học mới sử dụng một tài liệu chung cho cả học sinh, giáo viên và cha mẹ học sinh trong đó tích hợp
đủ nội dung và phương pháp học tập theo mục tiêu bài học vì vậy còn gọi là tài liệu “ba trong một”: Sách giáo khoa, Sách giáo viên và Sách hướng dẫn được trình bày trong một quyển chung Tài liệu này sẽ hỗ trợ, hướng dẫn học sinh về phương pháp học tập mới, thói quen tự học, tự đánh giá, tự quản lý thời gian, tự thực hành và ứng dụng Bên cạnh đó, phương pháp giảng dạy mới cũng yêu cầu có sự tham gia tích cực của gia đình, cộng đồng trong việc phối hợp giảng dạy cho học sinh Vì thế, trong tài liệu đã chỉ rõ các hoạt động và hình thức tổ chức học tập và chỉ cần một quyển sách, học sinh có thể tự học, tự làm bài, giáo viên cũng chỉ nhìn vào đó để hướng dẫn học sinh tự học và cả phụ huynh
Trang 4cũng có thể sử dụng để hướng dẫn con em mình mà không cần bất cứ một tài liệu hỗ trợ nào khác
Tài liệu hướng dẫn học tập được biên soạn bám sát chuẩn kiến thức
-kỹ năng của chương trình hiện hành do Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định và từng bài học được thiết kế theo ba hoạt động: hoạt động cơ bản, hoạt động thực hành và hoạt động ứng dụng Trong từng hoạt động, tài liệu đã thiết kế theo nhiều kiểu (hoạt động cá nhân, hoạt động đôi, hoạt động nhóm ba người trở lên) tùy theo từng bộ môn, từng bài học Đa số kênh hình và kênh chữ trong tài liệu rõ ràng, dễ hiểu, giúp học sinh tiếp cận bài học một cách dễ dàng Sau mỗi bài tập đọc có hệ thống câu hỏi trắc nghiệm giúp học sinh nhanh chóng tìm hiểu nội dung của bài học… Điều quan trọng hơn cả là khi
sử dụng tài liệu này, mặc nhiên giáo viên phải thay đổi hoàn toàn cách dạy, học sinh phải thay đổi hoàn toàn cách học và cách tiếp thu nội dung bài học,
đó chính là cái đích cần đạt được của “Đổi mới phương pháp dạy học”
1.4 Môn học và hoạt động giáo dục:
Học sinh học theo lớp học truyền thống học 9 môn học bắt buộc: Tiếng Việt; Toán; Đạo đức; Tự nhiên và Xã hội (lớp 1, 2, 3) hoặc Khoa học, Lịch sử
và Địa lý (lớp 4, 5); Thể dục, Âm nhạc, Mỹ thuật; Thủ công (lớp 1, 2, 3) hoặc
Kỹ thuật (lớp 4, 5) Ngoài ra, còn học các môn Tự chọn (Ngoại ngữ, Tin học)
và tham gia các hoạt động tập thể (02 tiết/tuần), các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp (4 tiết/tháng)
Khi học theo Mô hình trường học mới, học sinh chỉ còn học 3 môn bắt buộc là Tiếng Việt, Toán, Tự nhiên và Xã hội (lớp 1, 2, 3) hoặc Khoa học, Lịch sử và Địa lý (lớp 4, 5) và các môn tự chọn (Ngoại ngữ, Tin học) Các môn học còn lại ở chương trình hiện hành được chuyển sang Hoạt động giáo dục (HĐGD): HĐGD lối sống; HĐGD Thể chất; HĐGD Nghệ thuật- Thẩm
mỹ Với sự thay đổi cơ cấu các môn học và HĐGD theo hướng trên, học sinh không mất cơ hội phát triển toàn diện, mặt khác việc tham gia các hoạt động
Trang 5học tập, giáo dục tại trường trở nên nhẹ nhàng hơn, thoải mái hơn, góp phần
“giảm tải” cho học sinh từ sự thay đổi về cơ cấu các môn học
1.5 Đổi mới đánh giá học sinh, đánh giá giáo viên:
Trong nhà trường tiểu học hiện nay, việc đánh giá học sinh chủ yếu tập trung đánh giá về kiến thức và kỹ năng Mô hình trường học mới chú trọng đánh giá năng lực của học sinh (năng lực tự phục vụ, tự quản; năng lực giao tiếp, hợp tác; năng lực tự học và giải quyết vấn đề); đánh giá sự hình thành và phát triển các phẩm chất của học sinh (yêu nước, yêu quê hương, yêu cha mẹ
và gia đình, yêu trường lớp, thầy cô và bạn bè, yêu con người; tự tin, tự trọng,
tự chịu trách nhiệm; trung thực, kỷ luật; chăm học, chăm làm, thích hoạt động nghệ thuật, thể thao); đánh giá sự tiến bộ của học sinh theo chuẩn kiến thức kỹ năng mà không so sánh với học sinh khác; học sinh tham gia vào quá trình đánh giá (tự đánh giá)
Đánh giá giờ dạy của giáo viên thông qua quan sát, xem xét sự tiến bộ, thái độ làm việc, cách học tập của học sinh và việc giáo viên đã giúp đỡ từng học sinh trong lớp học như thế nào để các đồng nghiệp cùng nhau rút kinh nghiệm, chia sẻ để tiến bộ
Như vậy, mục tiêu của Mô hình trường học mới Việt Nam là đào tạo ra những con người có bản lĩnh, có năng lực để giải quyết các vấn đề thực tiễn của cuộc sống, của xã hội đặt ra Mục tiêu này cũng chính là mục tiêu cần phải đạt của đổi mới giáo dục tiểu học mà Bộ Giáo dục và Đào tạo đã và đang tập trung chỉ đạo thực hiện
Năm học 2011 - 2012, Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức thí điểm Mô hình trường học mới Việt nam tại 24 trường tiểu học thuộc 6 tỉnh trong toàn quốc: Lào Cai, Hà Giang, Hòa Bình, Khánh Hòa, Đắc Lắc và Kon Tum Sau một năm triển khai, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đánh giá kết quả thí điểm ở các trường tiểu học trên thể hiện được những ưu điểm cơ bản phù hợp với yêu cầu đổi mới giáo dục: học sinh tự tin, không khí học tập trong lớp tự nhiên,
Trang 6nhẹ nhàng và thân thiện, giáo viên và học sinh tương tác với nhau nhiều hơn
và kết quả học tập, chất lượng giáo dục bước đầu được cải thiện
Năm học 2012 - 2013, Bộ Giáo dục và Đào tạo tiếp tục triển khai dạy học thử nghiệm mở rộng tại 1.447 trường của 63 tỉnh (thành phố) trong toàn quốc Phú Thọ thuộc nhóm tỉnh ưu tiên 2 triển khai tại 15 trường tiểu học của
13 huyện/thành phố/thị xã (mỗi đơn vị 01 trường, riêng huyện Phù Ninh và Thị
xã Phú Thọ 02 trường/đơn vị) Trong Hội nghị tổng kết năm học 2012 - 2013
và triển khai phương hướng nhiệm vụ năm học 2013 - 2014 tại thành phố Đà Lạt (Lâm Đồng), Bộ Giáo dục và Đào tạo khảng định: “Tiếp tục triển khai hiệu quả mô hình trường học mới Việt Nam (VNEN), nhân rộng mô hình này cùng với việc áp dụng dạy học Tiếng Việt lớp 1 - Công nghệ giáo dục theo các mức
độ khác nhau phù hợp với điều kiện của địa phương” Thứ trưởng Bộ Giáo dục
và Đào tạo Nguyễn Vinh Hiển nhận định: Sau một năm triển khai, nhiều Sở
Giáo dục và Đào tạo đã thấy mô hình này có tác dụng tốt và đã chủ động nhân rộng dù không được dự án hỗ trợ Vì vậy, mặc dù số lượng trường chính thức nằm trong dự án chỉ có 1447 trường, nhưng nay cả nước có thêm 629 trường tự nguyện thực hiện mô hình VNEN, Bộ Giáo dục và Đào tạo chưa tổng kết, nhưng địa phương đã thấy được lợi ích của mô hình và tự nhân rộng Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng khuyến khích các sở giáo dục và đào tạo tiếp tục chỉ đạo nhân rộng mô hình Điều cần lưu ý là không nhân rộng một cách máy móc, mà tùy theo điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của mình Việc nhân rộng toàn bộ hay nhân rộng từng phần theo Mô hình trường học mới đều tốt
Mô hình trường học mới phù hợp với việc thúc đẩy hiệu quả xây dựng Trường học thân thiện, học sinh tích cực, thúc đẩy đổi mới công tác quản lý
và đổi mới phương pháp dạy học nâng cao chất lượng giáo dục tiểu học Sau một năm triển khai tại 15 trường tiểu học trong tỉnh, dưới sự chỉ đạo của Sở Giáo dục và Đào tạo và sự vào cuộc của các nhà trường, chất lượng dạy - học
ở đây đã có những chuyển biến tích cực
Trang 7Năm học 2013 - 2014, cùng với việc thực hiện đồng bộ các giải pháp về đổi mới công tác quản lý, chỉ đạo và tổ chức các hoạt động giáo dục tiểu học, Sở Giáo dục và Đào tạo Phú Thọ tiếp tục triển khai thực hiện Mô hình trường học mới ở 15 trường tiểu học và chỉ đạo các phòng giáo dục và đào tạo hướng dẫn triển khai tập huấn, nhân rộng một số nội dung của Mô hình trường học mới trên
cơ sở phù hợp với điều kiện từng trường tiểu học trong tỉnh nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục tiểu học nói riêng và chất lượng giáo dục phổ thông nói chung trên địa bàn tỉnh, góp phần thực hiện nhiệm vụ chính trị - xã hội của địa phương
Năm học 2014 – 2015, tỉnh Phú Thọ triển khai nhân rộng toàn phần ở 13 trường tiểu học đối với khối lớp 2, khối lớp 3 và chỉ đạo nhân rộng từng phần ở tất cả các trường tiểu học trong tỉnh về các nội dung: Trang trí lớp học, phương pháp và kỹ thuật dạy học tích cực
CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC NHÂN RỘNG TOÀN PHẦN
MÔ HÌNH VNEN NĂM HỌC 2014 – 2015
STT Trường tiểu học Huyện, thị
Số giáo viên
Số lớp
Số học sinh
Số lớp, số học sinh VNEN Khối 2 Khối 3
Lớp Học sinh Lớ
p Học sinh
1 Tam Cường Tam Nông 17 10 162 2 43 2 24
2 Đại Nghĩa Đoan Hùng 13 9 195 2 40 1 30
3 Đào Xá 1 Thanh Thủy 29 19 475 4 120 4 92
4 Đào Xá 2 Thanh Thủy 24 19 367 4 81 4 70
5 Hùng Vương TX Phú Thọ 20 16 496 4 114 3 96
6 Thạch Khoán Thanh Sơn 30 15 272 3 57 3 53
7 Phú Lộc Phù Ninh 36 25 682 5 152 5 124
9 Thạch Sơn Lâm Thao 16 20 608 4 131 4 117
10 Hoàng Cương Thanh Ba 14 10 181 2 44 2 30
Trang 811 Hưng Long Yên Lập 24 16 395 3 76 3 72
12 Tình Cương Cẩm Khê 15 10 191 2 43 2 33
2 Kỹ thuật dạy học tích cực trong Mô hình trường học mới.
Kỹ thuật dạy học là những biện pháp, cách thức hành động của giáo viên
và học sinh trong các tình huống, hoạt động nhằm thực hiện giải quyết một nhiệm vụ, nội dung cụ thể để áp dụng các kĩ thuật trong dạy học đạt hiệu quả, ngoài việc tuân thủ các quy trình mang tính đặc trưng của kĩ thuật dạy học còn đòi hỏi sự linh hoạt, sáng tạo và nghệ thuật của giáo viên Năm học 2014-2015
Sở Giáo dục và Đào tạo lựa chọn 7 kĩ thuật dạy học tích cực thường được sử dụng cụ thể:
Kỹ thuuật 1: Kỹ thuật đặt câu hỏi.
A - Mục tiêu:
- Hệ thống câu hỏi của giáo viên có vai trò quan trọng là một trong những yếu tố quyết định chất lượng lĩnh hội kiến thức của học sinh
- Hệ thống câu hỏi của giáo viên giúp học sinh suy nghĩ phát hiện kiến thức, phát triển nội dung bài học, khuyến khích học sinh tham gia thảo luận xoay quanh câu hỏi
B - Các dạng câu hỏi giáo viên thường sử dụng.
Câu hỏi đóng: Là dạng câu hỏi chỉ có một câu trả lời "có" hoặc "không"
Ví dụ: Hôm qua em có làm bài tập về nhà không?
Hoặc Em có thể giúp bạn làm bài tập này không?
Câu hỏi "bán mở": Là những câu hỏi đã chỉ rõ dạng câu trả lời mà người hỏi
muốn người trả lời theo hướng gợi ý của mình
Trang 9Ví dụ: Theo cô các từ: học sinh, bàn ghế, trâu bò là các danh từ Theo em có đúng không ?
Dạng câu hỏi đóng hay bán mở không hữu ích khi trao đổi, thảo luận trong giờ học
Câu hỏi mở: câu hỏi mở là dạng câu hỏi có thể có nhiều cách trả lời là khi đặt
câu hỏi mở, giáo viên tạo cơ hội cho học sinh chia sẻ ý kiến cá nhân
- Cần lưu ý khi đưa ra câu hỏi mở phải phù hợp với trình độ học sinh trong lớp
Câu hỏi theo cấp độ nhận thức:
- Câu hỏi "Biết": Nhằm kiểm tra trí nhớ của học sinh về các dữ kiện, số liệu,
tên người hoặc tên địa phương, các định nghĩa, định luật, quy tắc, khái niệm
VD: Thế nào là câu đơn?
- Câu hỏi "Hiểu": Câu hỏi hiểu nhằm kiểm tra học sinh cách liên hệ, kết nối
các dữ kiện, số liệu, các đặc điểm khi tiếp nhận thông tin
VD: Khi biết số đo CD, CR của HCN muốn tính diện tích của HCN đó
ta làm thế nào?
- Câu hỏi "áp dụng": Câu hỏi này nhằm kiểm tra khả năng áp dụng những
thông tin đã thu được (các dữ kiện số liệu, các đặc điểm ) vào tình huống mới
VD: làm thế nào để sử dụng thước đã bị gãy đầu có vạch số 0?
- Câu hỏi "Phân tích": Nhằm kiểm tra khả năng phân tích nội dung vấn đề, từ
đó tìm ra mối liên hệ hoặc chứng minh luận điểm hoặc đi đến kết luận
VD: Qua đoạn văn, em thích hình ảnh nào nhất? Vì sao?
- Câu hỏi đánh giá: Câu hỏi này nhằm kiểm tra khả năng đóng góp ý kiến, sự
phán đoán của học sinh trong việc nhận định, đánh giá các ý tưởng, sự kiện, hiện tượng, dựa trên các tiêu chí đã đưa ra
Trang 10VD: Hai cách giải trên, cách giải nào khoa học và dễ hiểu hơn? Tại sao?
- Câu hỏi "Sáng tạo": Câu hỏi này nhằm kiểm tra khả năng của học sinh có
thể đưa ra dự đoán, cách giải quyết vấn đề, các câu trả lời hoặc đề xuất có tính sáng tạo
VD: Để xây dựng môi trường xanh, sạch, đẹp chúng ta cần phải làm gì?
C - Một số cách ứng xử khi đặt câu hỏi:
1 Dừng lại khi đặt câu hỏi
2 Tích cực hoá tất cả học sinh
3 Phân phối câu hỏi cho cả lớp
4 Tập trung vào trọng tâm
5 Phản ứng với câu trả lời của học sinh
6 Giải thích
7 Liên hệ
8 Tránh nhắc lại câu hỏi của mình
9 Tránh tự trả lời câu hỏi của mình
10 Tránh nhắc lại câu trả lời của học sinh
Kỹ thuật 2: Lắng nghe và phản hồi tích cực.
Lắng nghe và phản hồi tích cực là một kĩ năng rất cần thiết trong dạy học, đào tạo, bồi dưỡng giáo viên và trong giao tiếp thường ngày của cuộc sông
A - Lắng nghe tích cực:
Lắng nghe là một kĩ năng quan trọng đối với giáo viên cũng như nhà quản lý, báo cáo viên, học viên Có ba cách lắng nghe:
1 Lắng nghe chủ động
2 Nghe với định kiến