Dương Thị Thoan Trường Đại học Hồng Đức – Thanh Hóa Tóm tắt: Nghiên cứu khoa học NCKH là một hoạt động trí tuệ giúp sinh viên nâng cao tư duy sáng tạo, mở rộng vốn kiến thức cũng như
Trang 1THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO KỸ NĂNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN NGÀNH TÂM LÝ HỌC
TS Dương Thị Thoan
Trường Đại học Hồng Đức – Thanh Hóa
Tóm tắt: Nghiên cứu khoa học (NCKH) là một hoạt động trí tuệ giúp sinh viên
nâng cao tư duy sáng tạo, mở rộng vốn kiến thức cũng như củng cố được các kỹ năng mềm của bản thân Hoạt động nghiên cứu khoa học đã được tổ chức dưới nhiều hình thức khác nhau tại Trường Đại học Hồng Đức, tuy nhiên kỹ năng nghiên cứu khoa học của sinh viên chưa đồng đều, kết quả nghiên cứu khoa học chưa cao Nguyên nhân chính xuất phát từ phía sinh viên chưa nắm vững lý luận khoa học và phương pháp luận NCKH, thiếu sự say mê, giảng viên hướng dẫn còn thiếu kinh nghiệm, kinh phí của nhà trường dành cho nghiên cứu khoa học còn hạn chế Xuất phát từ cơ sở đó, bài viết đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao kỹ năng nghiên cứu khoa học của sinh viên ngành tâm lý học - Trường Đại học Hồng Đức
Từ khóa: Nghiên cứu khoa học, kỹ năng, kỹ năng nghiên cứu, phương pháp,
nâng cao
1 Đặt vấn đề
Nghiên cứu khoa học (NCKH) là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của mỗi sinh viên ở trường đại học NCKH không chỉ giúp cho sinh viên phát triển
tư duy sáng tạo, có điều kiện để tìm hiểu sâu sắc hơn các nội dung của bài học mà còn
có tác dụng trang bị cho họ phương pháp luận, kỹ năng nghiên cứu, rèn luyện tư duy khoa học, khả năng làm việc độc lập sáng tạo, bước đầu hình thành và phát triển những phẩm chất, tác phong của nhà NCKH như: Suy nghĩ độc lập, sáng tạo, kiên trì, nhẫn nại, trung thực, làm việc có kế hoạch, có phương pháp… giúp các em có thể tiến kịp với sự tiến bộ của khoa học, công nghệ và thời đại
NCKH của sinh viên được tổ chức dưới nhiều hình thức: Bài tập lớn, tiểu luận, khoá luận tốt nghiệp, ý tưởng sáng tạo, đề tài NCKH các cấp Trong đó khoá luận tốt nghiệp và đề tài NCKH là hình thức NCKH ở mức độ cao Tổ chức tốt các hoạt động này sẽ có tác dụng bồi dưỡng cho sinh viên hứng thú và năng lực NCKH, rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp cho họ, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo cho các trường Đại học và Cao đẳng trong giai đoạn đổi mới của đất nước
Trang 2Tuy nhiên, hiện nay công tác tổ chức hoạt động NCKH vẫn chưa được sinh viên trường đại học Hồng Đức nói chung và sinh viên ngành Tâm lý học (QTNS) nói riêng quan tâm đúng mức Điều này, do nhiều nguyên nhân, một trong những nguyên nhân chủ yếu là do các em vẫn thiếu kỹ năng NCKH Vì vậy, việc tìm hiểu thực trạng mức độ phát triển kỹ năng NCKH và tìm kiếm các biện pháp góp phần nâng cao kỹ năng NCKH cho sinh viên là điều hết sức quan trọng và cần thiết
2 Thực trạng kỹ năng NCKH của sinh viên ngành Tâm lý học
2.1 Khái niệm công cụ
Người làm công tác NCKH đòi hỏi phải có một sự vững vàng về kiến thức, một
tư duy sắc bén, một quan điểm đúng, một hệ phương pháp phù hợp và khả năng thành thạo trong việc sử dụng các phương tiện kỹ thuật Để đáp ứng được các yêu cầu trên, đòi hỏi người làm công tác NCKH phải có hình thành được một hệ thống các kỹ năng (KN) nghiên cứu, các KN này gồm bốn nhóm: KN nắm vững lý luận khoa học và phương pháp luận nghiên cứu; KN sử dụng thành thạo các phương pháp nghiên cứu;
KN sử dụng thành thạo các phương tiện kỹ thuật, thiết bị nghiên cứu và nhóm KN viết báo cáo khoa học
KN NCKH của sinh viên là khả năng thực hiện thành công một đề tài khoa học trên cơ sở nắm vững lý thuyết khoa học
Chúng tôi đánh giá kỹ năng NCKH sinh viên và các kỹ năng thành phần theo 5 mức độ: Cao, tương đối cao, trung bình, tương đối thấp và thấp, tương ứng với các mức độ là thang điểm 5, 4, 3, 2, 1 Chúng tôi tính điểm theo từng nhóm kỹ năng bộ phận, từ đó tổng điểm thành KN NCKH của sinh viên
2.2 Thực trạng KN NCKH sinh viên TLH (QTNS) trường đại học Hồng Đức
2.2.1 Đánh giá chung về KN NCKH sinh viên ngành TLH (QTNS)
Bảng 1: Đánh giá chung về KN NCKH của sinh viên ngành TLH (QTNS) STT Khối lớp
Mức độ
Năm thứ 4 Năm thứ 3 Chung
Trang 3Nhận xét:
- Kỹ năng NCKH của sinh viên không đồng đều mà phân bố ở các mức độ khác nhau, tập trung chủ yếu ở mức độ trung bình và tương đối thấp chiếm 74,7%, mức độ thấp chiếm 23,3%, mức độ tương đối cao chiếm 2,0% và không có mức độ cao
- So sánh theo khối lớp cho thấy: Sinh viên năm thứ 4, mức độ đạt được của kỹ năng NCKH cao hơn năm thứ ba, thể hiện ở mức độ kỹ năng này từ trung bình trở lên của sinh viên năm thứ tư là 27,1%, mức độ tương đối thấp và thấp là 63,9% và của sinh viên năm thứ ba là 19,8%, mức độ tương đối thấp và thấp là 80,2% Mức độ tương đối cao của sinh viên năm thứ 4 là 4,2% trong khi đó sinh viên năm thứ 3 không
tự đánh giá bản thân đạt kỹ năng NCKH đạt mức độ tương đối cao và cao
Qua nghiên cứu và quan sát thực tiễn hoạt động NCKH của sinh viên cho thấy,
sự khác biệt đó là do vốn tri thức về hoạt động NCKH và mức độ tập dượt rèn kỹ năng nghiên cứu khoa học của sinh viên năm thứ tư đều cao hơn sinh viên năm thứ ba (Bởi
lẽ, nhiều sinh viên năm thứ 4 đã được tham gia NCKH ở năm thứ 3, đã được làm quen với thực tế triển khai hoạt động này, đã nắm được nhiệm vụ cần phải thực hiện trong NCKH và đã từng tham gia NCKH với tư cách là chủ nhiệm đề tài hoặc cộng tác viên,
vì vậy mức độ làm quen với HĐ tốt hơn)
2.2.2 Đánh giá các KN thành phần của KN NCKH của sinh viên
Kỹ năng NCKH của sinh viên bao gồm 4 nhóm kỹ năng thành phần: KN nắm vững lý luận khoa học và phương pháp luận nghiên cứu; KN sử dụng thành thạo các phương pháp nghiên cứu; KN sử dụng thành thạo các phương tiện kỹ thuật, thiết bị nghiên cứu và KN thể hiện văn bản công trình khoa học
Bảng 2: Đánh giá các KN thành phần của KNNCKH của sinh viên
T
TT
1 KN nắm vững lý luận khoa học và
phương pháp luận nghiên cứu
2,58 1 2,79 2 2,68 1
2 KN sử dụng thành thạo các phương pháp
nghiên cứu
2,51 3 2,53 3 2,52 3
3 KN sử dụng thành thạo các phương tiện
kỹ thuật, thiết bị nghiên cứu
2,44 4 2,50 4 2,47 4
4 KN thể hiện văn bản công trình KH 2,54 2 2,65 1 2,60 2
Trang 4Nhận xét: Nhìn vào bảng 2 ta thấy
- Kỹ năng NCKH của sinh viên ngành TLH (QTNS) mới đạt mức độ trung bình (với ĐTB = 2,56) Điều này chứng tỏ, để thực hiện thành công trong việc một công trình nghiên cứu khoa học, các em còn phải rèn luyện nhiều để hình thành và nâng cao
kỹ năng NCKH
- Bốn nhóm kỹ năng thành phần của kỹ năng NCKH của sinh viên ngành TLH (QTNS) đạt được ở các mức độ khác nhau: KN nắm vững lý luận khoa học và phương pháp luận nghiên cứu (ĐTB= 2,68 xếp bậc 1/4) đạt mức tương đối cao Nhóm KN thể hiện văn bản công trình khoa học (ĐTB= 2,60 xếp bậc 2/4) đạt mức trung bình Nhóm
KN sử dụng thành thạo các phương pháp nghiên cứu (ĐTB= 2,52 xếp bậc 3/4) và nhóm KN sử dụng thành thạo các phương tiện kỹ thuật, thiết bị nghiên cứu (ĐTB= 2,47 xếp bậc 4/4) đạt mức độ tương đối thấp Không có nhóm KN thành phần nào đạt mức độ cao
Nhóm KN nắm vững lý luận khoa học và phương pháp luận nghiên cứu ở vị trí cao nhất trong các nhóm kỹ năng NCKH bởi vì: Theo X.I Kixegov: “Quá trình hình thành kỹ năng gồm 5 giai đoạn Tương ứng với 5 giai đoạn là năm mức độ phát triển của KN từ thấp đến cao, đó là các mức độ: nhận thức, tái hiện, quan sát, bắt chước và hành động độc lập Việc nắm vững lý luận khoa học và phương pháp luận NCKH mới dừng ở mức độ thứ nhất - mức độ nhận thức, vì vậy SV đạt được mức độ cao ở nhóm này nhất là điều hoàn toàn dễ hiểu
Nhóm KN sử dụng thành thạo các phương tiện kỹ thuật, thiết bị nghiên cứu đạt
ở mức độ thấp nhất vì ở đây người sinh viên phải biết sử dụng các phương tiện kỹ thuật, các trang thiết bị để đi sâu nghiên cứu bản chất tâm lý người Các trang thiết bị này phục vụ cho NCKH ở trường ĐH Hồng Đức còn hạn chế, sinh viên chưa có điều kiện tiếp xúc nhiều, từ đó cũng hạn chế mức độ thuần thục của nhóm kỹ năng này
- So sánh theo khối lớp, cho thấy giữa năm thứ 3 và năm thứ 4 có sự khác biệt:
xu hướng ở cả 4 nhóm kỹ năng thành phần, sinh viên năm thứ 4 đều có mức độ đạt được cao hơn năm thứ 3 Sự khác biệt rõ nét nhất ở nhóm KN nắm vững lý luận khoa học và phương pháp luận nghiên cứu: Năm thứ 4 ĐTB = 2,79 so với năm thứ 3 ĐTB = 2,58, độ lệch = 0,21 Nhóm KN thể hiện văn bản công trình khoa học: Năm thứ 4 ĐTB
= 2,65 so với năm thứ 3 ĐTB = 2,54, độ lệch = 0,11
2.3 Biện pháp nâng cao kỹ năng NCKH của ngành TLH (QTNS)
Trang 5Qua tìm hiểu, chúng tôi được biết KN NCKH của SV ngành Tâm lý học (QTNS) trường đại học Hồng Đức chưa cao, do ảnh hưởng của nhiều nguyên nhân khác nhau:
- Về phía sinh viên: Nhiều em chưa nắm vững lý luận khoa học và phương pháp luận NCKH, kỹ năng sử dụng các phương tiện kỹ thuật, thiết bị nghiên cứu yếu, thiếu
sự say mê, nhiệt tình, hứng thú tham gia NCKH; kinh nghiệm và năng lực thực tế khi tham gia vào hoạt động NCKH còn hạn chế
- Về phía Nhà trường và đội ngũ CBGV: Kinh nghiệm và trách nhiệm của một
số cán bộ giảng viên trong hướng dẫn sinh viên NCKH; Kinh phí dành cho NCKH cũng như cơ sở vật chất, tài liệu phục vụ cho NCKH…còn hạn chế; Quy chế đào tạo theo tín chỉ không bắt buộc sinh viên phải tham gia NCKH mới được làm khóa luận tốt nghiệp…Tất cả những nguyên nhân trên ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng NCKH của sinh viên, giảm tính tích cực trong việc rèn luyện kỹ năng NCKH của sinh viên
Do vậy, để nâng cao mức độ kỹ năng NCKH của sinh viên, Nhà trường cần sử dụng đồng bộ các biện pháp để giải quyết triệt để các nguyên nhân nêu trên Sau đây là một số biện pháp:
* Tuyên truyền, vận động và nâng cao nhận thức của cán bộ giảng viên và sinh viên về vai trò, tác dụng của NCKH
- Giúp sinh viên nhận thức được ý nghĩa, tầm quan trọng, tác dụng của NCKH đối với mục tiêu đào tạo của khoa, nhà trường nói chung và đối với quá trình học tập của bản thân nói riêng
- Cung cấp cho sinh viên hệ thống kiến thức về NCKH, bao gồm lý luận khoa học và phương pháp luận NCKH, cách thức tiến hành các phương pháp nghiên cứu khoa học, các thức
sử dụng các phương tiện kỹ thuật, thiết bị nghiên cứu, các giai đoạn nghiên cứu và những nhiệm vụ cần thực hiện trong mỗi giai đoạn
- Khoa cần xác định rõ vai trò, trách nhiệm trong việc động viên, khuyến khích sinh viên tham gia NCKH Tuyên truyền, vận động để làm chuyển biến mạnh mẽ tư tưởng, nhận thức của sinh viên về hoạt động NCKH, nâng cao số lượng cũng như chất lượng các công trình NCKH
- Chú trọng công tác thông tin về sản phẩm NCKH của sinh viên, nhằm tạo cho sinh viên được tiếp cận, nghiên cứu các sản phẩm thực tế, giúp sinh viên định hướng
và lựa chọn đề tài nghiên cứu phù hợp với khả năng, ngành nghề thực tế
Trang 6* Kích thích hứng thú nghiên cứu khoa học cho sinh viên
Thông qua quá trình giảng dạy cũng như các hoạt động của Đoàn, Hội, cán bộ giảng viên cần chú ý kích thích hứng thú NCKH cho sinh viên Bởi lẽ hứng thú NCKH là điều kiện đầu tiên làm nảy sinh khát vọng NCKH của sinh viên, đồng thời cũng là động lực giúp cho các em thực hiện hoạt động NCKH một cách sáng tạo Muốn kích thích được hứng thú NCKH cho sinh viên cần phải chú ý:
- Nhà trường cần chú ý đầu tư tăng cường các điều kiện và phương tiện phục vụ cho NCKH Các điều kiện và phương tiện, đặc biệt là các phương tiện hiện đại luôn cần thiết để hỗ trợ cho quá trình nghiên cứu đạt kết quả cao Khi sử dụng các phương tiện nghiên cứu như tài liệu tham khảo, phương tiện kỹ thuật, sinh viên sẽ tăng thêm sự say mê, tính tìm tòi, nhu cầu hiểu biết
- Nhà trường nâng mức kinh phí NCKH nâng quyền lợi khi tham gia NCKH cho sinh viên, ở các cấp cho sinh viên, có phần thưởng xứng đáng hơn cho sinh viên tích cực tham gia NCKH - là cơ sở để sinh viên phấn khởi, yên tâm tham gia NCKH
* Kích thích khả năng tư duy sáng tạo cho sinh viên
Tư duy sáng tạo là cơ sở, là điều kiện cốt lõi để SV thực hiện hoạt động NCKH
vì nó được xem là quá trình học tập sáng tạo để chuyển một cách tự lập các tri thức, kĩ năng vào điều kiện, hoàn cảnh mới và nhận ra vấn đề dưới dạng quen thuộc Vì vậy, tư duy sáng tạo là điều kiện của hoạt động NCKH Để kích thích tư duy sáng tạo cho sinh viên cần thực hiện như sau:
- Rèn luyện kỹ năng độc lập suy nghĩ, suy nghĩ sâu sắc và khoa học cho sinh viên, cách suy nghĩ có phương pháp giúp sinh viên có tư duy định hướng có logic và khả năng phân tích, tổng hợp, đánh giá và suy luận
- Tạo ra các động cơ cho hoạt động sáng tạo của sinh viên Hoạt động sáng tạo diễn ra do sự thúc đẩy không chỉ một mà một hệ thống động cơ có thứ bậc Do đó, nhiệm vụ của bước này là tạo động cơ xã hội, động cơ cá nhân và động cơ quá trình một cách hợp lý trong quá trình học tập để thúc đẩy hoạt động sáng tạo cho họ
- Dạy học cách giải quyết vấn đề có thể được xem là hình thức dạy học có hiệu quả nhất để phát triển tính sáng tạo Tư duy sáng tạo là quá trình không thể thiếu trong giải quyết vấn đề và nó cũng được phát triển khi giả quyết vấn đề Tư duy sáng tạo rút ngắn thao tác của quá trình giải quyết vấn đề bằng việc sử dụng quy luật xử lý thông tin khái quát
Trang 7- Tạo động cơ cho sinh viên NCKH giúp sinh viên có những cảm xúc tích cực,
có hứng thú sâu sắc và say mê tìm tòi một cách thật tự nhiên, không gò ép, mong muốn tìm hiểu, nghiên cứu và giải quyết các vấn đề Trên cơ sở đó, sinh viên sẽ nỗ lực khắc phục khó khăn, cố gắng lao động trí óc căng thẳng, hình thành và rèn luyện tính kiên trì trong NCKH
* Tạo phong trào nghiên cứu khoa học trong sinh viên
Sinh viên có thể phát huy hết tiềm năng NCKH, nếu như Nhà trường và giảng viên biết khơi dậy ở họ lòng say mê khoa học, biết khéo léo tổ chức, động viên họ Vì thế, tạo phong trào NCKH trong sinh viên là một yêu cầu cần thiết để góp phần thực hiện mục tiêu đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao
- Hàng năm tổ chức hội nghị NCKH của sinh viên, nêu gương những điển hình sinh viên tiên tiến, đạt nhiều thành tích cao trong NCKH, có khen thưởng kịp thời
- Khoa phối hợp với đoàn thanh niên, hội sinh viên tổ chức các câu lạc bộ học thuật, tham gia các hội thảo khoa học, tổ chức in ấn các tập san, tạp chí có sự tham gia của sinh viên, qua đó khích lệ được phong trào NCKH của sinh viên
- Tổ chức hội thi sinh viên NCKH cấp khoa, trường Trên cơ sở đó lựa chọn các
đề tài có giá trị để tham gia NCKH các cấp cao hơn (cấp tỉnh, cấp bộ) Thường xuyên kiểm tra - đánh giá về thái độ, kĩ năng và những sản phẩm NCKH của SV
* Cán bộ giảng viên tích cực học tập nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp
vụ, kinh nghiệm hướng dẫn sinh viên NCKH
Chất lượng nghiên cứu của sinh viên phụ thuộc nhiều vào trình độ, kinh nghiệm hướng dẫn của giảng viên Người hướng dẫn khoa học phải là người am hiểu, có kiến thức sâu, rộng cả về lý luận và thực tiễn về môn mình phụ trách và các lĩnh vực khoa học liên quan để từ đó có thể hướng dẫn sinh viên thuận lợi và đạt hiệu quả cao Trong quá trình hướng dẫn, cán bộ hướng dẫn cần có phương pháp, bề dày kinh nghiệm NCKH sẽ giúp cho sinh viên có thói quen tư duy khoa học, sáng tạo, không những thế còn tăng cường ở sinh viên sự hứng thú, sự say mê, kiên trì trong NCKH Vì vậy, đòi hỏi mỗi cán bộ giảng dạy phải tự nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, ý thức trách nhiệm khi tham gia NCKH và hướng dẫn sinh viên NCKH
3 Kết luận
Qua khảo sát trên 210 sinh viên năm thứ ba và năm thứ 4 ngành Tâm lý học
(QTNS), bước đầu có thể kết luận:
Trang 8- Kỹ năng NCKH của sinh viên đạt mức độ trung bình Có sự khác biệt về mức
độ kỹ năng NCKH của sinh viên theo khối lớp, sinh viên năm thứ 4 có kỹ năng cao hơn năm thứ 3 do sự khác biệt vốn tri thức, kinh nghiệm, tần số luyện tập hình thành
kỹ năng
- Kỹ năng NCKH của sinh viên bao gồm 4 nhóm kỹ năng thành phần Mức độ đạt được của các kỹ năng giảng dạy thành phần không đồng đều nhau: Cao nhất là KN nắm vững lý luận khoa học và phương pháp luận nghiên cứu; Thứ hai là KN thể hiện văn bản công trình khoa học; Thứ ba là KN sử dụng thành thạo các phương pháp nghiên cứu và thấp nhất là KN sử dụng thành thạo các phương tiện kỹ thuật, thiết bị nghiên cứu
- Để hình thành kỹ năng NCKH cho sinh viên cần nâng cao nhận thức, bồi dưỡng hứng thú với hoạt động NCKH và nâng cao tính tích cực NCKH cho sinh viên, đồng thời Nhà trường cần tăng cường kinh phí dành cho NCKH cũng như cơ sở vật chất, tài liệu phục vụ cho NCKH, có những chính sách động viên, khen thưởng kịp thời đối với những sinh viên tham gia NCKH, có như vậy mới kích thích được tính tích cực NCKH của sinh viên, góp phần nâng cao kỹ năng NCKH của các em
Kết quả nghiên cứu trên sẽ là cơ sở thực tiễn để hình thành và rèn luyện các kỹ năng NCKH cho SV, từ đó để nâng cao chất lượng đào tạo nhằm giúp sinh viên có sự phù hợp và thích ứng được với nghề trong tương lai
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Lê Thị Thu Hà (2015), Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng nghiên cứu
khoa học cho sinh viên trường Đại học Hồng Đức, Báo cáo tổng kết đề tài nghiên
cứu khoa học
[2] Giáo dục học đại học (2011), Trường cán bộ quản lý GD và ĐT, Hà Nội
[3] Trần Hiệp, Đỗ Long (2009), Sổ tay Tâm lý học, Nxb KHXH, Hà Nội
[4] Kixegof.X.I (1996), Hình thành các kỹ năng và kỹ xảo sư phạm cho sinh viên
trong điều kiện của nền giáo dục đại học, Tư liệu đại học Sư phạm