Như vậy dạy học tích hợp có thể được hiểu: là việc giáo viên tổ chức, hướng dẫn để học sinh biết huy động tổng hợp kiến thức, kỹ năng thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau nhằm giải quyết có h
Trang 1TIẾP CẬN DẠY HỌC TÍCH HỢP CỦA SINH VIÊN ĐỊA LÍ TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI
TS Phạm Minh Tâm
Trường ĐH Thủ đô Hà Nội
Tóm tắt: Một trong những nhiệm vụ khó khăn hiện nay của ngành giáo dục
Việt Nam là chuyển đổi từ nền giáo dục định hướng nội dung sang định hướng phát triển năng lực cho học sinh Để phát triển năng lực học sinh, đội ngũ giáo viên cần có năng lực dạy học tích hợp Tuy nhiên, từ trước đến nay ở các trường Sư Phạm, việc đào tạo giáo viên vẫn có tính chất đơn môn, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển năng lực dạy học tích hợp Phát triển năng lực dạy học tích hợp cho sinh viên sư phạm
là nhiệm vụ quan trọng không những của trường sư phạm, mà còn của các trường phổ
thông, các cấp quản lý giáo dục và toàn xã hội
Từ khoá: giáo dục năng lực, năng lực dạy học tích hợp, sinh viên sư phạm, bài
học tích hợp liên môn
Abstract: One of the diffchlt tasks of education Vietnam is shifting from
content – oriented education to capacity development orientation for the students To develop the capacity of students, teachers need to have integrated teaching capacity However, to date in the fields of pedagogy, teacher training single subjects in nature still do not meet the requyrements of developments of integrated teaching capacity Capacity development of integrated teaching for students of pedagogy is not the important mission of the school, but also of the schools, level of management education and society as a whole
Key words: education, teaching competence, pedagogical students, lesson
integrates related dubjects
1 Mở đầu
Dạy học tích hợp đã trở thành một trào lưu sư phạm hiện đại trên thế giới Ở Việt
Nam, trào lưu sư phạm hiện đại này đã ảnh hưởng mạnh mẽ vào nước ta trong lộ trình đổi mới đồng bộ phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá ở các trường phổ thông
theo định hướng phát triển năng lực của học sinh trên tinh thần Nghị quyết 29 –
NQ/TƯ về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo Sau khi Quốc hội thông
qua Đề án đổi mới chương trình, SGK giáo dục phổ thông, Bộ Giáo dục & Đào tạo
Trang 2tiếp tục chỉ đạo các cơ sở giáo dục tăng cường bồi dưỡng, nâng cao năng lực cho độ ngũ giáo viên sẵn sàng đáp ứng mục tiêu đổi mới, trong đó tăng cường năng lực dạy
học theo hướng “tích hợp, liên môn” là một trong vấn đề cần ưu tiên
2 Nội dung
2.1 Dạy học tích hợp
2.1.1 Thế nào là dạy học tích hợp?
Dạy học tích hợp các khoa học được UNESCO định nghĩa là " một cách trình
bày các khái niệm và nguyên lý khoa học cho phép diễn đạt sự thống nhất cơ bản của
tư tưởng khoa học, tránh nhấn quá mạnh hoặc quá sớm sự sai khác giữa các lĩnh vực khoa học khác nhau" (Hội nghị phối hợp trong chương trình của UNESCO, Paris
1972)
Theo từ điển Tiếng Việt: “Tích hợp là sự kết hợp những hoạt động, chương
trình hoặc các thành phần khác nhau thành một khối chức năng Tích hợp có nghĩa là
sự thống nhất, sự hòa hợp, sự kết hợp”
Theo từ điển Giáo dục học: “Tích hợp là hành động liên kết các đối tượng
nghiên cứu, giảng dạy, học tập của cùng một lĩnh vực hoặc vài lĩnh vực khác nhau trong cùng một kế hoạch dạy học”
Như vậy dạy học tích hợp có thể được hiểu: là việc giáo viên tổ chức, hướng
dẫn để học sinh biết huy động tổng hợp kiến thức, kỹ năng thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau nhằm giải quyết có hiệu quả các nhiệm vụ học tập; thông qua nó hình thành những kiến thức kỹ năng mới; phát triển được những năng lực cần thiết, nhất là năng lực giải quyết vấn đề trong học tập và trong thực tiễn cuộc sống
Trong dạy học các bộ môn: tích hợp được hiểu là sự kết hợp, tổ hợp các nội dung từ các môn học, lĩnh vực học tập khác nhau (Theo cách hiểu truyền thống từ
trước tới nay) thành một “môn học” mới hoặc lồng ghép các nội dung cần thiết vào
những nội dung vốn có của môn học, ví dụ: lồng ghép nội dung GD dân số, GD môi
trường, GD an toàn giao thông trong các môn học Đạo đức, Tiếng Việt hay Tự nhiên
và xã hội… xây dựng môn học tích hợp từ các môn học truyền thống
2.1.2 Đặc trưng của dạy học tích hợp
Dạy học tích hợp hướng tới việc tổ chức các hoạt động học tập, trong đó HS học cách sử dụng phối hợp các kiến thức và kĩ năng trong những tình huống có ý nghĩa gần với cuộc sống Trong quá trình học tập như vậy, các kiến thức của HS từ các môn học khác nhau đuợc huy động và phối hợp với nhau, tạo thành một nội dung thống
Trang 3nhất, dựa trên cơ sở các mối liên hệ lí luận và thực tiễn được đề cập trong các môn học
đó
Trong dạy học tích hợp, người học được đặt vào những tình huống của đời sống thực tế, họ phải trực tiếp quan sát, thảo luận, làm bài tập, giải quyết nhiệm vụ đặt
ra theo cách nghĩ của mình, tự lực tìm kiếm nhằm khám phá những điều mình chưa rõ chứ không phải thụ động tiếp thu những tri thức đã được giáo viên sắp xếp Người học cần phải tiếp nhận đối tượng qua các phương tiện nghe, nhìn, và phân tích đối tượng nhằm làm bộc lộ và phát hiện ra các mối quan hệ bản chất, tất yếu của sự vật, hiện tượng Từ đó, người học vừa nắm được kiến thức vừa nắm được phương pháp thực hành Như vậy, người dạy không chỉ đơn thuần truyền đạt kiến thức mà còn hướng dẫn các thao tác thực hành
Dạy học tích hợp có các đặc trưng chủ yếu sau: làm cho các quá trình học tập có
ý nghĩa, bằng cách gắn quá trình học tập với cuộc sống hằng ngày, làm cho quá trình
học tập mang tính mục đích rõ rệt; sử dụng kiến thức của nhiều môn học và không chỉ dừng lại ở nội dung các môn học
2.1.3 Tại sao phải dạy học tích hợp?
Hiện nay, trên toàn thế giới mỗi ngày có khoảng 2000 cuốn sách được xuất bản, điều ấy đủ thấy không thể học tập như cũ và giảng dạy như cũ theo chương trình và sách giáo khoa gồm quá nhiều môn học riêng rẽ, biệt lập với nhau Mặt khác, sự phát triển của khoa học trên thế giới ngày càng nhanh, nhiều vấn đề mới dạy học cần phải đưa vào nhà trường như: Bảo vệ môi trường, GD dân số, GD pháp luật, phòng chống
ma túy, GD sức khỏe, an toàn giao thông…, nhưng quỹ thời gian có hạn, không thể
tăng số môn học lên được Việc tích hợp nội dung một số môn học là giải pháp có thể
thực hiện được nhiệm vụ giáo dục nhiều mặt cho HS mà không lo bị quá tải
Dạy học tích hợp được trình bày như một lí thuyết giáo dục, một mặt nó đóng góp vào việc nghiên cứu xây dựng chương trình, sách giáo khoa, đồng thời góp phần định hướng các hoạt động dạy học trong nhà trường Do đó việc dạy học tích hợp ở trường phổ thông có các ảnh hưởng tích cực như:
Dạy học tích hợp góp phần thực hiện mục tiêụ giáo dục toàn diện của nhà trường phổ thông:Vận dụng dạy học tích hợp là một yêu cầu tất yếu của việc thực hiện nhiệm
vụ dạy học ở nhà trường phổ thông Việc có nhiều môn học đã được đưa vào nhà trường phổ thông hiện nay là sự thể hiện quá trình thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện Các môn học đó phải liên kết với nhau để cùng thực hiện mục tiêu giáo dục nêu trên Mặt khác, hiện nay các tri thức khoa học và quan niệm xã hội của loài người phát
Trang 4triển như vũ bão trong khi quỹ thời gian cũng như kinh phí để HS ngồi trên ghế nhà
trường là có hạn, thì không thể đưa nhiều môn học hơn nữa vào nhà trường cho dù những tri thức này là rất cần thiết Chẳng hạn, ngày nay người ta nhận thấy cần thiết phải trang bị nhiều kĩ năng sống cho HS (các kiến thức về an toàn giao thông, về bảo
vệ môi trường sống, về năng lượng và sử dụng năng lượng, về định hướng nghề nghiệp ) trong khi những tri thức này không thể tạo thành môn học mới để đưa vào nhà trường vì lí do phải đảm bảo không quá tải trong học tập để phù hợp với sự phát triển của HS
Dù khác nhau về đặc trưng bộ môn, song các môn học trong nhà trường phổ thông hiện nay đều có chung nhiệm vụ là hiện thực hoá mục tiêu phát triển toàn diện
HS Có thể nêu những nét chung cơ bản của nhiệm vụ các môn học được dạy trong nhà
trường như sau: hình thành hệ thống tri thức, kĩ năng theo yêu cầu khoa học bộ môn; phát triển tư duy, năng lực sáng tạo cho học sinh phù hợp với đặc trưng môn học; giáo dục HS thông qua quá trình dạy học bộ môn (như hình thành thế giới quan duy vật biện chứng, nhân sinh quan và thái độ, phẩm chất nhân cách của người lao động mới ); góp phần giáo dục HS và chuẩn bị cho HS tham gia lao động sản xuất
Các nhiệm vụ trên chỉ có thể thực hiện được thông qua các môn học Quá trình xây dựng chương trình, sách giáo khoa các môn học đã tích hợp nhiều tri thức để thực hiện các nhiệm vụ trên, song không thể đầy đủ và phù hợp với tất cả đối tượng HS Vì vậy, trong quá trình dạy học, GV phải nghiên cứu để tích hợp các nội dung này một
cách cụ thể cho từng môn học và phù hợp với từng đối tượng HS ở các vùng miền
khác nhau Mặt khác, do cùng chung nhau các nhiệm vụ dạy học nêu trên, nên các môn học cũng có nhiều cơ hội để liên kết với nhau, tạo ra mối quan hệ liên môn
Do bản chất của mối liên hệ giữa các tri thức khoa học: Lí do cần dạy học tích
hợp các môn học trong nhà trường còn xuất phát từ chính yêu cầu phát triển của khoa học Các nhà khoa học cho rằng khoa học hiện nay đã chuyển từ giai đoạn phân tích cấu trúc lên giai đoạn tổng hợp hệ thống làm xuất hiện các liên ngành (như sinh thái học, tự động hoá ) Vì vậy, xu thế dạy học trong nhà trường là phải làm sao cho tri thức của HS xác thực và toàn diện Quá trình dạy học phải làm sao liên kết, tổng hợp hoá các tri thức, đồng thời thay thế "tư duy cơ giới cổ điển" bằng "tư duy hệ thống" Nếu nhà trường chỉ quan tâm dạy cho học sinh các khái niệm một cách rời rạc, thì nguy cơ sẽ hình thành ở học sinh các "suy luận theo kiểu khép kín", sẽ hình thành những con người "mù chức năng", nghĩa là những người đã lĩnh hội kiến thức nhưng không có khả năng sử dụng các kiến thức đó hàng ngày
Trang 5Góp phần giảm tải học tập cho học sinh:Từ góc độ giáo dục, dạy học tích hợp giúp
phát triển các năng lực, đặc biệt là trí tưởng tượng khoa học và năng lực tự duy của
HS, vì nó luôn tạo ra các tình huống để HS vận dụng kiến thức trong các tình huống
gần với cuộc sống Nó cũng làm giảm sự trùng lặp các nội dung dạy học giữa các môn học, góp phần giảm tải nội dung học tập Nhân đây cũng nên nhìn nhận giảm tải ở một góc độ khác, nghĩa là giảm tải không chỉ gắn với việc giảm thiểu kiến thức môn học, hoặc thêm thời lượng cho việc dạy học một nội dung kiến thức theo quy định Phát triển hứng thú học tập cũng có thể được xem như một biện pháp hợp lý và có ý nghĩa khi đưa các nội dung gần với cuộc sống vào môn học, từ đó tạo sự xúc cảm nhận thức cũng sẽ làm cho HS nhẹ nhàng vuợt qua các khó khăn nhận thức và việc học tập khi
đó mới trở thành niềm vui và hứng thú của HS
Từ những lí do trên, vận dụng dạy học tích hợp ở trường phổ thông là rất cần thiết
2.1.4.Các nguyên tắc tích hợp giáo dục
Tích hợp là sự kết hợp có hệ thống các kiến thức có liên quan (hay còn gọi là kiến thức cần tích hợp) và kiến thức các môn học thành một nội dung thống nhất, gắn
bó chặt chẽ với nhau dựa trên những mối liên hệ về lý luận và thực tiễn được đưa vào bài học Như vậy cần phải căn cứ vào nội dung bài học để lựa chọn kiến thức tích hợp
có liên quan
Nội dung các kiến thức tích hợp chứa đựng trong các bài học, các môn học khác nhau Do đó, GV phải xác định được nội dung cần tích hợp trong kiến thức môn học, biết cách lựa chọn, phân loại các kiến thức tương ứng, phù hợp với các mức độ tích hợp khác nhau để đưa vào bài giảng, ngoài ra do thời gian một giờ giảng trên lớp có hạn, nên GV phải biết chọn những vấn đề quan trọng, mấu chốt nhất để dạy học theo cách tích hợp, còn phần kiến thức nào dễ hiểu nên để HS tự đọc SGK hoặc các tài liệu tham khảo
Việc đưa ra các kiến thức tích hợp vào kế hoạch dạy học cần dựa vào các nguyên tắc sư phạm sau:
– Không làm thay đổi tính đặc trưng của môn học, như không biến bài dạy địa
lí thành bài giảng lịch sử, vật lí, sinh học học hay thành bài giáo dục các vấn đề khác (Môi trường, dân số, sức khỏe sinh sản, phòng chống HIV/AIDS…), nghĩa là các kiến thức được tích hợp vào phải được tiềm ẩn trong nội dung bài học, phải có mối quan hệ logic chặt chẽ trong bài học
– Khai thác nội dung cần tích hợp một cách có chọn lọc, có tính hệ thống,đặc trưng: Theo nguyên tắc này, các kiến thức tích hợp được đưa vào bài học phải có hệ thống, được sắp xếp hợp lí làm cho kiến thức môn học thêm phong phú, sát với thực
Trang 6tiễn, tránh sự trùng lặp, không thích hợp với trình độ của HS, không gây quá tải, ảnh hưởng đến việc tiếp thu nội dung chính
– Đảm bảo tính vừa sức: dạy học tích hợp phải phát huy cao độ tính tích cực và
vốn sống của HS Các kiến thức tích hợp đưa vào bài học phải làm cho bài học rõ ràng
và bài học tường minh hơn, đồng thời tạo hứng thú cho người học
2.1.5 Một số quan điểm tích hợp trong dạy học
*Tích hợp dọc, tích hợp ngang
Tích hợp dọc (vertical intergration) là loại tích hợp dựa trên cơ sở liên kết hai
hoặc nhiều môn học thuộc cùng một lĩnh vực hoặc một số lĩnh vực gần nhau
Tích hợp ngang (horizontal intergration) là loại tích hợp dựa trên cơ sở liên kết
các đối tượng học tập, nghiên cứu thuộc các lĩnh vực khoa học khác nhau xoay quanh một chủ đề
Quan niệm trên được thừa nhận khá rộng rãi trên thế giới, áp dụng vào việc xây dựng chương trình dạy học cho giáo dục phổ thông từ nhà trẻ tới lớp 12
* Tích hợp giữa các môn học:
– Tích hợp “đơn môn”: Xây dựng chương trình học tập theo hệ thống của một
môn học riêng biệt Các môn học được tiếp cận một cách riêng rẽ
– Tích hợp “đa môn”: Các môn tiếp tục được tiếp cận riêng, chỉ được sắp xếp
cạnh nhau, chưa có tương tác
– Tích hợp “liên môn”: Nội dung học tập được thiết kế thành một chuỗi vấn đề,
tình huống đòi hỏi muốn giải quyết phải huy động tổng hợp kiến thức, kỹ năng của nhiều môn học khác nhau
– Tích hợp “xuyên môn”: Nội dung học tập hướng vào phát triển những kỹ
năng, năng lực cơ bản mà học sinh có thể sử dụng vào tất cả các môn học trong việc giải quyết các tình huống khác nhau
Cần lưu ý rằng: thực hiện tích hợp không có nghĩa là các môn học tích hợp thay thế hoàn toàn các môn học riêng truyền thống đã có mà cần kết hợp chúng một cách hài hòa
*Theo Xavier Roegiers có 4 cách tích hợp môn học:
Cách 1: Những ứng dụng chung cho nhiều môn học được thực hiện ở cuối năm
học hay cuối cấp học Ví dụ: Các môn địa lý, lịch sử, GDCD vẫn được dạy riêng rẽ
nhưng đến cuối năm hoặc cuối cấp sẽ có một phần/ hoặc chương về những vấn đề chung của các khoa học tự nhiên và xã hội và thành tựu ứng dụng thực tiễn HS được đánh giá bằng một bài thi tổng hợp kiến thức
Trang 7Cách 2: Những ứng dụng chung cho nhiều môn học được thực hiện ở những
thời điểm đều đặn trong năm học Ví dụ: Các môn địa lý, lịch sử, GDCD vẫn được
giảng dạy riêng rẽ, nhưng chương trình có bố trí xen kẽ một số chương tích hợp liên môn vào chỗ thích hợp nhằm làm cho HS quen dần với việc sử dụng kiến thức những môn học gần gũi nhau
Cách 3: Phối hợp quá trình học tập những môn học khác nhau bằng đề tài tích
hợp Cách 3 có giá trị chủ yếu ở tiểu học
Cách 4: Phối hợp quá trình học tập những môn học khác nhau bằng các tình
huống tích hợp, xoay quanh những mục tiêu chung cho một nhóm môn học, tạo thành môn học tích hợp Ví dụ: môn tự nhiên và xã hội ở tiểu học hoặc môn khoa học tự
nhiên ở trung học cơ sở, tuy rằng ở trung học cơ sở việc áp dụng cách 4 cũng gặp không ít khó khăn
2.2 Bài học tích hợp liên môn
2.2.1.Thế nào là bài học tích hợp?
Hình thức cơ bản của việc tổ chức quá trình dạy học trong nhà trường phổ
thông là bài học (còn gọi là bài lên lớp ), thông qua bài học để dạy cho học sinh kiến
thức, kĩ năng, kĩ xảo và phát triển những năng lực nhận thức của các em
Có nhiều cách hiểu khác nhau về bài học, các nhà LLDH bộ môn thì xem xét
bài học về mặt phương pháp, khi nghiên cứu những vấn đề của bài học với đặc thù của
bộ môn cụ thể; Các nhà tâm lí học thường xem bài học về phương diện những động cơ
và cơ chế của việc học tập Nếu xét về phương diện các thành phần cấu tạo bài học thì ta có thể hiểu một cách đơn giản: bài học được cấu thành bởi các thành tố: chủ đề
học tập - nội dung học tập – Các kĩ năng, kĩ xảo cần đạt, được biểu hiện bởi sơ đồ sau:
Tiếp cận với mô hình (bài học truyền thống) này ta có thể hiểu về bài học tích
hợp: đó là việc người giáo viên phải xác định được chủ đề bài học mang tính tích
Kĩ năng, kĩ xảo cần
đạt
Chủ đề học tập
Nội dung học
tập
Trang 8hợpxác định những kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo của nhiều môn học có liên quan đến chủ đề bài họcxây dựng thành bài học tích hợp
Việc phát triển năng lực và phẩm chất của người học được thực hiện trong các môn học của nhà trường phổ thông chỉ có thể thành công được khi nó thâm nhập đến cấp độ bài học Bài học tích hợp liên môn giúp học sinh biết huy động tổng hợp kiến thức, kĩ năng thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau nhằm giải quyết các nhiệm vụ học tập; thông qua đó hình thành những kiến thức, kĩ năng mới; phát triển được những năng lực cần thiết, nhất là năng lực giải quyết vấn đề trong học tập và trong thực tiễn cuộc sống
2.2.2 Sự khác biệt giữa bài học truyền thống với bài học tích hợp liên môn
Chủ đề bài
học
Quy định logic khoa học của nội
dung đề tài bài học của một môn học
Quy định logic khoa học của nội dung đề tài bài học liên quan đến nhiều môn học
Nội dung học
tập
Mang đặc trưng kiến thức của
bộ môn
Mang đặc trưng kiến thức có tính liên môn
Kĩ năng, kĩ
xảo
Chủ yếu mang đăc trưng của
Mục tiêu dạy
học
Trang bị cho người học những kiến thức, kĩ năng học tập của
bộ môn
Hình thành các năng lực cho người học
2.3 Sinh viên Địa lí Trường Đại học Thủ đô Hà Nội tiếp cận việc thiết kế bài học tích hợp liên môn
2.3.1 Tiếp cận quy trình thiết kế bài học tích hợp liên môn
Khi thiết kế và tổ chức bài học tích hợp có thể tiến hành theo các bước sau:
Bước 1: Xác định chủ đề của bài học tích hợp mà giáo viên sẽ dạy
với cách làm như sau:
Trang 9- Về phương diện “chương trình”: Rà soát chương trình các môn học có liên
quanXác định các chủ đề trùng nhauLiệt kê danh sách các chủ đềChia sẻ, thảo luận và thống nhất các chủ đề trong phạm vi chương trình
- Về phương diện “môn học”: Xuất phát từ một nội dungKết nối nội dung với
các sự vật, hiện tượng thực tiễnPhân tích sự vật, hiện tượng thực tiễnChỉ ra các kiến thức, kỹ năng có trong các môn học có liên quanLiệt kê danh sách các chủ đềThảo luận và thống nhất các chủ đề
- Về phưong diện “môn học công cụ: Lựa chọn chủ đề trong môn họcSử
dụng các môn học công cụ tích hợp dạy học chủ đề
Bước 2: Rà soát chương trình, SGK để tìm ra những nội dung dạy học của các
môn học khác nhau có liên quan tới chủ đề của bài học tích hợp, để từ đó xác định có
bao nhiêu môn học đóng góp vào nội dung bài học tích hợp
Bước 3: Dự kiến thời gian cho bài học tích hợp (số tiết học)
Bước 4: Xác định mục tiêu của bài học tích hợp bao gồm: kiến thức, kĩ năng,
thái độ, định hướng năng lực hình thành
Bước 5: Xây dựng nội dung bài học tích hợp (Căn cứ vào thời gian dự kiến,
mục tiêu, thậm chí cả đặc điểm tâm sinh lí và yếu tố vùng miền để xây dựng nội dung cho phù hợp)
Bước 6: Xây dựng kế hoạch bài học tích hợp (chú ý tới các phương pháp dạy
học nhằm phát huy tính tích cực của người học)
2.3.2 Thiết kế bài học tích hợp liên môn theo chủ đề “Chất thải nguy hiểm”lấy môn Địa lí làm chủ đạo
a Cơ sở tích hợp
1 Địa lí Con người và
môi trường địa lí
Bài 21 - lớp 8
Nhận biết tác động của con người thông qua hoạt động sản xuất nông nghiệp và công nghiệp tới môi trường: đất, nước, không khí
2 Lịch sử
Các nước Anh, Pháp, Đức, Mĩ cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX
Bài 6 - lớp 8
Nhận biết sự phát triển của một số ngành sản xuất (nông nghiệp, công nghiệp) của một số nước tư bản tiêu biểu cuối thế kỉ XIX đầu
Trang 10thế kỉ XX
3 Sinh học Hô hấp và các
cơ quan hô hấp
Bài 20 - lớp 8
Nhận biết được quá trình hô hấp
và vai trò của các cơ quan hô hấp
4 Hoá học Không khí Sự
cháy
Bài 28 - lớp 8
Biết được tỉ lệ thành phần của không khí từ đó có trách nhiệm bảo vệ không khí trong lành
b Nội dung
Hoạt động 1:Khởi động
GV đặt vấn đề: Môi trường nơi chúng ta đang sinh sống, không chỉ là nơi
cung cấp điều kiện vật chất cho sản xuất và đời sống, mà môi trường còn là nơi chứa các chất thải do con người thải ra Mọi phế liệu phế thải của sinh hoạt và sản xuất đều thải vào môi trường Các chất thải này có thể là: chất thải sinh hoạt của con người - chất thải công nghiệp - chất thải nông nghiệp - chất thải giao thông vận tải Trong đó có nhiều chất thải rất nguy hiểm ảnh hưởng rất lớn đến sức khoẻ của con người Đây cũng chính là nội dung của bài học mà chúng ta nghiên cứu trong giờ học này với chủ đề:
CHẤT THẢI NGUY HIỂM
Hoạt động 2: Tìm hiểu các chất thải nguy hiểm trong sản xuất
GV đặt vấn đề:Hoạt động sản xuất nông nghiệp và công nghiệp bên cạnh tác
động tích cực là thúc đẩy xã hội loài người không ngừng phát triển, thì phế thải củacác hoạt động này cũng đã tác động không nhỏ đến môi trường tự nhiên và đời sống của con người Đây cũng chính là nội dung sản phẩm mà nhóm 1 sẽ trình bày:
- Sử dụng kiến thức môn
Địa lí để tìm hiểu các chất
thải nguy hiểm trong sản
xuất
- Nhóm 1 trình bày sản
phẩm của dự án
I Các chất thải nguy hiểm trong sản xuất
1 Hoạt động nông nghiệp với môi trường địa lí
- Nội dung bức ảnh a: hoạt động trồng lúa mì ở
vùng thảo nguyên ôn đới
- Nội dung bức ảnh b: hoạt động trồng chuối trong
các trang trại vùng nhiệt đới ẩm