1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

QUY TRÌNH VẬN HÀNH MỘT TRANG TRẠI NUÔI CÁ BIỂN QUY MÔ CÔNG NGHIỆP, HIỆN ĐẠI

81 839 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 3,79 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhiều loài cá có giá trị kinh tế đã và đang được nghiên cứu nuôi như: cá mú Epinephelus spp, cá giò Rachycentron canadum, cá hồng Lutjanus spp cá hồng Mỹ Scyaenops ocellatus, cá chẽm Lat

Trang 1

VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN I

TRƯỜNG TRUNG CẤP NGHỀ NINH HÒA

DỰ ÁN NÂNG CAO NĂNG LỰC NGHIÊN CỨU, ĐÀO TẠO VÀ KHUYẾN NGƯ

CHO VIỆN NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG THỦY SẢN I

PHA 3 - NÂNG CAO NĂNG LỰC NGHỀ NUÔI CÁ BIỂN VIỆT NAM

Trang 2

MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG 4

DANH MỤC hÌNH 5

LỜI NÓI ĐẦU 7

BÀI 1: CÁC LOÀI CÁ BIỂN PHÙ HỢP ĐỂ PHÁT TRIỂN NUÔI CÔNG NGHIỆP 8

1.1 TÌNH HÌNH KHAI THÁC, NUÔI THUỶ SẢN TRÊN THẾ GIỚI 8

1.2 CÁC LOÀI CÁ BIỂN NUÔI TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM 11

1.2.1 Thế giới 11

1.2.2 Khu vực Châu Á-Thái Bình Dương 11

1.2.3 Việt Nam 15

1.3 CÁC LOÀI CÁ PHÙ HỢP CHO NUÔI BIỂN Ở QUY MÔ CÔNG NGHIỆP 18

1.3.1 Các tiêu chí chọn loài cá biển phù hợp nuôi với quy mô công nghiệp: 18

1.3.2 Các loài cá phù hợp để nuôi với quy mô công nghiệp: 18

1.4 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CHỦ YẾU CỦA CÁC LOÀI CÁ BIỂN NUÔI CÔNG NGHIỆP 19

1.4.1 CÁ GIÒ (CÁ BỚP) Rachycentron canadum (Linnaeus, 1766) 19

1.4.2 CÁ CHIM VÂY VÀNG Trachinotus blochii (Lacepède, 1801) 25

1.4.3 CÁ CHẼM (CÁ VƯỢC) Lates calcarifer (Bloch, 1790) 29

1.4.4 CÁ HỒNG (Lutjanus spp) 35

1.4.5 CÁ MÚ (CÁ SONG) (Epinephelus spp) 39

1.4.6 CÁ HỒNG Mỹ Sciaenops ocellatus (Linnaeus, 1766) 45

1.5 CÁC CÔNG NGHỆ NUÔI HIỆN NAY 48

BÀI 2 - KỸ THUẬT ƢƠNG VÀ VẬN CHUYỂN CÁ GIỐNG 51

2.1 KỸ THUẬT ƢƠNG GIỐNG CÁ BIỂN 51

2.1.1 Nguồn gốc cá giống 51

2.1.2 Kỹ thuật ương cá hương lên cá giống 51

2.1.3 Kiểm tra bệnh do ký sinh trùng (KST) 55

2.1.4 Chọn giống và định lượng cá giống 57

2.2 KỸ THUẬT VẬN CHUYỂN VÀ THẢ GIỐNG 57

2.2.1 Phương pháp vận chuyển kín 57

2.2.2 Phương pháp vận chuyển hở 58

2.2.3 Tắm cá giống trước khi thả nuôi 59

2.2.4 Thả giống 59

BÀI 3 - THỨC ĂN VÀ KỸ THUẬT CHO CÁ ĂN 61

3.1 LỰA CHỌN THỨC ĂN 61

3.2 LƢỢNG THỨC ĂN VÀ KỸ THUẬT CHO CÁ ĂN 63

3.3 THEO DÕI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA ĐÀN CÁ NUÔI 64

Trang 3

3.4 PHÂN CỠ CÁ 64

BÀI 4 - BẢO TRÌ VÀ VẬN HÀNH hỆ THỐNG LỒNG NUÔI 66

4.1 BẢO TRÌ LỒNG NUÔI 66

4.1.1 Kiểm tra túi lưới và lưới bảo vệ lồng 66

4.1.2 Loại bỏ cá chết khỏi vùng nuôi 67

4.1.3 Kiểm tra định vị lồng nuôi 67

4.1.4 Kiểm tra, bảo dưỡng và vệ sinh lồng 67

4.2 VẬN HÀNH HỆ THỐNG LỒNG NUÔI 68

4.2.1 Thay túi lưới lồng nuôi 68

4.2.2 Giám sát môi trường vùng nuôi 69

4.2.3 Chuyển cá sang lồng nuôi mới 70

4.2.4 Bảo vệ hệ thống lồng nuôi 71

BÀI 5 - THU HOẠCH VÀ sƠ CHẾ SAU THU HOẠCH 72

5.1 THU HOẠCH 72

5.2 SƠ CHẾ BẢO QUẢN SAU THU HOẠCH 73

BÀI 6 - CÁC HOẠT ĐỘNG HẬU CẦN TRÊN BỜ 74

6.1 QUẢN LÝ TÖI LƯỚI LỒNG NUÔI 74

6.2 MỘT SỐ CÔNG TÁC KHÁC 75

BÀI 7 - LƯU GIỮ HỒ SƠ 76

7.1 BÁO CÁO KIỂM TRA LƯỚI, PHAO, LỒNG, NEO ĐẬU 76

7.2 GHI CHÉP VỀ THỨC ĂN VÀ QUẢN LÝ THỨC ĂN 77

7.3 GHI CHÉP TÌNH TRẠNG SỨC KHOẺ CỦA CÁ 77

7.4 GHI CHÉP DIỄN BIẾN CÁC YẾU TỐ MÔI TRƯỜNG, THỜI TIẾT VÙNG NUÔI 78

THI KẾT THÚC KHÓA HỌC 79

TÀI LIỆU THAM KHẢO 80

Trang 4

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1: Sản lượng khai thác, nuôi và sử dụng thuỷ sản trên thế gới 8

năm 2006-2011 (triệu tấn) 8

Bảng 1.2: Sản lượng thuỷ sản nuôi khu vực châu Á so với thế giới năm 2010 9

Bảng 1.3: Tốp 10 nước xuất, nhập khẩu cá và các sản phẩm thuỷ sản trên thế giới (triệu USD) 9

Bảng 1.4: Một số loài cá biển có giá trị kinh tế được nuôi tại Châu Á 11

Bảng 1.5: Một số loài cá biển đang được nuôi tại Việt Nam 15

Bảng 2.1: Cỡ cá nuôi (theo chiều dài) và cỡ mắt lưới của túi lồng nuôi 60

Bảng 2.2: Cỡ cá giống và mật độ nuôi 60

Bảng 3.1: So sánh thức ăn công nghiệp với cá tạp 61

Bảng 3.2: Cỡ thức ăn phù hợp theo từng giai đoạn của cá 62

Bảng 5.1: Cỡ thương phẩm đối với các đối tượng nuôi khác nhau 72

Bảng 7.1: Công việc cần thực hiện trong ngày 76

Bảng 7.2: Nhật ký cho cá ăn theo các lồng nuôi 77

Bảng 7.3: Theo dõi khối lượng cá 78

Bảng 7.4: Kết quả theo dõi các yếu tố môi trường vùng nuôi 79

Trang 5

DANH MỤC HÌNH

Hình 1 1: Nhóm đối tượng cá biển và sản lượng nuôi năm 2010 trên thế giới 11

Hình 1 2: Lồng nuôi cá biển thương phẩm (A: lồng khung gỗ, B: lồng Nauy) 17

Hình 1 3: Hình thái ngoài cá giò (Rachycentron canadum) 19

Hình 1 4: Phân bố địa lý của cá giò (Rachycentron canadum) 21

Hình 1 5: Cá chim vây vàng ( Trachinotus blochii) 26

Hình 1 6: Phân bố địa lý của cá chim vây vàng (Trachinotus blochii) 27

Hình 1 7: Hình dạng ngoài cá chẽm (Lates calcarifer) 29

Hình 1 8: Phân bố địa lý của cá chẽm (Lates calcarifer) 30

Hình 1 9: Sơ đồ di cư của cá chẽm Lates calcarifer (Bloch, 1790) 31

Hình 1 10: Cá hồng bạc Lutjanus argentimaculatus (Forsskal, 1775) 36

Hình 1 11: Hình thái ngoài cá hồng (L erythropterus) 36

Hình 1 12: phân bố địa lý của cá hồng 37

Hình 1 13: Cá mú (Epinephelus bleekeri) 39

Hình 1 14: E Merra 40

Hình 1 15: E fuscoguttatus 40

Hình 1 16: Cromileptes altivelis 41

Hình 1 17: Cá hồng Mỹ Sciaenops ocellatus (Linnaeus, 1766) 46

Hình 1 18: Phân bố địa lý của cá hồng Mỹ 47

Hình 2 1: Cấu trúc ao đặt mương nổi và mương nổi 53

Hình 2 2: Hoạt động của hệ thống mương nổi 54

Hình 2 3: Hệ thống lồng ương giống cá biển 55

Hình 2 4: Trùng bánh xe (Trichodina rostrata) và sán lá đơn chủ 56

Hình 2 5: Bơm oxy, đóng túi nylon vận chuyển cá giống 58

Hình 3 1: Thức ăn công nghiệp cho cá biển 62

Hình 3 2: Các yếu tố ảnh hưởng đến hệ số chuyển đổi thức ăn FCR 63

Trang 6

Hình 3 3: Cho cá ăn bằng tay và máy tự động 64

Hình 3 4: Lọc phân cỡ cá bằng sàng và bằng máy tự động 65

Hình 4 1: Cá kiếm và cá nóc là địch hại làm rách lưới lồng nuôi 66

Hình 4 2: Lưới lồng bị rách 66

Hình 4 3: Thu cá chết trong lồng nuôi 67

Hình 4 4: Lặn kiểm tra tổng thể lồng hàng ngày 68

Hình 4 5: Vệ sinh khung lồng, loại bỏ sinh vật bám 68

Hình 4 6: Kiểm tra phao, dây, neo và lưới lồng nuôi 68

Hình 4 7: Lưới lồng bị sinh vật bám trên bề mặt 69

Hình 4 8: Thay lưới và giặt túi lưới 69

Hình 4 9: Thay lưới và chuyển cá sang lưới lồng mới 70

Hình 4 10: Vận chuyển cá bằng bể nổi (A) và bằng túi lưới (B) 70

Hình 4 11: Hệ thống phao cảnh báo vùng nuôi 71

Hình 6 1: Kiểm tra an toàn lưới và vá lưới 74

Trang 7

LỜI NÓI ĐẦU Việt Nam có bờ biển dài hơn 3.260km, có nhiều đảo tạo nên nhiều vùng biển, eo

biển, vũng vịnh kín gió, nhiều đầm phá rộng lớn, rất thuận lợi cho việc phát triển nuôi

cá biển Đặc biệt là nuôi cá biển bằng lồng Tuy nhiên, nghề nuôi cá biển chỉ mới đóng góp một phần nhỏ (dưới 1%) so với tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu của nghề cá nói chung Nguyên nhân chủ yếu là chúng ta chưa tập trung nghiên cứu các đối tượng cá nuôi nước lợ mặn Nghề nuôi cá biển ở nước ta hiện nay chủ yếu là thu gom và nuôi giữ sống bằng lồng nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm để xuất khẩu Các loài cá kinh

tế đã và đang được nuôi, mặc dù đã nghiên cứu sản xuất giống nhân tạo, nhưng số lượng chưa nhiều, chủ yếu lấy giống từ tự nhiên và nhập ngoại Số lượng và chất lượng không ổn định, chưa có quy trình nuôi cụ thể cho từng loài

Bên cạnh việc quy hoạch và định hướng phát triển nuôi trồng thủy sản bền vững, nghề nuôi cá biển ở nước ta bắt đầu có những bước phát triển đáng kể Nhiều loài cá

có giá trị kinh tế đã và đang được nghiên cứu nuôi như: cá mú (Epinephelus spp), cá giò (Rachycentron canadum), cá hồng (Lutjanus spp) cá hồng Mỹ (Scyaenops ocellatus), cá chẽm (Lates calcarifer), cá chim vây vàng (Trachinotus blochii)…Một

số đối tượng đã được đưa vào sản xuất trên qui mô lớn, góp phần vào việc tăng sản phẩm xuất khẩu và đáp ứng nhu cầu tiêu thụ nội địa Các loài thuộc họ cá sơn biển Centropomidae đã được nghiên cứu trên nhiều khía cạnh khác nhau Hiện đã có qui trình sản xuất giống nhân tạo và nuôi thương phẩm hoàn thiện

Để phát triển mạnh nghề nuôi cá biển bằng lồng, cần phải tập trung nghiên cứu nhiều vấn đề Trong đó nghiên cứu sản xuất giống nhân tạo và kỹ thuật nuôi công nghiệp trên biển là một trong những nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu, nhằm đáp ứng nhu cầu con giống cho nuôi thương phẩm và tạo ra nhiều nguồn hàng hóa cá biển nuôi xuất khẩu, góp phần thúc đẩy nghề nuôi cá biển ở Việt Nam phát triển trong những năm tới,

thực hiện theo quyết định: "Quy hoạch phát triển nuôi cá biển đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020" phê duyệt ngày 08 tháng 07 năm 2011 của Bộ Nông nghiệp và

Phát triển Nông thôn

Trang 8

BÀI 1: CÁC LOÀI CÁ BIỂN PHÙ HỢP ĐỂ PHÁT TRIỂN NUÔI CÔNG

NGHIỆP

1.1 TÌNH HÌNH KHAI THÁC, NUÔI THUỶ SẢN TRÊN THẾ GIỚI

Trong thời gian từ năm 2006 đến 2011, tổng sản lượng khai thác thuỷ sản không

có nhiều biến động, dao động trong khoảng 88,6 – 90,4 triệu tấn (bảng 1.1) Xu hướng khai thác cá nội địa tăng nhẹ với hơn 1,5 triệu tấn trong thời gian này, nhưng xu hướng khai thác cá biển giảm dần hàng năm, tương đương với khoảng 1,5 triệu tấn (FAO, 2012) Tuy nhiên, sản lượng thuỷ sản nuôi lại tăng đều hàng năm, kể cả nuôi thuỷ sản nội địa và nuôi biển Tổng sản lượng thuỷ sản nuôi dao động từ 47,3 đến 63,6 triệu tấn, tăng khoảng 16,3 triệu tấn trong vòng 6 năm qua, bình quân 2,72 triệu tấn/năm Sản lượng cá biển nuôi chiếm từ 30-34% trong tổng sản lượng nuôi thuỷ sản thế giới (FAO, 2012)

Bảng 1.1: Sản lƣợng khai thác, nuôi và sử dụng thuỷ sản trên thế gới

Trang 9

Ghi chú: số liệu không bao gồm thực vật thuỷ sinh Số liệu chỉ mang tính ước lượng vào năm 2011 Nguồn: FAO, 2012

Sản lượng cá từ khai thác và nuôi trồng được con người sử dụng làm thực phẩm

có xu hướng tăng nhẹ, chiếm từ 83 đến 86% tổng sản lượng Con người sử dụng bình quân từ 17,4 kg/người/năm (năm 2006) tăng đến 18,8 kg cá/người/năm (năm 2011)

Bảng 1.2: Sản lượng thuỷ sản nuôi khu vực châu Á so với thế giới năm 2010

(tấn)

Tỷ lệ % châu Á

Tỷ lệ % thế giới

Trung Quốc là quốc gia đứng đầu trong các nước châu Á (chiếm 68,92% Châu Á

và 61,35% thế giới) về sản lượng nuôi trồng thuỷ sản Việt Nam là nước đứng hàng thứ 3 về sản lượng thuỷ sản nuôi, chiếm 5,01% Châu Á và 4,46% thế giới (bảng 1.2)

Bảng 1.3: Tốp 10 nước xuất, nhập khẩu cá và các sản phẩm thuỷ sản trên thế giới

Trang 11

1.2 CÁC LOÀI CÁ BIỂN NUÔI TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM

1.2.1 Thế giới

Hình 1 1: Nhóm đối tượng cá biển và sản lượng nuôi năm 2010 trên thế giới

(x 1.000 tấn) Nguồn: FAO, 2012

Trên thế giới, có khoảng 12 nhóm cá biển đang được nuôi thương phẩm ở các quy

mô khác nhau trong môi trường nước mặn Thống kê năm 2010 cho thấy, sau nhóm cá chưa xác định (hoặc chưa xếp nhóm) thì sản lượng nuôi đối với nhóm cá cam, cá chim

và cá thu chiếm sản lượng lớn (gần 200 ngàn tấn), tiếp theo là nhóm cá đù, cá tráp, cá song, cá giò, dao động từ khoảng 50 đến 170 ngàn tấn (hình 1.1)

1.2.2 Khu vực Châu Á-Thái Bình Dương

Bảng 1.4: Một số loài cá biển có giá trị kinh tế được nuôi tại Châu Á

Loan

Trung Quốc

Thái Lan Indonesia Malaysia

Trang 12

japonicus)

7 Cá vược Nhật Bản

(Lateolabrax japonicas)

+

12 Cá song chấm đen (E

hiện có trên 700 ngàn lồng, đối tượng nuôi trên 50 loài Trung Quốc đã nghiên cứu

Trang 13

thiết kế 4 loại lồng nuôi cá biển sâu tránh sóng gió, kết quả năng suất bình quân đạt 14,4 kg cá/m3 lồng Mỗi lồng nuôi đạt sản lượng 18.720kg tương đương với 60 lồng truyền thống cộng lại Tỷ lệ sống của cá đạt 95% trở lên Năm 2009 đạt 875 nghìn tấn, giá trị gần 01 tỷ USD

Nhật Bản cũng là nước có công nghệ sản xuất giống cá biển hiện đại, trình độ cao

và đứng hàng thứ 2 với 256.000 tấn sản lượng/năm, nhưng lại đứng đầu về giá trị với hơn 2 tỷ USD, vì đối tượng nuôi chủ yếu là các loài có giá trị kinh tế cao Nhật Bản hiện đang chiếm 22% tổng sản lượng cung cấp của toàn khu vực nhưng giá trị sản lượng cá biển của Nhật Bản chiếm đến gần 50% Trong đó, chiếm ưu thế là cá cam

(Seriola quinqueradiata), cá tráp đỏ (Chrysophrys major) Sản lượng cá biển nuôi ở

Nhật Bản tăng từ 150.068 tấn năm 2004 lên 159.741 tấn năm 2005, và giá trị tương ứng tăng từ 1,276 tỷ USD lên 1,359 tỷ USD

Hàn Quốc đứng thứ ba về giá trị tổng sản lượng cá biển nuôi 80.522 tấn, với 698 triệu USD (năm 2010) Đối tượng nuôi chủ yếu hiện nay ở Hàn Quốc cũng là cá cam

(Seriola quinqueradiata)

Đài Loan nuôi trong điều kiện nhân tạo được hàng chục loài cá biển, trong đó nhiều

loài có giá trị xuất khẩu như cá mú, cá hồng, cá chẽm…Đối tượng nuôi khá phong

phú: cá chẽm (Lates calcarifer), cá tráp đen (Acanthopagrus macrocephalus) được

nuôi rộng rãi với sản lượng 10 nghìn tấn/năm (2005) Giá cá sống 8-9 USD/kg Cá mú

(Epinephelus spp) có giá trị kinh tế cao, sản lượng 2 – 4 nghìn tấn/năm Giá cá sống 20 – 22 USD/kg Ngoài ra, còn nuôi cá hồng (Lutjanidae), sản lượng 190 tấn, cá tráp đỏ (Pagrus major) 110 tấn, cá tráp (Sparidae) 1,133 nghìn tấn (2006) Đài Loan đã tập

trung phát triển nghề nuôi cá lồng trên biển Tính đến năm 2010 có khoảng 2.000 lồng với các kích cỡ khác nhau được đặt ở ven biển và ngoài khơi, trong đó trên 80% số

lồng được sử dụng để nuôi cá giò (Rachycentron canadum) Còn lại nuôi một số loài khác như cá mú chấm cam (Epinephelus coioides), cá hồng (Lutjanus erythropterus), cá hồng bạc (Lutjanus argentimaculatus), cá tráp đỏ (Pagrus major)…Sản lượng cá biển nuôi

đạt trên 100 nghìn tấn/năm

Đông Nam Á là khu vực có sản lượng nuôi cá biển rất lớn, nhưng sản phẩm chủ

yếu là cá măng biển ít có giá trị xuất khẩu Cá măng (Chanos chanos) hiện vẫn là đối

Trang 14

tượng chủ yếu trong nghề nuôi cá biển của Indonesia và Philippines Sản lượng nuôi

cá măng tăng từ 514.666 tấn năm 2004 lên 542.842 tấn năm 2005

Thái Lan là nước có điều kiện thiên nhiên, môi trường biển thuận lợi, nghề nuôi cá biển đã phát triển hơn 2 thập kỷ qua, sản lượng tăng ổn định Hai đối tượng nuôi chính

là cá chẽm (Lates calcarifer) và cá mú (Epinephelus spp) Khu vực nuôi cá chẽm chủ

yếu ở vùng cửa sông và trong các đầm phá ven biển, còn khu vực nuôi cá mú là vùng biển ven bờ, trong các eo ngách, vũng vịnh để tránh bão và sóng lớn

Đối tượng quan trọng nhất hiện nay là cá chẽm (Lates calcarifer) được nuôi ở Thái

Lan, Indonesia, Malaysia, Philippines…sản lượng 2.000 – 3.000 tấn/năm ở mỗi nước Sản lượng nuôi cá chẽm năm 2005 tương đối ổn định ở mức 26.584 tấn, chỉ tăng nhẹ

so với 25.399 tấn năm 2004 Cá mú (Epinephelus spp) tăng từ 59.146 tấn năm 2004 lên 65.362 tấn trong năm 2005, tỷ lệ tăng 11% Trong giai đoạn 2004 – 2005, sản lượng cá giò nuôi tăng từ 20.461 tấn lên 22.745 tấn Malaysia có nghề nuôi cá hồng

xuất khẩu, chủ yếu là loài Lutjanus argentimaculatus đạt sản lượng khá, khoảng 3

nghìn tấn/năm (2005) Giá cá sống 6 – 6,5 USD/kg Singapore đang liên doanh với một tập đoàn nuôi cá vược của Hy Lạp để đẩy mạnh, phát triển nuôi cá vược Philippines liên doanh với Nhật thí nghiệm nuôi cá ngừ vây vàng bằng lồng đặt ở những vùng biển xa bờ [34]

Australia cũng là nước có nghề nuôi cá biển phát triển và đã đạt được những bước

tiến đáng kể Đối tượng nuôi chính là cá hồi đại dương (Atlantic Salmon) (Salmo salar) và cá ngừ vây xanh (Southern Bluefin Tuna) (Thunnus maccoyii) với sản lượng

12.000 tấn, đạt xấp xỉ 150 triệu AUD hàng năm Ngoài ra một số loài như cá hồi

(Oncorhynchus mykiss), cá tráp (Pagrus auratus), cá hồng (Lutjanus erythropterus),

cũng đang được nuôi lồng trên biển với sản lượng đạt 11,8 tấn năm 1998 (Gooley và ctv, 2000) Với tốc độ phát triển nhanh, năm 2010 Australia đạt 2,5 tỷ AUD từ nghề nuôi cá biển công nghiệp, trong đó nuôi cá hồi đạt 1 tỷ AUD và cá ngừ 300 triệu AUD [31], [79]

Từ những dẫn liệu trên, cho thấy nghề nuôi cá biển của nhiều nước trên thế giới -

được xem như một "ngành công nghiệp dưới nước"- có tốc độ phát triển nhanh và đạt

kết quả lớn từ nhiều năm nay

Trang 15

Bảng 1.5: Một số loài cá biển đang đƣợc nuôi tại Việt Nam

nuôi

Nguồn giống

Địa điểm/ vùng nuôi

1 Cá song/mú (Epinephelus spp) Lồng, ao Tự nhiên,

6 Cá ngựa (Hippocampus spp) Bể xi măng Nhân tạo KH

7 Cá vược (Lates calcarifer) Lồng, ao Nhân tạo VT, KG, KH

Năm 1992 – 1995, Viện Nghiên cứu Hải sản Hải Phòng đã nghiên cứu và nuôi cá

mú thương phẩm bằng lồng bè trên biển đảo Cát Bà (Hải Phòng) Cỡ cá thả với chiều

Trang 16

dài và khối lượng trung bình là 22,6 cm và 185g Sau 5 – 6 tháng nuôi, cá đạt 600 – 1.400 g/con, tốc độ tăng trưởng 60 – 80g/tháng, hệ số thức ăn (cá tạp) 8,3 [2], [31]

Theo thống kê, năm 1995 cả nước có khoảng 636 lồng bè nuôi cá biển và sản lượng ước tính đạt khoảng 123 tấn Đến năm 1999, sản lượng cá biển mới đạt 5.000 tấn và năm 2000 số lượng lồng bè trong cả nước khoảng 1.000 lồng với tổng sản lượng đạt khoảng 6.000 tấn [31]

Bảng 1.6: Số lƣợng lồng và sản lƣợng cá biển nuôi từ 2001 – 2010

Số lượng lồng (chiếc) 3.990 7.880 23.382 30.012 36.889

tổng số lồng nuôi trên biển là 3.990 lồng, đến năm 2003 đã đạt 7.880 lồng, tốc độ tăng trưởng bình quân năm 18,4%/năm Trong khi đó, sản lượng cá biển nuôi năm 2001 đạt 2.150 tấn, năm 2003 là 4.060 tấn, năm 2006 có 23.382 lồng, đạt 11.728 tấn, tốc độ tăng 19,8%/năm, năm 2007 tăng lên 15.000 tấn, và có 30.012 lồng nuôi Năm 2010 36.889 lồng, sản lượng đạt 18.957 tấn cá các loại Các vùng nuôi cá biển tập trung chủ yếu ở các tỉnh phía Bắc như Quảng Ninh, Hải Phòng, Nghệ An với tổng số lồng nuôi các loại khoảng gần 15.200 lồng, hoặc các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ như Phú Yên, Khánh Hoà, Ninh Thuận, Bình Thuận với tổng số lồng nuôi khoảng gần 3.530 lồng các loại Ở miền Nam nuôi chủ yếu khu vực Bà Rịa – Vũng Tàu với khoảng 5.000 lồng và sản lượng đạt 3.500 tấn vào năm 2006 Đối tượng nuôi lồng chủ yếu của phía Bắc là cá mú, cá giò, hồng Mỹ, tráp, còn ở khu vực miền Trung, miền Nam là

cá mú, cá giò, cá chẽm, cá chim

Ngoài ra, khu vực Tây Nam Bộ cũng bắt đầu nuôi cá biển bằng lồng bè với các đối tượng nuôi là cá mú, cá giò, tập trung chủ yếu ở tỉnh Kiên Giang Số lượng lồng nuôi cũng gia tăng khá nhanh, năm 2007 mới chỉ có 131 lồng, đạt sản lượng

90 tấn, tập trung ở vùng biển Hòn Tre xã Nam Du (huyện Kiên Hải), xã Hòn Nghệ

và xã Sơn Hải (huyện Kiên Lương), xã Tiên Hải (thị xã Hà Tiên), Hòn Thơm, Gành

Trang 17

Dầu (Phú Quốc) (VIFEP, 2007) Đến nay, số lượng lồng toàn tỉnh đã tăng lên gần

950 lồng, đạt sản lượng hơn 500 tấn cá các loại [31]

Nuôi cá biển đang phát triển mạnh mẽ trong những năm gần đây, được đầu tư với quy mô lớn, hiện đại hơn Từ năm 2008 hoạt động này được mở rộng ở các tỉnh

có điều kiện thuận lợi nuôi cá biển như Hải Phòng, Quảng Ninh, Khánh Hoà, Bà Rịa – Vũng Tàu và Kiên Giang [31] Đặc biệt bước đầu Khánh Hòa đã triển khai nuôi cá biển bằng lồng tại vùng biển đảo Trường Sa Việc phát triển nuôi cá biển ở huyện đảo Trường Sa có ý nghĩa rất lớn về mặt bảo vệ chủ quyền biển đảo của Việt Nam Hơn nữa ở vùng biển quần đảo Trường Sa có tiềm năng và điều kiện để phát triển nuôi cá biển, cung cấp nguồn thực phẩm tại chỗ cho quân dân trên đảo, đồng thời góp phần tăng nguồn hàng hóa thủy sản xuất khẩu

Hình 1 2: Lồng nuôi cá biển thương phẩm (A: lồng khung gỗ, B: lồng Nauy)

Ở Việt Nam hiện nay nuôi cá biển chủ yếu bằng hình thức nuôi lồng, tuy nhiên cũng có một vài công ty và một số tỉnh người dân đã đầu tư nuôi cá biển trong ao đất như ở Cam Ranh - Khánh Hòa, Cần Giờ - Thành phố Hồ Chí Minh, Bến Tre, Kiên Giang…Thức ăn sử dụng chủ yếu là cá tạp, mặc dù thức ăn công nghiệp cũng đã bắt đầu được sử dụng ở một vài cơ sở nuôi ở Cát Bà, Phú Yên và vịnh Vân Phong – Khánh Hòa

Nhìn chung, kỹ thuật nuôi cá biển ở Việt Nam còn đơn giản, nuôi theo kinh nghiệm của người dân là chủ yếu, chưa mang tính công nghiệp Thức ăn nuôi cá biển chủ yếu

là cá tạp, dễ ô nhiễm môi trường, dịch bệnh và không chủ động trong sản xuất (luôn bị động nguồn thức ăn), đồng thời gây áp lực lên khai thác nguồn lợi thuỷ sản Mặc dù, hiện nay đã có những nghiên cứu thay thế thức ăn cá tạp bằng thức ăn chế biến hoặc thức ăn công nghiệp cho cá nuôi ở vùng biển Khánh Hòa, bán đảo Long Sơn (Bà Rịa-Vũng Tàu) Tuy nhiên, hiệu quả chưa cao và chưa ổn định, chưa mở rộng quy mô sản

A B

Trang 18

xuất Một số doanh nghiệp trong nước và nước ngoài (Đài Loan, Liên Bang Nga, Nauy, Australia) đã và đang đầu tư vào lĩnh vực nuôi cá biển theo hướng công nghiệp tại nước ta [31]

Tóm lại, những dẫn liệu trên cho thấy nghiên cứu và nuôi cá biển ở nước ta đang được chú ý, đầu tư và phát triển Nhất là nghiên cứu sản xuất giống nhân tạo được ứng dụng vào sản xuất trên quy mô lớn để có thể đáp ứng được nhu cầu cá giống cho người nuôi Trong những năm gần đây, Chính phủ cũng đã có những chính sách thích hợp nhằm khuyến khích ngành Nuôi trồng Thủy sản phát triển, đặc biệt là sự ưu tiên lớn

cho nghiên cứu nuôi biển theo quyết định: "Quy hoạch phát triển nuôi cá biển đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020" phê duyệt ngày 08 tháng 07 năm 2011 của

Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, đã mở ra một triển vọng lớn cho nghề nuôi

cá biển ở nước ta

1.3 CÁC LOÀI CÁ PHÙ HỢP CHO NUÔI BIỂN Ở QUY MÔ CÔNG NGHIỆP

1.3.1 Các tiêu chí chọn loài cá biển phù hợp nuôi với quy mô công nghiệp:

- Có giá trị kinh tế cao, giá thành sản xuất thấp

- Thị trường tiêu thụ rộng, ổn định cả xuất khẩu và nội địa

- Tốc độ sinh trưởng nhanh, chu kỳ nuôi ngắn

- Chủ động được nguồn giống

- Cá có thể ăn các loại thức ăn thay thế thức ăn của loài, chủ yếu là thức ăn công nghiệp

- Ít bị bệnh, có sức đề kháng tốt

- Có khả năng thích ứng với điều kiện môi trường tốt, có thể chịu được nhiệt độ tương đối thấp vào mùa lạnh (nếu tiến hành nuôi ở miền Bắc)

- Kỹ thuật nuôi không quá khó khăn, phức tạp

- Có thể xuất khẩu nhiều dạng sản phẩm: hàng sống, phi lê, đông lạnh nguyên con hoặc chế biến đóng hộp…

1.3.2 Các loài cá phù hợp để nuôi với quy mô công nghiệp:

Cá giò/bớp (Rachycentron canadum), cá chim vây vàng (Trachinotus blochii), cá vược/chẽm (Lates calcarifer), cá hồng Mỹ (Sciaenop ocellatus), cá hồng (Lutjanus spp), cá mú/song (Epinephelus spp)

Trang 19

1.4 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CHỦ YẾU CỦA CÁC LOÀI CÁ BIỂN NUÔI CÔNG NGHIỆP

1.4.1 CÁ GIÕ (CÁ BỚP) Rachycentron canadum (Linnaeus, 1766)

1.4.1.1 Đặc điểm hình thái và vị trí phân loại

 Đặc điểm hình thái

Hình 1 3: Hình thái ngoài cá giò (Rachycentron canadum)

Cá giò có thân thuôn dài gần như hình ống, đầu dài hơi dẹp, bằng và rộng, miệng nhô ra phía trước, hàm dưới nhô dài hơn hàm trên Răng nhung mọc thành đai ở

cả hai hàm, xương lá mía và xương khẩu cái Mắt nhỏ, không có mí mắt, màng mỡ mắt chạy vòng quanh mắt Cá không có vây răng cưa ở gốc vây đuôi Vây đuôi cá cong tròn, khi trưởng thành lõm vào hình lưỡi liềm, thùy trên dài hơn thùy dưới Cá giò có hai vây lưng, vây lưng thứ nhất rất ngắn, có bảy đến chín tia vây cứng độc lập với nhau, giữa các gai cứng không liên kết bằng màng vây; vây lưng thứ hai dài, phía trước nhô cao lên Vây ngực nhọn, vây hậu môn đồng dạng với vây lưng thứ hai, đường bên hơi giống hình lượn sóng, đoạn sau thẳng [1]

Cá giò có vẩy nhỏ, dính chặt vào da Chiều dài đầu bằng 4,84÷6,35 lần đường kính mắt, 2,45- 2,85 lần chiều rộng và 2,3- 2,6 lần chiều dài hàm trên Chiều dài tiêu chuẩn (SL) bằng 4,05- 5,3 lần chiều dài đầu Chiều dài toàn thân (TL) bằng 5,5- 8,1 chiều dài đầu [ 2,12]

Trang 20

Lưng và hai bên sườn cá có màu nâu đậm, dọc thân có hai dải sáng bạc và một dải màu đen rộng bằng đường kính mắt chạy dài từ mút hàm trên tới cuống đuôi Bụng

có màu trắng sữa, vàng nhạt hoặc hơi xám (Briggs, 1974; Fowler 1936; Hardy, 1978; Smith, 1997) [12]

Công thức tia vây của cá như sau: D1VII-IX; D228-33; AI-III,23-27; VII-14; C13

Cá giò không có bóng hơi, ruột thừa phân nhánh (Briggs, 1974; Fowler, 1936; Hardy, 1978; kuronuma và Abe, 1972) [1,2]

 Vị trí phân loại

Cá giò được Linne phân loại năm 1766 với tên gọi Gasterosteus canadus (Linnaeus, 1766) Sau đó đổi thành Rachycentron canadus và sau cùng lấy tên là Rachycentron canadum Năm 1826 Kaup đặt tên cho loài này là Rachycentron tyouskaup Năm 1905, Jordan gọi tên là Rachycentron pondicerrianum (Jordan 1905) Ngoài ra nó còn có một số tên khoa học khác như: Apolectus niger (Block 1793), Elacate atlantica (Cuvier & Valencienenes 1892) Nhưng khi nghiên cứu kỹ thì trên

thực chất chỉ là một loài và cho đến nay trên thế giới mới chỉ tìm ra một loài duy nhất

của giống là Rachycentron canadum [11,12] Vị trí phân loại cá giò như sau:

Loài: Rachycentron canadum (Linnaeus, 1766)

Tên tiếng Anh: Black king fish hoặc cobia

Tên Việt Nam: Cá giò hoặc cá bớp

1.4.1.2 Đặc điểm phân bố

 Phân bố địa lý

Trang 21

Cá giò là loài cá sống nổi, phân bố rộng ở vùng biển nhiệt đới và cận nhiệt đới, những vùng nước ấm [13] Cá giò phân bố ở bờ Tây của Đại Tây Dương từ Massachusetts và Bermude tới Riodelaplata, Argentina (Birggs, 1958; Menni et al, 1984; Nichols & Breeder, 1926) Phía bắc của Đại Tây Dương, chúng xuất hiện ở thềm lục địa Scottiancnad (Markle et al, 1980) [12]

Hình 1 4: Phân bố địa lý của cá giò (Rachycentron canadum)

Bờ Đông Đại Tây Dương cá giò phân bố từ Morocco tới Nam Phi (Monod,

1973, Smith, 1965 ) Không thấy sự xuất hiện của cá giò ở Địa Trung Hải nhưng ở biển Đỏ và kênh đào Suez có sự phân bố tự nhiên của chúng (Goiani & Bentuvina, 1986) [12]

Ở khu vực Ấn Độ Dương và bờ Tây của Thái Bình Dương là nơi cá giò tập trung nhiều nhất Chúng xuất hiện từ Hokado- Nhật Bản tới Australia và từ phía Đông Ấn

Độ tới Nam Phi Đặc biệt cá giò không xuất hiện ở khu vực bờ Đông Thái Bình Dương (Branchi, 1985; Fourmanoir, 1957; Grant, 1972; Hatchel, 1954; Jordan & Scale, 1906;

La monte, 1952; Linberg & Krasyukova, 1971; Releyea, 1981; Ueno, 1965) [12]

Ở Việt Nam cá Giò phân bố ở các vùng biển từ Bắc vào Nam

 Phân bố sinh thái và vòng đời

Cá giò bố mẹ thành thục đẻ trứng ở vùng biển xa bờ, nơi có độ mặn cao, ổn định Trứng cá giò và ấu trùng sống trôi nổi ở vùng biển khơi, sau đó nhờ sóng gió chúng di chuyển vào gần bờ, cửa sông, rạn san hô, vịnh nông hoặc những nơi có độ mặn thích hợp (Benson, 1982; Hoese & Moore, 1977; MC clane, 1974; Suwingle, 1971) Khi đạt tới kích thước 13 - 15mm, chúng di chuyển ra biển nơi có độ mặn phù

Trang 22

hợp và ở đó cho tới khi chiều dài cơ thể đạt 45 - 140mm thì quay trở lại sống ở gần bờ, thềm lục địa cho tới khi trưởng thành (Benson, 1982; Collete, 1978; Robins và Ray, 1986)

Cá giò sống ở tầng mặt thường bắt gặp ở các rạn san hô nông Tuy nhiên, thường bắt được cá bằng lưới giã cào ở độ sâu 50m, đôi khi xuất hiện ở cả độ sâu 1.200m (Springer và Bullis, 1956) Chúng sống thành những khu vực riêng trên các nền đáy khác nhau ở quanh các rạn san hô của thềm lục địa, vũng vịnh, rừng ngập mặn, quanh các cọc, hoặc vật nổi ven bở biển (Freewalfw & Walford, 1976; Goodson, 1985; Hoore, 1977; Relyea, 1981; Sonnier et al, 1976; Spriiger & Rullis, 1954) [3,12]

1.4.1.3 Khả năng thích ứng với điều kiện môi trường

Cá giò là loài cá bị ảnh hưởng rất lớn của nhiệt độ và ngưỡng nhiệt độ chịu đựng của chúng từ 16,8oC- 32oC (Dawson, 1971; Milstein & Thomas, 1976) Cá giống có thể bị chết ở nhiệt độ nước 17,7oC và ngừng bắt mồi khi nhiệt độ nước còn 18,3oC (Richards, 1967), chúng chỉ bắt mồi trở lại khi nhiệt độ nước tăng lên đến 19oC [12]

Ngưỡng chịu đựng độ mặn từ 22,5 ppt - 44,5 ppt (Christesen, 1965; Roessler ,1967) Tuy nhiên, những thí nghiệm của Hassler & Rainville, 1975 cho thấy cá vẫn có thể sống được ở độ mặn 19 ppt [4], [6] Độ pH thích hợp của cá là 7,5- 8,3; oxy hoà tan ≥ 5,5 mg/L và Nitrit trong nước dưới 1ppm [3]

1.4.1.4 Đặc điểm dinh dưỡng

Cá giò là loài cá dữ, bắt mồi chủ động, ăn thịt và rất phàm ăn Chúng có thể ăn nhiều lần trong ngày, tốc độ sử dụng thức ăn tương đối nhanh (Daract, 1977) [3,12]

+ Giai đoạn cá mới nở đến 3 ngày tuổi, dinh dưỡng bằng noãn hoàng

+ Giai đoạn sau 3 ngày tuổi, ăn động vật phù du và các loại ấu trùng côn trùng, ấu trùng giáp xác, động vật thân mềm và các loại tôm cá nhỏ Thức ăn ưa thích của cá giò

là cua, ghẹ nên chúng còn có tên gọi khác là “Crabeater” (Randal, 1983) Knapp, 1981,

đã tìm thấy trong dạ dày của cá giò 42% Calinecetes và 46% là giáp xác nhỏ chủ yếu

là tôm (Penaeidae) Còn Mile, 1949 đã xác định được 46 loại thức ăn trong dạ dày cá giò có tới 26 loại có nguồn gốc từ giáp xác [12,13]

Trang 23

+ Khi đạt kích thước 10- 12 cm thì chúng sử dụng thức ăn như cá trưởng thành,

ăn các loại cá, giáp xác, động vật thân mềm phù hợp với cỡ miệng [4] Cá giò thường tập trung thành đàn 3 – 100 con, bắt mồi khi di cư dọc vùng nước nông ven bờ Người

ta còn phát hiện thấy chúng thường bơi theo các loài cá khác như cá đuối, cá mập, rùa

và ăn bất cứ thứ gì mà các loài này không ăn hết

+ Trong điều kiện sản xuất giống, sau 3 ngày tuổi cho cá ăn luân trùng, Copepoda, Artemia, thịt tôm cá băm nhỏ và thức ăn tổng hợp

+ Nuôi thương phẩm sử dụng thức ăn là cá tạp, thức ăn chế biến và thức ăn tổng hợp

Cá mới nở có chiều dài khoảng 2 – 3 mm Sau thời gian 30 – 40 ngày, có chiều dài

4 – 6 cm, sau 2 tháng đạt chiều dài 8 – 10cm Khi nuôi thương phẩm, sau thời gian nuôi 10 – 12 tháng cá có thể đạt khối lượng: 4 – 6kg/con

1.4.1.6 Đặc điểm sinh sản

Cá giò là loài đơn tính, tuy nhiên rất khó phân biệt đực cái, chỉ có thể nhận biết được trong mùa sinh sản Tuổi và kích thước thành thục: cá đực thành thục ở tuổi 2+,

cá cái thành thục tuổi 3+ với khối lượng lần lượt là 6 - 8 kg và 8 - 12 kg [3]

Mùa vụ sinh sản của cá tuỳ thuộc vào chế độ nhiệt của từng vùng, từng năm, thường cá bắt đầu đẻ vào cuối tháng 4 đến tháng 5 Cá giò thường tụ tập thành đàn lớn khi đẻ trứng vào tháng 5 đến tháng 9 hàng năm Mỗi lần đẻ thường kéo dài từ 9 – 12 ngày và chúng đẻ khoảng 20 lần trong một mùa Cá giò thường đẻ trứng ở các vùng

Trang 24

biển ngoài khơi, nơi có độ mặn cao, độ sâu và độ trong lớn (Springer & Bullis, 1956)

Cá đẻ vào chiều tối và ban đêm, trứng và tinh trùng được phóng thích ra môi trường nước, thụ tinh ngoài, khi đẻ thì màu sắc của cơ thể cá chuyển từ màu xám nâu sang màu sáng bạc

Sức sinh sản của cá giò khá lớn từ 1,9 - 5,4 triệu trứng/1 cá cái, tuỳ thuộc vào kích thước và tuổi của cá, cá càng lớn sức sinh sản càng cao Trứng cá giò thuộc dạng trứng trôi nổi, định lượng khoảng 500 – 600 trứng/g Trứng thành thục có đường kính 1,09 - 1,31mm và giọt dầu 0,29 - 0,44mm (giai đoạn IV), trứng có màu vàng và các chấm melanin đen (Hassler & Rainville, 1975) Trứng thụ tinh có đường kính 1,16 - 1,42 mm, giọt dầu 0,34 - 0,44 mm, 24 – 36 giờ sau khi thụ tinh thì trứng nở (Joseph et

al, 1964) [12]

Ấu trùng mới nở dài 2,5mm và chưa có sắc tố, một ngày tuổi dài 3mm, trong suốt, dọc lưng có một mảnh màu xanh nhạt, và điểm mắt màu đen, tích cực vận động trên mặt nước [12] Ngày tuổi thứ năm cá đạt 4 - 5 mm, mắt có màu nâu đen, cơ thể có màu hơi vàng và các chấm đen rải rác [12] Ngày thứ 10 đã có sự thay đổi lớn so với

ấu trùng một ngày tuổi Miệng, đầu, mắt đã phát triển hoàn chỉnh, vây ngực hiện rõ, chưa có vây bụng, cơ thể có màu nâu nhạt và dài khoảng 5- 10mm [12] Sau 30 ngày tuổi cá đã giống với cá trưởng thành: vây đuôi xoè rộng dạng nan quạt, xuất hiện hai dải sắc tố màu vàng nhạt hai bên thân chạy dọc cơ thể từ đầu đến cuối đuôi Sau 59 ngày tuổi cá giống hoàn toàn như cá trưởng thành, đầy đủ các cơ quan và bộ phận, đạt kích thước 1,26 - 5,5cm (Dawson, 1971) [12]

1.4.1.7 Giá trị kinh tế của cá giò

Cá giò là loài cá thịt thơm ngon, có giá trị kinh tế cao, phân bố rộng ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới Cá có tốc độ tăng trưởng nhanh, trong điều kiện nuôi sau 12 tháng, cá có thể đạt khối lượng 5 – 6kg và 2 năm có thể đạt 10 – 20kg Trong tự nhiên

cá giò đánh bắt nhiều ở vịnh Mexico, phổ biến có chiều dài 0,8 – 1,2 m nặng từ 8 – 25 kg/con, ở độ tuổi 2+ – 5+ (Frank et all, 1999)

Cá giò hiện nay được nuôi phổ biến ở nhiều nước trên thế giới như: Đài Loan, Nhật Bản, Trung Quốc, Việt Nam, Malaysia, …Ở Đài Loan cá giò được bắt đầu nuôi lần đầu tiên vào năm 1992 (Yu,1999), năm 1997 đã sản xuất được con giống với số

Trang 25

lượng lớn (Yoh, 1999) Ngày nay cá giò trở thành đối tượng nuôi phổ biến của công nghiệp nuôi cá lồng trên biển ở Đài Loan Tại đây, giá cá giò khoảng 4 USD/kg loại 6 – 8 kg/con

Ở Việt Nam, cùng với một số loài cá khác như: cá mú, cá hồng…cá giò là đối tượng có nhiều triển vọng đối với nghề nuôi cá lồng trên biển Năm 2001, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản I đã thử nghiệm sản xuất giống nhân tạo thành công với khoảng 1,3 vạn con giống cỡ 15cm Ở nước ta hiện nay hàng năm sản xuất từ 0,5 đến 1 triệu giống cá giò đủ cung cấp cho nuôi thương phẩm Cá giò được nuôi chủ yếu

ở Quảng Ninh, Hải Phòng, Nghệ An, Phú Yên, Khánh Hoà, Bà Rịa – Vũng Tàu, Kiên Giang Giá cá giò tại thị trường nội địa khoảng 80.000 – 100.000 đồng/kg

1.4.2 CÁ CHIM VÂY VÀNG Trachinotus blochii (Lacepède, 1801)

Cá chim vây vàng (Trachinotus blochii) là loài phân bố tương đối rộng ở vùng

biển nhiệt đới, Tây Thái Bình Dương, Nhật Bản, Đài Loan, Indonesia, miền Nam Trung Quốc Nước ta cá phân bố chủ yếu ở vịnh Bắc Bộ, miền Trung và Nam Bộ Cá

có kích cỡ thương mại 0,8-1,0 kg/con, giá trị kinh tế cao, giá bán cá sống từ 5-6 USD/

kg, thị trường xuất khẩu rộng như: Nhật Bản, Đài Loan, Trung Quốc, Hồng Kông, Mỹ, Singapore Đây là một đối tượng mới, chưa được nghiên cứu nhiều và bước đầu nuôi ở Việt Nam

1.4.2.1 Đặc điểm hình thái và vị trí phân loại

Đặc điểm hình thái

Cơ thể hơi tròn, cao và thân dẹp, giữa lưng hình vòng cung Trên đường bên vảy sắp xếp khoảng 135-136 cái, chiều dài so với chiều cao gấp 1,6 - 1,7 lần, so với chiều cao phần đầu 3,5 - 4 lần, cuống đuôi ngắn và dẹp, đầu nhỏ chiều cao đầu lớn hơn chiều dài, môi tù về phía trước Mũi mỗi bên 2 lỗ gần nhau, mũi trước nhỏ hình tròn, mũi sau to hình bầu dục Miệng nhỏ xiên, xương hàm trên lồi, hàm trên và dưới có răng nhỏ đều, răng phía sau dần thoái hóa, lưỡi không có răng, rìa phía trước xương nắp mang hình cung tương đối to, rìa sau cong Bộ phận đầu không có vẩy, cơ thể có nhiều vẩy tròn nhỏ dính vào da Gốc vây lưng thứ 2 và vây hậu môn có vẩy, phía trước đường bên hình cung cong tròn tương đối lớn, trên đường bên vẩy không có gờ, vây lưng thứ 1 hướng về phía trước, gai bằng và có 5-6 gai ngắn Cá giống giữa các gai có màng liền nhau, cá trưởng thành màng thái hóa những gai tách rời nhau, vây

Trang 26

lưng thứ 2 có 1 gai và 19 - 20 tia vây, phần trước của vây kéo dài hình như lưỡi liềm Vây hậu môn có 1 gai và 17 - 18 tia vây phía trước có 2 gai ngắn, cũng có dạng hình lưỡi liềm Vây ngực tương đối ngắn, vây đuôi hình trăng lưỡi liềm Ruột uốn cong 3 lần (chiều dài ruột/chiều dài của cá = 0.8) Lưng màu tro bạc, bụng màu ánh bạc, mình không có vân đen, vây lưng màu ánh bạc vàng, rìa vây màu tro đen, vây hậu môn màu ánh bạc vàng, vây đuôi màu vàng và xám tro [5]

Hình 1 5: Cá chim vây vàng ( Trachinotus blochii)

Loài: Trachinotus blochii (Lacépède, 1801)

Tên tiếng việt: cá chim vây vàng, cá sòng mũi ếch, cá chim trứng [3]

Tên Tiếng Anh: Snub-nose pompano [11]

1.4.2.2 Đặc điểm phân bố

 Phân bố địa lý

Theo Borut Forlan (2004) cá chim vây vàng sống ở vùng biển mở và được tìm

Trang 27

thấy ở Thái Bình Dương, Đại Tây Dương, Ấn Độ Dương Ở châu Á cá chim vây vàng phân bố ở miền Nam Nhật Bản, Indonesia, Trung Quốc (Hoàng Hải, Đông Hải, Nam Hải, Quảng Đông, Phúc Kiến, Hải Nam), Đài Loan Ở Việt Nam cá phân bố trên Vịnh Bắc Bộ, miền Trung và Nam Bộ [3]

Hình 1 6: Phân bố địa lý của cá chim vây vàng (Trachinotus blochii)

Phân bố sinh thái và khả năng thích ứng với môi trường

Cá chim vây vàng là loài cá nước ấm, có tập tính di cư, sống ở tầng giữa và tầng mặt Ở giai đoạn cá giống, sau mùa đông cá thường tập trung thành đàn sống ở vũng, vịnh, cửa sông Cá trưởng thành sinh trưởng tốt nhất ở điều kiện nhiệt độ từ 22-280C,

là loài rộng muối có thể sinh sống, phát triển từ 3 - 33‰ Dưới 20‰ cá sinh trưởng nhanh, trong điều kiện độ mặn cao tốc độ sinh trưởng chậm lại Nhu cầu hàm lượng oxy hòa tan > 2,5 mg/L Theo Potonetal (1989) cá trưởng thành sống ở vùng đáy cát hoặc gần vùng rạn san hô, độ sâu trên 7m Ngoài ra cá giống thường phân bố ở vùng đáy cát hoặc gần vùng đáy cát pha sét (Borut Forlan, 2004)

Trong điều kiện ương nuôi cá dài 2cm thức ăn là cá tạp xay nhỏ, tôm tép băm nhỏ

Cá trưởng thành ăn tôm nhỏ và thức ăn công nghiệp hoặc hoàn toàn thức ăn công

Trang 28

nghiệp trong nuôi thương phẩm [5] Trong điều kiện môi trường nước bình thường cá chim vây vàng có cường độ bắt mồi thay đổi theo nhiệt độ nước (Lâm Cẩm Tôn, 1995)

1.4.2.4 Đặc điểm sinh trưởng

Cá chim vây vàng có kích thước tương đối lớn, kích thước có thể đạt 45 - 60cm Cá sinh trưởng nhanh, trong điều kiện nuôi bình thường 1 năm đạt 0,5- 1,0 kg/con Từ năm thứ 2 trở đi mỗi năm khối lượng tăng tuyệt đối là 1 kg

Theo Trương Bang Kiệt (2001): Thử nghiệm ương nuôi cá giống thời kỳ đầu cá sinh trưởng chậm cá dài 2,6cm với khối lượng 0,52gam Qua 192 ngày nuôi cá dài 9,9cm đạt khối lượng 20,53gam Bình quân ngày khối lượng tăng 0,6gam và hệ số sinh trưởng trung bình ngày 1,04% [5] Trong điều kiện nhân tạo cá 1 ngày tuổi có chiều dài 0,2cm, sau 30-35 ngày đạt chiều dài 3,4cm [10]

1.4.2.5 Đặc điểm sinh sản

Tuổi và kích thước thành thục lần đầu của cá chim vây vàng ngoài tự nhiên tương đối muộn, cá thành thục ở tuổi 7+

- 8+ [5] Tuy nhiên, trong điều kiện nuôi nhân tạo cá

có thể thành thục sớm hơn Theo Anony Mous (2007), trong điều kiện nuôi cá thành thục ở tuổi 3+

Mùa vụ sinh sản ngoài tự nhiên của cá chim vây vàng ở vùng địa lý khác nhau là khác nhau Ví dụ, ở Trung Quốc từ tháng 4 – 9, trong khi tại Đài Loan có thể cho cá sinh sản nhân tạo từ tháng 3 đến tháng 10 [3] Quá trình sinh sản của cá chim vây vàng không tuân theo chu kỳ trăng hàng tháng như nhiều loài cá biển khác [10]

Sức sinh sản tuyệt đối của cá chim vây vàng đạt 40-60 vạn trứng/cá cái Theo Nur Muflich Juniyanto, Syamsul Akbat and Zakimin (2008), khi cho đẻ đường kính trứng thụ tinh: 0,8 – 0,85 mm [10]

1.4.2.6 Giá trị kinh tế của cá chim vây vàng

Cá chim vây vàng (Trachinotus blochii) là loài phân bố tương đối rộng ở vùng biển

nhiệt đới Tây Thái Bình Dương, Nhật Bản, Đài Loan, Indonesia, miền Nam Trung Quốc Nước ta cá phân bố ở vịnh Bắc Bộ, miền Trung và Nam Bộ Cá có kích cỡ thương mại 0,8-1,0 kg/con, giá trị kinh tế cao, giá bán cá sống từ 5-6 USD/kg, thị trường xuất khẩu rộng như: Nhật Bản, Đài Loan, Trung Quốc, Hồng Kông, Mỹ,

Trang 29

Singapore Đây là đối tượng nuôi mới được nghiên cứu sản xuất giống và nuôi thương phẩm ở Việt Nam Hiện nay số lượng con giống sản xuất hàng năm từ 01 đến 02 triệu con, đủ cung cấp cho quá trình nuôi thương phẩm

1.4.3 CÁ CHẼM (CÁ VƢỢC) Lates calcarifer (Bloch, 1790)

1.4.3.1 Đặc điểm hình thái và vị trí phân loại

 Đặc điểm hình thái

Cá chẽm có thân dài hẹp, cuống đuôi khuyết sâu Đầu nhọn, nhìn bên lõm phía lưng, và lồi phía trước vây lưng Miệng rộng hơi so le, hàm trên vượt qua phía sau mắt, răng dạng nhỏ và đều, không có răng nanh Mép dưới của xương trước nắp mang

có gai cứng, nắp mang có một gai nhỏ và một vảy bên có răng cưa trước đầu đường bên Vây lưng có 7 – 9 gai cứng và 10 – 11 tia mềm; tia vây ngực ngắn và tròn có các rãnh răng cưa cứng và ngắn phía trên gốc, vây lưng và vây hậu môn có rãnh bao phủ, vây hậu môn có 3 gai cứng và 7 – 9 tia mềm, vây đuôi tròn vảy có dạng lược rộng

Màu sắc thay đổi theo giai đoạn phát triển: cá mới nở không màu, trong suốt Sau

10 – 12 ngày tuổi mới xuất hiện sắc tố màu đen, 20 – 25 ngày tuổi màu nhạt dần thường có màu trắng xanh Giai đoạn cá giống thường có màu nâu ô liu ở phía trên với các màu bạc ở phía bên và bụng khi cá sống trong môi trường nước biển, và màu vàng nâu trong môi trường nước ngọt Giai đoạn trưởng thành cá có màu xanh lục hay vàng nhạt ở phần trên và màu bạc ở phần bụng

Hình 1 7: Hình dạng ngoài cá chẽm (Lates calcarifer)

 Vị trí phân loại

Theo Greenwood (1976), giống cá chẽm Lates gồm có 8 loài trong đó loài Lates calcarifer phân bố ở các vùng biển thuộc Tây Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, còn

Trang 30

7 loài khác phân bố ở Châu Phi Nguyễn Nhật Thi (1991), khi nghiên cứu về hình thái phân loại và đặc điểm nhận dạng đã xác định ở Việt Nam chỉ có một loài cá chẽm duy nhất và được xếp vào vị trí phân loại như sau:

Loài cá chẽm: Lates calcarifer (Bloch, 1790)

Tên Việt Nam: Cá chẽm, cá vược

Tên Tiếng Anh: Giant perch, white seabass, baramundi

1.4.3.2 Đặc điểm phân bố

 Phân bố theo địa lý: Cá chẽm phân bố rộng ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt

đới thuộc Tây Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, giữa kinh tuyến 50o Kinh Đông đến

160o Kinh Tây; vĩ tuyến 26o VĩBắc đến 25o Vĩ Nam Cá chẽm còn tìm thấy phía Bắc Châu Á, phía Nam kéo dài đến Qeenland (Australia), phía Tây đến Đông Châu Phi (PAO, 1974)

Hình 1 8: Phân bố địa lý của cá chẽm (Lates calcarifer)

 Phân bố theo vùng sinh thái: Cá chẽm là loài rộng muối, có thể sống được

Trang 31

trong môi trường nước ngọt, lợ, mặn và có tính di cư xuôi dòng Cá thành thục sinh dục thường tìm thấy ở vùng ven biển, cửa đầm, đến mùa sinh sản cá chẽm thường di

cư ra vùng biển có độ mặn cao và ổn định 30 – 32 ppt để đẻ trứng,bãi đẻ có độ sâu từ

10 – 15m Trứng trôi nổi Ấu trùng mới nở có chiều dài 1,21 – 1,65 mm, trung bình 1,49mm, thường phân bố ở vùng biển ven bờ, nhờ sóng gió đưa dần vào gần các cửa sông vùng nước lợ, ấu trùng cỡ lớn hơn 1cm có thể gặp trong các thủy vực nước lợ Trong điều kiện tự nhiên cá chẽm lớn lên ở vùng cửa sông nước ngọt, nước lợ và khi thành thục lại di cư ra vùng biển có độ mặn cao, ổn định (S ≥ 30 ppt) để đẻ trứng

 Vòng đời của cá Chẽm: Cá chẽm trải qua phần lớn thời gian sinh trưởng (2

– 3 năm) trong các thủy vực nước lợ cửa sông, vũng vịnh, đầm nối liền với biển Cá có tốc độ tăng trưởng nhanh thường đạt cỡ 3 – 5kg sau 2 – 3 năm Cá trưởng thành tuổi 3+– 4+ di cư từ vùng nước lợ cửa sông ra biển nơi có độ mặn cao, ổn định từ 30 – 32 ppt

để phát triển tuyến sinh dục và sinh sản sau đó Cá thường đẻ trứng theo chu kỳ trăng (thường lúc khởi đầu tuần trăng non đến trăng tròn) đẻ vào buổi tối (18 – 22 giờ) và cá thường đẻ vào lúc thủy triều lên Điều này giúp trứng và ấu trùng trôi dạt vào vùng gần

bờ, nơi mà ấu trùng sẽ phát triển thành con giống, sinh truởng và phát triển đến giai đoạn trưởng thành lại di cư ra vùng biển có độ mặn cao thành thục và đẻ trứng Hiện tại, chưa xác định được là sau khi đẻ trứng cá bố mẹ có di cư ngược trở lại khu vực sinh trưởng không hay ở lại vùng biển xung quanh bãi đẻ

Hình 1 9: Sơ đồ di cư của cá chẽm Lates calcarifer (Bloch, 1790)

1.4.3.3 Khả nảng thích ứng với môi trường

Cá chẽm là loài rộng muối nên nó có thể sống và sinh trưởng bình thường trong nước ngọt, lợ, mặn, có độ muối dao động từ 0 – 32 ppt, thậm chí là 35 ppt

Trang 32

Nhiệt độ nước thích hợp cho cá chẽm sinh trưởng và phát triển khoảng 26 – 32oC, khoảng thích hợp nhất là 28 – 30oC Nếu nhiệt độ giảm dưới 20oC, cá bắt mồi kém, chậm phát triển, tỷ lệ sống thấp, nhiệt độ tiếp tục giảm đến 15oC cá bắt đầu chết

Độ pH thích hợp cho cá chẽm sinh trưởng và phát triển là 7 – 9, tốt nhất là từ 7,5 – 8,5; pH từ 5 – 7 và từ 9 – 11 kéo dài, cá sinh trưởng chậm hoặc không có khả năng sinh sản; pH nhỏ hơn 4 hoặc lớn hơn 11 cá sẽ chết

Hàm lượng oxy thích hợp cho cá chẽm sinh trưởng và phát triển là trên 3 mgO2/l

Ở phạm vi từ 1 – 3 mgO2/l sẽ ảnh hưởng đến sinh trưởng của cá, ở hàm lượng dưới 1 mgO2/l cá có thể bị chết

1.4.3.4 Đặc điểm dinh dƣỡng

Cá chẽm là loài cá dữ ăn thịt, thức ăn thay đổi tùy theo giai đoạn phát triển của cá: Giai đoạn mới nở từ 1 – 3 ngày tuổi, dinh dưỡng bằng noãn hoàng Giai đoạn 3 – 15 ngày tuổi, kích thước dưới 1cm, thức ăn chủ yếu là Rotifer, động vật phù du khác, ấu trùng giáp xác, ấu trùng động vật thân mềm…Giai đoạn cá có chiều dài 1 – 15 cm, ở ngoài tự nhiên thức ăn chủ yếu của cá chẽm là ấu trùng nhuyễn thể, ấu trùng giáp xác, tôm, cá nhỏ… Khi phân tích dạ dày mẫu cá thu từ tự nhiên cỡ 1 – 10 cm, chủ yếu là động vật, cá, tôm nhỏ, có một ít tảo khuê do cá bắt mồi ngẫu nhiên hoặc do tảo là thức

ăn của động vật phù du, cá ăn động vật phù du nên ăn luôn cả tảo, các tế bào tảo trong ruột cá chiếm khoảng 20% (Kungvakij, 1971)

Giai đoạn sắp trưởng thành và trưởng thành cá ăn mồi động vật hoàn toàn Khi phân tích dạ dày mẫu cá thu từ tự nhiên, kích thước trên 20cm thấy rằng: trong dạ dày chứa 100% là mồi động vật, trong đó 70% là giáp xác (tôm, cua nhỏ) và 30% là cá

nhỏ Những loài cá tìm thấy trong ruột cá chẽm là cá liệt (Leiognatus sp), cá đối (Mugil spp)…

Trong điều kiện sản xuất giống nhân tạo, cho ăn chủ yếu là Rotifer (Brachionus plicatilis) ở giai đoạn từ 3 đến 12 ngày tuổi Sau 10 ngày tuổi đến cỡ 2,5cm, thức ăn

chủ yếu là Nauplius Artemia, Copepoda, …Từ 2 – 5 cm, thức ăn chủ yếu cho cá là Artemia trưởng thành, các loại giáp xác nhỏ và tập cho cá ăn thức ăn tổng hợp, cá tạp băm nhuyễn.Từ 5 – 15 cm, thức ăn chủ yếu là cá nhỏ, tôm, cá tạp băm nhỏ và thức ăn

Trang 33

tổng hợp Trong điều kiện nuôi thương phẩm cho ăn cá tạp, thức ăn chế biến và thức

ăn tổng hợp

1.4.3.5 Đặc điểm sinh trưởng

Tốc độ tăng trưởng của cá chẽm có dạng đường cong sigma (δ) Cá tăng trưởng chậm ở giai đoạn đầu, khi đạt 20 – 30g tốc độ tăng trưởng nhanh hơn và chậm lại khi đạt khối lượng khoảng 4 kg/con Ở ngoài tự nhiên cá tuổi 1+

đạt chiều dài 30cm, tuổi

3+ đạt chiều dài 58cm, tuổi 4+ đạt chiều dài 69 cm, tuổi 6 – 9+ đạt chiều dài từ 85 – 100

cm Thậm chí có con sống trên 30 năm có chiều dài hơn 150cm, nặng khoảng 55 kg Khi khai thác người ta thường bắt được cá có chiều dài từ 50 – 70cm, khối lượng từ 2 – 5 kg/con Trong điều kiện môi trường nuôi, cá mới nở có chiều dài trung bình 1,49

cm, sau 20 ngày uơng cá đạt cỡ 1-2cm, sau 30 ngày cỡ 2-3cm, sau 40 – 50 ngày đạt cỡ

cá giống 4-6cm Từ cỡ này trở lên có thể đưa ra ao hoặc lồng nuôi thơng phẩm Sau 8 tháng nuôi cá có thể đạt 600g – 1 kg/con Sau 1 năm đạt cỡ 800 –1,5 kg/con Sau 2 – 3 năm có thể đạt 3 – 5 kg/con

1.4.3.6 Đặc điểm sinh sản

 Phân biệt giới tính: Cá chẽm là loài rất khó phân biệt đực, cái ngoại trừ vào

mùa sinh sản Sau đây là một vài đặc điểm để phân biệt giới tính:

- Mõm của cá chẽm đực hơi cong, của cá cái thì thẳng

- Cơ thể cá đực thon hơn cá cái Đo vòng bụng, nếu cùng chiều dài thì cá cái có vòng bụng lớn hơn

- Khối lượng cá cái lớn hơn cá đực cùng tuổi

- Những vảy gần lỗ huyệt của cá đực dày hơn cá cái vào mùa sinh sản

- Vào mùa sinh sản bụng cá cái hơi phồng to hơn cá đực

- Dưới bụng cá đực có 02 lỗ (lỗ hậu môn, lỗ huyệt và lỗ niệu chung), cá cái có 03

lỗ (lỗ hậu môn, lỗ huyệt và lỗ niệu)

 Sự chuyển đổi giới tính: Cá chẽm là loài cá có sự chuyển đổi giới tính

Trong giai đoạn đầu của đời sống hầu hết là cá đực, thường chúng trải qua ít nhất một lần tham gia sinh sản, sau đó chuyển thành cá cái Vì vậy phần lớn những cá có kích thước lớn trong đàn cá tham gia sinh sản là cá cái Ngoài tự nhiên, sự chuyển đổi giới

Trang 34

tính thường được phát hiện ở giai đoạn khi cá đạt cỡ tuổi 6+ - 7+ và kích thước khoảng 90cm, tuy nhiên trong điều kiện nuôi nhân tạo kích thước này có thể nhỏ hơn Vào giai đoạn đầu của đời sống khối lượng từ 1,5 – 3,5 kg phần lớn là cá đực, nhưng khi đạt đến 5 – 7 kg phần lớn trở thành cá cái Mặc dù vậy, trong quần thể đàn cá vẫn có một

số ít phát triển trực tiếp thành cá đực hoặc cá cái, mà không trải qua giai đoạn chuyển đổi giới tính

 Tuổi và kích thước thành thục: Cá chẽm thành thục cỡ tuổi 3+ – 4+, khối lượng 3 – 6 kg/con Tuy nhiên trong điều kiện nuôi nhốt, tuổi và kích cỡ thành thục có thể nhỏ hơn Tuổi 2+ - 3+, khối lượng tương ứng là 2 – 4 kg/con Cá cái thành thục tốt

có đường kính trứng từ 0,4 – 0,5 mm, trứng thường có màu vàng rơm và có giọt dầu giúp trứng trôi nổi trong nước

 Mùa vụ sinh sản: Cá chẽm đẻ quanh năm (Kungvankij), nhưng thời gian

chính vụ là từ tháng 4 đến tháng 8 Ngoài tự nhiên, cá con có chiều dài 1cm có thể thu được nhiều vào tháng 5 đến tháng 8 (Bhatia và Kungvankij, 1971)

Cá đực và cái thành thục, trước khi đẻ 1 tuần cá ngừng ăn Khi cá đực và cá cái chín muồi sinh dục sẽ bơi lội thành từng cặp, thường xuyên ở tầng mặt khi sắp đẻ trứng Cá đẻ làm nhiều đợt kéo dài khoảng 1 tuần, thời gian đẻ trứng vào lúc chiều tối (18 – 22 giờ)

 Sức sinh sản: Cá chẽm có sức sinh sản tương đối lớn và thùy thuộc vào khối

lượng và kích thước của cá Khối lượng của cá từ 5,5 – 11kg, sức sinh sản 2,1 – 7,1 triệu trứng (Wongsomnuk và Maneewongsa, 1976), Anon (1975) cho rằng cá có khối lượng 12kg cho 7,5 triệu trứng; cá có khối lượng 19,5kg cho 8,5 triệu trứng và cá 22

kg cho 17 triệu trứng

 Ấu trùng: Trứng cá chẽm thụ tinh có đường kính 0,7 – 0,8mm Chiều dài

của ấu trùng mới nở dao động từ 1,21 – 1,65m, trung bình 1,49 mm Noãn hoàng có đường kính trung bình 0,86mm, có một giọt dầu nằm ở phía trước noãn hoàng làm cho

cá mới nở nổi theo chiều thẳng đứng hay nghiêng khoảng 45o so với mặt phẳng nằm ngang Lúc đầu hình thành sắc tố không đồng loạt: mắt, ống tiêu hóa, huyệt và vây đuôi trong suốt 3 ngày sau khi nở, noãn hoàng hầu như được sử dụng hết và giọt dầu

Trang 35

còn không đáng kể Ở giai đoạn này miệng mở ra và hàm bắt đầu cử động, cá bột bắt đầu ăn thức ăn bên ngoài

Có ít nhất hai giai đoạn hình thành sắc tố ở giai đoạn nhỏ của cá chẽm Giai đoạn

10 – 12 ngày sau khi trứng nở, sắc tố có màu xám sậm hay đen; giai đoạn tiếp theo 25 – 30 ngày tuổi lúc ấu trùng đạt cỡ 2 – 3cm, cá chuyển sang màu xám bạc, cá khỏe bơi lội linh hoạt và cơ thể có màu trắng xanh, còn cá yếu thì cơ thể có màu đen hay sậm

1.4.3.7 Giá trị kinh tế của cá chẽm

Cá chẽm (Lates calcarifer) hay còn gọi cá vược là loài cá có giá trị kinh tế ở vùng

nhiệt đới và cận nhiệt đới thuộc Châu Á – Thái Bình Dương Cá chẽm được nuôi thương phẩm nhiều tại Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Hồng Kông, Singapore, Đài Loan, Australia, Trung Quốc, Việt Nam trong các ao nước lợ, nước ngọt cũng như nuôi lồng ở vùng ven biển Do giá trị thương phẩm khá cao nên cá trở thành đối tượng nuôi hấp dẫn cho các cơ sở nuôi thủy sản quy mô nhỏ và vừa

Ở Việt Nam, cá chẽm chủ yếu được nuôi trong các ao đất ở các tỉnh miền Tây Nam bộ, hình thức nuôi bán quảng canh, bán thâm canh và thâm canh Hiện nay ở nước ta đã nghiên cứu sản xuất giống nhân tạo thành công, hàng năm có thể sản xuất

đủ số lượng giống cung cấp cho nuôi thương phẩm Hiện nay cá chẽm còn được nuôi thương phẩm bằng lồng, nuôi ao đất ở Trung Bộ và một số tỉnh phía Bắc với qui mô lớn Sản lượng ngày càng tăng, cung cấp lượng hàng hóa lớn cho xuất khẩu

1.4.4 CÁ HỒNG (Lutjanus spp)

1.4.4.1 Đặc điểm hình thái và vị trí phân loại

 Đặc điểm hình thái

viền lưng cong, đều, viền bụng từ mép miệng dưới đến hậu môn gần như thẳng Đầu lớn vừa, mặt lưng hơi lõm ở phía mắt, chiều dài thân bằng 2,7 lần chiều cao thân và bằng 2,4 lần chiều dài đầu Mõm dài nhọn, miệng rộng, chếch, hàm dưới dài hơn hàm trên Môi rộng, dày, hàm trên phía ngoài mỗi bên có hai răng nanh chìa ra ngoài, phía trong có răng nanh nhỏ, mọc thành đai hẹp, hàm dưới không có răng nanh Trên lưỡi, xương khẩu cái, xương lá mía có răng nhỏ mọc thành đám Thân phủ vẩy lược lớn, có mầu hơi đỏ hồng tía, bụng có mầu trắng xám bạc Đường bên hoàn toàn rõ ràng Vây

Trang 36

lưng dài liên tục, chỗ tiếp giáp giữa tia vây cứng và tia vây mềm lõm xuống Số tia vây cứng 10; Số tia vây lưng mềm 13-14; Vây hậu môn lớn, Số tia vây cứng 3; Số tia vây mềm: 7 – 8; vây ngực dài, rộng hình lưỡi liềm Vây đuôi rộng viền sau hơi lõm Màu sắc cá còn sống có màu hơi đỏ, trừ vây ngực có màu đỏ tươi, màng các vây khác đều

có màu xám đen Má thường có một đến hai vân màu xanh dưới mắt

Hình 1 10: Cá hồng bạc Lutjanus argentimaculatus (Forsskal, 1775)

Cá hồng (L erythropterus) thân hình thoi dẹp, chiều dài thân bằng 2,4 – 2,6 lần

chiều cao thân Đầu to, miệng rộng, hàm trên mỗi bên có hai răng nanh Vảy dạng lược cứng bao phủ toàn thân, cả trên nắp mang và ở má Thân có màu đỏ tươi, bụng có màu hồng nhạt, các vây màu đỏ, rìa sau vây đuôi có màu đen xám Chiều dài lớn nhất là 81,6cm, thường gặp cỡ 40 – 50cm

Hình 1 11: Hình thái ngoài cá hồng (L erythropterus)

Trang 37

Họ cá hồng: Lutjanidae

Giống cá hồng: Lutjanus

Loài cá hồng bạc: L argentimaculatus (Forsskal, 1775)

Tên tiếng Việt: Cá hồng bạc, cá hồng ánh bạc

Tên tiếng Anh: Mangrove red snapper hoặc silver red snapper

Loài : L erythropterus (Bloch, 1790)

Tên tiếng Việt: Cá hồng

Tên tiếng Anh: Crimson snapper hoặc redfin snapper

1.4.4.2 Đặc điểm phân bố

 Phân bố theo địa lý

Giống cá hồng Lutjanus có 65 loài, phân bố chủ yếu ở khu vực nhiệt đới và cận

nhiệt đới Từ Ấn Độ Dương – Tây Thái Bình Dương, Đông Thái Bình Dương và Đại Tây Dương, kéo dài từ Đông Châu Phi đến Nhật Bản và Australia, chúng có mặt ở hầu hết các nước Đông Nam Á Ở nước ta, cá hồng phân bố từ Bắc vào Nam, từ vùng nước nông ven bờ lẫn ngoài khơi

Hình 1 12: phân bố địa lý của cá hồng

Phân bố sinh thái và khả năng thích ứng với môi trường

Theo Weber, M và Beaufort, L F (1929); Matsubara, K (1955), Nguyễn Hữu

Phụng, Lê Trọng Phấn (1995), cá hồng (Lutjanus spp) chủ yếu sống đáy, ngoài ra

người ta còn bắt gặp ở cửa sông và phân bố cả trong các thủy vực nước lợ Các loài cá

Trang 38

hồng có tập tính sống ở các hang hốc đá, các kẽ nứt của rạn đá ngầm và rạn san hô, những nơi rậm rạp nhiều rong biển, cỏ biển, độ sâu 10-120m nước, nhiệt độ 16 – 30oC

Cá hồng sống, sinh trưởng tốt trong điều kiện nhiệt độ 20 - 330C, tốt nhất là 27 -300C [15]

Giai đoạn cá giống sống chủ yếu ở vùng nước lợ cửa sông và rừng ngập mặn Chúng xuất hiện ở độ sâu 0,3 - 0,4m, độ mặn lớn hơn 15ppt Khi cá sắp trưởng thành

và trưởng thành chúng di cư dần ra vùng biển xa bờ, nước sâu, sống ở gần đáy và sống đáy Nơi có đáy rạn đá san hô, đá sỏi hoặc có nền đáy cứng, có nhiều rong biển, độ mặn cao 30 - 35ppt, độ pH trên 7,5 [19] Thỉnh thoảng ta có thể tìm thấy cá trưởng thành ở vùng biển có độ sâu lớn hơn 100m nước [19]

1.4.4.3 Đặc điểm dinh dƣỡng

Các loài cá hồng là cá dữ ăn thịt, hàm trên có những đôi răng nanh khỏe Cường

độ bắt mồi mạnh nhất vào lúc gần tối, thức ăn chủ yếu là các loài cá nhỏ, giáp xác và các loài động vật không xương sống khác

Giai đoạn cá mới nở (3 ngày tuổi) dinh dưỡng bằng noãn hoàng Sau 3 ngày tuổi,

ăn động vật phù du, ấu trùng giáp xác, ấu trùng nhuyễn thể, giai đoạn ấu niên ăn tôm,

cá nhỏ

Trong sinh sản nhân tạo, khi cá hết noãn hoàng cho ăn trứng hầu kích thước 60 –

90µm, Rotifer dòng nhỏ (Brachianus rotindunformis) kích thước < 100µm Sau 8 ngày tuổi cho ăn Rotifer kích thước lớn hơn (B plicatilis Khi cá đạt chiều dài 1cm cho ăn

Nauplii Artemia, Copepoda, khi cá cỡ 4 – 5 cm trở lên cho ăn Artemia trưởng thành,

cá tạp băm nhỏ, thức ăn tổng hợp Trong nuôi thương phẩm cho ăn cá tạp, thức ăn chế biến, thức ăn tổng hợp

Trang 39

Cá 30 g/con, sau thời gian 9 - 10 tháng nuôi cá đạt cỡ 500 - 960 g/con, kích thước 28cm, tỷ lệ sống đạt 95% [101], [46], [74]

độ mặn cao và ổn định 30 – 35ppt Trứng sau khi thụ tinh có đường kính khoảng 0,78 – 0,81mm, đường kính giọt dầu khoảng 0,15 – 0,16mm Thời gian phát triển phôi phụ thuộc vào nhiệt độ nước, sau 15 – 24 giờ trứng sẽ nở ra ấu trùng Giai đoạn phát triển phôi và ấu trùng mới nở sống trôi nổi, được sóng, gió, thủy triều đưa vào vùng nước nông ven bờ để sinh trưởng và phát triển

Ấu trùng mới nở có chiều dài từ 1,56 – 1,87mm và có khối noãn hoàng to ở bên dưới, ở phía trước có giọt dầu nhỏ giúp cá có thể nổi trong nước Sắc tố phân bố rải rác

ở cả đầu, khắp cơ thể và cả trên bề mặt khối noãn hoàng Sau 2 ngày tuổi noãn hoàng tiêu gần hết, cá đạt chiều dài 3,13mm và bắt đầu ăn thức ăn ngoài Khi đạt chiều dài 28,4mm, lúc này cá có hình dạng giống cá trưởng thành

1.4.4.6 Giá trị kinh tế của cá hồng

Cá hồng (Lutjanus spp) là những đối tượng có giá trị kinh tế cao, tốc độ tăng

trưởng tương đối nhanh, thịt thơm ngon và được thị trường thế giới ưa chuộng, đặc biệt là thị trường Châu Á như Hồng Kông, Đài Loan, Singapore,… Cá hồng hiện đang được nuôi ở nhiều nước trên thế giới như: Hồng Kông, Malaysia, Philippine, Indonesia, Thái Lan, Australia và một số nước Nam Mỹ khác Cá hồng được nuôi với hai hình thức, nuôi lồng trên biển và nuôi trong ao đất, nguồn giống từ sản xuất nhân tạo và một phần giống thu từ tự nhiên, thức ăn sử dụng chủ yếu là cá tạp

1.4.5 CÁ MÚ (CÁ SONG) (Epinephelus spp)

1.4.5.1 Đặc điểm hình thái và vị trí phân loại

 Đặc điểm hình thái

Trang 40

Bảng 1.7: Đặc điểm hình thái một số loài cá mú nuôi

Cá mú chấm đỏ

(E akaara)

Thân hình thoi dẹp bên, chiều dài bằng 2,7 – 3,2 lần chiều cao, mõm nhọn, miệng rộng, răng sắc nhọn Hai vây lưng liền nhau, vây lưng lồi tròn, thân màu hồng xám có nhiều chấm đỏ, chiều dài tối đa 51cm, thường gặp cỡ 31cm

Cá mú cọp

(E fuscoguttatus)

Thân hình thoi dẹp bên, chiều dài thân bằng 2,6 – 2,9 lần chiều cao, mắt to, miệng rộng, răng sắc Vây đuôi lồi tròn, thân có màu nâu vàng xám, có 5 vạch ngang màu nâu nhạt, có nhiều chấm nâu đậm chiều dài lớn nhất dài 120cm cân nặng 11kg, thường gặp cỡ 50 cm

Cá mú mỡ

(E tauvina)

Đầu và thân có màu xanh xám nhạt hoặc hoặc màu nâu với các chấm tròn khác nhau từ màu đỏ gạch mờ đến màu nâu tối, trung tâm chấm tròn có màu tối hơn rìa ngoài Chiều dài thường gặp từ 50 – 75cm

Cá mú Bơlêkơri

(E bleekeri)

Thân hình thoi, dẹp bên, chiều dài thân bằng 3,0 – 3,5 chiều cao Miệng rộng, răng sắc nhọn Cơ thể có màu nâu, đuôi có màu tối mờ Các chấm có màu đỏ cam, chấm phân bố đều trên cơ thể, kích thước chấm bằng nhau Cỡ lớn nhất 76cm, thường gặp cỡ 30 – 50cm

Hình 1 13: Cá mú (Epinephelus bleekeri) Hình 1 14: E Merra

Ngày đăng: 13/08/2016, 03:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Kungvankij, 1986. Sinh học và kỹ thuật nuôi cá Chẽm (Lates calcarifer Bloch, 1790). Nguyễn Thanh Phương dịch, 1994. Nhà xuất bản Nông nghiệp, 77 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lates calcarifer
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
5. Chung Lân, 1969. “Đặc điểm sinh học và sinh sản nhân tạo các loài cá nuôi”. Nhà xuất bản KHKT – Hà Nội. Dương Tuấn dịch, 307 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm sinh học và sinh sản nhân tạo các loài cá nuôi
Nhà XB: Nhà xuất bản KHKT – Hà Nội. Dương Tuấn dịch
6. Lê Trọng Phấn, Trần Đôn, Hồ Sĩ Bình, 1999. “Cơ sở sinh học cá biển nhiệt đới Việt Nam”. Phần 1, Vịnh Bắc bộ. Nhà xuất bản Nông nghiệp, 232 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở sinh học cá biển nhiệt đới Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
7. Nguyễn Hữu Phụng, Lê Trọng Phấn, Đỗ Thị Nhƣ Nhung, 1995. “Danh mục cá biển Việt Nam”. Tập 3. Nhà xuất bản Khoa học kỹ thật, trang 240 – 308 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh mục cá biển Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học kỹ thật
8. Nguyễn Tuần, Đỗ Văn Khương, Nguyễn Văn Phúc, 2001. “Công nghệ nuôi vỗ và sinh sản nhân tạo cá vược (Lates calcarifer, Bloch 1790)”. In trong“Tuyển tập các công trình nghiên cứu nghề cá biển”, tập II, trang: 443-459.NXB Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Công nghệ nuôi vỗ và sinh sản nhân tạo cá vược (Lates calcarifer, Bloch 1790)”". In trong “Tuyển tập các công trình nghiên cứu nghề cá biển
Nhà XB: NXB Nông nghiệp Hà Nội
9. Hoàng Tùng, Lưu Thế Phương, Huỳnh Kim Khánh, 2007. “Thử nghiệm ương cá chẽm (Lates calcarifer) hương lên giống bằng mương nổi đặt trong ao đất”. Tạp chí Khoa học – Công nghệ Thủy sản số 01/2007; trang 12 – 18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Thử nghiệm ương cá chẽm (Lates calcarifer) hương lên giống bằng mương nổi đặt trong ao đất”
10. Nguyễn Nhật Thi, 1991. “Cá biển Việt Nam. Cá Xương vịnh Bắc bộ”. Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật, trang 84 – 85 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cá biển Việt Nam. Cá Xương vịnh Bắc bộ
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật
11. Mai Đình Yên và ctv, 1979. “Ngư loại học”. Nhà xuất bản Đại học và Trung học chuyên nghiệp, trang 250 – 260 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngư loại học
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học và Trung học chuyên nghiệp
16. Allen, G. R., 1985. Lutjanus argentimaculatus (Forsskal, 1775), FAO species catalogue. Vol. 6. Snappers of the world. Pp. 58–60 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lutjanus argentimaculatus
1. DANIDA - Bộ Thuỷ sản (dự án SUMA), 2003. Danh mục các loài nuôi biển và nước lợ ở Việt Nam, trang 8-31 Khác
2. Lại Văn Hùng, 2004. Dinh dưỡng và thức ăn trong nuôi trồng thủy sản. Nhà xuất bản Nông nghiệp TP Hồ Chí Minh, 123 trang Khác
3. Đỗ văn Khương, 2001. Nghiên cứu công nghệ sản xuất giống và nuôi một số loài cá biển có giá trị kinh tế cao trong điều kiện Việt Nam. Báo cáo tổng kết đề tài khoa học và công nghệ cấp nhà nước. Viện Nghiên cứu Hải sản, Bộ Thủy sản. 76 trang Khác
15. http:/www.fao.org/fishery/topic 3380. Dịch từ tài liệu: http://www. Fishbase.org/Eschmeyer/Eschmeyer Summary.cfm.ref No=2787 Tài liệu tiếng Anh Khác
17. Celikkol, Barbaros, Judson DeCew, M. Robinson Swift, Igor Tsukrov, Ken Baldwin, Ashley Risso and Ryan Despins. 2007a. Numerical Modeling of the OCAT Cage and Mooring System. University of New Hampshire final report on USB Project 7512 to the United Soybean Board and U.S. Soybean Export Council, St. Louis, MO Khác
18. Cremer, Michael C. 2006. Pulse Feed Delivery System for USB OCAT Ocean Cage. Specifications provided to UNH by the U.S. Soybean Export Council, September 2006 Khác
19. Cremer, Michael C., and H.R. Schmittou. 2003. Marketing Proposal: Ocean Cage Aquaculture Technology. Proposal submitted to the American Soybean Association and United Soybean Board, St. Louis, MO, 15 January 2003 Khác
20. DeCew, Judson, Ryan Despins, M. Robinson Swift, Barbaros Celikkol, and Ken Baldwin. 2007. Preliminary Investigation of Utilizing Copper Net on a Small Scale Aquaculture Fish Cage. Open Ocean Aquaculture Engineering Project, University of New Hampshire, Durham, NH 03824. September 2007 Khác
21. Goudey, Cliff. 2004. Cage and Mooring Specifications for the ASA 2 m x 4.5 m x 7 m Prototype Offshore Cage. Contract report prepared for the American Soybean Association, St. Louis, MO Khác
22. Schmittou, H.R. 2003. Cage Design and Construction. Design recommendations submitted to the aquaculture team, American Soybean Association, China, 10 November 2003 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. 1: Nhóm đối tƣợng cá biển và sản lƣợng nuôi năm 2010 trên thế giới - QUY TRÌNH VẬN HÀNH MỘT TRANG TRẠI NUÔI CÁ BIỂN QUY MÔ CÔNG NGHIỆP, HIỆN ĐẠI
Hình 1. 1: Nhóm đối tƣợng cá biển và sản lƣợng nuôi năm 2010 trên thế giới (Trang 11)
Hình 1. 3: Hình thái ngoài cá giò (Rachycentron canadum) - QUY TRÌNH VẬN HÀNH MỘT TRANG TRẠI NUÔI CÁ BIỂN QUY MÔ CÔNG NGHIỆP, HIỆN ĐẠI
Hình 1. 3: Hình thái ngoài cá giò (Rachycentron canadum) (Trang 19)
Hình 1. 4: Phân bố địa lý của cá giò (Rachycentron canadum) - QUY TRÌNH VẬN HÀNH MỘT TRANG TRẠI NUÔI CÁ BIỂN QUY MÔ CÔNG NGHIỆP, HIỆN ĐẠI
Hình 1. 4: Phân bố địa lý của cá giò (Rachycentron canadum) (Trang 21)
Hình 1. 5: Cá chim vây vàng ( Trachinotus blochii) - QUY TRÌNH VẬN HÀNH MỘT TRANG TRẠI NUÔI CÁ BIỂN QUY MÔ CÔNG NGHIỆP, HIỆN ĐẠI
Hình 1. 5: Cá chim vây vàng ( Trachinotus blochii) (Trang 26)
Hình 1. 6: Phân bố địa lý của cá chim vây vàng (Trachinotus blochii) - QUY TRÌNH VẬN HÀNH MỘT TRANG TRẠI NUÔI CÁ BIỂN QUY MÔ CÔNG NGHIỆP, HIỆN ĐẠI
Hình 1. 6: Phân bố địa lý của cá chim vây vàng (Trachinotus blochii) (Trang 27)
Hình 1. 18: Phân bố địa lý của cá hồng Mỹ - QUY TRÌNH VẬN HÀNH MỘT TRANG TRẠI NUÔI CÁ BIỂN QUY MÔ CÔNG NGHIỆP, HIỆN ĐẠI
Hình 1. 18: Phân bố địa lý của cá hồng Mỹ (Trang 47)
Hình 2. 2: Hoạt động của hệ thống mương nổi - QUY TRÌNH VẬN HÀNH MỘT TRANG TRẠI NUÔI CÁ BIỂN QUY MÔ CÔNG NGHIỆP, HIỆN ĐẠI
Hình 2. 2: Hoạt động của hệ thống mương nổi (Trang 54)
Hình 3. 1: Thức ăn công nghiệp cho cá biển - QUY TRÌNH VẬN HÀNH MỘT TRANG TRẠI NUÔI CÁ BIỂN QUY MÔ CÔNG NGHIỆP, HIỆN ĐẠI
Hình 3. 1: Thức ăn công nghiệp cho cá biển (Trang 62)
Hình 3. 3: Cho cá ăn bằng tay và máy tự động    3.3. THEO DÕI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA ĐÀN CÁ NUÔI - QUY TRÌNH VẬN HÀNH MỘT TRANG TRẠI NUÔI CÁ BIỂN QUY MÔ CÔNG NGHIỆP, HIỆN ĐẠI
Hình 3. 3: Cho cá ăn bằng tay và máy tự động 3.3. THEO DÕI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA ĐÀN CÁ NUÔI (Trang 64)
Hình 3. 4: Lọc phân cỡ cá bằng sàng và bằng máy tự động - QUY TRÌNH VẬN HÀNH MỘT TRANG TRẠI NUÔI CÁ BIỂN QUY MÔ CÔNG NGHIỆP, HIỆN ĐẠI
Hình 3. 4: Lọc phân cỡ cá bằng sàng và bằng máy tự động (Trang 65)
Hình 4. 1: Cá kiếm và cá nóc là địch hại làm rách lưới lồng nuôi - QUY TRÌNH VẬN HÀNH MỘT TRANG TRẠI NUÔI CÁ BIỂN QUY MÔ CÔNG NGHIỆP, HIỆN ĐẠI
Hình 4. 1: Cá kiếm và cá nóc là địch hại làm rách lưới lồng nuôi (Trang 66)
Hình 4. 5: Vệ sinh khung lồng, loại bỏ sinh vật bám - QUY TRÌNH VẬN HÀNH MỘT TRANG TRẠI NUÔI CÁ BIỂN QUY MÔ CÔNG NGHIỆP, HIỆN ĐẠI
Hình 4. 5: Vệ sinh khung lồng, loại bỏ sinh vật bám (Trang 68)
Hình 6. 1: Kiểm tra an toàn lưới và vá lưới - QUY TRÌNH VẬN HÀNH MỘT TRANG TRẠI NUÔI CÁ BIỂN QUY MÔ CÔNG NGHIỆP, HIỆN ĐẠI
Hình 6. 1: Kiểm tra an toàn lưới và vá lưới (Trang 74)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w