1. Trang chủ
  2. » Tất cả

BÀI HOÀN THIỆN TTCH

142 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 142
Dung lượng 211,26 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Qua đó không chỉ hiểu hơn về truyện thơ Nôm Tống Trân – Cúc Hoa màcòn tìm ra được những đặc điểm riêng, nét độc đáo của truyện thơ này trong sự so sánh,liên hệ với các thể loại khác của

Trang 1

A PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài:

Truyện thơ Nôm là một hiện tượng văn học, văn hóa độc đáo của dân tộc Truyệnthơ Nôm là loại hình tự sự bằng thơ dùng văn tự Nôm, “phản ánh cuộc sống xã hội thôngqua sự trình bày, miêu tả có tính chất hoàn chỉnh vận mệnh, tính cách nhân vật bằng mộtcốt truyện với hệ thống biến cố và sự kiện” (Nguyễn Thị Nhàn) Truyện thơ Nôm là mộtloại truyện kể bằng thơ Do đó, muốn đánh giá đúng giá trị nghệ thuật của truyện thơNôm cần phải chú ý đến tính chất truyện kể của chúng Đó là một nét đặc trưng nghệthuật của truyện thơ Nôm

Truyện thơ Nôm có sức cuốn hút đặc biệt mạnh mẽ đối với mọi tầng lớp ngườiViệt Nam Ngay từ thời trung đại, loại hình văn chương này đã được cả cộng đồng quantâm Do đó, việc nghiên cứu tìm hiểu cũng được đặt ra từ lâu, nhưng kết quả của những

nỗ lực này còn hạn chế

Chọn đề tài “Truyện thơ Nôm Tống Trân – Cúc Hoa dưới góc nhìn văn học và vănhóa dân gian”, tôi muốn đi tìm hiểu về một loại hình văn học và tác phẩm mà chưa có dịptìm hiểu nhiều Qua đó không chỉ hiểu hơn về truyện thơ Nôm Tống Trân – Cúc Hoa màcòn tìm ra được những đặc điểm riêng, nét độc đáo của truyện thơ này trong sự so sánh,liên hệ với các thể loại khác của văn học Việt Nam

Hưng Yên là một tỉnh thuộc đồng bằng châu thổ sông Hồng, nằm ở trung tâm củaĐồng bằng Bắc bộ, nơi không chỉ nổi tiếng vì truyền thống khoa bảng mà còn là nơi lưugiữ một hệ thống truyền thuyết, lễ hội dân gian phong phú, có giá trị cao, mang đặc trưngcủa vùng Đồng bằng châu thổ sông Hồng Lễ hội đền Tống Trân và truyện thơ Nôm

Tống Trân – Cúc Hoa mang tính truyền thống cao đẹp, tưởng nhớ tới danh nhân văn hóa

- tấm gương sáng ngời về tinh thần vượt khó ham học, tài năng đức độ… Do vậy việcnghiên cứu truyện thơ Nôm Tống Trân – Cúc Hoa và lễ hội cổ truyền ở Tống Trân có ýnghĩa rất quan trọng

Việc tìm hiểu truyện thơ Nôm Tống Trân – Cúc Hoa và lễ hội cổ truyền TốngTrân sẽ góp phần bổ sung một chút ít tư liệu cho việc sưu tầm và nghiên cứu văn học dângian nói riêng và văn hóa dân gian nói chung ở làng An Cầu của Hưng Yên; đáp ứng nhu

Trang 2

cầu của đời sống tinh thần, tâm linh của cư dân trong vùng Đồng thời cũng làm sáng rõmột luận điểm mà trong Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ Vkhóa VIII về việc “Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc” đãnêu rõ: “Di sản văn hóa là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắcdân tộc, là cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn hóa Cần phải hết sức coitrọng, bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống”

Hiện nay các công trình nghiên cứu, sưu tầm truyện thơ Nôm, lễ hội đã có nhữngbước phát triển đáng kể song ở các địa phương còn ít được quan tâm Trong bối cảnhchung đó, truyện thơ Nôm và lễ hội cổ truyền ở làng An Cầu cũng không là ngoại lệ

Với tấm lòng của người con đã được sinh ra và lớn lên trên quê hương đất Trạng,tôi chọn đề tài: “Truyện thơ Nôm Tống Trân – Cúc Hoa dưới góc nhìn văn học và vănhóa dân gian” làm luận văn, hi vọng điều đó sẽ giúp tôi không chỉ hiểu rõ hơn vốn vănhọc dân gian của quê hương mình nói riêng mà còn hiểu đúng và sâu hơn văn hóa dângian của đất nước mình nói chung; đồng thời phát huy vốn văn hóa dân gian truyền thốngtrong thời kỳ đổi mới hiện nay ở địa phương

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Mặc dù di tích – lễ hội đền Tống Trân đã tồn tại và phát triển cùng lịch sử củavùng đất, nhưng từ trước cho đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu về truyệnthơ Nôm cũng như lễ hội này một cách có hệ thống Bên cạnh đó, những nguồn tư liệuliên quan đến sự ra đời, tồn tại của nhân vật Tống Trân cũng ít ỏi Chúng ta chỉ có thể bắtgặp những bài viết, những tư liệu về tiểu sử, sự nghiệp nhân vật Tống Trân, những tư liệugiới thiệu khái quát về di tích đền Tống Trân

Cho tới nay, tư liệu về di tích lễ hội đền Tống Trân cũng chưa có nhiều, có thể kểtới một số nguồn tư liệu ít ỏi có liên quan đến hướng nghiên cứu của đề tài:

- Trịnh Như Tấu, “Hưng Yên địa chí” (1934), trong đó có đề cập đến nhân vậtTống Trân, địa danh làng An Cầu và đến Tống Trân

- Hồ sơ khoa học về di tích đến Tống Trân của Ban quản lý di tích và danh thắngHưng Yên Trong đó tập trung tìm hiểu: Lịch sử hình thành, tồn tại của di tích, phần lễhội có đề cập đến thời gian diễn ra lễ hội,…

Trang 3

- Cuốn “Văn hóa – văn nghệ dân gian Hưng Yên” của NXB Hội nhà văn – 2005.Cũng viết về lễ hội đền Tống Trân nhưng rất vắn tắt.

- Cuốn “Những di tích danh thắng tiêu biểu” của NXB Văn hóa thông tin – 2005.Cũng viết về đền Tống Trân song còn sơ sài

- Trong cuốn “Đại Nam nhất thống chí tập 3” của NXB Thuận Hóa, phần viết địadanh và đền miếu có nhắc đến đền Tống Trân và vài dòng tóm tắt tiểu sử Tống Trân

- Trên báo Hưng Yên – số ra 1640 ngày 01/06/2007 đăng bài: “Ánh sáng văn hóa

từ trạng Gầu – Tống Trân” của Nguyễn Đức Can, trong bài viết này tác giả có đề cập đến

sự tích Tống Trân – Cúc Hoa, lễ hội và ảnh hưởng của nó đến đời sống văn hóa, sinh hoạtvăn hóa của cư dân trong vùng, nhưng cũng chỉ trong phạm vi một góc của tờ báo

Từ những nghiên cứu sơ bộ các kết quả của những tác giả đi trước, cho đến naythấy rằng vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu toàn diện, sâu sắc về truyện thơNôm Tống Trân – Cúc Hoa và lễ hội đền Tống Trân Những tư liệu trên sẽ là những tưliệu bước đầu giúp cho tôi tham khảo, kế thừa, tiếp thu để triển khai đề tài của mình

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.

3.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những yếu tố văn học và văn hóa dân giantrong truyện thơ Nôm Tống Trân – Cúc Hoa và lễ hội dân gian đền Tống Trân Phầnnhững yếu tố văn học dân gian tập trung nghiên cứu: cốt truyện, nhân vật, yếu tố kì ảo,ngôn ngữ Phần văn hóa dân gian trong lễ hội đền Tống Trân tập trung nghiên cứu: cácnghi lễ, trò diễn trong lễ hội,… Luận văn tiếp cận và nghiên cứu di tích đền Tống Trân vìđây là địa điểm diễn ra lễ hội và vị thần được thờ ở đây cũng chính là vị thần được tưởngniệm trong lễ hội

3.2 Về không gian tập trung chủ yếu nghiên cứu thôn An Cầu, xã Tống Trân,huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên Ngoài ra còn mở rộng phạm vi nghiên cứu đến các di tíchkhác trong thôn, trong xã có các nhân vật được đón rước về dự lễ hội tại đền Tống Trân

3.3 Về thời gian, đối với lễ hội, luận văn tập trung nghiên cứu sâu hơn lễ hội đềnTống Trân xưa Đồng thời nghiên cứu lễ hội đền Tống Trân đã và đang phục hồi hiện nay

để tìm ra những tư liệu xưa bổ sung cho lễ hội nay thêm phong phú và mang nét cổtruyền

Trang 4

- Lịch sử của Trạng nguyên Tống Trân – vị thần được thờ trong đền Tống Trân.

- Nội dung và diễn trình lễ hội đền Tống Trân xưa và nay trên một số nét cơ bảnnhư: thời điểm diễn ra lễ hội chính, các nghi lễ cơ bản, các trò diễn tiêu biểu,…

- Nghiên cứu đánh giá giá trị của di tích – lễ hội

5 Phương pháp nghiên cứu

Khóa luận sử dụng phương pháp nghiên cứu phân tích và tổng hợp Tập hợp, hệthống hóa tư liệu liên quan để phân tích, đánh giá, đối chiếu, so sánh

Sử dụng phương pháp khảo sát, điền dã, quan sát, tham dự, miêu tả, ghi âm, phỏngvấn nhân dân địa phương để thu thập thông tin

Từ việc tiếp cận đối tượng nghiên cứu dưới góc độ văn hóa học, niên luận sử dụngphương pháp nghiên cứu liên ngành trong văn hóa học: Lịch sử, bảo tàng học, mỹ thuậthọc, dân tộc học,…

Chương 3: Truyện thơ Nôm Tống Trân – Cúc Hoa nhìn từ góc độ văn hóa dângian

7 Giới thiệu một số khái niệm

Trang 5

Trong giới hạn của niên luận này, tôi xin giới thiệu một số khái niệm cơ bản sẽ sửdụng trong đề tài.

5.1 Truyện thơ Nôm

Truyện Nôm là một bộ phận văn học khá độc đáo và có giá trị của nền văn họcphong kiến Việt Nam Ðây là một loại hình tự sự có khả năng phản ánh hiện thực với mộtphạm vi tương đối rộng, vì vậy có người gọi truyện thơ Nôm là trung thiên tiểu thuyết(tiểu thuyết vừa) Bộ phận văn học này được sáng tác bằng chữ Nôm và phần lớn đượcviết theo thể lục bát- thể thơ quen thuộc nhất với quần chúng Một số ít khác viết theo thểthất ngôn bát cú (thơ Ðường luật), tác phẩm Lâm Tuyền kỳ ngộ thuộc loại này

Bộ phận văn học này có một số lượng khá lớn và có vị trí rất quan trọng trong đờisống tinh thần của quần chúng lao động

Giá trị của truyện Nôm đã được khẳng định qua thời gian tồn tại của nó và lònghâm mộ của quần chúng ở nhiều thế hệ Song hiện tại khi nghiên cứu bộ phận văn họcnày chúng ta sẽ gặp một số vấn đề khó giải quyết như: Nguồn gốc, sự phát triển, thờiđiểm sáng tác

Hình thức đầu tiên của các truyện Nôm là những bài hát tự sự của các nghệnhân hát rong (hiện tượng hát rong xuất hiện ở nước ta từ thế kỷ nào thì chưa xác địnhđược, chỉ biết rằng khi có các đô thị thì đã có nhiều người sống bằng nghề này, nhất làsau thế kỷ XV)

Những bài hát tự sự này phần lớn đưọc các nghệ nhân sáng tác hoặc dựa trên cơ sởcủa truyện cổ dân gian, hoặc rút ra từ một truyện Nôm đã có trước Càng về sau, nhữngbài hát này càng được bồi bổ thêm về mặt nội dung cũng như nghệ thuật và đến một lúcnào đố bài hát đã được ghi vào trong sách, từ đó chính thức trở thành một truyện Nôm

Nơi thứ hai sản sinh ra các truyện Nôm là các nhà chùa của đạo phật Ðể tuyêntruyền đạo phật cho các tín đồ mà phần đông là không biết chữ, một số nhà sư có học đãnghĩ ra cách diễn Nôm một số sự tích trong kinh phật, hình thức này ngày càng phát triển

và nhiều truyện Nôm đã xuất hiện theo con đường này

Trong hai hình thức trên cái nào có trước, cái nào có sau chúng ta vẫn chưa xácđịnh được

Trang 6

Truyện Nôm ra đời và tồn tại với hình thái đầu tiên là truyện Nôm truyền khẩu.Sau một thời gian dài, khi phong trào truyện Nôm truyền khẩu phát triển mạnh mẽ thì cácnho sĩ bình dân và bác học đã mạnh dạn sử dụng loại hình văn học này để sáng tác, hoặcghi chép lại những truyện Nôm đã có Từ đó truyện Nôm viết được xuất hiện Cũng nhưmọi hình thái sáng tác, truyện Nôm không phải là đã kế tiếp nhau một cách dứt khoát màmỗi cái khi xuất hiện đều tồn tại song song với những cái xuất hiện trước hoặc sau nó.

Cho đến nay chúng ta vẫn chưa xác định được truyện Nôm viết xuất hiện vào thờigian nào và sự phát triển của nó trong lịch sử văn học Bởi vì cho đến nay hầu hết cáctruyện Nôm còn lại đều không có tên tác giả và thời điểm sáng tác

Hiện nay chúng ta còn một số lượng khá lớn truyện Nôm không còn tên tác giả vàthời điểm sáng tác, người ta gọi bộ phận văn học này là truyện Nôm khuyết danh.Nguyên nhân của hiện tượng văn học này? Có ba nguyên nhân

Do tâm lý coi thường các sáng tác bằng chữ Nôm của các nhà nho Tâm lý này đãảnh hưởng đến nhiều tầng lớp khác nhau trong xã hội kể cả những người sáng tác Do bịcoi thường (bị coi là loại văn học nhảm nhí, nôm na, mách qué) cho nên khi các sáng tácbằng chữ Nôm ra đời tác giả của chúng không được chú ý đến và dần dần bị quên lãng

Do sự cấm đoán, thái độ thù địch của giai cấp thống trị Ðể tránh búa rìu của bọnchúng, nhiều tác giả đã không dám lưu danh trong sáng tác Ðây là một nguyên nhânquan trọng

Nguyên nhân văn học: Trước khi được ghi chép bằng chữ quốc ngữ, truyện Nômđược lưu hành trong nhân dân chủ yếu là bằng miệng Qua một thời gian dài lưu hành từngười này sang người khác, từ vùng này sang vùng khác nhiều truyện Nôm dần dần mấttên tác giả ban đầu và trở thành tác phẩm khuyết danh, có truyện đã trở nên rất gần gũi

với các truyện cổ dân gian

Truyện Nôm có một số lượng khá lớn hơn nữa lại do nhiều tầng lớp khác nhausáng tác cho nên nội dung cũng như nghệ thuật của nó đều không thuần nhất Ðể tiện choviệc nghiên cứu người ta đã tiến hành phân loại bộ phận văn học này Dựa theo nhữngcăn cứ khác nhau mà có những cách phân loại khác nhau Có thể phân loại theo ba cách

sau: Dựa vào nguồn gốc đề tài có ba loại (Loại lấy đề tài từ các truyện cổ dân gian, loại

Trang 7

lấy đề tài, cốt truyện từ văn học Trung Quốc, loại lấy đề tài, cốt truyện từ những sáng tác

chữ Hán hoặc những sự tích có thật ở Việt Nam); dựa vào nội dung và hình thức (Truyện Nôm bình dân, truyện Nôm bác học); dựa vào mối quan hệ với tác giả (Truyện Nôm hữu

danh, truyện Nôm khuyết danh)

Cả ba hình thức phân loại trên chỉ có tính chất tương đối, trong đó hình thức thứcthứ hai là hình thức phân loại có giá trị khoa học

Vấn đề trung tâm đặt ra trong hầu hết các truyện Nôm bình dân là cuộc đấutranh của những người bị áp bức chống cường quyền bạo chúa bảo vệ tình yêu thủychung, bảo vệ hạnh phúc gia đình, bảo vệ nhân phẩm Qua cuộc đấu tranh nhiều khikhông cân sức ấy, tác giả truyện Nôm bình dân có ý thức làm nổi bật hai vấn đề cơ bản:

Tố cáo bộ mặt thối nát, tàn bạo của xã hội phong kiến trên bước đường suy vong của nó,

đề cao phẩm chất tốt đẹp của quần chúng lao động Ngoài ra các tác giả truyện Nôm bìnhdân cũng thường đưa ra những cách giải quyết tích cực, tiến bộ các vấn đề xã hội

Ba vấn đề này được coi là ba đặc điểm chính về nội dung của truyện Nôm bìnhdân Ba đặc điểm này cũng đã nói lên rằng truyện Nôm bình dân có một nội dung gầngũi với quan niệm đạo đức, thẩm mĩ của quần chúng lao động

Về nhân vật, nhà văn quan tâm đến việc dựng câu chuyện, đến hành động chứkhông chú ý đến tâm lý nhân vật Thường nhân vật phản diện thành công hơn nhân vậtchính diện Nhiều nhân vật còn rất đơn giản mặc dù đã đúng về bản chất

Về phương pháp sáng tác, đã có sự kết hợp giữa yếu tố hiện thực và lãng mạnnhưng sự kết hợp này còn non nớt vô cùng, nó chưa phản ánh được một cách chân thựcquá trình phát triển biện chứng của nhân vật, mỗi truyện đều chưa có được phong cáchriêng, nhiều chuyện còn có chung môtip về nhân vật chính diện (nho sĩ nghèo đỗ trạngnguyên, bị ép duyên rồi vì từ chối mà bị hãm hại hoặc đi sứ xa, sau được sum họp)

Truyện thơ Nôm còn có một số hạn chế: Thể hiện cuộc đấu tranh giai cấp quyếtliệt trong xã hội mới ở khía cạnh đấu tranh bảo vệ tình yêu, hạnh phúc lứa đôi; chưa phảnánh khía cạnh giai cấp thống trị cấu kết với nhau để bóc lột nhân dân về kinh tế, chưa gắnđược cuộc đấu tranh giữa những người bị áp bức vào cuộc đấu tranh của quần chúng lao

Trang 8

động trong xã hội, ước mơ cuối cùng của tác giả là thay đổi triều đại chứ chưa phải làthay đổi chế độ xã hội.

Những hạn chế trên là tất yếu vì sống trong xã hội phong kiến các tác giả khôngthể thoát khỏi ảnh hưởng nhiều hay ít của tư tưởng thống trị xã hội cũng như không thểvượt qua được hạn chế của lịch sử

Tuy còn có một số hạn chế nhất định nhưng Truyện bình dân vẫn là một bộ phậnvăn học có giá trị, là vốn quý trong gia tài văn hóa chung của dân tộc Bộ phận văn họcnày đã đóng góp tiếng nói vào loại hình tự sự của nền văn học nước nhà Cùng với các bộphận truyện Nôm khác, bộ phận truyện Nôm khuyết danh tạo nên một nền rộng rãi đểtrên cơ sở đó xuất hiện kiệt tác Truyện Kiều của Nguyễn Du

5.2 Lễ hội cổ truyền

Lễ hội cổ truyền là lễ hội đã trở thành truyền thống Đó là lễ hội được truyền từnăm này qua năm khác, đời này qua đời khác, lặp đi lặp lại theo một chu kì nhất định, trởthành quy luật Lễ hội cổ truyền có thể có những tên gọi khác nhau như: lễ hội truyềnthống, lễ hội dân gian,… Gọi như vậy là để phân biệt với lễ hội hiện đại

Lễ và hội là hai khái niệm khác nhau Theo Lê Văn Kì và Lê Trung Vũ trong côngtrình Lễ hội cổ truyền thì các khái niệm này được hiểu như sau:

Lễ trong lễ hội là một hệ thống các hành vi, động tác nhằm thể hiện lòng tôn kínhcủa dân làng đối với vị thần linh, lực lượng siêu nhiên nói chung, với thần hoàng làng nóiriêng Đồng thời cũng phản ánh những nguyện vọng ước mơ chính đáng của con ngườitrước cuộc sống đầy rẫy những khó khăn mà bản thân họ chưa có khả năng cải tạo

Nếu như lễ là một hệ thống tĩnh có tính quy phạm nghiêm ngặt thì hội là một sinhhoạt dân dã phóng khoáng diễn ra trên các bãi sân để dân làng cùng bình đẳng vui chơivới hàng loạt các trò chơi, trò diễn đến cả màu sắc, trạng thái, âm thanh Trong niên luậnnày tôi hiểu khái niệm lễ hội cổ truyền theo cách hiểu trên

5.3 Làng và văn hóa làng

5.3.1 Làng

Làng là đơn vị tụ cư cổ truyền ở nông thôn người Việt, một kết cấu cư trú, kinh tế,

xã hội, văn hóa đa dạng, một trong ba khâu quan trọng của cấu trúc xã hội truyền thống,

Trang 9

nối liền nhà với nước Làng xuất hiện rất sớm, từ thời Hùng Vương dựng nước, gọi làchạ, trải qua một lịch sử phát triển và biến đổi lâu dài Bên cạnh việc thi hành luật phápcủa nhà nước, làng có lệ làng, có hương ước và khoán ước; giữa một số làng như ở MiềnBắc có tục kết chạ Làng còn giữ một số yếu tố dân chủ, thô sơ thể hiện trong bầu cử, bãimiễn các chức vụ lí dịch và bộ máy tự quản Mỗi làng có đình thờ thành hoàng, thường làngười có công chống giặc ngoại xâm hay có công chiêu dân lập ấp, hoặc là các vị tổ sưcác ngành nghề thủ công Làng có những sinh hoạt văn hóa cộng đồng, thể hiện trong các

lễ hội, các trò chơi dân gian

5.3.2 Văn hóa làng

Khái niệm văn hóa làng gắn với hình ảnh làng xã cổ truyền ở Việt Nam với ba đặctrưng cơ bản: ý thức cộng đồng làng (ý thức dân chủ làng xã, cộng đồng trong sản xuấtbảo vệ xóm làng, xây dựng văn hóa, lối sống, đạo đức,…); ý thức tự quản (thể hiện rõnhất trong việc xây dựng hương ước); và tính đặc thù độc đáo, rất riêng của mỗi làng (cókhi hai làng gần nhau nhưng không hề giống nhau)

Văn hóa làng được thể hiện thông qua các biểu trưng văn hóa mang giá trị truyềnthống: từ cây đa, bến sông, con đê, mái đình, giếng nước đến các bản gia phả, hương ước,tập tục, hội hè đình đám, tín ngưỡng, cấc nghề thủ công truyền thống, những làn điệu dân

ca, dân vũ, những người giỏi văn, giỏi võ,… Văn hóa làng mang những giá trị đẹp giàutính truyền thống Tuy nhiên, để phát huy những giá trị ấy, cũng cần phải xóa bỏ nhữngtập tục cổ hủ, lạc hậu

5.3.3 Thành hoàng làng

Thành hoàng là một phạm trù thần linh bảo hộ thành trì của phong kiến TrungHoa, được du nhập vào nước ta từ thời nhà Đường và tiếp tục được duy trì phát triểntrong các triều đại phong kiến Việt Nam Tại kinh đô có miếu thờ thành hoàng cả nước,các tỉnh đều có miếu thành hoàng Thành hoàng từ Trung Hoa sang Việt Nam cũng cónhưng đã buộc phải thay đổi ít nhiều

Nông thôn Việt Nam xưa không có thành trì nhưng vẫn có miếu thành hoàng Đó

là thành hoàng làng Theo tác giả Nguyễn Duy Hinh:

Trang 10

“Thành hoàng làng người Việt là một vị thần được dân thờ, sau đó mới được vuaphong tước với chức danh thành hoàng” [11, 61]

Như vậy nước ta có hai hệ thành hoàng: một là hệ thành hoàng kiểu phong kiếnTrung Hoa, hai là hệ thành hoàng làng của người Việt

Hệ thành hoàng thứ hai mới là dòng chủ thể phản ánh bản chất tư duy tôn giáo, tínngưỡng Việt Nam

Trang 11

Chương 1: KHẢO SÁT CÁC DẠNG TỒN TẠI CỦA TRUYỆN THƠ

TỐNG TRÂN – CÚC HOA 1.1 Các dạng lưu truyền của truyện thơ Tống Trân – Cúc Hoa:

Truyện thơ Tống Trân – Cúc Hoa từ xa xưa đã được nhân dân rất yêu thích và lưutruyền rộng rãi trong nhân gian Tuy nhiên, qua mỗi người kể và lưu truyền, truyện TốngTrân – Cúc Hoa đã có ít nhiều thay đổi Hiện nay truyện được tìm thấy năm dạng lưu

truyền:

1 Truyền thuyết về Tống Trân (thần tích làng An Cầu, thần tích làng Phù Anh –

xã Tống Trân – huyện Phù Cừ – Hưng Yên)

2 Truyện kể về Trạng Gầu – Tống Trân (Nguyễn Thúc Khiêm kể – Tạp

chí Nam phong – số 159, 160 – năm 1931).

3 Truyện cổ (tích) do nhân dân làng An Cầu kể

4 Truyện thơ nôm “Tống Trân – Cúc Hoa”

5 Truyện Tống Trân – Cúc Hoa dịch sang tiếng Thái, có tên Truyện TrạngNguyên

Các bản kể trên tương đối giống nhau, cốt truyện giống với bản được ghi chéptrong thần tích làng An Cầu Chỉ riêng bản Truyện Trạng nguyên của người Thái có một

số điểm tương đồng và khác biệt khá thú vị, cho thấy sự giao lưu văn học, văn hóa làkhông biên giới

1.2 Làng An Cầu kể chuyện Tống Trân – Cúc Hoa

1.2.1 Tổng quan về làng An Cầu và xã Tống Trân

1.2.1.1 Lịch sử mảnh đất An Cầu

An Cầu ngày nay còn có tên gọi là An Đô, tục gọi là làng Gầu Đây là mảnh đất cócon người định cư khá sớm, ngay từ buổi đầu của thời kỳ dựng nước và giữ nước của dântộc Việt Nam Đầu Công nguyên, mảnh đất này thuộc huyện Cửu Diên, quận Giao Chỉ.Thời Tiền Lê đổi thành lộ, địa bàn An Cầu thuộc huyện Khoái Lộ Đến thời nhà Lý (thế

kỷ XI), chia cả nước thành 24 lộ, mảnh đất này vẫn thuộc huyện Khoái Lộ Khi Trần TháiTông lên ngôi (năm 1252) đổi thành 24 lộ thành 12 phủ thì An Cầu thuộc huyện PhùHoa, phủ Khoái Châu

Trang 12

Năm Quang Thuận thứ 10 (1469), Lê Thánh Tông bỏ cấp trấn, chia cả nước thành

13 đạo, An Cầu thuộc huyện Phù Dung đạo Sơn Nam

Năm Cảnh Hưng thứ 2 (1742) Lê Cản Tông đổi đạo thành trấn, An Cầu thuộchuyện Phù Dung, phủ Khoái Châu của Sơn nam Thượng trấn

Đến năm Minh Mệnh thứ 12 (1831) thành lập tỉnh Hưng Yên gồm 2 phủ, 8huyện : huyện Đông Yên (Đông An), Kim Động, Phù Dung (Phù Cừ), Thiên Thi, Tiên

Lữ thuộc phủ Khoái Châu (trấn Sơn nam cũ), huyện Thần Khê, Duyên Hà, Hưng Nhânthuộc phủ Tiên Hưng (trấn Nam Định cũ) – An Cầu là vùng thuộc Phù Cừ, phủ KhoáiChâu, tỉnh Hưng Yên

Trải qua các giai đoạn lịch sử, mặc dù địa giới hành chính của cả nước nói chung,tỉnh Hưng Yên nói riêng cũng đều có sự thay đổi Song, tên tỉnh Hưng Yên vẫn được giữnguyên cho đến năm 1968, nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa nhập 2 tỉnh Hải Dương

và Hưng Yên thành tỉnh Hải Hưng Đến năm 1997, tỉnh Hưng Yên được tái lập theoquyết định của Chính Phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; tách tỉnh HảiHưng thành 2 tỉnh Hải Dương và Hưng Yên, tách huyện Phù Tiên thành 2 huyện Phù Cừ

và Tiên Lữ

Từ sau Cách Mạng Tháng Tám 1945, nhân dân xây dựng chế độ mới, các xã mớiđược thành lập trên cơ sở các làng thì An Cầu là một trong 3 thôn thuộc xã Tống Trân,huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên Trải qua các giai đoạn lịch sử, mặc dù đã có nhiều lần địagiới hành chính của làng – xã được điều chỉnh để thuận lợi trong việc quản lí, lãnh đạo,chỉ đạo phong trào cách mạng của nhân dân tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dânPháp, chống đế quốc Mỹ cũng như cho việc phát triển kinh tế xã hội của địa phương,song tên gọi của làng An Cầu vẫn được giữ nguyên cho đến nay Theo các cụ trong làng

kể rằng : tên gọi An Cầu có nghĩa là sự cầu an, cầu mong cho dân làng có cuộc sống yên

ổn, no đủ

Ngày nay địa giới của An Cầu được xác định là vùng đất nằm hoàn toàn trên địabàn xã Tống Trân - một trong 14 xã, thị trấn của huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên (vốn làđất thuộc tổng Võng Phan, huyện Phù Cừ, phủ Khoái Châu)

Trang 13

1.2.1.2 Đặc điểm vị trí địa lý – điều kiện tự nhiên.

- Vị trí: Làng An Cầu nằm ở trung tâm xã Tống Trân, huyện Phù Cừ, tỉnh HưngYên Đây là vùng đất khá màu mỡ bở sự bồi đắp phù sa của dòng sông Luộc (sông PhổĐà) An Cầu có diện tích đất tự nhiên 389,3 ha có 2 cụm dân cư sống trong đê và ngoài

đê, phía Bắc giáp xã Minh Tiến, phía Nam giáp sông Luộc, phía Đông giáp thôn TràDương, phía Tây giáp thôn Võng Phan

Từ trung tâm thị xã Hưng Yên, thủ phủ của tỉnh đi theo đường tỉnh lộ 39A đếnChợ Gạo rẽ phải theo đường 39B đến ngã tư trung tâm huyện Phù Cừ rẽ phải theo đường

202 đến ngã tư La Tiến rẽ phải theo đường 201 đi khoảng 4km là tới thôn An Cầu

Về đường thủy, ngược tuyên sông Luộc đi phố Hiến theo sông Hồng đi thủ đô HàNội, xuôi sông Luộc đi Ninh Giang (Hải Dương), Kiến An đi ra thành phố Hải Phòng Cóthể nói đến An Cầu bằng cả hai đường thủy và bộ đều rất thuận lợi, đây là điều kiện quantrọng trong việc phát triển kinh tế - xã hội của địa phương

- Địa hình: Xét về địa hình cả nước, chúng ta thấy duy chỉ có tỉnh Thái Bình vàHưng Yên là hai tỉnh đồng bằng châu thổ Bắc bộ không có rừng, núi; địa hình tương đốibằng phẳng An Cầu là vùng đất khá bằng phẳng, cốt đất trũng, thuộc diện nhất nhì trongtỉnh -1.5m so với mặt nước biển Thôn có hai phần diện tích đất khác biệt: phần nằmtrong đê (Sông Luộc) là phần cao hơn dùng để cấy lúa, phần diện tích ngoài để được bồiđắp phù sa hàng năm rất màu mỡ dùng để canh tác cây hoa màu ngắn ngày như ngô, đậu,lạc…

- Khí hậu: Làng An Cầu nằm trong vùng nhiệt đới ẩm gió mùa, một năm có 4 mùa

rõ rệt : xuân – hạ - thu – đông Nhưng có sự phân biệt hai mùa lạnh – nóng : mùa lạnhkhô và ấm từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, mùa nóng mưa nhiều từ tháng 5 đến tháng10

Nhiệt độ tháng nóng nhất vào mùa hè là 39 đến 400 Nhiệt độ thấp nhất vào mùađông là 50C Nhiệt độ trung bình cả năm từ 22 đến 230C Đặc biệt trong tháng 8 và tháng

9 thường có mưa to gió lớn, đây cũng là tháng thường có bão; tuy nhiên ít khi bão đổ bộtrực tiếp vào vùng này Do vậy, ảnh hưởng của bão không lớn bằng các vùng ven biển,lượng mưa trung bình năm ở đây từ 1600 đến 1700mml, số ngày mưa trung bình trong

Trang 14

năm khoảng 147 ngày Lượng mưa nhỏ nhất từ tháng 1 đến tháng 4 Tháng 8 có nhiềungày mưa và lượng mưa nhiều nhất, hàng năm còn có mưa phùn từ tháng 11 đến tháng 4.

Vì vậy, khí hậu ở An Cầu nói chung là khá ẩm ướt, độ ẩm trung bình hàng năm là 86%,

độ ẩm trung bình trong các tháng đều lên đến 80%, độ ẩm không khí và độ ẩm khô hạn ởđây cao hơn các vùng khác trong khu vực châu thổ Bắc bộ

- Sông ngòi và chế độ nước: Nằm trong khu vực châu thổ Bắc bộ, toàn tỉnh HưngYên được bao bọc xung quanh bởi mạng lưới sông ngòi dày đặc An Cầu là một làng nhỏsong cũng có mạng lưới sông ngòi, kênh rạch phong phú phục vụ sản xuất và đáp ứngnhu cầu tiêu úng vào mùa mưa bão Đặc biệt và quan trọng hơn cả là sông Luộc (hay còngọi là sông Phổ Đà, Đà Lỗ) : vốn là phân lưu thuộc sông Hồng ở huyện Hưng Nhân (TháiBình) và đổ vào sông Thái Bình ở Cao Quý ( Tứ Kỳ - Hải Dương) Toàn bộ sông dài70km, đoạn chảy qua Hưng Yên có chiều dài 26km (qua làng An Cầu dài 4km), tạo thànhgiới hạn địa giới tự nhiên về phía Đông và Đông Nam của tỉnh Sông rộng trung bình 150đến 250m, sâu từ 4 đến 6m Từ trước thế kỷ thứ X, nơi hôi tụ giữa 3 con sông lớn : sôngHồng, sông Luộc, sông Vị Hoàng, hình thành nên một ngã ba sông (ngã ba Tuần Vường)

Từ đây người ta có thể ngược sông Hồng đi thủ đô Hà Nội, xuôi sông Hồng ra ngã baTuần Vường (Của Luộc) đi Thái Bình, Nam Định ra biển, hay từ ngã ba Tuần Vườngtheo sông Luộc đi Ninh Giang (Hải Dương), Kiến An (Hải Phòng)

1.2.1.3 Thành phần dân cư.

Làng An Cầu nằm trong vùng có bề dày lịch sử, điều kiện tự nhiên thuận lợi nên

cư dân quần tụ từ lâu đời Do tính chất của cư dân nông nghiệp cần phải có sự đoàn kếtgắn bó cộng đồng, khắc phục thiên nhiên nên người dân nơi đâu rất gắn bó với nhau mặc

dù họ không cùng huyết thống

Trong kết cấu của làng Việt, thì dòng họ là một trong những yếu tố quan trọngmặc dù di cư hay chuyển cư, tồn tại và phát triển của dòng họ qua các thế hệ, các thời kỳ

đã tạo nên sự hình thành và phát triển của làng xã

Dòng họ là một tập hợp những gia đình có chung nguồn gốc về huyết thống, làmột trong những yếu tố quan trọng để cấu thành làng Việt Thông thường một làng Việtđược cấu thành bởi nhiều dòng họ Nhưng cũng có làng lúc đầu do một dòng họ khai lập

Trang 15

lên và tên làng đã mang tên dòng họ đó Dần dần các dòng họ từ nơi khác đến sinh cơ lậpnghiệp theo quan niệm : “đất lành chim đậu” và những dòng họ khai làng, sinh sống lâuđời ở làng là những dòng họ gốc Điều đáng tiếc là các dòng họ ở An Cầu không giữđược gia phả gốc hay nhà thờ họ để có thể tìm về lịch sử tụ cư của các lớp dân cư ở đây.

Làng An Cầu cũng vậy, sự hình thành lên làng An Cầu là lớp dân cư đầu tiên đó làdòng họ Nguyễn, họ đã về đây định cư trước, tiếp đó là họ Phạm, họ Nguyễn Văn, thờigan sau có thêm họ Đào, họ Ngô, họ Đỗ, họ Bùi, họ Trần, họ Bình, thời gian sau nữa cóthêm họ Cao, họ Vũ, họ Lê… Điều đặc biệt là các dòng họ dù to hay nhỏ, dù đến sớmhay muộn, dù là dân ngụ cư hay dân bản địa ở trong làng không có biểu hiện của sự căngthẳng thù hằn Các dòng họ đều có quyền bình đẳng như nhau và chịu sự phân công củalàng trong mỗi dịp hội hè trong những công việc của làng – xã Qua quá trình phát triển,các thế hệ dân cư nơi đây cùng chung lưng đấu cật, cùng xây dựng làng xóm, cư dânngày càng đông đúc và thân thiện Hàng năm, cứ đến dịp giỗ họ, các gia đình trong họ lạigặp nhau để phân bổ đóng góp bằng các quy định ra một mức tiền cụ thể để ông trưởng

họ của dòng họ tổ chức lễ cúng chung cho cả họ Đây là một thể chế có đặc điểm giốngnhư các làng xã khác ở đồng bằng châu thổ Bắc bộ Tổ chức sinh hoạt của dân cư tronglàng lấy nguyên lý lớp tuổi để xác định vị thế xã hội mỗi người theo sự tăng dần của độtuổi, gắn với những mốc quan trọng trong cuộc đời, lần lượt chuyển lên vị trí cao hơntrong sinh hoạt giáp Vì vậy, trong giáp cũng có tính dân chủ, tất cả các thành viên tronglớp tuổi đều bình đẳng với nhau về quyền và nghĩa vụ, ở An Cầu các giáp bao gồm traiđinh của các dòng họ chứ không chỉ có ở trong họ

Những quy định đặt ra là con trai mới sinh ra phải làm thủ tục vào hàng giáp.Hàng năm, những gia đình có con trai thì biện lễ nhập giáp vào dịp lễ hội đầu năm; ngôithứ trong giáp được xác định bắt đầu từ thời điểm nhập giáp Các thành viên được hưởngquyền lợi của làng thông qua giáp và phải gánh các nghĩa vụ của giáp phân cho Mộttrong những nhiệm vụ quan trọng là làm đăng cai giáp; theo lệ làng thì các giáp đăng caihàng năm ngoài các công việc trong giáp mình còn phải biện lễ trong dịp lễ hội, giápđăng cai phải chịu trách nhiệm chính trong việc đồ lễ và việc phục vụ tế lễ rước sách thờthần Các giáp trong làng đều có ruộng riêng, hàng năm cho đấu thầu lấy tiền hoặc thóc

Trang 16

để dùng chi phí cho các công việc chung, các giáp cho các thành viên cấy cầy và biện lễtheo quy định Mỗi công việc đều thông qua trưởng giáp và người điều hành công việctrong giáp Vì vậy, cơ cấu tổ chức của làng truyền thống, giáp đóng vai trò quan trọng, đó

là cầu nối giữa cá nhân với làng Đây cũng là đặc điểm chung của nhiều làng quê vùngđổng bằng châu thổ sông Hồng

Theo số liệu điều tra năm 2008, hiện nay An Cầu có 615 hộ và trên 3000 nhânkhẩu Trải qua bao biến cố của lịch sử, song người dân nơi đây đã từng có truyền thốngđoàn kết, thương yêu để sinh tồn Họ cùng nhau làm ăn, cùng nhau bảo vệ xóm làng, quêhương, cùng nhau chung vui hội hè đình đám và cùng nhau tạo dựng nên những thuầnphong mỹ tục nơi đây mang sắc thái văn hóa của quê Trạng

1.2.1.4 Đời sống kinh tế.

Trước kia khi hệ thống thủy lợi chưa hoàn thiện An Cầu thường bị ngập úng, lụtvào mùa mưa, bất lợi của thiên nhiên là chính nhưng mỗi khi nước rút đi trên bờ ven bãisông Luộc là nơi đất phù sa màu mỡ rất thích hợp cho các loại hoa màu, cây mía, cây dâuphát triển và nguồn tôm cá dồi dào

Địa hình, địa thế trên đây của An Cầu đã quyết định cơ sở kinh tế chính của dânlàng là nông nghiệp trồng lúa nước Tính “chiêm trũng” thể hiện rất rõ nét trong nếp sốngcủa dân làng; từ quy trình canh tác, các thao tác kỹ thuật, công cụ sản xuất đến bộ mặtlàng xóm, bố trí khuôn viên nhà cửa… Đó là, cày bừa phải cắm vè, đi cấy đi gặt dướiruộng sâu phải dùng thuyền Nhà cửa trong vùng đều được tôn cao, bao quanh làng là hệthống ao, hồ, kênh rạch để thoát nước trong mùa mưa lũ

Dưới thời phong kiến chế độ sở hữu ruộng đất manh mún và cuộc sống vật chất kỹthuật lạc hậu không hỗ trợ để làm thủy lợi, cải tạo đồng ruộng nên không tạo ra cho nôngnghiệp có được năng suất cao Theo các bậc cao niên trong làng, các loại giống lúa đượccấy ở đây là các giống lúa chịu úng như: dâu đen, kén muộn, hom, để chúng có thể ngoitheo triền nước nổi vươn lên để phát triển, song năng suất thấp bình quân mỗi sào ruộngchỉ được 3 cối thóc, mỗi cối 16 đấu, mỗi đấu bằng 1,3kg hiện nay Những năm mưa thuậngió hòa thu hoạch còn đạt từ 60 - 70kg/sào, những năm thiên nhiên khắc nghiệt năng suất

Trang 17

tụt xuống chỉ còn từ 20 – 30kg/sào, có năm mất trắng hoặc thu hoạch không tương xứngvới công sức bỏ ra.

Ngoài trồng lúa, với lợi thế có đất phù sa màu mỡ ven sông Luộc, dân làng còntrồng ngô, dâu, mía, đậu… thêm nguồn thu nhập cho dân làng và các giống cây này cũng

đi vào truyền thuyết của dân làng nơi đây Các cụ kể: cây mía trồng ở vùng này là câymía de, thân nhỏ nhưng cao, đốt dài nên rất dễ róc và cho nước ngọt sắc, bà con có thể tự

ép mía nấu mật hoặc bán mía cho nhà máy đường

Nghề trồng dâu nuôi tằm ươm tơ đã từng là nghề truyền thống khá nổi tiếng của

An Cầu :

“ Dù ai buôn đâu bán đâu

Không bằng cách cửi gốc dâu làng Gầu”

Dân nơi đây kể rằng, nghề trồng dâu nuôi tằm là hết sức công phu Nghề này trướchết, phải chăm lo cho cây dâu bởi đây là thức ăn duy nhất của con tằm Ở An Cầu, dâuđược trồng chủ yếu ở ven sông Luộc, vì cây dâu rất thích hợp với đất phù sa sẽ cho nhiều

lá Chăm sóc cây dâu từ trồng tỉa đến chặt, bón phân, cải tạo đất, tưới nước, quả là mộtcông việc vất vả, sao cho thân cây dâu cao, lá dâu hái đúng lứa tằm ăn càng sinh lợinhiều Một sào dâu tốt có thể đủ nuôi từ 3 đến 4 nong tằm một lứa và một nong tằm cho

từ 3 đến 6 kg kén Một cây dâu cho từ 9 đến 10 lứa lá, một năm cây dâu đốn chặt hai lần,

vì tằm rất nhạy cảm với thời tiết, môi trường xung quanh và thức ăn, nếu có bất thường

chúng sẽ chết hàng loạt, vì thế trong dân gian mới có câu “ nuôi lợn ăn cơm nằm, nuôi

tằm ăn cơm đứng”.

Đời sống của con tằm trong mùa nóng ấm từ lúc trứng nở đến khi làm kén kéo dài

từ ba đến bốn lần lột xác (gọi là ngủ một, ngủ hai, ngủ ba và ngủ bốn), mỗi lần lột ngủkhoảng hai ngày rồi lại dậy ăn, ăn xong lại ngủ, sau bốn lần lột xác thì tằm dậy ăn rỗisuốt 7 ngày thì chết Khi tằm ngủ hoặc chín mà gặp trái gió trở trời thì dễ mất cả chì lẫnchài Dù nắng hay mưa bao giờ người chăn tằm cũng phải lấy đủ lá dâu cho tằm ăn liêntục cả ngày lẫn đêm Tằm chín người nuôi phải bắt lên né rơm để tằm làm kén trong bangày Sau khi tằm thành kén người nuôi có thể bóc kén quay tơ Trước đây, An Cầu làmkén ra chủ yếu để bán, khách đến mua tơ là các lái buôn từ Cẩm Giàng (Hải Dương), Hà

Trang 18

Đông (Hà Tây)… đó là nghề một thời đã đem lại nguồn thu nhập khá cao và được bà controng làng đầu tư nhiều thời gian và công sức Song những năm gần đây, không hiểu tạisao khi mua trứng tằm về hay bị hỏng, tằm ít nở, khi nuôi thường bị chết hàng loạt, bàcon đâm ra nản và cứ càng ngày “gố dâu”, “con tằm” càng rời xa bàn tay bà con nơi đây.

Hiện nay, sau nhiều năm cải tạo xây dựng, kết cấu kinh tế truyền thống của AnCầu có nhiều thay đổi đáng kể, mức độ tăng trưởng kinh tế có rất nhiều khả quan Trướchêt, là trong nông nghiệp: cơ sở kinh tế chính của làng xã đã có những khởi sắc Nhờcông cuộc làm thủy lợi (làm cống tiêu nước ra sông Luộc, xây dựng, nạo vét sông ngòikênh rạch…) mà đồng ruộng của làng hiện nay đã trồng hai vụ lúa và một vụ trồng màutương đối khá, không còn diện tích đồng ruộng nổi trắng nước về mùa mưa như câu ca :

“Đồng trắng nước trong rau rong cua kềnh” nữa Trong khoảng gần chục năm gần đây,

An Cầu thực hiện chuyển đổi cơ cấu kinh tế mà trọng tâm là chuyển đổi cơ cấu cây trồng,vật nuôi Các giống lúa mới như Hai dòng Q5, Kháng dân 9820 – DV108 , Bắc thơm,Xi… được đưa vào gieo cấy đem lại năng suất cao bình quân đạt từ 170 – 180kg/sào (vụmùa), và 190 – 200kg/sào (vụ chiêm) Ngoài ra còn có vụ đông với các loại cây hoa màunhư : ngô, khoai, dưa xuất khẩu, đậu tương, rau xanh… đưa tổng sản lượng lương thựcquy ra thóc của thôn đạt từ 1800 - 2000 tấn, bình quân lương thực đầu người từ 630 –650kg/người/năm

Ngoài trồng lúa, dân làng còn chủ động thâm canh, xen canh, luân canh nhiều câythực phẩm như: đậu, lạc, các loại rau xanh như: cà chua, đỗ quả, su hào, cải bắp… Diệntích trồng dâu xưa nay được thay thế bằng cây ngô, một năm hai vụ đem lại lượng lớnlương thực phục vụ cho chăn nuôi như : chăn nuôi các loại gia súc, gia cầm : trâu, bò,lợn, gà, vịt không ngừng phát triển về số lượng, chất lượng đem lại nguồn thu nhập chínhtrong cơ cáu kinh tế V-A-C (vườn, ao, chuồng)

Hàng chục mẫu ao hồ, đầm được đưa vào sản xuất nuôi cá, hàng năm người dânthu nhập từ nguồn này khoảng vài trăm triệu đồng

Ngoài nông nghiệp, làng còn có khoảng vài trăm lao động đã chuyển sang cáccông việc khác như : làm nghề (mộc, nề, cơ khí), làm dịch vụ (ăn uống, vận tải, vật liệuxây dựng), chạy chợ buôn bán (lợn, gà, may mặc) và đi làm thuê Bên cạnh đó một số

Trang 19

nghề như : chặt sen, thêu ren, mây tre đan… cũng thu hút, tạo việc làm cho vài trăm laođộng lúc nông nhàn.

Kinh tế phát triển đem lại đời sống vật chất và tinh thần của người dân dần khálên; theo số liệu thống kê của Ban quản lý Hợp tác xã năm 2008 có 89.5% hộ gia đình cóđời sống kinh tế ổn định và phát triển, nhiều hộ gia đình giàu, không có hộ đói; 100% hộgia đình có nhà ngói, nhà mái bằng, nhà tầng Trên 90% số hộ gia đình có ti vi màu, 60%

hộ có xe máy, 70% hộ gia đình có điện thoại Bình quân thu nhập tính theo đầu ngườinăm sau cao hơn năm trước : năm 2007 là 6,1 triệu đồng/người/năm, năm 2008 là 6,9triệu/người/năm

Nhìn vào những con số thống kê trên ta thấy mức sống của bà con làng An Cầuthuộc loại trung bình khá so với các làng trong vùng Mặc dù vậy, An Cầu là một làngnông nghiệp, trồng trọt vẫn là chủ yếu, tuy vẫn có thêm một số nghề phụ như : chăn nuôi,làm nghề dịch vụ và buôn bán nhỏ Cũng như các làng quê khác trong tỉnh, An Cầu trongnhững năm gần đây có nhiều biến đổi đáng kể mang lại bộ mặt mới cho một vùng quê có

bề dày lịch sử Khi đất nước đang chuyển mình trong thời kỳ mở cửa, giao lưu và hộinhập, với những biến động lớn về kinh tế - chính trị và xã hội đã làm cho bộ mặt kinh tế,đời sống nhân dân địa phương thay đổi khá lớn lao; làng đã có tủ sách, đội văn nghệ, cónhà văn hóa phục vụ nhân dân sinh hoạt hội họp với đủ trang thiết bị…đường làng ngõxóm đang dần được nâng cấp, tu sửa bằng vật liệu cứng, đổ bê tông, đã có 552 giađình/516 gia đình đạt tiêu chuẩn gia đình văn hóa (89,7%), năm 2000 An Cầu được Ủyban Nhân dân tỉnh Hưng Yên công nhận là làng văn hóa Nhân dân thôn An Cầu ngàynay tự hào và tuyệt đối tin tưởng chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước

1.2.1.5 Đời sống văn hóa – xã hội.

Làng An Cầu có vị thế địa lý thuận lợi, cận kề phố Hiến vì vậy đã hội tụ đượcnhững nét văn hóa truyền thống văn hiến lâu đời Đời sống văn hóa của An Cầu cũng rấtphong phú, với những phong tục tập quán điển hình của làng quê cổ truyền Việt Nam

Theo nhà nghiên cứu dân tộc học Trần Từ, “làng là tế bào sống của xã hội Việt, làsản phẩm tự nhiên tiết ra từ quá trình định cư của người Việt trồng trọt, làng là tổ chức xã

Trang 20

hội hoàn chỉnh nhất, mỗi làng có một hệ thống các thiết chế dựa theo các nguyên tắc tậphợp người gồm xóm ngõ, dòng họ, các phường hội” [21, 11-12].

* Cơ cấu tổ chức của làng An Cầu trước Cách mạng Tháng Tám.

- Xóm ngõ: Khu cư trú của làng có một trục đường chính chạy qua từ Đông sangTây – đây cũng là con đường liên thôn – là đê sông Luộc, chia dân cư thành hai địa bàn :trong đồng và ngoài bãi, đường nối với các trục đường cũng là các ngõ xóm hình xương

cá Theo các bậc cao niên trong làng, buổi đầu làng nằm cơ bản trong đê, sau dân cư đôngđúc nên chuyển ra mở mang làng xóm theo các bãi bồi ven sông Dần dần khu dân cư củalàng tựa như một hình thoi chạy từ Tây sang Đông, từ Bắc xuống Nam Bao bọc lấy làngxóm là hệ thống các lũy tre xanh và các kênh rạch, sông ngòi; toàn bộ các ngõ xóm tronglàng bám lấy trục đường cái như hình xương cá chạy theo hướng Đông – Tây và ngượclại Cũng như nhiều làng quê khác thuộc châu thổ Bắc bộ, một đặc điểm chung của xómngõ ở An Cầu là dân cư luôn có sự liên kết chặt chẽ với nhau bởi mối quan hệ láng giềng

và huyết thống Song, trong lịch sử dân cư ở đây có sự xáo trộn, có dòng họ đi làm ăn xa

và ở lại nơi đất mới, lại có dòng họ khác đến đây sinh cơ lập nghiệp, hoặc trong làng códòng họ lớn phân thành nhiều chi sống ở các xóm khác nhau Vì vậy, sợi dây liên kếtcộng đồng người trong xóm ngõ lại với nhau chủ yếu vẫn là quan hệ láng giềng Cũngnhư dân gian nhiều nơi, họ vẫn bảo nhau: “bán anh em xa, mua láng giềng gần” để làmphương châm đối nhân xử thế trong cuộc sống thường ngày

Cuộc sống cộng đồng xóm ngõ giữa các gia đình ở An Cầu có những mối quan hệchặt chẽ với nhau về cả đời sống vật chất và tinh thần bởi xuất phát từ việc nhà nôngquanh năm vất vả “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời” Vào thời vụ, hàng xóm lánggiềng giúp nhau cày cấy, gặt hái những khi có công việc lớn như cưới xin, làm nhà haygặp hoạn nạn (ốm đau, tang ma), sự giúp đỡ đó càng thể hiện rõ hơn và đầy đủ hơn,không chỉ bằng đồng tiền bát gạo, họ còn đỡ nhau cả tấm áo the, khăn xếp trong nhữngngày hội làng Mỗi xóm có trưởng xóm do dân trong xóm bầu lên, thường là người lớntuổi, nhanh nhẹn, hoạt bát, gia đình nề nếp Trưởng xóm lo điều hành công việc chungnhư : bảo vệ an ninh; cúng vào hè, ra hè; cúng cháo rằm tháng bảy; làm giỗ cho nhữngngười đặt hậu và đặc biệt là làm lễ tất niên (từ 23 đến 30 tháng chạp tùy từng xóm) Đời

Trang 21

sống xóm ngõ dựa trên tinh thần “tương thân tương ái”, “lá lành đùm lá rách” thật bìnhyên, êm ả.

- Tộc họ: Buổi ban đầu cư dân đến đây khai phá, họ cư trú theo từng khu vực đểsinh sống, đánh bắt và sản xuất Làng An Cầu hiện nay có khoảng 13 dòng họ, họ cùng

có công khai khẩn lập làng, nhưng tiêu biểu là một số họ : họ Nguyễn Phúc, họ Phạm, họNguyễn Văn, họ Đào, họ Ngô mỗi dòng họ có một chi, phái riêng; đứng đầu tộc họ làtộc trưởng, có dòng họ xây dựng nhà thờ riêng, có khu mộ riêng Hằng năm, thường vàotháng ba tổ chức cúng lễ : con cháu trong họ tề tựu, tập trung về cúng ông bà, tổ tiên, sửasang mồ mả giữ mối quan hệ dòng tộc, tăng cường tinh thần đoàn kết với nhau Gia tộc,gia đình, làng xóm có mỗi quan hệ với nhau, tạo nên sinh hoạt trong làng xóm

- Tổ chức giáp: Lệ làng quy định, trai đinh từ 16 tuổi trở lên cho đến lúc về giàphải nằm trong tổ chức giáp Để vào giáp, thủ tục đầu tiên của người con trai đó là làm lễtrình làng, gồm : một cơi trầu, be rượu và một vài đồng tiền, mang ra đình có lời với ôngquan Đám để làm lễ thánh trình làng và được ghi tên vào sổ đinh Từ đó, người trai nàychính thức được xếp vào tổ chức giáp, được nhận một suất ruộng công (5 sào), được thamgia sinh hoạt ở đình theo hệ thống giáp, nhưng đồng thời bắt đầu cũng phải gánh nghĩa vụđối mọi công việc như : biện lễ thờ thành hoàng theo lượt, phục vụ lễ hội, đi phu phen tạpdịch, tuần phòng, đến 18 tuổi phải đóng thuế, đi lính

Trước 1945, làng có tất cả 14 giáp, mỗi giáp có 24 người (chia làm 4 mâm) và cóngười đầu bàn phụ trách Đặc biệt ở đây là các giáp này được phân theo lớp tuổi từ trênxuống chứ không phải mỗi giáp gồm trẻ nhỏ, trung niên, người già của nhiều xóm ngõ,dòng họ Hằng năm, thứ bậc của giáp có sự chuyển dịch từ thấp lên cao theo quan niệm(thay tuổi tác) Tuổi tác được tôn trọng theo quan niệm “ kính lão đắc thọ”, trong thứ bậccủa giáp đã tạo ra một không khí dân chủ cộng đồng làng mạc

Giáp ở An Cầu giống như giáp ở các làng Việt khác là thiết chế giữ vai trò quantrọng trong các sinh hoạt cộng đồng làng; là đơn vị quản lý nhân đinh, lo tang lễ chongười chết, đơn vị phân cấp và quản lý công điền, tổ chức biện lễ, phục vụ tế lễ và đámrước khi hội làng

Trang 22

- Hội đồng kỳ mục, chức dịch: Hội đồng kỳ mục bao gồm những người có chứcquyền trong bộ máy quản lý hành chính làng xã; đó là người có phẩm hàm chức tước,bằng cấp trong xã hội phong kiến Trong hội đồng kỳ mục này, đứng đầu là tiên chỉ vàthứ chỉ là hai người có phẩm hàm cao nhất trong làng, còn lại những người khác đượcngười dân ở An Cầu gọi chung là quan viên Họ đều là những người xuất thân có chứctước, phẩm hàm, bằng sắc như quan lại về hưu, còn là cựu chánh (phó) tổng, cựu lí phótrưởng và đều là những người có điền sản khá lớn Thành phần hội đồng kỳ mục ở AnCầu là những người cao tuổi trong làng theo quan niệm : “sống lâu lên lão làng” Hộiđồng kỳ mục là những người có toàn quyền đối với mọi việc trong làng như : bán ngôithứ, chia và đấu thầu ruộng công, san bổ thuế khóa, phân bổ người phu, lính, tổ chức hội

hè, sửa đình chùa, quy định các lệ làng

Chức dịch là bộ phận hành chính, tức đại diện quyền Nhà nước phong kiến ở làng.Thế kỷ XVII – XVIII đứng đầu là xã trưởng, đến thời Nguyễn (1828) là lí trưởng, dưới làphó lí Người nào có tư văn thì hai năm một khóa, chưa có tư văn thì ba năm một khóa.Trong cả khóa, làng cấp cho 200 quan tiền và 2 mẫu ruộng Mãn khóa mà không mắckhuyết điểm thì được ứng tế đình trung, miễn trừ tạp dịch Giúp việc chánh phó lí có bangười ở bàn kỳ dịch (bàn quan viên) để cùng chánh phó, lí trưởng thừa hành công vụ,việc quan quân Ngoài ra, còn có một số thư ký người từ hạng khóa sinh, biết chữ để trợgiúp lí trưởng biên chép các việc sinh tử giá thú cùng các việc chi tiêu, thừa dịch

Bộ máy chức dịch chịu trách nhiệm trước Nhà nước phong kiến bên trên về thuthuế, điều phu, lính, chia ruộng công, bảo vệ trị an

- Các phường hội: Cũng như nhiều làng Việt khác thuộc châu thổ Bắc bộ nóichung, làng xã Hưng Yên nói riêng, An Cầu trong cơ cấu tổ chức làng xã ngoài nhữngthiết chế giữ vai trò nổi bật như : dòng họ, chức dịch…còn có những tổ chức phường hộikhác như: hội tư văn, hội chư bà, hội đồng niên… Đó là những tổ chức dân dã mang tính

tự nguyện cao về nhu cầu quan hệ cộng đồng và mục đích tương trợ lẫn nhau trong cuộcsống

Hội đồng niên là một tổ chức phường hội theo năm sinh lứa tuổi Hội hiệp dựatrên cơ sở tự nguyện, bình đẳng Nếu những sinh hoạt cộng đồng ở chốn đình trung mang

Trang 23

tính ngôi thứ, được quy định chặt chẽ bởi lệ làng thì hội đồng niên là nơi đề cao tính dânchủ, bình đẳng, cởi mở, tương thân tương á Chính vì vậy, tổ chứ hội đồng niên đã trởthành một nhu cầu thiết yếu trong quan hệ cộng đồng Hằng năm, ở An Cầu trở thànhtruyền thống, cứ đến ngày mùng 6 tết Nguyên Đán là ngày họp mặt đồng niên tại nhà mộtthành viên người trong hội, họ thăm hỏi, chuyện trò, chia sẻ niềm vui nỗi buồn, động viêngiú đỡ nhau và tổ chức ăn uống.

Hội tư văn là tổ chức của những người có nho học, nhưng ở An Cầu không phải làđất có nhiều người đỗ đạt nên tổ chức này lại chủ yếu là những người trong bộ máy kỳmục, chức dịch “có chân” trong hội và một số sinh đồ Hội tư văn có trách nhiệm đượcsoạn các văn bản thuộc về lệ làng như : hương ước, các giấy tờ hành chính của làng, đặcbiệt là soạn văn tế thần mỗi khi hội hè đình đám

Hội chư bà là tổ chức của những cụ bà từ 45 tuổi trởi lên theo đạo Phật Hội nàythường xuyên vào ngày sóc vọng (mồng một, rằm) hàng tháng đến chìa để tụng kinh, thờphật, gia đình nào có người mất, hội đến cầu kinh giải siêu và đưa vong linh người mấtlên chùa

- Hệ thống ngôi thứ: Cũng như nhiều làng quê khác ở châu thổ Bắc bộ, quan hệgiai tầng của làng xã được phản ánh sâu sắc ở ngôi thứ chốn đình trung cũng như phảnánh địa vị của người ấy trong xã hội làng xã Đặc điểm đầu tiên của hệ thống ngôi thứnày là hệ thống chỗ ngồi theo tuổi tác thông qua các bàn, trong đó có ba bàn quan viênđược trọng vọng nhất sau các bô lão Song, trong xã hội phong kiến, vị thế con ngườiđược đánh giá bằng bằng cấp, phẩm hàm, chức tước thi tuổi tác đã bị đẩy cuống hàng thứyếu Các ngôi thứ cao cùng với các quyền lợi dành cho những người có các tiêu chuẩnnày: chẳng hạn, người nào có bằng cử nhân, tú tài vào ngày xuất, nhập tịch hàng nămđược kính biếu thủ hoặc chân lợn Cho nên những ai không có, muốn khỏi bị “lép vế”,phải bỏ tiền ta để mua nhiêu, mua xã Song, ở bất cứ vị trí ngôi thứ nào, đương sự cũngphải khao vọng rất nặng, vì thế có người dốc hết gia san đi mua ngôi thứ rồi sau đó lânvào cảnh túng quẫn, gia đình tan nát…

Dân Bạch Đinh là toàn thể những người không có chức tước, phẩm hàm, bằng cấp,hoặc không có tiền để mua chiêu, mua xã Họ là tằng lớp nghèo khổ nhất và phải chịu

Trang 24

mọi khoản như: sưu thuế, binh lính, phu phen, tạp dịch… Trong xã hội phong kiến làng

xã họ bị gọi là dân đing vì chỉ tính nam giới Ở An Cầu dân đinh được tính từ mới sinhtrở lên, đến 49 – 50 tuổi nếu khao vọng hương lão thì được lên lão và được giảm phuphen tạp dịch Họ nằm trong các tổ chức bàn và được chia một phần ruộng công nhỏ bé,nhưng phải gánh vác mọi công việc của làng xã và cũng được ngồi chốn đình trunghưởng một phần “xôi, thịt” mỗi khi hội hè đình đám…

* Cơ cấu tổ chức của làng An Cầu hiện nay:

Từ sau Cách Mạng Tháng Tám đến nay, An Cầu có nhiều thay đổi trong cơ cấu tổchức của làng Hiện nay, làng có 615 hộ gia đình, trên 3000 nhân khẩu với nhiều dòng họ

do quá trình cộng cư lâu dài trong lịch sử Các hộ gia đình sống trong bốn xóm cổ và hiện

ba xóm mới, được gọi tên theo ba đội sản xuất Quan hệ làng xóm láng giềng, trong họngoài làng luôn giữ được những nét đẹp của thuần phong mĩ tục như : tính đoàn kết cộngđồng, tương thân tương ái, trọng tình trọng nghĩa Theo hệ thống chính trị hiện nay, làng

có 3 chi bộ với 104 đảng viên trên tổng số 281 đảng viên trong Đảng bộ xã

Ban quản lý thôn hiện nay gọn nhẹ, đứng đầu là trưởng thôn sau đến các bí thư chi

bộ và các tổ chức đoàn thể như : đoang Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, hội phụ nữ,hội người cao tuổi, hội cựu chiến binh, hội khuyến học…cuộc sống của dân làng dướiđường lối của Đảng và Nhà nước ta ngày càng được nâng cao

* Phong tục tập quán, tín ngưỡng:

Cư dân đến đây cư trú, lập làng cùng nương tựa vào nhau để sinh tồn Sự cố kếtnày dựa trên nền tảng hương ước, quy ước của làng và bảo vệ cho nó là bộ máy làng xã.Đây cũng chính là cơ sở để bảo tồn các giá trị thuần phong mĩ tục, tín ngưỡng, lễ hội củangười dân làng An Cầu

- Về tập tục cưới hỏi: ở An Cầu khi xưa việc hôn nhân theo truyền thống thườngđược tiến hành các lễ : lễ thăm nhà (nhà trai thăm hỏi nhà gái, mang lễ vật đến làm quen);

lễ sơ vấn gọi là lễ dặm hỏi (hỏi tên, hỏi tuổi) để sau đó nhờ thầy xem xét sự tương sinh,tương khắc; lễ ăn hỏi và sau cùng là lễ cưới Song, theo thời gian dần dần có sự rút gọnchỉ còn ba giai đoạn chính đó là chạm ngõ, ăn hỏi và cưới

Trang 25

Lễ chạm ngõ được tiến hành vào buổi tối, lễ vật trong lễ chạm ngõ chỉ gồm ba cơitrầu (15 đến 20 quả cau và vài lá trầu) Nếu cha mẹ cô gái đồng ý sẽ thách cưới, bao gồmmột lễ chín (xôi và thịt lợn hoặc thủ lợn luộc) và các lễ khác như trầu cau, thuốc, rượu…

Lễ ăn hỏi: nhà trai mang đầy đủ những thứ được thách đến, sau khi nhận lễ nhà gáichia lại cho nhà trai mỗi thứ một ít gọi là “lại quả” Những ngày sau nhà gái mang đồthách cưới do nhà trai mang đến chia quà cho họ hàng, làng xóm, báo tin con gái sắp lấychồng và mời họ đến dự Khoảng thời gian từ lễ ăn hỏi đến lễ cưới kéo dài từ một thángđến một năm (tùy theo gia đình xem tuổi cho cô con gái có hợp với thời gian cưới haykhông) Đây là giai đoạn thử thách chàng rể, bổn phận này gồm có “sêu” và “tết” Sêu cónghĩa là ngày 5 tháng 5 âm lịch chàng trai phải mang một con ngỗng và một thúng gạonếp, đến rằm tháng 8 âm lịch phải mang một mâm quả hồng, một mâm cốm đến biếu cha

mẹ vợ Tết tức là trong dịp tết hàng năm (Đoan ngọ, Nguyên đán) chàng rể cũng phảimang đồ lễ tết đến tết bố mẹ vợ

Lễ cưới: Đám cưới được tiến hành, khi rước dâu về nhà trai, bà mẹ chồng phảitrốn cô con dâu mới, sự gặp mặt vào thời điểm này con dâu sau này sẽ không ngoan với

mẹ chồng Khi tổ chức lễ cưới phải có lễ tế hồng, cô dâu chú rể cùng ăn chung miếng trầucùng uống chung chén rượu, cầu nguyện được sống với nhau đến đầu bạc răng lòng

- Về việc tang lễ: Trong làng, trong xóm, nhà ai có người qua đời, xóm đều cửngười đến giúp mọi việc theo đúng tinh thần “tương thân tương ái”, “nghĩa tử là nghĩatận”, nhà nào có người ốm sắp mất thì con cháu về tụ họp quay quần đông đủ Sau khingười ốm tắt thở, người con trưởng thắp đèn hướng lên bàn thờ tổ tiên, khấn vong linh tổtiên về đón linh hồn tụ hội với vong linh tổ tiên, khi liệm có nhà sư vào làm lễ Sau khiliệm xong dòng họ tổ chức tế, gia đình nào khó khăn thì lễ tế chỉ có xôi, thịt lợn, thịt gà,

… gia đình nào khá giả thì có thêm thịt bò Quan tài của người chết đặt ở gian trong, concháu phải thay nhau túc trực bên quan tài Khách đến phúng viếng ở gian giữa nơi đặt bànthờ Thông thường đám ma tổ chức ba ngày mới đưa ra nghĩa địa của làng để chôn cất.Trong thời gian tổ chức đám ma, tang chủ phải làm cỗ mới khách và những người trongdòng họ đến ăn

Trang 26

Ngày nay, thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước về xây dựng phong trào nếpsống văn hóa mới; làng An Cầu đã xây dựng được quy ước làng văn hóa Những phongtục tập quán dần dần giản tiện, loại bỏ những hủ tục rườm rà, song vẫn giữ được nét đẹptruyền thống vốn có từ bao đời nay Như trong cưới xin, từ lúc chạm ngõ đến khi cướivẫn giữ được ba lễ chính đó là: lễ chạm ngõ, lễ ăn hỏi, lễ cưới nhưng việc thách cưới củanhà gái chỉ mang tính hình thức, trong ngày tổ chức đám cưới không còn cảnh ăn uốnglinh đình Nhiều gia đình đã tổ chức lễ cưới theo nếp sống mới; đặc biệt trong tang lễkhông để thi hài quá 36 tiếng ở nhà, không tổ chức các nghi lễ rườm rà và bày biện linhđình gây tốn kém.

- Về truyền thống hiếu học: Với truyền thống hiếu học của nhân dân, dưới cáctriều đại phong kiếnViệt Nam đều xuất hiện nhân tài của đất nước, có nhiều vị thi cử đỗđạt cao Chỉ tiếc rằng hiện nay không có tài liệu nào ghi chép cụ thể về truyền thống đỗđạt khoa cử của địa phương Theo lời các cụ kể thì An Cầu vốn là một làng quê nghèonhưng sẵn có truyền thống hiếu học nên người dân ở đây rất quan tâm chăm lo đến sựhọc hành của con cháu Nhiều nhà khá giả mời thầy về dạy học cho con cháu mình Làngcòn có lệ miễn đóng phu sai, tạp dịch cho học sinh, sĩ tử, môn đồ để khuyến khích, độngviên “sự” học hành, đỗ đạt Trong các khoa cử của triều đình phong kiến đã có một sốngười đỗ đạt cao, làm quan ở các triều đại như: Nguyễn Ngọc Thuyên đỗ tú tài được vuaMinh Mạng vời vào dạy học trong Huế; Nguyễn Ngọc Tân đỗ cử nhân và được mời vàolàm quan (giữ chức Huấn Khoa) dưới triều Lê; Phạm Đình Lăng có tài võ nghệ được vua

Lê tín nhiệm cho giữ chức quan vệ úy trong triều đình hay là Phạm Đức Chiêu làm quancửu phẩm trong triều Nguyễn; gần đây có cụ Đào Công ấn làm quan thừa phái huyện…

và còn nhiều vị nho sinh sau khi học xong không tham gia các khoa thi, hoặc đỗ đạtnhưng cáo quan ở nhà cắt thuốc, dạy học như cụ: Từ Lãm, Hương Sư…

Kế thừa truyền thống hiếu học của quê hương, người dân làng An Cầu ngày naymặc dù còn vất vả mưu sinh nhưng rất trọng sự học: con em đến tuổi đi học 100% đềuđược đến trường, tỉ lệ học sinh giỏi, học sinh khá chiếm 50% so với toàn xã, học sinh đỗtốt nghiệp các cấp đạt 99%, hằng năm, tỉ lệ học sinh đỗ vào các trường đại học, cao đẳng,trung học chuyên nghiệp chiếm tỉ lệ từ 60 – 70% Hiện nay, An Cầu có bốn người có

Trang 27

trình độ tiến sĩ, nhiều thạc sĩ, đại học, cán bộ cấp cao đã thành danh, đóng góp cho quêhương, đất nước trên nhiều lĩnh vực.

- Về tín ngưỡng, tôn giáo và đời sống văn hóa tâm linh:

Những sinh hoạt văn hóa lễ hội của người dân nơi đây, ngoài tín ngưỡng thờ tổtiên, thờ ông bà cha mẹ, chủ yếu đều hướng về vị thánh mà họ tôn kính là Trạng nguyênTống Trân Là địa phương có lịch sử hình thành và phát triển lâu đời cho nên ngoài đềnthờ Trạng nguyên Tống Trân còn có các công trình, di tích lịch sử - văn hóa thờ nhữngnhân vật lịch sử như: đền Lê Xá thờ bà Tây cung hoàng hậu (vợ Ngô Quyền), đền AnBến thờ Đoàn Thượng tướng quân thời nhà Lý…

Mặc dù đời sống còn nghèo, nhưng các công trình đó đều được nhân dân đóng gópxây dựng với một niềm tin mãnh liệt, muốn giữ lại và cầu phúc cho những người con đã

hi sinh vì tổ quốc; đồng thời muốn gửi gắm vào thế giới tâm linh một cái gì đó để cầu chomưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, phù hộ cho con cháu ham học thành tài, cho cuộcsống ngày càng bớt khó khăn, vất vả

Các lễ hội ở đây đều được thực hiện chu đáo với tấm lòng thành kính của dânlàng Theo các cụ kể lại, sau Tết cổ truyền của dân tộc, vào ngày lễ “Tiên hiền” tức ngàyrằm tháng Giêng, ở trong làng, từ tráng đinh đến quan viên, chức sắc, áo mũ chỉnh tềcùng dân làng ra đền làm lễ tế Đêm đến, khi nghe tiếng trống chầu giục giã, già trẻ, gáitrai vội vã tấp nập đua nhau ra đền xem hát hội, hát chèo Ngoài lễ hội chính, hằng nămvào tiết thanh minh, các dòng họ trong làng đều tổ chức viếng mộ, bồi đắp mồ mả tổ tiên

để tỏ lòng thành kính, biết ơn đến ông bà tổ tiên…

Nằm ở vị trí thuận lợi trong giao lưu với các vùng, miền cùng tồn tại với tínngưỡng thờ cúng tổ tiên, thờ thần, một bộ phận người dân làng An Cầu theo đạo Cônggiáo Thôn có một họ đạo với trên dưới mười hộ Đồng bào giáo dân giữ gìn mối quan hệlương giáo, sống đoàn kết “tốt đời đẹp đạo”, không có hiện tượng bài bác, kì thị, chốngđối nhau

- Các kiến trúc tôn giáo, tín ngưỡng:

Trước đây, An Cầu là một làng có mật độ dày đặc các di tích đình – đền – chùa –miếu… Trải qua thời gian, thiên nhiên khắc nghiệt và chiến tranh tàn phá, nhiều công

Trang 28

trình kiến trúc tôn giáo, tín ngưỡng có giá trị đã bị hư hỏng, tàn phá như đình KiềuNguyễn, đền An Bến…

Hiện nay, An Cầu chỉ còn lại ba công trình kiến trúc tôn giáo có giá trị đó là: ĐềnTống Trân, đền Lê Xá và chùa Thánh Ân

Đền Lê Xá: đền thờ Tây cung Hoàng hậu vợ của Ngô Quyền – bà là người có côngcùng nhân dân địa phương dẹp tan quân Nam Hán Ngôi đền được xây dựng trên diệntích đất hẹp, mặt tiền quay hướng Tây, phía trước là sân gạch rộng rãi và có ao thả cáthoáng đãng, kế bên về phía Bắc là ba gian nhỏ thờ Mẫu và một gian nhỏ thờ ba ngườicon gái của bà Theo thần tích, thần phả tại đền thì đây là ngôi đền được xây dựng từ thờiĐinh, qua nhiều lần tu bổ, mở rộng, đại tu lớn nhất và gần đây nhất là vào triều Nguyễn.Theo lời kể: khi bà cùng các tướng lĩnh đánh đuổi quân Nam Hán về đất này, sau nhiềungày anh dũng chiến đấu vật lộn với kẻ thù, bà đã hi sinh trên chính mảnh đất An Cầu.Khâm phục trước lòng dũng cảm, xả thân vì dân vì nước, dân làng lập đền thờ bà Đềnđược kiến trúc theo hình chuôi vồ gồm năm gian ngoài, ba gian trong, vật dụng được làmbằng gỗ lim, họa tiết văn hoa được chạm khắc rất tinh xảo… Nhận thấy giá trị của ngôiđền, năm 1992, Nhà nước công nhận đây là di tích lịch sử cần được bảo vệ và cấp kinhphí để tu sửa, nâng cấp khắc phục sự xuống cấp của ngôi đền Hiện tại, cơ bản kiến trúcxưa vẫn còn giữ được vẻ cổ kính và một số cổ vật có giá trị như: tượng bà, hoành phi, câuđối… Hàng năm, cứ đến ngày 5 tháng 1 (âm lịch), nhân dân làm lễ dâng hương tưởngnhớ ngày mất của bà và đến ngày 10 tháng 1 âm lịch thì mở hội để nhân dân đến dự

Chùa Thánh Ân: (còn có tên gọi là chùa Ngói) nằm ở khu đất khá rộng, mặt quay

về hướng Tây hợp với đền Lê Xá Theo dân làng kể rằng, chùa được xây dựng từ thế kỉ

X, qua các thời đại, chùa đều được tu bổ, xây dựng nhiều lần, theo văn tự khắc trênchồng nóc thời Thiệu Trị - thời Nguyễn, chùa đã có sáu gian (ba gian trong, ba gianngoài) rất bề thế, to đẹp

Thời chống Pháp, chùa là một căn cứ cách mạng có giá trị, nơi che giấu các cán

bộ, chiến sĩ, nơi chữa trị thương binh, nơi nghỉ chân để bộ đội vượt sông, nơi đưa - nhậnthông tin của cách mạng, nơi cất giấu quân trang, quân lương cho bộ đội Tại đây đã diễn

ra các cuộc họp bàn kế hoạch chương trình kháng chiến của cán bộ cách mạng địa

Trang 29

phương… Những căn hầm của cách mạng còn giữ mãi đến những năm 1980, sau đó lo sợchùa bị sập nên những căn hầm này đã bị lấp đi nhưng rồi đến năm 2000, do không được

tu bổ kịp thời, chùa bị đổ sập Qua nhiều lần tu sửa, hiện nay chùa Thánh Ân là một trongnhững ngôi chùa khang trang của địa phương có không gian thoáng đãng; gồm tòa tiềnđường năm gian, thượng điện ba gian, hệ thống tượng trong chùa rất đầy đủ: tam đế, di

đà, tam tôn, Ngọc hoàng thượng đế, Nam tào Bắc đẩu, Tòa cửu long, tượng Thánh tăng…Chùa còn có nhà thờ tổ, thờ mẫu riêng, có các nhà tu hành thường trực trông coi như:Thích Đàm Thiệu, Thích Đàm Diêm, Thích Đàm Loan Các vị sư chủ trì ở đây, khi trướcthì làm cách mạng, bây giờ hòa bình thì giúp dân bốc thuốc chữa bệnh…

Bên cạnh sự hiện diện của các di tích vừa nêu, trong tâm khảm người dân làng AnCầu có các di tích khác mà hiện nay chỉ còn dấu tích như: đền thờ Đoàn Thượng (ĐôngHải đại vương) – một vị tướng giỏi dưới triều Lý Dân làng kể lại rằng: trước kia đây làmột trong những ngôi đền bề thế của làng, là nơi hội họp làng xã, nơi sinh hoạt văn hóa,văn nghệ, nơi dạy học của thày trò… Những năm 1960, do nhiều lí do, ngôi đền đã bị dỡbỏ; gần đây dân làng xây dựng lại một miếu nhỏ trên nền đất cũ, bên trong còn lưu giữđược ba sắc phong thời Nguyễn, hai câu đối dưới thời Khải Định

Đến Kiều Nguyễn thời Dương Tam Kha; chùa Cổ Lộng; chùa Bà Xẻ, chùa KimLiên hay miếu thờ Khổng Tử, bia – văn chỉ của làng đều đã bị chiến tranh, thời gian hủyhoại nay không còn nữa

1.2.2 Sự tích về Tống Trân – vị thần được thờ trong đền.

Tín ngưỡng Thành hoàng làng đã từ lâu trở thành phổ biến ở các làng xã ViệtNam, vị thần trong một làng là vị thần cai quản, che chở định đoạt hạnh phúc cho dânlàng Thành hoàng làng là niềm tin thiêng liêng, một chỗ dựa tinh thần cho cộng đồnglàng xã từ bao đời nay và luôn ở trong tiềm thức sâu kín của bao người dân ThànhHoàng là biểu hiện quyền lực tinh thần tối cao của một làng, chi phối đời sống vật chất vàtinh thần của người dân, được người dân tôn thờ với lòng thành kính, là nơi gửi gắm baoniềm tin hi vọng

Thành hoàng là biểu hiện của lịch sử, phong tục, đạo đức, pháp lệ cùng hi vọngchung của làng Lại cũng là môt thứ uy quyền siêu việt, một mối liên lạc vô hình khiến

Trang 30

cho hương thôn thành một đoàn thể có tổ chức và hệ thống chặt chẽ Mỗi làng có thể thờmột hay nhiều vị Thành hoàng Song các vị thần ấy đều được dân làng tôn thờ với lòngthành kính nhất, thiêng liêng nhất.

Qua nghiên cứu và hệ thống tài liệu, Tống Trân là vị thần – vị Thành hoàng duynhất được thờ trong đền Tống Trân Đây là vị thần khá đặc biệt, đặc biệt bởi ông sốngsinh động trong nhiều trang sách, trong tâm thức, trong sinh hoạt văn hóa đa dạng củangười dân Từ ông tỏa ra biết bao ánh sáng văn hóa dân gian lung linh tươi đẹp Có nhiềusách cho biết ông sống thời tiền Lý (thần tích làng An Cầu), sách khác lại nói ông sốngthời Trần (dã sử quan trạng Gầu của Nguyễn Thúc Khiêm) Cũng từ ông, nơi này cho lànhân vật lịch sử đích thực, nơi kia lại khẳng định ông là nhân vật dã sử, nhân vật truyềnthuyết Đến hôm nay, xung quanh ông vẫn còn nhiều băn khoăn tồn nghi Nhưng có một

sự thật không thể phủ nhận là trong sâu thẳm tâm hồn, trí nhớ của người dân Phù Cừ thìnhững câu chuyện về cuộc đời, công tích hành trạng của ông vẫn còn chói sáng và trởthành biểu tượng cho con người nơi đây

Trong các tài liệu: Thần tích làng An Cầu, thần tích làng Phù Anh, sách dã sử tạpbiên, Đại Nam nhất thống chí, Hưng Yên địa chí, truyện thơ nôm “Tống Trân – CúcHoa”, “Kho tàng các ông Trạng Việt Nam” của Đinh Gia Khánh, hay vở chèo cổ “TốngTrân – Cúc Hoa”… Đặc biệt là trong lời kể và biểu hiện trong đời sống sinh hoạt văn hóacủa người dân làng An Cầu, ta nhận thấy hình tượng Tống Trân trở thành nhân vật trungtâm, thành cảm hứng sáng tác chủ đạo Có thể nói qua từng thể loại tác phẩm, trên mỗitrang sách, hình tượng Tống Trân hiện lên với vẻ đẹp của tâm tư, tình cảm của người dânnơi đây dành cho nhân vật

Để nghiên cứu lịch sử vị thần được thờ ở trong đền Tống Trân, trước hết dựa vàocuốn thần tích hiện còn lưu giữ, cuốn thần tích này được soạn vào năm 1947 dựa trên bảngốc của quan Hàn lâm Đông các Đại học sĩ Nguyễn Bính phụng soạn dưới đời vua LêAnh Tông (1572) nay đã bị rách nát Bản sao này do cụ Nguyễn Tân Hưng là Đảng viên,

cụ đồ của làng sao theo bản cũ

Trang 31

Theo thần tích, đời vua Lý Nam Đế, tổng Võng Phan, huyện Phù Dung (nay làthôn An Cầu, xã Tống Trân, huyện Phù Cừ) có người họ Tống, tên là Thiệu Công lấy vợ

là Đào Thị Cuông ở xã Phù Oanh

Hai vợ chồng ông ăn ở rất nhân từ, tu nhân tích đức, các đền chùa lâu ngày đổ nát,phần nhiều xuất của trùng tu Hai vợ chồng đi cầu, chẳng bao lâu bà có mang; đến tháng

11, đúng vào giờ Dần, ngày rằm tháng 4, năm Bính Ngọ bà trở dạ Trong ba ngày liềntrong nhà rất nhiều khí sáng, các tiên ca múa chào mừng Tống Thiệu đặt tên con là TốngTrân

Tống Trân mới lên 3 tuổi đã rất giỏi âm luật, lên 5 tuổi vào học Lí Đường tiênsinh Ngày 29 tháng 9 năm ấy vua Lý Nam Đế mở khoa thi tuyển nhân tài, Tống Trânvào thi cả ba kỳ đều đỗ thủ khoa Ngày 1 tháng 2 năm Quý Sử đỗ đệ giáp nhất cập đệnhất Trạng nguyên Vua khen “Quốc sĩ vô song, tướng tài quả nhị” (trong nước chỉ cómột mình ông là danh giá, tướng tài cũng chỉ có mình ông)

Ngày 10 tháng tư, vua ban cờ biển, 100 vuông gấm và 10 đinh vàng cho vinh quybái tổ Tống Trân bái lĩnh, lên xe về làng bái yết tổ tông Tống Trân kết duyên cùng CúcHoa rồi lập trang ấp riêng ở Phù Anh để ở

Được ba tháng, Tống Trân được lệnh đi sứ nước Tàu, Hoàng đế nước Tàu thử tài,Tống Trân đều ứng đối trôi chảy Vua Tàu phong là “Lưỡng quốc trạng nguyên” và muốn

gả con gái cho trạng nhưng trạng khước từ vì đã có vợ hiền ở nhà Vua Tàu giam ông vàochùa Linh Long nhiều ngày không cho tiếp tế lương thực Trạng xem xét các tượng phậtđều thấy được làm bằng chè lam, ngày ngày trạng bẻ phật ăn dần, hứng nước mưa uống.Trạng lại được một vị tiên giáng thế trao cho binh pháp Thái công Các tiên còn ban choTống Trân ba quả đào tiên, ba nhánh tóc tiên và dạy cho binh thư bí pháp Vua Tàu phụctài bèn phong cho Tống Trân là Phụ Quốc thượng tể đẩu Nam Tống đại vương TốngTrân thăng nhậm kinh Châu, châu Thống Đốc và châu Mã Thánh; đánh giặc Đông NgôBắc Ngụy trong vòng mười năm đều được bình yên cả Vua Tàu ban đồ thiết Việt, choĐông Ngô Bắc Ngụy cùng hòa

Bấy giờ ở trong nước, Cúc Hoa vợ của Trạng đã lớn, ngày càng xinh đẹp; cha mẹCúc Hoa lật lọng muốn gả chồng khác nhưng Cúc Hoa không chịu, đưa mẹ chồng vào

Trang 32

rừng hiến thân cho hổ, hổ không ăn, Cúc Hoa bèn nói: “ngươi không ăn thịt ta thì đưagiúp ta thư này” Nói rồi rút châm cài đầu, bẻ cây viết thư nói rõ ngày cha mẹ làm lễcưới Hổ nhận thư mang đến chỗ Tống Trân Ông xem thư tâu vua xin cho về nước Vềnước, ông đóng quân ở Điềm Xá nay thuộc xã Minh Phượng, huyện Tiên Lữ, tỉnh HưngYên, thay đổi áo quần đến nơi dò la Quả nhiên, thấy Cúc Hoa đang khóc lóc trongphòng Đúng giờ đón dâu, ông đưa quân lính tới đón Cúc Hoa về Ông lại bắt tội ngườingoại thân giáng niên hạn để tang xuống còn một năm Vua Lý Nam Đế rất khen ngợi,phong Cúc Hoa là Quận phu nhân.

Sau khi vua Lý Nam Đế mất, Triệu Quang Phục lên ngôi đã sai sứ thần là NguyễnKhắc Hổ đến xã An Đô vời Tống Trân ra làm quan phụ chính

Tống Trân đại hành quốc chính không kỳ việc to hay nhỏ đều xem qua cả Đến khiTống Trân tuổi ngoại 60 bèn dâng biểu cáo hồi Vua chuẩn y và cho thu thuế xã An Đô

và toàn huyện để dưỡng lão Đến khi trăm tuổi, xã An Đô sẽ phải xây lăng trong địa phận

và phụng sự Cúc Hoa không có con, bị chứng đau bụng được ba hôm thì mất, an táng ởlàng Phù Anh (nay thuộc thôn Phù Oanh, xã Minh Tiến, huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên).Tống Trân dựng miếu trên mộ, trích ba mẫu đất ở đồng xã ấy giao cho một người phụngsự

Sau Tống Trân mở trường dạy học được năm năm thì bị bệnh lên mã đao rồi mấtngày 5 tháng 5 năm Tân Hợi Vua được tin, thương nhớ bầy tôi khôn súy, phong sắc:

“Thượng đẳng, phúc thần” và sai đại thần Nguyễn Đình Huy đem sắc chỉ chuẩn y xã An

Đô phụng sự Về sau lại gia phong: “Thượng đẳng tối linh phụ quốc thượng tể đẩu namsong toán Tống đại vương”

Mỗi năm, tháng 2, tháng 8, vua gia ban 80 quan tiền xanh và sai quan đại thần về

tế lễ Lăng của Vương đất hình đầu rồng, phía trước có hồ Mắt phượng, lại có hốt đá, mũ

đá, ngựa trầu xung quanh Lăng Cúc Hoa ở gò Phượng Hoàng múa, làng xóm ở hai bêntrông tựa như cánh chim xòe Trước lăng có hồ Nga mi Hằng năm cứ vào đêm trừ tịch(30 Tết), người ta lại thấy có hàng trăm, hàng ngàn ngọn đuốc từ Điềm Xá đến An Đô(An Cầu) thì vào trong miếu của chúa Đó là sự linh hiện vậy

Trang 33

1.2.3 Tóm tắt truyện thơ Nôm Tống Trân – Cúc Hoa.

Tống Trân – Cúc Hoa là truyện thơ nôm khuyết danh gồm 1689 câu thơ, xuất hiện

vào khoảng nửa cuối thế kỉ XVIII Truyện đề cao lòng chung thủy, kiên trinh giữa vợchồng

Tống Trân mồ côi cha từ khi ba tuổi, gia cảnh bần hàn, tám tuổi phải dắt mẹ đi ănmày:

Tống Trân số phận long đong,

Lên ba bỗng bị nhà thông chầu giời.

Mẹ già, con bé, thương ôi!

Kém bề no ấm, ngậm ngùi xót thay!

Cúc Hoa con nhà giàu thấy vậy đem lòng thương xót, lấy gạo ra cho và thăm hỏi.Trưởng giả - cha nàng bắt gặp bèn bắt nàng lấy Tống Trân, sau đó từ con, bỏ rể NhưngCúc Hoa thương chàng trai ham học, hiếu hạnh nên đảm đang, quyết tâm nuôi mẹ chồng

và rước thầy học cho chồng Tống Trân thông tuệ hơn người, lại miệt mài kinh sử, támtuổi đi thi đỗ trạng nguyên Được vua gả công chúa nhưng Tống Trân từ chối, bị côngchúa ghét, xui vua cử trạng đi sứ nước Tàu mười năm Vâng mệnh vua đi sứ, qua nhiềuthử thách thắng lợi và chứng tỏ tài trí trong nhiều vụ rắc rối Tống Trân được vua Tàuphong Lưỡng quốc Trạng nguyên và gả công chúa nhưng chàng cũng từ chối

Ở nhà Cúc Hoa một dạ nuôi mẹ, chờ chồng Được bảy năm, trưởng giả thấy TốngTrân không về bèn ép nàng lấy đình trưởng trong làng Cúc Hoa không nghe, hắn nhốtnàng lại, đánh đập tàn nhẫn và tống mẹ Tống Trân xuống chuồng trâu Quá đau khổ và đểthủ tiết với chồng, Cúc Hoa xuống núi Sơn Vị định quyên sinh Sơn thần thương tìnhbiến thành mãnh hổ, tình nguyện sang Tàu đưa thư giúp Cúc Hoa Nhận được thư, TốngTrân đem tâu vua Tàu, vua cho về nước trước thời hạn ba tháng Giữa lúc Cúc Hoa đangđịnh quyên sinh trong phòng kín thì Tống Trân xuất hiện Đám cưới tan rã, mẹ con, vợchồng gặp nhau xiết bao mừng tủi Riêng trưởng giả bị vạch mặt nhục nhã

Công chúa con vua Tàu vẫn một lòng, một dạ yêu và coi Tống Trân là chồng nênxin cha sang nước Việt tìm chàng Thuyền chở nàng ra biển bị bão lớn, công chúa bị sóngđánh trôi dạt vào bờ và được hươu nai cứu sống, chăm sóc, nuôi nấng Tống Trân đi săn

Trang 34

trong rừng, gặp và đưa công chúa về nhà Cúc Hoa vui lòng để chồng cưới thêm côngchúa Kết thúc câu chuyện là cảnh mẹ con, vợ chồng Tống Trân, Cúc Hoa và công chúanước Tàu đoàn tụ, hạnh phúc sau bao năm phân cách.

Ngày nay ở Phù Cừ còn đền thờ Tống Trân tại thôn An Cầu (xã Tống Trân), đềnthờ Cúc Hoa tại thôn Phù Oanh (xã Minh Tiến) Trên bia tại Văn Miếu Xích Đằng –Hưng Yên khắc tên các vị đại khoa vẫn còn ghi tên Tống Trân, đỗ Trạng nguyên nămGiáp Thìn (thời Trần Thái Tông) Điều đó xác nhận cho cốt truyện dựa trên một sự thậtlịch sử, được tác giả dân gian hư cấu thành chi tiết li kỳ đầy kịch tính Tên người, tên đất,tuổi tác đôi khi có tính giả định Sự ra đời, tuổi thi đỗ, làm quan, tuổi kết hôn của TốngTrân đều được đưa vào bậc phi thường tăng sức hấp dẫn cho truyện Ngày nay hoàn toàn

có thể hiệu đính những chi tiết như vậy cho phù hợp với lịch sử Ví dụ thời Trần của ViệtNam tương đương với thời Nguyễn của Trung Quốc chứ không phải thời Tần Nhưng đây

là tác phẩm văn học chứ không phải là lịch sử Vì vậy lần xuất bản này vẫn giữ nguyênvăn bản truyện “Tống Trân – Cúc Hoa” của Nxb Phổ thông ấn hành năm 1960

1.3 Truyện Trạng nguyên (Lai Chang nguyên).

Truyện Trạng Nguyên là sáng tác tiêu biểu của người Thái Truyện có độ dài 2390câu, dài hơn truyện Tống Trân - Cúc Hoa 701 câu Văn bản viết tay bằng chữ Thái cổkhông còn rõ tên tác giả Tác phẩm hiện nay đang được lưu giữ trong kho sách Địa chí,Thư viện tỉnh Sơn La Năm 1997, nhằm bảo tồn vốn văn hóa cổ truyền, Hội Văn họcNghệ thuật tỉnh chép lại trong Truyện thơ trường ca dân gian Thái Nếu chỉ đọc tên nhânvật và sơ lược vài phần, độc giả có cảm nhận rất giống với truyện Nôm Tống Trân – CúcHoa của dân tộc Kinh Người Thái đã kế thừa cốt truyện trên, tái tạo lại, thêm bớt tìnhtiết, tạo ra sinh mệnh mới mang hồn cốt dân tộc mình khiến nó mang dáng dấp khác Đây

là sáng tác minh chứng cho nhận định của nhà nghiên cứu Lê Trường Phát: “hàng loạttruyện thơ của một số dân tộc thiểu số có thể đi cặp đôi với những truyện Nôm của dân

tộc Việt như những cặp bài trùng” Điểm độc đáo dễ thấy ở đây là “truyện thơ này không

hẳn đã là dịch phẩm của truyện Nôm kia, từ truyện Nôm này đến truyện thơ kia đã có khoảng cách khá xa về cốt truyện, các tình tiết ( ) về tính dân tộc của hình tượng nhân

Trang 35

vật, của ngôn ngữ nhân vật”1 Cũng giống như sáng tác cùng loại, nhân vật trong truyệnchia làm hai tuyến rõ rệt Nhân vật chính bao gồm: Túng Tân, Cúc Hoa Hệ thống nhânvật phụ: Bành Hoa, Cao Vương, Linh Tương,

1.4 Những điểm tương đồng và khác biệt của hai dạng văn bản lưu truyền của truyện thơ Tống Trân – Cúc Hoa.

1.4.1 Điểm tương đồng.

Tương đồng là điểm giống nhau giữa hai đối tượng so sánh Về giá trị tư tưởng,Trạng Nguyên và Tống Trân – Cúc Hoa có điểm chung sau: Phản ánh hiện thực xã hộiđương thời Xã hội phong kiến đã đi qua thời kì thái bình thịnh trị, bắt đầu tuột dốc.Chuẩn mực đạo đức với bề dày truyền thống đã bị đổ vỡ, tôn ti, đạo đức, trật tự xã hội tốtđẹp dần dần biến chất, thay đổi theo chiều hướng xấu đi Ở tác phẩm Tống Trân – CúcHoa, vua Nam Việt tuy đứng đầu quốc gia nhưng không đặt lợi ích xã tắc lên trên hết màchỉ chú ý đến lợi ích của cá nhân mình Không cân nhắc trước sau, sẵn có quyền lực trongtay, tên vua Việt tiểu nhân ngay lập tức đồng tình với ác ý của con gái, xuống chỉ bắtchàng lên đường Vua chẳng quang minh, xã hội tất loạn Cảnh trường thi nhốn nháo diễn

ra ở xã hội phong kiến xế chiều thêm một nốt nhấn tô đậm hiện thực đương thời Việc thutiền ở trường thi nhất định không phải là một sự việc ngẫu nhiên chỉ nhằm tô đậm thêm

sự nghèo khổ của nhân vật Vua đã vậy, quan lại phụ mẫu chi dân, bộ phận giúp việc ởlàng xã cũng té nước theo mưa Thái độ lên án gay gắt nhất được đặt vào nhân vật trưởnggiả Tên trưởng giả tuy giàu có nhưng cạn tình người, đặc biệt là lạnh lùng với ngườinghèo khổ Thực ra, hắn gả Cúc Hoa chỉ là một sự dứt bỏ, bởi hắn chỉ thích giàu có tiềnbạc, trái ngược với bản tính trọng tình cảm Khi ấy, Tống Trân chỉ là một kẻ ăn mày, mộthoàn cảnh đối lập với điều kiện đầy đủ, cao sang của gia đình Cúc Hoa Nếu lúc đó, TốngTrân là quan trạng hay chí ít có chút tài sản thì số phận họ đã khác nhiều Vì tham tiền,Trưởng giả sẵn sàng chà đạp, mua bán cả ruột thịt của mình Những tưởng sau khi con rểphú quý thì hắn tốt với họ Nhưng bản chất con người bạc ác của hắn ngày càng lộ rõhơn Tống Trân vì không nhận lời kết hôn với công chúa cho nên bị đày đi sứ mười năm

1Lê Trường Phát Đặc điểm thi pháp truyện thơ các dân tộc thiểu số, chuyên luận, mã số 5.04.01 Thư viện Đại học

Sư phạm Hà Nội Tr.88

Trang 36

Được bảy năm thì tên trưởng giả liền bắt Cúc Hoa về để gả cho kẻ khác Ban đầu hắn còn

dụ dỗ nàng bằng lời ngon ngọt Khuyên không thành, hắn tống giam rồi đánh đập nàngmột cách tàn nhẫn Hắn còn bắt mẹ chồng nàng nhốt xuống chuồng trâu như nhốt mộtcon vật Một người cha không có tình người, tên trưởng giả chính là nhân vật điển hìnhcho tầng lớp địa chủ cường hào ở nông thôn

Hiện thực xã hội phong kiến Thái cũng hiện lên đậm nét Đội ngũ quan lại chia làmhai phe đối lập, có quan lại đức độ, số ấy không nhiều, song đa phần là những kẻ tàn ác.Vua đương triều ngả theo con gái mà sẵn sàng chà đạp lên cuộc đời nhân tài vừa tuyểndụng, không mảy may cân nhắc đúng sai:

“Trả thù chàng, công chúa dâng kế tiến Ngô

Đức vua cũng đồng tình cùng con gái

Truyền cho chàng đi sứ nước Ngô”

Dưới gầm trời, kẻ đứng đầu u tối, nhân tài không được trọng dụng Sau khi dùngmọi thủ đoạn, từ đi sứ đến lên rừng săn thú, xuống biển thu phục mãng xà mà vẫn chưatriệt hạ được Túng Tân, nhà vua thấy lúng túng rồi sợ hãi:

“Liền ngượng mặt ngại ngùng

Lòng nảy ra nhiều chước mưu toan”.

Biết mình không phải là minh quân, chẳng đủ sức thu phục lòng người, vua tìm tớiphương thức hèn hạ nhất trong đời ông ta: tiêu diệt nhân tài bằng thuốc độc để bảo vệngai vàng của chính mình:

“Vua đãi yến trạng nguyên dùng trước Sơn hào hải vị đều tẩm độc Túng Tân ăn xong liền gục ngã”.

Túng Tân đã gián tiếp giết được tên vua vừa ngu muội vừa hiểm độc Qua cái chếtcủa kẻ ác và việc gặp được thuốc tiên mà sống lại, tác giả Thái muốn một lần nữa khẳngđịnh rằng: kẻ ở hiền sẽ được gặp lành, kẻ ác sẽ bị trừng trị thích đáng Tầng lớp trên đãthối nát, lại thêm chuyện hôn nhân gả bán vô nhân ở phạm vi gia đình Trong xã hội miềnnúi, thân phận của người phụ nữ chỉ là “thân con bọ ngựa, bằng thân con chẫu chuộcthôi” (Sống chụ xon xao) Ông Tương - người cha Cúc Hoa đo tình mẫu tử thông qua

Trang 37

lăng kính đồng tiền, lấy số phận người con làm công cụ đổi chác, mối quan hệ ruột thịtcòn bị đổ thì huống chi khác máu tanh lòng Bên cạnh những hình ảnh mục ruỗng ở tầnglớp trên, hiện thực tác phẩm còn được đề cập đến qua một vài phương diện nhỏ lẻ khác.Các hủ tục rườm rà, cảnh ăn uống đình đám trong xã hội xưa được đề cập đến ở khánhiều trường đoạn của tác phẩm Trước cảnh chè chén xôi thịt, ăn trên ngồi trốc của tầnglớp phong kiến, đời sống nhân dân lao động rơi vào cảnh lầm than An nha, phìa tạo tổchức tiệc tùng, chúng dân phải góp trâu, góp rượu Những hủ tục thách cưới nặng nề, màmục đích là nhằm ngăn chặn sự tự do hôn nhân giữa hai giai tầng không cùng đẳng cấp

đã làm giảm đi vẻ đẹp văn hóa vùng miền

Điểm tương đồng thứ hai là ca ngợi vẻ đẹp con người, lòng tự hào dân tộc, ca ngợitình yêu tự do: Thông qua nhân vật Tống Trân, Túng Tân và nàng Cúc Hoa, Bành Hoa,Bạch Hoa, truyện thơ khẳng định vẻ đẹp con người lòng tự hào dân tộc, ca ngợi tình yêu

tự do Chàng Túng Tân trải qua cuộc hai cuộc thử thách Lần thứ nhất là thử thách về trithức sách vở, Túng Tân đã đỗ đạt Đến thử thách lớn và gay go hơn, thử thách trên conđường hoạt động chính trị: hành trình đi sứ Tàu Nhờ có tài ba và đức độ như vậy màTúng Tân đã giành được hạnh phúc và vinh dự: trở thành Then Luông cai quản trời đất.Đối với người Thái, then (vua Mường trời) là thế giới tuyệt đỉnh mà ở đó người già đi,người lột xác Túng Tân không chết, người Thái đã gửi gắm mong muốn con người luônbất tử cùng thời gian Nếu như Túng Tân tiêu biểu cho tài trí của bậc nam nhi thì hai nàngCúc Hoa, Bành Hoa lại tiêu biểu cho đức hạnh của người phụ nữ Những tưởng bông hoarừng trong chốn giàu sang, lúa xếp đầy thưng, đệm ngập sàn ngang sàn dọc thì chỉ biếtvui chơi ca hát mà dửng dưng với kiếp người nghèo, nhưng không phải thế Nhất là nàngCúc Hoa, đức hạnh của nàng được vua Tàu phong thành “bà hoàng ngôi phủ” Trongcảnh đoàn viên, chia ngôi chính thất, nàng có ngôi vị cao hơn Bành Hoa – công chúanước Tàu và cả Cao Vương, con gái vua Thủy Tề

1.4.2 Sự khác biệt.

Ngoài giá trị tư tưởng chung, hai truyện còn có những điểm khác biệt:

Về cốt truyện: Cốt truyện Trạng Nguyện có sự khác biệt so với truyện thơ Nôm

Tống Trân – Cúc Hoa: Quan Tri phủ Thái An tài đức, nhưng vợ chồng hiếm muộn Một

Trang 38

hôm, đến thăm người bạn làm chức sen pằn (giúp việc cho an nha) vốn đuề huề con cái ởMường Vạt, xứ Yên Châu, ngài Thái An xin được con út của họ về nuôi, liền đặt tên con

là Túng Tân Toàn bộ đoạn sau, sự kiện trùng khít với Tống Trân – Cúc Hoa: đỗ trạng, đi

sứ, vua thử tài Sự kiện vua thử tài có thêm chi tiết diệt hổ dữ ở Mường Lang, nước chưhầu Cúc Hoa ở nhà, bị cha Tương độc ác đòi ép gả, Túng Tân về đúng lúc giải thoát chonàng Công chúa nước Ngô, Bành Hoa buồn bã nhớ chồng, đi tìm, bị bão Trạng nguyên

đi săn Đến đảo, nhờ có vết chân in trên cát, trạng nhận ra công chúa Cả gia đình đoàn tụ.Sau đây là đoạn có sự kiện khác biệt: Đất nước thái bình, Túng Tân bỗng nằm mơmình có thể đi lại trên nước, làm rể Long Vương Tỉnh dậy, Túng Tân bàn với hai người

vợ tìm cách lên đường đi Long cung Chàng có thêm người vợ thứ ba, công chúa CaoVương Trở về đất liền, quỷ thuồng luồng gian ác quấy nhiễu, bao dũng sĩ đã ra đi màkhông một người trở về Thuỷ thần mến tài phò mã nên mời chàng đi giúp Túng Tânđược Long Vương cứu giúp, bày mưu giết được thuồng luồng Mở tiệc ăn mừng nhưngtrong lòng ghanh tị, vua bỏ thuốc độc giết chết Túng Tân Biết mưu vua, trước khi đi dựtiệc, chàng dặn ba bà nàng cách đối phó Vua tưởng nhầm thuốc độc nên trạng khôngchết liền cho vào miệng nếm thử Vua chết, cùng lúc đám tang đức vua và trạng diễn ra.Thiên thượng trên trời biết chàng tài trí mà oan khuất, liền mách bảo thuốc quý, chàngsống lại Túng Tân cùng ba người vợ sinh được một hoàng tử và hai công chúa LươngNgau được cha truyền ngôi và kết duyên cùng Sam Phiêu, người đẹp Mường Chuông.Thiên thượng ở trên cao đã quá già, muốn lột xác phải kiếm người tài thay thế, Túng Tâncùng mẹ và ba bà nàng được mời về trời làm then Luông Lương Ngau cùng hoàng hậutrị vì đất nước thái bình Từ kết cấu truyện, người đọc có thể thấy rõ qua mô hình dướiđây Như vậy, tác phẩm Trạng Nguyên xuất hiện 3 lần gặp gỡ, 2 lần lưu lạc và 3 lần đoàn

tụ

Truyện Tống Trân – Cúc Hoa được kể theo kết cấu xâu chuỗi, lắp ghép, có hai lầngặp gỡ, chia li và đoàn tụ Sự kiện chủ yếu xoay quanh mối quan hệ của ba nhân vậtchính là chàng Tống Trân, nàng Cúc Hoa và cha nàng, tên phú ông Tống Trân là điểnhình cho loại “tài trai”, Cúc Hoa là gái sắc và đức hạnh Cả hai đều là những con ngườichung thủy trong tình yêu Còn phú ông thì điển hình cho loại địa chủ tàn ác, tham lam,

Trang 39

bội bạc Xin tạm khái quát mô hình cốt truyện như sau: Truyện xuất hiện 2 lần gặp gỡ, 2lần lưu lạc và 2 lần đoàn tụ.

Khác biệt trong việc thể hiện tư tưởng, chủ đề tác phẩm: Truyện thể hiện khát vọng

chinh phục tự nhiên Truyện Trạng Nguyên của người Thái mang nội dung này, trong khiTống Trân không đề cập Ba sự kiện thể hiện điều này gồm: Thu phục hổ dữ tàn phá bảnmường, chiến thắng môi trường nước, giết thuồng luồng dưới vực sâu

Sự kiện thứ nhất: Thu phục hổ dữ tàn phá bản mường Ở núi, ngoài những mối hiểmnguy khác, thú dữ luôn là nỗi khiếp sợ của dân chúng Điều kì lạ ở chỗ hổ vừa là mộtnhân vật hiền lành có thể phù trợ cho con người, chẳng hạn như trong truyện Ngu háu, lại

có thể là thế lực đe dọa đời sống con người Nhân vật hổ trong truyện Trạng Nguyên làđối tượng thứ hai Hình tượng hổ có thể là “tín ngưỡng bản địa, mang hình bóng tínngưỡng vật tổ” của dân tộc Thái xa xưa Đi sứ nước Tàu, Mường Lang xuất hiện hổ dữ,

ăn thịt truy sát chúng dân, thần nhân khiếp sợ khốn cùng, xương trắng chồng thành núi,dân số vơi đi quá nửa Vua chư hầu dâng sớ xin hoàng đế nước Tàu trị hổ Vua biết sứ giảTúng Tân tài trí, bèn cử đi giết hổ (Câu 765 đến câu 870) Đường xa thẳm dòng dã đi hết

ba tháng trời Quả nhiên, hổ dữ không dễ gì thu phục:

“Tiếng hổ gầm rung đất

Tiếng hú ầm vang khắp rừng xanh

Còn đất nước rộng bao la thì quạnh vắng”.

Túng Tân thu phục hổ dữ - vốn là tiên nữ trên trời bị giáng xuống hạ giới mà thành.Nhưng chàng không thu phục cái ác bằng vũ lực mà bằng tài trí và đức độ Thấy bốn línhhầu cận của Trạng nguyên đang đến gần, hổ dữ nhảy ra chặn đường Họ sợ hãi đưa danhthiếp của Túng Tân Hổ dữ nghe danh chàng đã lâu, tiếng vang đến tận Mường Trời nênhiện nguyên hình khuất phục Chàng một lần nữa được ban thêm tước phẩm nơi sứngười

Sự kiện thứ hai: Chiến thắng môi trường nước: Trong truyện Nôm Tống Trân – CúcHoa, kết thúc tác phẩm, nhân vật Tống Trân chỉ có hai người vợ: nàng Cúc Hoa, người

vợ tao khang từ thủa hàn vi và công chúa nước Tần – Bạch Hoa Ở tác phẩm TrạngNguyên, Túng Tân có thêm người vợ thứ ba là công chúa Cao Vương Cao Vương là con

Trang 40

gái yêu của Long vương, vua trị vì mường nước Chinh phục môi trường trên cạn vốn dễdàng hơn, còn môi trường nước là thế giới bí ẩn, đầy hiểm nguy Chinh phục thể hiệnquan niệm về con người lí tưởng Xét về yếu tố địa hình, trong quá trình di cư xuống phíaNam, dân tộc Thái đã lấy sông Thao, sông Mã làm dải phân cách Môi trường nước làyếu tố vô cùng quan trọng đối với cư dân Thái Dòng nước thiên nhiên gắn chặt với sựphát triển văn hóa xã hội Thái.

“Mí nặm chắng mí mương,

Mí mương chắng mí tạo”

(Có nước mới có mương/Có mường mới có tạo)

Nếu như tạo là người đứng đầu một tổ chức xã hội thì nước là hiện tượng tự nhiênkhai sinh ra tổ chức xã hội mang tên mường Vì vậy, khi xây dựng nhân vật văn học theokiểu anh hùng ca, bao giờ hình tượng này cũng thường trải qua cuộc chinh phục môitrường nước Trong tác phẩm, tạo Trạng nguyên là người đứng đầu một tổ chức xã hội thìtạo mới có đủ tư cách pháp nhân để đứng ra tổ chức xã hội, tác động vào tự nhiên và biến

nó trở thành môi trường sinh hoạt của con người trong xã hội Vì lí do đó, cuộc chinhphục môi trường nước được miêu tả khá kĩ lưỡng (Từ chỗ chàng Túng Tân trong mơ gặpcông chúa Cao Vương (câu 2588) đến chỗ xin sắc phong của vua dưới nước trở về (câu2873) Tình tiết cơ bản của đoạn trích như sau: Một đêm, Túng Tân nằm mơ thấy sứ giảmời chàng xuống thủy cung Tại đây, chàng gặp Long Vương, vua ngự trị miền nước.Vua hứa gả con gái Cao Vương cho chàng Tỉnh dậy, Túng Tân kể lại giấc mơ cho haingười vợ, sau đó giao phó việc nhà, đi xuống thủy cung Tại đây, Long Vương và văn võ

bá quan đã chờ sẵn chàng, cho chàng hợp hôn cùng công chúa Cao Vương Ở nhà, hainàng Hoa ngóng đợi, không thấy chồng về, bèn thông báo cho các châu mường cùngchuẩn bị đi tìm Túng Tân Sau mười năm ở dưới thủy cung, Túng Tân thấy nhớ nhà,chàng xin Long Vương được trở về, vua đồng ý cho Cao Vương theo cùng Cả gia đìnhđoàn tụ

Sự kiện thứ ba: giết thuồng luồng dưới vực sâu Túng Tân đoàn tụ cùng ba người

vợ Ít lâu sau, vì ghen ghét với tài trí của chàng, lại muốn mượn tay để giết Túng Tân, vuasai chàng đi xuống vực xin sắc phong, nơi có hang thuồng luồng hiểm nguy, đã bao

Ngày đăng: 12/08/2016, 21:24

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w