Dân chủ là giá trị của lịch sử xã hội gắn liền với sự tồn tại và phát triển của đời sống con người. Lịch sử loài người đã trải qua nhiều nền dân chủ khác nhau như dân chủ chủ nô, dân chủ tư sản và đang tiến đến xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ XHCN. Dân chủ là bản chất của chủ nghĩa xã hội và cũng là bản chất của nhà nước Việt Nam XHCN. Tiếp thu quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định đúng đắn tầm quan trọng và vai trò to lớn của dân chủ, trong bất kỳ giai đoạn nào, Đảng và Nhà nước ta đều nhận thức việc thực hành dân chủ rộng rãi sẽ tạo nên sức mạnh to lớn, đảm bảo sự thành công của cách mạng Việt Nam. Với nhận thức đúng đắn trên, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp lý quan trọng, đánh dấu những bước phát triển trong việc thể chế hoá phương châm dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra (mà ở đại hội Đảng toàn quốc khóa VI năm 1986 đã nêu) nhằm phát huy quyền làm chủ trực tiếp của nhân dân. Trong đó văn bản quan trọng nhất khẳng định vai trò và tầm quan trọng của việc thực hiện dân chủ ở cơ sở đối với hệ thống chính trị xã hội nước ta, đó là Pháp lệnh số 342007PLUBTVQH 11 về thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn do Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 11 (2007) ban hành ngày 2042007. Thực hiện Pháp lệnh dân chủ cơ sở được gắn với phát triển kinh tế xã hội, cải cách thủ tục hành chính, cuộc vận động Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, các phong trào, các hoạt động văn hoá, xã hội, giữ vững an ninh, trật tự ở cơ sở được nhân dân đồng tình hưởng ứng và thực hiện có hiệu quả, dân chủ nói chung, dân chủ trực tiếp của nhân dân nói riêng tiếp tục được coi trọng, tăng cường. Ngày nay, trong xu thế toàn cầu hóa kinh tế, văn hóa, CCHC trở thành một trào lưu, một nhu cầu thiết thực tự thân, nỗ lực của hầu hết các quốc gia trên thế giới cả các nước đang phát triển và các nước phát triển đều xem CCHC như một động lực mạnh mẽ để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, phát triển dân chủ và các mặt khác của đời sống xã hội, nhằm xây dựng một nền hành chính nhà nước hiện đại, năng động hiệu quả, giảm phiền hà, lấy phục vụ nhân dân làm tôn chỉ, mục đích để từ đó xây dựng và hoàn thiện nền hành chính. Ở nước ta, công cuộc CCHC nhà nước đang là kế hoạch trọng tâm của Đảng và Nhà nước nhằm xây dựng, phát triển hoàn thiện nhà nước pháp quyền XHCN “Nhà nước của dân, do dân, vì dân”, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN với mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh. Công cuộc CCHC được thực hiện ở tất cả các cấp hành chính từ trung ương đến cấp xã, phường, thị trấn từng bước thận trọng và đã thu được nhiều kết quả rất đáng khích lệ. CCHC đang thể hiện rõ vai trò quan trọng của mình trong việc đẩy nhanh sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Tuy nhiên, quá trình CCHC ở Việt Nam còn rất nhiều vấn đề đặt ra cần được tiếp tục giải quyết ngày như vẫn còn bộc lộ sự xa dân, quan liêu, bộ máy cồng kềnh, hoạt động kém hiệu quả, thủ tục hành chính rất nặng nề, gây phiền hà cho dân; chế độ và trách nhiệm công vụ không rõ ràng, thiếu minh bạch; cán bộ, công chức có nhiều người sách nhiễu dân, lãng phí và tham nhũng... Chính vì vậy cần phải đẩy mạnh thực hiện dân chủ cơ sở, đặc biệt là việc áp dụng Pháp lệnh dân chủ cơ sở trong CCHC nhằm thực hiện tốt chủ trương cải cách nền hành chính nước nhà, đồng thời phát huy hơn nữa quyền làm chủ của nhân dân.
Trang 128 Huyện ủy Thái Thụy, Ban chỉ đạo thực hiện Quy chế dân chủ, Báo cáo Kết quả thực hiện Dân chủ ở các loại hình cơ sở năm 2014, Phương hướng, nhiệm vụ năm 2015 (Ban hành ngày 10/ 12/2014) 78
47 Ngọc Tú,“Thái Thụy: Khai trương trung tâm hành chính công” (24/10/2015), bài báo trên website: thaithuy.thaibinh.gov.vn 80
52 Dương Trung Ý (tháng 5/ 2013), Nâng cao sự lãnh đạo của các tổ chức cơ sở Đảng thực hiện hiệu quả dân chủ ở cơ sở, Tạp chí cộng sản số 14 80
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Dân chủ là giá trị của lịch sử xã hội gắn liền với sự tồn tại và phát triển của đời sống con người Lịch sử loài người đã trải qua nhiều nền dân chủ khác nhau như dân chủ chủ nô, dân chủ tư sản và đang tiến đến xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ XHCN Dân chủ là bản chất của chủ nghĩa xã hội và cũng là bản chất của nhà nước Việt Nam XHCN Tiếp thu quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định đúng đắn tầm quan trọng và vai trò to lớn của dân chủ, trong bất kỳ giai đoạn nào, Đảng và Nhà nước ta đều nhận thức việc thực hành dân chủ rộng rãi sẽ tạo nên sức mạnh to lớn, đảm bảo sự thành công của cách mạng Việt Nam Với nhận thức đúng đắn trên, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp lý quan trọng, đánh dấu những bước phát triển trong việc thể chế hoá phương châm ''dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra'' (mà ở đại hội Đảng toàn quốc khóa VI năm 1986 đã nêu) nhằm phát huy quyền làm chủ trực tiếp của nhân dân Trong đó văn bản quan trọng nhất khẳng định vai trò
và tầm quan trọng của việc thực hiện dân chủ ở cơ sở đối với hệ thống chính trị - xã hội nước ta, đó là Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH 11 về thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn do Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 11 (2007) ban hành ngày 20/4/2007 Thực hiện Pháp lệnh dân chủ cơ sở được gắn với phát triển kinh tế - xã hội, cải cách thủ tục hành chính, cuộc vận động
"Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh", các phong trào, các hoạt động văn hoá, xã hội, giữ vững an ninh, trật tự ở cơ sở được nhân dân đồng tình hưởng ứng và thực hiện có hiệu quả, dân chủ nói chung, dân chủ trực tiếp của nhân dân nói riêng tiếp tục được coi trọng, tăng cường
Ngày nay, trong xu thế toàn cầu hóa kinh tế, văn hóa, CCHC trở thành một trào lưu, một nhu cầu thiết thực tự thân, nỗ lực của hầu hết các quốc gia
Trang 3trên thế giới - cả các nước đang phát triển và các nước phát triển - đều xem CCHC như một động lực mạnh mẽ để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, phát triển dân chủ và các mặt khác của đời sống xã hội, nhằm xây dựng một nền hành chính nhà nước hiện đại, năng động hiệu quả, giảm phiền hà, lấy phục vụ nhân dân làm tôn chỉ, mục đích để từ đó xây dựng và hoàn thiện nền hành chính Ở nước ta, công cuộc CCHC nhà nước đang là kế hoạch trọng tâm của Đảng và Nhà nước nhằm xây dựng, phát triển hoàn thiện nhà nước pháp quyền XHCN “Nhà nước của dân, do dân, vì dân”, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN với mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh Công cuộc CCHC được thực hiện ở tất cả các cấp hành chính- từ trung ương đến cấp xã, phường, thị trấn - từng bước thận trọng và
đã thu được nhiều kết quả rất đáng khích lệ CCHC đang thể hiện rõ vai trò quan trọng của mình trong việc đẩy nhanh sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Tuy nhiên, quá trình CCHC ở Việt Nam còn rất nhiều vấn đề đặt ra cần được tiếp tục giải quyết ngày như vẫn còn bộc lộ sự xa dân, quan liêu, bộ máy cồng kềnh, hoạt động kém hiệu quả, thủ tục hành chính rất nặng nề, gây phiền hà cho dân; chế độ và trách nhiệm công vụ không rõ ràng, thiếu minh bạch; cán bộ, công chức có nhiều người sách nhiễu dân, lãng phí và tham nhũng Chính vì vậy cần phải đẩy mạnh thực hiện dân chủ cơ sở, đặc biệt là việc áp dụng Pháp lệnh dân chủ cơ sở trong CCHC nhằm thực hiện tốt chủ trương cải cách nền hành chính nước nhà, đồng thời phát huy hơn nữa quyền làm chủ của nhân dân
Huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình là một huyện ven biển đồng bằng sông Hồng, là lá cờ đầu của sản xuất nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới
và đây là một trong những địa phương đầu tiên thí điểm thực hiện CCHC Bên cạnh những thành tựu đạt được, CCHC ở huyện Thái Thụy vẫn còn nhiều hạn chế, chưa phát huy được hết quyền làm chủ của nhân
dân Chính vì vậy tôi chọn “Thực hiện Pháp lệnh dân chủ cơ sở trong cải
Trang 4cách hành chính ở huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình hiện nay” làm đề tài
luận văn của mình nhằm phân tích thực trạng thực hiện Pháp lệnh dân chủ cơ
sở trong CCHC ở huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình từ đó đề xuất một số phương hướng, giải pháp nâng cao chất lượng thực hiện Pháp lệnh dân chủ cơ
sở trong CCHC ở huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình
2 Tình hình nghiên cứu
Trong những năm qua, nước ta đã có nhiều công trình nghiên cứu về dân chủ và CCHC nói chung, dân chủ và CCHC ở Việt Nam nói riêng Trong các công trình ấy, dân chủ, CCHC ở Việt Nam đã được nghiên cứu theo nhiều cách tiếp cận khác nhau có thể khai thác và kế thừa như:
Nhóm các công trình nghiên cứu về CCHC nhà nước
Bàn về CCHC nhà nước có các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học như:
Tô Tử Hạ, Nguyễn Hữu Trị và Nguyễn Hữu Đức (1998),“Cải cách hành chính địa phương lý luận và thực tiễn”, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội
Nguyễn Ngọc Hiến (2001), “Các giải pháp thúc đẩy cải cách hành chính ở Việt Nam”, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội Tác giả đã đề cập đến quá trình CCHC diễn ra như thế nào, các rào cản trong CCHC, đặc điểm, nguyên tắc CCHC từ đó đưa ra những kiến nghị các giải pháp thúc đẩy quá trình CCHC
Đoàn Trọng Truyến (2006), “Cải cách hành chính và công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, Nxb Tư pháp, Hà Nội
Các công trình nghiên cứu trên đã cung cấp những luận cứ khoa học làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn trong tiến trình CCHC nhà nước, đề xuất những kiến nghị về nguyên tắc, phương pháp, giải pháp cho công tác CCHC, nâng cao nhận thức cho cán bộ, công chức trong bộ máy hành chính nhà nước và các tầng lớp nhân dân, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và dân chủ hóa đời sống xã hội
Nhóm các công trình nghiên cứu về dân chủ và dân chủ cơ sở:
Trang 5Vấn đề dân chủ và dân chủ ở cơ sở là một vấn đề đã được rất nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu với nhiều công trình có giá trị và ý nghĩa đã được công bố như:
Nguyễn Tiến Phồn: “Dân chủ và tập trung dân chủ - lý luận và thực tiễn”, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2001; Luận án Tiến sỹ Chính trị học của Nguyễn Thị Tâm: “Dân chủ cơ sở và vấn đề thực hiện dân chủ ở nông thôn nước ta hiện nay” (2007) Các tác giả đã nêu rõ những thành tựu và hạn chế trong nhận thức và cả những khuyết tật trong xây dựng và thực hiện nền dân chủ XHCN ở nước ta trong thực tiễn
PGS.TS Dương Xuân Ngọc: “Quy chế thực hiện dân chủ cấp xã - Một
số vấn đề lý luận và thực tiễn”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000; PGS.TS Nguyễn Cúc: “Thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở trong tình hình hiện nay - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002; Lương Gia Ban: “Dân chủ và việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003; TS Nguyễn Văn Sáu - GS Hồ Văn Thông: “Thực hiện quy chế dân chủ và xây dựng chính quyền cấp xã ở nước ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003 Các công trình này, các tác giả đã tập trung làm rõ ý nghĩa, tầm quan trọng cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn, cùng với thực trạng của việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở trong tình hình hiện nay của nước ta
Phạm Văn Bính: “Phương pháp dân chủ Hồ Chí Minh”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008 Cuốn sách này đã góp phần xác định và làm rõ hơn những vấn đề cơ bản trong phương pháp dân chủ của Hồ Chí Minh, đề xuất
áp dụng phương pháp dân chủ của Hồ Chí Minh đối với việc hoàn thiện phương pháp lãnh đạo của Đảng ta trong giai đoạn hiện nay
Hoàng Chí Bảo (2007), cuốn sách “ Dân chủ và dân chủ cơ sở ở nông thôn trong tiến trình đổi mới”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007 Tác giả
đã nghiên cứu, luận giải sâu sắc về lý luận và thực tiễn một vấn đề xã hội
Trang 6phức tạp hiện nay là tâm lý làng xã, ảnh hưởng và tác động của nó đối với việc thực hiện và phát huy dân chủ hiện nay.
PGS.TS Nguyễn Văn Mạnh- ThS Tào Thị Quyên: “Dân chủ trực tiếp ở Việt Nam, lý luận và thực tiễn”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010 Trong cuốn sách này tác giả đã làm sáng tỏ nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn về dân chủ và dân chủ trực tiếp trên thế giới và ở Việt Nam; đánh giá thực trạng, đưa
ra giải pháp nhằm phát huy các hình thức dân chủ trực tiếp ở nước ta hiện nay
PGS.TS Lê Minh Quân: “Về quá trình dân chủ hóa xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011 Ở đây tác giả đã
đề cập đến nhiều vấn đề về dân chủ hóa từ góc độ lý luận và thực tiễn, chỉ ra các yếu tố tác động và quá trình dân chủ hóa trên thế giới, phân tích những vấn đề lý luận và thực tiễn của quá trình dân chủ hóa XHCN ở nước ta hiện nay
Bên cạnh những công trình sách đã được xuất bản, chúng ta còn có thể
kế thừa những bài báo, tạp chí như:
Dương Xuân Ngọc - Lưu Văn An: “Kết quả thực hiện Quy chế dân chủ
ở cơ sở, vấn đề đặt ra và một số giải pháp”, Tạp chí Thông tin lý luận, số
9-2000 Trong bài viết này, tác giả đã nêu lên những kết quả bước đầu của việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, đồng thời nêu lên những vấn đề cần giải quyết cùng những giải pháp cụ thể để tiếp tục thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở
Dương Trung Ý: “Nâng cao sự lãnh đạo của các tổ chức cơ sở Đảng thực hiện hiệu quả dân chủ ở cơ sở”, Tạp chí Cộng sản số 14 (tháng 5/2013)
Ở bài viết này tác giả chủ yếu đề cập đến các giải pháp nhằm nâng cao vai trò
và năng lực của các tổ chức cơ sở Đảng trong việc phát huy dân chủ cơ sở
TS Đoàn Minh Huấn: “Dân chủ đại diện, dân chủ trực tiếp và quá trình
mở rộng dân chủ XHCN ở nước ta”, Tạp chí Lý luận chính trị, số 8/2014 Tác
Trang 7giả bài viết này làm rõ đặc trưng của hai hình thức dân chủ là dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện, đồng thời khẳng định vai trò, ưu thế của mỗi hình thức cũng như sự cần thiết phải phối hợp chặt chẽ hai hình thức này với nhau trong việc mở rộng dân chủ XHCN ở nước ta.
Ngoài ra, tác giả luận văn còn tham khảo một số luận văn khác bàn về dân chủ cơ sở và Pháp lệnh dân chủ ở cơ sở như: Đặng Thị Thu Hương:
“Thực hiện Pháp lệnh dân chủ ở xã, phường, thị trấn trên địa bàn huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình hiện nay” luận văn thạc sĩ triết học chuyên ngành chủ nghĩa xã hội khoa học bảo vệ tại Đại học KHXH&NV năm 2014 Hoàng Thị Ngọc Lan: “Phát huy dân chủ ở cơ sở trong quá trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay (Qua khảo sát một số xã ở huyện Yên Lạc và huyện Lập Thạch), luận văn thạc sĩ triết học chuyên ngành chủ nghĩa
xã hội khoa học bảo vệ tại ĐHKHXH&NV năm 2014 Các luận văn này đã làm sáng tỏ cơ sở lý luận của việc thực hiện pháp lệnh dân chủ ở xã, phường, thị trấn hiện nay nói chung và trong quá trình xây dựng nông thôn mới nói riêng Trên cơ sở đó, luận văn đã đánh giá thực trạng thực hiện và đề ra những phương hướng, giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hơn nữa việc thực hiện tốt Pháp lệnh dân chủ cơ sở
Nhìn chung, các công trình khoa học, bài báo, luận văn nêu trên với những cách tiếp cận và phạm vi nghiên cứu khác nhau nhưng đều đã nêu lên
và làm rõ tầm quan trọng của dân chủ, dân chủ cơ sở cũng như những tiền đề
lý luận và thực tiễn của vấn đề dân chủ và dân chủ cơ sở Do vậy những tài liệu trên sẽ là những nguồn tư liệu tham khảo bổ ích đối với tác giả Tuy nhiên do Pháp lệnh số 344/2007/PL-UBTVQH 11 về thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn của Ủy ban Thường vụ Quốc hội mới được ban hành ngày 20/04/2007 nên các công trình nghiên cứu trước thời điểm ban hành Pháp lệnh chưa thể đề cập đến các nội dung Pháp lệnh này của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Từ sau thời điểm công bố pháp lệnh cũng chưa có một công trình
Trang 8nghiên cứu nào nghiên cứu cụ thể tình hình thực hiện pháp lệnh đó trong lĩnh vực CCHC trên địa bàn huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình Vì vậy trong khuôn khổ luận văn này tác giả muốn chú trọng làm rõ việc thực hiện Pháp lệnh dân chủ cơ sở trong CCHC trên địa bàn huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình hiện nay.
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu của luận văn là phân tích thực trạng và đề xuất những
phương hướng, giải pháp cơ bản để góp phần nâng cao hiệu quả của việc thực hiện Pháp lệnh dân chủ cơ sở trong CCHC ở huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình hiện nay
- Nhiệm vụ: Để đạt được mục đích trên, nhiệm vụ của luận văn là:
+ Phân tích làm rõ những cơ sở lý luận của việc thực hiện Pháp lệnh dân chủ
cơ sở trong CCHC ở huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình hiện nay
+ Đánh giá thực trạng việc thực hiện Pháp lệnh dân chủ cơ sở trong CCHC ở huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình từ năm 2001 đến nay, chỉ ra nguyên nhân và phân tích những vấn đề đặt ra cần giải quyết để tăng cường vai trò của Pháp lệnh dân chủ cơ sở trong CCHC
+ Đề xuất phương hướng và một số giải pháp chủ yếu góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện Pháp lệnh dân chủ cơ sở trong CCHC ở Thái Thụy, Thái Bình
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng: Đối tượng mà luận văn tập trung nghiên cứu là sự cần thiết, vai
trò của việc thực hiện Pháp lệnh dân chủ cơ sở trong CCHC ở UBND huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình
Trang 9giai đoạn này, chính phủ ban hành các chương trình tổng thể CCHC nhà nước giai đoạn 2001- 2010, 2011-2020.
5 Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận: Cơ sở lý luận nghiên cứu của luận văn được dựa trên những
quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các văn kiện thể hiện quan điểm, chủ trương của Đảng cộng sản và Nhà nước Việt Nam về thực hiện dân chủ cơ sở và CCHC Bên cạnh đó tác giả luận văn cũng có kế thừa, chọn lọc những kết quả nghiên cứu của một số nhà khoa học đã được công bố về dân chủ cơ sở và CCHC
- Phương pháp nghiên cứu:
+ Luận văn sử dụng phương pháp luận triết học của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; các phương pháp nghiên cứu chung như: phương pháp lôgíc- lịch sử, phân tích, tổng hợp, so sánh và chứng minh; phương pháp liên ngành như: điều tra xã hội học để nghiên cứu đề tài này
6 Đóng góp của luận văn
Luận văn trình bày một cách tương đối hoàn chỉnh về những cơ sở lý luận cho việc thực hiện Pháp lệnh dân chủ cơ sở trong CCHC ở cấp huyện Việt Nam nói chung và ở huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình nói riêng Thực trạng thực hiện Pháp lệnh dân chủ cơ sở trong CCHC và đề xuất các giải pháp thực hiện có hiệu quả Pháp lệnh dân chủ cơ sở trong CCHC ở huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn sẽ là cứ liệu khoa học góp phần để các cơ quan hành chính cả nước nói chung, các cơ quan hành chính nhà nước ở Thái Thụy, tỉnh Thái Bình nói riêng đề ra những phương hướng và giải pháp nhằm thực hiện tốt hơn nữa Pháp lệnh dân chủ cơ sở trong CCHC
Luận văn có thể làm tư liệu phục vụ cho việc nghiên cứu và giảng dạy những vấn đề lý luận liên quan đến dân chủ, dân chủ cơ sở, dân chủ trong lĩnh vực CCHC và là tư liệu trong các khoa học lý luận chính trị,
8 Kết cấu của luận văn
Trang 10Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn còn
có 2 chương 5 tiết
Trang 11NỘI DUNG Chương 1: THỰC HIỆN PHÁP LỆNH DÂN CHỦ CƠ SỞ TRONG CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH CẤP HUYỆN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY: MỘT SỐ
VẤN ĐỀ LÝ LUẬN 1.1 Cải cách hành chính và cải cách hành chính cấp huyện ở Việt Nam hiện nay
1.1.1.Những vấn đề chung về cải cách hành chính ở Việt Nam hiện nay 1.1.1.1 Khái niệm cải cách hành chính
Từ nhiều năm nay, CCHC đã là một vấn đề mang tính tương đối phổ cập của xã hội Việt Nam Người dân, tổ chức cảm nhận được kết quả, tác động của CCHC một cách trực tiếp nhất khi có việc phải tiếp xúc, giải quyết công việc với các cơ quan hành chính nhà nước Vậy CCHC là gì?
Cải cách là sửa đổi những bộ phận, yếu tố, thành phần đã có cho thành hợp lý, cho thích hợp với điều kiện, hoàn cảnh mới để sự vật có thể vận động
và phát triển tốt hơn [50] Theo nghĩa triết học và chính trị học thì cải cách là làm thay đổi một số mặt của sự vật mà không làm thay đổi căn bản sự vật đó
Đó còn là “sự sửa đổi, cải thiện một số mặt của đời sống xã hội mà không động tới nền tảng của chế độ xã hội hiện hành” [45, tr.335] Khái niệm cải cách có nội hàm hẹp hơn đổi mới
Còn thuật ngữ “hành chính” có gốc từ tiếng Latinh “administratio” là quản lý, lãnh đạo Hiện nay có khá nhiều cách hiểu và giải thích khác nhau về thuật ngữ này, tuỳ theo góc độ tiếp cận của từng nhà nghiên cứu Tuy có nhiều cách tiếp cận, nhưng đặc điểm cơ bản của hành chính xuất phát từ việc trong bất kỳ xã hội nào cũng cần có sự phân công lao động, cần tới sự xác lập
những tỉ lệ giữa các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội Như vậy, hành
chính theo nghĩa chung là quản lý công việc, là quản lý xã hội; theo nghĩa
riêng, hẹp hơn là công việc nhà nước và tổ chức quản lý nhà nước Về cơ bản, hành chính là tổng thể những hoạt động (thao tác) nhất định do con người,
Trang 12chủ thể quản lý thực hiện đối với khách thể quản lý nhằm cải tạo khách thể, bảo đảm cho nó vận động tới một mục tiêu đã định Hành chính chính là hoạt động quản lý của con người để tạo ra sự vận hành mang tính hệ thống của xã hội
Căn cứ vào quan niệm về cải cách và hành chính đã làm rõ ở trên thì
CCHC chính là hoạt động có ý thức và mục đích của con người nhằm hợp lý
hóa, hay khắc phục các khiếm khuyết trong các chương trình điều hành, quản
lý các hệ thống, cải tạo, nâng cấp, hoàn thiện công tác quản lý cho tất cả các
hệ thống trong xã hội Song do hành chính gắn chủ yếu với hoạt động của các
cơ quan nhà nước, các thể chế chính trị nên khái niệm CCHC thường được coi là đồng nhất với khái niệm CCHC nhà nước Nhìn nhận một cách tổng
quát, CCHC được xác định là hành vi có tính hướng đích của con người
nhằm cải biến nền hành chính của một quốc gia theo hướng hoàn thiện hơn
CCHC nhà nước là tạo ra những thay đổi trong các yếu tố cấu thành của nền hành chính nhằm làm cho các cơ quan hành chính nhà nước hoạt động hiệu lực, hiệu quả hơn, phục vụ nhân dân, phục vụ xã hội tốt hơn
Trên cơ sở nêu trên, các khái niệm CCHC thống nhất tại các điểm sau:
- CCHC là sự thay đổi có kế hoạch theo một mục tiêu xác định nhưng không làm triệt tiêu hay thay đổi bản chất của hệ thống hành chính nhà nước mà để
hệ thống hành chính nhà nước hoạt động hiệu quả hơn;
- CCHC hướng tới điều tiết những mâu thuẫn trong cơ cấu tổ chức và cơ chế quản lý của bộ máy hành chính nhà nước;
- CCHC tập trung vào việc định rõ trách nhiệm của các cơ quan, cá nhân mà thông qua đó nhằm thiết lập một hệ thống hành chính chặt chẽ từ trên xuống dưới;
- CCHC không phải là cải cách chế độ chính trị - kinh tế - xã hội mà là quá trình khắc phục mọi trở lực trong cơ cấu tổ chức và cơ chế hoạt động của nền hành chính, làm cho nó phát triển một cách năng động và phù hợp với sự biến đổi kinh tế-xã hội;
Trang 13Ở Việt Nam hiện nay chưa có văn bản quy phạm pháp luật nào chính thức định nghĩa CCHC là gì Tuy nhiên, nhiều văn bản quan trọng của Đảng
ta đã đề cập đến thuật ngữ này như Nghị quyết đại hội VII, Nghị quyết Trung ương 8 khóa VII, Nghị quyết Đại hội VIII đã đưa ra mục tiêu nhiệm vụ cụ thể cho công cuộc CCHC nhà nước So sánh với các quốc gia, Việt Nam là quốc gia đã xây dựng một chương trình CCHC toàn diện nhằm giải quyết những vấn đề căn bản của nền hành chính nhà nước Ở nhiều quốc gia khác, CCHC không phải lúc nào cũng được tiến hành theo một kế hoạch tổng thể mà theo các nhóm giải pháp ở các quy mô nhỏ hơn như đổi mới cơ chế, chính sách cho khu vực nào đó, phát triển tổ chức, phát triển nguồn nhân lực, quản lý chất lượng và những lĩnh vực cải cách có liên quan khác
Trong phạm vi luận văn này, nếu đề cập đến CCHC là nói đến CCHC nhà nước để phân biệt với CCHC ở các tổ chức, cơ quan, nhất là doanh nghiệp tư nhân, tức là khu vực tư nhân
1.1.1.2 Bối cảnh ra đời cải cách hành chính ở Việt Nam
Vào cuối thập kỉ 80, đầu thập kỉ 90 của thế kỉ XX, tình hình thế giới có những biến chuyển to lớn ảnh hưởng tới nước ta Không gian chính trị thời kỳ hậu Xô Viết với tác động của toàn cầu hóa như một xu thế tất yếu và phổ biến
đã làm nổi bật một đặc điểm mới của thế giới hiện nay là hòa bình, hợp tác và phát triển đòi hỏi các quốc gia phải thích nghi để phù hợp với tình hình mới Trong khi đó, nhiều nước trên thế giới trong quá trình phát triển của mình cũng tiến hành cải cách trên nhiều phương diện, đặc biệt là kinh tế và tổ chức vận hành bộ máy nhà nước để thích ứng với tình hình mới, trong đó có CCHC
để đổi mới hoạt động của bộ máy nhà nước nhằm tiếp tục đưa đất nước tiến lên và phát triển một cách bền vững Những bài học của nhiều nước tiên tiến, theo nhiều con đường khác nhau đã tác động đến Việt Nam làm thay đổi nhận thức của nhiều nhà lãnh đạo đất nước Nhiều người ở Việt Nam dần dần đã nhận ra rằng, cải cách nền hành chính nhà nước là một đòi hỏi có tính quy luật Việt Nam cũng nằm trong quy luật đó
Trang 14Trong bối cảnh thế giới đó, ở Việt Nam công cuộc đổi mới toàn diện đất nước diễn ra bắt đầu từ đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng cộng sản Việt Nam (năm 1986) đến nay đã qua 30 năm tạo ra bước chuyển biến có ý nghĩa hết sức quan trọng từ nền kinh tế kế hoạch hóa vận hành theo
cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN Trong tiến trình đó, CCHC được đặt ra như một đòi hỏi khách quan của thực tiễn để tạo tiền đề thúc đẩy cải cách kinh tế CCHC được xác định là trọng tâm của việc tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trở thành một bộ phận quan trọng trong chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước ta
Việc CCHC ở Việt Nam trong những năm qua được tiến hành rộng khắp trên tất cả mọi lĩnh vực của CCHC và trong tương lai đi theo hướng làm cho bộ máy hành chính hoàn bị hơn, hoạt động có hiệu quả hơn, phục vụ nhân dân ngày một đúng pháp luật, tốt hơn và tiết kiệm nhất, dần từng bước chuyển nền hành chính từ cơ quan cai quản thành các cơ quan phục vụ dân, làm các dịch vụ hành chính đối với dân, công dân là khách hàng của nền hành chính,
là người đánh giá khách quan nhất về mọi hoạt động của bộ máy nhà nước, bộ máy hành chính Việc ban hành Pháp lệnh dân chủ ở xã, phường, thị trấn năm 2007- một văn bản về những quy chế dân chủ cơ sở đã được luật hóa mang tính pháp lý quan trọng- có một ý nghĩa vô cùng quan trọng và cần thiết để thực hiện thành công CCHC ở nước ta hiện nay
1.1.1.3 Nội dung cải cách hành chính ở Việt Nam hiện nay
CCHC ở Việt nam được tiến hành nhiều năm nay với những bước đi, lộ trình khác nhau từ thấp tới cao Bắt đầu là việc cải cách một bước thủ tục hành chính trong việc giải quyết các công việc của cá nhân, tổ chức với Nghị quyết số 38/CP năm 1994 của Chính phủ, đến cải cách một bước nền hành chính nhà nước với ba nội dung được trình bày có hệ thống trong Nghị quyết Hội nghị TW 8 (Khoá VII) (tháng 1/1995) là: cải cách thể chế hành chính; cải
Trang 15cách bộ máy hành chính nhà nước; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức Đây cũng là lần đầu tiên thuật ngữ cải cách nền hành chính được sử dụng chính thức trong văn kiện của Đảng Tiến đến thực hiện bốn nội dung CCHC trong Chương trình tổng thế CCHC nhà nước giai đoạn 2001-2010 bao gồm: cải cách thể chế; cải cách tổ chức bộ máy hành chính; đổi mới, nâng cao chất
lượng đội ngũ cán bộ, công chức; cải cách tài chính công Ngày 8/11/2011,
chính phủ đã ban hành chương trình tổng thế CCHC nhà nước giai đoạn 2011-2020, CCHC đã chuyển sang một bước mới với sáu nội dung: cải cách thể chế hành chính; cải cách thủ tục hành chính; cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước; xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; cải cách tài chính công; hiện đại hóa nền hành chính
Chương trình tổng thể CCHC nhà nước giai đoạn 2011- 2020 với các mục tiêu đó là: Xây dựng, hoàn thiện hệ thống thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN nhằm giải phóng lực lượng sản xuất, huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển đất nước Tạo môi trường kinh doanh bình đẳng, thông thoáng, thuận lợi, minh bạch nhằm giảm thiểu chi phí về thời gian và kinh phí của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế trong việc tuân thủ thủ tục hành chính Xây dựng hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước từ trung ương tới cơ sở thông suốt, trong sạch, vững mạnh, hiện đại, hiệu lực, hiệu quả, tăng tính dân chủ và pháp quyền trong hoạt động điều hành của Chính phủ và của các cơ quan hành chính nhà nước Bảo đảm thực hiện trên thực tế quyền dân chủ của nhân dân, bảo vệ quyền con người, gắn quyền con người với quyền và lợi ích của dân tộc, của đất nước Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có đủ phẩm chất, năng lực và trình
độ, đáp ứng yêu cầu phục vụ nhân dân và sự phát triển của đất nước
Trọng tâm CCHC trong giai đoạn 10 năm tới là: Cải cách thể chế; xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, chú trọng cải cách chính sách tiền lương nhằm tạo động lực thực sự để cán bộ, công
Trang 16chức, viên chức thực thi công vụ có chất lượng và hiệu quả cao; nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính và chất lượng dịch vụ công.
Chương trình được triển khai thực hiện thông qua hai giai đoạn, giai đoạn 1 từ năm 2011 – 2015; giai đoạn 2 từ năm 2016 – 2020 Nếu chương trình CCHC giai đoạn 2001 – 2010 tập trung vào 4 nội dung (cải cách thể chế; cải cách tổ chức bộ máy hành chính; đổi mới, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức và cải cách tài chính công) thì chương trình mới giai đoạn
2011 - 2020 xác định rõ nhiệm vụ CCHC trên 6 lĩnh vực cụ thể là: Cải cách thể chế, cải cách thủ tục hành chính, cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước, xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, cải cách tài chính công, hiện đại hóa hành chính
- Thứ nhất, về cải cách thể chế: một vấn đề rất quan trọng được đặt ra
đó là việc hoàn thiện thể chế về sở hữu, trong đó khẳng định sự tồn tại khách quan, lâu dài của các hình thức sở hữu trước hết là sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ
sở hữu khác nhau trong nền kinh tế; sửa đổi đồng bộ thể chế hiện hành về sở hữu đất đai, phân định rõ quyền sở hữu đất và quyền sử dụng đất, bảo đảm quyền của người sử dụng đất Qua những vụ việc về đất đai mới xảy ra gần đây cho thấy việc hoàn thiện thể chế về sở hữu và đất đai là một bước đi cần thiết và kịp thời của Đảng và Nhà nước nhằm hoàn thiện khung pháp lý về nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, khuyến khích sự phát triển của các thành phần kinh tế và đảm bảo sự ổn định, công bằng trong xã hội
- Thứ hai, về cải cách thủ tục hành chính: điểm mới là Nghị quyết 30c/NQ- CP của Chính phủ về Ban hành chương trình tổng thể CCHC nhà nước giai đoạn 2011- 2020 đã tách lĩnh vực cải cách thủ tục hành chính ra khỏi cải cách thể chế và đưa ra làm nhiệm vụ riêng Đây là một yêu cầu cần thiết trong bối cảnh hiện nay, bởi thủ tục hành chính có vai trò quan trọng, được thực hiện hằng ngày trong đời sống xã hội cũng như tác động lớn đến
Trang 17thu hút đầu tư, kinh doanh của doanh nghiệp Trong giai đoạn 2011- 2015 cần tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh trong một số lĩnh vực trọng tâm cần tập trung là: Đầu tư, đất đai, xây dựng, sở hữu nhà ở, thuế, hải quan, xuất nhập khẩu, y tế, giáo dục, lao động, bảo hiểm, khoa học- công nghệ Một điểm mới nữa là việc đặt yêu cầu cải cách thủ tục hành chính ngay trong quá trình xây dựng thể chế và việc tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức về các quy định hành chính Đây sẽ là một bước tiến đáng kể góp phần vào việc nâng cao chất lượng của các quy định hành chính và giám sát việc thực hiện thủ tục hành chính của các cơ quan nhà nước
- Thứ ba, về cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước: chương trình đã lượng hóa kết quả trên một số lĩnh vực cụ thể như bảo đảm sự hài lòng của cá nhân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước và đối với dịch vụ do đơn vị sự nghiệp công cung cấp trong các lĩnh vực giáo dục, y tế đạt mức trên 80 % vào năm 2020
- Thứ tư, về xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức đã đưa ra nội dung mới đó là việc thực hiện chế độ thi nâng ngạch theo nguyên tắc cạnh tranh, thi tuyển cạnh tranh để bổ nhiệm vào các vị trí lãnh đạo, quản lý từ cấp vụ trưởng và tương đương (ở trung ương), giám đốc sở và tương đương (ở địa phương) trở xuống Ngoài ra chương trình cũng tập trung nguồn lực ưu tiên cho cải cách chính sách tiền lương, chế độ bảo hiểm xã hội và ưu đãi người có công; đến năm 2020, tiền lương của cán bộ, công chức, viên chức được cải cách cơ bản, bảo đảm được cuộc sống của cán
bộ, công chức, viên chức và gia đình ở mức trung bình khá trong xã hội
- Thứ năm, về cải cách tài chính công có một điểm đáng chú ý là việc đổi mới cơ chế phân bổ ngân sách cho cơ quan hành chính nhà nước, tiến tới xóa bỏ chế độ cấp kinh phí theo số lượng biên chế, thay thế bằng cơ chế cấp ngân sách dựa trên kết quả và chất lượng hoạt động, hướng vào kiểm soát đầu
ra, chất lượng chi tiêu theo mục tiêu, nhiệm vụ của các cơ quan hành chính
Trang 18nhà nước Bên cạnh đó đối với cơ chế tài chính của các đơn vị sự nghiệp dịch
vụ công sẽ từng bước thực hiện chính sách điều chỉnh giá dịch vụ sự nghiệp công phù hợp, chú trọng đổi mới cơ chế tài chính của các cơ sở giáo dục, đào tạo, y tế công lập theo hướng tự chủ, công khai, minh bạch Đổi mới và hoàn thiện đồng bộ các chính sách bảo hiểm y tế, khám, chữa bệnh, có lộ trình thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân
- Thứ sáu, về hiện đại hóa hành chính đã cụ thể hóa mục tiêu đến năm 2020: 90% các văn bản, tài liệu chính thức trao đổi giữa các cơ quan hành chính nhà nước được thực hiện dưới dạng điện tử; hầu hết các giao dịch của các cơ quan hành chính nhà nước được thực hiện trên môi trường điện tử, mọi lúc, mọi nơi; hầu hết các dịch vụ công được cung cấp trực tuyến trên Mạng thông tin điện tử hành chính của Chính phủ ở mức độ 3 và 4, đáp ứng nhu cầu thực tế, phục vụ người dân và doanh nghiệp mọi lúc, mọi nơi, dựa trên nhiều phương tiện khác nhau; Ứng dụng công nghệ thông tin- truyền thông trong quy trình xử lý công việc của từng cơ quan hành chính nhà nước, giữa các cơ quan hành chính nhà nước với nhau và trong giao dịch với tổ chức, cá nhân, đặc biệt là trong hoạt động dịch vụ hành chính công, dịch vụ công của đơn vị
sự nghiệp công
Chương trình Tổng thể về CCHC giai đoạn 2011- 2020 là một bước đi quan trọng trong việc cụ thể hóa chủ trương của Đảng về tiếp tục đẩy mạnh CCHC, xác định đây là một trong ba khâu đột phá trong thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020 và đóng góp chung vào sự phát triển của đất nước trong thời gian tới
1.1.1.4 Một số đặc trưng trong cải cách hành chính ở Việt Nam hiện nay
Ngoài những điểm giống CCHC ở các nước, CCHC ở Việt Nam có những đặc trưng riêng sau:
- CCHC là giải pháp đột phá tiên phong trong cải cách các hoạt động của Nhà nước nói chung, của Chính phủ nói riêng
Trang 19- Cải cách được tiến hành trong khuôn khổ hệ thống chính trị một Đảng duy nhất cầm quyền- Đảng Cộng sản Việt Nam Mặt thuận lợi từ đặc trưng này chính là ở chỗ dễ tạo sự đồng thuận trong hoạch định chính sách, biện pháp, thể chế cho cải cách.
- CCHC diễn ra cùng một lúc với khá nhiều cuộc cải cách khác, ví dụ như cải cách kinh tế, cải cách lập pháp, cải cách tư pháp, cải cách giáo dục v.v Đặc trưng này đòi hỏi phải có sự chỉ đạo thống nhất, tập trung nhằm bảo đảm mục tiêu chung của phát triển
- CCHC được triển khai trên diện rộng, ở tất cả các cấp hành chính với sáu lĩnh vực cải cách Mỗi lĩnh vực lại bao gồm một loạt các lĩnh vực thành phần cho thấy tính phức tạp, độ rộng của CCHC ở Việt Nam
- CCHC ở nước ta chịu ảnh hưởng khá lớn của điều kiện xã hội và tâm
lý của người dân Việt Nam CCHC nước ta đang được tiến hành trong xã hội
có nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, do ảnh hưởng tâm lý phong kiến nặng nề,
ý thức dân chủ và năng lực dân chủ không tương xứng, trọng tình cảm, nhẹ
lý, tách rời quyền với nghĩa vụ cùng với những tệ nạn phát sinh từ mặt trái của cơ chế thị trường
Từ những đặc trưng này rút ra những vấn đề sau:
- CCHC không thể tách rời sự lãnh đạo của Đảng
Đặc trưng tiêu biểu của hệ thống chính trị Việt Nam là hệ thống một đảng duy nhất cầm quyền Đặc trưng này chi phối nhiều vấn đề, trong đó có vấn đề CCHC CCHC muốn tiến hành được, muốn duy trì và đẩy mạnh, trước hết phải là một chủ trương trong đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam Tách rời vai trò lãnh đạo của Đảng không thể có cải cách, càng không thể có những kết quả tích cực Từ năm 1995 cho đến nay, chủ trương CCHC đã được xác định trong một loạt các nghị quyết của Đảng tại các hội nghị Ban Chấp hành Trung ương và trong các văn kiện Đại hội VII cho đến Đại hội XI Năm 2007 đánh dấu một mốc thời gian quan trọng, chính là vì lần đầu tiên
Trang 20Ban Chấp hành Trung ương Đảng có một Nghị quyết riêng về CCHC, đó là Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 khóa X.
CCHC không tách rời sự lãnh đạo của Đảng vừa là bài học kinh nghiệm, vừa là đặc trưng cải cách của Việt Nam Mặt thuận lợi của vấn đề này chính là
ở chỗ sự hiện diện của các tổ chức Đảng, của các đảng viên đang giữ các chức
vụ lãnh đạo trong các cơ quan, tổ chức của nhà nước từ trung ương tới cơ sở Các thành viên này có trách nhiệm triển khai nghị quyết Đảng về CCHC thông qua các hình thức thích hợp, trong đó có hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước
- Sự chỉ đạo nhất quán của Chính phủ là một yếu tố bảo đảm CCHC đạt kết quả.
Với vị trí là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất, Chính phủ đóng vai trò quan trọng trong chỉ đạo triển khai CCHC của đất nước Từ chủ trương của Đảng, Chính phủ có trách nhiệm cụ thể hoá thành các chương trình, kế hoạch CCHC, trên cơ sở đó các bộ, ngành trung ương và chính quyền địa phương các cấp xây dựng và tổ chức thực hiện các chương trình, kế hoạch CCHC của mình nhằm bảo đảm mục tiêu chung của cải cách là xây dựng được một nền hành chính mạnh, hiệu lực, hiệu quả, vì dân phục vụ
Trước đây, Chính phủ đã ban hành Chương trình tổng thể CCHC nhà nước giai đoạn 2001-2010 và mới đây đã ban hành Chương trình tổng thể CCHC nhà nước giai đoạn 2011-2020
Công tác chỉ đạo của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ đối với công cuộc CCHC có ý nghĩa trên các phương diện:
- Bảo đảm rõ định hướng, mục tiêu CCHC
- Xác định rõ các nhiệm vụ cải cách
- Xác định các trọng tâm, ưu tiên cải cách theo từng thời kỳ
- Xác định trách nhiệm người đứng đầu các cơ quan hành chính, trước hết là Bộ trưởng và Chủ tịch UBND cấp tỉnh trong triển khai CCHC
Trang 21- Tổng kết từ thực tiễn cải cách để hoạch định thể chế, cơ chế mới, có tính chất áp dụng chung trong cả nước.
- CCHC triển khai với nhiều nội dung, vì vậy hết sức khó khăn và phải làm lâu dài.
So với nhiều nước có tiến hành CCHC thì CCHC ở Việt Nam được triển khai trên nhiều lĩnh vực từ thể chế, tổ chức bộ máy, thủ tục tới con người, các
cơ chế hoạt động, ứng dụng công nghệ thông tin vào hành chính v.v Có thể nói gần như các yếu tố cấu thành cơ bản của nền hành chính quốc gia đều đòi hỏi phải cải cách, thay đổi Chính vì vậy, việc triển khai không đơn giản và cũng không thể sớm đạt kết quả Vấn đề này chi phối trước hết công tác xây dựng kế hoạch CCHC của các bộ, ngành và địa phương Kế hoạch phải bao quát đủ các lĩnh vực cải cách, cụ thể hóa vào phạm vi trách nhiệm của từng cơ quan Kể đến là công tác triển khai, kiểm tra việc thực hiện trong thực tiễn
- Bảo đảm tính đồng bộ của CCHC với các cuộc cải cách khác trong hệ
thống chính trị
Việt Nam cùng một lúc tiến hành một loạt các cải cách: cải cách lập pháp, cải cách tư pháp, cải cách kinh tế, cải cách giáo dục v.v Mỗi cuộc cải cách theo đuổi các mục tiêu, kết quả riêng, tuy nhiên có rất nhiều vấn đề đan xen giữa các cuộc cải cách, thậm chí có vấn đề không thể nói chỉ thuộc một cuộc cải cách riêng biệt Chính vì vậy, tính đồng bộ giữa các cuộc cải cách này có ý nghĩa quan trọng, nó tạo ra sự thống nhất ở tầm vĩ mô như hoạch định thể chế, chính sách, pháp luật để bảo đảm các cuộc cải cách có thể tốt hơn, không gặp trở ngại
Tuy nhiên, thực tiễn có lúc không diễn ra như vậy Từ góc độ cục bộ của ngành, lĩnh vực, đã có lúc các bộ chuẩn bị các dự án luật trình Quốc hội thông qua và khi ban hành mới thấy rõ sự cản trở về CCHC đang được triển khai, làm cho thủ tục hành chính trên các lĩnh vực quản lý của các bộ phức tạp hơn; người dân, tổ chức phải vất vả hơn trong giải quyết công việc của mình
Trang 22- CCHC đòi hỏi phải có những thí điểm
Trong quá trình cải cách, nhiều vấn đề trì trệ của nền hành chính được phát hiện và các giải pháp được đề xuất để thay đổi Thông thường, các giải pháp đó về bản chất khác hẳn giải pháp hiện hành, lại chưa được kiểm nghiệm tính đúng đắn và chưa được thể chế hóa Do vậy, hết sức cần thiết có sự thí điểm để qua thực tiễn xem xét tính phù hợp của các giải pháp Một loạt các cơ chế có tính cải cách đang được triển khai trong quá trình cải cách đã ra đời theo cách như vậy
1.1.2 Cấp huyện và yêu cầu cải cách hành chính ở cấp huyện của Việt Nam hiện nay
1.1.2.1 Khái quát về cấp huyện và chính quyền cấp huyện ở Việt Nam hiện nay
Huyện là đơn vị hành chính địa phương cấp hai ở khu vực nông thôn của Việt Nam Thuật ngữ “cấp huyện” đôi khi được dùng để chỉ toàn bộ cấp hành chính địa phương thứ hai, nghĩa là bao gồm cả thành phố trực thuộc tỉnh, quận, huyện và thị xã Một huyện thông thường được chia ra thành nhiều xã
và ngân sách, an ninh quốc phòng ở địa phương, biện pháp để ổn định và nâng cao đời sống nhân dân, hoàn thành các nhiệm vụ mà cấp trên giao cho
và làm tròn nghĩa vụ với đất nước
UBND huyện do Hội đồng nhân dân huyện bầu ra, là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân huyện, cơ quan hành chính Nhà nước ở địa phương,
Trang 23chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, luật, các văn bản của các cơ quan Nhà nước cấp trên và Nghị quyết của Hội đồng nhân dân huyện.
Ngoài ra còn các quy định cụ thể tại Mục 2- Chương 4 của Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và UBND 2003 và một số văn bản pháp lý quy định khác cũng nêu rõ về nhiệm vụ, quyền hạn, chức năng của UBND cấp huyện Cơ cấu tổ chức của UBND huyện gồm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch và các Ủy viên
Ủy viên
Chính quyền cấp huyện còn một thành phần khác là cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện được quy định tại Mục 5- Chương IV của Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và UBND.Các cơ quan chuyên môn thuộc UBND là
cơ quan tham mưu, giúp UBND cùng cấp thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương và thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo sự uỷ quyền của UBND cùng cấp và theo quy định của pháp luật; góp phần bảo đảm sự thống nhất quản lý của ngành hoặc lĩnh vực công tác từ trung ương đến cơ sở
1.1.2.2 Yêu cầu cải cách hành chính cấp huyện ở Việt Nam hiện nay
Có thể nói, so với chính quyền cấp tỉnh, cấp huyện là cấp trực tiếp hơn, sát dân hơn khi thực thi, triển khai các hoạt động quản lý nhà nước trên phạm
vi quận, huyện, thị xã Trong thực tế hoạt động hiện nay của chính quyền cấp huyện và cụ thể là UBND cấp huyện, có thể thấy những giao dịch giữa công dân với cơ quan nhà nước thường xuyên và phần nhiều được giải quyết tại UBND cấp huyện với những cơ quan thẩm quyền riêng là các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện Từ đó chúng ta có thể đưa ra khái niệm CCHC cấp huyện là toàn bộ những công việc phải tiến hành đối với UBND huyện và các cơ quan chuyên môn nhằm đổi mới, điều chỉnh, cải tiến một số bộ phận, mặt công tác, lĩnh vực hoạt động của các cơ quan ấy, xây dựng một nền hành chính cấp huyện dân chủ, từng bước hiện đại, góp phần xây dựng chính quyền
Trang 24cấp huyện trong sạch vững mạnh đáp ứng tốt yêu cầu của công cuộc đổi mới, yêu cầu của nhân dân trong huyện
Do đó, yêu cầu CCHC ở đây chính là để nâng cao chất lượng hoạt động, hiệu quả hoạt động của bộ máy, chính quyền hành chính cấp huyện, góp phần phục vụ tốt đối với các nhu cầu của công dân Công tác CCHC cấp huyện đòi hỏi sự đồng bộ trên tất cả các phương diện: thể chế; thủ tục hành chính; tổ chức bộ máy hành chính nhà nước; xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; tài chính công; hiện đại hóa hành chính
1.2 Pháp lệnh dân chủ cơ sở và sự cần thiết phải thực hiện Pháp lệnh dân chủ cơ sở trong cải cách hành chính cấp huyện ở Việt Nam hiện nay
1.2.1 Khái niệm dân chủ, dân chủ xã hội chủ nghĩa
1.2.1.1 Khái niệm dân chủ
Thuật ngữ “dân chủ” có gốc tiếng Hy Lạp là “demokratia” được hình thành từ hai chữ “demos” có nghĩa là nhân dân và “kratos” có nghĩa là quyền lực “Demokratia” hiểu một cách đơn giản là quyền lực thuộc về nhân dân hay nhân dân làm chủ quyền lực
Dân chủ có quá trình tiến hóa lâu dài thể hiện khát vọng của nhân dân được làm chủ vận mệnh, làm chủ quyền lực xã hội của mình Sự phát triển của dân chủ phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế xã hội, năng lực nhận thức cửa công dân và chính quyền, truyền thống lịch sử văn hóa,
Qua mỗi thời đại khác nhau, khái niệm “dân chủ” ngày càng phong phú hơn, mang những đặc trưng về hình thức, nội dung và bản chất của thời đại
Theo từ điển bách khoa Việt Nam thì “Dân chủ, hình thức tổ chức thiết chế chính trị của xã hội dựa trên việc thừa nhận nhân dân là nguồn gốc của quyền lực, thừa nhận nguyên tắc bình đẳng và tự do Dân chủ cũng được vận dụng vào tổ chức và hoạt động của những tổ chức thiết chế chính trị nhất định” [45,tr.653]
Trang 25Theo tác giả, dân chủ là sản phẩm của xã hội loài người, của quá trình đấu tranh giai cấp, là tiêu chí để đánh giá cách thức, trình độ tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước đảm bảo quyền lực nhà nước thuộc về bộ phận dân
cư sở hữu tư liệu sản xuất chủ yếu trong xã hội Song vấn đề dân chủ luôn là vấn đề phức tạp, có nội dung rộng lớn, gắn với những tiến bộ về lịch sử, văn hóa của loài người nên khi xem xét, nghiên cứu về dân chủ cần tìm hiểu nó ở nhiều góc độ khác nhau
2.1.1.2 Khái niệm dân chủ xã hội chủ nghĩa
Dân chủ là khát vọng được làm chủ quyền lực, là quyền tự nhiên của con người Song, các chế độ dân chủ trước đây chỉ là dân chủ cho thiểu số giai cấp bóc lột còn đa số nhân dân lao động thì không có quyền dân chủ Chỉ đến khi nền dân chủ vô sản - dân chủ XHCN ra đời thì quyền lực của người dân mới ngày càng được thực hiện đầy đủ trong thực tiễn bởi vì đó là nền dân chủ của
đa số nhân dân với sự đảm bảo thực hiện dưới pháp luật của nhà nước pháp quyền XHCH của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân trên nền tảng của chế
độ sở hữu xã hội về tư liệu sản xuất chủ yếu
Dân chủ XHCN ra đời là một hiện tượng hợp quy luật, là bước phát triển cao hơn về chất so với các kiểu dân chủ khác Đó là nền dân chủ được xây dựng và hình thành trong tiến trình xây dựng CNXH mang bản chất giai cấp công nhân, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản để thực hiện và đảm bảo quyền là chủ thực sự của đông đảo quần chúng nhân dân trong xã hội
Nền dân chủ XHCN khẳng định quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân lao động, nhân dân tự tổ chức quyền lực của nhà nước qua bầu cử, tham gia quản lý và quyết định những vấn đề quan trọng, kiểm tra, giám sát hoạt động của nhà nước thông qua hình thức dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện
Chủ nghĩa Mác- Lênin cũng đã từng khẳng định rằng dân chủ vô sản không chỉ là công cụ, phương tiện để phát huy tính sáng tạo của quần chúng
mà còn là bản chất tồn tại của nhà nước XHCN Chế độ dân chủ XHCN là
Trang 26một kiểu hình thức nhà nước mới khác về chất so với các hình thức nhà nước trước đó bởi nó đảm bảo quyền lợi cho đa số nhân dân lao động Theo V.I.Lênin: “Đồng thời với việc mở rộng rất nhiều chế độ dân chủ, lần đầu tiên biến thành chế độ dân chủ cho người nghèo, chế độ dân chủ cho nhân dân dân chủ cho tuyệt đại đa số nhân dân”[33, tr 107].
Dân chủ XHCN đảm bảo dân chủ thực sự cho nhân dân lao động Dân chủ toàn diện trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, tư tưởng, thống nhất được quyền và nghĩa vụ của công dân trong mối quan hệ với nhà nước, đó là mục tiêu và động lực phát triển xã hội
Các quan niệm về dân chủ XHCN đều đã chỉ ra đó là nền dân chủ cho số đông, dân chủ thực sự và dân chủ thực sự trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Thực hiện “dân là chủ, dân làm chủ” chính là thực hiện sứ mệnh lịch sử, vai trò to lớn của quần chúng nhân dân, quần chúng nhân dân là lực lượng cơ bản của mọi cuộc cách mạng, quyết định sự tồn tại và phát triển của nhân loại
1.2.2 Hoàn cảnh ra đời và một số nội dung cơ bản của Pháp lệnh dân chủ
cơ sở
1.2.2.1 Hoàn cảnh ra đời của Pháp lệnh dân chủ cơ sở
Ở nước ta, trong một thời gian dài trước đây việc thực hiện dân chủ cơ
sở đã không được quan tâm đúng mức, nhiều nơi, nhiều lúc dân chủ cơ sở bị
vi phạm nghiêm trọng, người dân, người lao động không có cơ chế để bảo vệ
và thực hiện quyền làm chủ của mình Do vậy, khi pháp luật thực hiện dân chủ ra đời và được triển khai đã làm cho người dân, người lao động rất phấn khởi và nhiệt tình hưởng ứng Thông qua quá trình học tập và thực hiện dân chủ cơ sở người dân, người lao động, cán bộ, công nhân viên chức đã thấy rõ hơn quyền cũng như trách nhiệm của mình trong việc xây dựng đời sống dân chủ ở cơ sở, ý thức làm chủ, ý thức công dân đã có sự chuyển biến rõ rệt
Pháp lệnh dân chủ cơ sở là một trong số những văn bản quy phạm pháp luật hình thành nên khung pháp lý và những nội dung cơ bản về dân chủ ở cơ
Trang 27sở Hệ thống các văn bản, chính sách và pháp luật của Đảng và Nhà nước quy định nội dung về dân chủ, phát huy dân chủ và quyền làm chủ của nhân dân là rất nhiều Ở đây, tác giả chỉ xin điểm lại một số văn bản tạo tiền đề cho việc
ra đời của Pháp lệnh dân chủ ở xã, phường, thị trấn:
Chỉ thị số 30-CT/TW ngày 18/2/1998 của Bộ Chính trị (Khóa VIII) về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cở sở (Chỉ thị 30) Nội dung cốt lõi của việc thực hiện dân chủ ở cơ sở, theo Chỉ thị, là "phát huy quyền làm chủ của nhân dân, thu hút nhân dân tham gia quản lý nhà nước, tham gia kiểm kê, kiểm soát nhà nước, khắc phục tình trạng suy thoái, quan liêu, mất dân chủ và nạn tham nhũng"[11]
Để luật hóa nội dung chỉ đạo tại Chỉ thị 30, Ủy ban Thường vụ Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam đã ra Nghị quyết số 45-1998/NQ-UBTVQH10 ngày 26/2/1998 về việc ban hành Quy chế thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn (Nghị quyết 45) Nghị quyết 45 trước hết nhắc lại và khẳng định phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra", lấy đó làm cơ sở để "giao Chính phủ ban hành Quy chế thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn (Quy chế)"
Ngay sau khi Nghị quyết 45 của UBTVQH được ban hành, Chính phủ đã nhanh chóng thể chế hóa các nội dung và yêu cầu của Nghị quyết thành các nghị định của Chính phủ Đầu tiên là Nghị định số 29/1998/NĐ-CP ngày 11/5/1998 của Chính phủ về việc ban hành Quy chế thực hiện dân chủ ở xã (Nghị định 29), và sau 5 năm thực hiện Nghị định 29, cũng như quán triệt ý kiến chỉ đạo của Ban Bí thư Trung ương Đảng tại Chỉ thị số 10-CT/TW ngày 28/3/2002 về tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ
ở cơ sở (Chỉ thị 10), Chính phủ đã ban hành Nghị định số 79/2003/NĐ-CP ngày 7/7/2003 ban hành Quy chế thực hiện dân chủ ở xã (Nghị định 79, thay thế cho Nghị định 29)
Nghị định 79 tập trung vào bốn nội dung lớn sau: nhân dân được cung cấp
Trang 28thông tin; tham gia bàn và quyết định trực tiếp; tham gia ý kiến và nhân dân giám sát và kiểm tra Về cơ bản, Nghị định 79 vẫn giữ nguyên những nội dung cốt lõi được quy định trong Nghị định 29, chỉ có một số "sửa đổi, bổ sung cho phù hợp" Nói cách khác, Nghị định 79 đi vào thực chất hơn, cụ thể hơn cả về việc làm và đối tượng thực hiện Trên thực tế, Nghị định 79 là bước chuyển và chuẩn bị tiếp theo để "nâng Quy chế dân chủ thành pháp lệnh hoặc luật" theo định hướng chỉ đạo của Ban Bí thư Trung ương Đảng trong Chỉ thị 10.
Năm 2007 đánh dấu một mốc quan trọng trong việc xây dựng khung pháp
lý về dân chủ ở cơ sở với việc Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua Pháp lệnh Thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn thay cho Nghị định 79 Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn là một văn bản được Ủy ban Thường vụ Quốc hội Việt Nam khóa XI đã thông qua vào ngày 20 tháng 04 năm 2007 (Pháp lệnh số 34/2007//PL-UBTVQH11) và có hiệu lực thi hành từ ngày 1 tháng 7 năm 2007, được Chủ tịch nước Việt Nam ra lệnh công bố trên toàn quốc Đây là văn bản quy định về thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn và là văn bản pháp lý quan trọng nhằm phát huy quyền dân chủ của nhân dân ở xã, phường, thị trấn Tính đến nay Pháp lệnh là văn bản pháp lý có hiệu lực cao nhất (không kể Hiến pháp Việt Nam) quy định về vấn đề dân chủ ở cấp xã Ngoài ý nghĩa và giá trị pháp lý cao hơn, khẳng định lại giá trị của bốn nhóm nội dung trong Nghị định 79, Pháp lệnh có ba điểm mới Một là, cụ thể hóa và nêu rõ hơn cách thức thực hiện; hai là, đề cao trách nhiệm triển khai thực hiện của cơ quan, cán bộ chính quyền xã và ba là, nhấn mạnh đến hiệu quả thực hiện cũng như trách nhiệm giải trình của cơ quan chính quyền
xã trong trường hợp liên quan
1.2.2.2 Một số nội dung cơ bản của Pháp lệnh dân chủ cơ sở
Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11 ngày 20/4/2007 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 11 về việc thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn
Trang 29gồm 6 chương, 28 điều đã quy định các vấn đề: những nội dung phải công khai để nhân dân biết; những nội dung nhân dân bàn và quyết định; những nội dung nhân dân tham gia ý kiến trước khi cơ quan có thẩm quyền quyết định; những nội dung nhân dân giám sát; trách nhiệm của chính quyền, cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan và của nhân dân trong việc thực hiện dân chủ ở cấp xã và phương thức, biện pháp cụ thể để thực hiện từng nội dung, vấn đề được quy định trong pháp lệnh cũng như các phương thức xây dựng cộng đồng dân cư thôn - nơi sinh sống của cộng đồng dân cư.
Tại điều 1 Pháp lệnh số 34/2007/PL – UBTVQH ngày 20 tháng 4 năm 2007 về thực hiện dân chủ cơ sở ở xã, phường, thị trấn có ghi: “Pháp lệnh này quy định những nội dung phải công khai để nhân dân biết; những nội dung nhân dân bàn và quyết định; những nội dung nhân dân tham gia ý kiến trước khi cơ quan có thẩm quyền quyết định; những nội dung nhân dân giám sát; trách nhiệm của chính quyền, cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã), của cán bộ thôn, làng, ấp, bản, phun, sóc (sau đây gọi chung là thôn), tổ dân phố, khu phố, khối phố (sau đây gọi chung là tổ dân phố), của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan và của nhân dân trong việc thực hiện dân chủ cấp xã”
Một là, những nội dung công khai để dân biết
Nhân dân được biết về tình hình chung của đất nước, địa phương, về những vấn đề có liên quan trực tiếp đến quyền lợi, nghĩa vụ của mỗi người dân cũng như của gia đình và cộng đồng dân cư là một trong những quyền trước tiên của nhân dân Điều 5 của Pháp lệnh nêu rõ những nội dung công khai sau đây:
Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, phương án chuyển dịch cơ cấu kinh tế và dự toán, quyết toán ngân sách hằng năm của cấp xã
Trang 30Dự án, công trình đầu tư và thứ tự ưu tiên, tiến độ thực hiện, phương án đền bù, hỗ trợ giải phóng mặt bằng, tái định cư liên quan đến dự án, công trình trên địa bàn cấp xã; quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chi tiết và phương
án điều chỉnh, quy hoạch khu dân cư trên địa bàn cấp xã
Nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, công chức cấp xã trực tiếp giải quyết các công việc của nhân dân
Việc quản lý và sử dụng các loại quỹ, khoản đầu tư, tài trợ theo chương trình, dự án đối với cấp xã; các khoản huy động nhân dân đóng góp
Chủ trương, kế hoạch vay vốn cho nhân dân để phát triển sản xuất, xoá đói, giảm nghèo; phương thức và kết quả bình xét hộ nghèo được vay vốn phát triển sản xuất, trợ cấp xã hội, xây dựng nhà tình thương, cấp thẻ bảo hiểm y tế
Đề án thành lập mới, nhập, chia đơn vị hành chính, điều chỉnh địa giới hành chính liên quan trực tiếp tới cấp xã
Kết quả thanh tra, kiểm tra, giải quyết các vụ việc tiêu cực, tham nhũng của cán bộ, công chức cấp xã, của cán bộ thôn, tổ dân phố; kết quả lấy phiếu tín nhiệm Chủ tịch và Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch và Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã
Nội dung và kết quả tiếp thu ý kiến của nhân dân đối với những vấn đề thuộc thẩm quyền quyết định của cấp xã mà chính quyền cấp xã đưa ra lấy ý kiến nhân dân theo quy định tại Điều 19 của Pháp lệnh này
Đối tượng, mức thu các loại phí, lệ phí và nghĩa vụ tài chính khác do chính quyền cấp xã trực tiếp thu
Các quy định của pháp luật về thủ tục hành chính, giải quyết các công việc liên quan đến nhân dân do chính quyền cấp xã trực tiếp thực hiện
Những nội dung khác theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc chính quyền cấp xã thấy cần thiết
Hai là, những nội dung nhân dân được bàn và quyết định
Trang 31Nhân dân bàn và quyết định trực tiếp những vấn đề mà điều 10 của Pháp lệnh quy định rõ:
Nhân dân bàn và quyết định trực tiếp về chủ trương và mức đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng, các công trình phúc lợi công cộng trong phạm vi cấp
xã, thôn, tổ dân phố do nhân dân đóng góp toàn bộ hoặc một phần kinh phí và các công việc khác trong nội bộ cộng đồng dân cư phù hợp với quy định của pháp luật
Nhân dân bàn và quyết định trực tiếp bằng các hình thức ghi tại điều 11 của Pháp lệnh là: Tổ chức cuộc họp cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình theo địa bàn từng thôn, tổ dân phố; Phát phiếu lấy ý kiến tới cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình Trường hợp tổ chức họp cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình thì việc biểu quyết được thực hiện bằng hình thức giơ tay hoặc bỏ phiếu kín; hình thức biểu quyết do hội nghị quyết định; nếu số người tán thành chưa đạt quá 50% tổng số cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình trong thôn, tổ dân phố hoặc trong toàn cấp xã thì tổ chức lại cuộc họp Trường hợp không tổ chức lại được cuộc họp thì phát phiếu lấy ý kiến tới cử tri hoặc cử tri đại diện
Trang 32Nhân dân bàn và biểu quyết các vấn đề trên thông qua một trong số các hình thức đó là: Tổ chức cuộc họp cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình theo địa bàn từng thôn, tổ dân phố; Phát phiếu lấy ý kiến tới cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình Trường hợp tổ chức họp cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình thì việc biểu quyết được thực hiện bằng hình thức giơ tay hoặc bỏ phiếu kín; hình thức biểu quyết do hội nghị quyết định; nếu số người tán thành chưa đạt quá 50% tổng số cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình trong thôn, tổ dân phố thì tổ chức lại cuộc họp Trường hợp không tổ chức lại được cuộc họp thì phát phiếu lấy ý kiến tới cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình, trừ việc bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố
Bốn là, những nội dung nhân dân tham gia ý kiến trước khi cơ quan có thẩm quyền quyết định
Nhân dân có quyền tham gia ý kiến trong các vấn đề quy định tại Điều
19 như sau: Dự thảo kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của cấp xã; phương
án chuyển đổi cơ cấu kinh tế, cơ cấu sản xuất; đề án định canh, định cư, vùng kinh tế mới và phương án phát triển ngành nghề của cấp xã Dự thảo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chi tiết và phương án điều chỉnh; việc quản lý, sử dụng quỹ đất của cấp xã Dự thảo kế hoạch triển khai các chương trình, dự án trên địa bàn cấp xã; chủ trương, phương án đền bù, hỗ trợ giải phóng mặt bằng, xây dựng cơ sở hạ tầng, tái định cư; phương án quy hoạch khu dân cư
Dự thảo đề án thành lập mới, nhập, chia đơn vị hành chính, điều chỉnh địa giới hành chính liên quan trực tiếp đến cấp xã Những nội dung khác cần phải lấy ý kiến nhân dân theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc chính quyền cấp xã thấy cần thiết
Hình thức để nhân dân tham gia ý kiến là: Họp cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình theo địa bàn từng thôn, tổ dân phố; Phát phiếu lấy ý kiến cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình; Thông qua hòm thư góp ý
Năm là, những nội dung nhân dân tham gia giám sát
Trang 33Nhân dân thực hiện quyền giám sát của mình tức là đang thực hiện quyền dân chủ Nhân dân có quyền được giám sát những gì liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình Điều 23 của Pháp lệnh quy định rõ những nội dung mà nhân dân tham gia giám sát chính là những nội dung công khai để dân biết; những nội dung dân bàn và quyết định trực tiếp; những nội dung dân bàn, biểu quyết để cấp có thẩm quyền quyết định; những nội dung nhân dân tham gia ý kiến trước khi cơ quan có thẩm quyền quyết định.
Về mặt hình thức để thực hiện việc giám sát của nhân dân: Nhân dân thực hiện việc giám sát thông qua hoạt động của Ban thanh tra nhân dân, Ban giám sát đầu tư của cộng đồng Trình tự, thủ tục hoạt động của Ban thanh tra nhân dân, Ban giám sát đầu tư của cộng đồng được thực hiện theo quy định của pháp luật Nhân dân trực tiếp thực hiện việc giám sát thông qua quyền khiếu nại, tố cáo, kiến nghị với cơ quan, tổ chức có thẩm quyền hoặc kiến nghị thông qua Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận cấp xã, Ban thanh tra nhân dân, Ban giám sát đầu tư của cộng đồng Trình tự, thủ tục khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của nhân dân được thực hiện theo quy định của pháp luật
Sáu là, trách nhiệm tổ chức thực hiện dân chủ ở cơ sở
Trách nhiệm chung trong việc tổ chức và thực hiện dân chủ ở cơ sở được quy định tại điều 17: Trách nhiệm tổ chức, thực hiện thuộc về Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân xã, phối hợp cùng Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị- xã hội cùng cấp tổ chức thực hiện; chỉ đạo trưởng thôn,
Tổ trưởng tổ dân phố thực hiện kế hoạch đã được thông qua Chủ tịch UBND cấp xã chịu trách nhiệm lập biên bản tổng hợp kết quả về những nội dung đã đưa ra nhân dân toàn cấp xã bàn và quyết định; tổ chức triển khai thực hiện những nội dung đã được nhân dân quyết định; phối hợp với Uỷ ban Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam cấp xã tổ chức việc bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố
Trang 34Tóm lại, trên đây là những nội dung cơ bản của Pháp lệnh dân chủ ở
xã, phường, thị trấn Pháp lệnh được ban hành đã trở thành một công cụ đắc lực để nhân dân tham gia vào các công việc của địa phương, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, nhằm đảm bảo mục tiêu: “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, đảm bảo nguyên tắc “dân làm gốc”, đảm bảo dân chủ XHCN
1.2.3 Sự cần thiết phải thực hiện Pháp lệnh dân chủ cơ sở trong cải cách hành chính cấp huyện ở Việt Nam hiện nay
Việc thực hiện Pháp lệnh dân chủ cơ sở trong CCHC cấp huyện ở Việt Nam hiện nay là rất cần thiết Bởi vì:
1.2.3.1 Thực hiện tốt Pháp lệnh dân chủ cơ sở trong cải cách hành chính cấp huyện là để thực hiện một trong những mục tiêu của Pháp lệnh dân chủ cơ sở
Thực hiện tốt Pháp lệnh dân chủ cơ sở trong CCHC sẽ phát huy được quyền làm chủ của nhân dân trong CCHC Pháp lệnh dân chủ cơ sở được ban hành nhằm phát huy quyền dân chủ của nhân dân, giúp nhân dân nhận thức đúng hơn về quyền và nghĩa vụ của công dân, và tính đến thời điểm này, đây
là văn bản pháp lý có hiệu lực cao nhất (không kể Hiến pháp Việt Nam) quy định về vấn đề quyền làm chủ của nhân dân Pháp lệnh đã quy định rất rõ về những nội dung nào cần công khai để dân biết, những nội dung nào dân có quyền bàn bạc và quyết định trực tiếp, những nội dung nào dân chỉ có quyền bàn, biểu quyết còn cấp có thẩm quyền sẽ ra quyết định, những nội dung dân tham gia giám sát Trong những nội dung đó có rất nhiều nội dung có liên quan đến việc quản lý mang tính hành chính của nhà nước đối với các tổ chức, cá nhân người dân địa phương
Cấp huyện là cấp trên trực tiếp gắn với cấp xã, phường, thị trấn - cấp thấp nhất trong bộ máy chính quyền nhà nước Việt Nam, nhưng đây lại là cấp gần dân nhất, mọi vấn đề đều từ đây mà ra và cũng chỉ có thể giải quyết triệt
để từ đây Chính vì đây là cấp diễn ra sự tiếp xúc trực tiếp giữa cơ quan công
Trang 35quyền cơ sở và nhân dân cho nên cần thu hút nhân dân tham gia quản lý, kiểm tra, kiểm soát nhà nước, khắc phục tình trạng quan liêu, mất dân chủ Pháp lệnh dân chủ cở sở đã giúp nhân dân thực hiện đúng theo phương châm: “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, nhờ đó nhân dân có thể nắm được những vấn đề hành chính được công khai, đặc biệt là thủ tục hành chính, nắm được những hình thức để thực hiện tốt quyền làm chủ của mình trong mối quan hệ hành chính với cơ quan nhà nước Thông qua đó quyền làm chủ của nhân dân được phát huy, việc giải quyết các công việc hành chính giữa cơ quan nhà nước và các tổ chức cá nhân diễn ra nhanh chóng, thuận lợi, hạn chế được tình trạng nhũng nhiễu, phiền hà nhân dân của một bộ phận cán bộ, công chức hành chính.
1.2.3.2 Thực hiện Pháp lệnh dân chủ cơ sở trong cải cách hành chính cấp huyện là một trong những mục tiêu của việc đổi mới các hoạt động của Nhà nước ta trong tiến trình đổi mới hiện nay.
Hiện nay trong xu thế hội nhập và phát triển, việc đổi mới các hoạt động của Nhà nước ta là một tất yếu đặt ra Nhà nước ta hiện nay đang thực hiện đẩy mạnh việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN, bảo đảm Nhà nước ta thực sự là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng; thực hiện với hiệu quả cao chức năng quản lý kinh tế, quản lý xã hội; giải quyết tốt mối quan hệ giữa Nhà nước với các tổ chức khác trong hệ thống chính trị, với nhân dân, với thị trường Tăng cường pháp chế XHCN và kỷ luật, kỷ cương trong hoạt động của Nhà nước, chăm
lo, phục vụ nhân dân, bảo đảm quyền, lợi ích chính đáng của mọi người dân
Bổ sung các thể chế và cơ chế vận hành cụ thể để bảo đảm nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân và nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp Trong tiến trình đổi mới
đó một trong những vấn đề được quan tâm hàng đầu là đẩy mạnh CCHC, nhất
Trang 36là thủ tục hành chính; giảm mạnh và bãi bỏ các loại thủ tục hành chính gây phiền hà cho tổ chức và công dân Nâng cao năng lực, chất lượng xây dựng và
tổ chức thực hiện các cơ chế, chính sách Đẩy mạnh xã hội hóa các loại dịch
vụ công phù hợp với cơ chế kinh tế thị trường định hướng XHCN tiến tới thực hiện mục tiêu xây dựng một nền hành chính hiện đại, trong sạch, vững mạnh, tiết kiệm, chuyên nghiệp, phục vụ nhân dân ngày một tốt hơn, chuyển
từ một nền hành chính cai trị sang hành chính phục vụ Nghĩa là lấy nguyện vọng cơ bản của quần chúng nhân dân làm mục tiêu hoạt động và mọi hoạt động luôn hướng đến phục vụ lợi ích cơ bản của đại đa số nhân dân Những tiêu chí của nền hành chính phục vụ có thể kể là xử sự một cách dân chủ, không chỉ ban hành quyết định mà còn phải thông tin đầy đủ, giải thích cặn
kẽ, thấu tình đạt lý; công chức có chuyên môn, kiến thức xã hội, hiểu biết tâm lý; người lãnh đạo có trách nhiệm luôn lắng nghe dân, thực sự gần dân; tổ chức bộ máy hành chính thích hợp, hiệu quả, phân công, phân cấp trách nhiệm rõ ràng; áp dụng công nghệ hành chính tiên tiến, tạo sự thuận lợi tối đa cho dân… Nói tóm lại, hành chính phục vụ có thể xem như doanh nghiệp dịch
vụ, hướng về lợi ích của khách hàng thay vì đối xử với dân theo kiểu một người cai trị Đổi mới hoạt động của nhà nước theo hướng thân dân, gần dân đang là một xu thế hiện nay Pháp lệnh dân chủ cơ sở được ban hành đã hỗ trợ cho quá trình CCHC, tạo chỗ dựa pháp lý cho người dân thực hiện quyền làm chủ của mình, tạo cơ sở cho các cơ quan quản lý của nhà nước ở địa phương thực hiện tốt vai trò, nhiệm vụ của cơ quan mình trong CCHC góp phần đổi mới hoạt động của nhà nước trong tiến trình đổi mới hiện nay
1.2.3.3 Thực hiện Pháp lệnh dân chủ cơ sở trong cải cách hành chính cấp huyện sẽ tạo động lực để phát huy sức mạnh quần chúng nhân dân cùng tham gia nhằm nâng cao chất lượng hoạt động cải cách hành chính.
Để phát huy sức mạnh của quần chúng nhân dân cùng tham gia nâng cao chất lượng của hoạt động CCHC thì việc nâng cao tính công khai, minh
Trang 37bạch trong nền hành chính nhà nước là một nhiệm vụ thiết yếu, góp phần quan trọng bảo đảm hiệu lực, hiệu quả hoạt động hành chính Bên cạnh đó, Pháp lệnh dân chủ cơ sở cũng có quy định những vấn đề liên quan đến công khai minh bạch theo phương châm để “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, tạo động lực cho CCHC ở cơ sở diễn ra thuận lợi hơn, củng cố thêm một bước vững chắc quyền dân chủ và sức mạnh của quần chúng nhân dân
Một trong những mục tiêu quan trọng của Chương trình tổng thể CCHC nhà nước giai đoạn 2001-2020 là "xóa bỏ về cơ bản các thủ tục hành chính mang tính quan liêu, rườm rà, gây phiền hà cho doanh nghiệp và nhân dân; hoàn thiện các thủ tục hành chính mới theo hướng công khai, đơn giản
và thuận tiện cho dân" Chương trình cũng đã xác định nhiều nội dung liên quan tới công khai, minh bạch nền hành chính tạo điều kiện tối đa cho công dân, tổ chức doanh nghiệp hoạt động thuận lợi Các lĩnh vực thuộc khu vực hành chính phải công khai, minh bạch bao gồm: mua sắm công, quản lý dự án đầu tư, xây dựng, tài chính và ngân sách nhà nước, huy động và sử dụng các khoản đóng góp của nhân dân, quản lý, sử dụng các khoản viện trợ, quản lý
và cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước, quản lý và sử dụng đất, nhà ở, y tế, giáo dục, khoa học - công nghệ, thể dục thể thao, thanh tra, hoạt động giải quyết công việc của công dân, doanh nghiệp, tư pháp, công tác cán bộ
Hiện nay, hầu hết các cấp hành chính đã triển khai thực hiện hiệu quả
cơ chế “một cửa” Nhờ triển khai tốt việc công khai các quy định thông qua các hình thức công khai phong phú, trình tự, thủ tục hồ sơ, thời gian, yêu cầu
và điều kiện, qua đó đã giúp tạo niềm tin trong nhân dân, nhân dân hiểu và nắm rõ các quy trình khi tham gia vào quy trình thủ tục CCHC với các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương Có thể công bố công khai các số điện thoại đường dây nóng, địa chỉ hộp thư điện tử của cơ quan, đơn vị, tổ chức mình để tiếp nhận các góp ý về quy trình, thủ tục; các thông tin, vướng mắc của cá nhân, tổ chức đối với những việc làm sai trái, sách nhiễu, tiêu cực,
Trang 38gây phiền hà của cán bộ, công chức, viên chức Phân công trách nhiệm cụ thể trong việc theo dõi, ghi nhận đầy đủ các thông tin, góp ý; xây dựng quy chế thẩm tra, xác minh, xử lý kịp thời và công bố công khai kết quả xử lý Tại tất
cả các điểm tiếp nhận hồ sơ, tài liệu, những nơi làm việc với người dân, doanh nghiệp của cơ quan, đơn vị, tổ chức đều phải thực hiện niêm yết công khai toàn bộ quy trình, thủ tục, thời hạn giải quyết; quyền, nghĩa vụ của công dân, tổ chức, doanh nghiệp có liên quan nội dung thẩm quyền giải quyết; quyền và trách nhiệm khiếu nại, tố cáo đối với những hành vi vi phạm, gây phiền hà, sách nhiễu Tất cả cán bộ, công chức, viên chức có trách nhiệm tiếp, làm việc trực tiếp với người dân và doanh nghiệp tại trụ sở phải đeo thẻ ghi rõ họ tên, chức vụ, đơn vị công tác Nhờ đó cũng hạn chế được tình trạng quan liêu, nhũng nhiễu, cửa quyền, gây phiền hà cho nhân dân của một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức các cơ quan hành chính nhà nước, tổ chức
sự nghiệp dịch vụ công Việc đánh giá mức độ hài lòng của người dân đối với các cơ quan hành chính cơ sở (mức tốt, mức khá, mức trung bình, mức kém)
là hình thức thể hiện quy chế dân chủ cao của nhân dân đối với chính quyền địa phương trong công tác CCHC thể hiện quyền làm chủ của nhân dân
Như vậy, công khai minh bạch là nguyên tắc hàng đầu, nhằm ngăn chặn tham nhũng, vừa bảo đảm nền hành chính nhà nước tuân thủ các giá trị dân chủ, pháp quyền Các cơ quan, tổ chức, đơn vị chỉ có thể không công khai những nội dung được coi là bí mật nhà nước và không được viện lý do nào khác để từ chối việc công khai hoạt động của mình, nhằm tránh sự giám sát của người dân và xã hội
1.2.3.4 Thực hiện Pháp lệnh dân chủ trong cải cách hành chính cấp huyện đã góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội chung của địa phương và cả nước
Các yêu cầu và nội dung của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa được từng bước được thể chế hóa thành luật, pháp lệnh, nghị định và được nghiêm túc
Trang 39thực hiện đã mang đến một luồng sinh khí mới cho đời sống nhân dân Đặc biệt Pháp lệnh dân chủ cơ sở đã mang lại một phương thức mới trong huy động nguồn lực từ nhân dân, bao gồm cả trí lực và vật lực vào xây dựng phát triển quê hương Các chủ trương, các nhiệm vụ quan trọng đều được đưa ra dân trực tiếp hoặc thông qua người đại diện tham gia bàn bạc, giám sát quá trình thực hiện các công việc liên quan đến đời sống dân sinh và các công việc hành chính liên quan đến mối quan hệ giữa nhân dân và cơ quan hành chính nhà nước như: xây dựng các công trình điện, đường, trường, trạm; vệ sinh môi trường, thuỷ lợi, các quy định về nếp sống văn minh, ma chay, cưới hỏi, thủ tục hành chính,…Nhân dân cho ý kiến đối với việc xây dựng thể chế, chính sách, đánh giá tinh thần, thái độ phục vụ của cán bộ công chức, lấy sự hài lòng của người dân đối với chất lượng cung cấp dịch vụ công là thước đo hiệu quả hoạt động của cơ quan nhà nước Thông qua đó, trình độ và năng lực làm chủ của nhân dân từng bước được nâng lên Các tầng lớp nhân địa phương chủ động tích cực tham gia thực hiện tốt các phong trào đền ơn đáp nghĩa, thực hiện chính sách an sinh xã hội hoạt động văn hoá, chăm lo sự nghiệp giáo dục, bảo vệ môi trường, … Sau khi được đưa vào thực tiễn, Pháp lệnh dân chủ cơ sở đã tác động tích cực đến việc phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh, nâng cao chất lượng xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn Niềm tin của nhân dân đối với Đảng, chính quyền và khối đại đoàn kết toàn dân được củng cố.
Do thực hiện tốt dân chủ trong CCHC nên đã có tác động tích cực đến phát triển kinh tế - xã hội và xây dựng cơ sở hạ tầng ở địa phương Đồng thời tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp uỷ Đảng, chính quyền, sự phối hợp của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân, các địa phương trong huyện
đã phát huy tốt nội lực, khai thác tiềm năng, thế mạnh, tạo sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá; góp phần tích cực nâng cao đời sống vật chất cho nhân dân Bên cạnh đó, việc thực hiện dân chủ ở cơ
Trang 40sở có tác động tốt tới tinh thần đoàn kết nội bộ trong Đảng và nhân dân, làm cho mối quan hệ giữa Đảng với chính quyền và nhân dân ngày càng được củng cố, gắn bó mật thiết hơn, góp phần hạn chế nhiều tiêu cực ở cơ sở Qua
đó cũng phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của nhân dân
Trong thời gian qua CCHC ở Việt Nam nói chung, ở cấp huyện nói riêng đã thu được những kết quả đáng khích lệ như: Hệ thống thủ tục hành chính từng bước được cải cách theo hướng đơn giản, công khai Tổ chức bộ máy hành chính đã được cải cách theo hướng tinh giản hơn Đội ngũ công chức Nhà nước đã được quan tâm xây dựng, bồi dưỡng về năng lực công tác, tinh thần trách nhiệm và ý thức phục vụ nhân dân Những cải cách trên đây
đã góp phần tạo ra tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ trong thời gian qua, đồng thời làm cho bộ máy Nhà nước đổi mới theo hướng ngày một dân chủ, sát dân
và gần dân hơn, khắc phục nhiều bất cập vốn có trong thời cơ chế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp Pháp lệnh dân chủ cơ sở ra đời càng tạo điều kiện và củng cố về mặt pháp lý giúp nâng cao hiệu quả CCHC của các cơ quan hành chính địa phương, nhờ đó nâng cao hiệu quả CCHC của cả nước, thúc đẩy kinh tế- xã hội của địa phương nói riêng, của cả nước nói chung phát triển
1.2.4 Một số nội dung cơ bản của việc thực hiện Pháp lệnh dân chủ cơ sở trong cải cách hành chính cấp huyện ở Việt Nam hiện nay
Trong lĩnh vực cải cách thể chế hành chính: Pháp lệnh dân chủ cơ sở
với việc công khai, minh bạch những nội dung để dân biết, dân bàn, dân tham gia ý kiến trước khi cơ quan có thẩm quyền quyết định, những nội dung dân giám sát đã giúp cho nhiều cơ quan, đơn vị hành chính cấp huyện rà soát, sửa đổi, bổ sung hoặc xây dựng mới một số quy chế, quy định trong việc CCHC như “ Quy chế tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo”, Quy chế tuyển dụng, đề bạt, nâng lương, khen thưởng, kỷ luật, nhận xét, đánh giá cán bộ, , quy định cụ thể về các quyền và nghĩa vụ, trách nhiệm của UBND huyện, Chủ tịch UBND huyện nhằm hoàn thiện cơ chế, chính sách CCHC theo