Chính vì vậy mà sự ra đời của hệ thống NLKH đã mở ra một hướng phát triển mới phù hợp với người dân hiện nay được người dân tham ra sản xuất nhiều, quy mô ngày một rộng lớn.. Trong các h
Trang 1LÂM VĂN ĐÔNG
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ MỘT SỐ MÔ HÌNH NÔNG LÂM
KẾT HỢP TẠI XÃ ĐẠP THANH - HUYỆN BA CHẼ
TỈNH QUẢNG NINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành : Nông lâm Kết hợp Khoa : Lâm nghiệp
Khoá học : 2011 - 2015
Thái Nguyên, năm 2015
Trang 2LÂM VĂN ĐÔNG
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ MỘT SỐ MÔ HÌNH NÔNG LÂM
KẾT HỢP TẠI XÃ ĐẠP THANH - HUYỆN BA CHẼ
TỈNH QUẢNG NINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành : Nông lâm Kết hợp
Khoa : Lâm nghiệp Khoá học : 2011 - 2015
Giảng viên hướng dẫn : TS Nguyễn Văn Thái
Thái Nguyên, năm 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và rèn luyện ở trường Đại học làm đề tài tốt nghiệp là điều có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với mỗi sinh viên Công việc này giúp sinh viên áp dụng những kiến thức được học trong nhà trường vào thực tế, bổ sung củng cố kiến thức của bản thân, tích luỹ được nhiều kinh nghiệm quý báu phục vụ cho công việc chuyên môn sau này
Được sự đồng ý của Ban Giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban Chủ nhiệm khoa Lâm nghiệp và giáo viên hướng dẫn Tôi tiến
hành thực tập khóa luận “Đánh giá hiệu quả kinh tế một số mô hình nông
lâm kết hợp tại xã Đạp Thanh - Huyện Ba Chẽ - tỉnh Quảng Ninh”
Kết quả đề tài là sự nỗ lực của bản thân và sự giúp đỡ của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nhà trường Nhân dịp này tôi xin bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc tới các vị lãnh đạo xã Đạp Thanh đã tạo mọi điều kiện cho tôi thu thập thông tin liên quan đến vấn đề nghiên cứu, sự đóng góp ý kiến của thầy cô, bạn bè về kiến thức và tinh thần đã giúp tôi hoàn thành đề tài
Đặc biệt tôi xin chân thành cảm ơn thầy giáo TS Nguyễn Văn Thái đã
tận tình hướng dẫn, chỉ bảo giúp đỡ tôi trong suốt quá trình làm đề tài
Do trình độ bản thân còn hạn chế và địa bàn nghiên cứu rộng, giao thông đi lại gặp khó khăn nên đề tài vẫn không tránh khỏi những thiếu sót nhất định Tôi rất mong nhận được sự đóng góp của các thầy cô giáo và các bạn để đề tài được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 20 Tháng 05 năm 2015
Sinh viên
Lâm Văn Đông
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của bản thân tôi, không sao chép của ai Nội dung khóa luận có tham khảo và sử dụng các tài liệu, thông tin được đăng tải trên các tác phẩm, tạp chí và các trang web theo danh mục tài liệu tham khảo của khóa luận
Thái Nguyên, ngày 20 tháng 05 năm 2015
Xác nhận giáo viên hướng dẫn Người viết cam đoan
Xác nhận giáo viên chấm phản biện
(ký, họ và tên)
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.1: Các mô hình NLKH tại các thôn của xã Đạp Thanh 21
Bảng 4.2: Phân loại các dạng hệ thống NLKH của các hộ được điều tra 23
Bảng 4.3: Cơ cấu sử dụng đất của mô hình R - VAC - Rg 25
Bảng 4.4: Cơ cấu sử dụng đất của mô hình R - VC - Rg 29
Bảng 4.5: Cơ cấu sử dụng đất của mô hình R - V - Rg 31
Bảng 4.6A: Tổng hợp kết quả các dạng hệ thống/mô hình của các hộ 33
Bảng 4.6B: Phân bố các dạng hệ thống/mô hình của các hộ theo diện tích 34
Bảng 4.7: Kết quả cho điểm đánh giá hiệu quả bảo vệ môi trường của các hệ thống NLKH theo phương pháp có sự tham gia 35
Bảng 4.8: Đánh giá thị trường tiêu thụ sản phẩm của hệ thống 38
Bảng 4.9: Hiệu quả kinh tế từ các thành phần của các hộ được điều tra 40
Bảng 4.10: Tổng hợp kết quả điều tra kinh tế các hệ thống/mô hình NLKH 41 Bảng 4.11: Cơ cấu tổng giá tri ̣ sản phẩm của các loa ̣i hê ̣ thống 44
Bảng 4.12: Phân bố các hệ thống theo giá trị gia tăng/ha 45
Bảng 4.13: Kết quả phân tích vai trò của các tổ chức xã hội đến vấn đề phát triển các hệ thống NLKH tại xã Đạp Thanh 46
Bảng 4.14: Sơ đồ SWOT cho sự phát triển các mô hình NLKH 48
Bảng 4.15: Đánh giá lựa chọn cây ăn quả và cây công nghiệp 49
Bảng 4.16: Đánh giá lựa cho ̣n cây trồng lâm nghiê ̣p 50
Bảng 4.17: Đánh giá lựa chọn cây nông nghiệp 50
Bảng 4.18: Đánh giá lựa chọn loài vật nuôi 51
Trang 6DANH MỤC CÁC HÌNH Hình 4.1: Sơ đồ lát cắt của mô hình R - VAC - Rg 26 Hình 4.2: Sơ đồ lát cắt hệ thống R - VA - Rg 29 Hình 4.3: Sơ đồ lát cắt hệ thống R - V - Rg 32 Hình 4.4: Sơ đồ VENN biểu hiện mối quan hệ của các tổ chức xã hội đến
phát triển nông lâm kết hợp 47
Trang 8MỤC LỤC
Phần 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích nghiên cứu 3
1.3 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.4 Ý nghĩa của đề tài 3
1.4.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 3
1.4.2 Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất 4
Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5
2.1 Định nghĩa về nông lâm kết hợp 5
2.2 Tình hình nghiên cứu nông lâm kết hợp trong và ngoài nước 6
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 6
2.2.2 Tình hình nghiên cứu nông lâm kết hợp tại Việt Nam 7
2.3 Tổng quan khu vực nghiên cứu 10
2.3.1 Điều kiện tự nhiên 10
2.3.2 Điều kiện kinh tế xã hội 13
Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 17
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 17
3.3 Nội dung 17
3.4 Phương pháp nghiên cứu 17
3.4.1 Phương pháp ngoại nghiệp 17
3.4.2 Phương pháp nội nghiệp 18
Phần 4: KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ 20
4.1 Khảo sát đánh giá tình hình sản xuất NLKH tại xã Đạp Thanh - huyện Ba Chẽ - tỉnh Quảng Ninh 20
Trang 94.2 Kết quả điều tra và phân loại hệ thống NLKH tại xã Đạp Thanh 21
4.2.1 Kết quả điều tra hệ thống NLKH tại Đạp Thanh 21
4.2.2 Kết quả phân loại các hệ thống NLKH tại xã Đạp Thanh 22
4.3 Đánh giá hiệu quả kinh tế một số hệ thống NLKH điển hình 24
4.3.1 Hệ thống 1: R - VAC - Rg 25
4.3.2 Hệ thống 2: R - VA - Rg 28
4.3.3 Hệ thống 3: R - V - Rg 31
4.4 Phân bố của các hệ thống NLKH được điều tra theo một số nhân tố 33
4.4.1 Phân bố của các hệ thống theo nhóm hộ 33
4.4.2 Phân bố các hệ thống theo diện tích 34
4.5 Đánh giá hiệu quả các hệ thống NLKH 35
4.5.1 Đánh giá hiệu quả môi trường 35
4.5.2 Đánh giá hiệu quả về xã hội 36
4.5.3 Hiệu quả kinh tế hệ thống/mô hình 1 năm 39
4.6 Đề xuất những giải pháp phát triển hệ thống NLKH 46
4.6.1 Ảnh hưởng các tổ chức xã hội đến phát triển NLKH 46
4.6.2 Lựa chọn cây trồng vật nuôi trong phát triển mô hình NLKH 48
4.6.3 Đề xuất một số giải pháp góp phần đẩy mạnh sản xuất, phát triển bền vững các mô hình NLKH trong toàn xã 52
Phần 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 56
5.1 Kết luận 56
5.2 Kiến nghị 57
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 10Phần 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là một trong những điều kiện không thể thiếu cho hoạt đông sản xuất và đời sống con người Việc xây dựng kế hoạch sử dụng đất đai có ý nghĩa đặc biệt quan trọng không chỉ trước mắt mà cả lâu dài Trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước việc
sử dụng đất hợp lý, có hiệu quả phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh quốc phòng tránh gây lãng phí hạn chế sự hủy hoại đất và tránh phá vỡ môi trường sinh thái Ngành lâm nghiệp có tác dụng rất lớn đối với nền kinh tế
về nhiều mặt không chỉ cung cấp đặc sản rừng mà còn tác dụng giữ đất, điều tiết nguồn nước, chống ô nhiễm môi trường, điều hòa khí hậu, phòng hộ, bảo
vệ môi trường sinh thái, đa dạng sinh học và các giá trị cảnh quan, du lịch, văn hóa Vậy mà những năm qua dường như con người đã lãng quên ý nghĩa quan trọng đó, chỉ tập trung khai thác triệt để thỏa mãn nhu cầu trước mắt của mình Đầu tiên là sự khai thác kiệt quệ những loài gỗ quý, có giá trị cao về mặt kinh
tế và thẩm mỹ, làm giảm tính đa dạng sinh học, mất đi nguồn gen sinh vật quý
và những giá trị văn hóa tồn tại trong nó mà còn làm xuất hiện hàng loạt các biến đổi tiêu cực của khí hậu như hiệu ứng nhà kính, thủng tầng ozon hay sự xuất hiện của lũ quét gây thiệt hại nặng nề về người và của Nước ta là một nước nông nghiệp với dân số khoảng 85 triệu người trong đó có trên 75% dân
số sống dựa vào nông nghiệp nên đời sống còn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt ở những vùng nông thôn miền núi thu nhập của họ chủ yếu từ nông lâm nghiệp Nhưng ở nước ta nói chung và ở miền núi nói riêng thì ngành lâm nghiệp còn kém phát triển, hoạt động sản xuất gặp nhiều khó khăn, trình độ canh tác chưa cao nên dẫn đến năng suất lao động thấp Hơn nữa nhiều nơi việc sử dụng đất
Trang 11đai còn nhiều bất hợp lý, việc sử dụng đất mới chỉ dừng lại ở việc lợi dụng mà chưa có biện pháp cải tạo đất, nâng cao chất dinh dưỡng trong đất nhằm sử dụng đất một cách bền vững Do vậy, để có thể nâng cao hiệu quả sử dụng đất đai, góp phần nâng cao năng suất trong sản xuất cho hợp lý Việc quy hoạch sử dụng đất khu vực nông thôn là việc làm cần thiết góp phần cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân khu vực nông thôn
Những năm gần đây việc phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội ở các vùng nông thôn, đặc biệt là vùng nông thôn miền núi được Đảng và Nhà nước rất quan tâm Các chính sách đưa ra đều hướng tới việc nâng cao hiệu quả kinh tế, chất lượng cuộc sống cho người dân và xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái Do điều kiện tự nhiên của khu vực miền núi phía bắc hết sức khó khăn, địa hình cao, dốc phức tạp, bị chia cắt mạnh, đất sử dụng cho cây lương thực, cây hoa màu rất ít Trong đó có xã Đạp Thanh thuộc huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh
Đa số người dân thuộc các dân tộc thiểu số ít người có trình độ dân trí thấp, ít hiểu biết về khoa học kỹ thuật Sự bất lợi của điều kiện tự nhiên đòi hỏi phải có một phương thức khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên đất một cách hợp lí
Vì vậy việc nghiên cứu và phát triển các mô hình nông lâm kết hợp (NLKH) áp dụng cho khu vực đất đồi núi có hiệu quả hơn là việc làm hết sức cần thiết
Phương thức NLKH tỏ ra có hiệu quả cao trong việc bảo vệ tài nguyên đất, môi trường sinh thái, nâng cao hiệu quả kinh tế nông lâm nghiệp, phù hợp với đặc điểm nước ta và Nhà nước đã coi NLKH là chiến lược lâu dài trong phát triển nông lâm nghiệp bền vững Trên thực tế, Đảng và nhà nước
đã tổ chức nhiều chương trình, dự án nhằm phát triển nông lâm nghiệp như
4162, PAM, trương trình trồng mới 5 triệu ha rừng, dự án 135,… NLKH ngày càng được nhiều địa phương quan tâm áp dụng và phát triển Nó được xem như một bộ phận cấu thành của các chương trình, dự án quốc gia về phát triển nông thôn
Trang 12Xã Đạp Thanh thuộc huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh trong những năm gần đây được sự quan tâm giúp đỡ của nhà nước đã áp dụng các mô hình NLKH và đã bước đầu đem lại hiệu quả kinh tế cho người dân Từ mô hình
đã được áp dụng tại địa phương còn nhiều vấn đề cần phải xem xét lại để đánh giá khả năng hiệu quả về các điều kiện kinh tế, đất đai, môi trường qua
đó đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm khắc phục các mặt còn hạn chế Tôi tiến
hành nghiên cứu chuyên đề: “Đánh giá hiệu quả kinh tế một số mô hình
nông lâm kết hợp tại xã Đạp Thanh - huyện Ba Chẽ - tỉnh Quảng Ninh”
1.2 Mục đích nghiên cứu
- Đề xuất được các giải pháp phát triển NLKH sản xuất theo hướng bền vững, góp phần phát triển kinh tế, nâng cao đời sống người dân xã Đạp Thanh - huyện Ba Chẽ - tỉnh Quảng Ninh, thông qua phát triển theo phương thức NLKH
1.3 Mục tiêu nghiên cứu
- Thống kê, phân loại các mô hình NLKH hiện có tại địa phương
- Đánh giá hiệu quả của các mô hình NLKH, xác định những thuận lợi, khó khăn, cơ hội và thách thức trong việc phát triển các mô hình NLKH tại địa phương
- Đề xuất một số giải pháp phù hợp nhằm cải thiện nâng cao hiệu quả các mô hình NLKH của địa phương
1.4 Ý nghĩa của đề tài
1.4.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
- Giúp cho sinh viên củng cố, hệ thống hóa lại kiến thức đã học, bước đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học
- Nghiên cứu đề tài giúp sinh viên làm quen với một số phương pháp nghiên cứu một đề tài khoa học cụ thể
- Là cơ hội để sinh viên cọ sát với thực tiễn sản xuất, áp dụng những kiến thức đã học vào thực tế
Trang 131.4.2 Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất
- Giúp chính quyền và các hộ gia đình đề xuất các giải pháp phát triển NLKH phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương và điều kiện của từng hộ
- Tìm ra những thuận lợi, khó khăn trong quá trình phát triển NLKH từ
đó đưa ra những giải pháp khắc phục những khó khăn, phát huy những thuận lợi nhằm phát triển kinh tế tại xã Đạp Thanh
Trang 14Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1 Định nghĩa về nông lâm kết hợp
NLKH chính là một phương thức canh tác bền vững hiệu quả mà ngành lâm nghiệp xã hội cung cấp chuyển giao cho bà con Mặt khác hệ thống NLKH có thể được sử dụng không những cho các nông dân cá thể mà cả một cộng đồng dân cư Chính vì vậy mà sự ra đời của hệ thống NLKH đã mở ra một hướng phát triển mới phù hợp với người dân hiện nay được người dân tham ra sản xuất nhiều, quy mô ngày một rộng lớn
NLKH là một lĩnh vực khoa học mới được đề xuất vào thập niên 1960 bởi King (1969) Bởi vậy mà qua nhiều năm NLKH được rất nhiều nhà khoa học trên thế giới định nghĩa theo cách riêng của mình
Theo Lundgreen và Raitee (1983), đã định nghĩa NLKH như sau:
“NLKH là tên chung của những hệ thống sử dụng đất trong đó có cây lâu
năm (cây gỗ, thân bụi, tre, hay cây ăn quả, cây công nghiệp,…) được trồng có suy tính trên một đơn vị diện tích quy hoạch đất với hoa màu hoặc với vật nuôi phía dưới đan xen nhau theo không gian hay thời gian Trong các hệ thống NLKH có mối tác động hỗ trợ qua lại cả về mặt sinh thái lẫn kinh tế giữa các thành phần của chúng”.[7]
“NLKH là một hệ thống quản lý đất bền vững làm gia tăng sức sản xuất tổng thể của đất đai, phối hợp sản xuất hoa màu (kể cả cây trồng lâu năm) cây trồng hay gia súc cùng lúc hay kế tiếp nhau trên một đơn vị diện tích đất và áp dụng các biện pháp kỹ thuật canh tác tương ứng với các điều kiện văn hóa xã hội của dân cư địa phương” (Bene và công sự, 1977) [7]
“NLKH là một hệ thống quản lý đất đai trong đó các sản phẩm của rừng và trồng trọt được sản xuất cùng một lúc hay kế tiếp nhau trên các diện tích đất thích hợp để tạo ra các lợi ích kinh tế, xã hội và sinh thái cho cộng đồng dân cư tại địa phương” (PCARD, 1979) [11]
Trang 15“NLKH là một hệ thống sử dụng đất trong đó phối hợp cây lâu năm với cây hoa màu và vật nuôi cách thích hợp theo không gian và thời gian để tăng sức sản xuất tổng thể của thực vật trồng và vật nuôi một cách bền vững trên một đơn vị diện tích đất đặc biệt trong các tình huống có kỹ thuật thấp và trên các vùng đất khó khăn” (Nair, 1987) [11]
Hay nói cách khác một hệ thống NLKH đầy đủ nó bao gồm:
+ Hai hay nhiều hơn loại thực vật (hay động vật) trong đó có ít nhất loại cây gỗ lâu năm
+ Có ít nhất hay nhiều hơn sản phẩm từ hệ thống
+ Chu kỳ sản xuất thường lớn hơn 1 năm
+ Đa dạng về sinh thái (cấu trúc và nhiệm vụ) và kinh tế so với canh tác độc canh
+ Cần có một mối quan hệ tương hỗ có ý nghĩa giữa thành phần cây lâu năm và thành phần khác
2.2 Tình hình nghiên cứu nông lâm kết hợp trong và ngoài nước
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Đi sâu vào tìm hiểu cội nguồn lịch sử của NLKH, King (1987) khẳng định rằng ở Châu Âu thời kỳ Trung cổ người ta phát quang rừng, đốt cành nhánh và canh tác cây lương thực mục đích là để tận dụng dinh dưỡng của đất rừng Tuy nhiên kiểu canh tác này không phổ biến và tồn tại lâu dài, nhưng ở Phần Lan và Đức kiểu canh tác này tồn tại đến năm 1920
Du canh là phương thức được đánh giá là phương thức cổ xưa nhất lúc này con người đã tích lũy được ít nhiều những kiến thức sơ đẳng về tự nhiên Loài người đã vượt qua thời kì này bằng các cuộc cách mạng về kỹ thuật và chăn nuôi, trồng trọt song không phải tất cả ở các nước vận động rất chậm chạp trong cuộc cách mạng này Sau du canh sự ra đời của phương thức
Taungya ở vùng nhiệt đới như là dự báo trước cho phương thức NLKH này
(PKR.Nair, 1987)
Trang 16Theo Blanford 1858, nguồn gốc của phương thức này là từ địa phương
của ngôn ngữ Myanma; Taungya nghĩa là canh tác, Ya là đồi núi như vậy
Taungya là phương thức canh tác trên đất đồi núi điều đó cũng đồng nghĩa với
phương thúc canh tác trên đất dốc [11]
Taungya được phát triển dựa trên cơ sở hệ thống của người Đức
“Walđfelbau” trong đó bao gồm canh tác các cây nông nghiệp ngay tại rừng,
lúc đó người ta tiến hành quá trình phục hồi rừng trên đất đã khai hoang bằng canh tác gieo hạt Tếch Hai thập kỷ sau hệ thống này được cải tiến hiệu quả cho thấy: Các rừng Tếch (Tectona grandis) có thể trồng với giá thành rất thấp nhờ phương thức này
Cuối cùng hệ thống Taungya được đưa vào sử dụng rất sớm ở Ấn Độ sau đó được truyền bá rộng rãi ở Châu Á, Châu Phi
Ngày nay hệ thống Taungya được biết đến với những tên gọi khác nhau
ở một số nước nó được gọi là một biểu tượng đặc biệt của phương thức du canh, ở Indonêxia người ta gọi là Tumpany, ở Philiphin gọi là Alff Kaingy, ở Malaixia gọi là Landang
Theo Von Hesner (1966, 1970) và King (1973) hầu hết các rừng trồng
ở nhiệt đới hình thành đều bắt đầu theo phương thức này, đặc biệt là Châu Á,
Châu phi được xem như là những nơi “hàm ơn” phương thức Taungya Một
điều rõ ràng NLKH là một cái tên mới chỉ phương thức canh tác cũ (PKR.Nari,1993) Bản thân thuật ngữ này đã cố gắng để đạt đến sự diễn tả xứng đáng có thể chấp nhận được trong hệ thống sử dụng đất thế giới trong một thời gian ngắn nên không thể tránh khỏi những tồn tại
2.2.2 Tình hình nghiên cứu nông lâm kết hợp tại Việt Nam
Ở Việt Nam, tập quán canh tác nông lâm kết hợp đã có từ lâu đời, như các hệ thống canh tác nương rẫy truyền thống của đồng bào các dân tộc ít người, hệ sinh thái vườn nhà ở nhiều vùng địa lý sinh thái trên cả nước
Trang 17Xét ở khía cạnh mô hình và kỹ thuật thì nông lâm kết hợp ở Việt Nam
đã phát triển không ngừng Từ những năm 1960, hệ sinh thái Vườn - Ao - Chuồng (VAC) được nông dân các tỉnh miền Bắc phát triển mạnh mẽ và lan rộng khắp cả nước với nhiều cải tiến khác nhau để thích hợp cho từng vùng sinh thái cụ thể
Sau đó là hệ thống Rừng - Vườn - Ao - Chuồng (RVAC) và vườn đồi được phát triển mạnh mẽ ở các khu vực dân cư miền núi
Các hệ thống rừng ngập mặn - nuôi trồng thuỷ sản cũng được phát triển mạnh mẽ ở vùng duyên hải các tỉnh miền Trung và miền Nam
Các dự án ODA cũng giới thiệu các mô hình canh tác trên đất dốc theo đường đồng mức (SALT) ở một số khu vực miền núi
Theo đó, cho đến nay các mô hình nông lâm kết hợp bao gồm:
Các mô hình NLKH vùng đồi núi [1]
- Trồng xen cây nông nghiệp ngắn ngày với cây rừng trong giai đoạn rừng trồng chưa khép tán
- Trồng xen cây lương thực, thực phẩm, dược liệu dưới tán rừng
- Trồng xen cây nông nghiệp ở cả 2 giai đoạn của rừng trồng: Khi rừng chưa khép tán: Trồng xen lúa nương, sắn, lạc… Khi rừng trồng đã khép tán: trồng xen sa nhân dưới tán rừng
- Trồng và kinh doanh các cây công nghiệp lâu năm với cây rừng (cà phê, ca cao, cao su…)
- Trồng và kinh doanh “rừng, lương thực, thực phẩm” (rừng dẻ, rừng sến mật, rừng dừa, rừng điều…)
- Vườn quả, vườn rừng và rừng vườn (táo + lạc + đậu tương; vải thiều + dong rềng; mít + chè, dứa; …)
- Chăn nuôi trâu bò, chăn thả luân phiên dưới tán rừng trồng (bạch đàn + keo lá tràm + cỏ Panggola)
Trang 18Nông lâm kết hợp trên địa bàn thực chất là sự sắp xếp hợp lý các loại hình sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi, ngư nghiệp, cây nông nghiệp dài ngày
và cây lâm nghiệp trên một địa bàn đất đai sản xuất cụ thể của một huyện, một xã, một đội sản xuất, thậm chí trên một quả đồi
Trong thời kỳ kinh tế tập trung, trước đây việc kết hợp nông lâm nghiệp đã đóng góp cho nền kinh tế tự cung tự cấp Trong thời kỳ kinh tế thị trường hiện nay, việc trao đổi hàng hoá và tiếp thị là yếu tố cơ bản trong nền kinh tế Sự kết hợp nông nghiệp và lâm nghiệp trên địa bàn sẽ phát triển hàng loạt sản phẩm và tạo ra thu nhập cho cộng đồng
Hiện nay, nhiều vùng núi hẻo lánh của nước ta, nông lâm kết hợp đã tạo ra sản phẩm lương thực tại chỗ nhằm duy trì cuộc sống của đồng bào địa phương Và ở nhiều vùng, sản phẩm nông lâm kết hợp đã trở thành hàng hoá, cần được chế biến, tiêu thụ nhằm nâng cao thu nhập của người dân Mặt khác,
sự phát triển đòi hỏi những chính sách thích hợp của Chính phủ nhằm khuyến khích sản xuất và các chính sách thuận tiện cho xây dựng hạ tầng cơ sở như đường xá, bến bãi và mối giao lưu tới các thị trường lớn ở mọi miền Có như vậy, mới phát triển được sản xuất, cải thiện đời sống vật chất cũng như văn hoá xã hội của nông dân sống ở vùng nông thôn miền núi
Tóm lại, nông lâm kết hợp được tiến hành không chỉ nhằm nâng cao năng suất nông lâm nghiệp mà còn tạo ra môi trường ổn định cho mọi vùng
Ở Việt Nam trên cơ trên sở hoạt động nghiên cứu NLKH một số tác giả như Hoàng Hòe, Nguyễn Đình Hưởng, Nguyễn Ngọc Bình đã tập hợp hệ thống NLKH chính trên cơ sở phân vùng địa lý tự nhiên, để xác định khả năng thực hiện các vùng đó là: Vùng ven biển với các loài cây ngập mặn, chịu phèn, chống cát di động, vùng đồng bằng các hệ thống VAC (vườn - ao chuồng) trồng cây phân tán, đai xanh phòng hộ; vùng đồi núi và vùng trung
du các hệ thống VR (vườn - rừng), VAC - RVC (rừng - vườn - chuồng) trồng
Trang 19rừng kết hợp nuôi ong lấy mật (R - O)…chống xói mòn và bảo vệ đất, vùng đồi núi cao, chăn thả dưới tán rừng, làm ruộng bậc thang với NLKH gồm: Cây gỗ sống lâu năm, cây thân thảo, vật nuôi
Các tác giả đã phân hệ thống canh tác NLKH ở nước ta thành 8 hệ thống
chính gọi là “hệ canh” là đơn vị cao nhất, dưới hệ canh tác là “phương thức”
hay canh tác và cuối cùng là các hệ thống Theo nguyên tắc phân loại này hệ canh tác NLKH ở Việt Nam được chia thành 8 hệ sau: Hệ canh tác nông - lâm;
Hệ canh tác lâm - súc; Hệ canh tác nông - lâm - súc; Hệ cây gỗ đa tác dụng; Hệ lâm - ngư; Hệ nông - ngư; Hệ ong - cây lấy gỗ; Hệ nông - lâm - súc (Phạm Đức Tuấn, 1992; Phạm Xuân Hoàn, 2001)
2.3 Tổng quan khu vực nghiên cứu
2.3.1 Điều kiện tự nhiên
• Phía Nam giáp xã Đồng Sơn huyện Hoành Bồ
• Phía Đông giáp xã Thanh Lâm và xã Đồn Đạc
• Phía Bắc Giáp xã Lâm Ca, tỉnh Lạng Sơn
Là xã miền núi khó khăn của huyện Ba Chẽ, nằm cách xa trung tâm huyện, địa hình phức tạp, giao thông đi lại không thuận lợi Đây là một khó khăn không nhỏ của xã trong quá trình thực hiện các chương trình, dự án phát phát triển kinh tế - xã hội theo chủ trương của UBND huyện Ba Chẽ
2.3.1.2 Địa hình, địa mạo xã Đạp Thanh
Đạp Thanh có địa hình dốc, bị chia cắt mạnh bởi các dãy núi tạo thành các thung lũng hẹp và các con sông, suối lớn nhỏ Độ cao trung bình của xã từ
Trang 20200 đến 350 mét so với mực nước biển, độ dốc các dãy núi phần lớn từ 20 -
250 và trên 250 Chính vì đặc điểm này làm cho xã Đạp Thanh bị hạn chế về đất nông nghiệp Đất dốc thuận lợi cho phát triển rừng, khoanh nuôi tái sinh rừng và phát triển các mô hình nông lâm kết hợp Từ trước đến nay cuộc sống người dân ở đây chủ yếu sống bằng nghề rừng
2.3.1.3 Khí hậu, thủy văn
- Lượng mưa trung bình hàng năm 1500 - 2000 mm độ ẩm không khí trung bình các tháng trong năm là 80% Với đặc điểm khí hậu như vậy, lượng mưa thuận lợi cho cây trồng phát triển đặc biệt là cây keo hiện đang được trồng rất phổ biến ở đây
Thuận lợi: Với khí hậu như vậy thích hợp cho rất nhiêu loài cây trồng
và vật nuôi có thể sinh trưởng và phát triển Tạo nên sự đa dạng về các loài cây trồng và vật nuôi ở địa phương
Khó khăn: Do chế độ mưa và chế độ nhiệt không đều, mưa lớn, nắng nóng tập trung vào các tháng 6, 7, 8 và 9 gây lũ lụt làm thiệt hại rất lớn đối với sản xuất nông nghiệp của người dân Ngược lại mưa ít và nhiệt độ vào các tháng 12, 1, 2 gây hạn hán và ảnh hưởng tới sự sinh trưởng, phát triển của cây trồng và vật nuôi
Trang 21* Thủy văn
Đạp Thanh có hệ thống khe suối tương đối nhiều, sông Ba Chẽ là con sông lớn chảy qua địa bàn xã Nguồn nước phục vụ cho sản xuất, sinh hoạt của nhân dân lấy từ các nguồn chính như: Nước từ khe suối, nước mưa
Do điều kiện địa hình dốc, lòng chảo hay bị xói mòn, rửa trôi, sạt lở, lũ quyét vào mùa mưa gây thiệt hại và giảm năng suất cây trồng Vào mùa khô lượng nước các con sông, khe giảm hoặc không có gây thiếu nước tưới cho các loại cây trồng
2.3.1.4 Các nguồn tài nguyên
* Tài nguyên đất
Đạp Thanh có hai loại đất chính là đồi núi và ruộng
- Đất đồi núi: Loại đất này điển hình là đất feralit đỏ vàng phát triển trên đất sét, có thành phần cơ giới thịt nặng, đất đỏ vàng, chặt, bí, chua, hàm lượng đạm, lân, kali tổng số trung bình, tỷ lệ mùn khá phù hợp với việc phát triển rừng và trồng các loại cây cây ăn quả
- Đất feralit biến đổi do trồng lúa: Thành phần cơ giới từ thịt nhẹ đến trung bình, lớp đất mặt có thành phần cơ giới nhẹ bị bào mòn rửa trôi, tỷ lệ mùn thấp, các chất dinh dưỡng từ trung bình đến nghèo, đất chua Số diện tích đất ruộng chủ yếu để cấy lúa, một số ít trồng ngô và một số cây hoa màu khác
* Tài nguyên nước
Toàn xã có 112,01 ha sông suối gồm sông Ba Chẽ chạy qua địa bàn xã và 1,2 ha ao đang nuôi thuỷ sản Đây là nguồn nước chính cho sản xuất nông nghiệp
* Tài nguyên rừng
Tổng diện tích đất lâm nghiệp của xã Đạp Thanh là 8.368,25 ha Đất
có rừng sản xuất 6.899,15 ha, rừng phòng hộ là 1.899,10 ha
Hiện nay UBND xã đã giao rừng cho các hộ gia đình quản lý theo nghị định 02/NĐ - CP của chính phủ
Trang 22* Tài nguyên nhân văn
Tính đến cuối năm 2014 toàn xã Đạp Thanh có 464 hộ, dân số là 2.113 người, phân bố ở 11 thôn Bao gồm các thành phần dân tộc chính Sán Chỉ, Dao, Cao Lan, Tày và một số dân tộc khác cùng chung sống Các dân tộc khác nhau ở đây đều có bản sắc văn hóa riêng của mình như: Múa Phún Voòng của các dân tộc Dao, Sán Chỉ, hát Then của dân tộc Tày
2.3.2 Điều kiện kinh tế xã hội
2.3.2.1 Thực trạng phát triển kinh tế
* Sản xuất Nông - Lâm nghiệp
Diện tích đất lâm nghiệp hiện nay là 83.68,25 ha chiếm 90,85% diện tích tự nhiên toàn xã Trong năm 2014 hoàn thành gieo trồng với tổng diện tích gieo trồng là: 341/319,6 ha đạt 106,6% kế hoạch, đạt 111,7% so với cùng
kì Tổng sản lượng lương thực là: 757,5/768,1 tấn đạt 98,6% so với kế hoạch, đạt 102% so với cùng kỳ Năng suất bình quân đạt 45,8 tạ/ha
Trong đó: Cây lúa: 124,9/125,0 ha đạt 99,92% kế hoạch so với cùng
kỳ, năng suất đạt 45,85/45,7 tạ/ha đạt 100,3% kế hoạch, đạt 101,8% so với cùng kỳ, sản lượng đạt 570,3/571,1 tấn đạt 99,8% so với kế hoạch, đạt 100,5% so với cùng kỳ
Cây ngô: Diện tích 62,5/62,5 ha đạt 100% so với kế hoạch, đạt 99,84%
so với cùng kỳ Năng suất đạt 28,5/31,5 tạ/ha đạt 90,47% so với kế hoạch, đạt 99,1% so với cùng kỳ Sản lượng đạt 187,2/197,0 tấn đạt 95% so với kế hoạch, đạt 98,6% so với cùng kỳ
Về sản xuất lâm nghiệp: Công tác trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng đạt kết quả tốt Các hộ gia đình đã tích cực trồng rừng theo kế hoạch Tổng diện tích trồng rừng năm 2014: là 409 ha trong đó hỗ trợ cây giống của công ty Việt Nhật là 325 ha với 247 hộ, nguồn vốn nhân dân tự có là 84 ha Khai thác lâm sản trong năm 2014 là 32 ha gỗ keo bằng 1.753 tấn
Trang 23Chăn nuôi: Tổ chức tiêm phòng cho đàn gia súc, gia cầm năm 2014 đạt kết quả: Trâu 189/305 con đạt 94,4% kế hoạch, Bò là 174/ 214 con đạt 120%
kế hoạch Đàn lợn là 300/902 con đạt 59,2% kê hoạch Đàn gia cầm tiêm được
2500 con
Nhìn chung hoạt động sản xuất nông lâm nghiệp của xã Đạp Thanh được đầu tư, sản xuất và đạt kết quả cao so với kế hoạch Tuy nhiên, các chương trình định canh, định cư, trồng rừng bảo vệ rừng của Đạp Thanh sẽ đạt hiệu quả cao hơn nếu được quan tâm đúng hướng
2.3.2.2 Tình hình dân số, lao động và việc làm của xã Đạp Thanh
2.3.2.3 Tình hình cơ sở hạ tầng
* Giao thông
Đây là một trong những yếu tố hết sức quan trọng để phát triển kinh tế, văn hoá xã hội, đặc biệt là trong thời kỳ công nghiệp hoá hiện đại hoá ngày nay Trên địa bàn xã Đạp Thanh có một mạng lưới giao thông khá phức tạp; dài và dốc do địa hình chủ yếu là đồi núi Có đường tỉnh lộ 330 chạy qua địa bàn dài 10km; đường trục xã, liên xã và đường nội thôn đã được nhựa hoá, cứng hoá 26,8/34 km đạt 78,8% Trong những năm qua được sự quan tâm của Nhà nước, với sự tham gia tích cực của người dân thực hiện chương trình mục
Trang 24tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, hệ thống giao thông của xã đã một phần được xây dựng đạt theo tiêu chuẩn của Bộ GTVT Qua đó đã tạo điều kiện thuận lợi cho người dân trong việc đi lại và phát triển kinh tế, tuy nhiên trong thời gian tới vẫn cần tiếp tục quan tâm đầu tư xây dựng mới các tuyến giao thông trên địa bàn để mạng lưới giao thông trong xã được đầy đủ và hoàn chỉnh hơn
* Thủy lợi
Trên địa bàn hiện có 7 công trình thuỷ lợi với 6.723 m kênh mương và đường ống dẫn nước đã được kiên cố hoá, năng lực tưới tiêu đáp ứng được 48% yêu cầu sản xuất của người dân
* Trường học
Đến năm 2013, trên địa bàn xã có 03 trường học gồm: Trường Mầm non, Tiểu học và THCS, đến nay cơ bản cả 03 trường được đáp ứng cơ sở vật chất cho nhiệm vụ giáo dục trên địa bàn
* Y tế
Xã Đạp Thanh có 01 trạm y tế xã đã đạt chuẩn trạm y tế Quốc gia từ năm 2009, hiện nay có 07 cán bộ trong đó có 01 bác sĩ, cơ sở vật chất cơ bản đáp ứng nhu cầu khám, chữa bệnh cho người dân trên địa bàn Tuy nhiên vẫn còn tiếp tục hoàn chỉnh một số hạng mục công trình trong giai đoạn hai như: vườn thuốc nam, một số công trình bổ trợ, tường bao, bếp ăn,…
* Thông tin liên lạc
Trên địa bàn xã có 3 trạm viễn thông của đài viễn thông huyện, cơ bản phủ sóng đảm bảo phục vụ nhu cầu thông tin liên lạc, gửi chuyển thư, bưu phẩm kịp thời Các thôn đều được trang bị hệ thống đài FM, loa truyền thanh, hiện tại đang hoạt động có hiệu quả, cung cấp kịp thời thông tin đến người dân
Tỷ lệ hộ dân có phương tiện nghe, nhìn (ti vi) đạt gần 100%
Trang 25* Hệ thống điện
Trên địa bàn xã đến nay có 08 trạm hạ thế đáp ứng nhu cầu sử dụng điện của người dân Công tác quản lý, vận hành và bảo dưỡng được thường xuyên quan tâm thực hiện tốt, hệ thống hành lang điện được tương đối an toàn Tỷ lệ hộ được sử dụng điện đạt 100% Tiêu chí Điện và sử dụng điện cơ bản đạt tiêu chí Thời gian tới chỉ cần nâng cấp sửa chữa và thay thế một số cột hạ thế cột tạm bằng cột bê tông để cung cấp điện được an toàn hơn
* Trụ sở UBND xã Đạp Thanh
Trụ sở UBND xã có diện tích tổng khuôn viên là 5.000 m2, nhà làm việc xây 2 tầng, 12 phòng làm việc và 01 phòng họp, có 01 hội trường nhà văn hoá xã trong khuôn viên 200 chỗ ngồi, các công trình vệ sinh khép kín Tuy nhiên vẫn còn thiếu phòng làm việc
Trang 26Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN VÀ PHƯƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Chuyên đề nghiên cứu các hệ thống nông lâm kết hợp có tại xã Đạp Thanh - huyện Ba Chẽ - tỉnh Quảng Ninh
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành
- Địa điểm thực tập tại xã Đạp Thanh, huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh
- Thời gian tiến hành từ ngày 12 tháng 3 đến ngày 12 tháng 4 năm 2015
- Thống kê phân loại hệ thống NLKH tại địa bàn nghiên cứu
- Đánh giá hiệu quả kinh tế của một số hệ thống điển hình
- Xác định thuận lợi khó khăn và đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả của hệ thống NLKH trên địa bàn nghiên cứu
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp ngoại nghiệp
* Phương pháp kế thừa tài liệu có sẵn
- Thu thập, kế thừa các số liệu sẵn có ở địa phương như điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội các báo cáo của các phòng ban của xã về các hoạt động sản xuất nông nghiệp
* Phương pháp điều tra nông thôn có sự tham gia (PRA)
- Tiến hành điều tra họp thôn, tìm hiểu lịch sử hình thành và phát triển nông lâm kết hợp của thôn cùng với người dân tham gia và phân loại NLKH
Trang 27- Sử dụng các công cụ có sự tham gia như: Lựa chọn cây trồng vật nuôi cho các dạng hệ thống, xếp hạng cho điểm, sơ đồ lát cắt để đánh giá các dạng
hệ thống NLKH Sử dụng công cụ VENN, SOWT, để phân tích các tổ chức ảnh hưởng và thuận lợi, khó khăn, cơ hội, thách thức
*Phương pháp điều tra quan sát trực tiếp
- Tham khảo ý kiến của UBND lập danh sách các hộ trong xã có hệ thống, mô hình NLKH, chọn các hộ đại diện cho nhóm hộ và dạng mô hình số
- Sử dụng bộ câu hỏi mở, bán định hướng để đi phỏng vấn trực tiếp các
hộ gia đình (theo bộ câu hỏi) về thông tin chung tình hình sử dụng đất về thu nhập và chi phí của hộ điều tra Phỏng vấn 30 hộ ở 6 thôn là Khe Xa, Đồng Dằm, Hồng Tiến, Bắc Tập, Bắc Cáp, Xóm Đình
- Kiểm tra những thông tin thu thập được qua quá trình phỏng vấn
3.4.2 Phương pháp nô ̣i nghiệp
- Tổng hợp và phân tích số liê ̣u, thông tin thu nhâ ̣p vào bảng biểu
- Nghiên cứ u và thiết kế mẫu bảng mô ̣t cách khoa ho ̣c để tổng hợp số liê ̣u
- Phân nhóm các hệ thống theo mức theo giá trị gia tăng/ha bằng phương pháp chia tổ, ghép nhóm theo công thức kinh nghiệm của Brook Carruther
Số tổ: m = 51og(n)
Cự ly tổ: K = (Xmax - Xmin)/m
Trong đó: m: là số tổ
n: là số hộ điều tra
Trang 28k: là cự ly tổ Xmax, Xmin: Lần lượt là giá trị lớn nhất, nhỏ nhất của mức thu nhập
30 hộ điều tra
- Tính hiệu quả kinh tế của một hệ thống NLKH/năm
Hiê ̣u quả 1 năm của hê ̣ thống = giá trị gia tăng/năm của cây hàng năm (A) + giá trị gia tăng/năm của cây lâm nghiê ̣p (B) + giá trị gia tăng của cây ăn quả (C) + giá trị gia tăng từ chăn nuôi (D)
A = Tổng giá tri ̣ sản phẩm/năm - Chi phí trung gian/năm
B = Tổng giá tri ̣ sản phẩm - Chi phí trung gian của chu kỳ KD
Số năm của chu kỳ KD
C = Tổng giá trị sản phẩm/ năm - (Khấu hao giai đoạn KTCB + Chi phí trung gian/ năm)
Khấu hao giai đoạn KTCB = Tổng chi phí giai đoạn KTCB
Số năm thu hoạch dự kiến
Để đánh giá hiệu quả kinh tế của các mô hình dựa trên các chỉ tiêu sau:
- Thu nhập /1 đơn vi ̣ diê ̣n tích (ha)
- Thu nhập /1 đồng vốn đầu tư
Trang 29Phần 4 KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ 4.1 Khảo sát đánh giá tình hình sản xuất NLKH tại xã Đạp Thanh - huyện Ba Chẽ - tỉnh Quảng Ninh
Trong những năm gần đây được sự quan tâm và chỉ đạo của Đảng, Nhà nước và các cấp các ngành của địa phương, người dân đã tiến hành chuyển đổi
cơ cấu cây trồng từ nông lâm nghiệp thành nông lâm kết hợp dựa trên nền tảng khoa học kỹ thuật Đây là hình thức sản xuất được kết hợp giữa nhiều thành phần nông - lâm - ngư nghiệp Không những đem lại hiệu quả kinh tế cao cho người dân mà còn tận dụng hết tiềm năng sẵn có về nguồn tài nguyên, đất đai của địa phương nói chung và hộ gia đình nói riêng, với những điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội, đất đai của xã thì việc đưa sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp theo hướng NLKH là rất cần thiết được người dân hưởng ứng và tham gia nhiệt tình Các phong trào như: Làm vườn, phát triển kinh tế đồi rừng hay vườn đồi mới chỉ được người dân quan tâm trong vài năm trở lại đây và đang ngày càng phát triển, lan rộng khắp xã, bước đầu đã đem lại kết quả rất tốt
Người dân đã nhận thấy sản xuất theo hình thức nông lâm kết hợp vừa đem lại hiệu quả lợi ích, tận dụng được tiềm năng của đất mà còn tạo công
ăn việc làm, giải quyết được số lao động dư thừa, đồng thời hệ thống có tác dụng bảo vệ môi trường chính vì vậy mà việc đưa hệ thống sản xuất NLKH đến với người dân được người dân nhiệt tình hưởng ứng và hăng hái thực hiện Các hộ gia đình đầu tư và chăm sóc theo đúng khoa học kỹ thuật bước đầu đem lại hiệu quả kinh tế cao, sản phẩm phần nào đã đáp ứng được nhu cầu của thị trường Mặc dù các mô hình mới chỉ được phát triển trong vài năm trở lại đây, nhưng hệ thông NLKH đã đem lại hiệu quả khá cao làm thay đổi bề mặt mới cho nền kinh tế địa phương
Trước tình hình sản xuất của người dân như vậy, cán bộ xã cũng đã thấy rõ đây là một vấn đề cực kỳ quan trọng trong sản xuất, nên họ đã chú
Trang 30trọng và thường xuyên tổ chức những buổi tập huấn, thảo luận trao đổi kinh nghiệm, truyền đạt khoa học kỹ thuật đã học vào thực tiễn sản xuất
Trong hệ thống NLKH các thành phần thường được phối hợp với nhau theo mặt không gian và thời gian khá hợp lý Chính vì vậy mà hệ thống không những đem lại hiệu quả kinh tế cao, sức sản xuất tốt mà còn có tác dụng bảo vệ môi trường sinh thái
4.2 Kết quả điều tra và phân loại hệ thống NLKH tại xã Đạp Thanh
4.2.1 Kết quả điều tra hệ thống NLKH tại Đạp Thanh
Qua điều tra thực tiễn tôi thấy xã Đạp Thanh có tổng diện tích đất tự nhiên là 9.210,43 ha Đây là một thế mạnh rất lớn để phát triển nghề rừng gắn liền với các mô hình NLKH trong tương lai Chính vì vậy cần phải bảo vệ và phát triển chuyển đổi cơ cấu cây trồng Đa phần sản xuất kinh tế vườn đồi chiếm một vị trí quan trọng trong cơ cấu phát triển kinh tế của xã
Để đánh giá một cách tổng quát nhất về việc sản xuất NLKH trên địa bàn nghiên cứu Tôi tiến hành điều tra và tham khảo ý kiến của một số cán bộ trong xã chúng tôi đã chọn được 6 thôn trong 11 thôn để tiến hành chọn hộ điều tra đó là: Khe Xa, Đồng Dằm, Hồng Tiến, Bắc Tập, Bắc Cáp, Xóm Đình
Ở mỗi thôn cùng với trưởng thôn chúng tôi tiến hành lập danh sách các hộ gia đình có phát triển hệ thống NLKH Sau đó chọn ngẫu nhiên 30 hộ, mỗi thôn chọn 5 hộ Sau khi tổng hợp các loại hệ thống đã thu thập được tại các thôn Tôi đã thu được kết quả phân loại kinh tế hộ như sau:
Bảng 4.1: Các mô hình NLKH tại các thôn của xã Đạp Thanh
Trang 31Qua bảng 4.1 cho thấy toàn xã đã và đang tồn tại 5 loại hệ thống NLKH điển hình:
- Hệ thống 1: Rừng - Vườn - Ao - Chuồng - Ruộng
Trong đó chủ yếu người dân áp dụng hệ thống: R - VAC - Rg, R - VA -
Rg và R - V - Rg Do 3 loại hệ thống này có nhiều thành phần tham gia, rủi do
ít, có thể sản xuất theo hướng bền vững nên thu hút được nhiều thành phần hộ tham gia Các thành phần chủ lực của hệ thống này là rừng và cây ăn quả Còn lại 2 loại hệ thống: R - C - Rg và R - VC có số hộ tham gia ít là do thu nhập chính của hệ thống là từ trồng rừng và chăn nuôi Trong những năm gần đây việc chăn nuôi không đem lại hiệu quả kinh tế do dịch bệnh thường xuyên xảy ra nên ít thành phần hộ tham gia
4.2.2 Kết quả phân loại các hệ thống NLKH tại xã Đạp Thanh
Với 464 hộ nằm trên địa bàn toàn xã, vì vậy tôi không thể điều tra hết các hộ tham gia mô hình Nông lâm kết hợp Với mục đích tìm hiểu, đánh giá hiệu quả hoạt động của các mô hình NLKH trong việc phát triển kinh tế và khả năng bảo vệ môi trường, từ đó đưa ra giải pháp trên cơ sở lắng nghe ý kiến của người dân nhằm phát huy thế mạnh của địa phương Vì vậy việc lựa chọn khu nghiên cứu phải mang tính đại diện, điển hình vì nó phản ánh được mức độ chính xác của kết quả nghiên cứu
Trang 32Bảng 4.2: Phân loại các dạng hệ thống NLKH của các hộ đƣợc điều tra Các loại
hệ thống
Kết cấu
hệ thống
Số hộ tham gia
Cơ cấu (%)
(Nguồn: Tổng hợp từ số liệu điều tra)
Qua bảng 4.2 cho ta thấy các dạng hệ thống NLKH tại xã Đạp Thanh tương đối đa dạng và phong phú Ở mỗi thôn khác nhau đều tồn tại nhiều dạng hệ thống NLKH khác nhau phù hợp với đặc điểm địa hình của từng thôn với 5 hệ thống điển hình:
- Hệ thống 1: Rừng - Vườn - Ao - Chuồng - Ruộng có số hộ tham gia nhiều nhất với 11/30 hộ tham gia phát triển chiếm 36,66% Hệ thống này bao gồm sự kết hợp giữa cây lâm nghiệp, cây ăn quả, cây công nghiệp (ngắn, dài ngày) và chăn nuôi - ao cá và cuối cùng là ruộng cấy lúa Các thành phần trong hệ thống được bố trí một cách hợp lý từ trên xuống, để tận dụng tối đa
về không gian dinh dưỡng cũng như điều kiện đất đai sẵn có Vốn bỏ ra cho
hệ thống này là khá lớn Vì hệ thống này yêu cầu một diện tích sản xuất tương đối rộng và một lực lượng lao động dồi dào, có kỹ thuật canh tác tốt Ngược lại loại hệ thống này cho thu nhập khá cao, ổn định lâu dài trên những đơn vị diện tích và có khả năng cải tạo đất, bảo vệ môi trường sinh thái tốt Là hệ thống phổ biến được người dân trong xã áp dụng
- Hệ thống 2: Rừng - Vườn - Ao - Ruộng loại hệ thống này có 8/30 hộ tham gia chiếm 26,67% Đây cũng là loại hệ thống khá phổ biến ở địa phương
Trang 33Trong hệ thống là sự kết hợp giữa cây lâm nghiệp, cây ăn quả, ao cá và ruộng cấy lúa Ao cá là nguồn cung cấp nước cho các thành phần còn lại của hệ thống vào mùa khô Đây cũng là hệ thống có thành phần tương đối đầy đủ
- Hệ thống 3: Rừng - Vườn - Ruộng với 5/30 hộ tham gia chiếm 16,67% Hệ thống này gồm 3 thành phần chính là cây lâm nghiệp, cây ăn quả, ruộng Thu nhập chủ yếu của hệ thống là thành phần cây trồng trên diện tích đất lâm nghiệp và diện tích đất vườn Hệ thống này cũng rất phù hợp với điều kiện tự nhiên nơi đây
- Hệ thống 4, 5 có 6/30 hộ tham gia chiếm 20% Hệ thống này cho thu nhập tương đối cao từ cây lâm nghiệp và vật nuôi Nhưng điều quan trọng khi
áp dụng hệ thống này phải tìm hiểu nhu cầu của thị trường để đưa ra các giống cây trồng vật nuôi vào sản xuất đảm bảo đầu ra cho sản phẩm đem lại hiệu quả kinh tế cao
Qua 5 loại hệ thống trên chúng tôi còn tìm hiểu thêm những điều mà các
hộ đang bận tâm đó là tìm làm sao ra được những loại cây trồng, vật nuôi phù hợp với điều kiện tự nhiên của địa phương, để đưa vào trong hệ thống Từ đó tận dụng được không gian dinh dưỡng trong hệ thống một cách hiệu quả nhất
và đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất trên một đơn vị diện tích canh tác Nhằm góp phần nâng cao đời sống, thu nhập ổn định cho người dân
4.3 Đánh giá hiệu quả kinh tế một số hệ thống NLKH điển hình
Qua điều tra trực tiếp từ 30 hộ trong xã, tôi tiến hành phân loại hệ thống và nhận thấy mỗi loại mô hình đều có những nét đặc trưng và hiệu quả kinh tế khác nhau
Để hiểu rõ hơn vấn đề này tôi tiến hành điều tra 3 hệ thống điển hình và phổ biến nhất hiện nay ở địa phương
Loại 1: R - VAC - Rg (rừng + cây ăn quả + cây công nghiệp ngắn ngày + ao cá + chăn nuôi + ruộng) Đây là hệ thống có quy mô tương đối lớn, kết
Trang 34cấu chặt chẽ, bền vững, lượng vốn bỏ ra cao, đòi hỏi các hộ tham gia phải có
kỹ thuật đồng thời đem lại hiệu quả kinh tế cao
Loại 2: R - VA - Rg: Đây là hệ thống khá phổ biến ở địa phương, loại
hệ thống này cho thu nhập khá
Loại 3: R - V - Rg (rừng + cây ăn quả + cây công nghiệp ngắn ngày + ruộng
4.3.1 Hệ thống 1: R - VAC - Rg
Địa chỉ: Thôn Khe Xa - xã Đạp Thanh - huyện Ba Chẽ - tỉnh Quảng Ninh
Số nhân khẩu: 5 Số lao động chính: 2 Số lao động phụ: 3
Bảng 4.3: Cơ cấu sử dụng đất của mô hình R - VAC - Rg
Cơ cấu đất đai Diện tích (ha) Tỷ lệ (%)
10,96 3,44
(Nguồn: Tổng hợp từ số liệu điều tra ngày 16/03/2015)
Hệ thống này được xây dựng từ năm 2008 và dần được hoàn thiện và phát triển đến nay Đây là hệ thống phổ biến, nó đòi hỏi không chỉ về diện tích, kết cấu, thành phần đa dạng mà cả về vốn đầu tư, kỹ thuật sản xuất và nguồn lao động Các thành phần trong hệ thống có sự tương hỗ, kết hợp chặt chẽ với nhau Vì vậy mà hệ thống tăng được tính hiệu quả và ổn định cho kinh tế nông hộ, giảm thiểu mức rủi ro
Trang 35Để thấy rõ được kết cấu của hệ thống ta đi sâu nghiên cứu sơ đồ lát cắt dưới đây
Vải, nhãn Thanh long
Nhà ở + chuồng trại
Ao cá, chim, mè, trôi, chép
Ao cỏ Đất dốc tụ, đất
phù xa, đất có
độ phì tương đối Khó khăn Chăm sóc,
thu hoạch, thiên tai
Sâu bệnh Thiếu kỹ
thuật chăm sóc, giống, chữa bệnh
Thiếu nước vào mùa khô, dịch bệnh
Sâu bệnh, thiếu nước vào vụ xuân
Thuận lợi Cây trồng
dễ mua +
dễ tiêu thụ
Gần nhà, đất tốt, tiện cho việc chăm sóc
Có hệ thống chuồng trại tốt
Nguồn thức
ăn phong phú
Nguồn nhân lực dồi dào
Mong
muốn
Có chính sách hỗ trợ
Giá cả nông sản
ổn định
Nhà nước tạo điều kiện cho sản xuất
Có thị trường tiêu thụ
Có giống lúa mới năng suất cao, hỗ trợ giống
Giải pháp Tìm thêm
được loại cây phù hợp với đất
Tìm giống
có khả năng chống chịu sâu bệnh
Trồng thêm các loại cỏ cho gia súc
Tìm đường dẫn nước
về, thường xuyên vét
ao
Phòng bệnh và bơm thêm nước vào vụ xuân
Hình 4.1: Sơ đồ lát cắt của mô hình R - VAC - Rg