1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

luận án vạn kiếp trong lịch sử chống ngoại xâm (thế kỷ x đến thế kỷ XIII)

208 356 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 208
Dung lượng 2,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vạn Kiếp nơi diễn ra những trận quyết chiến trong cuộc kháng chiến chống quân Mông - Nguyên xâm lược Chương 4: ĐẶC ĐIỂM, VAI TRÕ CỦA VẠN KIẾP TRONG LỊCH SỬ CHỐNG NGOẠI XÂM TỪ THẾ KỶ X

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các tƣ liệu sử dụng trong luận án hoàn toàn trung thực, khách quan và có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng Những kết quả nghiên cứu của luận án chƣa đƣợc công bố trong bất cứ công trình nào khác

Hà Nội, ngày 30 tháng 6 năm 2016

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

Lê Duy Mạnh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS TS Nguyễn Đức Nhuệ và PGS TS Hà Mạnh Khoa, hai người thầy đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ về mặt khoa học để tôi hoàn thành bản luận án này

Tôi xin chân thành cảm ơn TS Nguyễn Khắc Minh - Trưởng ban Quản lý di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc đã luôn quan tâm, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận án

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban lãnh đạo, cùng toàn thể cán bộ, nhân viên Ban Quản lý di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc đã động viên, tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận án

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn gia đình, bạn bè và những người thân đã luôn sát cánh động viên, chia sẻ và chăm lo, giúp tôi yên tâm tập trung toàn bộ thời gian và công sức để hoàn thành chương trình học tập và bảo vệ luận án đúng thời hạn Xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày 30 tháng 6 năm 2016

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

Trang 5

BẢNG CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 6

MỤC LỤC

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án 9

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1 Những công trình nghiên cứu về các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm từ thế kỷ X đến thế kỷ XIII có liên quan đến Vạn Kiếp

11

1.3 Những vấn đề còn tồn tại và hướng nghiên cứu tiếp theo của luận án 28

Chương 2: VẠN KIẾP TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG QUÂN TỐNG

XÂM LƯỢC THẾ KỶ X VÀ XI

2.2 Vạn Kiếp trong cuộc kháng chiến chống quân Tống xâm lược năm 981 40

2.2.2 Vạn Kiếp trong cuộc kháng chiến chống quân Tống xâm lược 43

2.2.2.1 Vạn Kiếp trong chiến lược phòng thủ đất nước 43

2.2.2.2 Dược Đậu Trang - đại bản doanh trong kháng chiến chống quân Tống xâm lược

48

2.2.2.3 Những trận đánh quân Tống tại Vạn Kiếp - Lục Đầu Giang 56

2.3 Vạn Kiếp trong cuộc kháng chiến chống quân Tống xâm lược năm

1075 - 1077

63

2.3.1 Cuộc kháng chiến chống quân Tống xâm lược năm 1075 - 1077 63

2.3.2.2 Chiến thắng quân Tống trên chiến trường Như Nguyệt 71

Chương 3: VẠN KIẾP TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG

QUÂN MÔNG - NGUYÊN XÂM LƯỢC CUỐI THẾ KỶ XIII

3.1 Cuộc kháng chiến chống quân Mông - Nguyên xâm lược cuối thế kỷ XIII 77

Trang 7

3.1.1 Cuộc kháng chiến chống quân Mông - Nguyên xâm lược lần hai (1285) 77

3.1.2 Cuộc kháng chiến chống quân Mông - Nguyên xâm lược lần

3.3 Vạn Kiếp nơi diễn ra những trận quyết chiến trong cuộc kháng chiến chống quân Mông - Nguyên xâm lược

Chương 4: ĐẶC ĐIỂM, VAI TRÕ CỦA VẠN KIẾP TRONG LỊCH SỬ

CHỐNG NGOẠI XÂM TỪ THẾ KỶ X ĐẾN THẾ KỶ XIII VÀ MỘT SỐ

BÀI HỌC KINH NGHIỆM

4.2.1 Căn cứ chiến lược bảo vệ kinh đô Hoa Lư, Thăng Long 135

4.2.2 Chiến trường cản phá, kìm chân giặc; hỗ trợ cho hoạt động chiến đấu của quân dân các địa phương

139

4.2.3 Chia cắt quân thủy, bộ của giặc tập trung hội quân 141

4.3.1 Xây dựng căn cứ chiến lược, tuyến phòng thủ vững mạnh 142

Trang 8

4.3.2 Kết hợp chặt chẽ giữa kinh tế và quân sự 144

4.3.3 Sử dụng khéo léo các binh chủng, việc phối hợp, hợp đồng giữa quân bộ và quân thủy, giữa chủ lực và các lực lượng tại chỗ

145

Trang 9

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm từ thế kỷ X đến thế kỷ XIII, dân tộc

ta phải đương đầu với những cuộc xâm lược rất lớn của quân Tống, quân Mông - Nguyên Các cuộc tiến quân xuống Đại Việt, quân xâm lược thường đi đường thuỷ vào sông Bạch Đằng rồi ngược vào sông Kinh Thầy, tập kết ở Vạn Kiếp, cùng với cánh quân bộ từ Lạng Sơn xuống tạo thành hai gọng kìm tấn công vào Thăng Long Khi bị thua, chúng cũng thường tập kết tại Vạn Kiếp rồi rút về nước

Vạn Kiếp (nay thuộc thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương) có vị trí trọng yếu về quân sự Từ Vạn Kiếp hệ thống giao thông thuỷ, bộ rất thuận tiện, có thể về Thăng Long, lên ngược, về xuôi, ra biển đều dễ dàng Hệ thống núi đồi ở Vạn Kiếp rất thuận lợi cho việc dụng binh, giấu quân và lập căn cứ quân sự an toàn Giữa các dãy núi là những thung lũng rộng lớn có thể tập kết hàng chục vạn quân, hàng nghìn thuyền chiến, cũng là nơi phát triển hậu phương vững chắc

Tổ tiên ta từ xưa đã thấu hiểu vị trí quan trọng của Vạn Kiếp, đã chọn và xây dựng nơi đây thành chiến trường lợi hại Thời Thục Phán An Dương Vương, tướng Cao

Lỗ đã xây dựng phòng tuyến quân sự tại sông Bình Giang (sông Lục Đầu) để chống giặc phương Bắc Những năm đầu Công Nguyên, khu vực Vạn Kiếp là bãi chiến trường lớn - nơi diễn ra cuộc chiến đấu ác liệt giữa nghĩa quân của Hai Bà Trưng với Mã Viện Trong cuộc kháng chiến chống Tống năm 981, tại Vạn Kiếp đã diễn ra trận đánh lớn giữa quân đội Đại Cồ Việt và quân Tống xâm lược Năm 1077, danh tướng Lý Thường Kiệt đã xây dựng căn cứ thuỷ quân ở Vạn Xuân (Lục Đầu) Thế kỷ XIII, Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn đã chọn Vạn Kiếp để đặt đại bản doanh; xây dựng tuyến phòng thủ quân sự vùng Đông Bắc để chống quân Mông - Nguyên xâm lược

Đánh giá vị trí, vai trò của Vạn Kiếp trong lịch sử chống ngoại xâm từ thế kỷ X đến thế kỷ XIII, trên cơ sở đó rút ra những bài học về phát triển kinh tế, củng cố quốc phòng; kết hợp giữa trung ương và địa phương trong việc xây dựng hệ thống phòng thủ quân sự chiến lược, xây dựng lực lượng vũ trang, chuẩn bị hệ thống hậu cần… là việc làm cần thiết

mà ngày nay cần tiếp tục nghiên cứu, vận dụng một cách sáng tạo, phù hợp với điều kiện mới của đất nước, nhằm bảo vệ vững chắc Tổ quốc

Trang 10

2

Nghiên cứu, tìm hiểu về Vạn Kiếp, đã được tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau (như

sử học, khảo cổ học, văn hóa…), nhưng chưa có một công trình nào nghiên cứu vai trò của Vạn Kiếp trong lịch sử chống ngoại xâm, đặc biệt là ở thế kỷ X đến XIII Đây là một

“khoảng trống” cần được bổ khuyết, trong quá trình nhận thức toàn diện về một căn cứ quân sự quan trọng nhất bảo vệ phía Đông kinh đô Thăng Long

Với những ý nghĩa khoa học và thực tiễn đó, tác giả quyết định chọn đề tài “Vạn

Kiếp trong lịch sử chống ngoại xâm từ thế kỷ X đến thế kỷ XIII” làm đề tài luận án tiến sĩ

của mình

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

2.1 Mục đích: Luận án làm sáng tỏ quá trình tổ chức, xây dựng, vị trí và những

diễn biến chiến sự tại Vạn Kiếp trong lịch sử chống ngoại xâm từ thế kỷ X đến thế kỷ XIII; rút ra được đặc điểm, vai trò của Vạn Kiếp và những bài học kinh nghiệm trong kháng chiến chống ngoại xâm Trên cơ sở đó bổ sung, chỉnh lý một số tư liệu liên quan tới Vạn Kiếp và cuộc kháng chiến chống quân Tống, quân Mông - Nguyên xâm lược

2.2 Nhiệm vụ: Nghiên cứu các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm từ thế kỷ X

đến thế kỷ XIII Xác định hệ thống dấu tích, địa danh liên quan đến căn cứ Vạn Kiếp Tập trung làm rõ những trận đánh diễn ra tại Vạn Kiếp, những đóng góp của nhân dân Vạn Kiếp trong lịch sử chống ngoại xâm từ thế kỷ X đến thế kỷ XIII

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng

Đối tượng nghiên cứu của luận án là khu vực Vạn Kiếp, trong đó nghiên cứu làm rõ quá trình tổ chức, xây dựng, đặc điểm và vai trò của Vạn Kiếp trong lịch sử chống ngoại xâm từ thế kỷ X đến thế kỷ XIII

3.2 Phạm vi

- Về thời gian: Phạm vi nghiên cứu của luận án giới hạn trong khoảng thời gian

từ cuộc kháng chiến chống quân Tống xâm lược năm 981, đến kết thúc cuộc kháng chiến chống quân Mông - Nguyên xâm lược năm 1288

- Về không gian: Giới hạn đề tài luận án nghiên cứu là khu vực Vạn Kiếp bao

gồm thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương, và vùng phụ cận thuộc huyện Nam Sách, Kinh Môn, Kim Thành (Hải Dương), huyện Gia Bình, Quế Võ (Bắc Ninh), huyện Lục Nam, Lục Ngạn, Yên Dũng (Bắc Giang)

Trang 11

3

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án

4.1 Phương pháp luận

- Vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về

chiến tranh giải phóng dân tộc, cũng như dựa trên đường lối quân sự của Đảng để đi sâu nghiên cứu các nội dung liên quan tới đề tài

4.2 Phương pháp chuyên ngành

- Luận án sử dụng phương pháp lịch sử và logic là chủ yếu Ngoài ra, ở một chừng mực nhất định, tác giả còn sử dụng một số phương pháp khác như phương pháp khảo cổ học truyền thống để khảo sát hệ thống di tích một cách chi tiết, căn cứ những

di vật, hiện trạng kiến trúc ở khu di tích, căn cứ các sự kiện lịch sử liên quan đến từng khu di tích để xem xét, phân tích, so sánh đánh giá các vấn đề của luận án; phương pháp so sánh để thấy được những đặc trưng cơ bản của vùng đất Vạn Kiếp, đồng thời

để phát hiện những cứ liệu chính xác hơn; phương pháp nghiên cứu điền dã để thu thập tư liệu; phương pháp văn bản học để có thể khai thác tối đa thông tin có độ chân xác cao từ các nguồn tài liệu chính sử, thông sử, sách chuyên khảo, luận án, luận văn

và bài viết trên các tạp chí

5 Đóng góp mới về khoa học của luận án

- Luận án trình bày tương đối đầy đủ, có hệ thống về Vạn Kiếp và đóng góp của vùng đất này trong lịch sử chống ngoại xâm từ thế kỷ X đến thế kỷ XIII

- Làm rõ đặc điểm và vai trò của Vạn Kiếp trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm từ thế kỷ X đến thế kỷ XIII

- Góp phần bổ sung một số tư liệu lịch sử liên quan tới Vạn Kiếp và cuộc kháng chiến chống Tống, chống Mông - Nguyên của dân tộc

- Góp phần làm sáng tỏ hơn những tri thức quân sự của cha ông trong sự nghiệp chống giặc ngoại xâm phương Bắc, đã được vận dụng ở Vạn Kiếp, để kế thừa phát huy trong nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay

- Góp phần giáo dục tinh thần yêu nước, truyền thống đấu tranh chống ngoại xâm của quân và dân Hải Dương

- Luận án sẽ góp phần vào việc tổng kết, nghiên cứu, biên soạn về lịch sử cổ trung đại Việt Nam tỉnh Hải Dương

Trang 12

4

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

6.1 Về mặt lý luận: Trên phương diện khoa học, đối với người Việt Nam, đặc biệt

là với giới nghiên cứu lịch sử Việt Nam cổ trung đại, địa danh Vạn Kiếp không xa lạ gì,

vị trí của Vạn Kiếp trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm ở thế kỷ X - XIII cũng không phải là vấn đề gì mới mẻ Tuy nhiên, biết là vậy, nhưng một sự hiểu biết sâu sắc,

hệ thống, toàn diện, cập nhật những kết quả nghiên cứu mới của giới nghiên cứu khảo cổ học, sử học, văn hóa học nhằm làm nổi bật lên được vị trí, vai trò quan trọng chiến lược của Vạn Kiếp trong lịch sử chống ngoại xâm thì còn hạn chế Để góp phần tích cực vào quá trình nhận thức, lấp dần những khoảng trống lịch sử đó, luận án này là một cái nhìn tổng thể, trên cơ sở kế thừa các thành tựu nghiên cứu cho đến hiện nay, kết hợp với những tìm tòi, khám phá của riêng nghiên cứu sinh, sẽ có những đóng góp có ý nghĩa

trong nhận thức khoa học về vấn đề này

6.2 Về mặt thực tiễn: Hệ thống kiến thức toàn diện, cập nhật về vùng đất Vạn

Kiếp trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm ở thế kỷ X - XIII, làm dày dặn hơn cho “tài nguyên” di sản, cũng là “tài nguyên” du lịch, phục vụ tốt việc bảo tồn và phát huy các di sản liên quan Đề tài hoàn thành cũng bổ sung những tư liệu quý cho việc nghiên cứu và giảng dạy phần lịch sử Việt Nam cổ trung đại, bổ sung những nhận thức mới khoa học về các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm từ thế kỷ X - XIII

7 Cơ cấu của luận án

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục, Tài liệu tham khảo, phần Nội dung của

luận án gồm 4 chương:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương 2: Vạn Kiếp trong kháng chiến chống quân Tống xâm lược thế kỷ X và XI Chương 3: Vạn Kiếp trong kháng chiến chống quân Mông - Nguyên xâm lược cuối thế kỷ XIII

Chương 4: Đặc điểm, vai trò của Vạn Kiếp trong lịch sử chống ngoại xâm thế

kỷ X đến thế kỷ XIII và một số bài học kinh nghiệm

Trang 13

5

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

Địa danh Vạn Kiếp rất nổi tiếng trong lịch sử quân sự Việt Nam, bởi vì Vạn Kiếp nói riêng và cả vùng Đông Bắc nói chung là địa bàn chiến lược trọng yếu, luôn diễn ra những cuộc quyết chiến giữa quân dân ta với các thế lực ngoại xâm lớn mạnh

từ phương Bắc Vì vậy, vùng đất này đã được nghiên cứu và ghi chép trong nhiều công trình khoa học

1.1 Những công trình nghiên cứu về các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm từ thế kỷ X đến thế kỷ XIII có liên quan đến Vạn Kiếp

* Nghiên cứu các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm từ thế kỷ X đến thế kỷ XIII

Năm 1963, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân xuất bản cuốn sách “Tìm hiểu chiến lược chiến thuật thời Trần - Lê” do Phạm Ngọc Phụng biên soạn Cuốn sách đã

nêu lên đặc điểm riêng của cuộc kháng chiến chống quân Mông - Nguyên thế kỷ XIII, đồng thời khát quát lại thành những bài học chung, những nét chung về chiến lược, chiến thuật mà quân đội ta thời đó đã vận dụng

Năm 1976, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân xuất bản cuốn sách “Một số trận quyết chiến chiến lược trong lịch sử dân tộc” do các tác giả Phan Huy Lê, Bùi Đăng

Dũng, Phan Đại Doãn, Phạm Thị Tâm, Trần Bá Chí biên soạn Cuốn sách nghiên cứu, phân tích 6 trận đánh tiêu biểu trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc, trong đó có trận Như Nguyệt (1076) và trận Bạch Đằng (1288)

Năm 1983, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân xuất bản cuốn sách “Quân thuỷ trong lịch sử chống ngoại xâm” do Nguyễn Việt, Vũ Minh Giang, Nguyễn Mạnh

Hùng biên soạn Công trình nghiên cứu lịch sử phát triển, cách thức tổ chức, hoạt động và vai trò của quân thuỷ trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Trong công trình, các tác giả cho rằng thời Trần, nổi bật nhất là hệ thống căn cứ thủy quân ở Lục Đầu với nhiều quân cảng như Vạn Kiếp, Trần Xá, với những cửa quan như Đại Than cũng như căn cứ Vạn Xuân thời Lý, đây là điểm nút của hai đường thủy bộ chính từ Trung Quốc vào nước ta thời bấy giờ Mặc dù chỉ mang tính khát quát, nhưng công trình đã cung cấp những tư liệu quan trọng cho luận án, khi nghiên cứu về các hoạt động thủy quân, các trận thủy chiến ở căn cứ Vạn Kiếp

Trang 14

6

Năm 1984, Nhà xuất bản Khoa học xã hội xuất bản cuốn sách “Những trang sử

vẻ vang của dân tộc Việt Nam chống phong kiến phương Bắc” của Hồng Nam, Hồng

Lĩnh Công trình nghiên cứu các cuộc kháng chiến chống quân xâm lược phương Bắc

từ trước Công Nguyên đến thế kỷ XIII Trong sách, các tác giả đã dựng lại những trận chiến huy hoàng trong cuộc kháng chiến chống Tống thế kỷ X, XI, ba lần kháng chiến chống quân Mông - Nguyên thế kỷ XIII Từ đó, làm nổi bật lên vị trí, vai trò của Vạn Kiếp trong chiến lược bảo vệ đất nước thế kỷ XIII

Năm 2003, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam biên soạn bộ sách “Lịch sử quân

sự Việt Nam” gồm 14 tập Đây là bộ sách rất công phu và có giá trị, được xem như

bộ sử lớn đương đại, dựng lại toàn bộ hoạt động quân sự của dân tộc trong các cuộc chiến tranh chống xâm lược, bảo vệ Tổ quốc Tập 3 có tiêu đề: “Thời Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý (939 - 1225)” và tập 4: “Hoạt động quân sự thời Trần (thế kỷ XIII - XIV)” đã đánh giá những ưu, nhược điểm chính, phân tích làm rõ nguồn gốc chiến tranh, nguyên nhân thắng lợi, bài học kinh nghiệm, những thành công, cũng như chưa thành công trong hai cuộc kháng chiến chống Tống thế kỷ X, XI và cuộc kháng chiến chống Mông - Nguyên cuối thế kỷ XIII

Năm 2003, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân xuất bản cuốn sách “20 trận đánh trong lịch sử dân tộc” do Lê Đình Sỹ chủ biên Trong 20 trận đánh được trình bày

trong sách, đáng chú ý là các trận Như Nguyệt (1077), Vạn Kiếp (1285) Dựa vào những ghi chép trong thư tịch, kết hợp với tư liệu thực địa, các tác giả vừa dựng lại diễn biến các trận đánh, vừa đi sâu phân tích về mặt nghệ thuật quân sự của các trận đánh đó Tuy nhiên, do tư liệu về thời kỳ lịch sử này quá ít ỏi và tản mát, những trận đánh giới thiệu trong sách còn mang tính chất sơ lược Mặc dù vậy, đây vẫn là nguồn

tư liệu đáng tin cậy, cung cấp cho chúng tôi nhiều thông tin quan trọng khi tiếp cận vấn đề nghiên cứu

Năm 2012, Nhà xuất bản Giáo dục xuất bản bộ sách “Lịch sử Việt Nam” gồm

4 tập Công trình trình bày tương đối đầy đủ và hệ thống quá trình hình thành, và phát triển của lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc cho đến nay Tập 1 có tiêu đề: “Từ nguồn gốc đến cuối thế kỷ XIV” do Phan Huy Lê chủ biên, trên cơ sở những tư liệu mới phát hiện, đã cung cấp nhiều thông tin quan trọng về các cuộc kháng chiến chống quân Tống, quân Mông - Nguyên xâm lược Theo các tác giả, hoàn toàn có đủ

Trang 15

7

cơ sở để khảng định rằng đoàn quân bộ của nhà Tống vào nước ta, xuất phát từ Quảng Đông (Trung Quốc) men theo đường bờ biển tiến vào địa đầu Quảng Ninh, qua vùng Đông Triều, Phả Lại rồi tiến xuống trung tâm châu thổ sông Hồng Trên đường tiến quân, Hầu Nhân Bảo dừng quân ở núi Lãng Sơn Vị trí cụ thể của núi Lãng Sơn có lẽ còn phải được khảo cứu kỹ thêm, tuy nhiên theo các tác giả đó có thể

là vùng Lục Đầu Giang: “Nhiều nguồn tư liệu di tích và truyền thuyết cho phép dự đoán khu vực Lãng Châu (Kiếp Bạc - Lục Đầu Giang) cũng có thể là Lãng Sơn và Lãng Sơn (hay Lạng Sơn trong một số bộ sử cũ của ta) - nơi Hầu Nhân Bảo đóng quân là vùng Lục Đầu Giang” [66, tr 501]

Năm 2013, Nhà xuất bản Khoa học xã hội cho công bố cuốn sách “Lịch sử Việt Nam” gồm 15 tập, tái hiện lại tiến trình lịch sử dân tộc suốt từ khởi thủy đến năm 2000 Trong đó, đáng chú ý là cuốn tập 2 “Lịch sử Việt Nam từ thế kỷ X đến thế

kỷ XIV” do Trần Thị Vinh chủ biên Với tập sách này, lịch sử đất nước được nghiên

cứu, biên soạn trên tất cả các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội trong năm thế kỷ (X - XIV) các thời họ Khúc, họ Dương đến các vương triều Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý và Trần Nhiều tư liệu mới về cuộc kháng chiến chống quân Tống năm

981 được trình bày trong sách, như con đường hành binh của bộ binh Tống, đại bản doanh của vua Lê Đại Hành ở Dược Đậu Trang, các trận đánh diễn ra ở khu vực Vạn Kiếp trong cuộc kháng chiến chống quân Mông - Nguyên xâm lược

Năm 2014, Viện Sử học xuất bản cuốn sách “Lịch sử Việt Nam thường thức”

gồm 2 tập Tập 1 có tiêu đề: “Từ khởi thủy đến năm 1858”, nội dung tập sách phản ánh đầy đủ, khách quan về những vấn đề cơ bản nhất của lịch sử Việt Nam từ khởi thủy đến năm 1858 Thể hiện toàn diện về quá trình đấu tranh chống xâm lược và xây dựng đất nước của dân tộc Việt Nam trên tất cả các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, quân

sự, ngoại giao, văn hóa - xã hội với độ chính xác cao Những vấn đề được biên soạn đảm bảo cập nhật các thành tựu và kết quả nghiên cứu của giới sử học trong nước và nước ngoài trong những năm gần đây; đồng thời được bổ sung bởi những tư liệu mới phát hiện và công bố, giúp cho người đọc không chỉ nắm bắt được những vấn đề cơ bản nhất của lịch sử dân tộc, mà qua đó có được nhận thức và những đánh giá mới đảm bảo tính khách quan khoa học, tính chân xác của sự thật lịch sử

Trang 16

8

* Nghiên cứu về cuộc kháng chiến chống Tống năm 981

Năm 1985, Trần Bá Chí trong bài viết “Lãng Sơn một vị trí quan trọng trong kháng chiến chống Tống” trên Tạp chí Khoa học, trường Đại học Tổng hợp Hà Nội đã nghiên cứu một địa danh quan trọng trên đường hành quân xâm lược nước ta của quân Tống, đó là địa điểm Lãng Sơn Với lập luận sắc bén và cứ liệu thuyết phục, tác giả đã bác bỏ quan điểm trong một số bộ sử cho rằng địa điểm Lãng Sơn là Lạng Sơn hiện

nay Dựa theo những ghi chép trong sách “Đại Nam thiền uyển truyền đăng tập lục”,

“Thiền uyển tập anh”, “Việt sử lược”, đối chiếu với tình hình chiến sự, tác giả chỉ ra

rằng Lãng Sơn là cù lao Hai Núi (thuộc tỉnh Quảng Ninh ngày nay) Đây là địa điểm nằm trên tuyến đường lộng của thuyền bè từ phía Bắc qua trấn Vân Đồn, để vào sâu nội địa nước ta

Năm 1989, trong bài viết “Trận Đồ Lỗ thắng Tống”, trên Tạp chí Lịch sử quân

sự, Trần Bá Chí phân tích những ghi chép trong sách “Lĩnh Nam chích quái”, “Thiên Nam ngữ lục”, “An Nam chí lược” kết hợp với các thần tích địa phương, đã chứng

minh sông Đồ Lỗ là sông Lục Đầu, cửa sông Đồ Lỗ là cửa sông Kinh Thầy nối vào sông Lục Đầu Tác giả cũng xác định thời gian diễn ra trận Đồ Lỗ là ngày 30 tháng Chạp năm Canh Thìn (981) Đây là những phát hiện quan trọng của tác giả về cuộc kháng chiến chống Tống năm 981

Năm 1992, Trần Bá Chí bảo vệ luận án tiến sĩ Sử học “Cuộc kháng chiến chống Tống lần thứ nhất (năm 980 - 981)”, tại Khoa Lịch sử trường Đại học Tổng

hợp Hà Nội Sau này, luận án được tác giả chỉnh sửa và in thành sách “Cuộc kháng chiến chống Tống lần thứ nhất” do Nhà xuất bản Quân đội nhân dân xuất bản năm

2003 Khắc phục những hạn chế về sử liệu, bởi chính sự kiện lịch sử diễn ra trong thời

kỳ nước ta bị khuyết sử, tác giả đã phục dựng được cơ bản toàn cảnh cuộc kháng chiến của triều đình Tiền Lê cùng quân dân Đại Cồ Việt chống quân Tống xâm lược Qua tác phẩm này, người đọc có được những tư liệu quý, những kết luận xác đáng để nhận biết đầy đủ thêm về những chiến công rất đáng tự hào, về nghệ thuật quân sự tài giỏi của tổ tiên ta hơn một nghìn năm trước

Năm 1996, Tạp chí Lịch sử quân sự đăng bài “Tìm lại tuyến đường hành quân trước thế kỷ X” của Bá Sĩ Tâm Trong bài viết, tác giả đã nghiên cứu địa điểm Lãng Sơn, một vị trí chiến lược trong cuộc kháng chiến chống Tống năm 981 Tác giả

Trang 17

9

khảo cứu các sách “Việt sử lược”, “An Nam chí lược”, “Thiền uyển tập anh”, cùng

các phương pháp liên ngành kết luận: Lãng Sơn là cù lao Hai Núi thuộc tỉnh Quảng Ninh hiện nay, tọa độ địa lý trung bình của Lãng Sơn là 21011’ vĩ Bắc, 107036’ kinh Đông Thủy quân Tống do Hầu Nhân Bảo chỉ huy đã hành quân theo đường ven biển Lãng Sơn, Bạch Đằng để vào nước ta, chứ không liên quan gì đến vùng ải Chi Lăng

tỉnh Lạng Sơn như sách “Đại Việt sử ký toàn thư” đã chép, cũng không hề qua Ngân Sơn như đã bị dịch nhầm trong sách “Việt Sử lược”

Năm 2001, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam phối hợp với Ủy ban nhân dân tỉnh Hải Dương tổ chức hội thảo khoa học “An Lạc (Chí Linh) - Đại bản doanh của vua Lê Hoàn trong cuộc kháng chiến chống xâm lược năm 981” Hội thảo kết luận, địa điểm Đồng Dinh (An Lạc, Chí Linh, Hải Dương) chính là nơi đóng đại bản doanh của vua Lê Hoàn vào mùa xuân năm Tân Tỵ (981) Ngoài ra, các tham luận hội thảo còn cung cấp nhiều thông tin về diễn biến chiến sự tại khu vực Lục Đầu Giang, những vấn đề chưa thống nhất như vị trí Lãng Sơn, Hoa Bộ, Đồ Lỗ trong cuộc kháng chiến chống Tống thời Tiền Lê

Năm 2001, Nguyễn Minh Đức trong bài viết “An Lạc trong cuộc chống Tống thời Tiền Lê” trên Tạp chí Lịch sử quân sự, đã nêu những đóng góp của nhân dân và vùng đất An Lạc (Chí Linh) trong sự nghiệp chống Tống do Lê Hoàn lãnh đạo Tác giả đã bước đầu xác định các dấu tích liên quan đến hệ thống đồn trại, nơi cất giấu

vũ khí, các kho hậu cần trong đại bản doanh An Lạc

Năm 2005, nhân kỷ niệm 995 năm Thăng Long - Hà Nội và 1000 năm ngày mất của Lê Hoàn, Hội Sử học Hà Nội phối hợp với Sở Văn hoá Thông tin Hà Nội tổ chức hội thảo khoa học “Bối cảnh định đô Thăng Long và sự nghiệp của Lê Hoàn”, kỷ yếu hội thảo được Nhà xuất bản Hà Nội in thành sách Trong hội thảo, có nhiều bài viết nghiên cứu về sự nghiệp chống ngoại xâm bảo vệ nền độc lập dân tộc của Lê Hoàn, có thể điểm qua một vài công trình tiêu biểu:

Nguyễn Quang Ngọc trong bài viết “Lê Hoàn và chiến thắng Bạch Đằng năm 981”, đã nhắc đến tuyến phòng thủ chống Tống kéo dài từ sông Bạch Đằng đến Lục Đầu Giang Tác giả dựa trên các nguồn tư liệu thư tịch cổ Trung Quốc, Việt Nam, tư liệu điều tra khảo sát thực địa để hình dung diễn biến của cuộc kháng chiến chống Tống năm 981 theo một lô gích mới, trong đó nhấn mạnh thắng lợi của trận phản công

Trang 18

Tác giả đánh giá vùng đất An Lạc là vị trí chiến lược về quân sự: “Nơi mà vua Lê Đại Hành chọn để đóng đại bản doanh nói trên, rõ ràng đáp ứng những điều kiện tối cần thiết của một nơi đóng quân mà các bộ binh thư cổ của phương Đông đã chỉ dẫn”

[61, tr 205] Đây là một phát hiện có giá trị của Nguyễn Minh Tường, đã được trình bày và tìm được sự nhất trí tại hội thảo khoa học tổ chức ở Hải Dương đầu năm 2002

* Nghiên cứu về cuộc kháng chiến chống Tống năm 1075 - 1077

Năm 1949, Hoàng Xuân Hãn viết cuốn “Lý Thường Kiệt lịch sử ngoại giao và tông giáo thời Lý”, đến nay bộ sách đã được tái bản nhiều lần, gần đây nhất được Nhà

xuất bản Khoa học xã hội tái bản vào năm 2014 Hơn 60 năm kể từ lần xuất bản đầu tiên, cuốn sách vẫn là một công trình mẫu mực trong việc nghiên cứu lịch sử Việt Nam nói chung và về Lý Thường Kiệt cũng như giai đoạn kháng chiến chống quân xâm lược Tống nói riêng Cuốn sách mang đến cho người đọc nguồn sử liệu phong phú và quý giá; là tài liệu quan trọng để nghiên cứu căn cứ quân thủy Vạn Xuân (Phả Lại), do hai hoàng tử Hoằng Chân và Chiêu Văn chỉ huy Tuy nhiên, tác giả chỉ đánh giá sơ lược về vai trò của căn cứ Vạn Xuân, những diễn biến chiến sự cũng như những đóng góp của nhân dân vùng Vạn Xuân - Phả Lại chưa được tác giả đề cập đến Đây

là nội dung luận án tiếp tục đi sâu nghiên cứu, tìm hiểu

Năm 1965, Nguyễn Văn Dị và Văn Lang đã công bố bài viết “Nghiên cứu về chiến tuyến phòng ngự sông Cầu năm 1076 - 1077” trên Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử Các tác giả đã so sánh, phân tích diễn biến cuộc kháng chiến chống Tống năm 1075 -

1077, để phê phán các nhận định mang tính suy đoán về phòng tuyến sông Cầu trong một số cuốn sách đã xuất bản Đồng thời, đưa ra những nhận định về cách thức tổ chức phòng ngự, diễn biến chiến sự trên chiến tuyến sông Cầu một cách thận trọng

Năm 1977, Phan Huy Thiệp và Trịnh Vương Hồng trong bài nghiên cứu “Bàn thêm một số vấn đề xung quanh trận Như Nguyệt mùa xuân 1077” trên Tạp chí

Trang 19

11

Nghiên cứu Lịch sử, đã đưa ra những quan điểm mới về cuộc kháng chiến chống Tống như: thế chiến lược của quân Tống sau lần tấn công thứ hai về bờ Nam sông Như Nguyệt, mối quan hệ của trận Kháo Túc và trận Như Nguyệt lần hai Nhận định của các tác giả, giúp chúng tôi giải quyết một số vấn đề còn tranh luận trong cuộc kháng chiến chống Tống như lực lượng tham gia, diễn biến trận Kháo Túc, vấn đề chiến thuật Đồng thời, cũng khiến chúng tôi thận trọng hơn, khi nghiên cứu vai trò của Vạn Kiếp trong cuộc kháng chiến chống Tống năm 1075 - 1077

* Nghiên cứu về cuộc kháng chiến chống Mông - Nguyên cuối thế kỷ XIII

Trong bộ lịch sử đầu tiên được viết bằng chữ quốc ngữ tại Việt Nam là “Việt Nam sử lược”, xuất bản lần thứ nhất vào năm 1921, Trần Trọng Kim đã nghiên cứu

lịch sử dân tộc suốt từ thời thượng cổ đến khi thực dân Pháp xâm lược và cai trị (tính đến năm 1902) Trong sách, có các chương nghiên cứu về cuộc kháng chiến chống quân Mông - Nguyên thời Trần Tác giả đã cung cấp những tư liệu quan trọng, liên quan đến trận Vạn Kiếp (6-1285)

Năm 1964, Đào Duy Anh công bố bài viết “Tìm các đèo Khâu Cấp và Nội Bàng trên đường dùng binh của Trần Hưng Đạo”, trên Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử Đèo Khâu Cấp và Nội Bàng, là hai địa điểm dụng binh quan trọng của Trần Hưng Đạo, trong hai cuộc kháng chiến chống quân Mông - Nguyên thế kỷ XIII Tác giả đã khảo sát thực địa các địa điểm diễn ra những trận chặn đánh quân Mông - Nguyên ở vùng Lạng Sơn, Bắc Giang Kết hợp tư liệu thư tịch và điền dã, tác giả đã ước lượng

vị trí của hai ải Khâu Cấp và Nội Bàng, một ải ở đầu, một ải ở cuối đường tiến binh phía Đông của quân Mông - Nguyên, từ lưu vực sông Kỳ Cùng thuộc tỉnh Lạng Sơn

mà sang lưu vực sông Lục Ngạn thuộc châu Lạng Giang, để vào nội địa nước ta

Năm 1972, Nhà xuất bản Khoa học xã hội xuất bản cuốn sách “Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII” của Hà Văn Tấn và Phạm Thị Tâm

Với nguồn tài liệu phong phú, các tác giả đã phân tích, nghiên cứu chi tiết về cuộc kháng chiến chống Mông - Nguyên thế kỷ XIII Nhiều vấn đề liên quan đến khu vực Vạn Kiếp được đề cập trong sách như hội nghị Bình Than, phòng tuyến sông Lục Đầu, những trận đánh ở núi Vạn Kiếp, Phả Lại, sông Lục Đầu

Năm 1978, Nguyễn Lương Bích viết cuốn sách “Việt Nam ba lần đánh Nguyên toàn thắng”, được Nhà xuất bản Quân đội nhân dân xuất bản năm 1981 Công trình đã

Trang 20

12

trình bày có hệ thống diễn biến cuộc kháng chiến chống xâm lược Mông - Nguyên thế

kỷ XIII, với những phân tích, nhận định khoa học về các vấn đề văn hóa, chính trị, quân sự trong cuộc kháng chiến Trong sách, tác giả bước đầu bàn đến những trận đánh quân Mông - Nguyên của dân binh địa phương xung quanh khu vực Vạn Kiếp Những thông tin này, phần nào giúp người đọc hình dung được vai trò của Vạn Kiếp trong cuộc kháng chiến chống quân Mông - Nguyên thế kỷ XIII

Năm 1989, Nguyễn Xuân Cần và Trần Văn Lạng trong bài nghiên cứu “Trở lại vấn đề vị trí ải Nội Bàng và địa điểm Bình Than” đăng trên Tạp chí Khảo cổ học, căn

cứ vào tài liệu khảo cổ học, kết hợp với các dấu tích, địa danh hiện còn cho rằng vị trí của ải Nội Bàng trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Mông - Nguyên thế kỷ XIII nằm ở khu vực hai xã Phượng Sơn và Quý Sơn thuộc huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang ngày nay, cách thị trấn Chũ và khu vực làng Bình Nội 10km Nhận định này đã bác bỏ quan điểm của một số nhà nghiên cứu cho rằng ải Nội Bàng nằm ở thị trấn Chũ (huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang)

Dương Đình Lập trong bài viết “Hải Đông (Quảng Ninh) vùng chiến lược trọng yếu trên hướng biển Đông Bắc của tổ quốc trong kháng chiến chống Nguyên Mông” tại hội thảo khoa học “Anh hùng dân tộc thiên tài quân sự Trần Quốc Tuấn và quê hương Nam Định” do UBND tỉnh Nam Định và Viện Lịch sử quân sự Việt Nam tổ chức năm 2000, đã đánh giá vai trò quan trọng của vùng ven biển Quảng Ninh đối với chiến lược phòng thủ đất nước thời Trần Khi phân tích vị trí các khu vực phòng thủ, tác giả đánh giá cao vai trò của Vạn Kiếp, coi đây là khu vực phòng thủ thứ hai trên hướng ven biển Đông Bắc kéo dài từ cửa sông Bạch Đằng đến Lục Đầu Giang

Năm 2000, Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh xuất bản cuốn sách “Toàn tập Trần Nhân Tông” của Lê Mạnh Thát Ở chương 3, tiêu đề: “Vua Trần Nhân Tông

và cuộc chiến tranh vệ quốc năm 1285”, tác giả đã trình bày một số trận đánh như trận Vạn Kiếp (2-1285), trận Bình Than (2-1285), chiến thắng Vạn Kiếp (6-1285) Tác giả căn cứ ghi chép trong “Nguyên sử” cho rằng, sau chiến thắng Nội Bàng, Thoát Hoan

đã triển khai ngay kế hoạch tấn công Vạn Kiếp, chứ không chờ gần 10 ngày mới ra

lệnh tấn công như ghi chép trong “Đại Việt sử ký toàn thư” Như vậy, trận Vạn Kiếp

diễn ra trước Tết Ất Dậu Chúng tôi cho rằng, sau trận Nội Bàng, nếu quân ta có tổn thất thì nhất định quân địch cũng tổn thất không kém, do tinh thần chiến đấu ngoan

Trang 21

13

cường của quân đội ta Vì vậy, cả hai bên đều cần có thời gian, gấp rút tổ chức lại quân đội và sắm sửa khí tài chuẩn bị cho cuộc chiến đấu sắp tới Do đó, quân Mông - Nguyên không thể đánh chiếm Vạn Kiếp trước Tết Ất Dậu được

Năm 2002, Lê Quý Thi công bố bài viết: “Như Nguyệt - Vạn Kiếp - Vĩnh Bình trận truy kích kết hợp phục kích của quân dân Đại Việt năm 1285” trên Tạp chí Lịch

sử quân sự Dựa vào những ghi chép trong thư tịch và tư liệu điền dã, tác giả đã dựng lại diễn biến trận Vạn Kiếp tương đối rõ nét, đặc biệt tác giả đã phân tích những nét đặc sắc về nghệ thuật quân sự trong trận đánh Tuy nhiên, một số vấn đề liên quan đến trận đánh như vị trí quân Mông - Nguyên bắc cầu phao qua sông, sự tham gia của nhân dân Vạn Kiếp trong trận đánh như thế nào chưa được tác giả nhắc đến trong nghiên cứu này

Năm 2002, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản cuốn sách “Trần Hưng Đạo nhà quân sự thiên tài” của các tác giả Viện Lịch sử quân sự Việt Nam Trong cuốn

sách, các tác giả đã giới thiệu khái quát về nghệ thuật quân sự, chiến lược và chiến thuật trong ba lần kháng chiến chống quân Mông - Nguyên của dân tộc Trong chương 4

“Nghệ thuật quân sự Trần Hưng Đạo”, các tác giả đã phân tích nghệ thuật rút lui chiến lược và phản công chiến lược thể hiện ở chiến trường Vạn Kiếp trong cuộc kháng chiến lần thứ hai (1285) và lần thứ ba (1288) Cuốn sách giúp cho người đọc đánh giá rõ hơn vai trò của Vạn Kiếp, trong chiến lược phòng thủ đất nước thời Trần

Năm 2009, Hiệp Võ trong cuốn “Đại Việt thắng Nguyên Mông” đã phân tích

các lý do khiến quân Mông - Nguyên thất bại trong cuộc chiến xâm lược Đại Việt, trên cơ sở so sánh, đối chiếu các yếu tố chính nghĩa, công tâm, lương thảo, thiên thời, địa lợi, nhân hòa, chiến thuật, tổ chức quân đội… giữa hai bên

Năm 2012, Viện Sử học - UBND tỉnh Bắc Ninh phối hợp tổ chức hội thảo khoa học “Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá Bình Than - Nguyệt Bàn xã Cao Đức, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh”, có một số bài viết liên quan đến đề tài luận án như:

Lê Viết Nga trong nghiên cứu “Những địa danh lịch sử gắn với cuộc kháng chiến chống giặc Nguyên lần thứ II ở đôi bờ sông Cầu và sông Lục Nam” đã khảo sát, giới thiệu những địa danh gắn với các trận đánh quân Mông - Nguyên lần thứ hai, kéo dài từ ải Nội Bàng xuống Vạn Kiếp Đây là những tư liệu mới, bổ sung những thông tin quan trọng về phòng tuyến chống giặc Mông - Nguyên ở vùng Đông Bắc

Trang 22

14

Nguyễn Hải Kế trong bài nghiên cứu “Bình Than 1282 - Tâm thức Đông A - Đại Việt” đã thống kê, so sánh địa bàn phân bố các thái ấp Từ đó, chỉ ra vai trò của thái ấp với chiến lược phòng thủ đất nước Tác giả cho rằng, phần lớn các thái ấp thuộc chi vua Trần Cảnh tập trung ở khu vực phía Nam sông Hồng, còn với chi Trần Liễu lại tập trung chủ yếu ở bờ Bắc sông Hồng, trên địa bàn xứ Đông (Hải Dương, Hải Phòng, Quảng Ninh hiện nay) Đây là sự phân công chiến lược có chủ đích đầu tiên của triều Trần, nhằm tạo ra những lớp bảo vệ tin cậy, vững chắc kinh đô Thăng Long

Trương Thị Yến trong bài viết “Hội nghị Bình Than và cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông của người dân Bắc Ninh”, đã trình bày khát quát công tác bố phòng và các trận đánh giặc trên phòng tuyến Xa Lý - Nội Bàng - Phả Lại - Vạn Kiếp - Bình Than năm 1285 Tác giả cũng chỉ rõ những đóng góp của nhân dân Bắc Ninh trong cuộc kháng chiến chống quân Mông - Nguyên cuối thế kỷ XIII

Năm 2013, UBND thị xã Cẩm Phả (Quảng Ninh) phối hợp với Viện Sử học tổ chức Hội thảo khoa học “Hưng Nhượng Đại vương Trần Quốc Tảng và di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia đền Cửa Ông” Trần Nhuận Minh trong tham luận “Hưng Nhượng Đại vương Trần Quốc Tảng 700 nhìn lại và vấn đề thờ phụng ông tại đền Cửa Ông, Cẩm Phả, Quảng Ninh”, đã cung cấp những tư liệu liên quan đến khu vực luyện quân của Trần Quốc Tảng ở Rặng Nhãn, Trắc Trâu (nay thuộc Nam Sách, Hải Dương)

1.2 Những công trình nghiên cứu trực tiếp Vạn Kiếp

* Nghiên cứu Khảo cổ học

Năm 1972, Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam đã tổ chức khai quật khảo cổ tại khu di tích Kiếp Bạc, diện tích khai quật 180m2

.Kết quả khai quật khảo cổ được trình bày trong “Báo cáo khai quật, nghiên cứu khu di tích Kiếp Bạc năm 1972” Căn cứ vào địa tầng, hiện vật, các nhà khảo cổ đã bước đầu xác định quy mô kiến trúc phủ đệ Vạn Kiếp của Trần Hưng Đạo, vị trí đại bản doanh Vạn Kiếp trong cuộc kháng chiến chống quân Mông - Nguyên thế kỷ XIII

Năm 1985, Tăng Bá Hoành trong bài viết “Điều tra và thám sát Kiếp Bạc lần thứ

II” in trong sách “Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 1985”, đã công bố thêm

những tư liệu về phủ đệ Vạn Kiếp của Trần Hưng Đạo, đặc biệt đã phát hiện nhiều dấu tích về một trung tâm sản xuất gốm thời Trần ở khu vực cánh đồng Vạn Yên, cùng nhiều di vật gốm sứ ở các địa điểm khác như Hành Cung, Xóm Hống

Trang 23

15

Năm 1987, 1988, 1989, Nguyễn Khắc Minh trong các báo cáo khai quật khảo

cổ học ở Kiếp Bạc như: “Báo cáo khai quật khảo cổ học di tích Vạn Yên, Khe Giun khu di tích Kiếp Bạc năm 1987”, “Thám sát khảo cổ học đền Kiếp Bạc năm 1988”,

“Báo cáo thám sát khảo cổ học di tích Vạn Yên năm 1989”, đã cung cấp nhiều thông tin có giá trị, làm sáng tỏ thêm nghề làm gốm ở Vạn Yên và quy mô thái ấp Vạn Kiếp của Trần Hưng Đạo thời Trần

Năm 1995, Hà Văn Cẩn, Trần Anh Dũng cùng nhóm cán bộ Viện Khảo cổ học tiến hành khai quật tại Xóm Hống (Hưng Đạo, Chí Linh, Hải Dương), kết quả cuộc khai quật được nêu trong “Báo cáo khai quật di tích Xóm Hống” Với những hiện vật thu được qua cuộc khai quật, các nhà nghiên cứu cho rằng Xóm Hống là trung tâm sản xuất gốm phục vụ thái ấp Vạn Kiếp Đồng thời, việc phát hiện tiền đồng niên hiệu Nguyên Phong thông bảo (1251 - 1258) tại địa điểm Hang Tiền, góp phần kiểm chứng nhận định, Hang Tiền là nơi cất giấu tiền bạc của phủ đệ Vạn Kiếp trong cuộc kháng chiến chống quân Mông - Nguyên cuối thế kỷ XIII

Năm 1997, Hà Văn Cẩn trong báo cáo “Tiền đồng phát hiện tại di chỉ gốm

Xóm Hống (Chí Linh, Hải Dương)” in trong sách “Những phát hiện mới về Khảo cổ học năm 1997”, thông báo việc phát hiện một số tiền đồng Trung Hoa, niên đại thời

Tống trong di chỉ Xóm Hống Đây là một trong những căn cứ khoa học để tác giả đưa

ra kết luận, di chỉ gốm sứ Xóm Hống có niên đại thời Trần thế kỷ XIII - XIV

Năm 2000, nhóm cán bộ của Bảo tàng Lịch sử Việt Nam và Ban Quản lý di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc là Nguyễn Quốc Hữu, Nguyễn Tuấn Lâm, Nguyễn Hồng Quang, Nguyễn Văn Đoàn, Nguyễn Văn Mục, Phạm Khắc Hồng đã thám sát khảo cổ học một số di tích ở Vạn Kiếp như Từ Cũ, Hố Thóc, Viên Lăng, Ao Cháo, Hố Chân Bia, núi Trán Rồng, địa điểm Máng Nước Kết quả nghiên cứu trình bày trong “Báo cáo điều tra, thám sát khảo cổ học khu di tích Kiếp Bạc (Chí Linh, Hải Dương) tháng 7-2000” Căn cứ tư liệu khảo cổ học, các nhà nghiên cứu đã định vị được một số điểm

di tích trong khu vực Vạn Kiếp, liên quan đến cuộc kháng chiến chống quân Mông - Nguyên thế kỷ XIII, mà sử sách ghi chép và dân gian lưu truyền

Năm 2002, Hà Văn Cẩn trong luận án tiến sĩ chuyên ngành Khảo cổ học “Các trung tâm sản xuất gốm sứ cổ ở Hải Dương”, ở chương 2 tiêu đề: “Trung tâm sản xuất gốm Xóm Hống” đã nghiên cứu, phân tích kĩ thuật sản xuất, loại hình men, dấu con kê trên sản phẩm và hoa văn trên các hiện vật gốm đào được ở Xóm Hống để kết luận:

Trang 24

16

Xóm Hống (Chí Linh, Hải Dương) là một trung tâm sản xuất gốm sứ thời Trần thế kỷ XIII, XIV Đây là một trung tâm gốm cổ sớm nhất hiện biết ở Hải Dương

Năm 2007, Sở Văn hóa Thông tin Hải Dương (nay là Sở Văn hóa, Thể thao và

Du lịch Hải Dương) phối hợp với Viện Khảo cổ học Việt Nam tổ chức hội thảo khoa học “Khảo cổ học Hải Dương thế kỷ XX và những năm đầu thế kỷ XXI”, với sự có mặt của nhiều nhà quản lý, nhà khoa học chuyên ngành trung ương và địa phương Các ý kiến, tham luận tại hội thảo đã đánh giá, ghi nhận những thành tựu của sự nghiệp khảo cổ học Hải Dương đạt được trong thế kỷ XX và những năm đầu thế kỷ XXI Trong tham luận “Một vài suy nghĩ về di tích Kiếp Bạc (Chí Linh, Hải Dương) qua tài liệu khảo cổ học”, Nguyễn Văn Đoàn đã trình bày khát quát kết quả nghiên cứu khảo cổ học khu vực Kiếp Bạc trong thời gian từ 1972 đến 2006 Sự phong phú,

đa dạng của các loại hình di tích và di vật, với mật độ dày đặc các di tích thời Trần, liên quan trực tiếp và gián tiếp tới Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn đã cho thấy giá trị to lớn của khu di tích Kiếp Bạc với tính chất của một phủ đệ, một thái ấp lớn,

có vị thế của căn cứ quân sự tiền tiêu được thể hiện qua kết quả nghiên cứu và khai quật khảo cổ học rất rõ ràng với hệ thống dinh thự, các công trình kiến trúc lớn, kho tàng, xưởng đóng thuyền, nơi làm gốm, vườn thuốc nam, các di chỉ cư trú phản ánh đời sống lao động, sản xuất, mộ táng Tuy nhiên, do mục đích yêu cầu của từng đợt nghiên cứu, những kết quả còn tản mạn, nhiều vấn đề liên quan vẫn chưa được lý giải hoặc lý giải chưa có tính thuyết phục cao

Năm 2010, Nguyễn Khắc Minh trong bài viết “Những cuộc điều tra khai quật khảo cổ học tại di tích đền Kiếp Bạc” trên Tạp chí Khảo cổ học, đã trình bày kết quả 5 cuộc khai quật khảo cổ học tại di tích Kiếp Bạc từ năm 1972 - 2006, với trên 8000 di vật, hiện vật được phát hiện và sự đa dạng về các loại hình như: kiến trúc, mộ tháp, kho tàng, lò gốm, cư trú tác giả xác định vị trí phủ đệ Vạn Kiếp ở thế kỷ XIII, XIV

là hệ thống các công trình kiến trúc phân bố liên hoàn, được sắp đặt tiện lợi, phù hợp với địa hình, địa thế phục vụ sinh hoạt và kháng chiến như Hố Thóc, Hang Tiền, Xưởng Thuyền, Sông Vang, Lò Gốm…

Năm 2013, Bảo tàng Hải Dương tổ chức khai quật khảo cổ học tại di tích thành cổ Phao Sơn, kết quả khai quật được trình bày trong “Báo cáo khai quật khảo cổ học tại di tích chùa Huyền Thiên, thành cổ Phao Sơn, thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương” Qua cuộc

Trang 25

Năm 2000, Trần Quốc Vượng trong bài viết “Đôi điều cảm nhận về khu di tích Kiếp Bạc”, đăng trên tạp chí Xưa và Nay, đã nghiên cứu Vạn Kiếp dưới cái nhìn địa - văn hóa Khi bàn về ý nghĩa của tên gọi Vạn Kiếp, tác giả đã phê phán sứ thần nhà Nguyên là Trần Phu, do cay cú, mặc cảm về tên đại bản doanh của Quốc công

tiết chế nên đã viết trong “Sứ Giao Châu tập” rằng Vạn Kiếp là một “tên đất bỉ lậu”

Theo tác giả, tiếng Việt “Vạn” là chỉ một cộng đồng tụ cư của các thuyền chài, dân chài “Kiếp” là tên riêng chỉ bến sông đó Dù tên gọi Vạn Kiếp đã xuất hiện trong thư tịch trên 700 năm, địa danh này lại gắn với anh hùng dân tộc Trần Hưng Đạo và cuộc kháng chiến chống Mông - Nguyên thế kỷ XIII, nhưng đây là lần đầu tiên, có một nhà nghiên cứu bàn đến ý nghĩa của địa danh Vạn Kiếp với những lập luận rất sắc bén và thuyết phục

Năm 2000, UBND tỉnh Nam Định và Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam phối hợp tổ chức hội thảo khoa học “Anh hùng dân tộc thiên tài quân sự Trần Quốc Tuấn

và quê hương Nam Định” Một số tham luận trong hội thảo có liên quan đến cuộc kháng chiến chống Mông - Nguyên và thái ấp Vạn Kiếp như:

Trương Hữu Quýnh trong nghiên cứu “Thái ấp điền trang ở buổi đầu thời Trần

sự kết hợp kinh tế và quân sự trong chiến tranh giữ nước” đã phân tích các hoạt động kinh tế, quân sự trong thái ấp Vạn Kiếp Tác giả cho rằng, Vạn Kiếp là một minh chứng tiêu biểu cho đỉnh cao của sự kết hợp giữa kinh tế và quân sự trong các thái ấp, điền trang thời Trần

Nguyễn Thị Phương Chi trong bài viết “Tìm hiểu thái ấp của Trần Quốc Tuấn

ở Vạn Kiếp”, căn cứ vào kết quả các cuộc khai quật khảo cổ, hệ thống di tích hiện còn

Trang 26

18

và tư liệu điền dã ở vùng Vạn Kiếp, đã nêu lên quy mô và đặc điểm thái ấp Vạn Kiếp của Trần Hưng Đạo Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu về thái ấp Vạn Kiếp

Năm 2001, Nguyễn Thị Phương Chi bảo vệ thành công luận án tiến sĩ sử học

“Thái ấp điền trang thời Trần (thế kỷ XIII-XIV)”, công trình được Nhà xuất bản Khoa học xã hội in thành sách với tên gọi tương tự vào năm 2002 Trong công trình, tác giả

đã nghiên cứu tương đối kĩ càng diện mạo các thái ấp, điền trang của quý tộc, vương hầu, quan lại thời Trần, trong đó có thái ấp Vạn Kiếp Căn cứ ghi chép trong thư tịch, kết quả khai quật khảo cổ và tư liệu điền dã, tác giả đã xác định quy mô thái ấp Vạn Kiếp, các chức năng kinh tế, văn hoá, quân sự của thái ấp Có thể nói, đây là những công trình nghiên cứu có giá trị về thái ấp Vạn Kiếp Tuy nhiên, còn những khu vực liên quan đến thái ấp Vạn Kiếp như khu vực sản xuất hậu cần ở Trung Quê (xã Lê Lợi

và Bắc An, thị xã Chí Linh), khu vực luyện quân ở Suối Mỡ (xã Nghĩa Phương, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang) chưa được tác giả đề cập đến trong công trình nghiên cứu này Tác giả giới hạn phạm vi thái ấp Vạn Kiếp tương ứng với xã Hưng Đạo (thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương) ngày nay Với những dấu tích, địa danh hiện còn cho thấy, thái ấp Vạn Kiếp là khu vực rộng lớn tương đương với các xã, phường Hưng Đạo, Lê Lợi, Bắc An, Hoàng Hoa Thám, Hoàng Tân (thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương) và Cẩm

Lý, Đan Hội, Vũ Xá, Nghĩa Phương (huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang) Điều này sẽ được chúng tôi chứng minh rõ hơn trong luận án

Năm 2004, Nhà xuất bản Thanh niên xuất bản cuốn “Làng cổ truyền Việt Nam” do Vũ Ngọc Khánh chủ biên, cuốn sách được Nhà xuất bản Văn học tái bản

năm 2013 Công trình tập hợp nghiên cứu 21 làng cổ trên cả nước Tăng Bá Hoành trong phần viết về “Làng Vạn Yên” (trung tâm của hương Vạn Kiếp thời Trần) từ trang 210 đến trang 220, đã nghiên cứu lịch sử hình thành, phong tục tập quán và các thiết chế xã hội cổ truyền của làng Vạn Yên từ xưa đến nay

Năm 2006, Ban Quản lý di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc nghiên cứu đề tài khoa học cấp tỉnh “Nghiên cứu di sản văn hoá phi vật thể khu vực Kiếp Bạc” Các thành viên tham gia đề tài đã nghiên cứu lịch sử hình thành, vị trí địa lý, đời sống kinh tế, xã hội khu vực Kiếp Bạc trong lịch sử Đồng thời, điều tra khảo sát núi thuốc Dược Sơn và nghề làm thuốc nam ở Kiếp Bạc Đề tài cung cấp nhiều thông tin giá trị về điều kiện

tự nhiên, xã hội khu vực Vạn Kiếp, thống kê những cây thuốc nam trên núi Dược Sơn

và những bài thuốc chữa bệnh, trị thương hiện còn tại địa phương

Trang 27

19

Năm 2006, Uỷ ban nhân dân tỉnh Hải Dương lập đề án “Quy hoạch tổng thể khu di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc gắn với phát triển du lịch thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương đến năm 2020” Quy hoạch được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 10-5-

2010 Trong phần khái quát giá trị của khu di tích Kiếp Bạc, các tác giả đề án đã nêu lên giá trị lịch sử, giá trị quân sự của vùng Vạn Kiếp trong lịch sử chống ngoại xâm, mối liên hệ không gian văn hoá, lịch sử với khu vực phụ cận Quảng Ninh, Bắc Ninh, Bắc Giang Dù còn sơ lược, nhưng đánh giá trong đề án đã giúp chúng tôi có cái nhìn toàn diện hơn, khi nghiên cứu về vai trò của Vạn Kiếp trong lịch sử chống ngoại xâm

Năm 2009, Nguyễn Thị Phương Chi hoàn thành cuốn sách “Kinh tế, xã hội thời Trần (thế kỷ XIII, XIV)” Trong chương 2, tiêu đề: “Kinh tế thời Trần”, tác giả

đã thống kê 15 thái ấp trên cả nước Từ sự bố trí hệ thống thái ấp này, tác giả phân tích tầm nhìn chiến lược quân sự của triều đình nhà Trần trong việc bảo vệ kinh đô Thăng Long, và sự phòng thủ đặc biệt đối với vùng Đông Bắc trọng yếu của đất nước Tác giả đã lấy thái ấp Vạn Kiếp để chứng minh cho nhận định của mình Có thể nói, những tư liệu về thái ấp Vạn Kiếp là kết quả của một quá trình nghiên cứu, tìm tòi bổ sung hoàn thiện của tác giả Vì thế, đây là những tư liệu có giá trị giúp chúng tôi nghiên cứu phạm vi và hoạt động kinh tế trong thái ấp Vạn Kiếp

Năm 2010, Ban Chỉ đạo Kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội tỉnh Hải Dương, phối hợp với Viện Văn hóa, Nghệ thuật - Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức Hội thảo khoa học “Xứ Đông - Hải Dương với Thăng Long-Hà Nội”, hội thảo đã nhận được 27 tham luận của các nhà khoa học trung ương và địa phương Nguyễn Thị Phương Chi và Lại Văn Tới trong tham luận “Bảo vệ Thăng Long qua hệ thống thái

ấp thời Trần trường hợp thái ấp của Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn ở Vạn Kiếp (Chí Linh, Hải Dương)” căn cứ vào tư liệu khảo cổ học và tư liệu điền dã tại địa phương, đã phân tích các khu vực sản xuất gốm, làm thuốc nam, đóng thuyền trong thái ấp Vạn Kiếp, nhằm làm rõ hơn vai trò to lớn của Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn và tầm quan trọng của thái ấp này, đối với thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Mông - Nguyên thứ hai, ba và vùng Đông Bắc

Năm 2010, Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch Bắc Giang phối hợp với UBND huyện Lục Ngạn tổ chức hội thảo khoa học “Bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hoá Lý - Trần tỉnh Bắc Giang” Nguyễn Xuân Cần trong tham luận “Các di tích liên quan tới phòng tuyến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII trên đất Bắc Giang”

Trang 28

20

đã khảo sát, nghiên cứu các địa danh, di tích Đá Mài Gươm, Làng Ải, Bãi Đổ Quân, Đồng Kéo Thuyền… để xác định phòng tuyến quân sự Đông Bắc bảo vệ kinh đô Thăng Long, kéo dài từ Nội Bàng xuống Bình Than trong đó Vạn Kiếp là trung tâm:

“Phòng tuyến kéo dài suốt một dải từ Xa Lý (Khả Lý), Biển Động (Động Bản), Bình Nội (Nội Bàng) tới Vạn Kiếp, Bình Than Đây là những địa điểm xung yếu của vùng Đông Bắc” [14, tr 102]

Năm 2010, Nguyễn Khắc Minh trong luận án tiến sĩ chuyên ngành Khảo cổ học “Khu di tích lịch sử Côn Sơn - Kiếp Bạc những giá trị lịch sử và văn hoá”, ở chương 2 có tiêu đề “Khu di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc”, tác giả đã giới thiệu khát quát

vị trí địa lý, cảnh quan khu vực Vạn Kiếp trong lịch sử, cũng như các địa điểm trong thái ấp xưa như Từ Cũ, sông Lục Đầu, sông Vang, núi thuốc Dược Sơn, khu vực làm gốm Xóm Hống Tác giả còn giới thiệu kết quả các cuộc khai quật khảo cổ tại khu di tích Kiếp Bạc từ năm 1972 đến năm 2006

Năm 2011, UBND thị xã Chí Linh và Hội Liên hiệp Khoa học Kỹ thuật Hải Dương tổ chức hội thảo khoa học “Hải Dương với cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông lần thứ hai và thứ ba” Trong tham luận “Chiến trường Vạn Kiếp trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông lần thứ hai và thứ ba”, Tăng Bá Hoành đã phân tích vị trí quân sự hiểm yếu của khu vực Vạn Kiếp, nghiên cứu những trận đánh, sự kiện quan trọng diễn ra tại Vạn Kiếp trong cuộc kháng chiến chống quân Mông - Nguyên thế kỷ XIII Tác giả đưa ra kết luận đáng chú ý về nơi diễn ra hội nghị

vương hầu bách quan năm 1282: “Vua ngự ra bến Bình Than, rồi đậu thuyền ở vụng Trần Xá để họp vương hầu bách quan… thực chất hội nghị quan trọng này không họp ở bến Bình Than” [55, tr 47] Tác giả cho rằng, địa điểm Trần Xá Loan (nay

thuộc xã Nam Hưng, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương) mới là nơi diễn ra hội nghị vương hầu bách quan năm 1282

Năm 2012, Viện Sử học, UBND tỉnh Bắc Ninh phối hợp tổ chức hội thảo khoa học “Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá Bình Than - Nguyệt Bàn xã Cao Đức, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh” Nhiều tham luận tại hội thảo có liên quan đến Vạn Kiếp, và cuộc kháng chiến chống quân Mông - Nguyên thế kỷ XIII, cụ thể:

Nguyễn Xuân Cần trong tham luận “Bình Than trong phòng tuyến chống giặc Nguyên Mông thế kỷ XIII ở vùng Đông Bắc”, căn cứ vào truyền thuyết, sự tích và hệ thống di tích hiện còn bên bờ sông Thương, sông Lục Nam cho rằng: nhà Trần và

Trang 29

21

Trần Hưng Đạo đã xây dựng một phòng tuyến mạnh ở vùng Đông Bắc để đánh giặc Phòng tuyến kéo dài suốt một dải từ Xa Lý (Khả Lý), Biển Động (Động Bản), Bình Nội (Nội Bàng) huyện Lục Ngạn, tới Vạn Kiếp - Bình Than Phần cuối bài viết, tác giả đã giới thiệu về khu vực hậu cần của nhà Trần ở cuối dãy núi Nham Biền (huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang) giáp với Vạn Kiếp Đây là khu vực hậu cần quan trọng, cung cấp lương thảo cho các trận đánh diễn ra tại Vạn Kiếp

Nguyễn Khắc Minh trong tham luận “Sông Lục Đầu và hội nghị vương hầu bách quan trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông ở thế kỷ XIII”, đã nêu khát quát vị trí địa lý của sông Lục Đầu và những sự kiện lịch sử diễn ra tại đây Tác giả đã cung cấp thêm tư liệu mới về ba nhánh sông nhỏ của sông Lục Đầu là sông An Mô, sông Ngụ, sông Dâu Trong bài viết, tác giả cho rằng: Căn cứ Vạn Kiếp của Hưng Đạo vương là vùng rộng lớn, phía Bắc là vùng hạ lưu sông Lục Nam, Rừng Sa (Đan Hội); Phía Nam là hạ lưu sông Lục Đầu, gồm các làng: Chí Linh, Gốm, Trần Xá (Hải Dương); phía Đông là toàn bộ khu vực núi đồi thuộc xã Hưng Đạo, xã Lê Lợi, phường Phả Lại, thị xã Chí Linh ngày nay; phía Tây gồm các làng: Đại Than, Tiểu Than, Phù Than (Gia Bình, Bắc Ninh); Phả Lại, Hạ, Văn Khê, Cao Đồng, Bến (Yên Dũng, Bắc Giang) Trong đó, sông Lục Đầu và các cao điểm trên các núi, đồi, dọc bên bờ là hệ thống cứ điểm chốt giữ quan trọng nhất Đây là lần đầu tiên, một công trình nghiên cứu bàn đến phạm vi của căn cứ Vạn Kiếp, những nhận xét nêu trên là gợi ý rất quan trọng cho tác giả luận án khi nghiên cứu phạm vi căn cứ Vạn Kiếp trong cuộc kháng chiến chống quân Mông - Nguyên cuối thế kỷ XIII

Lê Đình Sỹ trong tham luận “Lục Đầu Giang vị trí và dấu ấn lịch sử quân sự”

đã khẳng định: Trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta, Lục Đầu Giang luôn luôn giữ một vị trí quân sự quan trọng cả về chiến lược và chiến thuật, nó án ngữ đường thủy tiến về Thăng Long, nó mở đường tiến ra phía biển, là nơi có thể dựa vào

để phòng ngự chặn giặc, lại có thể lợi dụng để tiến công tiêu diệt quân thù Lục Đầu Giang là nơi diễn ra nhiều trận chiến ác liệt giữa quân ta và quân xâm lược, đặc biệt là trong cuộc kháng chiến chống quân Mông - Nguyên

Năm 2013, Nguyễn Thị Phương Chi trong bài nghiên cứu “Chiến lược phòng thủ đất nước qua hệ thống thái ấp thời Trần (thế kỷ XIII - XIV)”, trên Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, đã đặt vấn đề nghiên cứu hệ thống thái ấp trong mối quan hệ với chiến lược phòng thủ đất nước Từ sự phân bố các thái ấp ở phía Bắc và phía Nam sông

Trang 30

22

Hồng, tác giả cho rằng sự phân bố đó có chủ đích, và nằm trong chiến lược phòng thủ đất nước của triều đình nhà Trần Có thể nói, những nhận xét nêu trên là gợi ý rất quan trọng cho tác giả luận án, khi nghiên cứu vai trò của thái ấp Vạn Kiếp đối với chiến lược phòng thủ đất nước thời Trần

1.3 Những vấn đề còn tồn tại và hướng nghiên cứu tiếp theo của luận án

* Những nội dung luận án kế thừa

Với khối lượng 62 tài liệu (gồm 21 cuốn sách, 12 bài viết trên các tạp chí, 3 luận án tiến sĩ, 16 tham luận trong 10 hội thảo khoa học, 8 báo cáo khai quật khảo cổ học, 1 đề tài khoa học, 1 đề án quy hoạch) có đề cập gián tiếp đến Vạn Kiếp, khi viết

về các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm từ thế kỷ X đến thế kỷ XIII, hoặc nghiên cứu trực tiếp Vạn Kiếp dưới góc độ kinh tế và quân sự Các tài liệu này phong phú về nội dung, đa dạng về cách tiếp cận, đã cung cấp tư liệu quan trọng về Vạn Kiếp trong lịch sử chống ngoại xâm Những phân tích, đánh giá trong các công trình nghiên cứu trên là tài liệu tham khảo có giá trị đối với luận án, khi nghiên cứu vị trí địa lý, các trận đánh, sự kiện lịch sử diễn ra tại Vạn Kiếp Từ đó, giúp chúng tôi nghiên cứu đặc điểm, vai trò của Vạn Kiếp lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Kết hợp giữa các tài

liệu trên với nguồn tài liệu điền dã, thần tích hoặc với tài liệu gốc như “Việt Sử lược”,

“Đại Việt sử ký toàn thư”, “Khâm định Việt sử thông giám cương mục”…, chúng tôi

sẽ có nhiều dẫn chứng, và sử liệu có độ chân xác cao để chứng minh cho những luận điểm của mình

* Những nội dung nghiên cứu tiếp theo của luận án

Điểm qua toàn bộ các công trình nghiên cứu trên đây cho thấy, vấn đề Vạn Kiếp trong lịch sử chống ngoại xâm thế kỷ X đến thế kỷ XIII đã bước đầu được các nhà khoa học nghiên cứu, tìm hiểu và đạt được những kết quả nhất định Tuy nhiên, vẫn còn nhiều nội dung phải bổ khuyết, nhiều nhận định cần phải được lý giải thỏa đáng và chặt chẽ hơn

Thứ nhất, những năm gần đây, một số vấn đề cơ bản của cuộc kháng chiến

chống Tống thế kỷ X đã được giới nghiên cứu xích lại gần nhau hơn Các bài viết, công trình nghiên cứu đã làm rõ được những trận đánh liên quan đến khu vực Vạn Kiếp - Lục Đầu Giang như trận đánh trại Phù Lan, trận Đồ Lỗ, đại bản doanh của vua

Lê Đại Hành ở An Lạc (Chí Linh, Hải Dương) Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vấn đề chưa

Trang 31

23

được thống nhất, một số nhà nghiên cứu tin rằng có một trận đánh ở cửa biển Bạch Đằng quân ta bị rơi vào tình thế bất lợi, rồi sau đó mới rút kinh nghiệm đánh bại quân Tống ở Lục Đầu Giang và tiến lên đánh tan quân Tống ở sông Bạch Đằng Trái lại, có nhà nghiên cứu cho rằng chỉ có một trận Bạch Đằng, Lê Hoàn tổ chức khiêu chiến kéo nhanh quân Tống vào trận địa mai phục của ta trên khúc sông hiểm yếu và tiêu diệt chúng Một vài nhà nghiên cứu cho rằng các đạo quân Tống tiến vào nước ta, có hai đạo tiến theo đường Cao Bằng, Lạng Sơn và Đại La mới là nơi hội quân đầu tiên của các mũi tiến quân Đây cũng chính là những vấn đề mà luận án cần tiếp tục đi sâu nghiên cứu và làm sáng rõ

Thứ hai, phần lớn các công trình nghiên cứu về các cuộc kháng chiến chống

ngoại xâm đều ghi chép các sự kiện lịch sử, các trận đánh diễn ra tại Vạn Kiếp trong cuộc kháng chiến chống quân Tống thế kỷ X và quân Mông - Nguyên thế kỷ XIII Tìm hiểu về Vạn Kiếp trong cuộc kháng chiến chống quân Tống ở thế kỷ XI rất ít ỏi, gần như vắng bóng trong các công trình nghiên cứu Chúng ta thấy, Vạn Kiếp chỉ được đề cập đến với những ghi chép ngắn ngủi về căn cứ thủy quân Vạn Xuân trong

công trình “Lý Thường Kiệt lịch sử ngoại giao và tông giáo thời Lý” của Hoàng Xuân

Hãn Sau này, những ghi chép về căn cứ Vạn Xuân trong các công trình nghiên cứu về cuộc kháng chiến chống Tống thế kỷ XI, hầu như kế thừa từ tác phẩm này Có thể nói, căn cứ thủy quân Vạn Xuân (Lục Đầu) đóng vai trò rất quan trọng đối với phòng tuyến Như Nguyệt và cuộc kháng chiến chống Tống thế kỷ XI, nhưng do hạn chế về

tư liệu nên việc nghiên cứu về vị trí, vai trò của căn cứ Vạn Xuân chưa được chú ý

Để lấp vào những khoảng trống đó, luận án sẽ tập trung đi sâu tìm hiểu những trận đánh, những sự kiện lịch sử diễn ra tại Vạn Kiếp trong cuộc kháng chiến chống Tống thế kỷ XI Từ đó, làm sáng tỏ vai trò và đóng góp của nhân dân Vạn Kiếp trong cuộc kháng chiến chống Tống thế kỷ XI

Thứ ba, nếu như nghiên cứu về Vạn Kiếp trong cuộc kháng chiến chống Tống

thế kỷ X, XI còn ít ỏi và tản mạn, chủ yếu tập trung ở góc độ quân sự, thì nghiên cứu Vạn Kiếp trong cuộc kháng chiến chống quân Mông - Nguyên thế kỷ XIII đã thu hút được nhiều nhà nghiên cứu với các công trình nghiên cứu về kinh tế và quân sự Điển

hình là Nguyễn Thị Phương Chi trong công trình “Thái ấp điền trang thời Trần (thế

kỷ XIII - XIV)”, căn cứ vào tư liệu khảo cổ học, tư liệu điền dã đã dựng lên diện mạo

thái ấp Vạn Kiếp với các hoạt động đa dạng về kinh tế như trồng trọt, đánh bắt cá,

Trang 32

Thứ tư, Vạn Kiếp là một vị trí quân sự chiến lược quan trọng bậc nhất trong

việc bảo vệ kinh đô Thăng Long, nơi diễn ra những trận quyết chiến giữa quân ta và quân giặc, nhưng việc nghiên cứu đặc điểm, vai trò của Vạn Kiếp trong lịch sử chống ngoại xâm từ thế kỷ X đến thế kỷ XIII, so sánh Vạn Kiếp với các căn cứ quân sự khác như Hoa Lư, Trường Yên (Ninh Bình), Thiên Trường (Nam Định) Từ đó, rút ra những bài học kinh nghiệm có thể vận dụng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, là những nội dung mà các công trình đi trước chưa đặt vấn đề nghiên cứu Luận án sẽ tiếp tục đi sâu nghiên cứu những nội dung này, với hy vọng sẽ giải đáp thấu đáo hơn những vấn đề quan trọng nêu trên

Trang 33

25

Chương 2 VẠN KIẾP TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG QUÂN TỐNG XÂM LƯỢC THẾ KỶ X VÀ XI

2.1 Vị trí địa lý khu vực Vạn Kiếp trong lịch sử

Vạn Kiếp (萬 刧)là tên gọi vùng đất nằm ở phía Tây Bắc thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương hiện nay Tiếng Việt “Vạn” là chỉ một cộng đồng tụ cư của các thuyền chài, dân chài; “Kiếp” là tên của bến sông đó Điều này phù hợp với từ nguyên của chữ Kiếp Bạc Bạc (泊) theo sách “Hán Việt từ điển” của Đào Duy Anh là ghé vào, (nơi) thuyền ghé bến Hiện nay, ở vùng này còn có làng Vạn Yên bên tả ngạn, đối diện bên hữu ngạn sông Thương là làng Bến (huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang)1

Tên gọi Vạn Kiếp xuất hiện đầu tiên trong bài thơ “An Nam tức sự” viết năm

1293 của Trần Phu (sứ thần nhà Nguyên) Trong tác phẩm này, Trần Phu cho biết, Vạn Kiếp thời thuộc Hán (111 T.CN - 541) mang tên Lãng Bạc Dười thời đô hộ của nhà Đường (622 - 905) Lãng Bạc đổi tên là Lãng Châu của đất quận Giao Chỉ Theo

như các sách “Thủy kinh chú” và “Hậu Hán thư” mô tả, Lãng Bạc là vùng gò đất cao

nổi lên giữa vùng đồng trũng ngập lụt [64, tr 368] Thời Lý (1010 - 1225), Trần (1225

- 1400) gọi là hương Vạn Kiếp thuộc huyện Phượng Sơn, châu Lạng Giang, lộ Bắc

1

Cũng có người cho rằng Vạn Kiếp là một khái niệm Phật giáo (kiếp trước, kiếp sau) Trong

sách “Phật thuyết A Di Đà thiển dịch” bài Khai kinh kệ có nhắc đến Vạn Kiếp:

“Vô thượng thậm thâm vi diệu pháp,

Bách thiên Vạn Kiếp nan tao ngộ” [223, tr 2]

Cũng theo sách “Hán Việt từ điển” của Đào Duy Anh thì Vạn Kiếp: dịch là “muôn đời” [2, tr.533], Kiếp là theo thời vận, bến đỗ thuyền theo thời vận [2, tr 542]

Trang 34

26

Giang thượng Đã có nhiều nghiên cứu về cấp hành chính “Hương” trong lịch sử Căn

cứ vào ghi chép trong chính sử cùng tư liệu minh chuông và bi ký, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng cấp chính quyền hương sau cấp lộ (hay phủ) mà lộ hay phủ là cấp chính quyền địa phương cao nhất Cấp hương thời Trần có thể gần tương đương với cấp huyện thời sau1 Kết hợp các nguồn tài liệu, thư tịch với các di tích, địa danh hiện còn, chúng tôi cho rằng hương Vạn Kiếp thời Lý, Trần là vùng đất rộng lớn, tương ứng với phần lớn đất đai thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương và các xã Cẩm Lý, Đan Hội, Vũ Xá, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang hiện nay Trong đó trung tâm của Vạn Kiếp thời Trần

là các xã, phường: Phả Lại, Cổ Thành, Nhân Huệ, Hưng Đạo, Lê Lợi, Cộng Hòa, Bắc

An, Hoàng Tân, Bến Tắm, Hoàng Hoa Thám, thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương

Thời Lê, Vạn Kiếp thuộc huyện Phượng Nhỡn, phủ Lạng Giang, trấn Kinh Bắc Thời Nguyễn, Vạn Kiếp đổi thành Vạn Yên Từ năm Minh Mệnh thứ 3 (1822) trở đi, Vạn Yên thuộc tổng Kham Điền (sau đổi là Trạm Điền), huyện Phượng Nhỡn, trấn Bắc Ninh Đến những năm cuối thập kỷ 80, sang đầu thập kỷ 90 thế kỷ XIX, xã Vạn Yên thuộc huyện Lục Ngạn, phủ Lạng Giang Sang đầu thế kỷ XX, Vạn Kiếp được gọi

là Kiếp Bạc do ghép tên Nôm hai làng: Vạn Yên (làng Kiếp), tổng Trạm Điền và Dược Sơn (làng Bạc), tổng Chi Ngại, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương Hiện nay, Vạn Kiếp thuộc xã Hưng Đạo, thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương Như vậy, trong lịch sử Vạn Kiếp đã nhiều lần thay đổi địa giới hành chính Qua các nguồn tư liệu địa lý lịch sử, dấu tích các địa danh hiện còn, giai đoạn từ thế kỷ X đến thế kỷ XIII, Vạn Kiếp là vùng đất rộng lớn, không nhỏ hẹp như địa danh hành chính hiện nay

Về địa lý, Vạn Kiếp là vùng đất khá hiểm trở với đầy đủ các dạng địa hình, như

có núi, có sông và nhiều giải đồng ruộng nhỏ hẹp ở các thung lũng ven đồi

Núi ở Vạn Kiếp là dãy núi cuối cùng về phía Tây Bắc của hệ thống cánh cung Đông Triều từ Quảng Ninh đổ về Núi Yên Tử chạy gần tới Kiếp Bạc thì toả thành hai dãy song song là dãy Côn Sơn ở phía Bắc và dãy Phượng Hoàng ở phía Nam Dãy Côn Sơn càng gần tới Vạn Kiếp thì càng thấp dần tạo thành nhiều quả đồi nhỏ nằm rải rác ở thung lũng phía Đông Bắc Vạn Kiếp Trái lại, dãy núi Phượng Hoàng chạy gần

1

Về vấn đề này xem thêm Nguyễn Thị Phương Chi (2007), Tìm hiểu quy mô thái ấp thời Trần,

NCLS, số 5, tr 51 - 54

Trang 35

27

tới phía Nam Vạn Kiếp thì càng cao dần lên, các ngọn núi lại liên kết với nhau làm thành một bức tường tự nhiên đồ sộ ngăn cách vùng đồng bằng của thị xã Chí Linh (nơi có quốc lộ 18 chạy ngang qua) với vùng núi Côn Sơn và phần Đông Bắc của khu vực Kiếp Bạc Núi ở Vạn Kiếp độ cao trung bình 80 - 100m, nhưng liền dải thành nhiều hình vòng cung chạy nhô ra tận bờ sông Lục Đầu tạo ra một địa thế hiểm trở

Thế kỷ XIII, trong sách “An Nam chí lược” do Lê Tắc biên soạn, phần ghi chép về các ngọn núi có ghi: “Núi Vạn Kiếp: trở mặt ra một con sông lớn, sau lưng có núi muôn trùng, rừng rậm tre cao, dưới nước trên cầu, phong cảnh rất đẹp Hưng Đạo vương đã từng ở nơi này” [118, tr 61] Vạn Kiếp có núi Rồng hình tay ngai, bao bọc

những thung lũng của sông Thương ăn sâu vào hẻm núi, có thể tập kết hàng nghìn chiến thuyền trước khi xông trận Trên các đỉnh núi có thể quan sát một vùng sông nước, làng mạc bao la, tạo thế chủ động cho quân sĩ khi tiến cũng như lui Phía Bắc có

hệ thống núi rừng trùng điệp, nơi có thể giấu hàng vạn quân, lập căn cứ an toàn; phía Nam có làng mạc trù phú, lắm của nhiều người là nguồn cung cấp nhân tài vật lực to lớn cho chiến tranh

Vạn Kiếp hiểm yếu không phải chỉ có núi đồi trùng điệp, mà còn có sông nước mênh mông toả đi nhiều nơi Sông Lục Đầu là đoạn sông từ Ngã ba Nhãn tới Ngã ba Lâu Khê dài khoảng 10km, gồm 6 nhánh sông hợp thành: Sông Lục Nam, sông Thương, sông Cầu, sông Đuống, sông Thái Bình, sông Kinh Thầy Đây là nơi giáp ranh của 3 tỉnh Hải Dương, Bắc Giang và Bắc Ninh, là vị trí quân sự chiến lược quan trọng bảo vệ đại bản doanh Vạn Kiếp, nơi đây không những đã diễn ra hội nghị vương hầu bách quan bàn kế sách đánh phòng của nhà Trần, mà còn diễn ra nhiều trận thuỷ chiến

dữ dội giữa quân ta và quân giặc Nguyễn Trãi trong sách “Dư địa chí” viết năm 1435, cho biết: “Lục Đầu là tên sông, do sáu con sông hợp nguồn lại, nên gọi là Lục Đầu” [175, tr 128] Vũ Phương Đề trong tác phẩm “Công dư tiệp ký” viết năm 1755, mục Núi sông chép rằng: “Sông Lục Đầu ở huyện Chí Linh, giáp các huyện Phượng Nhãn, Yên Dũng, Quế Dương và Gia Định Một chi từ sông Phượng Nhãn đi xuống, một chi từ sông Xương Giang đi tới, hội lại thành ngã ba sông, một chi từ sông Như Nguyệt đi xuống Một chi từ sông Tam Giang đi lại gặp nhau ở sông Bình Than Sông này trong sạch, nước thơm ngon người ta gọi là nước Bình Than Các ngọn sông hội lại ở sông Triều Dương làm ra một khúc sông rất rộng lớn Ở đấy lại chia thành hai chi: Một chi

Trang 36

28

chảy đến bến đò Bàn Khê rồi đi về phía Nam, một chi chảy đến vũng Trần Xá rồi đi về phía Đông Tất cả 6 chi ấy làm thành sông Lục Đầu” [42, tr 319] Sách “Đại Nam nhất thống chí” của Quốc sử quán triều Nguyễn chép rõ hơn: “Sông Lục Đầu cách huyện Chí Linh 14 dặm về phía Nam, bên tả thuộc địa phận xã Phao Sơn trong huyện, bên hữu thuộc xã Phả Lại huyện Quế Dương, tỉnh Bắc Ninh, ở chỗ giáp giới tỉnh Đông và tỉnh Bắc Sông này một chi từ Phượng Nhỡn tỉnh Bắc Ninh chảy đến, một chi từ sông Thiên Đức chảy đến, một chi từ sông Nguyệt Đức chảy đến, một chi từ sông Nhật Đức chảy đến, họp nhau ở Bình Than Đến xã Lý Dương, xưa gọi là vụng Lão Nhạn, thế nước mênh mông lại chia làm 2 chi, một chi từ bến đò Lâu Khê mà chảy về Nam, một chi từ sông Linh Hội mà chảy về Đông, ấy là sông Lục Đầu; bãi giữa sông gọi là bãi Đại Than, hai chi phân tán ra nhiều ngả dọc ngang chằng chịt ở địa phận hai phủ Kinh Môn và Nam Sách rồi đổ ra biển [100, tr 380]

Ngày nay sông Lục Đầu từ thượng lưu xuống thứ tự các nhánh như sau:

- Nhánh thứ nhất là sông Lục Nam (còn gọi là sông Minh Đức), là một phụ lưu của hệ thống sông Thái Bình, chảy qua hai tỉnh Lạng Sơn và Bắc Giang Sông bắt nguồn từ độ cao khoảng 700 m trên vùng núi Kham thuộc địa phận huyện Đình Lập (Lạng Sơn) theo hướng Tây Nam chảy qua các huyện Sơn Động, Lục Ngạn, Lục Nam (thuộc tỉnh Bắc Giang) và kết thúc tại địa phận xã Đan Hội (huyện Lục Nam) và xã Trí Yên (huyện Yên Dũng) sau khi giao nhau với sông Thương từ hướng Tây Bắc chảy tới tại Ngã ba Nhãn (cách Phả Lại 10 km) Tổng chiều dài của sông gần 200 km Tổng diện tích lưu vực của sông Lục Nam vào khoảng 3.070 km², độ cao bình quân lưu vực là 207 m, độ dốc bình quân lưu vực là 16,5%, lưu lượng trung bình 42,3m3/s Khoảng 45 km cuối hạ lưu (từ thị trấn Chũ đến Ngã ba Nhãn), sông rộng thuận tiện cho giao thông đường thủy

- Nhánh thứ hai là sông Thương hay sông Nhật Đức (xưa còn gọi là sông Nam

Bình, sông Lạng Giang, sông Long Nhỡn), trong sách “Sử học bị khảo” của Đặng Xuân Bảng chép: “Sông này có hai nguồn: một nguồn từ khe núi Châu Ôn tỉnh Lạng Sơn, chảy vào huyện Hữu Lũng, tỉnh Bắc Ninh gọi là sông Hóa, đến xã Chiêu Tuấn Một dòng từ khe núi huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên chảy theo hướng Nam cũng vào huyện Hữu Lũng, tỉnh Bắc Ninh, gọi là sông Hòa, đến ngã ba Châu Tuấn [đến phá Nà Hoa] hợp với sông Hóa làm một, chảy qua các huyện Bảo Lộc, Yên Thế, gọi là sông

Trang 37

29

Thọ Xương, chảy đến huyện Phượng Nhãn, gọi là sông Phượng Nhãn Lại có một dòng

từ khe núi huyện An Bác chảy theo hướng Đông Bắc, đến huyện Lục Ngạn, gọi là sông Thủ Dương, đến huyện Bảo Lộc gọi là sông Trụ Hựu, rồi chảy ngoặt theo hướng Đông Nam lại vào huyện Lục Ngạn, gọi là sông Tứ Bình Sơn vào địa giới huyện Phượng Nhãn, thì hợp với sông Phượng Nhãn rồi chảy vào sông Phao Giang tỉnh Hải Dương”

Sông Thương có chiều dài 157 km, diện tích lưu vực: 6.640 km², lưu lượng trung bình 46,5m3/s

- Nhánh thứ ba là sông Cầu, còn gọi là sông Như Nguyệt, sông Thị Cầu, sông

Nguyệt Đức (xưa kia còn có tên là sông Vũ Bình):“Sông này có hai nguồn: Một nguồn từ phía Bắc núi Án Đĩnh, châu Bạch Thông, tỉnh Thái Nguyên, gọi là sông Đồng Mỗ, chảy theo huyện Cảm Hóa, Châu Định xuống huyện Phú Lương Đến huyện Đồng Hỷ thì có sông Công bắt đầu từ núi Án Đĩnh chảy từ phía Đông Nam đến nhập vào Lại chảy theo hướng Đông Nam, qua huyện Tư Nông, vào huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Ninh, đến ngã ba Hương Ninh thì có sông Phù Lỗ từ Nhị Hà chia ra, qua các huyện An Lạc, An Lăng tỉnh Sơn Tây, xuống huyện Kim Anh tỉnh Bắc Ninh nhập vào, lại chảy xuôi xuống Ngã ba Sà huyện Thiên Phúc Một nguồn từ núi Lục Dã, Châu Định tỉnh Thái Nguyên chảy theo hướng Đông Nam gọi là sông Mão, qua các huyện Văn Lãng, Đại Từ, Phổ Yên vào huyện Thiên Phúc tỉnh Bắc Ninh, đến Ngã ba Sà hợp với sông Đồng Mỗ, thế là sông Nguyệt Đức Lại chảy qua các huyện Hiệp Hòa, Yên

Trang 38

- Nhánh thứ tư là sông Đuống, tên chữ gọi là sông Thiên Đức hay Thiên Đức

Giang: “Sông Thiên Đức từ Nhị Hà chia ra, chảy theo hướng Đông qua huyện Đông Ngàn, Gia Lâm đến Siêu Loại còn gọi là sông Đông Hồ, lại chảy theo hướng Nam xuống huyện Quế Dương, đến huyện Gia Bình gọi là sông Đại Than, hợp với hai dòng sông Nhật Đức, Nguyệt Đức chảy vào Phao Giang tỉnh Hải Dương” [9, tr 177]

Sông Đuống dài 68 km, nối sông Hồng với sông Thái Bình Điểm đầu từ Ngã

ba Dâu (xã Xuân Canh, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội) Điểm cuối là Ngã ba

Mỹ Lộc (xã Trung Kênh, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh) Về tổng thể sông Đuống chảy theo hướng Tây - Đông Sông Đuống là một phân lưu của sông Hồng, trước đây chỉ là một dòng sông nhỏ, do cửa nối với sông Hồng bị cát bồi cao nên chỉ khi sông Hồng có lũ lớn mới tràn qua được Sông Đuống là đường giao thông thuỷ nối cảng Hải Phòng với Hà Nội và các tỉnh ở phía Bắc Việt Nam

- Nhánh thứ năm là sông Thái Bình: là một con sông lớn trong hệ thống sông ở miền Bắc Việt Nam, cùng với hệ thống sông Hồng là 2 hệ thống sông chính của Đồng bằng sông Hồng Sông Thái Bình là tên gọi của hai đoạn sông chính trong hệ thống sông Thái Bình

Sông Thái Bình hiện chia thành 2 đoạn: thượng lưu và hạ lưu, 2 đoạn này nối với nhau bằng một dòng chảy hẹp, nhỏ hơn rất nhiều so với các đoạn khác và các phương tiện giao thông thường phải “đi nhờ” một đoạn sông theo 2 lộ trình sau đây:

Sông Thái Bình - sông Mía - sông Văn Úc - sông Mới - sông Thái Bình

Sông Thái Bình - sông Cầu Xe - sông Luộc - sông Thái Bình

Đoạn sông ở phía thượng lưu có chiều dài khoảng 64 km được bắt đầu từ nơi hợp lưu của hai con sông Cầu và sông Thương (còn có tên gọi là Ngã ba Lác, gần cầu Phả Lại tại địa phận 3 xã, phường Đồng Phúc, Yên Dũng, Bắc Giang; xã Đức Long, Quế Võ, Bắc Ninh và phường Phả Lại, Chí Linh, Hải Dương) Qua cầu Phả

Trang 39

31

Lại, sông Thái Bình chảy ngoằn ngoèo theo hướng Bắc - Nam, đi qua và làm ranh giới tự nhiên giữa tỉnh Bắc Ninh và thị xã Chí Linh, huyện Nam Sách của tỉnh Hải Dương Từ địa phận xã Minh Tân (huyện Nam Sách) đổi hướng chảy theo hướng Tây - Đông Tới xã Nam Đồng thuộc thành phố Hải Dương sông đổi hướng chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam Tại địa phận thành phố Hải Dương, nó nhận thêm nước của sông Sặt và sau đó tại Ngã ba Mũi Gươm, nó nhận nước từ sông Gùa (dài khoảng 4 km, nối sông Thái Bình với sông Văn Úc) Đoạn này của sông Thái Bình kết thúc tại Ngã ba Mía (ranh giới giữa bốn xã Vĩnh Lập (huyện Thanh Hà), An Thanh, Quang Trung (huyện Tứ Kỳ), Đại Thắng (huyện Tiên Lãng, Hải Phòng) Tại đây nó gặp sông Mía (tên gọi của đoạn sông dài khoảng 3 km nối sông Thái Bình với sông Văn Úc) và sông Cầu Xe

Đoạn sông ở phía hạ lưu cũng có tên gọi là Thái Bình, dài 36 km, được bắt đầu

từ Quý Cao, điểm tiếp giáp của xã Giang Biên (huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng) với các

xã Quang Trung, Nguyên Giáp (huyện Tứ Kỳ, Hải Dương), nơi được tính là điểm cuối của sông Luộc Sông chảy theo hướng Tây - Đông khoảng 3 km để nhận thêm nước của sông Kênh Khê (đoạn sông dài khoảng 3 km nối sông Thái Bình với sông Văn Úc), đổi hướng thành Bắc - Nam, đến địa phận xã Kiến Thiết (Tiên Lãng) uốn vòng cung đổi hướng chảy sang hướng Tây Bắc - Đông Nam và đổ ra Biển Đông tại cửa Thái Bình Cách cửa sông khoảng 7 km nó tiếp nhận nước từ sông Hóa Đoạn sông Thái Bình thứ hai này có chiều dài khoảng 36 km và làm ranh giới tự nhiên giữa các huyện Tiên Lãng và Vĩnh Bảo, giữa huyện Tiên Lãng và một phần Đông Bắc của huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình

- Nhánh thứ sáu là sông Kinh Thầy, nối thông sông Thái Bình với các nhánh (chi lưu) vùng Đông Bắc, có chiều dài 44,5 km Dòng sông có chiều rộng từ 100m - 200m Sông Kinh Thầy bắt đầu từ Ngã ba Lâu Khê Sông Kinh Thầy mới có tên trên bản đồ từ thế kỷ XX, trước đó là tên 3 con sông cổ Đoạn thượng lưu có tên là sông Lâu Khê, cách ngã ba Lâu Khê 1 - 2 km về phía Đông, thời Trần gọi là Trần Xá Loan, tức vụng Trần Xá Chữ Hán 灣 (Loan) là vụng, Trần Xá là tên làng ở hữu ngạn, nay thuộc xã Nam Hưng, huyện Nam Sách Sông Lâu Khê chảy đến Mặc Ngạn (Tân Dân, Chí Linh), rồi đến Ngã ba Kèo chia làm hai nhánh, một nhánh chảy về phía Nam tức sông Rạng Sông Rạng chảy qua chi lưu chừng 3km, lại chia đôi, gọi là Ngã ba Tuần

Trang 40

Tại Ngã ba Bến Triều, sông Kinh Thầy chia nước với sông Mạo Khê Tại Ngã ba Trại Sơn, sông Kinh Thầy chia thành hai sông nhỏ chiều dài khoảng 9 km mỗi sông, có tên gọi là sông Phi Liệt (lại đổ vào sông Mạo Khê một lần nữa, tại Ngã ba Bến Đụn, để tạo thành sông Đá Bạch) và sông Hàn để chảy vào sông Kinh Môn tại Ngã ba Nống, tạo thành sông Cấm

Ngoài sáu nhánh sông trên, căn cứ vào bản đồ cổ và sách “Đại Nam nhất thống chí” của Quốc sử quán triều Nguyễn, sông Lục Đầu còn có ba nhánh sông nhỏ nữa là:

- Sông An Mô, thượng nguồn từ núi Thanh Mai (núi Phật Tích) thuộc xã Hoàng Hoa Thám, thị xã Chí Linh chảy qua Bãi Thảo, Đá Bạc (xã Bắc An); Trung Quê, Thanh Tảo (xã Lê Lợi); Vạn Yên, Trạm Điền (xã Hưng Đạo) hợp lưu với sông Vang (cánh đồng Vạn Yên) đổ ra sông Lục Đầu ở Phố Vạn, cách đền Kiếp Bạc, xã Hưng Đạo, thị xã Chí Linh 1,5km Sông An Mô đóng vai trò quan trọng về giao thông trong đại bản doanh Vạn Kiếp thời Trần

- Sông Ngụ thuộc đất Bắc Ninh từ phía Tây đổ ra sông Lục Đầu phía ở dưới thôn Phù Than (Cao Đức, Gia Bình, Bắc Ninh) Cửa sông này đã bị lấp do đắp đê

- Một nhánh sông cổ thuộc đất Bắc Ninh chảy từ phía Tây về hợp lưu với sông Lục Đầu ở phía hạ lưu, xã An Trú, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh (đây là vùng đất của huyện Thanh Lâm cũ thuộc tỉnh Hải Dương gồm 15 xã, đến cuối thế kỷ XIX mới cắt về Bắc Ninh), đối ngạn với Ngã ba Lâu Khê Con sông cổ này phải chăng là sông Dâu? Đến nay cũng không còn do đắp đê sông Lục Đầu

Như vậy, từ sông Lục Đầu theo đường thuỷ có thể lên Bắc xuống Nam, ra Biển Đông, về kinh đô Thăng Long và các vùng miền khác ở Đồng bằng Bắc Bộ, vùng rừng núi biên giới phía Bắc đều rất thuận lợi; người các vùng Thái Nguyên, Bắc Cạn, Phú Thọ, Vĩnh Phúc xuôi theo dòng sông Cầu về Vạn Kiếp Người ở

Ngày đăng: 12/08/2016, 16:26

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

PHỤ LỤC 5: SƠ ĐỒ KHU VỰC VẠN KIẾP - luận án vạn kiếp trong lịch sử chống ngoại xâm (thế kỷ x đến thế kỷ XIII)
5 SƠ ĐỒ KHU VỰC VẠN KIẾP (Trang 190)
PHỤ LỤC 6: SƠ ĐỒ BỐ PHÕNG KHÁNG CHIẾN - luận án vạn kiếp trong lịch sử chống ngoại xâm (thế kỷ x đến thế kỷ XIII)
6 SƠ ĐỒ BỐ PHÕNG KHÁNG CHIẾN (Trang 191)
PHỤ LỤC 7: SƠ ĐỒ CUỘC KHÁNG CHIẾN  CHỐNG QUÂN TỐNG NĂM 981 - luận án vạn kiếp trong lịch sử chống ngoại xâm (thế kỷ x đến thế kỷ XIII)
7 SƠ ĐỒ CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG QUÂN TỐNG NĂM 981 (Trang 192)
PHỤ LỤC 8: SƠ ĐỒ CUỘC KHÁNG CHIẾN  CHỐNG QUÂN TỐNG NĂM 1077 - luận án vạn kiếp trong lịch sử chống ngoại xâm (thế kỷ x đến thế kỷ XIII)
8 SƠ ĐỒ CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG QUÂN TỐNG NĂM 1077 (Trang 193)
PHỤ LỤC 9: SƠ ĐỒ TRẬN NHƢ NGUYỆT NĂM 1077 - luận án vạn kiếp trong lịch sử chống ngoại xâm (thế kỷ x đến thế kỷ XIII)
9 SƠ ĐỒ TRẬN NHƢ NGUYỆT NĂM 1077 (Trang 194)
PHỤ LỤC 10: SƠ ĐỒ CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG QUÂN - luận án vạn kiếp trong lịch sử chống ngoại xâm (thế kỷ x đến thế kỷ XIII)
10 SƠ ĐỒ CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG QUÂN (Trang 195)
PHỤ LỤC 11: SƠ ĐỒ CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG QUÂN - luận án vạn kiếp trong lịch sử chống ngoại xâm (thế kỷ x đến thế kỷ XIII)
11 SƠ ĐỒ CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG QUÂN (Trang 196)
PHỤ LỤC 12: SƠ ĐỒ QUÂN MễNG - NGUYấN RệT CHẠY - luận án vạn kiếp trong lịch sử chống ngoại xâm (thế kỷ x đến thế kỷ XIII)
12 SƠ ĐỒ QUÂN MễNG - NGUYấN RệT CHẠY (Trang 197)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w