Với những giá trị nhiều mặt nên việc phát triển sản xuất quýt ở nước tatrong giai đoạn phát triển nông nghiệp hiện nay là một yêu cầu cấp thiết, kể cảviệc đưa cây quýt trở thành cây trồn
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HUẾ
KHOA NÔNG HỌC
SỐ LIỆU THÔ
TÊN ĐỀ TÀI:
ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG PHÂN BỐ, NGUỒN GỐC
VÀ ĐIỀU KIỆN SINH THÁI CỦA CÂY QUÝT HƯƠNG CẦN TẠI XÃ PHONG CHƯƠNG, HUYỆN PHONG ĐIỀN,
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Văn Lâm Lớp: Cao đẳng khoa học cây trồng 47 Giáo viên hướng dẫn: ThS Trần Đăng Khoa
Bộ môn: Công nghệ rau hoa quả và cảnh quan
Huế, 2016
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HUẾ
KHOA NÔNG HỌC
SỐ LIỆU TINH
TÊN ĐỀ TÀI:
ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG PHÂN BỐ, NGUỒN GỐC
VÀ ĐIỀU KIỆN SINH THÁI CỦA CÂY QUÝT HƯƠNG CẦN TẠI XÃ PHONG CHƯƠNG, HUYỆN PHONG ĐIỀN,
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Văn Lâm Lớp: Cao đẳng khoa học cây trồng 47 Giáo viên hướng dẫn: ThS Trần Đăng Khoa
Bộ môn: Công nghệ rau hoa quả và cảnh quan
Huế, 2016
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HUẾ
KHOA NÔNG HỌC
BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
TÊN ĐỀ TÀI:
ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG PHÂN BỐ, NGUỒN GỐC
VÀ ĐIỀU KIỆN SINH THÁI CỦA CÂY QUÝT HƯƠNG CẦN TẠI XÃ PHONG CHƯƠNG, HUYỆN PHONG ĐIỀN,
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Văn Lâm Lớp: Cao đẳng khoa học cây trồng 47 Giáo viên hướng dẫn: ThS Trần Đăng Khoa
Bộ môn: Công nghệ rau hoa quả và cảnh quan
Huế, 2016
Trang 4TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HUẾ
KHOA NÔNG HỌC
BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
TÊN ĐỀ TÀI:
ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG PHÂN BỐ, NGUỒN GỐC
VÀ ĐIỀU KIỆN SINH THÁI CỦA CÂY QUÝT HƯƠNG CẦN TẠI XÃ PHONG CHƯƠNG, HUYỆN PHONG ĐIỀN,
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Văn Lâm Lớp: Cao đẳng khoa học cây trồng 47 Giáo viên hướng dẫn: ThS Trần Đăng Khoa
Bộ môn: Công nghệ rau hoa quả và cảnh quan Địa điểm thực hiện: Xã Phong Chương, Phong Điền Thời gian thực hiện: Tháng 11/2015
Huế, 2016
Trang 5Lời Cảm Ơn
Qua 3 năm học tập và rèn luyện tại trường Đại học Nông Lâm Huế, em đã học hỏi được nhiều kiến thức và kinh nghệm quý báu để tiếp bước hành trang trên cuộc đời.
Trước hết em xin chân thành cám ơn: Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Huế, ban chủ nhiệm khoa Nông học
và toàn thể các Thầy Cô giáo trong Khoa Nông học.
Được sự đồng ý của trường Đại học Nông Lâm Huế, khoa Nông Học và giáo viên hướng dẫn Em đã tiến hành đề tài
“Điều tra ngồn gốc, điều kiện sinh thái và hiệ trạng phân bố giống quýt của Hương Cần và Phong Điền tại tỉnh Thừa Thiên Huế”.
Để hoàn thành đề tài này em thật sự rất cám ơn Thầy Giáo “Trần Đăng Khoa” người đã hướng dẫn, chỉ bảo và giúp
đỡ em trong suốt quá trình thực tập Các thầy cô giáo trường Đại học Nông Lâm Huế, khoa Nông Học đã dạy bảo và truyền đạt cho em những kiến thức, kinh nghiệm quý báu trong những năm em học ở trường Với vốn kiến thức được tiếp thu trong quá trình học không chỉ là nền tảng cho quá trình nghiên cứu khóa luận mà còn là hành trang quý báu để tôi bước vào đời một cách vững chắc và tự tin.
Cuối cùng em xin bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình, bạn
bè đã ửng hộ và động viên tinh thần cho em trong suốt thời gian học tập.
Tuy đã cố gắng hết sức để hoàn thành khóa luận này nhưng vẫn không thể tránh khỏi những sai sót nhất định mà bản thân em vấp phải Rất mong nhận được những góp ý chân thành và quý báu của các thầy, cô và các bạn để khóa luận được hoàn chỉnh hơn.
Em xin chân thành cám ơn
Trang 6MỤC LỤC
PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1
1.2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI 2
1.3 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 2
1.3.1 Ý nghĩa khoa học 2
1.3.2 Ý nghĩa thực tiển 2
1.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 2
PHẦN 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
2.1 GIỚI THIỆU VỀ CÂY QUÝT 3
2.1.1 Nguồn gốc, phân loại 3
2.1.2 Đặc điểm thực vật học và hình thái 3
2.1.3 Những yếu tố ngoại cảnh ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của cây quýt 5
2.1.4 Tình hình sâu bệnh hại của cây quýt 6
2.1.5 Các giống quýt (Citrus reticulate blanco) 13
2.2 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ NGHIÊN CỨU QUÝT TRONG NƯỚC VÀ THẾ GIỚI 14
2.2.1 Tình hình sản xuất và nghiên cứu cây quýt trên thế giới 14
2.2.1.1 Tình hình sản xuất 14
2.2.1.2 Tình hình nghiên cứu 16
2.2.2 Tình hình sản xuất và nghiên cứu quýt trong nước 17
2.2.2.1 Tình hình sản xuất 17
2.2.2.2 Tình hình nghiên cứu 17
2.2.2.3 Một số giống quýt phổ biến ở Việt Nam 22
2.2.2.4 Tình hình nghiên cứu về cây quýt ở Thừa Thiên Huế 23
Phần 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
3.1 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU 25
Trang 73.1.1 Đối tượng nghiên cứu 25
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 25
3.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 25
3.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
3.4 PHƯƠNG PHÁP XỬ LÍ SỐ LIỆU 26
PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 27
4.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN CỦA THỪA THIÊN HUẾ 27
4.1.1 Vị trí địa lý 27
4.1.2 Điều kiện khí hậu Thừa Thiên Huế 27
4.1.3 Điều kiện địa hình, đất đai 29
4.1.4 Điều kiện tự nhiên huyện Phong Điền 31
4.1.4.1 Vị trí địa lý, giới hạn 31
4.1.4.2 Khí hậu thời tiết 33
4.2 HIỆN TRẠNG CÂY QUÝT HƯƠNG CẦN Ở PHONG CHƯƠNG 34
4.2.1 Nguồn gốc giống quýt Hương Cần 34
4.2.2 Điều kiện sinh thái đối với quýt Hương Cần 35
4.2.3 Điều kiện trồng trọt câyquýt Hương Cần tại Phong Chương 36
4.2.4 Các kĩ thuật canh tác áp dụng với quýt Hương Cần tại Phong Chương .37 4.2.5 Phòng trừ sâu bệnh hại cây quýt Hương Cần 38
4.2.6 Tình hình sử dụng bón phân cho cây quýt Hương Cần 39
4.2.7 Hiệu quả kinh tế của sản xuất cây quýt Hương Cần ở Phong Chương 40
PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 42
5.1 LẾT LUẬN 42
5.2 ĐỀ NGHỊ 42
TÀI LIỆU THAM KHẢO 43 PHẦN PHỤ LỤC VÀ MỘT SỐ HÌNH ẢNH
PHẦN KẾT QUẢ XỬ LÍ SỐ LIỆU
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Tình hình sản xuất cây có múi của một số nước trên thế giới năm 2013 14
Bảng 2.2 Sản lượng các loài cây có múi chính trên thế giới 15
Bảng 4.1 Các yếu tố thời tiết khí hậu trung bình giai đoạn 2013 - 2015 28
Bảng 4.2 Hiện trạng sử dụng đất ở Thừa Thiên Huế năm 2014 - 2015 30
Bảng 4.3 Nguồn gốc các giống quýt Hương Cần ở Phong Chương 34
Bảng 4.4 Điều kiện sinh thái đối với quýt Hương Cần 35
Bảng 4.5 Điều kiện trồng trọt cây quýt Hương Cần tại Phong Chương 36
Bảng 4.6 Các kĩ thuật canh tác áp dụng với quýt Hương Cần tại Phong Chương 38
Bảng 4.7 Số lần sử dụng biện pháp phòng trừ sâu bệnh trên cây quýt Hương Cần.39 Bảng 4.8 Tình hình sử dụng bón phân cho cây quýt Hương Cần ở Phong Chương 39 Bảng 4.9 Hiệu quả kinh tế của sản xuất cây quýt Hương Cần ở Phong Chương 40
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Hình 4.1 Bản đồ xã Phong Chương,huyện Phong Điền 33
Trang 10PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Cây quýt là cây ăn quả nhiệt đới đặc sản của Việt Nam, được trồng phổbiến từ Bắc chí Nam, từ đồng bằng, trung du đến miền núi Từ lâu trên đấtnước ta đã hình thành những vùng trồng quýt và nhiều giống quýt nổi tiếngnhư quýt vỏ vàng ở Lạng Sơn, quýt đường Hà Tĩnh,
Quýt là loài đặc sản quý, có giá trị dinh dưỡng cao Trái quýt vàng cóhình cầu dẹp ở hai đầu, đỉnh và đáy trái lõm, có từ 6 - 10 múi, mỗi múi có từ
0 - 4 hạt, vỏ có quả màu hồng đặc trưng rất đẹp và không có lớp vỏ trắng xốp.Mặt ngoài vỏ có lớp sừng chứa nhiều túi tinh dầu Thực phẩm này là rất thấptrong chất béo bão hòa, cholesterol và natri nên rất tốt cho tim mạch, nó cũngcung cấp cho cơ thể một hàm lượng xơ cao và các vitamin như Vitamin A vàVitamin C Phần lớn lượng calo của trái quýt đến từ đường, là những chất cầnthiết đối với sức khỏe con người Ngoài ra quýt còn là nguyên liệu côngnghiệp thực phẩm và được chế biến thành nhiều mặt hàng có giá trị
Quýt có tính thích nghi rộng với điều kiện sinh thái và khí hậu đất đai.Quýt có thể trồng được trên đất nghèo dinh dưỡng và có khả năng chống chịusâu bệnh tương đối tốt Nhìn chung, cây quýt dễ trồng, dễ chăm sóc, cho giá trịthu nhập cao, nhất là đối với các loại giống quýt địa phương có phẩm chất ngonngọt Với những giá trị nhiều mặt nên việc phát triển sản xuất quýt ở nước tatrong giai đoạn phát triển nông nghiệp hiện nay là một yêu cầu cấp thiết, kể cảviệc đưa cây quýt trở thành cây trồng xuất khẩu trong tương lai gần
Quýt Hương Cần là cây ăn quả đặc sản của tỉnh Thừa Thiên Huế, tồntại và phát triển lâu đời, không những là biểu tượng của nền văn hóa ẩm thực
Cố đô Huế mà còn đóng góp một phần kinh tế quan trọng cho nhiều hộ nôngdân trồng quýt trong tỉnh Diện tích của cây quýt ở Thừa Thiên Huế khá lớnchủ yếu tập trung ở các vùng phù sa được bồi đắp, đất có thành phần cơ giớinhẹ ven sông: Sông Hương, Sông Ô lâu, Sông Truồi…
Mặc dù, Quýt Hương Cần rất được người tiêu dùng ở nhiều nơi ưachuộng, nhưng hiện nay sản lượng còn thấp hơn nhiều so với nhu cầu của thịtrường Tuy nhiên, việc phát triển mở rộng diện tích trồng quýt thành vùng
Trang 11sản xuất lớn theo quy định của tỉnh còn gặp nhiều khó khăn, tốc độ phát triểnhàng năm còn chậm Mặt khác do các hộ nông dân còn thiếu vốn đầu tư để
mở rộng diện tích, trồng trọt lâu đời, không được đầu tư đúng mức, chịu ảnhhưởng nặng nề của thiên tai, dịch hại… nên giống đã có hiện tượng thoái hóa,năng suất và sản phẩm ngày càng giảm
Để cây quýt Hương Cần mãi là đặc sản của Thừa Thiên Huế và pháttriển thành sản phẩm hàng hóa có giá trị trên thị trường cả nước, cũng như tiếntới xuất khẩu, cần thiết phải có nghiên cứu tổng quan trên cơ sở phân tích đánhgiá thực trạng sản xuất hiện nay để có hướng mở rộng phát triển trong thời gian
tới Xuất phát từ những vấn đề trên chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Điều
tra hiện trạng phân bố, nguồn gốc và điều kiện sinh thái của cây quýt Hương Cần tại xã Phong Chương, Huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế”.
1.2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
Đánh giá được hiện trạng sản xuất, những tiềm năng, yếu tố thuận lợi,cũng như yếu tố hạn chế để đề ra định hướng việc phát triển của cây quýtHương Cần ở địa phương
1.3 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.3.2 Ý nghĩa thực tiển
Đáp ứng nhu cầu bức xúc của sản xuất, đặc biệt là xác định được vị trícủa cây quýt Hương Cần trong việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng nông nghiệptheo hướng sản xuất hàng hóa
1.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Đối tượng nghiên cứu là cây quýt Hương Cần
- Phạm vi nghiên cứu: Điều tra nguồn gốc, thực trạng sản xuất cây quýtHương Cần ở xã Phong Chương, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế
Trang 12PHẦN 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1 GIỚI THIỆU VỀ CÂY QUÝT
2.1.1 Nguồn gốc, phân loại
Cây quýt có tên khoa học là: Citrus reticulata Blanco
Họ : Ruteaceae
Họ phụ : Aurantoideae
Chi : Citrus
Chi Phụ : Eucitrus
Loài : Citrus clememtina
Nhiều kết quả nghiên cứu cho rằng cam quýt đang được trồng hiện nayđiều có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới Đông Nam Châu Á.Tanaka (1979) đã vạch đường ranh giới vùng xuất xứ của giống thuộc chiCitrus từ phía đông Ấn Độ qua Úc, miền nam Trung Quốc, Nhật Bản
Theo Trần Thế Tục, nghê trồng cam quýt ở Trung Quốc đã có từ 3000
-4000 năm trước; Hàn Ngạn Trực đời Tống trong “Quýt lục” đã có ghi chép vềphân loại các giống ở Trung Quốc Điều này khẳng định thêm về nguồn gốccác giống cam chanh và các giống quýt ở Trung Quốc theo đường ranh giớigấp khúc Tanaka
Nhiều tác giả cho rằng nguồn gốc quýt là ở miền nam Việt Nam Thực
tế ở Việt Nam ta từ bắc chí nam địa phương nào cũng có trồng cam sành vớirất nhiều vật liệu giống với các tên địa phương khác nhau mà không nơi nàotrên thế giới có: cam sành Bố Hạ, cam sành Hàm Yên, Yên Bái, cam sen YênBái, cam sen Đinh Cá - Bắc sơn, cam bù Hà Tĩnh [1]
2.1.2 Đặc điểm thực vật học và hình thái
Cho đến nay chưa có một tài liệu nào xác định cây quýt được trồng ởHuế từ khi nào Qua điều tra trong nhiều hộ gia đình sống liên tục nhiều đờitrên một khuôn viên của một dòng tộc thì có thể quýt được trồng ở Huế ít nhất
Trang 13cũng đã gần hai thế kỷ Là loại quýt thơm ngon, có thể nhân dân trước đâytrồng để phục vụ nhu cầu của vua chúa.
Quýt thuộc nhóm cây thân gỗ cao to, là cây ăn trái có giá trị kinh tế caonhất so với các loại cây ăn trái khác ở Thừa Thiên Huế Cây quýt thườngđược nhân giống bằng phương pháp chiết hoặc ghép
- Chiều cao cây: Qua điều tra chúng tôi nhận thấy cây quýt 4 - 5 tuổi cóchiều cao trung bình 1,5 m; cây từ 6 - 10 tuổi có chiều cao trung bình 3,2m; từ
11 - 15 tuổi cao khoảng 4,5 m; từ 16 - 20 tuổi cao khoảng 5 m và cây trên 20tuổi cao 5,91 m
Với điều kiện thời tiết khí hậu của tỉnh Thừa Thiên Huế, mưa nhiều gió
to nên tạo cho cây quýt có thân thấp, vừa dễ chăm sóc ( phun thuốc, cắt tỉa,thu hái ), vừa hình thành khung cành nhanh, khung khỏe thì cành không gãykhi quả nhiều, chống được bão, chống được gió to
- Đường kính tán: Quýt ở Thừa Thiên Huế có đường kính tán trungbình từ 2,29 m đến 2,96 m
- Đường kính gốc: Đường kính gốc tăng dần từ 5 tuổi đến 20 tuổi với
- Hoa quýt: Hoa cam quýt thuộc loại hoa đơn hay chùm, mọc từ nách
lá, thường là hoa lưỡng tính Trần Thế Tục nhận thấy mỗi hoa của nhóm camquýt biến động từ 3 - 7 cánh hoa, có màu trắng, ngoại trừở loài chanh có màutím ở phía ngoài Hoa đơn thường chỉ có một hoa ở đầu cành Nhóm hoachùm trên cành ở mỗi nách lá có 1 hoa và trên ngọn cành có 1 hoa, thôngthường có từ 3 - 7 hoa trên một cành, một số cành hoa không có lá, một chùm
có 3 - 5 hoa Randhawa cho rằng phát hoa của nhóm cam quýt thuộc dạngchùm, hoa đính trên cuống hoa Hoa lúc trổ có chiều dài từ 1,3 - 1,5 cm, lá đài
9 có 5 lá dạng giống như cái ly lúc chưa chín thành thục, nụ hoa có dạng tròn,phía đầu của lá đài bao quanh bộ phận hoa bên trong và mở ra khi tràng hoa
Trang 14kéo dài ra Tràng hoa có 5 cánh hoa màu trắng luân phiên với các lá đài, cánhhoa dày, gắn xen kẽ với nhau Nhị đực có khoảng 20 - 40 chỉ nhị màu trắng,chúng dính nhau một phần, mỗi chỉ nhị mang một bao phấn có 4 ngăn màuvàng, bao phấn bao quanh gần hoặc ngang với nướm của nhụy cái Hoa tiết ramùi thơm qua đường khí khổng Nướm nhụy có khả năng nhận hạt phấn trướcmột hoặc vài ngày trước khi bao phấn vỡ, trong một số trường hợp nướmnhụy có thể nhận hạt phấn trước từ 6 - 8 ngày.
Đặc điểm trái: Trái được tăng trưởng và phát triển từ bầu noãn, baogồm một số tâm bì, trái cam quýt có trên 8 tâm bì, chúng sắp xếp quanh lõi.Theo mối quan hệ tiến hoá, tâm bì được xem là lá, được thay đổi theo hướngđứng dọc, bìa lá uốn cong lại thành trục giữa, do đó sẽ thành lập múi, trongmúi có hột và túi chứa nước hay con tép phát triển Màu sắc của vỏ trái camquýt thay đổi tuỳ theo giống và tùy thuộc vào điều kiện sinh thái Có loại vỏ
có màu xanh, hơi có vệt vàng như các giống trồng ở vùng nhiệt đới điển hình
là ở miền Nam nước ta Mặt ngoài vỏ có lớp tế bào sừng và có rất nhiều túitinh dầu để bảo vệ Lớp giữa vỏ ngoài và múi là lớp vỏ trắng xốp, vỏ 10 trái
có thể dễ tách khỏi thịt trái như quýt, nhưng cũng có khi rất khó tách TheoGoldschmidt vỏ trái cam quýt bao gồm phần bên ngoài có màu sắc gọi làngoại quả bì chứa lớp cutin và một vài tế bào nhu mô dày, phía trong củangoại quả bì có chứa nhiều túi tinh dầu Trong giai đoạn đầu phát triển trái,ngoại quả bì có màu xanh đậm và chiếm từ 60 - 90% thể tích trái Khi trái gầnchín diệp lục tố dần dần biến mất và lục lạp chuyển thành sắc lạp giàu thểcarotene và ngoại quả bì trở nên mỏng hơn [17]
2.1.3 Những yếu tố ngoại cảnh ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của cây quýt
*Nhiệt độ: Cây quýt có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới nóng ẩm, vì vậy
chúng ưa khí hậu ấm, nhưng do có phạm vi phân bố rộng, cho nên một số loàichịu được nhiệt độ thấp Phần lớn cam quýt sinh trưởng trong phạm vi nhiệt
độ 12 - 39OC Quýt sinh trưởng thích hợp nhất ở nhiệt độ 25 - 27OC Một sốloài có thể chịu được nhiệt độ - 50C trong thời gian ngắn Quýt Unshiu chỉ bịhại chết khi nhiệt độ xuống đến -110C, cam Oasinhton Navel bị hại khi nhiệt
độ không khí - 90C Những giống thích ứng với điều kiện nhiệt độ thấpthường có phẩm vị ngon, hấp dẫn, mã quả đẹp Ở nhiệt độ 400C với thời giankéo dài nhiều ngày, cây ngừng sinh trưởng, lá rụng, cành bị khô héo Tuy vậy,
có những giống chỉ bị hại khi nhiệt độ không khí lên đến 50 - 57oC nhìn
Trang 15chung những vùng có nhiệt độ bình quân hàng năm > 170C có thể trồng camquýt Ở Việt Nam trừ một số vùng có sương muối kéo dài, còn các vùng khácđều có thể phù hợp với cây cam.
* Ánh sáng: Cây quýt thích hợp với ánh sáng có cường độ 10.000
-15.000 lux (tương ứng với 16 - 17h trong ngày mùa hè ở nước ta), quýt ưaánh sáng tán xạ, không ưa ánh sáng trực xạ Nhưng không nên trồng dưới cácbóng cây to, bởi vì trong điều kiện này quýt thường bị nhiều loài sâu bệnh gâyhại Muốn có ánh sáng tán xạ cho chúng cần bố trí mật độ trồng dày hợp lý vàvườn quýt cần bố trí những nơi thoáng và tránh nắng Đặc biệt ở các vùngđồng bằng sông Hồng, trung du và miền núi phía Bắc nước ta cần chú ý đếnđiều này vì các vùng này sâu bệnh thường gây hại nặng cho cam quýt Cácgiống quýt khác nhau có yêu cầu khác nhau về ánh sáng: Cam cần nhiều ánhsáng hơn quýt, quýt cần nhiều ánh sáng hơn chanh
* Nước: Quýt là giống cây ăn quả có đặc tính ưa ẩm và kém chịu hạn.
Phần lớn các loài có nhu cầu nước cao vào thời kỳ nảy mầm, phân hoá mầmhoa, kết quả và quả phát triển Cam, quýt ưa ẩm nhưng lại rất sợ úng Vàomùa mưa, đất bão hoà nước nên thiếu oxy làm cho bộ rễ hoạt động kém,nhiều rễ bị chết, thối làm cho lá và quả non rụng nhiều, giảm tỷ lệ đậu quả.Lượng mưa thích hợp cho vùng trồng cam quýt là 2000 mm/năm Quýt cầnnhiều lượng nước hơn cam, cần lượng mưa từ 1500 - 2000 mm/năm Thíchhợp cho cam, quýt là lượng nước tự do trong đất là 1%, độẩm đất ở mức 60%độẩm bão hoà đồng ruộng Độẩm không khí thích hợp là 75 - 80% Thời kỳquả đang phát triển, độẩm không khí cao làm cho quả lớn nhanh, phẩm chấtquả tốt, mã quả đẹp Nhưng vào tháng 8 - 9 độẩm cao thường gây ra hiệntượng quả nứt, một số quả bị rụng Nếu đủẩm trong mùa hè và hạn nhẹ từtháng 12 đến tháng 2 năm sau hoa quả sẽ phân hoá nhiều Tháng 3 - 4 khô hạnlàm giảm số lượng quả trên cây Cam, quýt sinh trưởng tốt khi có độẩm vàlượng nước đạt theo yêu cầu và phân bố đều các tháng trong năm
2.1.4 Tình hình sâu bệnh hại của cây quýt
* Sâu vẽ bùa (Phyllocnistis citrella Stainton):
+ Sâu đục dưới lớp biểu bì lá thành những dường ngoằn ngoèo Sự pháhại của sâu làm cho lá co cúm, quăn queo, hạn chế quang hợp.Ngoài ra, cácvết thương do sâu to nên trên lá, chồi tạo điều kiện cho bệnh loét phát triển
Trang 16+ Biện pháp phòng trừ: Chăm sóc cho cây sinh trưởng tốt, thúc cho cácđợt ra lộc tập trung, chóng thành thục có thể hạn chế được phá hại của sâu.Dùng các loại thuốc nội hấp thư cymbush 8cc/bình 8 lít nước, Bi 58 nồng độ0,1 %, Lannate 20g/bình 8 lít nước.
* Rầy mềm (Toxoptera sp):
+ Thường chích hút nhựa ở đầu ngọn làm chồi và lá non không pháttriển được, co rúm lại, đồng thời phân của chúng thải ra tạo điều kiện cho nấm
bồ hóng cộng sinh và phát triển Rầy mềm còn là môi giới truyền bệnh
Triste-za trên cây có múi.
+ Phòng trị: Phun thuốc định kỳ các đợt lộc của cây như: Supracide40EC (10-15 cc/bình 8 lít), Polytrin P 440EC (8-15cc/bình 8 lít)
* Rầy chổng cánh (diaphorina citri Kuwayama):
- Tác hại của rầy chổng cánh:
+ Là côn trùng truyền bệnh vàng lá greening trên cam quýt
+ Trực tiếp gây hại bằng cách chích hút trên đọt non,làm đọt non bịchết.Tập quán sinh song của rầy chổng cánh
+Gây hại trên tất cả các cây tronghọ cam quýt như: Cam: cam mật, camdây,… Quýt: Quýt đường, quýt tiều
+ Di chuyển từ nơi nầy đến nơi khác chủ yếu nhờ gió
+ Bị hấp dẫn bởi màu vàng và vàng nâu
+ Xuất hiện nhiều vào lúc cây ra đọt non
- Thiên địch của rầy chổng cánh Rầy chổng cánh có thể bị hại bởi một
so thiên địch ngoài tự nhiên như bọ rùa, ong ký sinh và nấm
Trang 17+ Thường xuyên thăm vườn để phát hiện ấu trùng và rầy trưởng thành
để tiêu diệt kịp thời, nhất là những giai đoạn cây ra đọt non hoặc sau nhữngcơn giông lớn
+ Nhổ bỏ những cây bị bệnh vàng lá trong vườn đem tiêu hủy đẻ loạitrừ nguồn bệnh lây lan sang những cây khỏe Trước khi hủy, xịt thuốc để loạitrừ rầy chổng cánh bay sang các cây khác lân cận đó
+ Bảo vệ và tạo điều kiện cho các loài thiên địch phát triển bằng cáchphun thuốc hợp lý
- Phun thuốc:
+ Khi cây ra đọt non 1-2 cm
+ Sau những cơn giông mạnh có thể đưa rầy từ nơi khác đến
+ Phun tập trung vào các đợt đọt non
+ Dùng các loại thuốc như: Applaud 10wp 8g/bình 8 lít nước Applaudmipc 12g/bình 8 lít nước Trebon 10EC 8cc/bình 8 lít nước Bassa 50EC16cc/bình 8 lít nước
* Nhện đỏ (Tetranychus sp):
- Cả ấu trùng và thành trùng đều rất nhỏ, màu nâu, vànglợt hoặc trắngtrong tùy loại, thường bu chích hút bên ngoài vỏ trái non khoảng 1-2 thángtuổi, ít khi trái bị rụng nhưng thường làm cho vỏ trái sần sùi như cám, nênthường gọi là trái da cám, làm giảm giá trị thương phẩm
- Phòng trị: phun các loại thuốc đặc trị nện đỏ như Bi 58,Danitol
- Bệnh vi khuẩn Tristeza do tác nhân gây hại Virus gây bệnh là
Closterovirus có dạng sợi dài với kích thước 11 x 2.000 µm (BarJoseph và
ctv., 1979) Rầy mềm là môi giới truyền bệnh Tristeza trên cây có múi Viruskhông truyền qua cơ giới nhưng có thể truyền qua chiết ghép
- Khả năng gây hại: Triệu chứng bệnh xuất hiện khác nhau trên cây cómúi tuỳ theo giống, dòng virus nhiễm, tiêu biểu nhất là gây gân trong, cây bịlùn, cả thân và nhánh cây bị lõm nặng khi bóc vỏ khỏi thân Từ đó, làm giảmnăng suất và kích thước trái, cành trở nên giòn và dễ gãy Trên quýt đường,khi trái đạt kích thước bằng trái pingpong thì bị vàng từ phần đít lên cuốngtrái, trái rụng hàng loạt, gây thất thoát nặng cho nhà vườn
Trang 18- Phần lớn các cây có múi đều nhiễm Tristeza Ở ĐBSCL, bệnh Tristezanhiễm trên cây chanh Giấy Lộ triệu chứng gân trong, một số cây chanh Tàu Lộtriệu chứng lõm thân, cây quýt Đường bị vàng nửa dưới của trái sau đó rụngnhiều, có thể lên đến 50% số trái trên cây.
* Bệnh vàng lá Greening (vi khuẩn gram âm Liberobacter asiaticum).
Điều kiện phát sinh, phát triển Vi khuẩn gây hại sống trong mạch libecủa cây, lan truyền qua mắt ghép hay do rầy chổng cánh Vi khuẩn gây xáotrộn sinh lý, làm tắt nghẽn quá trình vận chuyển dinh dưỡng Do đó, làm thiệthại đến năng suất, phẩm chất trái Bệnh không có giống kháng Ngoài cây cómúi, vi khuẩn còn nhân mật số tốt trong cây dừa cạn (Catharanthus roscus),dây tơ hồng (Cuscuta spp.) Khả năng gây hại Bệnh xuất hiện quanh năm.Triệu chứng điển hình của bệnh là lá vàng lốm đốm là điển hình nhất củabệnh (chứa nhiều vi khuẩn) song các triệu chứng đi kèm như vàng lá gân xanh(thiếu kẽm), vàng lá thiếu Mangan cũng dể dàng tìm thấy Cần lưu ý gân lávẫn xanh, trong khi nếu lá vàng gân vàng thì lại điển hình hơn của bệnh donấm Phytopthora
- Biện pháp quản lý: Loại bỏ cây đã nhiễm bệnh, cây ký chủ của rầy(cây nguyệt quới, dây tơ hồng) sau khi đã phun thuốc trừ rầy
+ Trồng cây giống sạch bệnh, cách ly nguồn nhiễm bệnh, trồng thưa và
có cây chắn gió bảo vệ
+ Sử dụng thuốc có hoạt chất như Pymetrozin…Phun định kỳ bảo vệcác đợt lá non, nhất là vào mùa Xuân, hay đầu mùa mưa vì rầy luôn chọn cácđọt non để đẻ trứng
* Bệnh nứt gốc chảy mủ (Phytopthora sp.)
Điều kiện phát sinh, phát triển Bệnh thường gây hại nặng cho nhữngvườn canh tác lâu năm, thường xuyên bị ngập úng, điều kiện vệ sinh vườnkém, mật độ trồng dày, ít được bón phân hữu cơ… 3 Khả năng gây hại Banđầu, vết bệnh làm cho vỏ của thân cây ở vùng gốc bị úng nước, thối nâu thànhnhững vùng bất dạng Sau đó khô, nứt dọc và chảy mủ, vỏ cây bong ra, phần
gỗ nằm bên dưới chỗ bị bệnh bị thối nâu, vết bệnh cứ lan rộng dần ra xungquanh, lan xuống đến cả bộ rễ, bộ rễ ít rễ tơ, rễ ngắn với phần vỏ bị thối rất dễ
bị tuột ra khỏi rễ (nhất là rễ con) Do không hút được nước và dinh dưỡng đểnuôi cây nên bộ lá bị vàng và rụng dần, không mọc được lá non, các cànhvượt và cả cành lớn bị chết dần, cây bị xơ xác, dần dần cả cây bị chết Bệnh
Trang 19còn làm cho trái bị thối nhất là những trái ở thấp gần mặt đất.
+ Vệ sinh sạch sẽ vùng gốc, không tủ cỏ rác rơm rạ xung quanh, khôngtạo vết thương cơ giới cho vùng rễ và vùng thân gần gốc
+ Khi phát hiện cây chớm bị bệnh có thể dùng thuốc có hoạt chấtMetalaxyl để phun xịt lên cây và tưới gốc
+ Ở cây mới bị thối vỏở thân, gốc và rễ cái cần cào hết đất quanh gốccho thông thoáng Cạo sạch vết bệnh rồi quét dung dịch thuốc có hoạt chấtMetalaxyl Sau một thời gian vết bệnh sẽ lành, vỏ cây sẽ tái sinh
* Bệnh ghẻ nham (Sphaceloma fawcettii)
- Điều kiện phát sinh, phát triển Vết bệnh tạo thành nốt ghẻ trên láthường nhô cao ở một mặt của phiến lá Chúng có màu xám nhạt, nhiều vếtnhỏ thường liên kết lại làm cho lá bị nhăn nheo biến dạng, cây kém phát triển
và cằn cỗi Khả năng gây hại Bệnh thường tấn công trên các chồi non, bệnhthường phổ biến trong vườn ươm ở mỗi đợt cây ra chồi non làm ảnh hưởngđến sự phát triển của cây cũng như giá trị thương phẩm của trái
- Biện pháp quản lý
+ Tỉa bỏ các bộ phận bị nhiễm bệnh nặng và tiêu hủy
+ Kiểm soát bệnh bằng chế độ phun thuốc định kỳ mỗi khi cây ra đọtnon bằng các loại thuốc có hoạt chất Azoxystrobin, hay hỗn hợp(Mandipropamid + Chlorothalonil)…
* Vàng lá thối rễ (Phytophthora spp., Rhizoctonia solani, Sclerotium
spp., Fusarium spp.)
Trang 20Điều kiện phát sinh, phát triển Bệnh quan trọng và phổ biến ở hầu hếtcác vườn ươm, chúng có thể tấn công ở giai đoạn các tử diệp chưa nhô ra khỏi
vỏ hạt và giai đoạn lúc tử diệp bắt đầu xuất hiện nhưng phổ biến nhất là từ lúccây có đôi lá đầu tiên đến khi cây có đôi lá thứ 3 Đôi khi cây cũng có thể bịtấn công ở giai đoạn muộn hơn Điều kiện ẩm độ cao của đất là yếu tố thíchhợp nhất để cho bệnh phát triển và lây lan Bệnh này có thể xảy ra trên rấtnhiều loại cây trái khác nhau Khả năng gây hại Vết bệnh thường xuất hiện ởphần gốc gần mặt đất Phần mô bị bệnh hơi lõm vào, có màu nâu, sũng nước
và lây lan rất nhanh Khi vết bệnh lan rộng, cây con thường bị ngã rạp Bộ rễcủa cây thường bị thối đen Bệnh thường xuất hiện từng cụm trên líp ươm,sau đó lan nhanh sang xung quanh Đối với những cây bị tấn công muộn cây
bị héo nhưng vẫn đứng chứ không bị ngã rạp như khi bị tấn công sớm
- Biện pháp quản lý Phòng bệnh là chủ yếu Hạt trước khi gieo cần xử
lý bằng nước nóng 52-540C thời gian tùy thuộc từng loại hạt Những hạt có vỏcứng, dày thời gian xử lý phải dài hơn Hoặc xử lý bằng các thuốc có hoạtchất Metalaxyl, Thiophanate - Ethyl… cho hạt trước khi bảo quản và gieotrồng Đất gieo trong vườn ươm cũng cần được xử lý trước khi gieo bằngFormalin xông hơi với vải bạt đậy bên ngoài trong 3 ngày hoặc dùng thuốc cóhoạt chất Metalaxyl để xử lý đất Sau đó phun thuốc lên cây con ở giai đoạnsau khi nảy mầm cho đến khi cây cao 15-20cm Duy trì độ ẩm thích hợp chovườn Đất tơi xốp không bị úng nước; Đảm bảo mật độ gieo trồng vừa phải;Nước tưới phải sạch; Dụng cụ chăm sóc phải được khử trùng với nước Javel;Nhà lưới phải có 2 cửa và bồn khử trùng giày dép bên ngoài
* Bệnh loét vi khuẩn (Xanthomonas campestris)
Điều kiện phát sinh, phát triển Ban đầu vết bệnh là những đốm chấmnhỏ màu vàng trong, sau đó đậm dần rồi hoá nâu, gồ ghề trên bề mặt Xungquanh vết bệnh có 1 quầng vàng rõ rệt, các vết bệnh có thể rời rạc hoặc kếtdính lại tạo thành một mảng lớn trên bề mặt lá Kích thước của vết bệnh thayđổi tùy theo mức độ mẫn cảm của giống Bệnh phát triển mạnh trong mùamưa, ẩm độ cao Tốc độ lây lan khá nhanh qua nước mưa, nước tưới Khảnăng gây hại Đây là một loại bệnh cũng khá phổ biến và nghiêm trọng chocây có múi ở mọi giai đoạn Bệnh thường xuất hiện trên lá làm rụng lá Đôikhi bệnh xuất hiện trên thân non làm khô cành và chết ngọn
Trang 21+ Xử lý đất và vật liệu trồng trước khi gieo.
+ Đối với hạt, mắt ghép có thể xử lý bằng dung dịch 350 ml nướcJavel/3 lít nước sạch trong 20 phút hoặc xử lý bằng nước nóng ở 52oC trong
20 phút Phun định kỳ bằng các loại thuốc gốc đồng khi cây ra đọt non Điềukiện phát sinh, phát triển Bệnh thán thư phát triển mạnh trong điều kiện thờitiết mưa nhiều, ẩm độ cao, khi cây ra đọt và lá non nhiều Trường hợp cây rahoa vào mùa khô, lúc này tuy lượng mưa ít nhưng ban đầu vẫn có những đợtsương ẩm nhiều cũng là điều kiện thích hợp cho bệnh phát triển nhiều lên vàgây hại nặng thêm
- Khả năng gây hại
+ Bệnh tạo thành các đốm bệnh có màu nâu cam trên cánh hoa, làmrụng hoa để lại cuống, đài hoa
+ Trên trái bưởi vết bệnh là những đốm nhỏ, tròn, vàng nhạt, sau lớndần có màu nâu đậm, vết bệnh hơi lõm vào, vết bệnh có thể bị nứt ra, trên vếtbệnh có những vòng đồng tâm là những bào tử nấm màu đen
- Bệnh thán thư trên chanh làm ảnh hưởng đến hoa, lá non và trái, vếtbệnh ban đầu là những đốm nhỏ màu vàng nâu, sau lớn dần, xung quanh viềnnâu đậm, giữa vết bệnh màu nâu đậm vết bệnh biến động từ nhỏ đến lớn, trênvết bệnh có nhiều bào tử nâu đen tạo thành những vòng đồng tâm, lá và tráithường bị rụng, trơ và khô đầu cành
- Biện pháp quản lý
+ Cắt tỉa, loại bỏ cành nhiễm bệnh, tạo thông thoáng
+ Phun thuốc vào giai đoạn hoa, phun ngừa vào giai đoạn chuẩn bị rahoa và trước khi mùa mưa đến bằng các loại thuốc có hoạt chất nhưAzoxystrobin, Metalaxyl hay các hỗn hợp (Mandipropamid + Chlorothalonil)
… [15] [16]
Trang 222.1.5 Các giống quýt (Citrus reticulate blanco)
* Cam đường canh
Cam đường Canh là một giống quýt, nhưng nhân dân ta vẫn quen gọi làcam Theo điều tra nghiên cứu của chúng tôi ở khắp các địa phương trongnước đều có trồng giống này, có nơi gọi là cam giáy vì nó có vỏ mỏng và dai.Tên giống được gọi theo tên địa phương có trồng và chọn lọc Các dạng hìnhtrong cam đường gồm quýt đường Hã Tĩnh, quýt Vân Nam, quýt đườngQuảng Đông trước đây ở Hà Nội người ta trồng nhiều ở làng Canh Diễn,ngày nay được phổ biến khắp các huyện ngoại thành, ở Canh Diễn chỉ cònmột vài gia đình trồng quýt này: cây sinh trưởng khỏe, ít gai hoặc không cógai, cây phân cành mạnh cành nhỏ có dạng hình lá to hoặc lá nhỏ nhưng hìnhthái giống nhau: mép lá gơn sóng dài, đuôi lá nhọn và dài, gần như không có
eo lá, quả hình cầu dẹt, vỏ mỏng nhẳn, ít túi dầu tinh, túi nhỏ, khi chín có màu
đỏ gấc giống chín sớm có màu vàng, đa số chín vào trước Tết Nguyên Đán
* Quýt Tích Giang
Là một giống quýt sinh trưởng khỏe, năng suất cao Giống trồng nhiều
ở Hải Hưng (quýt tiến), Sơn La, vùng Phúc Thọ - Hà Tây mấy năm gần đâytrồng nhiều nhất ở xã Tích Giang nên gọi là quýt Tích Giang Đây cũng làmột trong những giống quýt được phổ biến nhiều ở Quảng Đông (TrungQuốc) Cây phân cành thấp, cành nhiều, mọc khỏe và thẳng, dài, đốt ngắnkhông có gai, lá quýt Tích Giang dày, thuôn dài, eo lá nhỏ, mép lá có răng cưnông, bước răng dài, đuôi lá chẻ lõm
* Quýt vỏ vàng Lạng Sơn
Phần lớn các cây có gai và gai dài, cây mọc thẳng và cao, phân cànhnhiều và nhỏ, lá giống lá quýt Tích Giang nhưng nhỏ và dài hơn, túi tinh dầunhiều, mùi thơm đặc biệt mạnh, khác hẳn hai giống quýt ở trên Vỏ quýtmỏng giòn, rất nhiều túi tinh dầu: thịt quả mọng nước, vách múi mỏng, ít hạt,hương vị thơm ngon, hấp dẫn, ngọt đậm hơi có vị chua Giống có tính chốngchịu tốt với điều kiện đất đai, khí hậu ở vùng Lạng Sơn, Bắc Thái, Hà Giang,Tuyên Quang, Cao Bằng
* Cam Sành (citrus nobilis Lour)
Cam sành là một giống lai giưa cam và quýt, có nguồn gốc ở miền namViệt Nam Người ta đã đặt tên cho cam sành là quýt kinh để nói lên phẩm chất
Trang 23của giống này là rất ngon Ở Việt Nam cam sành được trồng ở tất cả các vùngtrồng cam quýt có tiếng trong nước Sản lượng cam sành ở miền nam nhiềuhơn Ở miền Bắc cam sành thương mang tên các địa phương trồng nhiều, đángchú ý là các vùng cam sành Hàm Yên, Bắc Giang, Cam sành sinh trưởng khỏe,phân cành hướng ngọn, cành mập và thưa, có thể có gai hoặc không có gai: lá
to, dày màu xanh đậm phản quang, eo lá to, răng cưa trên mép lá thưa và nông,phiến lá hay cong lại, túi tinh dầu nổi Tính chống chịu của cam sành với điềukiện ngoại cảnh và sâu bệnh hại ở mức trung bình [6] [8] [9] [13]
2.2 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ NGHIÊN CỨU QUÝT TRONG NƯỚC
Ý (41993), Bờ Biển Ngà (144375 tấn), Kazakhstan (140000 tấn), Jordan (0tấn), Kyrgyzstan (240000 tấn)…
Bảng 2.1 Tình hình sản xuất cây có múi của một số nước trên thế giới
Trang 24Bảng 2.2 Sản lượng các loài cây có múi chính trên thế giới
Các loại quả 79-81 1990 1991 1992 1993 1994Cam 38697 46200 54935 57469 57758 58735
Tổng Cộng 560284 64900 76179 79390 80058 81253
Nguồn: Lê Văn Tịnh, Lê Mỹ Xuyên 1995 (nghìn tấn)
Theo Trần Thượng Tuấn (1994) cho thấy trên thế giới có 49 nước trênthế giới sản xuất cam quýt, có diện tích trồng khoảng 2,8 triệu ha Trong năm1987-1988 sản lượng cam quýt trên thế giới đạt khoảng 61 triệu tấn trong đó
có cam 42,2 triệu tấn, quýt 8,4 triệu tân, chanh 5,5 triệu tấn, bưởi 4,5 triệu tấn,các loài khác là 0,4 triệu tấn Như vậy sản lượng quýt chiếm 13,77% sảnlượng cây có múi
Tại Trung Quốc quýt được trồng nhiều ở các tỉnh Quảng Tây, VânNam, Quảng Đông, Tứ xuyên, Hồ Nam, Triết Giang… Ở Thái Lan quýt đượctrồng nhiều ở các tỉnh miền Trung, một phần miền Bắc và miền Đông Năm
1987 diện tích quýt của Thái Lan là 15.000 ha đạt sản lượng 76.275 tấn vớigiá trị 2,8 triệu USD
Philippin là nước sản xuất nhiều cây ăn quả có múi quýt chiếm 41% vàcam chiếm 11%.Theo Trần Thế Tục năm 1987 Philippin có 4.400 ha quýt sảnlượng 34.735 tấn, với giá trị gần 80 triệu Pê xô
Ở Nam Mỹ có Achentina là nước trồng nhiều quýt hơn các vùng Sảnxuất chủ yếu để chế biền Năm 1960 sản lượng là 4.800 tấn và đến năm 1970sản lượng đã lên đến 13.000 tấn Ở Uruguay người sản xuất và người tiêudùng ngày càng để ý đến quýt dù đôi khi bị các bệnh thôi rễ nhưng năng suấtvẫn đạt 45 tấn/ha Khi cây ở độ tuổi 10-15 năm năng suất tăng lên đến 60 tấn/
ha Theo Trần Thế Tục hội nghị tháng 12 năm 1994 về nhóm cây ăn quả ítphổ biến của 13 nước trong khu vực Đông Nam Á đã thảo luận và đi đến nhấttrí xếp cây quýt vào đối tượng được nghiên cứu hàng đầu trong hàng chục cây
ăn quả ít phổ biến trong khu vực như sầu riêng, măng cụt, mít, táo gai, ổi, me,
Trang 25khê… chắc chắn trong tương lai quýt sẽ được tăng lên về sản lượng và diệntích trên khu vực Đông Nam Á.
2.2.1.2 Tình hình nghiên cứu
Đi đôi với sản xuất, cây bưởi được các nhà nghiên cứu quan tâm đầy đủ
về các lĩnh vực như giống, gốc ghép, phân bón, phòng trừ sâu bệnh, chế biếnbảo quản
* Những nghiên cứu về giống:
Sanunt đã báo cáo tóm tắt về xu hướng phát triển của cây ăn quả cómúi trên thế giới là sử dụng nhiều phương pháp để phát triển các giống mới.Một số giống chủ yếu đã được mô tả, tác giả đã đề cập đến các giống quýt cótriển vọng phát triển tốt như Thái Lan 3 giống, Trung Quốc 3 giống vàIndonesia 5 giống Ngoài ra có khoảng 6 giống quýt là những giống có nguồngốc từ cây lai cũng được mô tả
Cây có múi ở Thái Lan rất phong phú Theo Ratanadros Thái Lan có
328 giống cây trong loài cây có múi đã được thu nhập từ 32 tỉnh trong thờigian từ năm 1981-1983 Hầu hết các giống đang được bảo tồn trong ngânhàng quxy gen trường Đại học campus Một số giống được bảo vệ trong nhàlưới tại khoa bảo vệ thực vật trường Đại học Chulalong Korn Tất cả cácgiống có nguồn gốc từ Thái Lan và một số nước Đông Nam Á
Cải tiến giống gốc ghép bằng cách lai tạo cũng đã được dùng ở cây cómúi Quýt lai với một số loài khác trong Citrus tạo ra những gốc ghép theo ýmuốn của con người Chẳng hạn ởẤn Độ người ta dùng quýt lai là gốc ghépsinh trưởng khỏe nhất và sau đó quýt lai với P.trifoliata
* Nghiên cứu về sâu bệnh, khả năng chống chịu và các công dụng khác
Bệnh chảy gôm ở cây ăn quả có múi do nấm Phytophthora citropthora
và Macraphoma mantega ziana được nghiên cứu từ năm 1965 - 1984 tại các
vùng khác nhau ở Grudia thuộc Liên Xô cũ
Sự phá hoại của nấm phytophthora citrophthora và P.parasitica đối với
rẽ cây có múi được tác giả thí nghiệm ở các nhiệt độ khác nhau và nhận xét:
nấm Phytophthora tràn vào phá hoại ở nhiệt độ 9-20 độ C, nấm Phytophthora
parasitica phá hoại ở nhiệt độ 12 - 330C
Trang 26Quýt là cây ăn quả đồng thời cây chữa bênh rất tốt, chúng có giá trịlớn trong việc chữa các bệnh như mụt nhọt, thiếu máu, vàng da, viêmphổi… [1] [2] [6]
2.2.2 Tình hình sản xuất và nghiên cứu quýt trong nước
2.2.2.1 Tình hình sản xuất
Đất đai khí hậu nước nước ta cho phép sản xuất nhiều loại cây ăn quảquý, nhưng đến nay nghề trồng cây ăn quả vẫn chưa phát triển, sản lượng cònthấp Năm 1990 diện tích trồng cây ăn quả của cả nước là 281.200 ha, tổngsản lượng trên 3 triệu tấn Trong đó chuối chiếm 83 ngàn ha, sản lượng1.268.000 tấn Dứa 44.000 ha, sản lượng 468.000 tấn Cam quýt 19.000 ha,sản lượng 119.000 tấn Trung bình mỗi người dân Việt Nam một năm mới bổsung được 20-30 kg quả, còn thấp hơn nhiều so với trung bình thế giới (50kg/người/năm) và ở các nước phát triển ( trên 100kg/người/năm)
Thực trạng phát triển cây ăn quả vùng Đông Bắc, Bắc Bộ theo VũThiện Chính diện tích trồng quýt năm 1993 ở vùng này là 2.455 ha, diện tíchcho sản lượng là 560 ha, năng suất là 95,8 tạ/ha sản lượng 14.948 tấn ( gồmcác tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Thái, QuảngNInh), trong đó diện tích trồng chủ yếu là ở Hà Giang chiếm 60,9% diện tíchcủa vùng Theo Đỗ Đình Ca năm 1993 diện tích trồng cam quýt ở Bắc Quang,
Hà Giang: cam Sành 1.023ha, cam Chanh 115 ha, quýt 260 ha, chanh 44,4 ha,bưởi 15 ha NHư vậy vùng này chủ yếu là trồng quýt
Nhìn chung cây quýt ở đây rất đa dạng và phong phú, hiện nay nước ta
có khoảng 100 giống quýt được trồng rãi rác khắp nơi Quýt không đượctrồng tập trung mà chỉ trồng trong vườn các hộ gia đình Diện tích trồng quýtnhiều hơn các loại bưởi va cam khác Quýt chưa trở thành hàng hóa thươngmại như trên thế giới, chủ yếu tiêu thụ nội địa và chỉ có các vùng nội địa hạnhẹp nhất định Theo ước tính diện tích trồng quýt của nước ta hiện nay trên4.000 ha, sản lượng hàng năm khoảng 25.000-30.000 tấn, chiếm khoảng 6-7%sản lượng cây ăn quả có múi
2.2.2.2 Tình hình nghiên cứu
Cùng với sự sản xuất quýt, ở nước ta hiện nay cũng đã có một số côngtrình nghiên cứu về quýt, nhưng nhìn chung được nghiên cứu ít hơn về cácloài cây ăn quả khác Điều tra giống cây có múi của vùng Bắc Quang, HàGiang của Đỗ Đình Ca cho thấy ở vùng này có 16 giồng trong đó có 1 giống
Trang 27cam, 10 giống quýt, 3 giống bưởi, 2 giống chanh Điều tra, thu thập một sốgiống cam quýt tại vùng trung du miền núi phía Bắc của Nguyễn ĐÌnh Tuệ,
đã thu thập được 23 giống trong đó có 13 giống quýt, 3 giống cam, giốngbưởi và 2 giống cam Sành Điều tra quỹ gen cam quýt ở vùng khu 4 của LêQuang Hạnh: trong 2 đợt điều tra, tá giả thu thập được 45 giống trong đó có
23 giống trấp Như vậy vùng này quýt là loài có nhiều giống hơn các giốngcây ăn quả khác
Tuyển chọn giống cây ăn quả có múi ở nước ta là một công việc cầnthiết song những năm qua còn rất ít Kết quả bước đầu tuyển chọn được một
số giống cam ưu tú trong sản xuất tại các nông trường, số lượng cây tuyểnchọn được là cam Vân du 53 cây, Xà Đoài 32 cây, Sông Con 53 cây,Vanlencia 18 cây, Hamlin 12 cây và đã cung cấp mắt ghép cho sản xuất Điềutra, tuyển chọn quỹ gen cây cam Bù ở Hương Sơn và Hương khê Hà Tĩnh cónăng suất cao và phẩm chất tốt, là một giống chin muộn vào dịp tết nguyênđán, góp phần tăng thêm cơ cấu giống của nước ta Ngoài ra Trung tâm XuânMai đã tuyển chọn được một số giống cây có múi ưu tú, sạch bệnh đó là 4giống cam, 10 giống quýt và 2 giống bưởi và đã sản xuất 50 vạn cây giốngcam các loại cung cấp cho sản xuất
* Gốc ghép và nhân giống
Hiện nay nước ta cũng sử dụng gốc ghép cho cây có múi, thường dùngnhững giống bưởi chua có khả năng chống chịu sâu bệnh tốt Các công trìnhnghiên cứu về gốc ghép cho cây có múi ở nước ta cũng chưa khẳng định được
tổ hợp gốc ghép thích hợp nhất đối với từng loài hoặc từng giống Vì vậy nêndùng gốc ghép cho cây có múi còn tùy thuộc vào từng địa phương Hiện nay
ở miền Bắc đang sử dụng những giống như bưởi, trấp, quýt và một số giốngchanh nhập nội còn miền Nam sử dụng gốc ghép cam Mật là chủ yếu, một số
ít dùng gốc poncirus trifoliate và các dạng lai của chúng Kỹ thuật nhân giốngcây có múi ở nước ta hiện nay là dùng phương pháp ghép và chiết cành là chủyếu, một số nơi còn tập quán nhân giống bằng phương pháp gieo hạt Nhângiống bằng gieo hạt là phương pháp dễ làm, chi phí lao động thấp, hệ số nhângiống cao, trong một thời gian ngắn có thể cũng cấp một lượng cây giốngtương đối cho sản xuất, tuổi thọ của cây trồng bằng hạt cao, cây gieo bằng hạt
có khả năng thích ứng rộng với điều kiện ngoại cảnh, sinh trưởng khỏe và tínhchống chịu cao Tuy nhiên Phương Pháp này còn những nhược điểm lớn làthường khó giữ những đặc tính của giống bởi vì phần lớn cây ăn quả có bản
Trang 28chất lai, chúng có tính dị hợp, cây nhân giống bằng hạt thường ra hoa kết quảmuộn vì chúng phải trải qua các giai đoạn phát triển cá thể non rẻ tương đốidài mới bước tới giai đoạn phát dục, các cây gieo bằng hạt thường cây cao,tán phát triển không đều, không cân đối nên dễ gây khó khăn cho chăm sóc,phòng trừ sâu bệnh, thu hoạch Sự nhân giống tùy tiện này sẽ tạo nên sự đadạng phức tạp đối với cây có múi Do có những nhược điểm như vậy nênphương pháp gieo hạt chỉ được sử dụng trong trường hợp gieo để làm gốcghép Để mở rộng diện tích trồng cây ăn quả có múi thì nhân giống bằngphương pháp ghép vẫn là có nhiều ưu điểm hơn: Cây ghép sinh trưởng vàphát triển tốt nhờ sự phát triển, hoạt động tốt của bộ rễ gốc ghép và khả năngthích nghi với điều kiện khí hậu, đất đai… của gốc ghép Cây ghép giữ đượcđặc tính của cây mẹ, cây ghép sớm ra hoa kết quả vì cành ghép mắt chỉ tiếptục giai đoạn phát dục của cây mẹ, điều tiết được sự sinh trưởng của cây ghép,
có thể điều chỉnh được cây cao hay lùn đi , hệ số nhân giống cao Tuy nhiêngiữa gốc ghép và thân cành ghép luôn luôn có ảnh hưởng qua lại với nhau;Ảnh hưởng của gốc ghép đến thân ghép, gốc ghép ảnh hưởng đến sức sinhtrưởng của thân ghép, gốc ghép ảnh hưởng đến sự ra hoa kết quả của các câyghép, gốc ghép ảnh hưởng đến khả năng chống chịu của cây ghép
+ Ảnh hưởng của thân ghép lên gốc ghép: Thân cành ghép cung cấpdinh dưỡng cho sự phát triển của bộ rễ gốc ghép Vì vậy mức độ sinh trưởngcủa thân cành ghép có mối tương quan thuận đến sự phát triển của bộ rễ gốcghép Chính vì vậy khi chọn cây làm gốc ghép cần chú ý đến nhiều mặt: Hìnhthái giải phẩu, quan hệ sinh lý gốc ghép và thân cành ghép làm cho chúngthúc đẩy nhau sinh trưởng và phát triển tốt Đây là một vấn đề khá phức tạp,cần được tiếp tục nghiên cứu
Hiện nay ở nước ta nhân giống cây có múi theo phương pháp vi ghép
và kiểm tra bệnh virus trong tiếng trình sản xuất cây giống bước đầu đã đượcthực hiện, Lê Thị Thu Hồng và cộng sự đã nghiên cứu trên các giống camsành, bưởi Năm Roi, quýt Đường, quýt Tiểu, cam Mật ghép trên 2 loại gốcghép gốc ghép Ctrange là Carizo và Troier gieo trong ống nghiệm cho thấy:Thời điểm ghép lúc cây gốc ghép trong ống nghiệm là 16 ngày, khử trùng 8%Hypochlorit calci trong 15 phút thì chồi được khử trùng tốt nhất Gốc ghép đểhoàn toàn trong bóng tối 16 ngày thì cây sẽ trắng và mềm giúp thao tác vighép dễ và chính xác Tỉ lệ thành công cao hơn ở điều kiện bóng tối đối với
Trang 29cả 3 giống thực hiện ở cam Mật 19,83% so với 14,44 % bưởi Năm Roi so với17,24% và ở quýt Đường 29,23% so với 20,83%.
Phương pháp nhân giống cổ truyền được áp dụng rộng rãi ở các nhàvườn hiện nay là phương pháp chiết cành Phương pháp này có những ưuđiểm: Cây giữ được những đặc tính của cây mẹ, cây sớm ra hoa kết quả, rútngắn thời kì kiến thiết cơ bản, mau cho cây giống( từ 3-8 tháng, tùy giống),cây trồng bằng cành chiết thường thấp, tán cây gọn, phân cành cân đối thuậnlợi chăm sóc và thu hoạch Ngoài những ưu điểm nêu trên thì cây chiết cónhững nhược điểm sau: hệ số nhân giống chưa thực cao; nếu chiết cành nhiềusẽảnh hưởng xấu đến sinh trưởng và phát triển của cây mẹ; với một số giốngcây ăn quả dùng phương pháp chiết tỉ lệ ra rễ vẫn còn thấp như đối với mít,
bơ, hồng,
* Sâu bệnh và điều kiện ngoại cảnh
Cây ăn quả có múi là một trong những loài cây có nhiều sâu bệnh pháhại Theo Vũ Khắc Nhượng, cam quýt có tới 150 loài sâu bệnh hại trong đócác loài nguy hiểm là sâu đục cành, ruồi vàng, ngài chích hút có thể làm câyrụng 30-40% sảng lượng quả, ngoài ra có loài rệp nâu và rầy chổng cánh lànhững côn trùng môi giới truyền bệnh Tristera và Greening Các bệnh nguyhiểm là bệnh loét do vi khuẩn xanthomonas citri, bệnh chảy nhựa và bệnh thốinâu quả cam do Phitophthora, là loài nấm nguồn gốc thủy sinh khá phổ biến ởnước ta Hiện nay các nhà khoa học nghiên cứu về cây có múi cho rằng bệnhvàng lá là nguy hiểm nhất của nước ta, đang là mối đe dọa đối với ngànhtrồng cây có múi theo Phạm Văn Vượng, hiện tượng vàng lá do nhiều nguyênnhân gây ra như nấm, vi khuẩn, virus và vấn đề dinh dưỡng Vì vậy muốnphòng chống được tốt cần phải xác định đúng nguyên nhân của bệnh theo VũKhắc Nhượng Bệnh vàng lá cây có múi được tăng lên theo tuổi Cây dưới 5tuổi là 5-7%, cây 5-10 tuổi là 13-30%, 10-15 tuổi 50-85%, trên 15 tuổi 95-98%, như vậy là cây đến tuổi 15 là đã không cho thu hoạch mà phải hủy bỏ.Điều này có ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất khi cây có thời kì kinh doanh bịgiảm đi Ngoài việc nhân giống bằng phương pháp ghép cũng có thể làm tăngbệnh cho cây Theo Aubert, cây ăn quả có múi có khoảng 33 bệnh virus có thể
di truyền do ghép Những liên quan đến các bệnh suy thoái di truyền là donhân giống bằng phương pháp ghép
Quýt cũng là loài cây có khả năng chống chịu rất tốt với điều kiệnngoại cảnh Theo Trần Thượng Tuấn quýt chịu được nhiệt độ nóng và cả
Trang 30nhiệt độ thấp, có khả năng phát triển tốt ở vùng đất khô khan Theo Đỗ Đình
Ca Quýt có khả năng chống chịu úng rất tốt Trên đất phù sa hoặc các cù laomạch nước ngầm cao, chu kì kinh tế quýt 14,9 năm, cam là 9 năm, bưởi 25năm, chanh là 1,6 năm
Quýt có khả năng chịu mặn tốt nhưng không bằng bưởi ở Hương Cầnquýt có quả to, cây được trồng trên những bờ mương bao quanh là nước mặn
Ngoài hàm lượng dinh dưỡng trong đất cũng có một phần nào ảnhhưởng đến sinh lý quả Theo Lê Đình Sơn, nguyên nhân xốp ở cây có múi là
do mất cân bằng dinh dưỡng giữa đạm, lân, canxi(hàm lượng lân và canxitrong lá thấp, trái lại đạm tổng số cao) Giải pháp khắc phục hiện tượng camxốp bằng cách tăng cường bón phân lân và vôi cho cây
* Hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế đối với cam quýt cũng được một số tác giả nghiêncứu Theo Nguyễn Đình Tuệở trung du miền núi phía bắc cây có múi cho thunhập 30 triệu đồng trong đó lãi thuần là 25.5 triệu đồng/ha
Theo Ngô Hồng Bình cây ăn quả có múi là cây có giá trị cao so với một
số giống cây ăn quả khác ở nước ta Hiệu quả kinh tế của một số cây ăn quảchính ở vùng đồng bằng sông Cửu Long 1992 đối với cam lãi 59.058 triệuđồng, quýt 46.392 triệu đồng, chanh 37.684 triệu đồng, bưởi 17.422 triệuđồng, chôm chôm 17.197 triệu đồng, chuối 5.414 triệu đồng, táo 34.137 triệuđồng, đu đủ 9.05 triệu đồng, nhãn 51.395 triệu đồng trên một ha Như vậy cây
có múi có hiệu quả kinh tế cao nhưng ở cây quýt nếu trồng đại trà không cótuyển chọn giống thì năng suất thấp, giá trị thu nhập thua kém bưởi và thanhtrà nhiều
Nghiên cứu hiệu quả kinh tế đối với một số cây trồng lâu năm trên đất
gò đồi ở Lương Sơn (Hòa Bình) của Phạm Thanh Hải cho thấy: cam năngsuất 5.04 tấn/ha cho thu nhập 2.5 triệu đồng, bưởi cho năng suất 24 tấn/ha chothu nhập 6.5 triệu đồng Như vậy ở những vùng đất cằn cỗi thì quýt cho năngsuất cao và cho thu nhập cao hơn cam
Khi đề cập đến cây quýt và triển vọng phát triển quýt ở Việt Nam, tácgiả Trần Thế Tục, đã rút ra những nhận xét sau:
Quýt là cây ăn quả nhiệt đới có giá trị dinh dưỡng, giá trị kinh tế cao,quỹ gen về quýt ở nước ta rất phong phú và đa dạng Cần sử dùng và khai
Trang 31thác nguồn tài nguyên này để góp phần cải thiện khẩu phần quả tươi cho nhândân làm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và xuất khẩu.
Cây quýt ít kén đất, dễ trồng, chịu được hạn và úng, ít sâu bệnh, sớmcho quả, có khả năng cho năng suất trong điều kiện thâm canh và chọn giốngtốt, tuổi thọ dài nên có thể dùng để trồng trong vườn nhà, vùng đồi ở các vùngsinh thái khác nhau ở trong nước, hoặc cây để cải tạo vườn tạp
Các công trình khoa học nghiên cứu về quýt ở Việt Nam chưa nhiều,tuy đã có trên 100 giống quýt khác nhau song việc tổng hợp đánh giá phânloại và tuyển chọn giống chưa được chú ý Vị trí và vai trò cây quýt trong cây
ăn quả có múi chưa được đánh giá đúng mức Các kỹ thuật thâm canh câyquýt như bón phân tạo hình, cắt tỉa, phòng trừ sâu bệnh làm chưa được đầy
đủ, do đó việc khai thác tiềm năng năng suất, hiệu quả kinh tế chưa cao
2.2.2.3 Một số giống quýt phổ biến ở Việt Nam
Quýt nước ta có hơn 100 giống khác nhau, một số giống nổi tiếng ở cácvùng trong nước
- Quýt Hồng:
Được trồng ở vùng Lai Vung (Đồng Tháp) rái có hình cầu dẹp ở haiđầu, đỉnh và đáy trái lõm, có từ 6-10 múi, mỗi múi có từ 0-4 hạt, vỏ có quảmàu hồng đặc trưng rất đẹp và không có lớp vỏ trắng xốp Mặt ngoài vỏ cólớp sừng chứa nhiều túi tinh dầu
- Quýt Hương Cần:
Là một loại quả ngọt trồng nhiều ở Thừa Thiên Huế, Việt Nam TỉnhThừa Thiên - Huế có nhiều loại đặc sản về hoa quả nổi tiếng như long nhãn(nhãn xưa chỉ dành cho nhà vua dùng), măng cụt, bưởi, Thanh Trà ngoài ra,bên dòng sông Bồ, còn có quýt Hương Cần
Quả có màu vàng cam ở mặt quả và màu xanh lá cây ở phần cuống Vỏxốp mỏng như giấy rất dễ bóc, khi bóc quýt có mùi thơm đặc trưng Các múiquýt dễ tách ra từng múi Cơm màu hồng nhạt, khi ăn vị ngọt và thanh
- Quýt Lý Nhân:
Hà Nam là một huyện nằm ven sông Hồng, được phù sa của con sôngbồi đắp nên có đất đai màu mỡ Nơi đây nổi tiếng với nhiều loại đặc sản từ cátôm, đến các loại trái cây như hồng, cam, nhãn, quýt Trong đó, hương vị ngọtngào của quýt Lý Nhân còn được nhắc mãi
Trang 32Quýt Lý Nhân có quả dẹt, vỏ mỏng và giòn Khi quýt chín, vỏ màuvàng ươm, có nhiều tia tinh dầu li ti ở trên bề mặt Bóc quýt, vỏ sẽ cho mộthương thơm rất đặc trưng Vỏ quýt còn được làm thuốc chữa bệnh
- Quýt Bắc Sơn xứ Lạng:
Huyện Bắc Sơn được biết đến là vựa quýt lớn không chỉ của tỉnh LạngSơn mà của cả miền Bắc Người dân địa phương chia sẻ rằng, diện tích trồngquýt ở Bắc Sơn rất lớn, mỗi vùng trồng gọi là một "Lân", mỗi "Lân" lại domột hoặc nhiều gia đình trồng
Quýt quả tròn khi chín có màu vàng ươm, vỏ mỏng, vị ngọt đậm,thường ít sơ, mùi thơm dịu, trọng lượng từ 80 đến 150g, khi bóc có lỗ rỗng ởgiữa quả Quýt quả dẹt có hai đầu lõm, khi chín có màu vàng ươm, vỏ dàyhơn, khó bóc, vị chua và cũng ít sơ Trọng lượng quả trung bình 100đến 150g [2] [10] [11] [12]
2.2.2.4 Tình hình nghiên cứu về cây quýt ở Thừa Thiên Huế
Do phẩm chất thơm ngon và giá trị kinh tế cao nên cây quýt đã đượcnghiên cứu từ khá lâu, tuy nhiên cho đến nay những nghiêng cứu về cây quýtchưa được nhiều và chưa toàn diện
Theo Bùi Huy Đáp, quýt Huế vốn nổi tiếng từ lâu bởi quýt là giống đặcsản trên bờ sông Lô Hương Cần Quả quýt ở các vùng ở Thừa Thiên Huế cónhiều nước, ngọt, ít chua, nên tăng thêm vị và thơm Trong các giống quýt cóquýt Hương Cần là thứ ngon nhất, quả to hơn các thứ khác
Theo Trương Văn Lung, hàm lượng đường trong quýt tại 3 điểm trồngtrọt: Hương Cần, Thủy Biều, Phong Điền không có sai khác và cao hơn cácloại quýt Hồng và quýt LÝ Nhân, quýt ghép sinh trưởng và phát triển tốt trêngốc ghép là quýt Lý Nhân
Điều tra, thu thập, bảo tồn và đánh giá một số giống cây ăn quả đặc sản( cam, quýt, bưởi, hồng, dứa) ở một số tỉnh miền trung và Thừa Thiên Huếcho thấy quýt được trồng trên đất phù sa ven sông thì sinh trưởng tốt, quả to,quả nhiều Giá trị kinh tế cây/năm ở quýt được trồng trên đất đồi thấp (đấtphù sa là 800.000đ/cây, đất đồi thấp 500.000đ/ cây) và quýt phát triển tốt trênđất phù sa sông Lô, sông Hương, sông Bạch Yến Ở Thừa Thiên Huế họ camquýt có 9 loài, trong đó quýt có 12 dòng, cam 5 dòng, chanh 3 dòng
Trang 33Cây quýt là cây đặc sản của Thừa Thiên Huế, chỉ trồng được và chochất lượng tốt trên đất phù sa được bồi hằng năm ven các con sông: sôngHương, sông Bồ, sông, Lô, sông Ô Lâu Mặc dù có nhiều công trình nghiêncứu các phương pháp nhân giống cây có múi nói chung như gieo hạt, chiếtcành và ghép, nhưng chưa có những công trình nghiên cứu riêng cho cây ănquả đặc sản cho từng vùng, để phục vụ cho nhu cầu phát triển địa phương.
Hiện nay, trung tâm thực nghiệm và phát triển cây ăn quả Thừa ThiênHuế đã có những nghiên cứu về cây quýt như điều tra phân bố, kỹ thuật canhtác, phòng trừ sâu bệnh, nhân giống bằng phương pháp ghép, chưa đề cậpđến những vấn đề như chiết cành nhỏ để nâng cao hệ số nhân giống, bao quảquýt để tăng phẩm cấp của quả [3] [4] [5]
Trang 34Phần 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Là cây quýt Hương Cần (Citrus deliciosa Tenore)
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu
- Địa điểm nghiên cứu: Xã Phong Chương, huyện Phong Điền, tỉnhThừa Thiên Huế
- Thời gian nghiên cứu: Tháng 1/2016 - Tháng 5/2016
3.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
- Điều tra hiện trạng phân bố của giống quýt Hương Cần ở xã PhongChương, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế
- Điều tra nguồn gốc, điều kiện sinh thái của giống quýt Hương Cần ở
xã Phong Chương, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế
3.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Điều tra số liệu thứ cấp.
- Điều tra số liệu sơ cấp: Điều tra tình hình canh tác lúa theo phương phápđiều tra có sự tham gia (PRA: ParticipatoryRural Appraisal), chọn ngẫu nhiên
30 hộ trồng quýt Hương Cần ở xã Phong Chương, huyện Phong Điền, tỉnhThừa Thiên Huế
- Điều tra từng nông hộ có phiếu kèm theo với các chỉ tiêu sau:
Trang 36PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN CỦA THỪA THIÊN HUẾ
4.1.1 Vị trí địa lý
Thừa Thiên huế là khu vực Bắc trung bộ nằm trong vùng kinh tế pháttriển trọng điểm của miền Trung từ Huếvào Nha Trang Trãi dài từ 16000”đến 16045” vĩ độ Bắc và từ 107001” đến 108012 kinh Đông, phía Bắc giápQuảng Trị, phía Nam giáp thành phố Đà Nẵng, phia Tây giáp nước bạn Lào,phía Đông giáp biển Đông Thừa Thiên Huế nằm ở trung độ cả nước, trên trụcgiao thông quan trọng Bắc Nam ( quốc lộ 1A ) có bờ biển dài 120 km đườngbiên giới giáp nước bạn Lào
4.1.2 Điều kiện khí hậu Thừa Thiên Huế
Khí hậu là tổng hợp các yếu tố thời tiết mang tính quy luật bị chi phốibởi điều kiện địa hình và địa lý Khí hậu có mối liên quan chặc chẽ với cáchoạt động sống của con người cũng như động vật, thực vật trên trái đất Đốivới sản xuất nông nghiệp nói chung và với sản suất cây ăn quả nói riêng, khíhậu thời tiết không những là một yêu cầu không thể thiếu được mà còn có tínhquyết định năng suất và kết quả thu hoạch Vì vậy hiểu biết và nghiên cứu cácqui luật của khí hậu, thời tiết có ý nghĩa kinh tế to lớn và rất thiết thực choviệc quy hoạch vùng trồng trọt và lựa chọn loại cây trồng thích hợp Nóichung cây ăn quả có múi là một trong những loài cây ăn quả có phản ứng rấtrộng với điều kiện sinh thái khí hậu Hiện nay đã có khoảng 60 nước trên thếgiới trồng quýt phân bố từ miền xích đạo ( vùng cận Nhiệt Đới ) tới vĩ độ 420
Bắc Nam (vùng vùng Ôn Đới ) Đối với nước ta là nước Nhiệt Đới, một trongnhững nước phát sinh một số loài cây ăn quả múi Vì vậy từ nam chí bắc ởđâu cũng trồng được quýt Đặt biệt quýt lại càng dễ tính hơn, thích nghi hầuhết các loại đất và khí hậu ở nước ta
Trang 37Bảng 4.1 Các yếu tố thời tiết khí hậu trung bình giai đoạn 2013 - 2015
Năm Nhiệt độ (
0C) Ẩm độ (%) Mưa (mm) Số giờ nắng
(giờ)Ttb Tmax Tmin Utb Umin Ngày Ttb
2013 25,1 34,9 19,4 86,3 51,4 15,3 239,9 158,9
2014 23,9 33,3 17,5 85,3 52,3 10 43,5 135
2015 25,8 35,6 19,3 85,6 49,3 11,9 138,8 166,9Khí hậu Thừa Thiên Huế với chế độ nhiệt đới gió mùa, khí hậu hằngnăm phân hóa thành hai mùa tương đối rõ rệt: Mùa nóng hạn bắt đầu từ tháng
3 đến thàng 8, mùa mưa ẩm kéo dài từ 9 đến thàng 2 năm sau
Nhiệt độ trung bình năm ở Thừa Thiên Huế từ 24 - 250C, số ngày cónhiệt nhỏ hơn 150C trong mùa lạnh không quá nhiều Mùa đông nhiệt độ cóthể xuống dưới 100C, mùa hè có thể lên tới 410C làm ảnh hưởng đến sự sinhtrưởng và phát triển của cây Tổng nhiệt độ cả năm của Thừa Thiên Huế vàokhoảng 9000 - 91000C
Các nghiên cứu về phản ứng của cây với điều kiện nhiệt độ cho biết:các loại cây có múi có thể sống được trong điều kiện nhiệt độ từ 0 - 500C Ởgiới hạn nhiệt độ 00C và 540C cây mới hoàn toàn ngừng sinh trưởng Ở nhiệt
độ từ 13 - 390C cây sinh trưởng bình thường và thích hợp nhất là từ 26 - 300C.Như vậy nhiệt độ hàng tháng ở Thừa Thiên Huế chủ yếu nằm trong giới hạnsinh trưởng bình thường đối với cây có múi
Thừa Thiên Huế có lượng mưa trung bình hằng năm biến động từ2.000-3.000 mm Với lượng mưa trên, nếu được phân bố đều trong các thángthì hầu hết thỏa mãn nhu cầu nước của nhiều loại cây ăn quả, nhưng do chế
độ mưa theo mùa, nên gây ra những bất lợi đối với sinh trưởng và phát triểncủa các loài cây ăn quả nói chung và cây quýt nói riêng
Mùa nắng hạn bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 8, thường kéo dài trong 4tháng gây nên sự thiếu hụt nước Đặt biệt trong tháng 6 tháng 7 có nhiệt độkhông khí cao, lượng bốc hơi nước cao, ẩm độ không khí thấp, số ngày gióphơn Tây Nam xuất hiện nhiều làm ảnh hưởng đến sự sinh trưởng phát triểncủa cây - nhất là hiện tượng héo và rụng
Trang 38Mùa mưa kéo dài 6 tháng ( từ tháng 9 đến tháng 2 năm sau ) cùng vớisựảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc đã tạo nên mùa đông ở Thừa Thiên Huế
có những đặc thù vừa lạnh vừa ẩm ướt Những tháng có lượng mưa tập trunglớn nhất là 9,10,11,12 với lượng trung bình từ 500-1000mm/ tháng nênthường xảy ra hiện tượng lũ lụt trong các tháng này Do các vùng trồng Quýtđều nằm trên lưu vực các con sông nên thường bị ngập lụt Tùy nhiên trừnhững trận lũ lụt lớn như tháng 5 1999, còn lại lũ lụt không gây ảnh hưởngđến Quýt, mà trái lại còn đưa thêm một lượng phù sa bồi đắp hằng năm làmcho các vườn trồng Quýt thêm màu mỡ
Hằng năm trung bình có một cơm bão ảnh hưởng trực tiếp đến ThừaThiên Huế, gió lốc cũng thường xuất hiện có thể làm cho cây gãy đổ
Thời tiết khí hậu có nhiều thuận lợi đồng thời cũng không ít những khókhăn tác động lên suốt quá trình sinh trưởng phát triển của cây Quýt, nhưngtrãi qua hàng trăm năm được thuần dưỡng và trồng trọt cây Quýt đã phát triểntương đối bền vững ở vùng Thừa Thiên Huế
4.1.3 Điều kiện địa hình, đất đai
Thừa Thiên Huế nằm trên dãi đất hẹp với chiều dài 127 km, rộng trungbình 60 km với đầy đủ các dạng địa hình Rừng núi, gò đồi, đồng bằng , đầmphá và biển trong đó đồi núi chiếm tỉ lệ 70% diện tích, địa hình của ThừaThiên Huế phức tạp, bị chia cắt mạnh, hướng thấp dần từ Tây sang Đông và
có thể chia ra 5 vùng như sau:
+ Vùng núi: là dãi đất phía tây của tỉnh, từ A Lưới đến Hải Vân, gồmnhững dãi núi cao liên tiếp, độ cao trung bình khoảng 1.000 m, có đỉnh cao tới1.500 m (Bạch Mã- Hải Vân) độ dốc bình quân 30-350, nhiều nơi địa hìnhhiểm trở Trong vùng có hai thung lũng là Nam Đông và A Lưới
+ Vùng gò đồi: là vùng tiếp giáp giữa miền núi và đồng bằng gồmnhững dãi núi lượn sóng, độ cao từ 300 m trở xuống, độ dốc bình quân 15-250
vùng này đa số là đồi trọc, phần diện tích còn lại chủ yếu là rừng
+ Vùng đồng bằng: là vùng đất hẹp, chạy dài theo hướng quốc lộ 1Acàng về phía Nam diện tích càng hẹp, đến đèo Hải Vân Vùng này chủ yếu làđất phù sa được bồi hằng năm do sông suối Đây là vùng đất thích hợp đểtrồng nhiều loại cây ăn quả cây quýt được trồng tập trung chủ yếu ở nhữngvùng phù sa ven sông, suối