1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

skkn giúp học sinh lớp hai học tốt phân môn chính tả

22 344 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 521,32 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngoài ra, phân môn Chính tả còn bồi dưỡng cho học sinh những phẩm chất tốt đẹp đối với tiếng nói và chữ viết của người Việt Nam qua việc sử dụng ngôn ngữ trong học tập và giao tiếp, biểu

Trang 1

Nhận xét đánh giá của HỘI ĐỒNG SƯ PHẠM TRƯỜNG:

Tác dụng của SKKN: ………

………

Tính thực tiễn, sư phạm, khoa học: ………

………

Hiệu quả: ………

Xếp loại: ………

…… , ngày …… tháng…… năm 2016 CT HĐ KHGD Nhận xét đánh giá của HỘI ĐỒNG SƯ PHẠM PHÒNG GD - ĐT : Tác dụng của SKKN: ………

………

Tính thực tiễn, sư phạm, khoa học: ………

………

Hiệu quả: ………

Xếp loại: ………

…… , ngày …… tháng …… năm 2016 CT HĐ KHGD Nhận xét đánh giá của HỘI ĐỒNG SƯ PHẠM SỞ GD - ĐT : Tác dụng của SKKN: ………

………

Tính thực tiễn, sư phạm, khoa học: ………

………

Hiệu quả: ……….,

Xếp loại: ………

…… , ngày …… tháng …… năm 2016

CT HĐ KHGD

Trang 2

2 Nội dung cần giải quyết……… 5

3 Biện pháp giải quyết……… 6 - 17

4 Kết quả chuyển biến ……… 17 - 18

Trang 3

Tiếng Việt được chia ra làm nhiều phân môn như Tập đọc, Chính tả, Tập viết, Tập làm văn, Mỗi phân môn đều có đặc trưng riêng của nó nhưng lại

có mối quan hệ chặt chẽ với nhau giúp học sinh học tập tốt môn Tiếng Việt

và các môn học khác; đồng thời tạo phương tiện cho học sinh tiếp tục học các lớp trên

Phân môn Chính tả ở trường Tiểu học giúp học sinh hình thành năng lực

và thói quen viết đúng chính tả Tiếng Việt Do đó, phân môn Chính tả có vị trí quan trọng trong cơ cấu chương trình môn Tiếng Việt Bởi vì, giai đoạn Tiểu học là giai đoạn then chốt trong quá trình hình thành kĩ năng viết chính

tả cho học sinh Ngoài ra, phân môn Chính tả còn bồi dưỡng cho học sinh những phẩm chất tốt đẹp đối với tiếng nói và chữ viết của người Việt Nam qua việc sử dụng ngôn ngữ trong học tập và giao tiếp, biểu hiện cụ thể nhất là nói đúng và viết đúng chuẩn Tiếng Việt

về vấn đề gì Bởi vì trong quá trình viết câu văn hoặc đoạn văn, các em phải thể hiện được năng lực và tình cảm của mình vào bài làm mà các em lại viết sai nhiều lỗi chính tả nên câu văn hoặc ý đoạn văn diễn đạt chưa hay hoặc

I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Trang 4

không có ý nghĩa Điều này sẽ ảnh hưởng tới kết quả học tập của các em về môn Tiếng Việt và các môn học khác, làm khả năng giao tiếp của các em giảm Do đó, các em không tự tin trong học tập, các em sẽ trở nên rụt rè, nhút nhát Như vậy, người giáo viên giúp các em có kiến thức cơ bản và kĩ năng viết thành thạo, không sai lỗi chính tả đó là một vấn đề cần thiết

Từ những lý do nêu trên, tôi quyết định chọn đề tài: “Giúp học sinh lớp

Hai học tốt phân môn Chính tả” nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy môn

Tiếng Việt nói chung và phân môn Chính tả nói riêng

2 Mục đích đề tài:

Đề tài “Giúp học sinh lớp Hai học tốt phân môn Chính tả” nhằm mong

đạt những mục tiêu sau :

- Đề tài “Giúp học sinh lớp Hai học tốt phân môn Chính tả” góp phần

đổi mới phương pháp và nâng cao chất lượng dạy phân môn Chính tả của lớp Hai ở các trường Tiểu học

- Thông qua đề tài này sẽ giúp cho học sinh nắm vững một số kiến thức

cơ bản về các luật chính tả và hình thành kĩ năng viết chính tả Nói cách khác, giúp học sinh hình thành năng lực và thói quen viết đúng chính tả

- Ngoài ra, đề tài còn giúp học sinh rèn luyện tính kỷ luật (vì phải viết đúng chính tả), tính cẩn thận (vì phải viết nắn nót từng nét chữ), óc thẩm mĩ (vì phải viết ngay ngắn, thẳng hàng, đẹp đẽ) và lòng tôn trọng người khác

3 Lịch sử đề tài:

Kĩ năng viết đúng chính tả Tiếng Việt thật sự rất cần thiết đối với tất cả

mọi người chứ không chỉ đối với học sinh lớp Hai Do đó, năm học 2015 –

2016 tôi đã tìm hiểu thực tế giảng dạy ở lớp chủ nhiệm và quyết định chọn đề

tài “Giúp học sinh lớp Hai học tốt phân môn Chính tả” Sau khi nghiên cứu

đề tài, tôi đã hình thành đúc kết được một số kinh nghiệm giảng dạy nên tôi xin giới thiệu các bạn đồng nghiệp tham khảo

4 Phạm vi đề tài:

Do thời gian và điều kiện nghiên cứu có hạn nên tôi chỉ đưa ra những

biện pháp để “Giúp học sinh lớp Hai học tốt phân môn Chính tả” Cụ thể là

học sinh lớp 2B1, Trường Tiểu học Nguyễn Tấn Kiều

Trang 5

- Ở độ tuổi này các em cịn thích chơi, thích bắt chước và hiếu động

- Một số học sinh viết chậm, chưa nắm vững các vần khĩ, tiếp thu bài chậm, mau quên

- Cịn nhiều lỗi do thiếu cẩn thận khi viết như: viết thừa, thiếu nét; đơi lúc thừa thiếu chữ, sai sĩt phụ âm, sĩt dấu phụ, dấu thanh,…

- Chịu ảnh hưởng cách phát âm của địa phương (phát âm sai, kéo theo cách viết sai)

- Vốn từ cịn ít, khơng hiểu nghĩa của từ nên dễ viết sai

- Tư thế ngồi cầm bút, ngồi viết chưa định hình, dễ mắc thĩi quen xấu dẫn đến viết chữ xấu, khĩ đọc

- Một số học sinh nhút nhát khơng dám giơ tay phát biểu ý kiến để xây dựng bài

- Thái độ học tập một số em chưa đúng đắn như: khơng chuẩn bị bài, chưa tập trung nghe giảng, lười viết bài,…

- Một số bài chính tả học sinh chưa được luyện đọc qua phân mơn Tập đọc nên các em khĩ hiểu nghĩa của từ, dẫn đến viết sai chính tả

- Hồn cảnh của gia đình các em khĩ khăn nên cha mẹ ít quan tâm đến việc học của con cái vì:

+ Vật chất thiếu thốn nên suốt ngày cha mẹ phải đi làm thuê

+ Cha mẹ đi làm xa nên các em phải ở nhà với ơng bà đã già yếu

2 Nội dung cần giải quyết:

Lớp tơi cĩ 39 học sinh và trình độ nhận thức của học sinh khơng đồng

đều Vì tơi muốn việc dạy và học phân mơn Chính tả đạt kết quả cao nên tơi

đề ra một số biện pháp giải quyết, trong đĩ cần chú trọng các nội dung như sau :

- Rèn kĩ năng viết đúng chính tả cho học sinh lớp Hai

- Giúp học sinh lớp Hai làm tốt một số dạng bài tập chính tả

II.NỘI DUNG GIẢI

QUYẾT

Trang 6

3 Biện pháp giải quyết:

a Một số biện pháp rèn kĩ năng viết đúng chính tả cho học sinh lớp Hai:

Mỗi giáo viên đều biết việc viết đúng chính tả có liên quan mật thiết đến việc phát âm của người viết Vì vậy ở từng vùng phương ngữ (miền Bắc, miền Trung, miền Nam), ngoài những vấn đề về chính tả đặt ra chung cho cả nước, lại có những yêu cầu riêng về mặt chính tả do sự khắc phục các nhược điểm về ngữ âm của vùng đó đặt ra Chính vì lý do đó nên khi soạn bài cũng như lúc hướng dẫn giảng dạy chính tả , tôi tự điều chỉnh và linh hoạt, sáng tạo các vấn đề rèn luyện trong tiết Chính tả bằng những việc làm cụ thể như sau:

* Khâu chuẩn bị:

- Giáo viên: Nghiên cứu kĩ bài, thiết kế bài dạy, chọn những chữ khó viết

và bài tập phù hợp với lớp đang giảng dạy

* Khâu kiểm tra bài cũ:

- Bao giờ tôi cũng yêu cầu học sinh kiểm tra chéo với nhau và báo cáo kết quả về việc chuẩn bị dụng cụ học tập cho tôi trước khi vào bài mới để tránh tình trạng học sinh phải tìm kiếm đồ dùng làm mất nhiều thời gian, phân tán sự chú ý trong quá trình học tập

- Trong khâu kiểm tra bài cũ, tôi thường đọc lại những chữ mà học sinh mắc lỗi nhiều và các chữ học sinh làm sai ở phần bài tập của tiết Chính tả trước Hình thức kiểm tra tôi có thể cho học sinh viết vào bảng con hoặc viết

ở bảng lớp Tôi nhận xét và sửa chữa cụ thể sau mỗi lần kiểm tra để học sinh rút kinh nghiệm và khắc sâu kiến thức hơn Sau phần kiểm tra chữ ghi tiếng khó, tôi tiến hành kiểm tra vở chính tả của học sinh để xem các em có sửa lỗi chính tả đã viết sai ở bài học trước chưa

* Khâu đọc mẫu:

- Trước khi đọc mẫu tôi không bao giờ quên nêu mục đích yêu cầu của tiết học cho học sinh nắm Điều quan trọng là làm sao để học sinh thấy mục đích yêu cầu này không phải là do tôi áp đặt mà chính là những nhiệm vụ và mục đích của bản thân học sinh đòi hỏi phải giải quyết Có thực hiện được điều này, việc lĩnh hội, tiếp thu các quy tắc chính tả mới trở thành nhu cầu của bản thân học sinh và đó cũng là cơ sở để tạo hứng thú và duy trì sự chú ý cho học sinh trong suốt giờ học phân môn Chính tả

- Tôi rất coi trọng khâu đọc mẫu cũng như đọc chính tả cho học sinh viết vào vở Trong khâu này, lúc nào tôi cũng đọc chuẩn xác và đúng với chính

Trang 7

âm Đặc biệt là tôi tự khắc phục những lỗi phát âm của địa phương cũng như tật phát âm của cá nhân tôi Từ đó, tôi thường xuyên luyện đọc, trước tiên là đọc đúng chính âm

* Khâu luyện viết chữ ghi tiếng khó hoặc dễ lẫn:

Khi chọn những chữ ghi tiếng khó viết trong bài chính tả lớp Hai, tôi thường chọn những chữ có liên quan đến bài tập chính tả âm, vần của mỗi giờ học phân môn Chính tả trong tuần hoặc những chữ mà học sinh trong lớp tôi thường xuyên viết sai Đặc biệt là ở khâu này tôi thường động viên các em tự tìm và nêu chữ ghi tiếng khó hoặc dễ lẫn trước lớp nhằm phát huy tính tích cực của học sinh Lúc tôi viết chữ ghi tiếng khó hoặc dễ lẫn ở bảng lớp cho học sinh quan sát thì tôi thường viết bằng phấn màu khác với màu phấn viết nội dung của bài chính tả để gây sự chú ý cho học sinh Bao giờ viết bảng lớp tôi cũng cố gắng viết đúng mẫu chữ theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo để giúp học sinh phần nào viết chữ đẹp hơn Còn học sinh thì tôi yêu cầu các em luyện viết chữ ghi tiếng khó hoặc dễ lẫn ở bảng con để tôi kịp thời sửa sai và rèn chữ viết Để giúp học sinh viết đúng chữ ghi tiếng khó hoặc dễ lẫn trong bài chính tả tôi thường sử dụng các biện pháp sau:

Tôi hướng dẫn học sinh cách phát âm như sau:

Những tiếng có phụ âm đầu v như tiếng va: khi đọc hàm răng

trên mím hờ trên môi dưới

Những tiếng có phụ âm đầu gi như tiếng gia: khi đọc lưỡi nhích

tới trước chạm giữa hai hàm răng, sau khi phát âm có luồng hơi phát ra

Những tiếng có phụ âm đầu d như tiếng da: đọc bình thường

+ Riêng với những học sinh nói đớt hay nói lắp thì tôi yêu cầu học sinh cần lắng nghe tôi phát âm để viết cho đúng Chính vì thế tôi cố gắng phát âm

rõ ràng, chính xác, tốc độ vừa phải mới có thể giúp học sinh viết đúng chính

tả

- Phân tích, so sánh:

+ Những chữ ghi tiếng khó mà được cả lớp chọn lọc trong bài chính tả thì trước khi cho học sinh luyện viết tôi hướng dẫn học sinh phân tích cấu tạo tiếng, so sánh với những tiếng dễ lẫn lộn hoặc nhấn mạnh những điểm khác nhau để học sinh ghi nhớ và viết không sai chính tả

+ Đối với đối tượng học sinh là người miền Bắc cần phân biệt một số cặp phụ âm đầu và vần dễ lẫn lộn như: l/n, tr/ch, s/x, r/d/gi và vần ưu/iu, ươu/iu,…

Ví dụ: sinh - xinh

sinh: học sinh, sinh viên, khai sinh,

xinh: xinh đẹp, xinh xắn, xinh xinh,

Trang 8

+ Đối với đối tượng học sinh là người miền Trung (nhất là vùngThanh Hóa) cần phân biệt hai thanh điệu: thanh hỏi / thanh ngã

tả Phần giảng nghĩa này tôi giảng thật ngắn gọn, dễ hiểu, tránh lan man, lạc trọng tâm

Ví dụ: Có thể giải thích sự khác biệt về nghĩa của từ “tre” và “che” để

học sinh nắm nghĩa và định hình cách viết chính xác cho mình

tre: loại cây nhỏ, ruột rỗng có nhiều đốt

che: làm cho khuất, cho kín

Có nhiều cách giải nghĩa từ cho học sinh Tôi có thể cho học sinh đọc chú giải có sẵn trong sách giáo khoa, yêu cầu học sinh đặt câu với từ cần giải nghĩa, tìm từ đồng nghĩa, trái nghĩa; miêu tả đặc điểm hoặc sử dụng mô hình, vật thật, tranh ảnh, Với từ nhiều nghĩa thì tôi đặt từ đó trong văn cảnh cụ thể để giải nghĩa từ

- Ngoài ra, tôi còn phát hiện đặc điểm của từng loại lỗi chính tả Đặc biệt nhất là việc xây dựng các quy tắc chính tả, các “mẹo” chính tả để giúp học sinh ghi nhớ cách viết một cách khái quát, có hệ thống Chẳng hạn là :

Đứng trước các nguyên âm (i, e, ê) bao giờ cũng là k, gh, ngh

Đối với những tiếng (yến, ý, yếm, ) được viết bằng “y” vì không

có phụ âm đầu, chỉ trừ trường hợp như chữ “im” trong từ “im lặng” phải viết bằng “i ”

Trang 9

Khi “i” đứng độc lập kết hợp với dấu thanh thành một tiếng thì viết bằng “y”

Ví dụ: ý nghĩ, như ý,…

Khi “i” đứng sau âm đệm thì viết bằng “y”

Ví dụ: câu chuyện, luyện tập,…

Một số trường hợp “i” là bán nguyên âm thì viết bằng “y”

Ví dụ: nước xoáy, viết ngoáy,…

* Khâu chuẩn bị trước khi viết bài vào vở:

Tôi thường đọc thong thả và diễn cảm toàn bộ bài được chọn viết chính tả nhằm giúp học sinh có cái nhìn bao quát, có ấn tượng chung về nội dung bài viết, làm cơ sở cho việc viết đúng chính tả của học sinh Sau đó, tôi nhắc nhở các em :

+ Ngồi viết đúng tư thế, cách cầm bút, để vở phù hợp

+ Kĩ năng nghe đúng, viết đúng (độ cao, khoảng cách, kiểu chữ)

+ Kĩ năng viết rõ nét, viết nhanh

Ngoài ra, tôi còn yêu cầu học sinh nhắc lại tư thế ngồi viết :

+ Lưng thẳng, không tì ngực vào bàn;

+ Đầu hơi cúi;

+ Mắt cách vở khoảng 25 – 30 cm;

+ Tay phải cầm bút;

+ Tay trái tì nhẹ lên mép vở để giữ;

+ Hai chân để song song, thoải mái

* Khâu viết bài vào vở:

- Đối với Chính tả (nghe – viết):

+ Trước khi học sinh viết bài vào vở, tôi yêu cầu học sinh không được vừa nghe cô giáo đọc vừa viết bài vào vở Viết như vậy các em sẽ không ghi kịp, không nắm hết được nội dung và thường không thể ghi hết được cụm từ hoặc câu cần viết nên dễ gây mất trật tự trong lớp Các em chỉ được viết khi

đã nghe trọn vẹn một cụm từ hoặc câu ngắn

+ Khi học sinh viết bài vào vở, tôi đọc từng câu (mỗi câu tôi đọc khoảng

2, 3 lần) Nếu gặp câu dài, tôi có thể đọc từng cụm từ (cụm từ ấy phải diễn đạt một ý nhỏ) Cả việc đọc (của giáo viên) và việc viết (của học sinh) đều không theo từng từ riêng lẻ mà phải gắn với cả câu (hoặc cụm từ) trọn nghĩa Như vậy, học sinh viết chính tả trên cơ sở thông hiểu nội dung văn bản và sẽ tránh được các lỗi do không hiểu những gì mình viết Sau khi học sinh viết xong, tôi đọc chậm từng câu của toàn bộ văn bản lần cuối để học sinh kiểm tra, rà

Trang 10

soát lại bài viết của mình

* Khâu kiểm tra, nhận xét bài viết của học sinh:

- Đối với phân môn Chính tả:

Cuối mỗi tiết học, tôi thu một số bài của học sinh để kiểm tra và nhận xét mức độ tiếp thu bài của các em; đồng thời rút kinh nghiệm trực tiếp để học sinh viết chính tả đúng hơn Ít nhất trong một tháng mỗi học sinh được ghi lời nhận xét một lần trong vở

- Đối với các môn học khác;

Bất kỳ môn học nào của học sinh khi kiểm tra bài làm tôi cũng cẩn thận phát hiện và sửa sai chính tả kịp thời Tôi làm như vậy nhằm giúp học sinh khắc phục và có thói quen viết đúng chính tả hơn

* Khâu chữa bài chính tả:

Sau khi thu bài, kiểm tra và nhận xét trong vở học sinh, tôi thường nhận xét và nêu hướng khắc phục lỗi chính tả chung cho cả lớp bằng cách:

- Tôi phân tích lại cho các em hiểu nghĩa của từ và cấu tạo của tiếng Về các loại lỗi chính tả của học sinh, tôi có thể chia làm ba loại cơ bản sau:

+ Lỗi chính tả do không nắm vững chính âm Lỗi này thường gặp khi viết các phụ âm đầu: d/gi; tr/ch; ng/ngh ; s/x ; Để giúp học sinh sửa loại lỗi này, tôi thường cho học sinh nhắc lại các quy tắc chính tả, nhớ kĩ mặt chữ trong các phụ âm đầu dễ lẫn lộn

+ Lỗi chính tả do không nắm vững cấu trúc âm tiết Tiếng Việt Vì học sinh không hiểu cấu trúc của âm tiết Tiếng Việt nên học sinh thường viết thừa, viết sai (Ví dụ: qoanh co, khúc khủy, ngoằn ngèo,…) Để giúp học sinh sửa loại lỗi này, tôi cần cho học sinh hiểu vị trí của thành phần trong âm tiết Chẳng hạn như cách viết âm đệm mà tôi đã hướng dẫn ở phần trên

+ Lỗi chính tả do viết theo lỗi phát âm của địa phương Loại lỗi này mỗi địa phương có cách viết sai khác nhau Có vùng viết “v” thành “d”, có vùng viết thanh hỏi thành thanh ngã,…Để giúp học sinh sửa loại lỗi này, tôi thường ghi lại chữ viết sai chính tả đó lên bảng rồi tôi chỉ cho các em thấy chữ đó viết sai chỗ nào Sau đó, tôi sửa lại thành chữ viết đúng và xóa chữ viết sai Cuối cùng, tôi gọi học sinh phát âm đúng đọc cho cả lớp nghe và yêu cầu em viết sai chính tả đọc lại nhiều lần

Ví dụ: Các em viết trong bài chính tả là “cá gô” Tôi viết chữ “cá gô” lên bảng lớp Sau đó, tôi phân tích và viết lại là “cá rô” rồi tôi xóa chữ “cá gô” Cuối cùng tôi gọi một học sinh có giọng phát âm tốt đọc cho bạn nghe, sau đó tôi yêu cầu học sinh viết sai lỗi chính tả đó đọc lại nhiều lần

- Sau khi học sinh nhận thấy được khuyết điểm của mình, tôi yêu cầu các

em sửa chữ sai thành chữ đúng ở cuối bài chính tả Đối với trường hợp sai quá nhiều lỗi trong bài, các em có thể chép lại toàn bộ bài chính tả vào các tiết ôn tập buổi chiều nhằm giúp các em tái hiện lại kiến thức vừa học và ghi nhớ lâu

* Tôi thường khen thưởng, động viên kịp thời trong các tiết học chính tả cũng như tiết sinh hoạt lớp khi các em có hướng sửa đổi hoặc tiến bộ nhằm khuyến khích các em học tập được tiến bộ hơn

Trang 11

* Ngay từ đầu năm học, tôi còn yêu cầu mỗi em có một quyển vở dùng để rèn chữ viết và luyện viết đúng chính tả Đối với quyển vở này, cuối mỗi tuần, tôi yêu cầu các em về nhà chép các bài chính tả chuẩn bị học trong tuần sau vào ngày thứ bảy hoặc chủ nhật rồi đưa cho cha mẹ kiểm tra Sau đó, các

em mang vào lớp cho tôi kiểm tra Tôi sử dụng biện pháp này nhằm giúp các

em có thói quen là phát hiện chữ khó viết trong bài chính tả, đồng thời luyện

kĩ năng viết chữ đẹp và viết đúng chính tả

* Ngoài những biện pháp vừa nêu trên, tôi còn có thêm một vài biện pháp dành riêng cho học sinh viết sai quá nhiều lỗi chính tả (viết sai từ 5 lỗi chính

tả trở lên) Biện pháp chung là tôi tìm hiểu nguyên nhân vì sao học sinh học chưa tốt Từ đó, tôi có biện pháp cụ thể, thiết thực phù hợp với từng đối tượng học sinh

Trường hợp đối với học sinh tiếp thu bài chậm, mau quên:

Sau khi thống kê được số lượng học sinh tiếp thu bài chậm, mau quên của lớp, tôi lưu ý đối với đối tượng này và lập tức vạch ra kế hoạch để phụ đạo riêng cho các em này vào các tiết ôn tập của buổi chiều Cụ thể là:

- Tôi ưu tiên dành những dãy bàn đầu cho học sinh tiếp thu bài chậm, mau quên

- Trong bước kiểm tra bài cũ, tôi thường xuyên yêu cầu các em viết lại những chữ viết sai chính tả ở tiết trước liền kề

Ví dụ: Hôm nay, viết chính tả bài Ngôi trường mới (sách Tiếng Việt 2,

tập 1, trang 50 - đoạn cuối) Trong khâu kiểm tra bài cũ, tôi gọi khoảng 2 hoặc 3 em lên bảng Sau đó, tôi đọc những chữ các em viết sai chính tả ở tiết trước như chữ sọt rác, nhặt, bỗng,…(tức là bài Mẩu giấy vụn, sách Tiếng Việt

2, tập 1, trang 49) Cả lớp viết vào bảng con cho tôi kiểm tra và nhận xét

- Trong bước luyện viết chữ ghi tiếng khó hoặc dễ lẫn của phân môn Chính tả, tôi làm các việc sau:

+ Cho học sinh ghi nhớ luật chính tả bằng cách là trong bài chính tả có những chữ ghi tiếng khó hoặc dễ lẫn mà liên quan đến luật chính tả nào thì tôi cho các em nhắc lại luật chính tả đó nhằm ghi nhớ luật chính tả vừa được củng cố

Ví dụ: Bài Ngôi trường mới (sách Tiếng Việt 2, tập 1, trang 50 - đoạn

cuối) Tôi yêu cầu học sinh viết chữ “trang nghiêm” vào bảng con vì đây là

chữ ghi tiếng khó mà học sinh lớp tôi thường xuyên viết sai Trước khi viết

tôi yêu cầu các em nhắc lại luật chính tả với ng/ngh (đã học ở lớp 1) :

ngh đứng trước các nguyên âm i, e, ê

ng đứng trước các nguyên âm còn lại (a, ă, â, o, ô, ơ, u, ư)

+ Tôi phân tích kĩ cách đọc và rèn cho học sinh đọc đúng những phụ âm đầu, vần, âm cuối, dấu thanh dễ lẫn (qua giờ học phân môn Tập đọc); đồng thời nhấn mạnh phụ âm đầu, vần, âm cuối, dấu thanh cần lưu ý và rèn kĩ năng viết (qua giờ học phân môn Chính tả) Tôi dùng biện pháp như vậy vì học sinh có đọc đúng tiếng thì mới viết đúng chữ Chẳng hạn: Tôi đọc mẫu chữ ghi tiếng khó trong bài chính tả đang học thì học sinh phải tập trung lắng nghe và phân biệt cách phát âm Tiếp đó, tôi viết mẫu chữ vừa đọc lên bảng

Ngày đăng: 11/08/2016, 22:21

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w